Hôm nay mình muốn giới thiệu đến các bạn một vài mẫu tin thú vị, để chúng ta cùng suy nghĩ.
Ngày 13.2.2008, thủ tướng Úc Kevin Rudd, đại diện chính phủ và nước Úc, chính thức xin lỗi các bộ lạc thổ dân Úc về những chính sách và luật lệ của nước Úc đã “gây bi thảm, đau khổ và mất mát sâu đậm” cho bao nhiêu đời thổ dân đã qua.
Chính phủ Canada liền noi theo gương tốt. Ngày 12.6.2008, thủ tướng Canada Stephen Harper, đại diện chính phủ và nước Canada, chính thức xin lỗi các bộ lạc thổ dân da đỏ tại Canada, về những chính sách và luật lệ của Canada trong quá khứ để “giết chết người da đỏ trong lòng em bé thổ dân”. Thủ tướng nói: “Chính phủ Canada thành thật xin lỗi và xin được các dân tộc thổ dân của đất nước này tha thứ vì đã làm họ thất vọng một cách thâm sâu. Chúng tôi rất hối hận.”
Ngày 6.10.2009 vừa qua, Thượng Viện Mỹ đã thông qua một nghị quyết xin lỗi thổ dân da đỏ Mỹ. Nghị quyết này chưa thể thành luật, cho đến khi được cả Hạ Viện đồng ý, và Tổng Thống ký ban hành. Dù vậy, nghị quyết cũng là một bước tiến đúng hướng.
Ủy Ban Thượng Viện Mỹ về Các Vấn Đề Liên Quan Đến Người Da Đỏ
Các Thượng nghị sĩ Brownback và Dorgan hoan nghênh việc Thượng Viện thông qua nghị quyết Xin Lỗi các Bộ Tộc Thổ Dân Mỹ.
Washingonton, DC – Các thượng nghị sĩ liên bang Sam Brownback (Cộng Hòa- Kansas) và Byron Dorgan (Dân Chủ-North Dakota) đã hoan nghênh việc Thượng viện thông qua Nghị Quyết Xin Lỗi Các Bộ Tộc Thổ Dân Mỹ, đề nghị sự xin lỗi của chính phủ Mỹ với Người Da Đỏ Mỹ. “Hành động của Thượng viện hôm nay là một bước tiến lớn cho liên hệ giữa chính phủ liên bang và Thổ Dân Mỹ,” Brownback nói. “Nghị quyết này nhằm tìm hòa giải và đề nghị sự xin lỗi chính thức đối với Thổ Dân Mỹ vì những lựa chọn gây đau đớn mà chính phủ liên bang đã làm trong quá khứ. Với nghị quyết này, chúng ta xác nhận những thất bại trong quá khứ và bày tỏ sự hối hận thành thật.”
Dorgan, chủ tịch Ủy Ban Thượng Viện về Các Vấn Đề Liên Quan Đến Người Da Đỏ, cùng đứng tên tác giả bảo trợ nghị quyết với Brownbach. Dorgan nói, “Rất khó để biết lịch sử của Những Người Mỹ Đầu Tiên [tức là các thổ dân] và chính sách phá hoại mà chính phủ của chúng ta thường dùng đối với họ, mà không cảm thấy tràn ngập buồn rầu và hối hận.”
Nghị Quyết Xin Lỗi Thổ Dân Mỹ được thông qua như một tu chính án cho Dự Luật Quốc Phòng. Nghị quyết này mang lời xin lỗi chính thức từ Nước Mỹ đến các chính quyền thổ dân và người thổ dân trong toàn quốc. Nghị quyết xin lỗi này không phải là sự cho phép, hoặc dùng như là giải quyết cho, các tranh chấp đang có với chính phủ, cũng như không giải quyết nhiều thử thách Thổ Dân Da Đỏ Mỹ đang gặp phải. Một Nghị Quyết Xin Lỗi Người Da Đỏ Mỹ đã được đưa ra Quốc Hội, và đã được Thượng viện thông qua năm 2008, nhưng đã không được thành luật.
Chúng ta có nguyên bản tiếng Anh của thông báo này dưới đây, cũng như một bài báo nói về việc Người Da Đỏ Mỹ tiếp tục làm việc để lobby với chính phủ về việc chính phủ xin lỗi chính thức.
Đó là chuyện đang xảy ra trên thế giới.
Còn chúng ta, chúng ta đã có bao giờ thấy ta đã làm cho bao nhiêu dân tộc thiểu số anh em đau khổ trong quá khứ?
Và chính sách của chúng ta đối với các dân tộc anh em thiểu số hiện nay có nâng đở, ủng hộ, đưa lên, hay chỉ là kéo dài bất công và đau khổ?
Ngày nào chúng ta, như là một dân tộc, thấy là chúng ta cần phải xin lỗi chính thức? Chính phủ chúng ta phải xin lỗi chính thức?
Trong thời gian chờ đợi một câu xin lỗi chính thức, chúng ta có thể làm được gì NGAY BÂY GIỜ để chấm dứt các áp bức vô tình hay cố ý, và để nâng cao tiếng nói, vị thế và quyền lợi của các dân tộc anh em thiểu số trong nước ta?
Hãy thành thật nhìn lại lòng mình và chính sách của mình trước con tim của chính mình và Chúa hay Phật của mình.
WSAHINGTON, DC – U.S. Senators Sam Brownback (R-KS) and Byron Dorgan (D-ND) today applauded Senate passage of the Native American Apology Resolution, which offers an apology from the United States government to American Indians. “The Senate’s action today is a big step for the relationship between the federal government and Native Americans,” said Brownback. “The resolution seeks reconciliation and offers an official apology to Native Americans for the hurtful choices the federal government made in the past. With this resolution we acknowledge previous failures and express sincere regrets.” Dorgan, Chairman of the Senate Committee on Indian Affairs, joined Brownback as co-sponsor of the amendment. Dorgan said, “It is difficult to know the history of the First Americans and the destructive policies our government has too often followed regarding them, and not be filled with both sadness and regret. It is appropriate that we, as a nation, express that sorrow and regret with this apology resolution.” The Native American Apology Resolution passed as an amendment to the Defense Appropriations bill. The resolution extends a formal apology from the United States to tribal governments and Native American people nationwide. The resolution of apology does not authorize or serve as a settlement of any claim against the United States and does not resolve many challenges still facing Native Americans. The Native American Apology Resolution has been introduced in previous Congresses, and passed the Senate in 2008, but was not signed into la
While families across the U.S. gather around their household tables this Thanksgiving, local members of the American Indian Society of Washington, D.C. will be meeting up with their own family — each other, for a potluck dinner at the Burgundy Community Center in Alexandria.
Members of the American Indian Society (AIS) of Washington, D.C. celebrate Mother’s Day with a pow wow. (Photo: Courtesy Kathleen Dorn)
But, according to Michael Nephew of Falls Church, their table talk will be less about a pilgrim story of the past and more about catching up with one another.
Nephew, who serves as the organization’s president, saw the American Indian Society (AIS) as an opportunity for American Indians to get together with their brothers and sisters in the community when he moved to the area from New York years ago. He is an enrolled member of the Eastern Band of Cherokee Indians, as well as being part of Seneca and Cayuga.
Nephew first heard the story of Thanksgiving when he was a young boy, but said he “ironically heard very little” about Native American Indian history during his high-school years.
He said the biggest misconception about how Thanksgiving is taught in public schools is the “fighting that occurred shortly afterwards between [the settlers] and Native Americans often goes unmentioned.”
The holiday story traditionally taught in classrooms is a happy one of pilgrims who were befriended by the Natives, taught to hunt and gather and showed their gratitude with a shared meal. However, Nephew recalled a slightly different version of the feel-good tale, one of bloodshed and greed.
“[The settlers] were biting the hand that fed them,” said Nephew, referring to various wars that took place soon following 1621, during which many Natives were killed by colonists.
One thing Nephew believes can heal the wounds of political and social distrust between modern-day American Indians and the U.S. government is a formal expression of remorse from the latter.
“I think there needs to be an apology,” said Nephew, citing the Canadian government’s apology to its indigenous tribes in 1998.
Nephew said he wouldn’t be able to show anyone the land where he played as a kid even if he wanted to.
“People don’t think [the government] is taking away Natives’ land today, but yes, it has happened. And it’s happened in our lifetime,” said Nephew.
And what about those who believe they shouldn’t have to apologize for something they didn’t personally do?
“Well, it might have been their parents, especially in this area, where so many parents are involved with the government at that time. It’s not as far back as some may think,” said Nephew.
AIS Treasurer Mary Sunbeam agreed, challenging President Obama to a second Thanksgiving — to which tribal chiefs are invited to the White House for a peace-offering meal.
“We have not been healed. No president has come forward. We’re not asking for money or retribution,” said Sunbeam, who added that “these kinds of forgiveness need to happen” and that American Indians are looking for it to come from “power sources who’ve been too lax.”
On Nov. 5, President Obama held the first annual White House Tribal Nations Conference at the Department of the Interior. Invited were leaders from each of the federally recognized tribes in the U.S., as Obama signed a memorandum directing “every Cabinet agency to give a detailed plan within 90 days of how … to improve tribal consultation.” A formal apology was not issued.
“At some point, [the U.S. government] needs to say, ‘This is what happened. It wasn’t a good thing for our country. It wasn’t a good thing for the tribal people,’ and to heal the pain where there’s no closure, just open wounds,” said Sunbeam, a member of the Cherokee Nation of the Appalachia tribe.
Aside from her AIS duties, Sunbeam serves as the president of Positive Education, Inc., designing and presenting courses on Native American Indian cultures to schools, businesses and religious organizations.
She said the only Native American education she’s heard of public-school students having are brief mentions during the second and sixth grade, but that “most teachers are not trained in college to teach Native American history.”
“Thank goodness they will call on people like me to teach these things. Even today’s immigrants coming to the U.S. will ask me if I am a real Indian because they’ve been told we’re all dead,” said Sunbeam.
She said the blame, however, doesn’t fall solely on government-run school systems, but equally in the laps of American Indians. Sunbeam added that, unlike the NAACP, the American Indian community has not had enough advocacy for more extensive education.
“We can’t say it’s the government’s fault. Where are we? We don’t have enough activism in our own culture,” said Sunbeam, who hopes to change that through her own curriculum. Her work has been acknowledged by the American Association of Community Colleges with a Northern Virginia Community College Model Program Award.
As far as an organization comparable to the NAACP, Nephew said the Association is racially categorized, whereas “the tribal government is a political entity.”
“Part of the reason why there isn’t something like [the NAACP] for American Indians is people from each tribe have to make sure their particular tribe survives as opposed to recognizing all Natives and trying to lend support to other tribes,” said Nephew.
Still, Sunbeam believes U.S. politics play a critical role in Native American history teachings, or lack thereof, in today’s schools.
“The bottom line is education is political,” said Sunbeam, who suggested the U.S. government incorporate Native American history into the U.S. citizenry test.
Michael Nephew, President, American Indian Society of Washington, D.C. (Photo: News-Press)
As far as Thanksgiving, Sunbeam and Nephew agreed that the holiday’s theme is a bit novel, given that expressing thanks is a culturally embedded part of their everyday lives and not just a one-day event.“What came to be known as the first Thanksgiving was the idea of sharing food for people in need. It wasn’t a kindness thing; it was something you just do. It wasn’t religious, though it became so later on,” said Sunbeam, who added that “giving thanks to God, the great source, for weather to produce a harvest was always part of her culture” growing up.
She recalled being taunted by her peers in grade school for once bringing a dandelion sandwich to school.
“Nowadays, people go to GNC and buy dandelion root, the weed in their yard they find a nuisance. But when I was a kid, I was taught it was nature’s product for organs after the winter time and your body gets sluggish,” said Sunbeam, who garnered more than a few chuckles as a little girl with green stuff in her teeth. Taking the high road even then, she said she looked at it as “their ignorance, and I tried to educate them.”
Nephew recalled being looked to in high school from his peers as a historical fact checker. Still offering up the facts today, he works alongside other AIS leaders, to speak at government agencies and private schools about his culture’s historical footprint.
As far as Sunbeam’s message to open ears she encounters, she said, “Save money on the self-help books. We all have a belly button. We’re all one human race. I’m working on getting that message across.”
There are 564 federally recognized tribes in the U.S. To this day, neither Virginia, Maryland nor Washington, D.C. have federally recognized tribes, leaving people within those tribes ineligible for federal funds ranging from health care to housing assistance.
Both Rep. Jim Moran and Sen. Jim Webb sponsored legislation this year granting federal recognition to six Virginia Indian tribes, which was OK’d by the House in June.
As of Oct. 22, the Indian Tribes of Virginia Federal Recognition Act of 2009 passed in the Senate Committee on Indian Affairs.
Chúng ta đã nói khá nhiều về thiền và thiền thi, một suối nguồn tư duy tích cực trong văn hóa Việt Nam. Hôm nay chúng ta nói đến Kinh Lạy Cha của Kitô giáo, gốc rễ của tư duy tích cực của người Kitô giáo trên khắp thế giới, kể cả Việt Nam.
Ở đây chúng ta chỉ phân tích Kinh Lạy Cha như một hiện tượng văn hóa, và giải thích ảnh hưởng của Kinh Lạy cha trên tư duy tích cực của chúng ta, và hạn chế các phân tích có tính cách thuần tôn giáo.
Kinh Lạy Cha, tiếng Anh goi là The Lord’s Prayer, Lời Cầu Nguyện Của Chúa. “Chúa” đây là Chúa Giêsu, tác giả của lời cầu nguyện này. Trong thánh kinh, khi mọi người hỏi Chúa Giêsu cách cầu nguyện, Chúa Giêsu cho họ Kinh Lạy Cha. Câu chuyện này được ghi lại tại Matthew 6: 9-13, được coi như một phần của Bài giảng trên núi, và tại Luke 11:2-4.
Kinh Lạy Cha là lời cầu nguyện phổ thông nhất và thịnh hành nhất trong Kitô giáo (gồm Công giáo, Chính thống giáo và các hệ phái Tin lành), đồng thời cũng là lời kinh phổ thông nhất trong mọi tôn giáo trên thế giới.
Bản tiếng Việt
Lạy cha chúng con ở trên trời,
Chúng con nguyện danh cha cả sáng,
nước cha trị đến,
ý cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời.
Xin cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày,
và tha nợ chúng con
như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con.
Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ
Nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ.
Amen
Bản tiếng Anh
Our Father, who art in heaven,
Hallowed be thy Name.
Thy kingdom come.
Thy will be done,
On earth as it is in heaven.
Give us this day our daily bread.
And forgive us our trespasses,
As we forgive those who trespass against us.
And lead us not into temptation,
But deliver us from evil.
[For thine is the kingdom,
and the power, and the glory,
for ever and ever.]
Amen.
Bản tiếng La Tinh
Pater noster, qui es in caelis
Sanctificetur nomen tuum;
Adveniat regnum tuum.
Fiat voluntas tua
Sicut in caelo et in terra
Panem nostrum quotidianum da nobis hodie.
Et dimitte nobis debita nostra,
Sicut et nos dimittimus debitoribus nostris.
Et ne nos inducas in tentationem;
Sed libera nos a malo.
[Quoniam tibi est regnum et potestas et gloria in saecula.]
Amen.
Đọc bài kinh ta thấy nội dung chia làm hai đoạn rất rõ ràng. Đoạn đầu là ca tụng Chúa. Đoạn sau mới cầu nguyện cho chính mình.
I. Khiêm tốn
Đoạn đầu của Kinh Lạy Cha là để ca tụng Chúa. Nhưng nếu ta chỉ có IQ cở dưới trung binh thôi, ta cũng có thể biết được chẳng có Thượng đế nào cần mấy tiếng tung hô của con người cả. Đã là Thượng đế thì không cần được khen hay tung hô.
Vậy thì các việc ca tụng Thượng đế là để cho chính chúng ta, những tín hữu, để chúng ta biết kính sợ Thượng đế để mà khiêm tốn.
Đoạn đầu của Kinh có thể viết ra dễ hiểu hơn một tí như sau:
“Lạy Cha của chúng con ở trên trời, chúng con cầu xin cho tên của cha được chiếu sáng, nước của Cha trị sẽ đến với tất cả mọi người, ý muốn của Cha được thực hiện dưới đất cũng như trên trời.”
Khi ta tự nhắc lại về quyền năng và vương quốc của Thượng đế, và uy quyền của “ý muốn” của Thượng đế, ta tự động dẹp bỏ cái tôi của mình–tôi, quyền năng của tôi, vương quốc của tôi, ý của tôi… không quan trọng.
Đây gọi là submission—“khuất phục” trước Thượng đế, hay “giao phó” cuộc đời của mình cho Thượng đế. Cái tôi của mình không còn nữa. Nó đã hoàn toàn thuộc về Thượng đế. Gần như là “vô ngã” trong Phật gia.
Submission hay total submission (giao phó hoàn toàn vào tay chúa) là một ý niệm cực kỳ căn bản và quan trọng hàng đầu của các tôn giáo thuộc dòng Maisen (Moses)–Do Thái giáo, Kitô giáo (Công giáo, Chính thông giáo, Tin lành), và Hồi giáo. (Những tôn giáo này cũng có thể được gọi chung là Thiên chúa giáo–tôn giáo lấy Thiên chúa (God/Allah) làm chủ).
Khiêm tốn!
(Chú thích: Về “nước Cha trị đến”, nhiều người tưởng rằng đó là biến cả thế giới thành Kitô giáo. Thực ra luật vàng của Chúa Giêsu chỉ có hai điều: Kính mến Thượng đế và Yêu người. Và Thượng đế có nhiều tên khác nhau: Ông trời, Thượng đế, Ngọc hoàng, Chúa, Allah, God, Yahweh… Làm được hai điều này là đã thuộc về “nước” của Thượng đế, ngay trong tâm ta).
II. Lo cho mình
Phần sau của Kinh Lạy Cha là các câu cầu xin cho chính mình:
“Xin cha cho chúng con hằng ngày dùng đủ.” Tức là chỉ xin đủ ăn, đủ mặc, đủ chi dụng cho những nhu cầu tất yếu. Không xin giàu sang phú quý, tiền rừng bạc biển.
Thế thì ý niệm tài sản, của cải, là gì trong Thiên chúa giáo? Thưa, tài sản là do Thượng đế giao cho ta quản lý, để ta gầy dựng sinh lời cho Thượng đế. (Xem dụ ngôn về các đồng bạc, Matthew 25:14-30. Tuy nhiên, dụ ngôn này nói về nhiều thứ sâu thẳm hơn chỉ là tiền bạc).
Và dĩ nhiên là tài sản của Thượng đế thì phải được quản lý để phục vụ “Chúa trong mọi người”, tức là phục vụ mọi người quanh ta, mà chúng ta vừa đề cập khi nói đến Kinh Hòa Bình của Thánh Francis.
“Xin cha tha nợ chúng con, như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con.” Mỗi người chúng ta làm rất nhiều lầm lỗi trong đời, và nhiều người khác cũng đã lầm lỗi thiệt hại ta. Ta phải tha thứ cho người khác, trước khi cầu xin và được Thượng đế tha thứ cho ta.
Xưng tội , giải tội, sẽ không giải quyết gì cho ta cả, nếu ta chỉ làm công thức mà không làm trong lòng, là tha thứ lỗi lầm của người khác. Nếu ta cầm buộc người khác, Thượng đế cầm buộc ta.
“Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ, nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ.” Chỉ cần sống không làm bậy là đủ. Không cần phải là anh hùng, vĩ nhân, thánh… Không cần phải đến mức hy sinh tánh mạng cho Chúa, hay bán hết nhà cửa để giúp người nghèo, hay tử vì đạo… Chỉ cần đừng sa vào cám dỗ là đủ–đừng si mê, sân hận, ghen ghét, đố kỵ, dối trá, trộm cướp, tà dâm, tham nhũng, bóc lột…
Và nếu lỡ bị lầm lạc vào đường xấu, vào sự dữ, thì xin Chúa cứu ta ra.
Từ “cám dỗ” ở đây ám chỉ là không ai trong chúng ta muốn và thiết lập kế hoạch để làm bậy cả. Chẳng qua là “sa chước cám dỗ” nên làm bậy thôi. Bản tính của mỗi người chúng ta là thanh khiết.
Amen là “mong được như vậy.”
Kinh Lạy Cha chỉ giản dị vậy thôi: Khiêm tốn trước mặt Thượng đế, đủ ăn đủ mặc, tha thứ, và đừng làm bậy.
Quy luật sống không bao giờ phức tạp. Cực kỳ giản dị. Chúng ta không chịu theo các quy luật sống đã tồn tại mấy ngàn năm và vẫn còn được nhắc đến bởi vài tỉ người trên thế giới ngày nay, nhiều lần trong một ngày. Và chúng ta thường đọc Kinh Lạy Cha mà không thực sự thực hành. Rồi ta lại than van sao cuộc sống quá khó khăn và phức tạp.
Chúc các bạn một ngày vui.
Sau đây mời các bạn nghe Barbara Streisand hát the Lord’s Prayer, và ca đoàn giáo xứ Sao Mai, Vũng Tàu, hát Kinh Lạy Cha.
Chiều hôm qua tan sở, mình bước ra khỏi tòa nhà và đang đi bộ về phía bãi gửi xe. Trời se lạnh, gió thổi riết và mưa lất phất. Đã là mùa đông nên trời khá tối mặc dù chỉ mới 5 rưỡi chiều.
Trước khi mình nhận ra, mình đã đang huýt sáo theo giai điệu của bài hát ”500 miles” và tưởng tượng Joan Baez đang hát bài hát này. Cảm giác của mình lúc đó rất da diết.
Hôm nay chúng ta cùng nghe bài hát này nhé. 🙂
“500 Miles” còn được biết đến với tên gọi “500 Miles away from home” (Xa nhà 500 dặm – 800 km) hay “Railroaders’ Lament” (Lời khóc than của công nhân làm đường xe lửa). Đây là bài hát dân ca phổ biến ở Mỹ và châu Âu trong phong trào Folk Revival những năm 60s. Lời nhạc đơn giản dạng điệp khúc là lời ca cẩm của một anh lữ hành xa nhà, hết tiền và ngượng không dám về nhà. Những người làm đường xe lửa ngày xưa rất cực khổ, công việc lao động nặng nề, phải sống xa nhà, xây đường qua những vùng hoang vu không dấu chân người, cực kỳ nguy hiểm với bệnh tật và chiến tranh với thổ dân da đỏ. Nhớ nhà!
“500 Miles” được coi là bài hát do Hedy West viết. Bản thu âm đầu tiên ra mắt công chúng có lẽ là của The Journeymen vào năm 1961. Sau đó rất nhiều ca sĩ đã thu âm bài hát này như Peter, Paul & Mary, Kingston Trio.
Dưới đây chúng ta có 2 video bài hát 500 Miles do The Journeymen và Joan Baez thể hiện. Ở video của Joan Baez, bài hát bonus There But Fortune theo sau 500 miles cũng rất cảm động. Tiếp sau là lời nhạc.
Chúc các bạn một ngày da diết,
Hiển.
.
The Journeymen – 500 miles [Original Version] (1961)
Joan Baez – 500 Miles & There But Fortune (live)
. 500 Miles Away From Home
If you miss the train I’m on you will know that I am gone
You can hear the whistle blow a hundred miles
Lord I’m one, Lord I’m two, Lord I’m three, Lord I’m four
I’m 500 miles away from home.
Not a shirt on my back, not a penny to my name
Lord, I can’t go back this a’way
This a’way, this a’way, this a’way, this a’way
Lord, I can’t go back this a’way.
Well, I’m walking these ties with tears in my eyes
Trying to read a letter from my home
From my home, from my home, from my home, from my home
Trying to read a letter from my home.
If this train’s running right I’ll be home by Saturday night
I’m 500 miles away from home
Away from home, away from home, away from home. away from home
I’m 500 miles away from home…
. There but fortune Word and music by Ochs Phil, singer Joan Baez
Show me the prison, show me the jail
Show me the prisoner, whose life has gone stale
And I’ll show you a young man
With so many reasons why
And there but for fortune, go you or I……mm.mm
Show me the alley, show me the train
Show me the hobo, who sleeps out in the rain
And I’ll show you a young man
With so many reasons why
And there but for fortune ,go you or I, mm.mm
Show me the whiskey, that stains on the floor
Show me the drunkard, as he stumbles out the door
And I’ll show you a young man
with so many reasons why
And there but for fortune go you or I, mmm,mm
Show me the country, where the bombs had to fall
Show me the ruins of the buildings, once so tall
And I’ll show you a young man
with so many reasons why
And there but for fortune go you and I, you and I.
Có lẽ trong thế kỷ 20, ca sĩ-nhạc sĩ đặt nền móng và để lại ảnh hướng lớn nhất cho dòng nhạc folks của Mỹ là Woody Guthrie. Ông để lại cho nền âm nhạc Mỹ hàng trăm bài hát nhạc folks,nhạc chính trị, nhạc truyền thống và những bài hát trẻ em.
Woody GuthrieKhán giả Việt Nam sẽ thấy ông thật gần gũi, bởi ông sáng tác rất nhiều bài bài hát về những người lao động khổ cực, sự nỗ lực của họ, và bảo vệ quyền lợi cho họ. Ông hát về ao ước tự do. Ông cũng gắn bó với những nhóm cộng sản của Mỹ thời đầu thế kỉ 20.
Bài hát nổi tiếng nhất của ông là “This Land is Your Land” được hát thường xuyên ở các trong các trường học của Mỹ. Bài hát nhắc nhủ rằng “mảnh đất này là của bạn, mảnh đất này là của tôi”, “chứ không phải mảnh đất này của bankers, politicians, billianaires, vua dầu hỏa hay những tập đoàn” như lời ca sĩ Night Watch Man hát và phản đối ở Newport Folk Festival năm 2007.
Woody Guthrie đi lang thang khắp các miền đất của Mỹ, từ bang này sang bang khác hát và sáng tác, từ Oklahoma tới California. Ông đi rất nhiều, chỉ một ba lô, cái mũ và cây ghita. Hồi mình ở Vermont mình cũng gặp một ông già hát rong tầm trên 50 tuổi, ông hát ở Vermont khoảng mấy tháng rồi sang bang khác biểu diễn tiếp. Giới hát rong và những người đi phố vẫn gọi ông già đó là “the Woodie Guthrie guy” 🙂
Ông có tất cả tám người con, trong đó có nhạc sĩ Arlo Guthrie đi theo sự nghiệp sáng tác-ca hát và phong cách mang ảnh hưởng nhiều của cha Woody. Những năm cuối đời, tuy ông mắc chứng rối loạn thần kinh, ông vẫn giữ vị trí đầu tầu trong phong trào nhạc folks và truyền cảm hứng cho một thế hệ những nhạc sĩ nhạc folks mới lúc đó, bao gồm cả viện kèm cặp giúp Ramblin’ Jack Elliott và Bob Dylan trưởng thành.
Vào năm 1997, Woody Guthrie được đưa vào Oklahoma Music Hall of Fame. Các bạn có thế đọc thêm về ông tại trang Wikipedia về Woodie Guthrie.
Sau đây, mình giới thiệu với các bạn một số sáng tác nổi tiếng của ông.
Chúc các bạn một ngày Woody Guthrie 🙂
Hiển.
.
Woody Guthrie, This land is your land!
This Land Is Your Land
This land is your land This land is my land
From California to the New York island;
From the red wood forest to the Gulf Stream waters
This land was made for you and Me.
As I was walking that ribbon of highway,
I saw above me that endless skyway:
I saw below me that golden valley:
This land was made for you and me.
I’ve roamed and rambled and I followed my footsteps
To the sparkling sands of her diamond deserts;
And all around me a voice was sounding:
This land was made for you and me.
When the sun came shining, and I was strolling,
And the wheat fields waving and the dust clouds rolling,
As the fog was lifting a voice was chanting:
This land was made for you and me.
As I went walking I saw a sign there
And on the sign it said “No Trespassing.”
But on the other side it didn’t say nothing,
That side was made for you and me.
In the shadow of the steeple I saw my people,
By the relief office I seen my people;
As they stood there hungry, I stood there asking
Is this land made for you and me?
Nobody living can ever stop me,
As I go walking that freedom highway;
Nobody living can ever make me turn back
This land was made for you and me..
.
Oklahoma Hills
Oklahoma Hills
Many a month has come and gone
Since I’ve wandered from my home
In those Oklahoma hills
Where I was born
Many a page of my life has turned
Many lessons I have learned
And I feel like in those hills
Where I belong
CHORUS:
Way down yonder in the Indian nation
Ridin’ my pony on the reservation
In the Oklahoma hills where I was born
Way down yonder in the Indian nation
A cowboy’s life is my occupation
In the Oklahoma Hills where I was born
But as I sit here today
Many mile’s I am away
From the place I rode my pony
Through the draw
Where the oak and black-jack trees
Kiss the playful prairie breeze
And I feel back in those hills
Where I belong
CHORUS
Now as I turn life a page
To the land of the great Osage
In those Oklahoma hills
Where I was born
Where the black oil rolls and flows
And the snow white cotton grows
And I feel like in those hills
Where I belong
.
Take fishing home
Take fishing home
I went down to the fishing hole,
And I set down with my fishing pole;
Somethin’ grabb’d my hook and it got my bait
And Jerked me out in the middle of the lake.
Huh it was some jump boy,
I got sunk, kinda baptized on credit.
Fishin’ down on th’ muddy bank,
Felt a pull an’ give a big yank,
I drug out three old rubber boots,
A Ford radiator an’ a Chevrolet coop
(Nothin’ but Junk, so I handed it in
For National Defence).
Settin’ in a boat with a bucket of beer,
Hadn’t caught nuthin’ but didn’t much care,
I guess I was pretty well satisfied,
Had my little woman right by my side
(Takin’ it easy, just waitin’
Worm been gone off-a that hook for a couple of hours.
I was busy).
When you go fishin’, tell y’ what to do,
Go set down by the grassy dew,
Take a piece of string, tie it on yo’ pole,
Throw it way out in th’ middle of th’ hole.
Find you a good shady tree and then just set down.
(Go to sleep, forget all about it
Can’t catch nuthin’ here anyways.)
Well I walked out to a sandy bar,
And I caught myself a big alligator gar,
Drug him home across my back,
Tail was dragging a mile and a half,
Flippin’ an’ floppin’. I sold him for a quarter.
(Shot craps, got in Jall.)
Jumped in the river and went down deep,
There was a hundred pound cat-fish lying there asleep,
Well I jumped on his back and rode him all aroun’
Saddled him up and I came into town.
People came runnin’, lookin’, dogs a-barkin’
(Kids a-squallin’).
Early one mornin’ I took me a notion,
To go out fishin’ in the middle of the ocean,
Well, throwed me a line, I got me a shark,
I didn’t get him home till way past dark.
(Was he a man-eater, tough customer.
But he wasn’t quite tough enough.)
Late last night I had me a dream,
I was out fishin’ in a whiskey stream,
Baited my hook with apple-jack,
Threw out a drink, drug a gallon back.
(Done pretty good till the creek run dry.
I give the fish back to the finance company.)
.
Talking Dust Bowl Blues
Talking Dust Bowl Blues
Back in Nineteen Twenty-Seven,
I had a little farm and I called that heaven.
Well, the prices up and the rain come down,
And I hauled my crops all into town —
I got the money, bought clothes and groceries,
Fed the kids, and raised a family.
Rain quit and the wind got high,
And the black ol’ dust storm filled the sky.
And I swapped my farm for a Ford machine,
And I poured it full of this gas-i-line —
And I started, rockin’ an’ a-rollin’,
Over the mountains, out towards the old Peach Bowl.
Way up yonder on a mountain road,
I had a hot motor and a heavy load,
I’s a-goin’ pretty fast, there wasn’t even stoppin’,
A-bouncin’ up and down, like popcorn poppin’ —
Had a breakdown, sort of a nervous bustdown of some kind,
There was a feller there, a mechanic feller,
Said it was en-gine trouble.
Way up yonder on a mountain curve,
It’s way up yonder in the piney wood,
An’ I give that rollin’ Ford a shove,
An’ I’s a-gonna coast as far as I could —
Commence coastin’, pickin’ up speed,
Was a hairpin turn, I didn’t make it.
Man alive, I’m a-tellin’ you,
The fiddles and the guitars really flew.
That Ford took off like a flying squirrel
An’ it flew halfway around the world —
Scattered wives and childrens
All over the side of that mountain.
We got out to the West Coast broke,
So dad-gum hungry I thought I’d croak,
An’ I bummed up a spud or two,
An’ my wife fixed up a tater stew —
We poured the kids full of it,
Mighty thin stew, though,
You could read a magazine right through it.
Always have figured
That if it’d been just a little bit thinner,
Some of these here politicians
Coulda seen through it.
.
I Ain’t Got No Home
I ain’t got no home, I’m just a-roamin’ ’round,
Just a wandrin’ worker, I go from town to town.
And the police make it hard wherever I may go
And I ain’t got no home in this world anymore.
My brothers and my sisters are stranded on this road,
A hot and dusty road that a million feet have trod;
Rich man took my home and drove me from my door
And I ain’t got no home in this world anymore.
Was a-farmin’ on the shares, and always I was poor;
My crops I lay into the banker’s store.
My wife took down and died upon the cabin floor,
And I ain’t got no home in this world anymore.
I mined in your mines and I gathered in your corn
I been working, mister, since the day I was born
Now I worry all the time like I never did before
‘Cause I ain’t got no home in this world anymore
Now as I look around, it’s mighty plain to see
This world is such a great and a funny place to be;
Oh, the gamblin’ man is rich an’ the workin’ man is poor,
And I ain’t got no home in this world anymore.
.
Aginst Th’ Law
It´s aginst th´ law to walk, It´s aginst th´ law to talk
It´s against th´ law to loaf, It´s aginst th´ law to work
It´s aginst th´ law to read, It´s aginst th´ law to write
It´s aginst th´ law to be a black or brown or white.
Ever´thing’s aginst th´ law
I´m a low pay daddy singing th´ high price blues
It´s aginst th´ law to eat, It´s aginst th´ law to drink
It´s aginst th´ law to worry, It´s aginst th´ law to think
It´s aginst th´ law to marry or to try to settle down
It´s aginst th´ law to ramble like a bum from town to town
Ever´thing’s aginst th´ law
I´m a low pay daddy singing th´ high price blues
It´s aginst th´ law to come, It´s against th´ law to go
It´s against th´ law to ride, It´s against th´ law to roll
It´s aginst th´ law to hug, It´s against th´ law to kiss
It´s against th´ law to shoot, It´s against th´ law to miss
Ever´thing’s aginst th´ law
I´m a low pay daddy singing th´ high price blues
It´s aginst th´ law to gamble, It´s aginst th´ law to roam
It´s aginst th´ law to organize or try to build a home
It´s aginst th´ law to sing, It´s aginst th´ law to dance
It´s aginst th´ law to tell you th´ trouble on my hands
Ever’thing in Winston Salem is aginst th’ law
I’ma low pay daddy singin’ th’ high price blues.
.
Who’s Going To Shoe Your Pretty Little Feet
.
Who’s Going To Shoe Your Pretty Little Feet
Who’s gonna shoe your pretty little feet?
Who’s gonna glove your hand?
Who’s gonna kiss your red ruby lips?
Who’s gonna be your man?
Papa’s gonna shoe my pretty little feetl,
Mama’s gonna glove my hand,
Sister’s gonna kiss my red ruby lips,
I don’t need no man.
I don’t need no man,
I don’t need no man,
Sister’s gonna kiss my red ruby lips,
I don’t need no man.
The fastest train I ever did ride,
Was a hundred coaches long,
And the only woman I ever did love,
Was on that train and gone.
On that train and gone, boys,
On that train and gone,
The only woman I ever did love,
On that train and gone.
Who’s gonna shoe your pretty little feet?
Who’s gonna glove your hand?
Who’s gonna kiss your red ruby lips?
Who’s gonna be your man?
Papa’s gonna shoe my pretty little feetl,
Mama’s gonna glove my hand,
Sister’s gonna kiss my red ruby lips,
I don’t need no man.
I don’t need no man,
I don’t need no man,
Sister’s gonna kiss my red ruby lips,
I don’t need no man.
.
Pastures Of Plenty
.
Pastures Of Plenty
It’s a mighty hard row that my poor hands have hoed
My poor feet have traveled a hot dusty road
Out of your Dust Bowl and Westward we rolled
And your deserts were hot and your mountains were cold
I worked in your orchards of peaches and prunes
I slept on the ground in the light of the moon
On the edge of the city you’ll see us and then
We come with the dust and we go with the wind
California, Arizona, I harvest your crops
Well its North up to Oregon to gather your hops
Dig the beets from your ground, cut the grapes from your vine
To set on your table your light sparkling wine
Green pastures of plenty from dry desert ground
From the Grand Coulee Dam where the waters run down
Every state in the Union us migrants have been
We’ll work in this fight and we’ll fight till we win
It’s always we rambled, that river and I
All along your green valley, I will work till I die
My land I’ll defend with my life if it be
Cause my pastures of plenty must always be free
.
1913 Massacre
Take a trip with me in nineteen thirteen
To Calumet, Michigan in the copper country
I’ll take you to a place called Italian Hall
And the miners are having their big Christmas ball
I’ll take you in a door and up a high stairs
Singing and dancing is heard ev’rywhere
I’ll let you shake hands with the people you see
And watch the kids dance ’round the big Christmas tree.
There’s talking and laughing and songs in the air
And the spirit of Christmas is there ev’rywhere
Before you know it you’re friends with us all
And you’re dancing around and around in the hall
You ask about work and you ask about pay
They’ll tell you they make less than a dollar a day
Working their copper claims, risking their lives
So it’s fun to spend Christmas with children and wives.
A little girl sits down by the Christmas tree lights
To play the piano so you gotta keep quiet
To hear all this fun; you would not realize
That the copper boss thug men are milling outside
The copper boss thugs stuck their heads in the door
One of them yelled and he screamed, “There’s a fire”
A lady she hollered, “There’s no such a thing;
Keep on with your party, there’s no such a thing.”
A few people rushed and there’s only a few
“It’s just the thugs and the scabs fooling you.”
A man grabbed his daughter and he carried her down
But the thugs held the door and he could not get out.
And then others followed, about a hundred or more
But most everybody remained on the floor
The gun thugs, they laughed at their murderous joke
And the children were smothered on the stairs by the door.
Such a terrible sight I never did see
We carried our children back up to their tree
The scabs outside still laughed at their spree
And the children that died there was seventy-three
The piano played a slow funeral tune,
And the town was lit up by a cold Christmas moon
The parents, they cried and the men, they moaned,
“See what your greed for money has done?”
.
Hard travelin’
.
Hard Travelin’
I’ve been havin’ some hard travelin’, I thought you knowed
I’ve been havin’ some hard travelin’, way down the road
I’ve been havin’ some hard travelin’, hard ramblin’, hard gamblin’
I’ve been havin’ some hard travelin’, lord
I’ve been ridin’ them fast rattlers, I thought you knowed
I’ve been ridin’ them flat wheelers, way down the road
I’ve been ridin’ them blind passengers, dead-enders, kickin’ up cinders
I’ve been havin’ some hard travelin’, lord
I’ve been hittin’ some hard-rock minin’, I thought you knowed
I’ve been leanin’ on a pressure drill, way down the road
Hammer flyin’, air-hose suckin’, six foot of mud and I shore been a muckin’
And I’ve been hittin’ some hard travelin’, lord
I’ve been hittin’ some hard harvestin’, I thought you knowed
North Dakota to Kansas City, way down the road
Cuttin’ that wheat, stackin’ that hay, and I’m tryin’ make about a dollar a day
And I’ve been havin’ some hard travelin’, lord
I’ve been working that Pittsburgh steel, I thought you knowed
I’ve been a dumpin’ that red-hot slag, way down the road
I’ve been a blasting, I’ve been a firin’, I’ve been a pourin’ red-hot iron
I’ve been hittin’ some hard travelin’, lord
I’ve been layin’ in a hard-rock jail, I thought you knowed
I’ve been a laying out 90 days, way down the road
Damned old judge, he said to me, “It’s 90 days for vagrancy.”
And I’ve been hittin’ some hard travelin’, lord
I’ve been walking that Lincoln highway, I thought you knowed,
I’ve been hittin’ that 66, way down the road
Heavy load and a worried mind, lookin’ for a woman that’s hard to find,
Hôm nay mình giới thiệu đến các bạn một slideshow mới hoàn thành với các hình ảnh thật dễ thương, về nghệ thuật rối nước cổ truyền của nước ta.
Múa rối là một nghệ thuật khắp nơi trên thế giới, với nhiều hình thức khác nhau. Nhưng rối nước, có từ khoảng thế kỷ thứ 12, có lẽ là môn nghệ thuật rất đặc biệt của Việt Nam. Ngày nay, nói đến văn hóa đặc trưng của Việt Nam, khó mà quên nói đến rối nước. Thăm Việt Nam mà không thăm rối nước thì cũng như đến Việt Nam mà bỏ qua Vịnh Hạ Long.
Ngoài các hình ảnh và hoạt động của các con rối, âm nhạc trong rối nước cũng là âm nhạc truyền thống Việt Nam với các nhạc cụ và bài bản cổ truyền–chèo, lý, quan họ, ả đào… Thật là một di sản văn hóa lớn của chúng ta.
Mời các bạn click vào ảnh sau đây để xem sidleshow và download.
Tôi háo hức đi Plei ku. Cồng chiêng Tây Nguyên thì xem mãi rồi , nhưng có dịp thưởng thức & thêm chút hiểu biết về cồng chiêng Đông Nam Á thì hay biết mấy.
19h ngày 12-11-09. Người ơi là người. Chen chúc đến ngộp thở, giơ thật cao tấm phù hiệu khách mời màu vàng, vào được đến quảng trường 17-3 thì mọi hàng ghế đã chật. Chẳng phân biệt được ai là dân, ai là khách; thôi thì ai ngồi cũng được, vì sao lại nỡ trách những người muốn được một lần tham dự một lễ hội quốc tế lớn như thế này chứ ? Chỉ tiếc rằng, mặc dù ban tổ chức đã đổ ba bậc đất cao hơn phía sau khán đài, nhưng mọi khán giả đứng sau các hàng ghế đại biểu chỉ có thể nhìn tới bốn tầng sân khấu xa tít tắp, chứ không thể thấy được lòng sân rộng của quảng trường.Khán giả bên ngoài lại càng ít hy vọng được xem, bởi hàng rào người đã chắn ở cả hai đầu đường dẫn vào sân khấu.
Tranh thủ lúc chờ khai mạc, tôi len lỏi khắp sân chào các nghệ nhân quen mặt, quen tên, nào các amí người Bih, ama Êđê Đăk Lăk phục sức vô cùng trang trọng; nào là già làng K’Bét nụ cười rung cả chòm râu bạc đứng giữa nhóm tộc người K’Ho Lâm Đồng ; anh bạn Kpă Na Nao người Jrai ở Gia Lai với chiếc trống luôn gắn trên vai, vòng hai chừng lớn hơn lần gặp năm ngoái ở Đà Lạt, trong Liên hoan hát dân ca; Điểu Mai và nhóm Mnông Đăk Song của cô ấy súng sính trong bộ váy áo thổ cẩm màu xanh lá cây; các chị em người Thái che dù duyên dáng đứng đợi bên Khua luống; Nhóm Ca Tu thị trấn Đông Giang khoe nửa bộ ngực trần ấm cả mắt; mấy chị em người Cor Quảng Nam áo trắng, váy đen, những chuỗi hạt cườm vàng đỏ thật lộng lẫy. Cô gái Hrê, chàng trai Bâhnar, già làng Vân Kiều, bà mẹ S’Tiêng kề bên nhóm Ta Ôi, Châu Ro…
Chật kín sân nghệ nhân của 45 đội cồng chiêng thuộc 25 tỉnh thành, từ bộ cồng núm 5 chiếc của người Thái đen ( mà cô gái nào cũng da trắng muôn muốt như hoa ban) tận Điện Biên địa đầu phía bắc; tới dàn cồng 16 chiếc và các nhạc cụ ngũ âm của các nghệ nhân Khơmer đạo mạo, đệm cho những chú khỉ Hanuman nghịch ngợm nhảy nhót, đến từ miền đồng bằng chín Rồng, bên cạnh những con rối lá, rối dây ngộ nghĩnh cười cợt……Hòa vào không khí náo nức đó là tâm trạng vui vẻ của các nghệ nhân Lào, Căm Pu Chia và Maiamy, Philipin cho dẫu kẻ đóng khố, người trong trang phục kín đáo (đoàn Indonesia hôm sau mới tới được). Không chỉ là nhịp điệu thanh thoát của những dàn ching chêng, mà còn cả tiếng kèn saranai réo rắt, tiếng trống sazam bập bùng hòa điệu …Người già, người trẻ, nữ, nam…chao ôi là tiếng cười, giọng nói ríu rít làm quen hay mừng gặp lại.Cả những tiếng nói to hơn thường ngày qua điện thoại di động, đua nhau kể với ở nhà ( vùng xa vùng sâu nào đó) không khí náo nức chờ đến giờ khai mạc ngày hội.…
Cái được nhất của Liên hoan có lẽ chính là sự gặp gỡ, không khí hồ hởi và thân mật này ( Ngoài việc biểu diễn ở bốn sân khấu lớn trong nội và ngoại thành Plei Ku, các nghệ nhân 6 nước còn có cuộc giao lưu với nhau tại khu du lịch Đồng xanh vào tối ngày 14/11 ).Sau nữa là sự xuất hiện của đa số các “ nghệ nhân” trẻ, thế hệ kế tục để bảo tồn “ di sản”, không chỉ múa mà còn diễn tấu ching. Không kể các bé em còn nằm trên lưng mẹ, thì nhỏ nhất có lẽ là hai thành viên Ksor Sia 6 tuổi & Siu Khái 8 tuổi của đội Jrai huyện Chư Sê, điêu luyện trong những bước nhảy theo nhịp ching, làm tốn không biết bao nhiêu phim của các nghệ sỹ nhiếp ảnh.
Đến với Festival cồng chiêng quốc tế lần đầu tiên này, có thể nhận thấy rất nhiều nét tương đồng và khác biệt giữa các dàn cồng chiêng của Việt Nam & các nước Đông Nam Á.
Ví dụ như dàn ngũ âm & trang phục của hai đội cồng chiêng Khơmer đến từ Bạc Liêu & Sóc Trăng không khác mấy so với cách trình diễn và cơ cấu dàn ngũ âm của Đoàn nghệ nhân CamPuChia : từ hàng chục chiếc cồng nhỏ xếp thành từng hai dàn một trên một chiếc giá đỡ hình vòng cung, cho đến bộ trống Sazam, trang phục xaroong của các nghệ nhân nam.
Hay đoàn nghệ nhân đến từ Philipin cũng cởi trần đóng khố, đep chuỗi vòng răng thú và xử dụng 7 chiếc chiêng không có núm, như một số tộc người Tây Nguyên thuộc nhóm ngôn ngữ Môn –Khơmer, nhưng lại dùng dùi cứng ( trong khi hầu hết các nhóm Tây Nguyên đều dùng dùi mềm). Hoặc nhóm nghệ nhân tộc người Prao của đoàn Lào, lại sử dụng 7 chiếc ching có núm, khác với nhóm Brâo ( một nhánh khác ở Kon Tum) chỉ có hai chiếc chiêng không có núm…
Hoặc cùng nhóm ngữ hệ Môn – Khơmer nhưng tộc người Châu Ro đến từ Đồng Nai, lại diễn tấu 8 chiếc chiêng có núm, không có chiêng bằng, như người anh em S’Tiêng, K’Ho cận kề…
Cho dù dưới hình thức diễn tấu nào, thì âm thanh và giai điệu của mọi dàn ching đều có sức lan toả,lôi cuốn bởi tính độc đáo riêng biệt của âm nhạc dân gian mỗi tộc người. Đối với những người nghiên cứu cồng chiêng, đây thật là một dịp thú vị để tìm hiểu.
Cũng không thể không nói tới tình cảm mến khách tuyệt vời của người dân Plei Ku, bởi tôi và nhiều bạn bè đã được hướng dẫn tận tình khi gặp bất cứ trở ngại gì trên đường phố.
Vui là thế, buồn là gì bạn biết không? Xin hãy cùng tôi quay trở lại với đêm 12-11. Sau màn khai mạc dài dòng, hơn 50.000 người ngồi kín quảng trường 17-3 ở thành phố Plei Ku, lẫn triệu triệu khán giả màn ảnh nhỏ chờ đợi, tiếng ching chêng đã vang lên rộn rã. 3.000 diễn viên & nghệ nhân trên quảng trường cùng rùng rùng chuyển động.
Có thể nói Tổng đạo diễn phần âm nhạc : nhạc sỹ Nguyễn Cường đã thành công khi chọn lọc và sắp xếp hài hoà giữa âm nhạc cồng chiêng, dân ca các dân tộc Tây Nguyên và phần nhạc – hát mới (dẫu phần âm nhạc Êđê được dùng làm âm hưởng chủ đạo trong cả hai đêm khai mạc lẫn bế mạc và có tới vài ca khúc của tác giả). Và trên bốn tầng sân khấu là các tiết mục múa Tây Nguyên, do các sinh viên Trường Đại học VHNT Quân đội trình bày tạo được vẻ đẹp của hình thể trong những động tác múa Tây Nguyên.
Nhưng chiếm trọn vẹn quảng trường và thời lượng đến hơn 60’/90’ của chương trình là các nam nữ thanh niên người mang hoa, kẻ mang khiêl, trống, lần lượt xuất hiện hết màn trình diễn này đến màn trình diễn khác, không có chút gì là Tây Nguyên, trong cả động tác múa lẫn trang phục với đặc trưng là vài trăm bộ váy đầm kiểu dạ hội. (May mà Camera của Đài Truyền hình Việt Nam chỉ hướng cố định lên sân khấu, nên khán giả màn ảnh nhỏ không phải “ thưởng thức” màn trình diễn này), còn những khán giả tại chỗ chỉ thấy ngợp vì ấn tượng ở số người quá đông chính diện ngay trước mắt mà thôi.
May nữa là bày voi 11 con từ Đăk Lăk sang, chỉ có một “ chú” không quen với ánh sáng, tiếng động dữ dội ở nơi đông người, nên một mình quay lưng lại khi cả đàn quỳ xuống chào khán giả và không gây nên sự hỗn loạn đáng tiếc nào ( bởi voi chỉ cách người ngồi bên lề chừng 3m). May nữa là trong những phút cuối của chương trình, với tài nghệ và sự hồn nhiên của mình, giọng hát của ca sỹ Siu Black đã lôi cuốn được người xem khi xuất hiện trên chiếc xe ngựa và trên sân khấu với ca khúc “ Đôi mắt Plei Ku” sôi động, kéo theo hàng ngàn bạn trẻ vào vũ điệu xoang kết thúc.
Vậy nên sau đêm khai mạc, đông đảo khán giả tại chỗ vừa giải tán, vừa than phiền vì thiếu sự ra mắt cụ thể một cách trang trọng theo đúng thông lệ, của cả 40 dàn chiêng trong nước và 5 dàn chiêng ngoài nước ( chắc các đạo diễn định thử tài tiên đoán của khán giả qua trang phục và cờ tổ quốc chạy như đuổi bắt trên sân khấu). Cũng như suốt 90’ của chương trình không hề thấy được sự tôn vinh xứng đáng các “di sản của nhân loại” , khi đạo diễn chỉ cho các đoàn diễn tấu ching và múa hai bên lề quảng trường, sau đó cuối chương trình chạy qua sân khấu chính được một vòng rồi xuống ngay. (Điều này Ban Tổ chức “để dành” vào đêm bế mạc: tất cả các đoàn đều diễu hành qua khán đài để chào quan khách, tuy nhiên không phải bằng chính âm nhạc ching chêng của họ, mà trên nền nhạc chung của lễ hội).
Chúng tôi tiếc hùi hụi vì đã không được xem trình diễn tại lễ khai mạc; lịch biểu diễn xoay vòng lại chỉ có mỗi ngày một buổi, tại những địa điểm cách nhau đến cả chục cây số, nên dẫu muốn lắm cũng không có dịp xem được các đoàn nước ngoài khác như Inđonesia, CamPuChia hay Maiamy… biểu diễn.
Chưa hết, Lễ đâm trâu mừng chiến thắng của các nghệ nhân Bâhnar huyện K’Bang, chỉ là nhảy nhót tượng trưng, vì Bộ trưởng cho rằng “khách nước ngoài phản đối việc sát sinh trâu”. Trong khi đó lại chấp nhận việc giới thiệu công khai “tác giả kịch bản, đạo diễn” Lễ đâm trâu là những cán bộ người Kinh của Sở Văn hoá.
Yang ơi, du khách đâu đến nỗi không hiểu rằng đó là nghi lễ truyền thống trong tín ngưỡng “Vạn vật hữu linh” của Tây Nguyên. Đồng thời họ cũng hiểu như các nghệ nhân rằng “giả dối với các vị thần linh nào phải chuyện đùa”. Cảm ơn các vị viết lời dịch tiếng Bâhnar từng công đoạn, từng câu khấn cho du khách hiểu, nhưng cho dẫu có trân trọng việc đã công tác ở Tây Nguyên hàng chục năm, nhờ văn hoá Tây Nguyên mà có học vị Thạc sỹ hay Tiến sỹ đi nữa, thì làm sao các vị “đạo diễn” lễ cổ truyền của “người ta” được?
Dẫu vui buồn lẫn lộn vậy, cũng phải công nhận rằng: hơn 1.500 nghệ nhân cồng chiêng từ khắp đất nước Việt Nam và năm nước anh em Đông Nam Á, đã hoàn thành sứ mệnh gửi tới nhân loại thông điệp của hòa bình và sự đoàn kết các dân tộc, bằng những âm thanh tuyệt vời của một trong những “ Di sản văn hoá phi vật thể truyền khẩu”. Và những hoạt động khác như Hội chợ hàng Việt Nam chất lượng cao, Hội chợ Làng nghề thủ công truyền thống, Làng ẩm thực, Triển lãm tranh – ảnh nghệ thuật và ảnh về Anh hùng Núp, Trưng bày sinh vật cảnh, Trưng bày văn hoá truyền thống Tây Nguyên, trình diễn chỉnh chiêng, tác tượng, phục dựng một vài lễ hội cổ truyền…đã thật sự góp phần làm nên thành công của Festival Cồng chiêng Quốc tế 2009 này.
Mong những Festival sau sẽ được tổ chức đúng nghĩa hơn và cồng chiêng Tây Nguyên được tôn vinh một cách xứng đáng hơn.
Xin cho con được làm công cụ an hòa của Người;
Nơi có hận thù, con gieo hạt giống tình yêu;
Nơi có tổn thương, con đem những lời hối lỗi;
Nơi có nghi ngờ, con dựng lại niềm tin;
Nơi chỉ còn tuyệt vọng, con xây hi vọng;
Nơi phủ đầy bóng tối, con thắp sáng trời đêm;
Và nơi nỗi buồn vây phủ, con trao tặng niềm vui;
Đấng Toàn Năng,
Xin cho con tìm sự an ủi ít hơn những lời con an ủi,
Được cảm thông ít hơn con hiểu được tha nhân,
Được yêu thương ít hơn trao gửi yêu thương,
Vì chính trong sự cho đi là nhận lại,
Trong sự thứ tha mà ta được thứ tha,
Và trong khi chết đi được sinh vào cõi sống vĩnh hằng
Amen
Thánh Francis of Assisi
Huỳnh Huệ dịch
The Peace Prayer of Saint Francis
Lord, make me an instrument of Thy peace;
where there is hatred, let me sow love;
where there is injury, pardon;
where there is doubt, faith;
where there is despair, hope;
where there is darkness, light;
and where there is sadness, joy.
O Divine Master,
grant that I may not so much seek to be consoled as to console;
to be understood, as to understand;
to be loved, as to love;
for it is in giving that we receive,
it is in pardoning that we are pardoned,
and it is in dying that we are born to Eternal Life.
Amen.
Saint Francis of Assisi
Ai nghe nhạc guitar cổ điển cũng đều biết đến Andres Segovia, người mang cây guitar bình dân của Gypsies Tây Ban Nha trên đường phố vào thính phòng và những đại hí viện với những dàn đại hòa tấu, thành cây vương cầm, ngang hàng với violon và piano trong thính phòng.
Andrés Torres Segovia sinh ngày 21 tháng 2 năm 1893 ở Tây Ban Nha, học đàn Flamenco từ lúc 6 tuổi. Tuy nhiên khi lớn lên Segovia không chơi Flamenco, nhưng mang một số kỹ thuật Flamenco vào nhạc cổ điển, và do đó phong phú hóa kỹ thuật cũng như âm điệu guitar cổ điển. Kỹ thuật cao độ của Segovia cộng với các phát minh mới về kỹ thuật thu đĩa và thu băng, radio, và TV, giúp cho cây guitar cổ điển trở thành cây đàn được ưa chuộng và kính trọng khắp thế giới.
Năm 1958 Segovia được giải Grammy về Best Classical Performance (trình tấu cổ điển hay nhất), cho đĩa nhạc Segovia Golden Jubilee. Ngày 24 tháng 6 năm 1981, vua Tây Ban Nha Juan Carlos phong chức hoàng tộc cho Segovia “Marqués de Salobrena” (hầu tước của Salobrena).
Segovia vẫn trình diễn khi đã hơn 80 tuổi. Ông mất ngày 2 tháng 6 năm 1987, thọ 94 tuổi và được chôn cất tại lâu đài Casa Museo de Linares, ở Andalusia.
Chào các bạn,
Truyên ngắn này mình đã đăng trên Tuổi Trẻ Chủ Nhật, số 43-96 (677), 3.11.1996-9.11.1996, dưới bút danh Trần Đình. Vậy là lúc này đang nằm trong bệnh viện ở Singapore. Mình nhớ là viết bài này lúc còn ở Hà Nội. Gởi vào Tuổi Trẻ cho Nguyễn Đông Thức thì phải. Sau đó đi qua Singapore thì bị bệnh luôn.
Bản dưới đây đã được scanned và đặt trên Scribd.com. Các bạn có thể điều khiển màn ảnh cho dễ đọc. Click vào “Fullscreen” (ở phía trên) để xem màn ảnh lớn. Rồi dùng “Zoom – +” (ở cuối màn ảnh) để phóng đại chữ.
Tờ báo cũ quá nên đã hoen ố vài nơi. Mong các bạn thông cảm.
Hôm nay, thứ năm cuối của tháng 11, là ngày Lễ Tạ Ơn ở Mỹ. Lễ Tạ Ơn có nguồn gốc từ năm 1621, thời điểm đầu tiên của những người tị nạn Âu Châu đến lập nghiệp ở Thế Giới Mới và tạo thành nước Mỹ sau này.
Năm 1620, 102 người của 8 giáo hội ly khai khỏi Anh giáo thuê một chiếc tàu tên là May Flower để sang Mỹ Châu, trốn chạy bách hại tôn giáo ở Anh. May Flower rời Southhampton, Anh quốc, ngày 6 (hay 16?) tháng 9, chở 102 hành khách và khoảng 25 đến 30 người thủy thủ đoàn. Sau 66 ngày hành trình gian khổ đến nỗi hai người đã thiệt mạng, tàu đến nơi (mà ngày nay là cảng Provincetown Harbor ở Cape Cod, bang Massachusetts) ngày 11 (hay 21?) tháng 11.
Thực ra điểm đến dự tính của tàu này là miệng sông Hudson ở New York, nhưng vì thời tiết xấu, tàu đã đi sai đường, lên phía bắc. Ngày 11 tháng 12, tất cả 100 người hành khách còn lại xuống tàu, ở vùng ngày nay gọi là Plymouth, bang Massachusetts.
Nhóm hành khách này được gọi là the pilgrims (những người hành hương) trong văn hóa nước Mỹ ngày nay. The pilgrims và tàu May Flower đóng vai rất quan trọng trong lịch sử nước Mỹ–mở đầu cho một prong trào di dân và lập nghiệp, tạo thành nước Mỹ tương lai.
Mùa đông đầu tiên, những người pilgrim sống thật đói khát khổ sở thiếu thốn. Chỉ vài tháng sau họ đã mất 46 người. May là họ được thổ dân da đỏ giúp đở, dạy họ cách sinh sống, và làm mùa, trong vùng đất mới.
Vụ gặt mùa thu năm 1621, the pilgrims được mùa tốt. Họ quyết định làm một lễ tạ ơn, lễ hội cùng nhau và cùng 91 người thổ dân da đỏ đã giúp đở họ, trong ba ngày liền. Gà tây, bắp (ngô), dâu cranberry, bí rợ (đỏ) là những thực phẩm có lúc bấy giờ, được dùng trong lễ hội, và từ đó tạo lập truyền thống về các món ăn trong ngày Lễ Tạ Ơn cho đến ngày nay.
Ngày 3 tháng 10 năm 1789, tổng thống George Washington, lần đầu tiên, chỉ định ngày Lễ Tạ Ơn cho quốc gia:
Vì lý do, nhiệm vụ của tất cả mọi Quốc Gia là công nhận quyền năng của Chúa Toàn Năng, vâng theo ý ngài, tạ ơn về các hồng phúc của ngài, và khiêm tốn khẩn cầu sự bảo vệ và yêu thương của ngài, và vì lý do cả hai viện của Quốc Hội, qua ủy ban lưỡng viện, đã yêu cầu tôi “đề nghị với toàn nhân dân Mỹ Quốc một ngày tạ ơn và cầu nguyện công, được tôn kính bằng cách công nhận với lòng biết ơn nhiều dấu hiệu yêu thương của Chúa Toàn Năng đã cho nhân dân một cơ hội hòa bình để thiết lập một hình thức chính quyền phục vụ an ninh và hạnh phúc của nhân dân.”
Vì vậy bây giờ tôi đề nghị và chỉ định ngày Thứ Năm, 26 tháng 11 tới là ngày của Nhân Dân Nước Mỹ hiến dâng cho Thượng đế vĩ đại và vinh quang, là đấng sáng tạo ra tất cả mọi điều phúc thiện trong quá khứ, hiện tại và tương lai. Tất cả chúng ta hãy kết đoàn để dâng lên ngài lời tạ ơn thành tâm và khiêm tốn, vì ngài đã lo lắng ân cần và bảo vệ Dân Tộc này trước khi thành lập Quốc Gia; vì các dấu hiệu và nhiều thương xót của ngài, và sự can thiệp của quyền năng của ngài, mà chúng ta đã trải nghiệm trong suốt cuộc chiến và tại điểm kết cục của cuộc chiến vừa qua; vì mức độ rất cao của tĩnh lặng, đoàn kết và phú cường mà chúng ta đã được tận hưởng từ sau cuộc chiến; vì chúng ta đã được cho khả năng để tạo ra luật pháp, một cách hòa bình và hợp lý, cho chính phủ để phục vụ an ninh và hạnh phúc của chúng ta, đặc biệt là chính phủ liên bang mà chúng ta vừa thiết lập; vì tự do dân sự và tự do tôn giáo chúa ban cho chúng ta; và vì những phương tiện chúng ta có được để thu lượm và truyền bá kiến thức; và nói chung là tất cả ân sủng lớn và đặc biệt Thượng đế đã ban cho chúng ta.
Và để chúng ta có thể kết đoàn trong việc hiến dâng một cách khiêm tốn nhất lời cầu nguyện và khẩn cầu của chúng ta đến Chúa Cao Cả và Người Cai Trị Tất Cả Mọi Quốc Gia và nài xin ngài tha thứ cho mọi lỗi lầm của quốc gia cũng như các lỗi lầm khác, để giúp tất cả chúng ta, dù là trong chức vụ công hay nhiệm sở tư, có thể thi hành tốt và đúng lúc mọi nhiệm vụ của mình, để biến chính quyền quốc gia thành một ân phước cho tất cả nhân dân, bằng cách luôn luôn là một chính phủ khôn ngoan và công bình, và luật đặt trên hiếp pháp được thi hành và tuân thủ một cách tế nhị và trung thực, để bảo vệ và dìu dắt mọi Vua Chúa và mọi Quốc Gia (nhất là các quốc gia đã tử tế với chúng ta), và ban cho họ chính phủ tốt, hòa bình và thân ái, để thăng tiến kiến thức và thực hành tôn giáo và đạo đức thật, và phát triển khoa học giữa các nước và chúng ta, và nói chung ban cho tất cả Loài Người phú cường vật thể mà chỉ Chúa biết rõ nhất.
Chính tay tôi ký ở New York ngày 3 tháng 10 năm của Chúa thứ 1789.
Đến năm 1863, tổng thống Lincoln ấn định ngày thứ năm cuối tháng 11 là ngày Thanksgiving hàng năm.
Mỗi năm National Turkey Federation (hiệp hội nuôi gà tây của Mỹ) gởi tặng Nhà Trắng gà tây vào dịp Thanksgiving. Các tổng thống Eisenhower, Nixon và Johnson xơi các chú. Tổng thống Kennedy lần đầu tiên tha mạng các chú, không làm thịt. Và năm 1990, tổng thống George H.W. Bush (Bush cha) đã chính thức thành lập ngày tha tội cho gà tây, tặng các chú gà tây nhận được vào các thảo cầm viên, và ngày nay ta có truyền thống ân xá gà tây hàng năm tại Nhà Trắng. Ngày tha tội gà tây của Thanksgiving 2010 có thể đọc được tại đây.
Trong ngày Thanksgiving, mọi người trong gia đình thường tụ họp nhau ăn uống và chuyện vãn. Các món ăn chính là gà tây, dâu cranberry, bánh mì bí rợ, bánh ngọt bí rợ, bắp (ngô)…
Tuần Thanksgivings là một trong những tuần dân Mỹ di chuyển nhiều nhất trong năm, để về tụ họp gia đình.
Thanksgiving cũng là ngày đầu tiên của Mùa Lễ Hội (Holidays Season), kéo dài cho đến ngày đầu năm mới, mồng một tháng giêng.
Ngày thứ sáu sau Thanksgiving là ngày đầu tiên của mùa buôn bán Lễ Hội (Holidays season shopping), và thường được gọi là ngày Black Friday (ngày Thứ Sáu Đen), vì ngày đó người ta đi mua sắm kẹt xe đen cả đường phố. Các cửa tiệm đều có những món hàng hạ giá rất thấp để mời gọi mọi người mua sắm đầu mùa. Có nơi người ta sắp hàng từ đêm hôm trước, dài cả cây số, để chờ tiệm mở cứa khoảng 6 giờ sáng.
Ngày nay, Black Friday (Thứ Sáu Đen) còn có nghĩa là ngày các tiệm kiếm ra tiền, thống kế kế toán có số lời, màu đen, thay vì số lỗ màu đỏ.
Chúc cán bạn một ngày nhiều Tạ Ơn.
Sau đây mời các bạn xem vài videos vui về ngày Thanksgiving.
.
Heavy turkey
.
Crappy Canadian Thanksgiving (w. Ellen Page & Justin Long)
Hôm nay là ngày thứ 4 tuần thứ 4 ở Mỹ rồi. Thư viện ở các trường học bắt đầu đóng cửa, các bạn học sinh Mỹ đi học ở xa gia đình chuẩn bị về nhà dự lễ Tạ Ơn với gia đình vào ngày mai 🙂
Mình đi theo một người bạn tên là Noah đến thăm và dự lễ Tạ Ơn với gia đình cậu ở trị trấn Delmar, tiểu bang New York vào năm 2006. Mình kể với các bạn cảm nhận của mình về lễ Tạ Ơn trong một gia đình người Mỹ bình thường nhé, gia đình bạn Noah không theo đạo Thiên Chúa.
Sau khoảng 2 tiếng lái xe từ Vermont, chúng mình tới được nhà của Noah ở Delmar ở phía bắc tiểu bang New York. Đó là một trị trấn nhỏ bé lạc hút trong một cánh rừng và những rặng núi. Ở đây ít trường học tốt, nên khi trẻ con lớn lên, chúng thường phải đi sang những tiểu bang khác để học đại học. Thành phố cứ bình dị hoang vắng thế thôi.
Tới nhà, mình và Noah gặp bố mẹ của cậu, ông bà Robert-Roberta và em gái cậu Shirah. Ông bà Robert-Roberta đã nuôi lớn đến 3 người con trong ngôi nhà này đấy, Noah, chị gái và em gái Noah nên căn nhà chứa đầy kỷ niệm, rất nhiều ảnh hồi bé đến lớn của anh chị em Noah rất kháu khỉnh dễ thương. 🙂
Bếp của gia đình người Mỹ có rất nhiều cookbook – sách dạy nấu ăn. Những đồ nấu ăn cũng rất sẵn sàng. Mình chợt nhớ tới câu nói đùa của một anh bạn du học sinh, anh từng là niềm cảm hứng để mình kiếm học bổng du học hồi trước: “Nếu giả sử nhé, nhà bạn sắp cháy và bạn chỉ được mang hai thứ ra mà thôi, bạn sẽ mang gì ra?” Câu trả lời của anh ấy là “Savings account của ông nội tôi và cookbook của mẹ tôi”. Mình rất thích câu trả lời này vì sự sâu sắc, hiếu thảo về gia sản gia đình cũng như giá trị truyền thống trong thức ăn nuôi dưỡng mình của văn hóa người Mỹ 🙂
Tủ lạnh của những gia đình người Mỹ cũng có nhiều những tấm nam châm để đính ảnh của gia đình và ghi thông báo rất sống động 🙂
Vì bọn mình đang đói nên kiếm gì ăn trước vậy. Nhà có một chút thịt nai rừng, do người hàng xóm cho vì ở vùng hoang vu phía New York, rất nhiều nai đi lạc và va vào ô tô hay bị người săn. Thịt nai rất nạc, nhưng hơi nhạt một chút 🙂
Bà Roberta rất nhớ Noah và thể hiện tình cảm ấm áp. Nhớ là vậy, nhưng một năm cũng chẳng gặp nhau được mấy lần, vì con cái đi học và đi làm xa xăm suốt, bỏ những người già ở quê nhà, vì ở quê không có mấy cơ hội học tập và việc làm. Những dịp lễ, cả nhà lại quấn quít bên nhau.
Cả cùng chuẩn bị đồ ăn tối. Mình được giao nhồi thịt cho con gà Tây, Shirah làm bánh táo, bà Shirah và Noah cũng vào phụ bếp.
Sau đó, Noah và mình lái xe qua nhà bà ngoại của Noah để thăm bà và đón bà ngoại qua nhà ăn tối.
Bà ngoại Noah sống cách đó khoảng 10 phút lái xe. Bà đã trên 80 tuổi và sống một mình. Căn nhà bà sống được xây dựng hơn 50 năm về trước và chứa đầy kỷ niệm của gia đình. Trên tường nhà bà treo ảnh ông ngoại, các con của bà khi con bé và gia đình các con và các cháu của bà.
Bà cũng ngạc nhiên thấy mình từ một đất nước xa xôi đến. Bà kể anh trai của bà là người thiết kế về xây dựng cho tòa nhà World Trade Center bị sập. Rằng bà lớn lên qua thời Great Depression khổ cực.
Bà chậm rãi nhưng có đôi mắt tinh nhanh. Bà yêu nghệ thuật và vẫn chơi piano. Bà bảo Noah ra chơi một đoạn piano do bà dạy Noah hồi trước, và căn dặn rằng “hồi trước bà nói với cháu là chơi nhạc là phải improvise – ngẫu hứng”. Noah chơi nhạc, căn nhà rộng rất yên tĩnh chỉ có tiếng piano và sự sâu thẳm của thời gian.
Mọi thứ tĩnh lặng vô cùng. Những bức ảnh rất sạch những chúng cũng có dấu ấn thời gian. Mình gọi căn nhà đó là “the house of time”. Căn nhà làm mình cảm thấy rất khiêm tốn và nhỏ bé trước thời gian.
Bà Noah đã cao tuổi và chậm rãi nên Noah đỡ vào vào xe ô tô. Cẩn thận đi từng bước vượt qua bậc tuyết. Tất cả trở về nhà bố mẹ Noah.
Shirah rủ thêm hai bạn trai cùng xóm tới ăn tối cùng cho vui. Cả nhà bắt đầu ăn và truyền tay nhau những đĩa thức ăn đi một vòng. Bánh mì đi một vòng, sa lát đi một vòng, cứ lần lượt như thế. Cả nhà nói đủ thứ chuyện rôm rả suốt 🙂
Sau đó, bạn Shiral và Shirah ra ghế chơi ghita và hát nhè nhẹ.
Bà Noah, ông bà Robert, Roberta cũng ra ghế ngồi chơi với mình và nói chuyện tào lao. Bà của Noah là một giáo viên dạy tiếng Anh hồi xưa nên bà kể chút chuyện về những tác phẩm kinh điển của William Faulkner như the Sound and the Fury. Bố Noah là một bác sĩ có mức lương cao nên ủng hộ Bush, mẹ Noah ở nhà đan quần áo và làm những việc bình thường để kiếm thêm chút tiền. Bà quan tâm đến Phật giáo của châu Á.
Sau đó mẹ Noah, Noah và mình lái xe trở bà ngoại Noah về nhà bà. Bà lại về căn nhà trống trải. Đó là thực tế buồn ở Mỹ vì cha mẹ sống tách biệt với bố mẹ gia để có tự do. Những người già thường sống riêng nhưng ở nhà gần con cái, hay sống chung với nhau ở các Nursing home ở vùng thời tiết ấm áp như Florida.
Mặc ngoài trời tuyết lạnh, trong nhà không khí rất ấm cúng.
Mình rất cảm ơn vì cơ hội được đi chơi lễ Tạ Ơn cùng Noah, bạn Mỹ ở cùng nhà mình khi đó ở trường Vermont. Chuyến đi giúp mình hiểu nhiều về lối sống gia đình người Mỹ.
Mình cũng cảm nhận được rằng những bạn sinh viên du học ở những nơi xa xôi hẻo lánh như nơi mình khi đó như những tiểu bang vùng Midwest, Maine, New Hampshire nếu không đi đâu mà ở lại ký túc xá, nhìn thấy cảnh hoang vắng tiêu điều và tuyết rơi liên miên chắc buồn lắm. Mong bình an ở cùng các bạn.
Hôm nay chúng ta cùng xem một tiểu phẩm về bảo vệ môi trường của các bạn học sinh trường Trung học Phổ thông Nguyễn Hiền ở thành phố HCM nhé 🙂
Các bạn Hoàng Mai Trang, Nguyễn Ngọc Mạnh Cường, Tiến Lộc, Minh Quân, Hoàng Sơn, Thiện Phú, Huỳnh Phúc, Thái Lập Banh là Nhóm diễn viên tự phát của Văn Phòng Đoàn trường Nguyễn Hiền đã thực hiện video này.
Nhờ có video này, mình mới biết được trường THPT Nguyễn Hiền có một hồ sen xanh tươi rất đẹp giữa trường đấy 🙂
Trường rất đẹp, cũng như thành phố của chúng ta vậy, nhưng có một nhóm các bạn đẹp trai xinh gái làm hơi bừa một chút. Nếu có nhiều bạn đẹp trai xinh gái hơn, chúng ta có thể có một hồ rác. 🙂
Một tiểu phẩm nhỏ đưa câu chuyện đời thường ra ánh sáng rất dễ thương. Cám ơn các bạn diễn viên trường THPT Nguyễn Hiền nhé. 🙂
Nếu các bạn trong các tổ chức dân sự có những video clips vui nhộn về tuyên truyền những giải pháp, hãy gửi đến đóng góp với Nhạc Xanh trên ĐCN. Các bạn có thể gửi cho mình. Email của mình ở trong phần Giới Thiệu.
Sau đây mời các bạn thưởng thức video clip của các bạn Nguyễn Hiền, và video Earth Song của Michael Jackson. Lời nhạc theo sau video.
What about sunrise
What about rain
What about all the things
That you said we were to gain…
What about killing fields
Is there a time
What about all the things
That you said was yours and mine…
Did you ever stop to notice
All the blood we’ve shed before
Did you ever stop to notice
The crying Earth the weeping shores?
Aaaaaaaaah Aaaaaaaaah
Aaaaaaaaah Aaaaaaaaah
What have we done to the world
Look what we’ve done
What about all the peace
That you pledge your only son…
What about flowering fields
Is there a time
What about all the dreams
That you said was yours and mine…
Did you ever stop to notice
All the children dead from war
Did you ever stop to notice
The crying Earth the weeping shores
Aaaaaaaaah Aaaaaaaaah
Aaaaaaaaah Aaaaaaaaah
I used to dream
I used to glance beyond the stars
Now I don’t know where we are
Although I know we’ve drifted far
Hey, what about yesterday
(What about us)
What about the seas
(What about us)
The heavens are falling down
(What about us)
I can’t even breathe
(What about us)
What about apathy
(What about us)
I need you
(What about us)
What about nature’s worth
(ooo, ooo)
It’s our planet’s womb
(What about us)
What about animals
(What about it)
We’ve turned kingdoms to dust
(What about us)
What about elephants
(What about us)
Have we lost their trust
(What about us)
What about crying whales
(What about us)
We’re ravaging the seas
(What about us)
What about forest trails
(ooo, ooo)
Burnt despite our pleas
(What about us)
What about the holy land
(What about it)
Torn apart by creed
(What about us)
What about the common man
(What about us)
Can’t we set him free
(What about us)
What about children dying
(What about us)
Can’t you hear them cry
(What about us)
Where did we go wrong
(ooo, ooo)
Someone tell me why
(What about us)
What about babies
(What about it)
What about the days
(What about us)
What about all their joy
(What about us)
What about the man
(What about us)
What about the crying man
(What about us)
What about Abraham
(What was us)
What about death again
(ooo, ooo)
Do we give a damn