Tag Archives: Song ngữ

Tỳ Bà Hành

Chào các bạn,

Ai yêu Đường thi cũng đều biết đến bài Tỳ Bà Hành của Bạch Cư Dị.

Nghe não nuột mấy dây buồn bực,
Dường than niềm tấm tức bấy lâu;
Mày chau tay gảy khúc sầu,
Dãi bày hết nỗi trước sau muôn vàn.

Nhưng không mấy chúng ta thực sự nghe đàn tỳ bà, nhất là nghe nó một mình.
pipa2
Đàn tỳ bà có một ngôi vị rất lớn trong văn học và thi ca Trung Quốc.

Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi
Dục ẩm tỳ bà mã thượng thôi
Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu
Cổ lai chinh chiến kỹ nhân hồi

    (Lương Châu Từ của Vương Chí Hoán)

Dịch nghĩa:

Rượu bồ đào, chén dạ quang
Muốn uống nhưng tiếng tỳ bà đã giục lên ngựa
(Nếu) tôi nằm say trên chiến trường, bạn đừng cười
(Vì) xưa nay thời chiến chinh ai đi mà trở lại.

    TDH


Đàn tỳ bà được xem là đàn Flamenco của Trung Quốc vì tỳ bà rất phổ thông trong âm nhạc truyền thống Trung Quốc, và cách biểu diễn, nhất là các tiếng rung nghe rất giống kỹ thuật tremolo của nhạc Flamenco.

Hôm nay chúng ta có ở đây bài Tỳ Bà Hành, qua lời dịch của Việt của Phan Huy Thực (có nơi ghi là Phan Huy Vịnh). Tiếp theo là lời tiếng Anh của Francis Chin; một bài dịch rất rõ nghĩa, đã đăng năm 1979 ở báo Business Times của Singapore.

Sau đó chúng ta có một số bản nhạc solo tỳ bà của Liu Fang, nhạc sĩ Trung Quốc, tuổi trẻ tài cao, danh cầm số một thế giới về tỳ bà. Tiếng đàn của Liu Fang khi vũ bão như sấm động, khi nhẹ nhàng như gió thoảng, khi nhức nhối như giọt lệ.

Liu Fang sinh năm 1974 tại thành phố Côn Minh, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc. Học tỳ bà năm 6 tuổi và 9 tuổi bắt đầu trình diễn. Năm 11 tuổi trình diễn cho Nữ Hoàng Anh Elizabeth khi bà qua thăm Trung Quốc năm 1985. Liu Fang cũng học thập lục huyền cầm, nhưng nổi tiếng ngày nay như là danh cầm tỳ bà số một trên thế giới. Năm 2001 chị được giải ‘Future Generation Millennium Prize’ của Hội Đồng Nghệ Thuật Canada, dành cho các nhạc sĩ dưới 30 tuổi. Chị đã trình diễn trên nhiều chương trình TV ở các nước trên thế giới. Đĩa Silk Sound của chị được giải Academie Charles Cros Award của Pháp (như là Grammy của Mỹ). Hiên nay chị ở Canada.

Sau các video trình diễn của Liu Fang là một bài viết nói thêm về Phan Huy Thực và bài dịch Tỳ Bà Hành, để các bạn cần tham khảo có thêm tài liệu.

Trước khi vào bài thơ Tỳ Bà Hành, Bạch Cư Dị có một lời giới thiệu về bài thơ. Lời này không thấy trong bản dịch tiếng Việt, nhưng có trong bản tiếng Anh của Francis Chin. Mình dịch lời giới thiệu này sang tiếng Việt, đặt trước bài dịch của Phan Huy Thực.

Kính mời!

Hoành
.

tỳ bà hành

Giới thiệu (bởi Bạch Cư Dị)

Năm thứ mười đời Hoàng Đế Yuan Ho, tôi bị giáng chức và bị đày về huyện Jiu-jiang làm tùy viên. Mùa hè năm sau đó, khi tôi đang tiễn một người bạn ra đi, chúng tôi nghe trên thuyền bên cạnh có tiếng tỳ bà theo điệu nhạc kinh đô.

Hỏi thăm thì biết là người chơi đàn từng là một ca kỷ ở kinh đô ngày trước và ngày nay là vợ của một thương nhân. Tôi mời cô ấy qua thuyền tôi chơi nhạc. Cô ấy kể lại cho chúng tôi nghe chuyện đời cô và nỗi bất hạnh của cô. Từ ngày rời kinh đô đến nay tôi không hể thấy buồn, nhưng từ đêm hôm đó, tôi bắt đầu cảm nhận gánh nặng của cuộc đời đi đày của tôi. Vì vậy, tôi viết bài thơ 612 chữ này.

Tỳ Bà Hành

Bến Tầm Dương canh khuya đưa khách,
Quạnh hơi thu lau lách đìu hiu.
Người xuống ngựa, khách dừng chèo
Chén quỳnh mong cạn, nhớ chiều trúc ti.

Say những luống ngại khi chia rẽ,
Nước mênh mông đượm vẻ gương trong.
Đàn ai nghe vẳng bên sông,
Chủ khuây khoả lại, khách dùng dằng xuôi.
tybahanh1
Tìm tiếng sẽ hỏi ai đàn tá?
Dừng dây tơ nấn ná làm thinh
Dời thuyền ghé lại thăm tình,
Chong đèn, thêm rượu, còn dành tiệc vui.

Mời mọc mãi, thấy người bỡ ngỡ,
Tay ôm đàn che nửa mặt hoa.
Vặn đàn mấy tiếng dạo qua,
Dẫu chưa nên khúc tình đà thoảng hay.

Nghe não nuột mấy dây buồn bực,
Dường than niềm tấm tức bấy lâu;
Mày chau tay gảy khúc sầu,
Dãi bày hết nỗi trước sau muôn vàn.

Ngón buông bắt khoan khoan dìu dặt,
Trước Nghê Thường sau thoắt Lục Yêu,
Dây to dường đổ mưa rào,
Nỉ non dây nhỏ khác nào chuyện riêng.

Tiếng cao thấp lựa chen lần gẩy,
Mâm ngọc đâu bỗng nảy hạt châu,
Trong hoa oanh ríu rít nhau,
Nước tuôn róc rách, chảy mau xuống ghềnh.

Nước suối lạnh, dây mành ngừng đứt,
Ngừng đứt nên phút bặt tiếng tơ;
Ôm sầu mang giận ngẩn ngơ,
Tiếng tơ lặng ngắt, bây giờ càng hay.

Bình bạc vỡ tuôn đầy dòng nước,
Ngựa sắt giong, xô xát tiếng đao;
Cung đàn trọn khúc thanh tao,
Tiếng buông xé lụa, lựa vào bốn dây.

Thuyền mấy lá đông tây lặng ngắt,
Một vầng trăng trong vắt lòng sông;
Ngậm ngùi đàn bát xếp xong,
Áo xiêm khép nép hầu mong giãi lời.

Rằng: “Xưa vốn là người kẻ chợ,
Cồn Hà Mô trú ở lân la;
Học đàn từ thuở mười ba,
Giáo phường đệ nhất chỉ đà chép tên.

Gã thiện tài so phen dừng khúc,
Ả thu nương ghen lúc điểm tô,
Ngũ Lăng chàng trẻ ganh đua,
Biết bao the thắm chuốc mua tiếng đàn.

Vành lược bạc gãy tan dịp gõ,
Bức quần hồng hoen ố rượu rơi;
Năm năm lần lữa vui cười,
Mải trăng hoa chẳng đoái hoài xuân thu.
tybahanh2
Buồn em trảy, lại lo dì thác,
Sầu hôm mai đổi khác hình dong;
Cửa ngoài xe ngựa vắng không,
Thân già mới kết duyên cùng khách thương.

Khách trọng lợi khinh đường li cách,
Mải buôn chè sớm tếch nguồn khơi;
Thuyền không, đậu bến mặc ai,
Quanh thuyền trăng giãi, nước trôi lạnh lùng.

Đêm khuya, sực nhớ vòng tuổi trẻ,
Chợt mơ màng dòng lệ đỏ hoen”.
Nghe đàn ta đã chạnh buồn,
Lại rầu nghe nỗi nỉ non mấy lời:

“Cùng một lứa bên trời lận đận,
Gặp gỡ nhau lọ sẵn quen nhau,
Từ xa kinh khuyết bấy lâu,
Tầm Dương đất trích gối sầu hôm mai.

Chốn cùng tịch lấy ai vui thích,
Tai chẳng nghe đàn địch cả năm:
Sông Bồn gần chốn cát lầm,
Lau vàng, trúc võ, âm thầm quanh hiên.

Tiếng chi đó nghe liền sớm tối:
Cuốc kêu sầu, vượn hót véo von;
Hoa xuân nở, nguyệt thu tròn,
Lần lần tay chuốc chén son ngập ngừng.

Há chẳng có ca rừng, địch nội?
Giọng líu lo buồn nỗi khó nghe.
Tỳ bà nghe dạo canh khuya,

Dường như tiên nhạc gần kề bên tai.

Hãy ngồi lại gảy chơi khúc nữa,
Sẽ vì nàng soạn sửa bài ca”.
Đứng lâu dường cảm lời ta,
Lại ngồi lựa phím đàn đà kíp dây.

Nghe não nuột khác tay đàn trước,
Khắp tiệc hoa sướt mướt lệ rơi;
Lệ ai chan chứa hơn người?
Giang Châu tư mã đượm mùi áo xanh.

    (Người dịch: Phan Huy Vịnh
    Xuất bản: Thơ Đường (tập 1) – NXB Văn học, 1987)

.

The Song of the Pipa

Introduction

In the 10th Year of Emperor Yuan Ho, I was banished and demoted to Jiu-jiang district as an assistant official. In the summer of the following year, as I was seeing a friend off, we heard from a neighbouring boat a pipa [four-string lute] played in the style of the Capital.

On inquiry, I learnt that the player used to be a sing-song girl from the Capital who was now married to a merchant. I invited her to my boat to play for us. She also related to us her story and unhappiness. Since my departure from the Capital I had not felt sad; but since that night, I began to feel the weight of my exile. So, I wrote this poem in 612 words:

pipa_liufang
By the head water of the Hsin-yang River
Where maple leaves and reeds sigh in the autumn wind,
I said goodbye to a friend departing in the night.
When I got down from my horse, my guest was already in the boat.
Silently, we lifted our cups for a final farewell toast
But the wine could not soothe our sadness
That rose with the rising tide and flooded the moon.

Suddenly we heard a pipa across the water.
I, the host, forgot my return, the guest the journey on.
In the darkness we asked for the player.
The music broke off, whoever wishing to reply seemed uncertain.
So we re-lit the lamp, reset our table with food and wine,
And moved our boat nearer, hoping to see the player.
But only after much urging did she appear
Still clutching her pipa that half-covered her face.

She turned the pegs and tested the strings
And as she strummed we could sense her deep feeling
For every note was heavy with thought
Telling a sorrowful tale of life.
With lowered brows and sure hands, she poured into the music
The limitless depths of her heart.
She plucked the strings, brushed them and swept on…
With a song of the Rainbow Skirt and the Six Little Ones.
The major chords chanted like falling rain,
The minor chords whispered secrets,
In a delightful medley
Like the clinking of pearls on a jade plate,
Like the notes of a nightingale among flowers,
Like the singing of a brook as its water rushed the bank.

A cold touch suddenly froze the music,
And in the silence we heard her innermost sorrow
For now the stillness told more than any music could.

A silver jar shattered and water gushed out,
And armoured horsemen clashed in their fighting gear.
Once more she swept all four strings like the tearing of silk.
East and west, the boats were hushed by her music,
While the autumn moon rose white above the water.

Finally she inserted the peg under the strings,
Adjusted her clothes, composed herself and told her story:
pipa
“I was a girl from the Capital,
living at the foot of the Hsia-mo Hill.
At thirteen, I had already mastered the pipa
and critics praised me as the best player ever.
I was familiar with the tunes of popular songs and dances
And my talent and beauty made many girl envious.
The young men of the city competed for my favours.
One song could bring me rolls of silk,
Jewelled hairpins and silver combs.
My clothes too were often crimsoned with wine.
Year after year, the feasting and laughter went on,
As autumn changed to spring in carefree abandon.

“Then my brother left for the Army and my aunt died.
Evening and morning passed and my beauty waned.
At last, no longer young, I was married to a merchant.
But he cares more for his business than his wife.
Last month, he left for Fouliang town to buy tea
Leaving me to look after an empty boat.
With only the moon and cold river for companions.
In the deep of the night, I dreamt of my girlhood
But the happy memories hastened my tears.”

When I heard her playing the pipa, I sighed
When I heard her story, I became sadder still.
“There are no strangers on the world’s horizon,
Meeting and sharing the same fate,
What does past acquaintance matter?

“A year ago, I left the Capital
To become a sick exile in this town.
The place is so forsaken there is no good music.
For an entire year I heard nothing of string or pipe.
My house near the river is low and damp,
Surrounded by reeds and rushes.
Morning and night, all I hear
Are the blood-cuddling cuckoo calls and the cries of apes.

“In spring mornings among the flowers
And under a moon in autumn nights,
I would bring wine, only to drink alone by the river.
There are mountain songs and village piping
But they cut my ears with their grating sound.
Tonight, hearing you play the pipa
Is like listening to fairy music from afar.
Don’t go just yet, but play us another tune
And I will compose the words of a song for you.”

Moved by my words she stood for a moment,
Then sitting down she began strumming anew.
But the forlorn notes were different from before
And everyone listening could not hold back their tears.
Who among them was most affected?
The author, a junior official, with his blue sleeves wet.

.

Bản này có nhan đề “Vua Chu cởi chiến bào” (King Chu doffs his armour — Ba Wang Xie Jia), là một bản nhạc tỳ bà truyền thống. Nói lại một câu chuyện thương tâm xảy ra năm 202 trước công nguyên.

.

Bản này tên là “Tuyết bay làm đẹp ngàn thông” (Swirl snow decorating the evergreen — Fei Hua Dian Cui). Đây là một bản nhạc rất nhẹ nhàng, ngược với các bản nhịp quân hành (như bản trên).


.

Bản này gọi là Trên Nhịp Vũ (On a theme to dance — Ge Wu Yin), do Liu Tianhua (1895-1932) viết. Video này là trình diễn tại hội chợ TFF Rudolstadt ngày 9 tháng 7 năm 2006, do German TV (ARD1) phát sóng.

.

Bản này Liu Fang biểu diễn cùng tiếng trống của Ziya Tabassian. Nhan đề Đêm lễ hội lửa trại (The night of bonfire festival) do Wu Junsheng soạn trong thập niên 1980s cho tỳ bà solo, thu hình buổi trình diễn ngày 27 tháng 3 năm 2002.

.

Thế Anh

.

.

Gần đây do một sự tình cờ chúng tôi phát hiện được một bài viết có nhan đề “Tỳ bà hành bạt” chép chung trong cuốn Nam phong giải trào ở Thư viện Quốc gia (R1674). Bài dài khoảng 450 chữ. Sau lời bạt là nguyên văn chữ Hán bài “Tỳ bà hành” của Bạch Cư Dị và lời dịch ra quốc âm. Đáng chú ý là bài viết có ghi cụ thể dòng lạc khoản “Minh Mệnh thập nhị niên ngô nguyệt trung hoán. (Hà ái) Nhâm Ngọ Hội nguyên Tiến sĩ Hình bộ Thị lang sung biện Nội các sự vụ Phương Trạch Hà Tốn Phủ cẩn bạt”. Hà Tốn Phủ chính là Hà Tông Quyền bạn đồng liêu với dịch giả bài Tỳ bà hành mà ở đoạn đầu lời bạt ông đã giới thiệu dịch giả là “Cựu Bộ trưởng Xuân Khanh” (Tên hiệu Phan Huy Thực).

Hà Tông Quyền (1789-1893) quê huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây, đỗ Hội nguyên năm Minh Mệnh thứ 3 (1822), lúc nhỏ đi học nổi tiếng thông minh, làm quan đến chức Lại bộ Tham tri, Sung đại thần Viện cơ luật, khi mất được truy tặng Thượng thư bộ Lại. Ông là một nhà khoa bảng nổi tiếng văn chương, được các sĩ phu đương thời ca ngợi. Ngoài thơ chữ Hán ông còn để lại 30 bài vịnh Kiều bằng chữ Nôm hưởng ứng cuộc thi vịnh Kiều do Minh Mệnh đề xướng năm 1830. Ông được Minh Mệnh tin dùng và thường xuyên được vào bái kiến nhà vua.

Trong lời bạt ông ca ngợi và đánh giá cao bài dịch “Tỳ bà hành” của họ Phan, đồng thời ông cũng nêu lên quan điểm về dịch thuật của mình là không nên quá chú trọng về mặt kỹ xảo mà làm sai lạc nội dung của nguyên tác. Qua lời bạt chúng ta còn được biết thêm về thời điểm ra đời của bản dịch (trước năm 1831).

Thực ra từ trước tới nay đã có nhiều người đề cập đến địch giả bài “Tỳ bà hành” nổi tiếng của Bạch Cư Dị. Ngay từ năm 1926 Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến cũng đã thông báo trên tạp chí Nam Phong dịch giả “Tỳ bà hành” là Phan Huy Thực. Tiếp đó Hoàng Xuân Hãn, Hoàng Ly, Trương Linh Tử và sau này Phạm Văn Diêu, Tạ Ngọc Diễn, Hoàng Thị Ngọ cũng khẳng định như vậy. Khi viết về dòng họ Phan Huy ở Sài Sơn, GS. Phan Huy Lê cho biết gia phả họ Phan ở Thạch Châu và Sài Sơn đều chép thống nhất người dịch “Tỳ bà hành” là Phan Huy Thực. Chúng tôi cũng đã được đọc cuốn Phan tộc công phả hiện đang lưu giữ ở Thư viện Quốc gia (A2963) do Phan Huy Dũng – cháu nội Phan Huy Thực biên tập, trong đó có ghi tóm tắt tiểu sử 6 người con của Phan Huy ích. Trong đoạn nói về Phan Huy Thực, gia phả có ghi rõ các trước tác của ông như: Hoa thiều tạp vịnh, Tỳ bà hành diễn âm khúc, Nhân ảnh vấn đáp… Riêng đối với Phan Huy Vịnh thì gia phả không hề nói đến việc ông dịch “Tỳ bà hành”.

Như vậy gia phả họ Phan Huy là nguồn tư liệu duy nhất đáng tin cậy để xác định người dịch Tỳ bà hành và đồng thời cũng để đính chính những ngộ nhận lâu nay được gán ghép cho Phan Huy Vịnh. Sở dĩ có sự nhầm lẫn kéo dài có lẽ là do nguồn tư liệu của Trần Trung Viên trong cuốn Văn đàn bảo giám (soạn năm 1926) và nhất là cuốn Thi văn hợp tuyển dùng trong các trường trung học trước năm 1945 đã có ảnh hưởng sâu rộng trong giới học sinh lúc bấy giờ. Hai cuốn sách này gần đây đã được in lại vài ba lần nhưng vẫn không được đính chính, ngay cả bộ Từ điển văn học 2 tập in năm 1983-1984 cũng ghi Phan Huy Vịnh là người dịch “Tỳ bà hành” và Phan Huy Thực không có tên trong bộ Từ điển này (Cuốn Từ điển văn học bộ mới in năm 2004 đã có đính chính và bổ sung). Vì đã thành thói quen nên những cuốn sách mới gần đây như Thơ Đường trong nhà trường dùng cho học sinh Trung học, sinh viên và người yêu thích thơ Đường hoặc cuốn Bạch Cư Dị Tỳ bà hành của Hồ Sỹ Hiệp tập hợp những bài viết của nhiều nhà nghiên cứu và cuốn Thơ Bạch Cư Dị của NXB Hội Nhà văn vừa mới in xong trong quí IV-2006, vẫn để tên người dịch là Phan Huy Vịnh.

Để góp thêm một minh chứng cho vấn đề này, chúng tôi xin giới thiệu toàn văn lời bạt của Hà Tông Quyền cho bài dịch “Tỳ bà hành” của Phan Huy Thực.

*

Lời bạt cho bài dịch “Tỳ bà hành”

“Tỳ bà hành” là tác phẩm của Bạch Lạc Thiên, các sĩ phu nước ta rất hâm mộ và đã diễn ra quốc âm, nhưng vì lời văn dài mà ngôn ngữ lại có phần mới nên đôi khi vẫn gặp những chỗ khó dịch và người dịch thường giữ lấy ý chính mà lại bỏ qua nhiều chi tiết trong nguyên bản. Khi dịch một bài văn nếu chỉ chú ý về mặt kỹ xảo (cầu công) mà không bám sát nội dung của nguyên tác thì có khác gì “gãi không đúng chỗ ngứa” và thử hỏi như vậy đã phải là người hiểu được thi sĩ họ Bạch chưa?

Khi tôi tiếp xúc với bài diễn âm của cựu Bộ trưởng Xuân Khanh họ Phan, tiên sinh bảo: Đó là bài tôi dịch ra đấy. Khi xem tôi thấy lời dịch bám sát nội dung, từng chữ từng câu răm rắp không sai mà âm vận thì lại vừa khoan thai vừa hùng tráng. Tôi đã ngâm nga, đọc đi đọc lại nhiều lần và rất lấy làm tâm đắc tưởng như đang được tiếp xúc với thi nhân cự phách đời Đường – người đang bị biếm trích ở đất Giang Châu trước cảnh thê lương của hơi thu và lau lách đìu hiu để tạo nên một thiên tuyệt bút, như đang được chứng kiến cảnh:

Bình bạc vỡ tuôn đầy mặt nước
Ngựa sắt dong sàn sạt tiếng đao[1]

Tiên sinh đã diễn ra quốc âm trong lúc chưa gặp vận còn đang phải ẩn náu nơi sơn dã, chẳng khác cảnh sông Bồn và đã mượn chén rượu của người khác để giải nỗi sầu riêng, nếu không phải là người có thiên tư và chịu ảnh hưởng truyền thống học vấn của gia đình thì làm sao mà có được? Tiên sinh vốn sở trường về văn chương, thanh luật, nên âm vận trong câu dịch hài hoà toát lên cảnh phong lưu tao nhã, xứng đáng cùng với Lạc Thiên là những bậc hào hoa một thủa. Có những chỗ Lạc Thiên chưa diễn đạt hết thì tiên sinh lại dùng thanh âm mà giãi bày một cách tường tận.

Tôi thô vụng và quê mùa, không biết được nhiều, nhưng bề trên đã bảo, tôi không dám từ nan, bèn mạo muội viết ra lời bạt này và nếu như tác phẩm của tiên sinh nổi tiếng thì tôi cũng được thơm lây và cũng coi như được dự buổi tiễn đưa trong đêm trăng trên bến Tầm Dương để được cùng chia sẻ nỗi niềm u hoài của kẻ cô thần khoáng phụ, như thế còn gì sung sướng cho hơn, chắc tiên sinh cũng không cười tôi là kẻ ngông cuồng và Bạch Lạc Thiên cũng sẽ thông cảm cho tôi.

Trung tuần tháng 3 năm Minh Mệnh thứ 12 (Hà ái) Nhâm Ngọ Hội nguyên Tiến sĩ Hình bộ Thị lang sung biện Nội các sự vụ Phương Trạch Hà Tốn Phủ cẩn bạt.

*

Qua lời bạt ta thấy Hà Tông Quyền đánh giá rất cao bài dịch của Phan Huy Thực. Trước Phan Huy Thực cũng đã có người dịch “Tỳ bà hành”. Trên tạp chí Văn học số 4/1975, Trần Thị Băng Thanh cho biết đã tìm được một bản dịch chép trong cuốn Thạch Động tiên sinh thi tập. Sau Phan Huy Thực, Phan Văn Ái cũng dịch “Tỳ bà hành” thành hai bài: một bài theo thể thất ngôn trường thiên, một bài theo thể thất ngôn bát cú. Trên tạp chí Nam Phong thỉnh thoảng cũng có sưu tầm được một vài bài dịch không đề tên người dịch. Tuy nhiên những bài xuất hiện trước và sau bản dịch của Phan Huy Thực đều không có mấy tiếng vang và đã nhanh chóng bị quên lãng. “Tỳ bà hành” được phổ biến rộng rãi và xem như một di sản văn học quí giá của Việt Nam chủ yếu là thông qua bản dịch của Phan Huy Thực. Nghệ thuật hát ca trù tồn tại đã lâu đời và từ khi có bài dịch “Tỳ bà hành” của Phan Huy Thực thì nó đã lan nhanh và đã trở thành một điệu hát trữ tình, giàu chất thơ, nhạc điệu, làm phong phú và bổ sung thêm cho hàng chục làn điệu ca trù khác trong các ca quán thời xưa. Những người mê ca trù trước đây thường thuê thuyền đón ả đào hát “Tỳ bà hành” trong những đêm trăng huyền ảo để thưởng thức và làm sống lại nguồn cảm xúc của nhà thơ với người ca nữ trên bến nước Tầm Dương.

“Tỳ bà hành” không những là nguồn cảm hứng cho những nhà Nho tài tử và các bậc tao nhân mặc khách trước đây như Nguyễn Công Trứ, Chu Mạnh Trinh… mà cả những thi nhân hiện đại cũng mượn trăng nước Tầm Dương đưa vào tác phẩm của mình. Nhà thơ tình Xuân Diệu thì “Trăng nhớ Tầm Dương, nhạc nhớ người” hoặc “Mắt run mờ kỹ nữ thấy sông trôi”, Vũ Hoàng Chương cũng than “Niềm giang hồ tan tác lệ Giang Châu”, nữ sĩ Ngân Giang thì “Bến Tầm Dương trăng nước một con thuyền, ngán tình ca nữ” và nhà thơ chân quê Nguyễn Bính thì dành Cây đàn tì bà cho một chuyện thơ dài.

Bài dịch “Tỳ bà hành” của Phan Huy Thực là một kiệt tác đã có những câu thần bút làm say đắm bao thế hệ các nhà thơ. Xuân Diệu cũng đã phải thốt lên: “Ai đã đọc bản dịch ‘Tỳ bà hành’ quên những đoạn nào thì quên, thậm chí nếu quên cả bài, thì bốn câu mở đầu cũng không quên được”.

Bốn câu mở đầu đó là:

Bến Tầm Dương canh khuya đưa khách
Quạnh hơi thu lau lách đìu hiu
Người xuống ngựa khách dừng chèo
Chén quỳnh mong cạn nhớ chiều trúc ti

Nguyễn Hiến Lê cũng có nhận xét như sau khi ông so sánh mấy câu trên đây với câu thơ của Bạch Cư Dị:

“Mới đầu chúng ta thấy có cái gì khác nhau, mặc dù cũng bảy chữ và bản dịch rất sát nguyên bản: Tầm Dương giang đầu dạ tống khách không buồn, không vắng vẻ, không mông lung bằng Bến Tầm Dương canh khuya đưa khách. Tôi có cảm tưởng như vậy, có lẽ do chữ dạ dịch ra là canh khuya. Dạ (đêm) không gợi ý nhiều bằng canh khuya. Tài năng của họ Phan, tinh thần của tiếng Việt ở chỗ đó.

Đọc câu thơ thứ hai: Phong diệp địch hoa thu sắt sắt và câu dịch Quạnh hơi thu lau lách đìu hiu thì câu của họ Phan làm tôi rung động hơn nhiều nhờ những chữ lau lách đìu hiu, cả chữ quạnh, chữ hơi nữa, vì tôi thấy lau lách buồn hơn địch hoa; hơi thu, đìu hiu gợi cảm hơn là thu sắt sắt.

Bài dịch “Tỳ bà hành” của Phan Huy Thực là một tác phẩm toàn bích, và có lẽ cũng vì thế mà Tản Đà tài hoa cũng không dịch lại bài này và nhà thơ đã chọn một bài trường thiên nổi tiếng khác của Bạch Cư Dị là bài “Trường hận ca” và ông cũng đã thành công.

(Tác giả hiện làm việc tại Hội Ngôn ngữ học Việt Nam.)


[1]Lấy hai câu dịch của Phan Huy Thực để điển đạt ý “ngân bình thiết kỵ”.
Nguồn: Báo Văn nghệ Trẻ số ra ngày 18.3.2007

Đọc sách

reading 4
Có một sự khác biệt lớn giữa một người ham học hỏi cần đọc một quyển sách và một người mệt mỏi cần một quyển sách để đọc.

Phạm Kiêm Yến dịch

.

There is a great deal of difference between an eager man who wants to read a book and a tired man who wants a book to read.

~G.K. Chesterton

Thung Lũng Axan: Sắc Màu Vùng Biên

AXAN1Đoạn đường từ trung tâm huyện Tây Giang, giữa tỉnh Quảng Nam đến xã Axan mất khoảng 50 km đi xe ô tô, qua một khung cảnh đẹp như tranh hòa quyện cùng núi rừng. Những cánh đồng lúa xanh ngát thanh bình, nằm sát bên những đỉnh núi nép mình dưới nắng mai, đem đến sự thảnh thơi sau những bức bách của cuộc sống.

Đặc điểm văn hóa của đồng bào dân tộc K’tu chính là nét đặc sắc nhất của xã Axan. Những ngôi nhà Guol truyền thống trong bản giờ trở thành nơi tụ họp cho các hoạt động cộng đồng. Người đồng bào K’tu có lối hát đối đáp độc đáo – hát lý – một loại hình nghệ thuật thi thố của những người cao tuổi. Bản làng cũng thu hút du khách bởi những lễ hội đặc sắc, gồm cả Lễ Cúng Được Mùa và Lễ Hội Đâm Trâu, và những món ăn đủ loại như là cơm lam (gạo nếp trộn với nước dừa được nấu trong ống tre), cơm nắm và thịt nướng trong ống tre.
AXAN2
Cuộc sống dân bản K’tu êm đềm và yên bình. Khi ngày mới lên, thung lũng ngập chìm trong làn sương khói. Nằm ở độ cao 1260 m, nên tiết trời mát lạnh như Sapa và Đà Lạt. Tảng sáng, dân bản náo nức ra đồng và dắt trâu bò ăn cỏ. Phong cảnh tĩnh lặng lúc chiều tàn mang đến cho du khách những cảm giác thư thái tuyệt vời.

Quan Jun dịch

COLORS AT A FRONTIER
by AXAN VALLEY; Saigontimes

The 50-kilometer drive from the center of Tay Giang district in the central province of Quang Nam to Axan commune is through a picturesque landscape in harmony with forests. The quiet green paddy fields, framed in the sunlight by the mountain peaks, provide relief from life’s pressures.

AXAN3

The cultural features of the K’tu ethnic group are the highlights of the Axan commune. The traditional Guol gouses in the villages are now venues for community activities. The K’tu people have a unique style of extempore singing, an art of competition between senior villagers. The commune also attracts tourists with its distinctive traditional festivals, including the celebration of Bumper Crops and Buffalo Stabbing Festival, and diversified gastronomy such as bamboo rice (sticky rice mixed with coconut cooked in bamboo pipe), steamed rice roll and meat grilled in bamboo rice.
AXAN6
The village life of the K’tu people is cozy and peaceful. As day begins the valley is shrouded in patches of fogs. At 1260 m, the weather is as cool as it is Sapa and Dalat. When the sun rises, the villagers flock to fields or takes their herds of cattle to the grass fields. The calm scenery in sunset offers travelers pleasant dreams.

Bài nói chuyện của tổng thống Corazon C. Aquino, Tổng thống Phi Luật Tân, tại buổi Điềm Tâm Cầu Nguyện Quốc gia, 11 tháng 12 năm 1986

Chào các bạn,

Cách đây hai tuần, hôm mồng 1 tháng 8, 2009, chúng ta có đưa tin là cựu tổng thống Phi Luật Tân, Cory Aquino, qua đời.

Câu chuyện Cory Aquino là một trang sử rất quan trọng cho lịch sử Phi Luật Tân, và là một kích thích lớn cho phong trào dân chủ trên thế giới.
PHILIPPINES-AQUINO/
Trước Cory Aquino là Fernando Marco, làm tổng thống độc tài tổng cộng 22 năm. Anh này xiết chặt nước Phi Luật Tân đến nỗi tham nhũng lan tràn và gia đình ông ta vơ vét những khối tài sản khổng lồ của dân Phi, nhưng chẳng ai dám hó hé. Gia nô của Marcos nắm hết quyền hành ở Phi.

Chồng của Cory Aquinos là thượng nghĩ sĩ Ninoy Aquino can đảm lên tiếng phê phán Marcos nên bị bắt và bị tuyên án tử hình. Ông bị giam 7 năm, cho đến năm 1980 khi ông bị bệnh tim nặng, dù Marcos không đồng ‎ý, nhưng tổng thống Mỹ Jimmy Carter áp lực dữ dội, cho nên Marcos bằng lòng cho Ninoy qua Mỹ chữa bệnh, và cả vợ con cùng đi theo.

Ngày 21 tháng 8 năm 1983, Ninoy và gia đình trở về Phi Luật Tân và Ninoy bị ám sát ngay khi đang bước xuống máy bay ở phi trường Manila, còn trên bục thang.

Dân Phi Luật Tân nổi giận và xoay quanh Cory Aquino, yêu cầu bà tranh cử tổng thống. Cory, dù đã tốt nghiệp đại học tại Mỹ, luôn luôn gọi mình là “người nội trợ đơn giản” (a simple housewife), trở thành biểu tượng đoàn kết và tranh đấu cho dân Phi Luật Tân.

Năm 1986 Cory tranh cử với Marcos. Mọi người tuyên bố là Marcos dùng nhiều trò gian lận. Hai bên đếm phiếu, bên nào cũng tuyên bố mình nhiều phiếu hơn. Ngày 25 tháng 2 năm 1986, cả hai bên đều làm lễ nhậm chức tổng thống riêng, cho cả hai người. Đó là khởi đầu của cuộc “Cách mạng vàng” của Cory, cuộc cách mạng dân chủ không đổ máu, nhờ toàn dân Phi hỗ trợ và các tướng lãnh quân đội cũng từ từ đồng ý hỗ trợ Cory. Marcos từ chức.

Cory Aquino là nữ tổng thống đầu tiên ở Á châu.
coryaquino1
Vài tháng sau đó, ngày 11 tháng 12 năm 1986, chúng ta có bài nói chuyện dưới đây. Đây là bài nói chuyện riêng tư trong một nhóm lãnh đạo nhỏ của Phi Luật Tân. Bài này chưa từng xuất bản ở đâu cả. Có lẽ ĐCN là nơi đầu tiên trên thế giới có nó.

Bài này Cory nói trong Buổi Điểm Tâm Cầu Nguyện Quốc Gia tại một khách sạn ở Manila, Phi Luật Tân, gồm có một số lãnh đạo Phi và vài bạn bè từ các nước. Một người bạn của mình có mặt hôm đó, giữ bài nói chuyện này 23 năm. Và hôm Cory qua đời, mang ra gởi cho một số bạn bè.

Khi đọc bài này, các bạn hãy nghĩ đến khung cảnh chính trị Phi Luật Tân và cuộc đời của Cory lúc đó, chỉ 3 năm sau khi chồng bị ám sát, và chính trị Phi Luật Tân lúc đó thật là hỗn loạn và nguy hiểm. Ai biết được những biến chuyển chính trị Phi Luật Tân lúc đó sẽ nhận ra là các danh từ rất chung chung dùng trong bài này là nói về các biến cố lớn tại Phi và dĩ nhiên là mọi người nghe hôm đó đều hiểu.

Điểm rõ ràng nhất ai cũng thấy là lòng sùng kính mộ đạo sâu thẳm của Cory. Nhưng điểm quan trọng cho chúng ta trên ĐCN là:

(1) sự vắng mặt của tất cả mọi từ ngữ nói đến thù hận, ghen ghét, nghi kỵ, lo lắng, phê phán… trong bài này, và

(2) sự khiêm tốn cực kỳ của Cory.

Trong bài này cũng có một câu quote mình hay đọc mỗi khi có quá nhiều gánh nặng trong lòng:


    “Hãy đến với ta, tất cả các con những người nhiều gánh nặng trong lòng, và ta sẽ cho các con được nghỉ ngơi…”

Ngoài việc chia sẻ bài này với tất cả các anh chị em đọc ĐCN, mình đặc biệt gởi tặng câu quote này đến các bạn ĐCN đang có nhiều gánh nặng trong lòng—mình vẫn cầu nguyện cho các bạn hàng ngày.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

.

Bài nói chuyện của tổng thống Corazon C. Aquino, Tổng thống Phi Luật Tân, tại buổi Điềm Tâm Cầu Nguyện Quốc gia, 11 tháng 12 năm 1986

Trong những tháng qua, trong những lúc hiểm nguy và khủng hoảng, chúng ta cầu xin sự khoan hồng, can thiệp, ân phước và nhân từ của Chúa. Dù là chúng ta thiếu sót, Chúa đã luôn luôn trả lời. Như các Tỉên Tri đã kinh ngạc:

    “Lòng từ nhân của Chúa không bao giờ ngừng. Tình thương của Chúa không bao giờ thất bại. Chúng thành mới mỗi buổi sáng…”

Cory-Aquino
Vì vậy tôi muốn dùng dịp này để tạ ơn Chúa Giêsu Christ, Người Cứu chúng ta và là sức mạnh của ta, Người dẫn đường và là lãnh đạo thật của nước ta. Tình thương của Chúa –qua suốt thời nô lệ, cuộc đấu tranh, và thành quả tự do của chúng ta và cuộc chiến của chúng ta để gìn giữ tự do và mang lại ‎y’ nghĩa cho tự do – đã thành mới mỗi buổi sáng. Khi chúng ta đau đớn, Ngài đã gọi:

    “Hãy đến với ta, tất cả các con những người nhiều gánh nặng trong lòng, và ta sẽ cho các con được nghỉ ngơi…”

Và thuở chúng ta tìm được an bình trong tâm với quyết tâm mới, và bước khỏi vòng nô lệ với kẻ thù bủa vây tứ phía, Ngài đã bảo đảm với chúng ta là nếu Ngài ở cùng chúng ta, không ai có thể thắng chúng ta. Và bây giờ khi chúng ta chiến đấu chống kẻ thù bên ngoài, và kẻ thù trong chúng ta, lời hứa vẫn còn đó không lung lay:

    “Hãy tìm trước hết Nước Chúa và sự công chính của Chúa, và tất cả những điều này sẽ được trao tặng cho con.”

Và ngay cả trong sự tìm kiếm ngập ngừng của ta, Ngài cũng bảo đảm với chúng ta rằng ai sốt sắng trong sự tìm kiếm sẽ “tìm thấy”, và cửa sẽ mở; vì chỗ nào chúng ta yếu, Ngài mạnh.

Vì vậy, lập đi lập lại, chúng ta tạ ơn Giêsu, Chúa chúng ta. Chúng ta tạ ơn Ngài đã có mặt khi chúng ta kêu cầu trong khốn cùng. Chúng ta tạ ơn Ngài đã nâng chúng ta lên khi chúng ta mệt mỏi và nao núng. Chúng ta tạ ơn Ngài đã với tay và chụp chúng ta ngay trên bờ vực thẳm và đặt chúng ta xuống trong chiến thắng và tự do. Chúng ta tạ ơn Ngài vì lòng khoan dung của Ngài với người Phi Luật Lân. Chúng ta tạ ơn Ngài vì cơ hội để gặp gở cầu nguyện sáng nay và hân hoan với sự có mặt của Ngài. Vì Chúa Giêsu đã hứa bất kỳ nơi nào và lúc nào hai hay ba người họp lại trong tên Ngài, Ngài cũng sẽ có mặt ở đó.

Chúng ta hãy dùng cơ hội này để đếm các ân phước chúng ta đã có, dù là chúng ta vẫn dám xin thêm. Nhưng chúng ta không bao giờ nên quên công đức thuộc về Ai — và Ai là người chúng ta nên tin vào. Như tông đồ Phaolô viết cho các tín hữu hãnh diện của thành Corinth:

    “Nhưng Chúa Trời đã chọn những ngớ ngẩn của thế giới để làm hổ thẹn người thông thái. Ngài chọn những yếu kém của thế giới để làm xấu hổ người mạnh mẽ, để không ai có thể khoe trương trước mặt Ngài. Bời vì chỉ từ Chúa Trời mà chúng ta có sự sống qua Chúa Giêsu Christ, người đã làm cho chúng ta thành chấp nhận được đối với Chúa Trời. Vì vậy, như lời đã viết, “Hãy để ai khoe trương, khoe trương trong tên Chúa.”

Chúng ta hãy hãnh diên sáng nay trong Chúa cao cả, Chúa của chiến thắng và tự do của chúng ta. Tôi biết rằng mỗi người chúng ta có gánh nặng và những thử thách riêng khi chúng ta làm việc để làm mới quê hương và đồng bào ta. Nhưng chúng ta có thể mang trong lòng những dòng này từ một bản nhạc ngợi ca, viết ra để diễn tả chúa Giêsu, Chúa và là Khách Danh Dự của chúng ta trong buổi họp mặt hôm nay:

    “Nếu Ngài mang gánh nặng của cả thế giới trên vai Ngài, tôi biết, hỡi các anh chị em, là Ngài cũng sẽ mang các anh chị em.”

Cám ơn các bạn và chúc các bạn một buổi sáng đẹp.

(Trần Đình Hoành dịch)

.

Remarks of President Corazon C. Aquino, President of the Republic of the Phillipines, at National Prayer Breakfast, Dec. 11, 1986

“In the past months, in times of danger and crisis, we have prayed for our Lord’s mercy, intervention, blessing and grace. Despite or failings, He has always answered. As the Prophets would marvel:

    ‘The Lord’s loving kindnesses indeed never cease; His compassion never fails; they are new every morning…’

coryaquinopeoplepower
I therefore would like to take this opportunity to thank our Lord Jesus Christ, who is our Savior and our strength, our Guide and the true Leader of our nation. His compassion – thoughout our bondage, our struggle, out attainment of freedom and out battle to keep and give it meaning—has been new every morning. As we suffered, He called to us:

    ‘Come to me, all of you who are heavily laden, and I will give you rest.’

And as we found inner peace through our new resolve, and marched away from slavery with the enemy on every side, He assured us that if He was with us, no one could prevail against us. And now as we battle the enemy without, and the enemy within ourselves, the promise is there unwavering:

    ‘Seek you first the Kingdom of the God and His righteousness, and all these things will be added unto you.’

And even in our uncertain seeking, He assures us that thoese who are earnest in their search shall ‘find’, and the doors will be opened; for where we are weak, He is strong.

And so, again and again, we thank Christ our Lord. We thank Him for being there when we called in our distress. We tahnk Him for holding us up when we were tired or faltered. We thank Him for reaching out and snatching us from the edge of the precipice and setting us down in triumph and freedom. We thank Him for His mercy upon Filipinos. And we thank Him for the opportunity to gather in prayer this morning and for the pleasure of His company. For Christ has promised that wherever and whnever two or three are gathered together in His name, He will also be there.

Let us take this opportunity to count our blessings, even as we dare to ask for more. But let us never forget to Whom the credit should go – and in Whom we should trust. As the Apostle Paul wrote to the proud Corinthians:

    ‘But God chose the foolish things of the world to shame the wise; He chose the weak things of the world to shame the strong so that no one may boast before Him. For it is from God alone that we have life through Jesus Christ, who made us acceptable to God. Therefore, as it is written, “Let him who boasts, boast in the Lord.”’

May we thus take pride this morning in the greatness of our God, the God of our victory and freedom. I know we each carry our burdens and face our individual trials as we work for the renewal of our land and our people. But we may take heart in these lines froma contemporary song of praise written to describe Christ, our Loard and Honored Guest of this morning’s gathering:

    ‘If He carried the weight of the world upon His shoulders, I know, dear brothers and sisters, that He will carry you.’

Thank you and good morning.”

Kể với mình nhiều hơn đi — Về nghệ thuật nghe tinh diệu

Chào các bạn,

Hôm nay mình giới thiệu với các bạn một bài viết dài lắm, bốn trang in A4 về nghệ thuật nghe của chị Brenda Ueland, tác giả của cuốn sách nổi tiếng – “If You Want to Write: A Book about Art, Independence and Spirit” về viết và sáng tạo.

Cuốn sách mà nhà văn Mỹ Carl Sandburg gọi là “the best book ever written on how to write.”

Viết, sáng tạo, theo cách chị Brenda gọi là “Try to discover your true, honest, untheoretical self”.

Viết thoải mái, viết thư giãn, viết thả lỏng, viết vui vẻ. Không có gì phải nghiêm trọng. Viết, đơn giản là thấy có gì hay, có gì đẹp, có gì có ích thì viết để chia sẻ với các anh chị em thôi.

Viết không có ai đọc cũng được, không có ai khen cũng được, không có ai trả tiền cũng được, đơn giản là vì ưa thích. Có khi, 20 năm sau người ta thấy ở tác phẩm, lạc thị hiếu tạm thời của 20 năm trước, những giá trị sống mãi với thời gian sau đó.

Sau khi đọc hết mấy chương của cuốn sách, mình rất thích nên lên mạng tìm kiếm thêm thông tin về chị Brenda. Khi đọc trang wikipedia về chị, mình tim thấy bài viết về nghệ thuật nghe rất hay này.

Chúc các bạn một ngày tuyệt vời,

Hiển.

.

Kể với mình nhiều hơn đi
Về nghệ thuật nghe tinh diệu

    Brenda Ueland

ListeningToTheBird

Tôi muốn viết về điều vĩ đại và mạnh mẽ của lắng nghe thực sự. Và chúng ta lãng quên chuyện đó như thế nào. Và chúng ta không nghe thấy con cái chúng ta, hay những người ta yêu thương như thế nào. Và điều ít nói đến nhất – điều cũng thật là quan trọng – lắng nghe những người ta không yêu thích. Nhưng chúng ta nên lắng nghe. Bởi lắng nghe là một điều kỳ lạ và đầy hấp lực, một lực sáng tạo. Nghĩ thế nào, nhưng những người bạn thực sự lắng nghe chúng ta là những người chúng ta đến gần, và chúng ta muốn ngồi trong bán kính của họ, như thể như vậy là tốt cho ta, như những tia cực tím.

Đây là lý do: khi chúng ta được lắng nghe, sự lắng nghe sáng tạo ra chúng ta, khiến ta hé mở và trải rộng ra. Những ý tưởng bắt đầu lớn lên trong lòng chúng ta và đi đến sự sống. Bạn biết thế nào mà khi một người cười với câu đùa của bạn, bạn trở nên hài hước và hài hước thêm, và nếu anh ý không cười, mọi chút đùa vui bé tí trong bạn yếu đi và chết. À, đấy là nguyên lý của vấn đề. Mọi người hạnh phúc và tự do khi được lắng nghe. Và nếu bạn là một người lắng nghe, đó là bí mật để có một thời gian hạnh phúc trong xã hội (bởi mọi người quanh bạn trở nên sống động và thú vị), làm người khác yên ổn, làm người khác tốt đẹp.

Ai là những người bạn đến để xin lời khuyên? Không phải đến những người cứng rắn, thực tế, người có thể nói với bạn chính xác điều cần làm, mà đến những người lắng nghe; đó là, những người tử tế nhất, ít chỉ trích nhất, ít ông chủ nhất mà bạn biết. Đó bởi vì khi rót vấn đề của bạn ra cho họ, tự chính bạn sẽ biết làm gì với vấn đề đó.

Khi chúng ta lắng nghe người khác, có một dòng điện xoay chiều, và dòng điện này sạc điện chúng ta, và chúng ta không bao giờ cảm thấy mệt vì nhau. Chúng ta luôn luôn được tái tạo. Bây giờ, có những người xuất chúng, nhưng không thể lắng nghe được nhiều. Họ không có đường dây chạy vào trên cỗ máy của họ. Họ rất vui thú, nhưng cũng làm kiệt sức. Tôi nghĩ đến những người giảng bài, những người trình diễn thật xuất sắc, bằng cách không cho chúng ta một cơ hội để nói, không để cho chúng ta diễn tả ý nghĩ và lớn lên. Chính dòng suối sáng tạo nhỏ bé trong chúng ta bắt đầu lớn lên và cân nhắc những ý tưởng mới, với những nụ cười và trí tuệ bất ngờ.
art-conversation
Dòng suối sáng tạo nhỏ bé này ở trong mỗi chúng ta. Đó là linh hồn, hay trí thông minh, hay trí tưởng tượng – dù bạn gọi nó với tên nào. Nếu bạn rất mệt mỏi, căng thẳng, không có thời gian một mình, làm nhiều việc vặt quá, nói với quá nhiều người, uống quá nhiều rượu, dòng suối nhỏ bé này bị vẩn đục và bị che phủ bởi rác rưởi. Kết quả là bạn dừng lại không sống từ trong tâm, tức là dòng suối sáng tạo, và bạn sống trên vùng chu vi, từ những thứ bên ngoài. Đó là, bạn tiếp tục chỉ dựa thuần túy trên lực của ý trí mà không có trí tưởng tượng.

Khi người khác lắng nghe chúng ta, với sự chú ý yên lặng và cuốn hút, dòng suối nhỏ bé đó mới bắt đầu làm việc lại, tăng tốc lên theo một cách bất ngờ.

Tôi khám phá ra điều này khoảng ba năm về trước, và thực sự nó tạo ra một thay đổi mang tính cách mạng trong cuộc sống của tôi. Trước đó, khi tôi đi đến một bữa tiệc, tôi nghĩ một cách bồn chồn, “Bây giờ cố gắng thật nhiều. Sống động lên. Nói những điều thật sáng. Nói. Không nghỉ.” Và khi mệt rồi, tôi phải uống thật nhiều café để giữ phong độ.

Bây giờ trước khi đi đến một bữa tiệc, tôi đơn giản bảo với chính mình là lắng nghe với sự yêu mến tới bất kỳ ai nói chuyện với tôi, đứng trong đôi giầy của họ khi họ nói, cố biết về họ mà không để trí óc tôi áp đặt trí óc họ, hay tranh luận, hay đổi chủ đề. Không, thái độ của tôi là “Kể với mình nhiểu hơn đi. Người này đang cho tôi thấy tâm hồn của anh ấy. Cuộc nói chuyện có một chút khô khan, và nhàm và trệu trạo bây giờ, nhưng hiện thời anh ấy bắt đầu nghĩ, không chỉ tự động nói. Anh ấy sẽ trình bày con người thật của chính anh ấy. Rồi anh ấy sẽ sống động một cách tuyệt vời”.

Đôi khi, tôi không thể lắng nghe cũng như những người khác. Nhưng khi tôi có năng lực lắng nghe này, người ta quây lấy tôi và đầu họ hướng về phía tôi như thế bị kéo không thể cưỡng lại nổi. Không phải bởi mọi người tự cao và họ muốn khoe khoang mà họ bị kéo về phía tôi. Đó bởi vì bằng cách lắng nghe, tôi đã kích hoạt dòng suối sáng tạo của họ. Tôi làm họ hạnh phúc.
listening
Bây giờ, tại sao lắng nghe làm họ hạnh phúc? Tôi có một khái niệm huyền bí về chuyện này. Tôi nghĩ chỉ bằng cách biểu cảm ra ngoài tất cả những gì ở trong mà những dòng suối trong trẻo hơn và trong trẻo hơn chảy đến. Cũng như vậy với viết lách. Bạn được dạy ở nhà trường là viết xuống giấy những điều tươi sáng. Sai. Đổ xuống giấy những thứ tẻ nhạt nữa – bạn sau đó có thể xé chúng đi – bởi chỉ khi đó những điều tươi sáng mới tới. Nếu bạn giữ lại những điều tẻ nhạt, bạn cũng chắc chắn giữ lại những điều trong trẻo, đẹp đẽ và chân thật và sống động. Cũng như vậy với những người không được lắng nghe theo cách đúng – với sự yêu mến và một chút hứng khởi vui vẻ. Dòng suối sáng tạo của họ đã bị đóng kín. Chỉ những câu nói hời hợt đi ra ngoài – nhưng cái khách sáo hay tuôn trào hay thuần túy bồn chồn. Chẳng ai đã kêu chúng ra ngoài, bằng lắng nghe tuyệt vời, những cái chân thật và sống động.

Tôi nghĩ phụ nữ có năng lực lắng nghe tốt hơn nam giới. Đấy không phải là lỗi của nam giới. Họ thua về lắng nghe bởi thói quen lâu dài của họ trong nỗ lực kinh doanh, xác định bản thân. Và những người đàn ông càng mạnh mẽ, càng ít hơn khả năng lắng nghe khi họ lớn tuổi. Và đó là tại sao phụ nữ nói chung vui vẻ hơn nam giới, thư thái hơn và hứng khởi hơn.

Bây giờ, khả năng không lắng nghe được của những người đàn ông có năng lực là nguyên nhân của những điều buồn rầu nhất trên thế giới – sự cô đơn của những người cha, của những người đàn ông trầm lặng buồn, người di chuyển quanh những đứa con đã trưởng thành như những bóng ma xa xôi. Khi cha tôi hơn 70 tuổi, ông là một người đàn ông rực lửa, hài hước và đáng ngưỡng mộ, một học giả, một người đàn ông đầy uy lực. Nhưng ông nằm sâu thẳm trong nỗi cô đơn của tuổi giả và của một thế hệ khác. Ông ấy rất thích tôi. Nhưng ông ấy không thê nghe thấy tôi – không từ nào tôi nói ra, thật đấy. Tôi chỉ là một khán giả. Tôi có thể quanh hồ với ông vào một buổi chiều đẹp và ông có thể nói với tôi về Đác uyn và Huxley và những phê phán cấp cao về Kinh Thánh.

“Vâng, con thấy rồi, con thấy rồi” tôi liên tục nói vậy và cố giữ cho trí óc níu chặt vào điều đó, nhưng tôi bồn chồn và chán. Có một cảm giác không thể làm gì khác được bởi vì ông không thể nghe thấy cái tôi có để nói về chủ đề nói chuyện. Khi tôi nói tôi thấy chính tôi la to, như một người nói với một người nước ngoài, và trong một trạng thái kiểu tuyệt vọng rằng ông không thể nghe thấy tôi. Sau chuyến đi dạo, tôi cảm thấy rằng tôi đã rũ xong trách nhiệm và tôi háo hức muốn để ông ổn định và ngồi tựa trên chiếc ghế kiểu Morris của ông, để tôi có thể đi ra ngoài và có một thời gian sống động hơn với những người khác. Và ông thở dài và nhìn theo tôi lơ đãng với sự cô đơn không hiểu rõ được.
listening1
Gần đây, một người đàn ông tôi không gặp tới 20 năm nay viết thư cho tôi: “Chú có một gia đình với những đứa con trưởng thành cả. Cũng như cha cháu đã có. Những đứa con chẳng bao giờ gặp ông ấy. Không phải trong những ngày ông còn sống. Không phải trong những ngày ông là người đàn ông sâu sắc và đáng ngưỡng mộ và chúng ta đều biết. Đó là cuộc đời của đàn ông. Lần sau cháu gặp chú, cháu sẽ biết mọi chuyện. Đơn giản là đến với cha cháu lần nữa, cố với tới, trở lại với thế giới của những người ông yêu.”

Vậy khi tôi gặp lại người đàn ông này, điều gì đã xảy ra với ông sau 20 năm? Ông là một người đàn ông mạnh mẽ một cách không bình thường và đã kiếm được rất nhiều tiền. Nhưng ông đã mất khả năng lắng nghe. Ông nói nhanh và kể những câu chuyện tuyệt vời và thật tuyệt làm sao khi được nghe chúng. Nhưng khi tôi nói – vì không thể ngồi yên được, “Cháu truyền tay cho chú cái đó chứ?… Cái tẩu của chú đâu?” Đó chỉ là một thói quen. Ông đọc nhiều sách không kể xiết và hào hứng đón nhận những ý tưởng mới, nhưng ông đơn giản không thể lắng nghe ai.

Vậy đây là điều tôi làm. Tôi đã kiên nhẫn hơn – tôi không kháng cự bài nói chuyện một chiều của ông như tôi làm với bố tôi. Tôi lắng nghe và lắng nghe ông, không khi nào ấn ngược lại ông, ngay cả trong ý nghĩ, với sự xác nhận của tôi, tôi nói với chính mình “Ông ấy đã ở dưới áp lực đẩy lái hàng năm ròng. Gia đình ông đã chống lại cách nói của ông. Nhưng bây giờ, bằng cách lắng nghe. Mình sẽ kéo tất cả ra khỏi ông. Ông phải nói tự do liên tục và liên tục. Khi ông đã được thực sự lắng nghe đủ đầy, ông sẽ trở nên thanh tĩnh hơn. Ông sẽ bắt đầu muốn nghe thấy tôi.”

Và ông đã, sau vài ngày. Ông bắt đầu đặt câu hỏi cho tôi. Và chỉ ngay sau đó tôi nói nhẹ nhàng, ‘Chú thấy đấy, đã trở nên khó để chú lắng nghe”.

Ông ngừng lại chết cứng và trừng mắt nhìn tôi. Và bởi vì tôi đã lắng nghe với sự thông cảm hoàn toàn, bị thu hút hoàn toàn, không chỉ trích, không có chút dấu vết nào của sự chán hay thiếu kiên nhẫn, mà ông bây giờ tin tưởng và tin cậy tôi, mặc dù ông không biết điều này.

“Nói đi”, ông nói. “Kể với chú về điều đó. Nói với chú về điều đó”.

À, chúng tôi đi dạo tới dạo lui qua bãi cỏ và tôi nói với ông ý kiển của tôi về chuyện này.

“Chú yêu các con chú, nhưng có lẽ chú không để chúng vào lòng. Trừ khi chú lắng nghe, mọi người bị khô héo đi trong sự hiện diện của chú; họ trở nên một phần ba của chính họ. Trừ khi chú lắng nghe, chú không thể biết ai cả. Ồ chú sẽ biết về những dữ kiện và những gì trên báo và tất cả lịch sử, có lẽ, nhưng chú sẽ không biết một con người nào cả. Chú biết đấy, cháu đã đi đến chỗ nghĩ rằng lắng nghe là tình yêu, đó là điều lắng nghe thực sự là.”
artoflistening
À, tôi không nghĩ tôi đã viết bài viết này nếu những ý kiến của tôi không có một tác động khủng khiếp với người đàn ông này. Bởi ông nói những ý kiển của tôi đã thay đổi toàn bộ cuộc đời của ông. Ông viết cho tôi rằng đám con của ông ngay lập tức đến gần với ông hơn; ông kinh ngạc thấy chúng ra sao, độc đáo làm sao, độc lập và can đảm làm sao. Vợ của ông có vẻ thực sự quan tâm tới ông trở lại, và họ thực sự nói với nhau về đủ loại chuyện và làm nhau cười ồ.

Cũng như bi kịch của cha mẹ và con cái là không lắng nghe, cũng bi kịch đó với vợ và chồng. Nếu họ không đồng ý họ la hét ngày càng to hơn – nếu không ở bên ngoài, ít nhất ở trong lòng – níu chặt một cách dữ tợn và câm điếc vào ý kiến của chính họ, thay vì lắng nghe và trở nên lắng yên hơn và lắng yên hơn và chịu hiểu hơn. Nhưng kết quả nghiêm trọng nhất của không lắng nghe là điều tồi tệ nhất thế giới, buồn chán tẻ nhạt; bởi đó thực sự là cái chết của tình yêu. Nó ngăn cách con người xa nhau hơn bất kỳ điều gì khác. Tôi nghĩ đó là lý do những cặp lấy nhau cãi lộn. Cãi lộn cắt xuyên qua chuyện không giao tiếp và buồn chán. Bởi vì khi những cảm xúc bị tổn thương, họ bắt đầu thực sự lắng nghe. Cuối cùng, cuộc nói chuyện của họ là trao đổi qua lại thực sự. Nhưng tất nhiên, họ đang gây thương tích cho hôn nhân của họ mãi mãi.

Ngoài chuyện lắng nghe phê phán, có một loại lắng nghe nữa cũng chẳng tốt, lắng nghe thụ động, chỉ trích. Đôi khi những ông chồng có thể là loại người nghe này, một kiểu người nghe trộm keo kiệt, người mà trong đầu (hay nói ra ngoài) liên tục nói khi bạn nói “bùm chíu chát bùm”.

Bây giờ, lắng nghe như thế nào? Nó khó hơn bạn tưởng. Tôi không tin gì vào lắng nghe phê phán, bởi điều đó đặt một người vào chiếc áo khoác bệnh điên của sự do dự. Anh ấy bắt đầu chọn lựa từ ngữ nghiêm trọng hay chải chuốt. Dòng suối nhỏ của anh không thể tuôn trào. Những người lắng nghe phê phán làm khô héo bạn. Nhưng những người lắng nghe sáng tạo là những người muốn chính bạn mạo hiểm bất cần, ngay cả ở tình trạng xấu nhất của bạn, ngay cả chửi rủa phí báng, tâm trạng tồi tệ. Họ cười và chỉ vui vẻ với bất kỳ biểu lộ nào của chính bạn, xấu hay tốt. Bởi những người lắng nghe thực sự biết rằng nếu bạn ở tâm trạng xấu, điều đó không có nghĩa là bạn sẽ luôn như vậy. Họ không yêu bạn chỉ khi bạn dễ chịu; họ yêu tất cả của bạn.

Để học lắng nghe, đây là một số gợi ý: cố học sự thanh tĩnh, sống trong thực tại một phần thời gian mọi ngày. Đôi khi nói với chính mình, “Bây giờ, cái gì đang xẩy ra? Người bạn này đang nói. Tôi yên lặng. Có một khoảng thời gian bất tận. Tôi nghe thấy, từng câu chữ.” Và rồi bất chợt bạn bắt đầu nghe thấy không chỉ những gì người ta nói, mà những gì họ đang cố nói, và bạn cảm giác được sự thật toàn bộ về họ. Và bạn cảm giác được sự hiện hữu, không phải một mẩu, không phải đối tượng này và kia, mà như một tổng thể.

Và quan sát sự khẳng định chính mình. Và rũ bỏ nó đi. Cố đừng uống quá nhiều ly rượu cocktail đẻ bỏ đi cái năng lượng bồn chồn mà cứ cảm giác như náng lượng và trí khôn nhưng có lẽ chẳng là cái nào.Và nhớ rằng không đủ chỉ là ý chỉ muốn lắng nghe người khác. Người ta phải thực sự lắng nghe. Chỉ khi đó, phép lạ mới bắt đầu.

Đôi khi người ta không thể lắng nghe bởi vì họ nghĩ nếu họ không nói, họ chẳng là gì về mặt xã hội. Có những phụ nữ với kiểu luyện khiêu vũ ballroom cổ điển mà luôn đòi hỏi rằng phải có sự hào hứng không nghỉ và cuộc nói quay tròn. Nhưng đây thực sự là sự căng thẳng với mọi người.

Không. Chúng ta tất cả nên biết điều này: rằng lắng nghe, không phải nói, là vai trò đầy năng khiếu và vĩ đại,và vai trò đầy tưởng tượng. Và người lắng nghe thực sự đáng tin hơn nhiều, cuốn hút nhiều hơn người nói, và anh ấy hiệu quả hơn, và học được nhiều hơn và làm người khác vui tốt đẹp hơn. Và do đó thử lắng nghe. Lắng nghe vợ bạn, chồng bạn, cha bạn, mẹ bạn, con cái bạn, bạn bè bạn, nghe những người yêu quý bạn và những người không như vậy, nghe những người làm bạn chán, nghe kẻ thù của bạn. Lắng nghe sẽ tạo ra sự kỳ diệu nhỏ. Và có lẽ một sự kỳ diệu vĩ đại.

(Nguyễn Minh Hiển dịch)

Daffodils – Thủy Tiên

I don’t know exactly how and when my liking for poetry began. The seed of my love for Wordsworth and Byron must have been sowed during my collegiate days. wordsworth

“The Daffodils” is one of the best poems that Ms Hue has introduced to us. Three years passed, but the poem has stayed in my mind since the morning she recited it in our English Literature class. It has made a great impression upon me. How regretful it would be if this poem were not recommended to to the poetry buff.

“The Daffodils” known as “I Wandered Lonely As A Cloud” is a famous poem written in 1804 by William Wordsworth. Daffodils is one of the most popular poems of the Romantic Age, unfolding the poet’s excitement, love and praise for a field blossoming with daffodils. It was inspired by an April 15, 1802 event, in which Wordsworth and his sister, Dorothy, came across a “long belt” of daffodils on a walk near Ullswater Lake in England. This poem was first published in 1807, and a revised version was released in 1815.

I wander’d lonely as a cloud
That floats on high o’er vales and hills
When all at once I saw a crowd,
A host of golden daffodils,
Beside the lake, beneath the trees
Fluttering and dancing in the breeze.

Daffodils

Continuous as the stars that shine
And twinkle on the milky way,
They stretched in never-ending line
Along the margin of a bay:
Ten thousand saw I at a glance
Tossing their heads in sprightly dance.

The waves beside them danced, but they
Out-did the sparkling waves in glee:
A poet could not but be gay
In such a jocund company!
I gazed – and gazed – but little thought
What wealth the show to me had brought:

For oft, when on my couch I lie
In vacant or in pensive mood,
They flash upon that inward eye
Which is the bliss of solitude!
And then my heart with pleasure fills,
And dances with the daffodils.

Just reading the first verses, we can feel the time and space William wrote The Daffodils. The inspiration for this poem may have been drawn from a walk he took with his sister Dorothy around Lake Ullswater.

“I wander’d lonely as a cloud
That floats on high o’er vales and hills …
… Beside the lake, beneath the trees”

The poet was wandering in the forest and enjoying the fascinating nature around him, when suddenly he saw a crowd of golden daffodils by the lakeside. The daffodils appeared so beautifully that he was compelled to gaze at these flowers playing with pleasure in the wind.

His sister Dorothy later wrote in her journal as a reference to this walk: “I never saw daffodils so beautiful they grew among the mossy stones about and about them, some rested their heads upon these stones as on a pillow for weariness and the rest tossed and reeled and danced and seemed as if they verily laughed with the wind that blew upon them over the lake, they looked so gay ever dancing ever changing…”

How glorious and plentiful these daffodils were! Maybe this was also the first time he had come across such an immense field of daffodils along the shore. It was impossible for us to count them, but the author could still feel how many flowers were stretching as far as the eye can see:
daffodils 2
“Ten thousand saw I at a glance”… (Hyperbole)
“They stretched in never-ending line

Along the margin of a bay…
The figures of simile and metaphor are also subtly used and it is not very hard for us to find them in the poem. The golden daffodils were compared to the stars shining and twinkling on the galaxy; and enjoying themselves in a happy dance.

“Continuous as the stars that shine
And twinkle on the milky way…” (Simile)
Though the lake’s sparkling waves danced beautifully, the daffodils seemed to do much better than them, in its pleasure.
“The waves beside them danced, but they
Out-did the sparkling waves in glee”… (Comparison/Personification)

The poet felt happy and pleasant in the meanwhile to see golden flowers smiling in the sunshine. He put his loneliness aside and mingled with the beautiful sight. To him, the daffodil’s charm was a great gift and no fortune was as wonderful as the beauty granted by the God:
“I gazed – and gazed – but little thought
What wealth the show to me had brought”… (Metaphor) Daffodils
In the description of the daffodils, William used quite a lot of literary devices and it was these figures that helped us understand more about the vivid picture he draw and the way he connected with the nature.

“I wander’d lonely as a cloud
That floats on high o’er vales and hills…” (Simile)
“Fluttering and dancing in the breeze…” (Personification)
“Tossing their heads in sprightly dance…” (Personification)

“The waves beside them danced, but they
Out-did the sparkling waves in glee…” (Comparison/Personification)

Through characterized daffodils, we could find that nature had its own soul. William lifted him out of his soul and placed him in a higher state in which the soul of nature and the soul of man were united into a single harmony. Apparently, he felt dazed with so many daffodils around him and there was no limitation between his vision and the long belt of golden flowers.
Many years later, the daffodil’s beauty still haunted William. Whether he stayed in empty or thoughtful mood, the images of daffodils came to mind and flashed upon his inner eyes.
“They flash upon that inward eye
Which is the bliss of solitude!” (Oxymoron)
The memory of the daffodils was etched in the author’s mind and soul to be cherished forever. When he was feeling lonely, dull or depressed, he thought of the daffodils and cheered up. These flowers seemed to be emerging before him, far and wide. Then his loneliness and sorrow seemed to vanish; and he desired to dance with the daffodils.
“And then my heart with pleasure fills,
And dances with the daffodils.”

The full impact of the daffodil’s beauty (symbolizing the beauty of nature) did not strike him at the moment of seeing them, when he stared blankly at them but much later when he sat alone, sad and lonely and remembered them. Thanks to the closing of the last stanza, we can get more reason why William wrote the poem. His impression at the daffodils would never fade in his mind, and it was the amazing motivation for him.
“For oft, when on my couch I lie
In vacant or in pensive mood,
They flash upon that inward eye…”

We can point out that William’s state was changing in a slight way. He was not alone any longer, yet he probably thought that he would be stronger if he made a contrast between a lonely traveler and happy daffodils. This simple but effective way seems to take hold on us, and then each time we read this poem, we can see the harmonious beauty of the poet and the long belt of golden daffodils and enjoy their brightness.
Daffodils3

This poem helps us get into our head how much love and admiration William gives to Nature. He would like to call us to come back to the nature and enjoy it. Moreover, at any rate William could make us realize that what we feel at the beauty of golden daffodils is the way they speak to us, via their own soul.
As for me, the Daffodils has touched my soul very deeply

MỘT VÀI CẢM NHẬN VỀ BÀI THƠ “HOA THỦY TIÊN”

Tôi không biết đích xác như thế nào và khi nào tôi bắt đầu đem lòng yêu thích thơ ca. Chắc hẳn những hat giống cho tình yêu Worsdsworth và Byron… đã được gieo trong những ngày của đời sinh viên của tôi.

“Hoa Thủy Tiên” là một trong những bài thơ hay nhất mà cô Huệ đã giới thiệu cho chúng tôi. Ba năm đã trôi qua, và bài thơ vẫn còn ở trong tâm trí tôi kể từ buổi sáng mà cô đọc cho chúng tôi trong giờ Văn học Anh. Bài thơ để lại trong tôi nhiều ấn tượng sâu sắc. Thật đáng tiếc nếu không giới thiệu bài thơ này đến bạn đọc yêu thơ ca.

“Hoa Thuỷ Tiên” còn được biết đến với tên khác “Tôi Phiêu Du Như Áng Mây Trôi” là một bài thơ nổi tiếng được William Wordsworth sáng tác năm 1804. Đây là một trong những bài được yêu thích nhất của thời kỳ văn học lãng mạn, thể hiện hứng thú, tình yêu, và chiêm ngưỡng của nhà thơ trước một cánh đồng rực rỡ Thủy tiên vàng. Bài thơ được lấy cảm hứng từ một sự kiện xảy ra ngày 15 tháng Tư năm 1802, khi Wordsworth cùng chị gái mình, Dorothy, tình cờ nhìn thấy một thảm hoa Thủy tiên nhân một cuộc dạo chơi gần hồ Ullswater. Bài thơ được giới thiệu lần đầu tiên năm 1807, và được tái bản năm 1815.
ulls

Như đám mây phiêu diêu đơn độc
Trôi bồng bềnh trên thung lũng, núi đồi
Ồ phía dưới trải dài khắp muôn nơi
Hoa Thuỷ tiên nở vàng rực rỡ
Bên bờ hồ, và bên dưới tán cây
Cùng thổi sáo, khiêu vũ với gió nhẹ

Và cứ thế như sao trời toả sáng
Lấp lánh trên dòng sông Ngân bạt ngàn
Hoa trải dài xa tít tắp muôn nơi
Và bất chợt, bên bờ hồ tôi thấy
Mười nghìn hoa Thuỷ tiên vàng khoe sắc
Uốn mình theo điệu vũ luân sống động

Bên Thuỷ tiên, từng con sóng nhảy múa
Thủy tiên càng toả sáng trong hân hoan
Một bài thơ không thể tả hết lời
Nhưng niềm vui bên bạn bè – có thể
Tôi ngắm nhìn và rồi chợt nghĩ đến
Điều tuyệt vời bên Thủy tiên đem lại

Và mỗi tối khi nằm trên trường kỷ
Khi lơ đãng hay lúc trầm tư
Thuỷ tiên lại hiện về trong tâm trí
Đó chính là niềm vui trong cô đơn
Và khi ấy tim tôi tràn cảm xúc
Nhảy múa cùng những đoá Thuỷ tiên xinh.

Đọc những khổ thơ đầu tiên, ta có thể cảm nhận được khoảng thời gian và không gian William viết bài thơ “Hoa Thủy Tiên” này. Cảm hứng bài thơ có thể từ một lần dạo chơi cùng người chị gái Dorothy bên hồ Ullswater.
“Như đám mây phiêu diêu trong đơn độc
Trôi bồng bềnh trên thung lũng, núi đồi….
…..Bên bờ hồ, phía dưới những tán cây”
Daffodils.5jpeg

Khi đang thơ thẩn trong rừng và ngắm nhìn cảnh đẹp tuyệt quanh mình, chợt người thi sĩ nhìn thấy một thảm hoa Thuỷ tiên vàng cạnh hồ nước. Hoa Thuỷ tiên đẹp đến nỗi nhà thơ phải đứng lại ngắm nhìn nhứng đóa hoa này hòa mình trong gió.

Chị gái William, Dorothy, sau này đã ghi lại trong nhật ký như một gợi nhớ rằng: “Tôi chưa từng thấy những đoá hoa Thuỷ tiên nào đẹp đến vậy. Chúng mọc xen kẽ nhau giữa những tảng đá phủ đầy rêu, một vài bông hoa ngả cánh lên những phiến đá ấy như thể đang tựa đầu vào gối để xua đi sự mệt mỏi, những đóa khác thì tung mình uốn lượn, nhảy múa như thể chúng cười đùa với những cơn gió thoảng trên mặt hồ, những bông hoa trông thật vui vẻ, cứ mãi nhảy múa, cứ mãi rập rờn…”

Những bông Thuỷ tiên ấy thật là rực rỡ và nhiều biết bao! Cũng có thể đây là lần đầu tiên nhà thơ bắt gặp một cánh đồng hoa Thuỷ tiên rộng thênh thang, trải dài theo bờ hồ đến vậy. Thật không thể đếm nổi bao nhiêu bông hoa, nhưng tác giả vẫn cảm nhận được thảm hoa ấy trải dài bất tận phía chân trời xa.

“Và bất chợt, bên bờ hồ tôi thấy
Mười nghìn hoa Thuỷ tiên vàng khoe sắc (Cường điệu hoá)
Uốn mình theo điệu vũ luân sống động”

Phép so sánh và ẩn dụ cũng được tác giả sử dụng thật tinh tế, và chẳng khó cho ta tìm thấy trong bài thơ này. Những bông Thuỷ tiên vàng được ví như những vì sao toả sáng lấp lánh trên dải ngân hà, đắm mình trong vũ điệu hạnh phúc.

” Và cứ thế như sao trời toả sáng
Lấp lánh trên dòng sông Ngân bạt ngàn” (phép so sánh)

Dẫu những con sóng lóng lánh/bạc đầu của mặt hồ khiêu vũ đã đẹp rồi, nhưng dường như hoa Thuỷ tiên còn tuyệt hơn thế nữa, trong niềm hân hoan của mình,
“Bên Thuỷ tiên, từng con sóng nhảy múa
Thủy tiên càng toả sáng trong hân hoan” (sự so sánh và nhân hoá)

Thi nhân cũng cảm thấy thật hạnh phúc và dễ chịu khi ngắm nhìn những đóa thuỷ tiên vàng hàm tiếu dưới ánh nắng mai, và gạt nỗi trống trải sang một bên để hoà mình vào cảnh đẹp. Với nhà thơ, vẻ đẹp của hoa Thuỷ tiên là một món quà tuyệt vời và không có tài sản nào tuyệt vời bằng món quà mà Chúa đã ban tặng cho:

Tôi ngắm nhìn và rồi chợt nghĩ đến
Điều tuyệt vời bên Thủy tiên đem lại

Khi miêu tả những bông hoa thuỷ tiên, William đã sử dụng rất nhiều các biện pháp tu từ và chính những biện pháp này giúp chúng giúp ta hiểu sâu hơn về bức tranh rực rỡ mà tác giả phác họa cũng như cách nhà thơ giao tiếp/hòa mình với thiên nhiên

“Như đám mây phiêu diêu trong đơn độc
Trôi bồng bềnh trên thung lũng, núi đồi” (So sánh)
Cùng thổi sáo, khiêu vũ với gió nhẹ (nhân hoá)
“Bên Thuỷ tiên, từng con sóng nhảy múa
Thủy tiên càng toả sáng trong hân hoan” (so sánh/nhân hoá)

Qua những bông hoa Thuỷ tiên được nhân cách hóa, ta có thể nhận ra rằng thiên nhiên mang tâm hồn riêng của mình. William đã thoát ra khỏi tâm hồn và đặt mình vào một trạng thái cao hơn, nơi mà ở đó hồn thiên nhiên và hồn người như được hòa quyện vào nhau. Dường như là, nhà thơ cảm thấy mê hồn bởi quá nhiều bông hoa Thuỷ tiên quanh mình và không có giới hạn nào giữa tầm nhìn của nhà thơ với thảm hoa vàng rực rỡ đấy.

Nhiều năm về sau, vẻ đẹp của hoa Thuỷ tiên vẫn ám ảnh William. Dẫu cho có cảm thấy trống vắng hay trầm tư, nhưng hình ảnh của hoa Thuỷ tiên vẫn hiện lên trong tâm trí và loé sáng trong con mắt tâm tưởng nhà thơ.
Cô đơn phiền muộn dường như tan biến, rồi nhà thơ trở nên khao khát múôn được khiêu vũ cùng với Thuỷ tiên vàng
Thuỷ tiên lại hiện về trong tâm trí
Đó chính là niềm vui trong cô đơn!” (phép nghịch hợp)

Daffodils.6, pg

Kí ức về hoa thuỷ tiên đã khắc sâu trong tâm trí và tâm hồn nhà thơ và mãi mãi được ấp ủ. Khi cảm thấy cô đơn, buồn bã hay tuyệt vọng/chán chường, tác giả lại nghĩ đến hoa thuỷ tiên và cảm thấy vui trở lại. Những bông hoa ấy dường như hiện lên trước mắt ông, rộng mênh mông. Nỗi cô đơn và phiền muộn dường như tan biến, và nhà thơ lại muốn nhảy múa cùng những đóa thủy tiên.
“Và khi ấy tim tôi tràn cảm xúc
Nhảy múa cùng những đoá thuỷ tiên xinh.”
Tác động trọn vẹn của vẻ đẹp của hoa Thuỷ tiên (tượng trưng cho vẻ đẹp của thiên nhiên) thực ra không gây ấn tượng với thi sĩ ngay khoảnh khắc nhìn thấy chúng, khi ông ngắm nhìn sững sờ, mà là những lúc tác giả ngồi một mình, cô đơn và nhớ về hoa Thủy tiên. Nhờ khổ thơ cuối, ta có thể hiểu lý do William viết nên bài thơ này. Ấn tượng về hoa Thủy tiên sẽ không phai mờ trong tâm trí, và đấy cũng là một thôi thúc tuyệt vời đối với nhà thơ.

Và mỗi tối khi nằm trên trường kỷ
Khi lơ đãng hay lúc trầm tư
Thuỷ tiên lại hiện về trong tâm trí

Có thể thấy rằng tâm trạng của William đang thay đổi một cách nhẹ nhàng. Dù không còn thấy cô đơn nữa, nhưng nhà thơ vẫn nghĩ rằng mình sẽ mạnh mẽ hơn nếu tạo ra sự tương phản giữa người lữ hành cô đơn với những đoá hoa thuỷ tiên hạnh phúc. Biện pháp đơn giản nhưng đầy hiệu quả này dường như có tác động lớn đến chúng ta, và mỗi khi đọc bài thơ, ta có thể cảm nhận vẻ đẹp hài hoà của nhà thơ và thảm thuỷ tiên vàng; và tận hưởng vẻ rực rỡ đấy.
Bài thơ giúp ta nhận ra tình yêu và lòng ngưỡng mộ mà William dành cho thiên nhiên phong phú và sâu đậm biếtdường nào. Nhà thơ kêu gọi ta hãy trở về và tận hưởng thiên nhiên. Hơn nữa, ở một mức độ nào đấy, William giúp ta nhận thấy rằng những gì chúng ta cảm nhận về vẻ đẹp của những bông hoa thuỷ tiên vàng chính là cách những bông hoa nói chuyện với chúng ta, bằng chính tâm hồn mình.

Với riêng tôi, bài thơ đã chạm vào cõi sâu thẳm trong hồn tôi

Viên Hy

Giải phóng khỏi nghèo đói

Chào các bạn,

Nếu tin nước Mỹ giàu có, mọi người có mức sống cao và điều kiện làm việc tốt, thì có lẽ phim ảnh chưa chiếu kỹ vào một góc trong mỗi thành phố lớn của Mỹ, vùng người nghèo và nhiều nguy hiểm về an ninh.

Những khu nhà ổ chuột và các tổ chức Mafia trong khu Harlem của New York, nơi cảnh sát không màng tới, đơn giản vì không có lợi ích đô la gì từ việc trông nom họ.
clintonandbryant
Nếu không có cơ hội khác, những người ở một góc thành phố New Haven, Connecticut tiếp tục sống bằng nghề điếu hút và kinh doanh điếu hút. Một chiếc xe ô tô đỗ rất nhanh trước cửa một căn nhà ở phố Lilac, một trao đổi ngắn chừng 3 phút và chiếc xe đó phóng đi.

Xóm liều ở Thanh Nhàn và những người trở về từ các nhà tù của Việt Nam?

Những người nghèo đó cần tiếp sức để đi vào dòng chảy chung của xã hội, họ cần lửa và ánh sáng của hy vọng để nhấc đi ám ảnh tinh thần què quặt, họ cần ai đó đưa họ ra phía ánh sáng, cho họ niềm tin.

Ánh sáng đó đến từ những tấm gương người thực việc thực, nhìn thấy được của người thân, của bạn bè, của bạn, của tôi.

Họ cần cơ hội để làm lại cuộc đời tù tội. Cần giáo dục. Cần vay tiền để mở mang làm ăn, cần việc làm, cần giới kinh doanh nhìn họ như một thị trường tốt và đầu tư vào họ. Cần ai giúp họ nhìn thấy những giấc mơ bên ngoài cửa sổ và đặt vào tay họ chiếc xẻng cuốc đất.

Sau một vụ ẩu đả dân sự ở Los Angeles năm 1992, nhà khởi nghiệp trẻ John Hope Bryant đã thành lập tổ chức Operations Hope để cung cấp các công cụ kinh tế và dịch vụ để tiếp năng lực cho những người nghèo, tạo ra dòng hy vọng chảy liên tục trong cộng đồng.

Liên tục cho đến nay, anh John và Operations Hope đã có tác động rất lớn vào xã hội Mỹ, và được cựu tống thống Bill Clinton đề cao trong cuốn sách “Giving, How each of us can change the world” của ông. Có lẽ chúng ta sẽ quay lại với Operations Hope vào một dịp khác.

Hôm nay, mình giới thiệu với các bạn bản sứ mệnh của anh John Hope, người sáng lập và CEO của tổ chức Operations Hope. Anh John có tầm nhìn thật sáng và hiểu sâu sắc về người nghèo.

Dưới bối cảnh nhiều người thất nghiệp và kinh tế thế giới hiện nay, có lẽ chúng ta lại càng thấm thía thông điệp này của anh John hơn. 🙂

Nghèo khác với không có tiền. Và một cánh tay kéo người khác lên, chứ không chỉ một cánh tay cho cứu trợ xã hội.

Chúc các bạn một ngày tiếp lực,

Hiển.

.

Giải phóng khỏi nghèo đói
bryant
Có một sự khác biệt giữa không có tiền và nghèo. Không có tiền là một tình trạng kinh tế tạm thời, nhưng nghèo là một cái khung trí óc tê liệt hóa và một trạng thái kiệt quệ của tinh thần của bạn, và bạn phải thề không bao giờ bị nghèo nữa.

Tầm nhìn của tôi cho những người nghèo, thiếu phục vụ, và những người không có tiền của thế giới là giúp họ thấy chính họ — khác đi. Chúng ta có thể làm điều này bằng cách giúp đưa họ ra ánh sáng, giáo dục, truyền năng lực, và cuối cùng là khơi cảm hứng cho họ. Giúp họ trở thành “những người mơ ước, với xẻng trong chính đôi bàn tay của họ”, trích lời bạn tôi, tiến sĩ Dorothy Height.

Nhìn thấy chính họ như là con người thật của họ; giàu có về tinh thần. Như là tài sản, và không phải là những khoản nợ trên bản thanh toán toàn cầu của thế giới.

Bởi vì, tôi đã thấy, thấy đi thấy lại, rằng nếu cho một lựa chọn với đầy đủ thông tin, những người nghèo không muốn nhận bố thí, mà đơn giản là một bàn tay kéo lên. Họ muốn nhân phẩm đến từ việc tự lo lắng cho mình.

Giáo dục là công cụ xóa nghèo đói tối hậu, và khi bạn biết tốt hơn, bạn sẽ làm tốt hơn.
bryant2
Đi từ quyền dân sự tới quyền tiền bạc. Từ cùng hòa hợp (đen trắng) tại quầy ăn trưa, tới cùng hòa hợp với những đồng đô la.

Những cộng đồng nghèo, khắp thế giới, đại diện cho những thị trưởng đang lên của thế giới. Một người có thế tạo ra sự khác biệt, và chúng ta là người đó. Chúng ta có trách nhiệm với thế giới chúng ta đang sống, bởi vì thực sự đó là thế giới chúng ta tạo ra. Một chút hy vọng có thể tạo ra sự khác biệt.

.

John Hope Bryant Mission Statement

“There is a difference between broke and being poor. Being broke is a temporary economic condition, but being poor is a disabling frame of mind and a depressed condition of your spirit, and you must vow to never, ever be poor again.”
bryant1
My vision for the poor, the under-served, and the wealthless of the world is to help them see themselves — differently. We can do this by helping to expose, to educate, to empower, and ultimately to inspire them. To help them become “dreamers, with shovels in their own hands,” quoting my friend Dr. Dorothy Height.

To see themselves for what and who they truly already are; rich in spirit. Assets, and not liabilities on the world’s global balance sheet.

Because, I have seen, time and again, that given an informed choice, the poor do not want a hand out, but simply a hand up. They want the dignity that comes from doing for self.

That education is the ultimate poverty eradication tool, and when you know better, you tend to do better.

Moving from civil rights to silver rights. From integrating the lunch counter, to integrating the dollar too.

That low-wealth communities, the world over, represent future emerging markets waiting to be born. That one person can make a diference, and we are that one person. That we are all accountable and responsible for the world we live in, because it is literally the world we create. A little hope can make the difference.

John Hope Bryant
Chairman, Chief Executive Officer