Tag Archives: Văn Hóa

Cỏ cây giác ngộ thế nào?

Vào thời Kamakura, Shinkan học Thiên Thai Tông sáu năm, sau đó học Thiền 7 năm; rồi thiền sư qua Trung Quốc và nghiên cứu Thiền 13 năm nữa.

Khi thiền sư trở về Nhật nhiều người muốn gặp thiền sư và hỏi các câu bí hiểm. Nhưng Shinkan rất ít tiếp khách, và khi tiếp khách, thiền sư rất ít khi trả lời câu hỏi của họ.

Ngày nọ có một người 50 tuổi đang học về giác ngộ, nói với Shinkan, “Tôi đã học tư tưởng của Tông Thiên Thai từ lúc còn nhỏ, nhưng một điều tôi không hiểu nổi. Thiên Thai cho rằng ngay cả cỏ cây cũng sẽ giác ngộ. Đối với tôi đây là điều rất lạ.”

“Bàn luận cỏ cây giác ngộ thế nào thì được ích gì?” Shinkan hỏi. “Câu hỏi là anh làm thế nào để có thể giác ngộ. Anh có bao giờ nghĩ đến chuyện đó không?”

“Tôi chẳng bao giờ nghĩ như vậy cả,” ông già kinh ngạc.

“Vậy thì về nhà và nghĩ đến nó,” Shinkan kết thúc.
.

Bình:

• Thời Kamakura bắt đầu từ năm 1185 đến năm 1333.

• Thiên Thai Tông của Nhật thật ra cũng có thiền. Thiên Thai Tông do Tối Trừng (Saicho) thiết lập năm 805 sau khi đã học Thiên Thai từ Trung Quốc. Tuy nhiên Thiên Thai Nhật của Saicho có đển bốn phần: (1) Thiên Thai Trung Quốc (dùng tư tưởng của Kinh Diệu Pháp Liên Hoa là chính); (2) Mật tông (Tây Tạng); (3) Thiền (nhưng chú trọng nhiều đến thiền chỉ – Samatha – tập trung tư tưởng vào một điều gì đó như là hơi thở để lắng đọng, hơn là thiền quán – Vipassana – quán sát một điều gì đó để hiểu được thâm sâu); và (4) giới luật (đại thừa).

Trong bài này nói Shinkan ngưng Thiên Thai để học Thiền, có lẽ là dòng Thiền thuần túy như thiền Lâm Tế của Thiền sư Hakuin Vậy À.

• Bài này rất rõ: Giải phóng chính mình, giải phóng tư tưởng của mình, giác ngộ của chính mình, là trọng tâm của Phật pháp và Thiền học.

Rất nhiều câu hỏi triết lý bí hiểm hấp dẫn ở đời thật ra là không quan trọng và tốn thời gian vô ích.

Trong Tiểu Kinh Malunkya, Malunkya nhận thấy:

Có một số vấn đề này, Thế Tôn không trả lời, bỏ một bên, loại bỏ ra: “Thế giới là thường còn, thế giới là vô thường, thế giới là hữu biên, thế giới là vô biên; sinh mạng này và thân này là một, sinh mạng này và thân này là khác; Như Lai có tồn tại sau khi chết, Như Lai không có tồn tại sau khi chết, Như Lai có tồn tại và không có tồn tại sau khi chết. Như Lai không có tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”.

Đức Phật nói:

Này Malunkyaputta, ví như một người bị mũi tên bắn, mũi tên được tẩm thuốc độc rất dày. Bạn bè và bà con huyết thống của người ấy mời một vị y sĩ khoa mổ xẻ đến săn sóc. Nhưng người ấy lại nói: “Tôi sẽ không rút mũi tên này ra khi nào tôi chưa biết được người đã bắn tôi thuộc giòng hoàng tộc, hay Bà-la-môn, hay buôn bán, hay người làm công. ..[hay]… tộc tánh là gì…[hay]… cao hay thấp, hay người bậc trung… [hay]… da đen, da sẫm hay da vàng … [hay] thuộc làng nào, thuộc thị trấn nào, thuộc thành phố nào… [hay]… cái cung mà tôi bị bắn, cái cung ấy thuộc loại cung thông thường hay loại cung nỏ … [hay]… dây cung mà tôi bị bắn, dây cung ấy làm bằng cây leo, hay cây lau, hay một thứ gân, hay một thứ dây gai, hay một thứ cây có nhựa… [hay]… cái tên mà tôi bị bắn, cái tên ấy thuộc một loại cây lau này hay cây lau khác… [hay]… mũi tên ấy có kết lông gì, hoặc lông con kên, hoặc lông con cò, hoặc lông con ó, hoặc lông con công, hoặc lông một loại két… [hay]… cái tên ấy được cuốn (parikkhittam) bởi loại gân nào, hoặc là gân bò cái, hoặc là gân trâu, hoặc là gân nai, hoặc là gân lừa… [hay]… tên nhọn, hay … tên móc, hay… như đầu sào, hay… như răng bò, hay… như kẽm gai”.

Này Malunkyaputta, người ấy sẽ chết và vẫn không được biết gì.

Và Đức Phật, nói thêm:

Và này Malunkyaputta, vì sao điều ấy Ta không trả lời ? Này Malunkyaputta, vì điều ấy không liên hệ đến mục đích, điều ấy không phải là căn bản Phạm hạnh, điều ấy không đưa đến yểm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn, cho nên điều ấy Ta không trả lời.

Và này Malunkyaputta, điều gì Ta trả lời. “Đây là khổ… Đây là [nguyên nhân] khổ… Đây là [diệt] khổ… Đây là con đường đưa đến [diệt] khổ” là điều Ta trả lời.

Và này Malunkyaputta, vì sao điều ấy Ta trả lời? Này Malunkyaputta, vì điều ấy có liên hệ đến mục đích, điều ấy là căn bản Phạm hạnh, điều ấy đưa đến yểm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn, vì vậy điều ấy Ta trả lời.

Do vậy, này Malunkyaputta, hãy thọ trì là không trả lời những điều Ta không trả lời. Hãy thọ trì là trả lời những điều Ta có trả lời.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.

How Grass and Trees Become Enlightened

During the Kamakura period, Shinkan studied Tendai six years and then studied Zen seven years; then he went to China and contemplated Zen for thirteen years more.

When he returned to Japan many desired to interview him and asked obscure questions. But when Shinkan received visitors, which was infrequently, he seldom answered their questions.

One day a fifty-year-old student of enlightenment said to Shinkan: “I have studied the Tendai school of thought since I was a little boy, but one thing in it I cannot understand. Tendai claims that even the grass and trees will become enlightened. To me this seems very strange.”

“Of what use is it to discuss how grass and trees become enlightened?” asked Shinkan. “The question is how you yourself can become so. Did you even consider that?”

“I never thought of it that way,” marveled the old man.

“Then go home and think it over,” finished Shinkan.
#46

Gipsy Kings và nhạc Rumba Flamenca

Chào các bạn,

Gypsy Kings là tên của một ban nhạc ở Pháp, đến từ vùng Arles và Montpellier. Các thành viên là người Pháp gốc Tây Ban Nha; cha mẹ họ là gitanos, gypsi người Tây Ban Nha gốc Romania, đã tị nạn đến Pháp từ Catalonia, thời nội chiến Tây Ban Nha thời thập niên 1930.

Họ chú trọng nhiều đến nhạc Rumba Catalana, một loại Rumba Flamenco của vùng Catalina, thêm một số âm thanh mới của nhạc pop, và mang Rumba Catalina mới này đển với thính giả toàn thế giới. Nhiều bản nhạc của họ cũng có âm hưởng Salsa, vì vậy rất được ủng hộ trong giới vũ Salsa.

Sau đây mời các bạn nghe một vài bản nhạc nổi tiếng thế giới của Gypsi Kings:

1. Volare
2. Baila Me
3. Bamboleo
4. Djobi Djoba
5. Bem bem bem Maria

Chúc các bạn một cuối tuân lang thang Gypsi ! 🙂

Hoành
.

Gipsy Kings – Volare

.

Gipsy Kings-Baila Me


.

Gipsy Kings Bamboleo

.

Gipsy Kings Djobi Djoba


.

Gipsy Kings – Bem bem bem Maria

Ngày thầy thuốc Việt Nam: Biểu tượng y khoa và Hải Thượng Lãn Ông

Chào các bạn,

Hôm nay ngày 27 tháng 2 năm 2010 là 55 năm Ngày Thầy Thuốc Việt Nam, kể từ năm 1955 khi nhà nước Việt Nam ấn định 27/2 là Ngày Thầy Thuốc hàng năm. Chúc các bạn đã và đang trong ngành y tế một ngày nhiều tình yêu và tạ ơn. Y sĩ là việc cứu người. Chẳng còn gì quan trọng cấp kỳ hơn thế.

Nhân Ngày Thầy Thuốc chúng ta hãy nói qua một tí về biểu tượng y tế và Hải Thượng Lãn Ông, được xem như ông tổ của đông y Việt Nam.

Biểu tượng ngành y

Biểu tượng nghề y sĩ là một cây gậy với một con rắn quấn quanh, gọi là Gậy Aesculapius hay Gậy Asklepios, dùng tên của vị thần thuốc men trong thần thoại Hy Lạp. Vị thần này có tên Hy Lạp là Asklepios và tên La Mã là Aesculapius, được xem là một vị thần hiền dịu, chữa lành các bệnh tật về thể xác cũng như tinh thần của con người. Các tín hữu của thần này lập các đền thờ gọi là asclepions, đền thờ Asklepios, đền thờ chữa bệnh. Đền thờ lớn nhất tọa lạc trong một khu vườn rộng rãi ở Corinth, một thành phố rất lớn thời cổ đại. Người bệnh khắp nơi đến đền thờ, ngủ lại đêm để chờ lấy thuốc, và thường cúng cho thần một con gà.

Aesculapius có nhiều con, kể cả Hygieia, nữ thần của sức khỏe, từ đó có chữ hygiene (vệ sinh), và Panaceia, nữ thần chữa bệnh, từ đó có chữ panacea, thần dược vạn năng.

Gậy Aesculapius là biểu tượng của y tế tại nhiều nơi trên thế giới kể cả American Medical Asociation và Bộ Y Tế Việt Nam.

Tuy vậy, ngày nay, nhiều nơi đã nhầm lẫn và dùng Gậy Caduceus làm biểu tượng y tế. Gậy Caduceus (phát âm /kəˈdjuːsiəs, -ʃəs/, từ tiếng Hy Lạp kerykeion κηρύκειον) là một cây gậy ngắn với hai cánh ở đầu và hai con rắn quấn quanh thân.

Gậy này trước là do Iris mang. Iris là thần thông tin của nữ thần Hera, vợ của vua trời Zeus. Sau này, gậy này đổi tên là Đũa Thần của Hermes, vì thần Hermes mang nó. Gậy này về sau lại là biểu tượng của thần Mercury, hành tinh trong Thái dương hệ.

Dù chẳng liên hệ gì đến y ‎ tế, ngày nay gậy Caduceus được dùng là biểu tượng y tế nhiều nơi, chỉ vì người ta lẫn lộn nó với gậy Asclepius.

Ông tổ Đông Y Việt Nam

Ở Âu Mỹ, Hippocrates của Hy Lạp (460 B.C. – 377 B.C.) được xem là thủy tổ của y học.

Ở Việt Nam Hải Thượng Lãn Ông ngày nay được xem là biểu tượng cho y sĩ. Hải Thượng Lãn Ông (“Ông già lười Hải Thượng”) là biệt hiệu của danh y Lê Hữu Trác.

Lê Hữu Trác sinh ngày 12 tháng 11 năm Canh Tý 1720 tại thôn Văn Xá, làng Liêu Xá, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng, tỉnh Hải Dương (nay là xã Hoàng Hữu Nam, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên). Khi ấy, 20 tuổi, ông vừa trông nom gia đình vừa chăm chỉ đèn sách, nhưng xã hội bấy giờ rối ren, các phong trào nông dân nổi dậy khắp nơi, ông bắt đầu nghiên cứu thêm binh thư và võ nghệ, “nghiên cứu trong vài năm cũng biết được đại khái, mới đeo gươm tòng quân để thí nghiệm sức học của mình”.
Lê Hữu Trác bị bệnh từ lúc ở trong quân đội, giải ngũ về phải gánh vác công việc vất vả lại sớm khuya đèn sách không chịu nghỉ ngơi, sau mắc cảm nặng, chạy chữa tới hai năm mà không khỏi. Sau nhờ lương y Trần Độc, nhiệt tình chữa khỏi.

Trong thời gian hơn một năm chữa bệnh, nhân khi rảnh rỗi ông thường đọc “Phùng thị cẩm nang” và hiểu được chỗ sâu xa của sách thuốc. Ông Trần Độc thấy lạ, bèn đem hết những hiểu biết về y học truyền cho ông.

Ông làm nhà cạnh rừng đặt tên hiệu “Hải Thượng Lãn ông”. Hải Thượng là hai chữ đầu của tỉnh Hải Dương và phủ Thượng Hồng quê cha và cũng là xã Bầu Thượng quê mẹ. “Lãn ông” nghĩa là “ông lười”, ngụ ý lười biếng, chán ghét công danh, tự giải phóng mình khỏi sự ràng buộc của danh lợi.

Sau mấy chục năm tận tụy với nghề nghiệp, Hải Thượng Lãn ông đã nghiên cứu rất sâu lý luận Trung y qua các sách kinh điển: Nội kinh, Nam kinh, Thương hàn, Kim quỹ; tìm hiểu nền y học cổ truyền của dân tộc; kết hợp với thực tế chữa bệnh phong phú của mình, ông hệ thống hóa tinh hoa của lý luận Đông y cùng với những sáng tạo đặc biệt qua việc áp dụng lý luận cổ điển vào điều kiện Việt Nam, đúc kết nền y học cổ truyền của dân tộc. Sau hơn chục năm viết nên bộ “Y tôn tâm lĩnh” gồm 28 tập, 66 quyển bao gồm đủ các mặt về y học: Y đức, Y lý, Y thuật, Dược, Di dưỡng. Phần quan trọng nữa của bộ sách phản ảnh sự nghiệp văn học và tư tưởng của Hải Thượng Lãn ông.

Ông qua đời vào ngày rằm tháng giêng năm Tân Hợi (1791) tại Bầu Thượng, (nay là xã Sơn Quang, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh), thọ 71 tuổi. Mộ ông nay còn nằm ở khe nước cạn chân núi Minh Từ thuộc xã Sơn Trung, huyện Hương Sơn.

Lê Hữu Trác là đại danh y có đóng góp lớn cho nền y học dân tộc Việt Nam, kế thừa xuất sắc sự nghiệp “Nam dược trị Nam nhân” của Tuệ Tĩnh thiền sư. Ông để lại nhiều tác phẩm lớn như Hải Thượng y tông tâm lĩnh gồm 22 tập, 66 quyển chắt lọc tinh hoa của y học cổ truyền, được đánh là công trình y học suất sắc nhất trong thời trung đại Việt Nam và các cuốn Lĩnh Nam bản thảo, Thượng kinh ký sự không chỉ có giá trị về y học mà còn có giá trị văn học, lịch sử, triết học. (Theo Wikipedia)

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

Đúng và Sai

Khi Bankei mở mùa an cư kiết hạ, đệ tử từ nhiều nơi trên đất Nhật về tham dự. Trong một buổi thiền định, một đệ tử bị bắt gặp đang ăn cắp. Vấn đề được bẩm báo lên Bankei, với yêu cầu là người đệ tử ăn cắp bị đuổi. Bankei lờ vụ này.

Sau đó đệ tử này lại bị bắt gặp ăn cắp như vậy, và một lần nữa Bankei lờ vấn đề. Chuyện này làm các đệ tử khác tức giận; họ viết một thỉnh nguyện thư yêu cầu kẻ cắp bị đuổi, nói rằng nếu không thì họ sẽ rời bỏ.

Sau khi đọc lá thơ, Bankei gọi mọi người đến. “Các anh em rất thông thái,” thiền sư nói với họ. “Anh em biết cái gì đúng và cái gì không đúng. Anh em có thể theo học nơi khác nếu muốn, nhưng người anh em khốn khó này chẳng biết đúng sai. Ai sẽ dạy anh ta nếu tôi không dạy? Tôi sẽ giữ anh ta lại đây dù là tất cả các anh em rời bỏ.”

Một suối lệ chảy dàn dụa trên mặt người đệ tử ăn cắp. Tất cả mọi ham muốn trộm cắp đã tan biến.
.

Bình:

• Thường thì những người tự cho mình là đạo đức, hay ít nhất là mình không xấu, thì thường tìm cách lánh xa và xua đuổi những người họ cho là xấu.

Tuy nhiên, “Người mạnh khỏe không cần y sĩ, nhưng người bệnh thì cần.” (Kinh thánh Thiên chúa giáo, Matthew 9:12)

• Hơn nữa, đồ tể buông đao thành Phật. Không thể nói ai sẽ thành Phật trước—người ăn cắp hay người không ăn cắp.

• Thiền là “vô tâm”, không phân biệt học trò giỏi dở tốt xấu. Lo cho mọi học trò như nhau.

• Thực ra thì ai đúng ai sai? Kẻ cắp đương nhiên biết rằng trộm cắp là sai (chỉ là do yếu đuối vì lý do nào đó mà làm bậy). Các đệ từ khác thiếu trí tuệ, thiếu từ tâm, nhưng lại vẫn nghĩ là mình đúng đến nỗi áp lực cả thầy.

Thế thì ai hiểu biết, và ai si mê?

An cư kiết hạ là mùa chư tăng không ra ngoài, cùng ở nhà với nhau để giữ gìn sức khỏe và học tập tăng cường đạo lực. Tại Việt Nam, Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản, mùa này bắt đầu từ ngày 16 tháng 4, đến rằm tháng 7, là ngày Tự Tứ đồng thời là Lễ Vu Lan, tổng cộng 90 ngày.

• Bankei là thiền sư Bàn Khuê Vĩnh Trác mà ta đã nói đến trong bài Giọng nói của hạnh phúc.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.

Right and Wrong

When Bankei held his seclusion-weeks of meditation, pupils from many parts of Japan came to attend. During one of these gatherings a pupil was caught stealing. The matter was reported to Bankei with the request that the culprit be expelled. Bankei ignored the case.

Later the pupil was caught in a similar act, and again Bankei disregarded the matter. This angered the other pupils, who drew up a petition asking for the dismissal of the thief, stating that otherwise they would leave in a body.

When Bankei had read the petition he called everyone before him. “You are wise brothers,” he told them. “You know what is right and what is not right. You may go somewhere else to study if you wish, but this poor brother does not even know right from wrong. Who will teach him if I do not? I am going to keep him here even if all the rest of you leave.”

A torrent of tears cleansed the face of the brother who had stolen. All desire to steal had vanished.

# 45

Lĩnh Nam Chích Quái – Truyện họ Hồng Bàng

Chào các bạn,

Đây là truyên đầu tiên trong quyển Lĩnh Nam Chích Quái mình đang dịch, lấy từ bộ truyện đồ sộ “Việt Nam Hán Văn Tiểu Thuyết tùng san” của Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Hà Nội, hợp tác với Viện Viễn Đông Bác Cổ (Ecole Francaise d’Extreme Orient), Paris và Đại Học Chung Cheng, Taiwan, do Trần Khánh Hạo chủ biên và nhà sách Học Sinh Thư Cục ở Taipei ấn hành năm 1992.

Phần cuối truyện có lời bình của anh Trần Đình Hoành.

Mời các ban hãy cùng nghiên cứu huyền thoại, huyền sử, nền tảng của văn hóa Việt Nam. 🙂

Chúc các bạn cuối tuần vui vẻ.

Nguyễn Hữu Vinh

Truyện họ Hồng Bàng

Đế Minh cháu ba đời Viêm Đế Thần Nông sinh ra Đế Nghi, nhân đi tuần về phía Nam đến núi Ngũ Lĩnh mừng gặp và lấy được con gái bà Vụ Tiên rồi trở về, sinh ra Lộc Tục. Lộc Tục mặt mày sáng sủa, thông minh phúc hậu, Đế Minh rất lấy làm lạ, muốn cho nối ngôi mình. Lộc Tục cố từ, xin nhường cho anh là Đế Nghi. Đế Minh liền lập Đế Nghi làm người nối ngôi cai trị đất phương Bắc, phong cho Lộc Tục làm Kinh Dương Vương để cai trị đất phương Nam, lấy hiệu nước là Xích Quỷ. Kinh Dương Vương có tài đi dưới thủy phủ, lấy Long Nữ là con gái Long Vương ở hồ Động Đình, sinh ra Sùng Lãm hiệu là Lạc Long Quân, cho nối ngôi trị nước. Kinh Dương Vương không biết đi đâu mất.

Long Quân dạy dân việc cày cấy, cơm ăn áo mặc, đặt ra các cấp quân, thần, tôn, ti, các đạo cha con, vợ chồng. Đôi khi trở về thủy phủ mà trăm họ vẫn yên vui vô sự. Hễ dân có việc lại lớn tiếng gọi Long Quân rằng: “Bố ơi! sao không lại cứu chúng con” (Người Việt xưng Phụ là Cha hoặc là Bố (1), xưng Quân Vương là Vua (2)) thì Long Quân tới ngay. Sự linh hiển của Long Quân, người đời không ai lường nổi.

Đế Nghi truyền ngôi cho con là Đế Lai. Vì nhớ đến chuyện ông tổ Đế Minh du hành phương Nam gặp tiên nữ, nên Đế Lai nhân khi phương Bắc thiên hạ thái bình bèn sai quần thần là bọn Xi Vưu thay mình trông coi việc nước, rồi đi tuần xuống nước phía nam đến nước Xích Quỷ. Khi đó, Long Quân đã về thủy phủ, trong nước không có vua. Đế Lai bèn để ái thiếp là Âu Cơ và các thị tỳ ở lại nơi hành cung rồi đi chu du thiên hạ, ngắm xem các nơi danh lam thắng cảnh. Thấy hoa kỳ cỏ lạ, trân cầm dị thú, voi, tê, đồi mồi, ngọc ngà, vàng bạc, quế, tiêu, hương, trầm, đàn cùng các sơn hào hải vật không thiếu thứ gì, khí hậu bốn mùa không lạnh không nóng, Đế Lai vui thích mà quên trở về. Dân phương Nam khốn khổ vì bị quấy nhiễu, không được yên sống như xưa, nên ngày đêm mong mỏi Long Quân trở về. Thế nên cùng nhau gọi lớn: “Bố ơi, bố ở đâu mau về cứu chúng con”. Long Quân đột nhiên trở về, thấy Âu Cơ sống một mình, có dung mạo đẹp đẽ lạ thường, trong lòng vui mừng, bèn hóa thành một trang thiếu niên khôi ngô tuấn tú, tả hữu kẻ hầu người hạ đông đúc, vừa đi vừa ca hát đánh trống trước hành cung Âu Cơ ở. Âu Cơ thấy vậy, sinh lòng ưa thích. Long Quân đón Ấu Cơ ở Long Trang Nham. Đế Lai trở về, không thấy Âu Cơ, sai quần thần đi tìm khắp thiên hạ. Long Quân có phép thần thông, biến hóa thành trăm hình vạn trạng, yêu tinh, quỷ sứ, rồng, rắn, hổ, voi… làm cho bọn đi tìm Âu Cơ đều sợ hãi không dám sục sạo, Đế Lai bèn phải trở về phương Bắc. Truyền ngôi đến đời Du Võng, đánh nhau với Hoàng Đế ở đất Bản Tuyền, đánh không nổi mà chết (3). Đời Thần Nông tới đây thì hết.

Long Quân lấy Âu Cơ, trong năm sinh ra một bọc trứng, cho là điềm bất thường, vứt ra ngoài đồng; qua bảy ngày, bọc vỡ ra một trăm quả trứng, mỗi trứng nở ra một con trai, mới đem về nhà nuôi. Không cần phải bú mớm, các con tự lớn lên, người nào cũng trí dũng song toàn, ai ai cũng nể phục, đều cho là những kẻ phi thường. Long Quân ở lâu dưới thủy phủ, vợ con sống một mình, nay muốn về đất Bắc. Âu Cơ về tới biên giới, Hoàng Đế nghe nói rất sợ hãi cho binh ra giữ cửa ải, mẹ con Âu Cơ không thể về Bắc được, nên ngày đêm lớn tiếng gọi Long Quân rằng: “Bố ở nơi nào mà để mẹ con tôi buồn khổ thế này”. Long Quân bỗng trở về, gặp nhau ở đất Tương Dã. Âu Cơ khóc mà nói rằng: “Thiếp vốn là người phương Bắc, nay ở với vua, sinh được trăm trai. Xin vua đừng bỏ thiếp mà đi, không cùng thiếp nuôi con, để vợ con phải làm người không chồng, không cha, thật là đáng thương”. Long Quân nói: “Ta là nòi rồng, đứng đầu thủy tộc, nàng là giống tiên, sống ở trên đất, tuy khí âm dương hợp lại mà sinh ra con, nhưng giòng giống khác nhau, thủy hỏa tương khắc, khó ở lâu với nhau được, nay phải chia tay. Ta đem năm mươi trai về thủy phủ chia trị các xứ, nàng đưa năm mươi trai về ở trên đất, chia nước mà trị. Lên núi, xuống bể, hữu sự báo cho nhau biết, đừng quên”. Trăm con vâng lời, sau đó từ biệt mà đi.

Âu Cơ và năm mươi con về ở đất Phong Hiệp (Nay là huyện Bạch Hạc), cùng nhau tôn người con cả lên làm vua, hiệu là Hùng Vương, lấy tên nước là Văn Lang, đông giáp Nam Hải, tây tới Ba Thục, bắc tới Động Đình hồ, nam tới nước Hồ Tôn (nay là Chiêm Thành). Chia nước ra làm 15 bộ là Giao Chỉ, Chu Diên, Ninh Sơn, Phúc Lộc, Việt Thường, Ninh Hải (nay là Nam Ninh), Dương Tuyền, Quế Dương, Vũ Ninh, Y Hoan, Cửu Chân, Nhật Nam, Chân Định, Quế Lâm và Tượng Quận. Sai các em cùng nhau chia trị các nơi đó. Lại đặt các em làm tướng văn, tướng võ, văn là Lạc Hầu, võ là Lạc Tướng. Con trai vua gọi là Quan Lang, con gái vua gọi là Mỵ Nương, các quan gọi là Bố Chính, nô bộc gọi là Trâu, con ở gái gọi là Tinh. Bề tôi của vua gọi là Côi, đời đời cha truyền con nối gọi là Phụ Đạo, đều xưng là Hùng Vương, không hề thay đổi.

Lúc ấy, dân sống ở ven rừng, xuống nước thường bị giống giao long làm hại, bèn nói với vua. Vua nói rằng: “Giống sơn man và giống thủy tộc khác nhau, nên xâm phạm lẫn nhau”. Bèn khiến người đời lấy mực xăm vào mình theo hình loài thủy tộc. Từ đó, dân không bị họa giao long làm hại nữa. Tục xăm mình của dân Bách Việt cũng bắt đầu từ đó. Lúc đất nước còn sơ khai, dân không đủ đồ dùng, phải lấy vỏ cây làm áo, dệt cỏ tranh làm chiếu, lấy bả cơm làm rượu; lấy cây cau, cây cọ làm đồ ăn; lấy cầm thú, cá, tôm làm mắm; lấy rễ gừng làm muối, cày bằng dao, trồng bằng lửa. Đất trồng được nhiều gạo nếp, dùng ống tre để thổi cơm ăn. Bắc gỗ làm nhà để tránh hổ sói. Cắt tóc ngắn để dễ vào rừng. Đẻ con ra lấy lá chuối lót cho nằm, có người chết thì giã cối làm lệnh để người lân cận nghe tiếng đến cứu. Việc cưới hỏi giữa nam nữ trước lấy gói muối làm lễ vật đi hỏi, sau đó mới giết trâu dê làm đồ lễ, lấy cơm nếp để vào phòng cùng ăn, rồi mới thành thân. Đây là lúc chưa có trầu cau.

Trăm người con trai chính là tổ tiên của người Bách Việt vậy.
—————————

Chú thích:
1. Cha: chữ Nôm viết là 吒, Bố: chữ Nôm viết là 布
2. Vua: chữ Nôm viết là (Trên 王 dưới 布)
3. Lĩnh Nam Chích Quái, bản VHV 1473 có thêm đoạn sau: Lúc đó Xi Vưu ở phương Bắclàm loạn. Vua nước Hữu Hùng là Hiên Viên Hoàng Đế đem chư hầu tới đánh nhưng không được. Xi Vưu mình thú mặt người, sức khỏe dũng mãnh. Có người dạy Hoàng Đế dùng trống da thú làm lệnh, Xi Vưu sợ hãi chạy về đất Trác Lộc. Hoàng Đế chiếm được nước, lên làm vua. Đế Lai nghe biết bèn trở về phương Bắc đánh với Hoàng Đế 3 lần, đều thua, bị giáng phong ở đất Lạc Ấp. Đời Thần Nông tới đây thì hết.

Nguyễn Hữu Vinh dich

Bình – TĐH

• Huyền thoại Hồng Bàng, cho thấy một cuộc đấu tranh kịch liệt , và kết quả cuối cùng là trộn lẫn, giữa hai nền văn hóa phụ hệ và mẫu hệ.

Phụ hệ là văn hóa bắc phương, với Thần Nông, Đế Minh, Lộc Tục (Kinh Dương Vương).

Mẫu hệ là văn hóa phương nam với Vụ Tiên, Long Nữ, Âu Cơ…

Lĩnh Nam theo truyền thuyết là vùng Nam sông Dương Tử–Quảng Đông, Quảng Tây, Hồ Nam, Bắc Việt ngày nay–nơi người Hán gọi các dân tộc ở đó là Việt, tức là “vượt qua” (sông Dương Tử). Vào thời cổ đại, văn minh Trung Quốc phát triển ở châu thồ sông Hoàng Hà ở bắc Trung quốc, xuống nam đến mạn bắc sông Dương Tử. Qua sông, miền nam sông Dương Tử — vùng Lĩnh Nam — là một nền là văn minh khác, của các dân tộc Việt.

Phụ hệ xem ra thắng thế trên văn từ: Dòng bố là dòng chính của “cây gia phả” của “người”. Và sinh ra 100 con trai, chẳng có thị mẹt nào cả.

Dòng mẹ gồm “tiên” (Vụ Tiên, Âu Cơ), “rồng” (Long Nữ) và “nước” (Động Đình Hồ).

Nhưng phụ hệ chỉ thắng về mặt nổi. Về mặt chìm thì, mẫu hệ xem ra thắng thế:

1. Âu Cơ có hai chồng, là hai anh em họ Đế Lai và Sùng Lãm, gần giống như tục nối dây hiện nay vẫn còn tồn tại với các một số dân tộc thiểu số Việt Nam vẫn theo chế độ mẫu hệ.

2. Sùng Lãm Lạc Long Quân xem ra có máu miền nam (mẹ và nước) nhiều hơn văn hóa bắc phương: Ông nội Đế Minh lấy vợ phương nam (con gái Vụ Tiên), sinh ra Lộc Tục Kinh Dương Vương. Lộc Tục lại lấy Long Nữ của Động Đình Hồ ở phía nam, sinh ra Sùng Lãm Lạc Long Quân.

3. Rốt cuộc, 50 con theo Lạc Long Quân về biển, biến mất trong lịch sử. 50 người con thành lập lịch sử Việt sau này là 50 đứa theo mẹ.

4. Người Việt nói “Ta là con cháu Rồng Tiên.” Nhưng bố rồng này lại là rồng từ họ ngoại của bố, rồng từ Long Nữ của Động Đình Hồ. Cho nên cả hai cha mẹ (rồng tiên) đều là lấy họ ngoại là chính.

Đây xem ra vẫn là văn hóa Việt Nam ngày nay. Ra đường chồng chúa vợ tôi, về nhà vợ nắm hết thôi cũng huề. 🙂

• Long nữ, Lạc Long Quân, Động Đình Hồ: Văn hóa “nước” (từ các dòng bên ngoại) quan trọng cho người Việt đến nỗi từ “nước”, quan trọng nhất cho sự sống con người, cũng dùng cho quốc gia, quê hương, tổ quốc: Nước Việt, làng nước, non nước…

• Chúng ta nói “Mẹ Việt Nam”. Chẳng nghe ai nói Bố Việt Nam cả.

• Vật biểu Rồng Tiên của văn hóa Việt có sự quân bình nam nữ, âm dương, khác với nhiều nền văn hóa khác, chỉ có một. Giáo sư Kim Định viết trong Kinh Hùng Khải Triết:

Nếu có một ai chịu đưa mắt nhìn rộng ra năm châu, rồi nhìn sâu vào thời cổ đại sẽ thấy không một nước nào trên thế giới có vật biểu đi đôi như thế mà tất cả chỉ là một:
Ấn Ðộ là con voi.
Nước Pháp là con gà.
Nước Ðức là con chim ưng.
Nước Anh là con sư tử.
Nước Tàu trước hổ sau rồng.
Riêng nước Việt lại nhận cả đôi, cả tiên lẫn rồng.

Nam nữ, âm dương cân xứng đương nhiên là quân bằng, hài hòa, và hợp tự nhiên hơn các nền văn hóa chỉ có một—phải bỏ hết tất cả, để giữ một còn lại.

• Bọc trứng vất ở ngoài đồng 7 ngày mới nở ra trăm con: Đây là biểu tượng của linh khí của trời đất trong 7 ngày. Tức là người Việt có cả ba yếu tố trong mình: Người, trời và đất.

• Cánh đồng là biểu tượng của đất, của ruộng đồng—Mối liên hệ chặt chẽ giữa con người và mảnh đất quê hương.

Cánh đồng của nhà Nông còn là biểu tượng của liên hệ đến tổ Thần Nông, người sáng tạo ra cách trồng trọt.

• Một trăm con một bọc, nhấn mạnh ý nghĩa “đồng bào”, và còn nhấn mạnh tính “bình đẳng.” Mọi người ngang nhau vì trong 100 người chẳng có ai là anh ai là em cả.

• Xem ra các con số dương, biều hiệu cho sự phát triển, được cố tình sử dụng: Đế Minh là cháu 3 đời của Thần Nông, đến Lạc Long Quân là cháu 5 đời của Thần Nông, và bọc trứng được nằm ngoài đồng (của nhà Nông) 7 ngày.

• Số một trăm là ‎ ý chỉ số nhiều, số đông: Trăm họ, sống lâu trăm tuổi, trăm năm hạnh phúc, trăm phương nghìn kế, trăm hoa đua nở…

• Giáo sư Kim Định nói về hai chữ “Văn Lang”:

1. Chữ Văn theo nghĩa cổ là vẽ mình quen gọi là “Văn Thân”. Rồi từ đó có nghĩa là văn vẻ: thân mình được vẽ là thân có văn vẻ. Sau cùng đạt tới nghĩa bao quát chỉ tất cả những gì có văn vẻ. Văn Lang là nước có văn vẻ ngược với nước bị cai trị theo lối thú vật bằng gậy, bằng chuồng thì gọi là võ trị. Chỉ có văn trị mới làm nảy sinh được các mối nhân luân, những mối liên hệ người với người được thấm nhuần bằng lễ, nghĩa, liêm, sỉ, tức những mối tình cao cả của con người.

2. Về chữ Lang xét như bởi chữ làng thì có nghĩa là làng nước. Văn Lang là nước có văn vẻ; còn xét theo âm chữ Nho thì Lang có nghĩa là người, ta quen gọi bằng lang quân.

• Phần kể các tục lệ của dân nước Văn Lang, có vẻ như là tục lệ của các dân tộc thiểu số vùng cao ngày nay, vẫn còn theo mẫu hệ:

Lúc đất nước còn sơ khai, dân không đủ đồ dùng, phải lấy vỏ cây làm áo, dệt cỏ tranh làm chiếu, lấy bả cơm làm rượu; lấy cây cau, cây cọ làm đồ ăn; lấy cầm thú, cá, tôm làm mắm; lấy rễ gừng làm muối, cày bằng dao, trồng bằng lửa. Đất trồng được nhiều gạo nếp, dùng ống tre để thổi cơm ăn. Bắc gỗ làm nhà để tránh hổ sói. Cắt tóc ngắn để dễ vào rừng. Đẻ con ra lấy lá chuối lót cho nằm, có người chết thì giã cối làm lệnh để người lân cận nghe tiếng đến cứu. Việc cưới hỏi giữa nam nữ trước lấy gói muối làm lễ vật đi hỏi, sau đó mới giết trâu dê làm đồ lễ, lấy cơm nếp để vào phòng cùng ăn, rồi mới thành thân.

Chỉ có dân vùng cao mới lấy vỏ cây làm áo, cỏ tranh làm chiếu, rễ gừng làm muối và quý muối như vàng, đốt rừng để trồng trọt–trồng bằng lửa, ăn nếp thay gạo, thổi cơm trong ống tre, làm nhà tránh hổ sói nghe như nhà sàn, cắt tóc ngắn (khi xưa người Kinh để tóc dài), đẻ con lót lên lá chuối, dùng muối làm lễ vật đính hôn, và giết trâu hành lễ–người vùng xuôi có lẽ là giết bò hơn là trâu…

• Tóm lại, truyện họ Hồng Bàng là trộn lẫn và đấu tranh giữa hai nền văn hóa nam (mẫu hệ) và bắc (phụ hệ). Dù là các điểm lớn như đàn ông làm vua là văn hóa bắc (phụ hệ), nhưng đa số các chi tiết khác là của văn hóa miền nam (mẫu hệ) với khá nhiều chi tiết phong tục vẫn còn tồn tại trong các dân tộc thiểu số mẫu hệ miền cao ngày nay.

Trần Đình Hoành bình

Malagueña Salerosa – bản nhạc lãng mạn Mê-hi-cô của mọi thời đại

Chào các bạn,

Ai đã nghe qua nhạc Flamenco đều biết đến Malagueña Salerosa, hay còn gọi tắt là Malagueña. Bản này đã được mọi nghệ sĩ guitar và vũ flamenco khắp thế giới trình diễn trong vòng hơn 60 năm nay, kể từ khi được hai nhạc sĩ Mê-hi-cô Elpidio Ramírez và Pedro Galindo cho ra đời trên Peer International năm 1947.

Bản nhạc là lời tỏ tình chân chất của một chàng thanh niên nghèo với một cô gái rằng nàng rất đẹp, và chàng rất yêu nàng, nhưng chàng sẽ hiểu nếu nàng từ chối tình yêu vì chàng nghèo quá.

Một cuộc tình say đắm, một chiều, nhưng với hiểu biết, và không cay đắng.

Mắt em đẹp làm sao
Dưới đôi chân mày
Dưới đôi chân mày đó
Mắt em đẹp làm sao!

Mắt em muốn tôi ngắm nhìn
Mắt em muốn tôi ngắm nhìn
Nhưng chỉ nếu em không rời đôi mắt
Dù chỉ để chớp mắt.

Malaguena Salerosa
Tôi muốn hôn môi em
Tôi muốn hôn môi em
Malaguena Salerosa.

Nếu em xem thường tôi vì nghèo
Tôi hiểu lý do
Tôi hiểu lý do
Nếu em xem thường tôi vì nghèo.

Tôi không tặng em giàu có
Tôi tặng em quả tim tôi
Tôi tặng em quả tim tôi
Để thay cái nghèo của tôi

Và tôi nói với em, hỡi người đẹp ơi,
Em đẹp và huyền diệu
Em đẹp và huyền diệu
Như hoa hồng tinh khiết

(TĐH dịch)

Malaguena Salerosa

What pretty eyes you have
Underneath those two eyebrows
Underneath those two eyebrows
What pretty eyes you have!

They want me to watch them,
but (only) if you don’t leave them
but (only) if you don’t leave them,
not even to blink.

Malaguena Salerosa
I wanted to kiss your lips
I wanted to kiss your lips
Malaguena Salerosa.

If you despise me for being poor,
I grant you reason,
I grant you reason,
If you despise me for being poor.

I do not offer you wealth,
I offer you my heart.
I offer you my heart,
In exchange for my poverty.

And to tell you, beautiful girl,
You are pretty and magical
You are pretty and magical
Like the candor of a rose.

Bản nhạc này được ca si Mê-hi-cô Miguel Aceves Mejia làm nổi tiếng trong một cuốn phim Mê-hi-cô, và Jose Feliciano, được xem như người trình tấu guitar Flamemco bản này hay nhất thế giới.

Sau đây mời các bạn thưởng thức:

1. Malaguena qua tiếng guitar Flamenco của Jose Feliciano
2. Malaguena qua tiếng hát của Miguel Aveces Mejia
3. Ca sĩ/tài tử đẹp trai Antonio Banderas trong đoạn mở đầu phim Once Upon A Time in Mexico, với Malaguena là nhạc nền.
4. Malaguena do ban nhạc rock Mê-hi-cô ở Austin, Texas, Mỹ, tên là Chingon, trình diễn ngày ra mắt cuốn phim Kill Bill II (Bản này có trong nhạc nền của phim).

Chúc các bạn một ngày lãng mạn!

Hoành
.

Jose Feliciano – Malagueña Salerosa

.

MIGUEL ACEVES MEJIA hát “LA MALAGUEÑA”


.

Antonio Banderas – La Malagueña (Érase Una Vez En México)


.

Chingon – Malaguena Salerosa (Kill Bill 2)

Tôi biết tại sao con chim nhốt trong lồng vẫn hót

Như đã giới thiệu trong tiểu sử của nữ thi hào người Mỹ da đen Maya Angelou, người phụ nữ mà cuộc đời là một cuộc đấu tranh không mệt mỏi từ tuổi thơ bất hạnh, vượt lên trên số phận lầm than cay đắng, bùn đen của kiếp người, bị kì thị chủng tộc, bóc lột, cưỡng đoạt và chà đạp, để vươn cao như ngọn hải đăng toả sáng, tự do như mây trời, và ấm áp như nắng mai.

Bà trở thành một nhân vật được kính trọng, ngưỡng mộ, nhà thơ lớn và nhà giáo dục như chúng ta đã biết qua những tác phẩm của bà, gần đây nhất là bài giới thiệu quyển sách Letter to My Daughter.

Bài thơ Chim Trong Lồng khắc hoạ sự tương phản giữa cái thiện và các ác, trắng và đen, ngục tù giam hãm đầy cuồng nộ, và phía ngoài kia là tự do của những ước mơ. Bài thơ mở đầu với hình ảnh chú chim xoải cánh bay, chao lượn như một ẩn dụ về người da đen Châu Phi khi còn được sống đời hoang dã đơn sơ mà tự do.
Rồi chú chim bị bắt nhốt sa vào thân chim lồng, cánh bị xén, chân bị buộc, chỉ còn biết hót, khúc hót rền rỉ bi tráng rung lên trong phẫn nộ. Ấy là thân phận nô lệ của những người da đen bị bắt cóc và bán làm nô lệ trên đất Mỹ, bị phân biệt đối xử, ngược đãi… khiến ta nhớ lại những tác phẩm như Côi Rễ của Alex Haley

Nhưng điều kì diệu là ngay trong ngục tù, chú chim bị nhốt ấy vẫn hát cho bài ca tự do vang vọng trên ngọn đồi xa tít. Chú chim trong lồng vẫn không mất đi niềm hy vọng rồi sẽ được giải phóng và tự do ở một bầu trời xanh lộng gió, lại được chao lượn trong nắng ấm ban mai với những con sâu múp míp đón chờ trên cỏ biếc.

Mời các bạn đọc bài thơ Caged Bird do anh Lê Vĩnh Tài chuyển ngữ


Chú chim đang bay nhảy tự do
lơ lửng lượn trên lưng của gió
thi thoảng đôi cánh chú buông lơi
như thách thức cả bầu trời
đang rực rỡ màu da cam
trong ráng chiều ngập nắng

nhưng chú chim đâu biết rằng dáng vẻ kiêu sa
cũng có lúc rơi vào lồng chật hẹp
chỉ có thể giận dữ nhìn đời
qua những chiếc song tre thếp son
cánh của nó bị cắt bớt và
chân của nó không còn bay nhảy
nó chỉ còn biết mở cổ họng của mình ra
để hót

chú chim trong lồng vẫn hót
với nỗi khiếp sợ đang rền rỉ trong cổ họng
về những điều chưa biết
nhưng vẫn mong tất cả lặng im
để lời ca của nó được nghe
trên ngọn đồi xa xôi có một chú chim bị cầm tù
trên ngọn đồi xa xôi
có một chú chim
bị cầm tù
đang hát bài ca tự do
vang lên khắp khắp

chú chim tự do tha hồ nghĩ về mây gió
cơn gió mềm mại thổi qua ngọn cây
thành những lời thở dài dịu dàng
rì rào rì rào
và đợi chờ những con sâu múp míp
khi ánh bình minh hé sáng
gọi tên bầu trời: ơ ơi…
như trời xanh kia chỉ riêng
của nó

nhưng con chim trong lồng đứng chết trên ngôi mộ của ước mơ
hình bóng của nó vẫn kêu thất thanh
như ban ngày ta gặp cơn ác mộng
cánh của nó vẫn bị cắt bớt và chân của nó vẫn nhảy loi choi
những bước chân tù túng
do đó nó phải mở to cổ họng của mình
để hót

chú chim trong lồng vẫn hót
những lời ca rền rỉ, run sợ
về những điều chưa biết
nhưng vẫn mong tất cả lặng im
để giai điệu của nó được nghe
giai điệu của nó
được nghe
nghe
nghe
trên ngọn đồi xa xôi
có chú chim trong lồng
vẫn ca hát về tự do

Lê Vĩnh Tài dịch
.

CAGED BIRD
.

A free bird leaps
on the back of the wind
and floats downstream
till the current ends
and dips his wing
in the orange sun rays
and dares to claim the sky.

But a bird that stalks
down his narrow cage
can seldom see through
his bars of rage
his wings are clipped and
his feet are tied
so he opens his throat to sing.

The caged bird sings
with a fearful trill
of things unknown
but longed for still
and his tune is heard
on the distant hills
for the caged bird
sings of freedom.

The free bird thinks of another breeze
and the trade winds soft through singing trees
and the fat worms waiting on a dawn-bright lawn
and he names the sky his own.

But a caged bird stands on the grave of dreams
his shadow shouts on a nightmare scream
his wings are clipped and his feet are tied
so he opens his throat to sing.

The caged bird sings
with a fearful trill
of things unknown
but longed for still
and his tune is heard
on the distant hill
for the caged bird
sings of freedom
.

.

Maya Angelou

Kẻ cướp thành môn đệ

Một buổi tối khi Shichiri Kojun đang tụng kinh, một tên cướp cầm một thanh gươm bén vào nhà, đòi tiền, nếu không thì chết.

Shichiri bảo tên cướp: “Đừng làm rộn tôi. Anh có thể tìm tiền trong hộc tủ đó.” Rồi thiền sư tiếp tục tụng kinh.

Một lúc sau thiền sư ngừng và gọi: “Đừng lấy hết tiền. Tôi cần một ít để đóng thuế ngày mai.”

Kẻ gian lấy gần hết số tiền và sửa soạn ra về. “Cám ơn khi nhận được quà,” Shichiri nói thêm. Chàng cướp cám ơn thiền sư rồi đi mất.

Vài ngày sau chàng cướp bị bắt và thú tội, ngoài các tội khác, còn có tội với Shichiri. Khi được gọi ra làm chứng, Schichiri nói: “Anh này chẳng phải là trộm cướp, ít ra là đối với tôi. Tôi cho anh ta tiền và anh ta cám ơn tôi về việc đó.”

Sau khi mãn hạn tù, anh chàng này đến gặp Shichiri và thành đệ tử của Thiền sư.
.

Bình:

• Từ bi hoán cải.

• Nhưng, Shichiri đối xử từ bi với một tên cướp, hay Shichiri chỉ đối xử bình thường với một người trong nhà—Schichiri xem tên cướp, và tất cả mọi người khác trong thiên hạ, như là người nhà của mình?

Để trả lời, xin đọc lại lời đối thoại.

• Tiếng Anh, “thief” nên dịch là “kẻ trộm”. Tuy nhiên, trong truyện có nói cầm gươm dọa, thì phải là “cướp” (robber) mới đúng.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

.

The Thief Who Became a Disciple

One evening as Shichiri Kojun was reciting sutras a thief with a sharp sword entered, demanding either money or his life.

Shichiri told him: “Do not disturb me. You can find the money in that drawer.” Then he resumed his recitation.

A little while afterwards he stopped and called: “Don’t take it all. I need some to pay taxes with tomorrow.”

The intruder gathered up most of the money and started to leave. “Thank a person when you receive a gift,” Shichiri added. The man thanked him and made off.

A few days afterwards the fellow was caught and confessed, among others, the offence against Shichiri. When Shichiri was called as a witness he said: “This man is no thief, at least as far as I am concerned. I gave him money and he thanked me for it.”

After he had finished his prison term, the man went to Shichiri and became his disciple.

# 44

Mr. C The Slide Man – Cha Cha Slide

Chào các bạn,

Một anh dạy thể dục aerobics tên là William Perry (còn gọi là Mr. C hay The Slide Man) biến màn thể dục của anh thành dance hit, năm 2000, khi anh liên kết với đài phát thanh WGCI/Chicago và đưa nhạc vào man thể dục hàng ngày của anh. Đài phát thanh này quảng bá CD và các DVD dạy vũ (thể dục), và từ đó bản nhạc thành dance hit ở vùng Midwest nước Mỹ.– Cha Cha Slide.

Universal Records nhập bọn và đồng ý phát hành CD này rộng rãi. Từ đó Cha Cha Slide trở thành dance hit trên đất Mỹ và thế giới.

Lời nhạc chỉ là các lời như nhạc Rap, của huấn luyện viên thể dục, và vũ thì cũng chỉ là các chuyển động thể dục giản dị.

Các bạn có thể dùng bản này để tập aerobics. Lời “nhạc” theo dưới video.

Sau đó, chúng ta có hai video dạy khiêu vũ cha cha cha cho các bạn thích học vũ. Video đầu căn bản hơn, video thứ hai cao hơn một tí.

Chúc các bạn một ngày cha cha cho khỏe người !

Hoành
.
Mr. C The Slide Man – Cha Cha Slide

Clap your hands everybody
Slide to the left
Take it back now yal
One hop this time
Right foot lets stomp
Left foot lets stomp
Cha Cha now yal

To the left
Take it back now yal
Two hops this time
Two on the left
Two on the right
Cha Cha now yal

Slide to the right
Slide to the left
Take it back now yal
One hop this time
Right foot lets stomp
Left foot lets stomp
Charlie Brown
Cha Cha now yal

Five hops this time
Touch your knees
How low can you go
Can go down low
All the way to floor
Can you bring it the top
Like you never never stop
One hop this time
Right foot lets stomp
Left lets stomp

Reverse Reverse
Reverse Reverse

Cha Cha now yal

How to Dance the Cha Cha : Basic Cha-Cha Dance Steps – Franco Peraza & Valerie Levine


.

How to Dance the Cha-Cha : Demonstration of Cha-Cha Dancing – Kelly-Anne and Steve Vean Louis

Quê Hương trường ca – Đoạn 6

Hành trình tìm hơi thơ – hành trình từ Đất
Hành trình đi tìm quê hương – khởi hành từ nỗi nhớ quê hương
Bắt đầu từ bàn chân trần – trắng, từ con số không
Từ con số âm, có lẽ.
Ta không thể đi vào tương lai bằng giấc mê Quá khứ
Đi vào ngày mai bằng niềm tiếc Ngày qua
Không thể bay cao khi hồn còn trì nặng sâu mọt căm thù
Không thể đi xa khi chân còn kéo lê sợi tơ kiêu hãnh hão
Hãy để Tháp Cánh Tiên, Tháp Chùa với nhà trùng tu thi gan giông bão
Để yên Tara, Garuda trong viện bảo tàng
Po Klaung, Xah Bin – xin thắp ngọn nến, nén nhang
Coi chừng hai buồng phổi ta thiếu ôxi bởi khói!
Thế giới rậm rịt bao la cho ta ngàn cơ hội
Cơ hội của ta, cơ hội cho cháu con.
Để nuôi ta, ta rút tinh chất từ cha ông
Thì phải cất cho đời sau dòng nhựa*
Giữa đêm tối bão giông, hãy cúi rạp như ngọn cỏ
Ngọn cỏ ngóc đầu trong nắng mai.
Cây nở hoa từ u tối bùn lầy
Người thì lớn khôn từ trần ai bể khổ.
Hành trình đi tìm hơi thơ – hành trình tìm hơi thở
Trong bụi bặm trang sách, sa mù câu kinh
Dưới sần chai dấu chân, trên lãng đãng con đường
Người xưa bỏ lại trên cát.
Hơi thở mênh mang trong lời ru, câu hát
Tối mẹ ầu ơ hay chiều em nghêu ngao
Cánh tay anh gân guốc trên tầng cao
Hình lưỡi búa vẽ vòng cầu vào nắng trưa vọt ra hơi thở
Trên vầng trán cha đẫm sương quá khứ
Hơi thở ẩn tàng dưới nếp nhăn
Hơi thở dạt dào trong mắt sinh viên
Tìm hương Đất giữa khô khan bài học
Qua trang sách, mở phơi đường dân tộc
Con đường nhọc nhằn dẫn lối con đường xanh.
Hãy yêu hãy yêu như ta chưa từng
Đứa con đi hoang bỏ xa làng mạc
Mang bụi đất quê hương về miền xứ khác.
Và hãy yêu hơn con người chân chất
Sống một đời ôm mang đất – phù du
Những con người hiến thân cho hơi thở phong nhiêu

Inrasara

Ngôi trường của mẹ

Hồi ấy, làng Vân Hòa của tôi có trường công liên hương tại ấp Phước Hậu, nhưng làng quá rộng, từ nhà tôi ở ấp Bình Trị, hay ấp Bình Điền lân cận đến Phước Hậu đi bộ mất nửa buổi, vì vậy đa số trẻ con hai ấp này không đi học được. Nhỏ tuổi thì không đủ sức đi, tìm nhà quen gởi trọ cũng bất tiện. Lớn lên một chút thì còn lo giúp đỡ công việc gia đình, chăn trâu, dọn vườn, bẻ thơm… Để giải quyết việc này, cha tôi xin phép mở một “gia đình học hiệu” và cất gian trường bên cạnh nhà. Tuy nói là gia đình học hiệu nhưng thực tế cha tôi tìm thầy mời về dạy chương trình lớp Năm và lớp Tư cho cả trẻ con hai ấp Bình Trị, Bình Điền. Tôi còn nhớ thầy Vưu người Tuy Hòa và thầy Liên người tận ngoài Quảng Bình. Mẹ tôi có một gánh hàng xén, mỗi tháng chín phiên bán ở Chợ Đồn. Mọi chi phí cất trường, đóng bàn ghế, bảng đen, mua sổ sách bút mực cho thầy, việc ăn ở của thầy tại nhà tôi đều do mẹ tôi lo liệu, trích từ lợi tức trong gánh hàng xén ấy. Giữa tháng mẹ tôi “kiểng” thầy số tiền lương.

Học sinh chẳng những được học miễn phí, không phải đóng góp một khoản nhỏ nào, còn được tổ chức sinh hoạt như trường công, có bầy đàn, ca hát, tập các trò chơi, tìm dấu đi đường… Mấy môn này thì trẻ con thôn quê dễ rành lắm. Thay vì công bố vị thứ hàng tháng mẹ tôi xin thầy công bố vị thứ hàng tuần vào mỗi chiều thứ bảy. Trò nào học giỏi được thưởng. Phần thưởng là giấy manh, thước gạch, bút chì, ngòi viết và mực viên… cũng do mẹ tôi cung cấp. Hồi ấy chưa có tập vở, học trò dùng giấy manh đóng vở, tự gạch dòng bút chì để chép bài, làm bài. Ngòi viết có nhiều loại, chúng tôi gọi theo hình dạng là ngòi viết lá tre, ngòi viết rông, ngòi viết bầu và ngòi viết ễn. Mực viên dùng hai màu xanh và tím, một loại giống như viên thuốc aspirine, một loại viên hơi tròn. Mấy trò thường xuyên được thưởng thì giấy bút mực dư học cả năm, khỏi phải mua. Học ở đây xong, đứa nào cha mẹ cho học tiếp thì ra Phước Hậu vào lớp Ba, đứa nào không có điều kiện phải ở nhà thì cũng ít nhiều đã biết đọc biết viết.

Hai anh em tôi nhỏ nhất, cùng học một lớp. Thầy cho ra chơi là chạy vào nhà tìm kẹo bánh. Tôi rất thích loại kẹo bạc hà đựng trong ve thủy tinh hình giống như trái bầu, mỗi lần đi Dinh mẹ tôi mua về cho một vài ve. Cùng lớp, có mấy trò con trai ở Bình Điền lớn tuổi, đứng gần bằng thầy, dân làm ruộng đen thui và chắc nịch. Mấy trò con gái dân Xóm Chợ thì trắng trẻo ẻo lả… Chúng tôi hơn họ ở chỗ có một bộ “giáo khoa thư” và nhiều lúc được mẹ lật sách ra chỉ cho những hình vẽ, giảng giải. Thành ra trước khi biết chữ anh em tôi đã thuộc lòng, tranh nhau đọc câu: ”Sách này do Nha Học chánh Đông Pháp giao cho các ông Trần trọng Kim, Nguyễn văn Ngọc, Đặng đình Phúc và Đỗ Thận soạn. Nhà nước giữ bản quyền. Cấm không ai được in lại”, đã có những tờ tranh vẽ hình bà Trưng bà Triệu cỡi voi, ông Đinh Bộ Lĩnh bẻ bông lau làm cờ đánh giặc…

Học 24 chữ cái rồi vần xuôi, vần ngược, ráp vần, tập đọc… Vần xuôi nghe như cầu kinh, vần ngược nghe như thần chú. Khi biết đọc sách chỗ nào không hiểu tôi đem hỏi mẹ, được mẹ giảng giải rõ ràng. Bây giờ đã quên hết, chỉ còn nhớ hai chuyện. Chuyện thứ nhất, trong sách có hình vẽ một ông cỡi ngựa và nhiều người đang cuốc đất gánh đất hay làm gì đó, ghi là “Chánh tổng coi đê”. Con đường trước nhà tôi thỉnh thoảng có đồng bào dân tộc thiểu số cỡi voi đi qua. Voi, gọi là “ông bồ” tai to vòi dài… lạ lắm, cách ăn mặc của “thằng nài”, cái ống điếu, tiếng nói lơ lớ…cũng lạ lắm, vui lắm. Lúc ấy thường gọi chung đồng bào các dân tộc thiểu số là “người Đê”. Mỗi lần như vậy lũ trẻ chúng tôi gọi nhau đi “coi Đê”. Tôi lấy làm lạ, tại sao ông Chánh tổng cũng đi “coi Đê” như lũ nhóc chúng tôi. Mẹ tôi mới giảng cho biết về những con đê bên sông ngoài Bắc, trong hình là ông Chánh tổng đang trông coi dân chúng đắp sửa đê. Chuyện thứ hai, khi đọc bài “Trầu Cau” có câu “…người vợ chết hóa ra dây trầu không leo ở cây cau…”. Rõ ràng trong hình vẽ dây trầu quấn vào cây cau sao lại nói dây trầu không leo ở cây cau? Mẹ tôi giảng lại cho biết, xứ mình gọi là dây trầu thì ngoài Bắc gọi là dây trầu không.

Trong một năm thầy Liên dạy chúng tôi học hết chương trình lớp Đồng ấu và Dự bị để ra trường công liên hương học lớp Sơ đẳng (lớp Ba). Đầu năm 1945, chuẩn bị thi bằng Sơ học yếu lược, mỗi trò được cấp một giấy căn cước, dưới có chữ ký quan Tuần vũ tỉnh Phú Yên Trần văn Lý. Chữ ký dài, đầy đủ và rõ ràng, gần chữ v (văn) có một chữ v khác bằng bút chì màu đỏ. Tôi nói với mẹ: Quan Tuần vũ ký sai phải sửa lại chữ v. Mẹ tôi giảng cho biết đó là chỗ một thầy thông thầy phán đã xem trước, thấy đúng, làm dấu để quan Tuần vũ ký chứ không phải sai và sửa.

Tôi nhớ mãi chuyện này vì đây là lần cuối cùng chuyện trò cùng mẹ. Học lớp Ba tôi phải ở trọ, chủ nhật sau về thì mẹ tôi bệnh, rồi bệnh nặng và qua đời. Đau thương trùm lên gia đình tôi. Tiếp theo là những biến cố dồn dập của đất nước… Gia đình tôi rời khỏi làng Vân Hòa và xa cách mộ phần mẹ.

Bây giờ, mỗi khi hồi ức về mẹ, tâm tưởng tôi vẫn là tâm tưởng đứa trẻ lên bảy lên tám… Tôi tự hỏi: Bao nhiêu bạn bè thời thơ ấu ấy, nay ai còn ai mất, ai lưu lạc phương trời, ai đang ở làng quê, ai đã thành ông bà nội ngoại, kẻ giàu sang, người nghèo khó… Giữa bao nhiêu bận rộn của cuộc sống, có lúc nào họ nhớ lại những ngày học tại “nghĩa thục” của mẹ tôi không? Có lúc nào họ nhớ lại hình ảnh mẹ tôi không? Tôi nghĩ rằng họ không phải là kẻ bạc!

Trần Huiền Ân

Thiền trong đời của gã ăn mày

Tosui là một Thiền sư nổi tiếng vào thời của ngài. Tosui đã trụ trì vài chùa và dạy ở nhiều tỉnh.

Chùa cuối cùng Tosui viếng thăm thu hút nhiều môn sinh đến nỗi Tosui nói với họ là ngài sẽ bỏ việc giảng dạy vĩnh viễn. Tosui khuyên họ ra về và đi đâu tùy ý. Sau đó chẳng còn ai biết tông tích ngài ở đâu.

Ba năm sau một đệ tử của Tosui khám phá ra ngài đang sống với vài người hành khất dưới một gầm cầu ở Tokyo. Người đệ tử lập tức nài nĩ Tosui dạy mình.

“Nếu cậu có thể làm như tôi làm, dù chỉ đôi ba ngày, thì tôi có thể dạy,” Tosui trả lời.

Vậy người đệ tử mặc áo quần như hành khất và theo Tosui cả ngày. Đến đêm một người trong đám ăn mày chết. Tosui và người đệ tử khiêng xác nửa đêm và chôn xác trên sườn núi. Rồi họ trở về lại chỗ ở dưới gầm cầu.

Tosui ngủ ngon lành, nhưng người đệ tử không ngủ được. Đến sáng Tosui nói: “Chúng ta không phải đi xin đồ ăn hôm nay. Ông bạn vừa chết của mình đã để lại ít thức ăn đằng kia.” Nhưng người đệ tử chẳng ăn nổi miếng nào.

“Tôi đã nói là cậu không làm như tôi được,” Tosui kết luận. “Đi đi và đừng làm phiền tôi nữa.”
.

Bình:

• Tosui Unkei, thiền sư dòng Tào Động (Soto), là thiền sư lập dị nhất trong lịch sử Thiền Nhật Bản. Ngày nay nhiều người so sánh Tosui với thánh Francis of Assisi (Thiên chúa giáo), hay gọi Tosui “Chàng hippy đầu tiên”, và sách về cuộc đời của Tosui được gọi là “Hippy nhập môn.”

100 năm sau khi Tosui qua đời, thiền sư học giả Menzan Zuiho (1683-1769), thu nhặt tài liệu và các truyện truyền khẩu, viết lại quyển sách về cuộc đời của Tosui. Quyển này ngày nay đã được dịch sang tiếng Anh dưới tên “Letting go: The Story of Zen Master Tosui.” Có thể đọc quyển này trên Google Books.

• Tosui xem ra không thích học trò nghe mà không thực hành. Thường thì nghìn người nghe may ra được một người thực hành nghiêm chỉnh. Bao nhiêu người trong chúng ta đã nghe, đọc, và xem phim ảnh sách vở về tập thể dục. Bao nhiêu người đang tập hàng ngày? Hay là kinh sách Phật? Hay là Thánh Kinh?

Đa số người có ảo tưởng là cứ xem hay đọc điều gì thì mình sẽ có điều đó trong mình. Cứ xem phim Superman và Batman cả đời xem ta có thể thành Superman hay Batman không?

• Có lẽ, đối với Tosui, mang an lạc của Thiền đến cho vài người ăn mày, dưới đáy xã hội, có ý nghĩa hơn là giảng cho cả nghìn người mà chẳng mấy ai thực hành.

• Thực ra Tosui đã dạy cho người đệ tử kèo nài xin theo học rồi. Anh này chỉ học không nổi mà khôi. Thiền là sống thoải mái trong bất kỳ hoàn cảnh nào, bất kỳ nơi đâu. Kể cả sống đời ăn mày. Sống “ở đây lúc này.”

Anh đệ tử này chỉ thích “nghe” giảng, nhưng thầy chỉ muốn học trò “sống”.

• Thiền là sống không vướng mắc. Vậy thôi.

Mê nghe lời thầy giảng là một vướng mắc lớn. Cả “lời giảng” lẫn “nghe giảng” đều không phải là “sống.”

Thầy muốn thử xem nếu mình phải sống như ăn mày, mình có thể sống với tâm không vướng mắc không?

Sống không QUEN, thì đương nhiên rồi. Ví dụ là khó ngủ vì lạ nơi.

Nhưng không MUỐN ăn đồ ăn của bạn mình vừa chết lại là chuyện khác. Đây là vướng mắc lớn về ý chí.

Hai vướng mắc này rất lớn: Việc nên làm (i.e., ăn) thì không làm. Việc không cần (lời gỉảng) thì lại cầu.

Rất khó để “thấy đường”.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

.

Zen in a Beggar’s Life

Tosui was a well-known Zen teacher of his time. He had lived in several temples and taught in various provinces.

The last temple he visited accumulated so many adherents that Tosui told them he was going to quit the lecture business entirely. He advised them to disperse and go wherever they desired. After that no one could find any trace of him.

Three years later one of his disciples discovered him living with some beggars under a bridge in Kyoto. He at once implored Tosui to teach him.

“If you can do as I do for even a couple days, I might,” Tosui replied.

So the former disciple dressed as a beggar and spent the day with Tosui. The following day one of the beggars died. Tosui and his pupil carried the body off at midnight and buried it on a mountainside. After that they returned to their shelter under the bridge.

Tosui slept soundly the remainder of the night, but the disciple could not sleep. When morning came Tosui said: “We do not have to beg food today. Our dead friend has left some over there.” But the disciple was unable to eat a single bite of it.

“I have said you could not do as I,” concluded Tosui. “Get out of here and do not bother me again.”

# 43

ESPAÑA CAÑI (Vũ điệu Gipsy Tây Ban Nha) và vũ điệu Paso Doble

Chào các bạn,

Trong các bản nhac để khiêu vũ vũ điệu đấu bò sinh động Paso Doble, thì España Cañí là bản nhạc số 1 trên thế giới.

España Cañí có nghĩa là “Spanish Gypsy” hay Gipsy Tây Ban Nha. Gipsy là những nhóm người du sinh, gốc Romania và nói tiếng Romany, sống lang thang khắp Âu Châu, sống bằng cách làm thuê theo mùa và buôn bán lặt vặt. Họ thường dùng nhạc và vũ Flamenco hoặc múa bụng, để kêu gọi khách hàng đến quầy hàng của mình, như Sơn Đông mãi võ bán thuốc dạo.

España Cañí, còn có tên là Spanish Gypsi Dance, nguyên thủy là nhạc Flamenco cho guitar Flamenco, do Pascual Marquina Narro (1873-1948) viết vào khoảng năm 1925. Tuy nhiên vì nó quá phổ thông, ngày nay ta thường nghe bản này với dàn đại hòa tấu, hoặc với ban nhạc trong các dạ vũ.

Đây cũng là bản nhạc thường được chọn trong các cuộc biểu diễn hoặc thi đấu vũ điệu Paso Doble.

Hôm nay chúng ta sẽ nghe bản nhạc này, cùng thưởng thức một số màn trình diễn vũ điệu Paso Doble:

1. Dàn Nhạc của soạn giả, nhạc trưởng kiêm nghệ sĩ vĩ cầm Andre Rieu, với dàn vũ minh họa.

2. Dàn hòa tấu vĩ đại chỉ toàn guitar.

3. Thi đấu Paso Doble tại giải IDSF Grand Slam Final 2005.

4. Riccardo Cocchi – Yulia Zagoruychenko biểu diễn Paso Doble, Disney 2016

Chúc các bạn một ngày Paso !

Hoành
.

1. Andre Rieu – Espana Cani (DRESDEN 2008) DIGITAL TV


.

2. ESPAÑA CAÑI – Guitar Ensemble

.

3. Giải IDSF Grand Slam Final 2005 – Vũ Điệu Paso Doble

.

4. Riccardo Cocchi – Yulia Zagoruychenko | Disney 2016 | Showdance Paso Doble

Inrasara, chàng Kazik của Mỹ Sơn văn học

Đó chỉ là một cách nói ví von, nhưng rất đúng. Nếu ngày trước không có Kiến Trúc Sư Kasimierz Kwiatkowsky (người Balan -thường gọi thân mật là Kazik), không nằm gai nếm mật chịu muôn ngàn gian khổ thiếu thốn thì chúng ta có thể đã không có một Mỹ Sơn thánh địa hôm nay , chúng ta hãy nghe lại một nhận định của Kazik, khi lần đầu bắt gặp Mỹ Sơn :

    “Người Chăm cổ đã biết thổi hồn vào đất đá; biết dựa vào thiên nhiên để làm nên một Mỹ Sơn tráng lệ , thâm nghiêm và hùng vĩ. Đây là một bảo tàng kiến trúc điêu khắc nghệ thuật vô giá của nhân loại mà chúng ta còn lâu mới hiểu hết.”


Công lao của Kazik bỏ ra cho Mỹ Sơn không nhỏ, ông đã từng thoát chết khi đi cùng đội rà phá bom mìn còn sót lại , đã từng ăn ngủ cùng Mỹ Sơn trong hoàn cảnh thiếu thốn đến cơ cực trong những năm 1980 khi đất nước còn chật vật muôn vạn khó khăn, ông đã từ bỏ những công việc có lương cao và cuộc sống đầy đủ ở quê nhà chỉ để sống cùng và với Mỹ Sơn, tình yêu nghệ thuật kiến trúc cổ của ông làm chúng ta trân trọng và không khỏi cảm động.

Chỉ tiếc một điều khi công lao của ông được đền đáp là lúc ông không còn bên cạnh chúng ta nữa, ông mất năm 1997 thì năm 1999 Mỹ Sơn chính thức được UNESCO công nhận là di sản văn hoá thế giới.

Tượng của ông sẽ được dựng tại Hội An, và sẽ có một con đường mang tên ông ở đô thị cổ này, đó cũng là một cách chúng ta nhớ ơn những gì ông đã làm cho đât nước Việt thân yêu của chúng ta.

Năm 1993, có một bài thơ mang tên Kazik của một thi sĩ lạ hoắc: Inrasara, một nhà thơ Chăm.

    KAZIK

    Như vỗ cánh bay ngược Thời Gian
    bằng đôi tay đại bàng
    Kazik
    bắt mạch đống vụn tàn
    song thoại hồn thiên cổ …

    vỡ lớp bụi ngày tháng và năm
    cho lộ thiên Quá Khứ
    đánh thức Hội An, dựng dậy Mỹ Sơn
    sống lại một trời lẫm liệt…

Đây là một bài thơ rất hay, của một thi sĩ đại diện cho cả cộng đồng Chăm nhỏ bé nói lên lời tạ ơn với Kiến trúc sư Kazik, để rồi sau đó, cũng chính anh trở thành một Kazik trong văn học Chăm, ( và cả văn học Việt ): Inrasara

Năm 1997, giải thưởng của Hội Nhà Văn Việt Nam được trao cho tập thơ Tháp Nắng của một thi sĩ Chăm : Inrasara.

Nhiều người cho đó là một hiện tượng lạ , nhưng đến 2005 một lần nữa, Inrasara khẳng định tài năng thực sự của mình bằng một cú đúp ngoạn mục: giải thưởng của Hội Nhà Văn Việt Nam lần thư 2 và giải thưởng Văn Học Đông Nam Á với tập thơ : Lễ Tẩy Trần Tháng Tư

Vinh hạnh cho Inrasara, cho cộng đồng Chăm và cho cả dân tộc Việt.

Đọc thơ Inrasara, luôn cho ta nhiều cảm xúc khác nhau, tựa như xem một bức tranh vẽ lên toàn cảnh xã hội Chăm, buồn và đẹp, u uẩn và kiêu hãnh, và làm cho người xem luôn cảm thấy day dứt.

    Thấm đẫm sương mù quá khứ
    chàng làm thơ
    những vần thơ
    chảy máu…
    những vần thơ
    lấp lánh
    như giọt nước mắt

    giọt nước mắt
    không rơi được
    chảy ngược
    lên trời
    thành những cánh sao …

    ( thơ Trần Can tặng Inrasara )

Không chỉ làm thơ, Inrasara còn dành rất nhiều tâm huyết và sức lực để nghiên cứu, sưu tầm, dịch thuật và cóp nhặt văn học Chăm, sắp xếp lại cho có hệ thống. Một công việc rất vất vả mà anh ròng rã gánh vác suốt thời tuổi trẻ, đơn thuần chỉ vì tình yêu đối với quê hương và dân tộc Chăm của mình, thật đáng trân trọng.

Từ Inrasara, mọi người đã có một cái nhìn Khác về Chăm.
Đó là điều lớn nhất mà Inrasara đã làm được.
Và nhiều người ( trong đó có tôi, đã phải tự mình đi tìm câu trả lời câu hỏi mà Inrasara đặt ra trong những bài thơ nhức nhối )

Qua những bể dâu lịch sử, người Chăm đã trở thành một bộ phận trong cộng đồng Việt Nam, tôi tin rằng từ sự khai mở quá khứ của Inrasara, những trường ca Chăm tuyệt đẹp: Ariya Xah Pakei, Cam Bini, Bini- Cam, Ppo Parơng, Glơng Anak… sẽ được phổ biến rộng rãi, và sẽ được đưa vào văn học sử Việt Nam.

Khu vườn Văn học sử thêm những bông hoa đầy hương sắc, tại sao không?

Tôi rất thích câu nói : Không có dân tộc nào mất đi, cho dù những biến thiên lịch sử có thể làm mất tên đất nước họ trên bản đồ thế giới, nhưng dân tộc ấy vẫn mãi trường tồn cùng với các dân tộc khác, cho đến ngày cuối cùng của loài người trên mặt đất này. ..

Inrasara, một người con Chăm đẹp đẽ, rất truyền thống và thấm đẫm tinh thần hiện đại, quá khứ và tương lai luôn nối liền trong anh, như một dòng chảy xuyên suốt, không bao giờ ngưng nghỉ …

Xin cảm ơn Kazik, xin cảm ơn Inrasara, những người khai mở cho quá khứ linh hiển lộ thiên …

Trần Can

* Kiếntrúc sư Kasimierz Kwiatkowsky ( tức Kazik ) sinh 1944 tại Lublin, Balan . Mất 1997 tại Huế, Việt Nam

Người họa sĩ giàu có trên phố Chapel

Buổi sáng ngày đầu tuần, mình đến quán Starbuck, số 1068 phố Chapel, New Haven, chọn một góc nhìn ra cả hai con phố Chapel và High để làm việc. Bên kia đường là mấy toà nhà cổ kính của trường Yale. Mọi người đi lại tấp nập và vội vã, một hình ảnh quen thuộc trên các con phố ở nước Mỹ, nhất là lại gần khuôn viên của một trường đại học danh giá như thế này.

Ngay đằng sau mình là một anh chàng trung niên đang rất chăm chú vẽ, dáng cao và mảnh khảnh, quần áo xộc xệch, trông giống mấy anh Mỹ da đen làm công nhân hơn là một sinh viên ngành hội họa của trường Yale. Mình chợt nghĩ chắc do yêu thích vẽ nên hôm nay rảnh anh vào quán ngồi sáng tác. Một lúc sau có mấy người nữa cũng vào quán uống café và bắt đầu bắt chuyện với anh. Mình để ý thấy anh chàng còn xếp các tác phẩm của mình dọc bên tường kính chỗ anh ngồi, quay chúng ra ngoài để người đi đường có thể nhìn thấy được. Vì mình cũng thích vẽ nên tò mò đến bắt chuyện anh.

Tên anh chàng là Isaac Canady, sinh ra ở vùng này và đã vẽ được 17 năm. Anh là kiểu họa sĩ đường phố, không đi học vẽ qua một trường lớp nào mà tự học lấy. Các tác phẩm của anh đã bán ở khắp nơi trên nước Mỹ, thi thoảng có các chương trình giới thiệu bán tranh thì anh cũng đến các thành phố khác như New York hay là Chicago.

Dưới đây là nội dung cuộc hội thoại của mình và anh Isaac, chia sẻ với các bạn cái nhìn của một họa sĩ đường phố người Mỹ da đen về sáng tạo, suy nghĩ cởi mở và sống với đam mê.

– Chào anh, tôi có thể ngồi xem anh vẽ được không?

– Ồ tất nhiên rồi.

– Tranh của anh trông rất lạ. Anh làm thế nào để phát triển được sự sáng tạo để vẽ nhiều thế này?

– Sáng tạo không thể dạy được. Bạn chỉ có thể để cho cái đầu của mình thật cởi mở và suy nghĩ tự do. Cứ thế để các ý tưởng tuôn ra thôi.

– Anh đã đi học vẽ bao giờ chưa?

– Tôi không theo một trường lớp nào cả, tự học thôi, cho nên tôi lại không bao giờ bị bó buộc vào bất cứ một thể loại vẽ nào. Tôi dùng tất cả mọi chất liệu như bút bi màu, bút chì, màu nước, kể cả tô nhòe nhoẹt cho bẩn tranh miễn sao chúng thể hiện được ý tưởng của tôi.

Một tác phẩm của Isaac

– Mà anh bán mỗi bức như thế này khoảng bao nhiêu tiền?

– Cũng tùy nhưng từ 60$ trở lên.

– Anh có sống được với nghề vẽ không?

– Cũng bình thường, đôi khi tôi cũng chết đói lắm.

– Anh có triển lãm tác phẩm của mình bao giờ không?

– Không. Tôi chưa bao giờ triển lãm ở đâu cả.

– Anh có website riêng không?

– Không. Quan điểm của tôi là không quảng cáo, tôi đã ở chỗ này gần 20 năm và mọi người biết đến tôi. Ai thích tranh của tôi thì đến đây mua thôi. Đây toàn là các bản gốc, tôi không bán bản copy.

– Mỗi ngày anh vẽ mấy bức?

– Thường chỉ được một thôi, có bức tôi vẽ mất 3-4 ngày như bức này này. Anh nói và chỉ vào tấm tranh đang vẽ dở. Trong bức này tôi vẽ hình đôi môi và cái tai, trên là mặt trăng, phía dưới là trái đất, xa xa là mặt trời đang tỏa sáng.

– Thế còn 3 cái cây ở giữa đây?

– Đấy là thể hiện cho gia đình.

– À..hay quá, như là bố mẹ và con phải không ạ. Anh có vẻ nghiên cứu nhiều về sinh học nhỉ? (Tôi nói vậy là vì thấy anh vẽ cái tai rất chi tiết, giống như một hình giải phẫu trong sách giáo khoa)

– Đúng vậy. Tôi thích vẽ về con người, và mối liên hệ giữa con người với vũ trụ. Nhưng tôi thường hướng về mô tả đời sống tinh thần và những thay đổi của thế giới và vũ trụ, những tranh đấu của con người với các thay đổi đó. Như bạn thấy trong bức này, đôi môi bị đâm xuyên qua. Đó là sự đau đớn khi con người đối mặt với thay đổi. Hay bức này, tôi vẽ cái cuốc, cái xẻng, ống nước đang phun nước. Theo tôi là những công cụ để con người gieo trồng cuộc sống. Tranh của tôi thường mang tính hình tượng, mỗi người có thể hiểu theo một kiểu.

– Anh thường truyền tải ý tưởng gì trong tranh?

– Tranh của tôi thường mang một thông điệp về hòa bình với các chủ đề về người Mỹ da đen, người Mỹ da đỏ, gia đình. Tôi ước muốn có được sự hòa bình trên khắp thế giới này.

– Ồ hay quá. Tôi cũng là người ủng hộ quan điểm đó, tôi thường hay viết các bài viết về tư duy tích cực và chúng tôi cũng nghiên cứu Kinh thánh và đạo Phật.

– Bạn nói kinh thánh là kinh thánh nào đấy? Kinh thánh không phải lúc nào cũng được hiểu để ủng hộ hòa bình, thậm chí còn là nguồn gốc gây chiến tranh. Tôi thì nghĩ không nhất thiết phải theo một tôn giáo nào nhất định cả. Nếu bạn thấy thích đạo Phật thì cứ tìm hiểu, nếu thích đạo Hồi thì cứ tìm hiểu, đừng có sợ gì cả.

– Anh nói đúng rồi.

– Tôi cũng nghĩ là con tất cả chúng ta dù có đến từ những nơi khác nhau ví như tôi là người Mỹ, bạn là người Việt Nam, nhưng đều xuất phát từ một cái gốc nào đó nên chúng ta mới hiểu được nhau.

– Tôi nghĩ là chúng ta là con người nên có thể từ quốc gia khác, từ văn hóa khác, nhưng chúng ta đều chia sẻ những giá trị chung như tình bạn, tình yêu, sự thành thật. Vì thế mà chúng ta nói chuyện và hiểu được nhau.

– Đúng vậy. Tôi quen rất nhiều người ở đây. À bạn bảo là bạn học kinh tế hả? Tôi biết một anh chàng người Hy Lạp hay lắm. Anh ta không học kinh tế nhưng nó cũng có cái gì đó liên quan. Nếu bạn thích tôi giới thiệu với bạn. Hai người có thể nói chuyện với nhau.

– Ồ, cảm ơn anh. Thế thì hay quá. Vậy thông thường thì anh giữ liên lạc với mọi người ở đây như thế nào? Mọi người có đi chơi cùng nhau hay gặp nhau ở đâu đó không?

– Không. Chúng tôi chỉ gặp ở đây. Tôi ngồi ở đây suốt mà. Tôi có nhiều bạn bè như vậy lắm. Tôi thích kết bạn và lôi kéo những người tốt đến với tôi. Trông bạn cũng là người tốt đấy. Nói chuyện với bạn hay lắm.

– Ồ, cảm ơn anh. Thế anh sinh ra ở vùng này à?

– Đúng, đây là nhà tôi.

– Anh có thích vùng New Haven không?

– Nói chung tôi thấy vùng này không ủng hộ các nghệ sĩ như tôi lắm. Các nghệ sĩ khác có vẻ xa lánh. Tôi thấy ở New York thích hơn, họ cổ vũ các nghệ sĩ kiểu như tôi hơn.

– Ồ, New York là thành phố dành cho các họa sĩ mà. Nhưng sống ở đây rẻ hơn New York nhiều.

– Nhưng nếu được chọn lại tôi vẫn thích làm một họa sĩ như thế này. Tôi thích vẽ dù đời sống cũng không giàu có lắm. Mà có lẽ tôi không hợp với sự giàu có.

Trường phái Pointillist

– Ồ, nghèo là tốt đấy ạ.

– Tôi nghĩ ở một góc độ nào đó điều này đúng, nghèo cái khác nhưng giàu về tinh thần.

– Tôi có thể mang giấy bút đến đây vẽ cùng anh được không, anh không ngại chứ?

– Ồ tất nhiên là tôi luôn đón chào mọi người đến vẽ cũng tôi rồi. Bạn cứ tự nhiên.

Buổi chiều hôm đó mình để ý thấy vài người nữa đi qua chào Isaac, một hai người ngồi lại nói chuyện với anh và anh lại hào hứng chia sẻ về công việc của mình. Khi tìm hiểu thông tin về anh trên Internet, mình biết thêm là Isaac đã gần 50 tuổi, có một tuổi thơ khá dữ dội trong một gia đình 7 anh chị em và đã từng mất nhà một lần. Anh là người theo trường phái vẽ chấm (pointilist drawing).

Người họa sĩ này đang thật sự hạnh phúc vì anh đang được tự do làm công việc mình yêu thích với một đời sống tinh thần phong phú.

Trong những con người ngày ngày qua lại quán café này có bao nhiêu con người với những xuất thân khác nhau, phần lớn họ là sinh viên đại học Yale, đến từ những gia đình danh giá ở Mỹ và khắp nơi trên thế giới. Nhưng từ một góc nhìn nào đó, mình cho rằng Isaac là người giàu có nhất.

Hoàng Khánh Hòa

Feb 22, 2010