Thanh Niên – Việc khai quật một cách có hệ thống và trên diện rộng trong năm 2012 đã chỉ ra được kiến trúc kinh thành rõ nét, mở ra cơ hội tìm chính điện Thành nhà Hồ.
VnExpress – Trong cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, mẹ Tân đã chèo đò, đưa hàng chục nghìn lượt bộ đội, vũ khí qua sông an toàn. Bức ảnh đen trắng chụp mẹ Tân gầy gò đang cầm chắc tay chèo đã đi vào lịch sử.
Mẹ Tân tái hiện động tác chèo đò khi thăm lại Bảo tàng quân khu 4. Ảnh: Hữu Hoành.
Đưa tay chỉ vào bộ mái chèo trưng bày trong Bảo tàng quân khu 4, anh Nguyễn Hữu Hoành, cán bộ bảo tàng kể về huyền thoại chiếc mái chèo cùng những ngày chở bộ đội và lương thực qua sông của mẹ Nguyễn Thị Tân (101 tuổi) ở xã Đặng Sơn, huyện Đô Lương (Nghệ An). Continue reading Cuộc đời người mẹ lái đò trên sông Lam→
Tuổi Trẻ – “Áo mẹ cơm cha/ Một đời không trả hết/ Chính mẹ cha đã dạy cho trái tim con biết/ Thế nào là tình yêu giữa những người nghèo… Con đã thấy trên đường đi về phía trước
Nghìn hố sâu ngăn cách vô cùng/ Mỗi người dân mang một chiếc cùm/ Khản cổ kêu gào áo cơm dân chủ…”.
Sách vừa được NXB Trẻ ấn hành quý IV-2012 – Ảnh: L.Đ.
Những vần thơ của anh Lê Văn Nuôi ngày nào viết trong khám Chí Hòa vừa được tìm thấy, trở thành nội dung tươi mới thời sự trong tập ký Sài Gòn dậy mà đi, do NXB Trẻ tái bản từ lần in năm 2000. Continue reading Sài Gòn dậy mà đi→
TĐH: Nhân ngày Quốc Khánh, mời các bạn đọc lại bài này trong loạt bài “Các diễn văn làm thay đổi thế giới”, để ôn lại một đoạn lịch sử đầu tranh cho độc lập của tổ quốc.
Các bạn thân mến,
Bài tuần này là 1 bài rất đặc biệt vì chúng ta sẽ tìm hiểu 3 bài diễn văn của Chủ tịch Hồ Chí Minh liên quan đến công cuộc chiến đấu dành độc lập và tìm kiếm hòa bình của dân tộc Việt Nam. Tiến trình dành độc lập và tìm kiếm hòa bình này đã đưa đến các cuộc chiến đấu chống Pháp với chiến thắng Điện Biên Phủ của quân đội Việt Minh 1945, và cuộc chiến đấu chống Mỹ với Đại thắng mùa xuân 1975, tạo nên hội chứng Việt nam (Vietnam Syndrome) trong chính sách ngoại giao của Mỹ.
Từ 1975 cho đến cuối thập niên 1990’s của thế kỷ 20, hội chứng Việt Nam đòi hỏi các chính khách Mỹ quan tâm đặc biệt đến việc sa lầy quân sự và chính trị khi đưa quân Mỹ tham chiến tại một quốc gia nào đó, và do đó làm giảm thiểu đến mức tối đa các hoạt động quân sự của Mỹ trên thế giới. Sang thế kỷ 21, với cuộc đánh bom 911 (Sept. 11, 2001) của al Qeada ở Mỹ. Mỹ lại bắt đầu có nhiều cuộc chiến trên thế giới (Afghanistan, Irag…), nhưng hội chứng Việt Nam vẫn luôn có mặt trong các tranh cãi trong nội bộ Mỹ mỗi khi Mỹ định lâm chiến bên ngoài: “Mỹ có nên nhúng tay vào quân sự ở nước… không, hay là lại bị sa lầy như ở VN trước đây?” (Ví dụ, Worse than Vietnam [about Afghanistan], http://opinionator.blogs.nytimes.com/2010/11/23/afghanistan-and-vietnam/; Iraq: Learning the lessons of Vietnam War,http://www.foreignaffairs.com/articles/61195/melvin-r-laird/iraq-learning-the-lessons-of-vietnam)
TĐH: Nhắc lại những bi thảm của chiến tranh không bao giờ là chuyện vui. Nhưng có những điều thỉnh thoảng chúng ta cũng nên nhắc lại, để học hỏi những điều nên tránh.
Bài tiếng Việt dưới đây, nói về việc 5 sinh viên, tù nhân Côn Đảo, đã làm thế nào đế giúp Quốc Hội và báo chí Mỹ, qua ký giả Don Luce, vén màn bí mật cho cả thế giới biết về nhà tù Côn Đảo, địa ngục trần gian, năm 1970.
Bài tiếng Anh là bài của chính Ký Giả Don Luce viết năm 2006, về nhà tù Abu Ghraib ở Iraq, nhắc lại chuyện những Chuồng Cọp ở Côn Đảo năm 1970.
Bài học chúng ta cần phải học là chiến tranh luôn biến con người thành điên rồ, dù ta có biện luận mục đích chiến tranh đó cao thượng đến thế nào. (Dù là Quốc Hội và nhân dân Mỹ rất tỉnh táo và công bình, thì các lực lượng tham chiến của Mỹ cũng sẵn sàng nhúng tay vào tội ác kinh khủng–Chiến tranh có sức mạnh hủy diệt trái tim con người).
Bài học thứ hai ta cần phải học là: Anh em nên luôn đối xử nhau là anh em, dù có bất đồng. Và không bao giờ nên dùng các biện pháp thiếu tính người với nhau. Điều này rất tội lỗi. Anh em trong gia đình thì phải thương yêu nhau, hành hạ tàn nhẫn với nhau là có tội, không gì có thể biện hộ được.
Bằng trí nhớ và sự nhanh nhạy, 5 sinh viên tù nhân Côn Đảo đã vẽ nên sơ đồ chuồng cọp bí mật của quân đội Mỹ với các đòn tra tấn thời trung cổ, đưa “địa ngục” bí mật một thời này ra ánh sáng, khiến thế giới sửng sốt.
Phía sau cánh cổng sắt đen thui này là “địa ngục trần gian” một thời.
Đại đội trưởng Bùi Quang Thận ra khỏi xe tăng, lấy lá cờ giải phóng trên xe của mình cắm lên cột cờ trên nóc dinh Độc Lập lúc 11h30 ngày 30/4/1975, đánh dấu sự kết thúc thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975. Ảnh tư liệu.
Đại tá Thận mất đột ngột tại nhà riêng ở Thái Bình vào sáng sớm 24/6, hưởng thọ 64 tuổi.
Tuần này chúng ta tìm hiểu bài diễn văn chính thức chấm hết chế độ Apartheid của F W de Klerk (chúng ta có thể tìm hiểu về sự hình thành của chế độ Apartheid trong phần giới thiệu bài “Tôi là bị cáo đầu tiên” của Nelson Mandela)
Chế độ Apartheid bắt đầu từ năm 1948.
Từ năm 1960 đến giữa những năm 1970, chính phủ Nam Phi dùng Apartheid như một chính sách “tách biệt sự phát triển”. Người da đen chiếm 75% dân số nhưng chỉ quản lý 13% đất, chủ yếu ở các khu vực “được quy hoạch để mãi mãi là khu vực cấp thấp”. Người da trắng chiếm chưa đến 20% dân số nhưng chiếm giữ hơn 80% đất. Bạo lực, đình công, tẩy chay và biểu tình liên tiếp nổ ra phản đối Apartheid và luật thuộc địa của người da đen ở Mozambique và Angola.
Từ giữa những năm 1970 và 1980, chính phủ Nam Phi buộc phải thi hành một loại các cải cách và chấp nhận những người lao động da đen liên kết tạo các tổ chức và thừa nhận những hoạt động chính trị của phe đối lập. Hiến pháp năm 1984 cho phép người gốc châu Á và người da màu có mặt trong nghị viện, nhưng vẫn loại trừ người da đen gốc Phi (75% dân số).
Apartheid tiếp tục bị quốc tế lên án. Nhiều nước, trong đó có Hoa Kỳ, áp đặt trừng phạt kinh tế đối với Nam Phi. Các cuộc nổi dậy nổ ra ngày càng nhiều tại các thành phố đã làm tăng thêm sức ép đối với chính quyền Nam Phi. Tuy nhiên, tổng thống nhiệm kỳ 1984-1989 PW Botha là người rất kiên quyết theo chế độ Apartheid đẩy đất nước vào những xung đột kéo dài, và ông bị cộng đồng quốc tế chỉ trích mạnh mẽ
Năm 1989, F.W. de Klerk đắc cử tổng thống, và ngay đầu năm 1990, ông đã đọc bài diễn văn này trước quốc hội tuyên bố dẹp bỏ chế độ phân biệt chủng tộc Apartheid và thả Nelson Mandela – lãnh tụ đảng đối lập đang bị giam cầm.
Nhưng không hiểu những người có trách nhiệm ở cơ sở lại có những biểu hiện bất hợp tác để làm rõ sự kiện đau lòng này. Không biết quá trình đi tìm hiểu xác minh có vấn đề gì mà địa phương và những người tìm kiếm vẫn chưa gặp nhau?
LTS: Tháng 11/2011, Tuần Việt Nam đăng loạt phóng sự về vụ việc Mỹ Lai và cuộc tranh cãi về bức ảnh ‘Anh che chở cho em’ của nhiếp ảnh gia Ron Haeberle trong dịp ông trở lại Mỹ Lai. Loạt bài được sự quan tâm của nhiều độc giả, trong đó có Trung tướng Nguyễn Quốc Thước, người lính già trở về từ những trận mạc khốc liệt. Nhân dịp Quốc hội đang họp, ông gửi thư ngỏ đến Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Quảng Ngãi để hỏi rõ hơn những câu chuyện còn bỏ ngỏ trong vụ việc.
Bức ảnh “Anh che chở em” đang gây tranh cãi
Tuần Việt Nam xin đăng nguyên văn lá thư ngỏ của Trung tướng Nguyễn Quốc Thước.
Sau chiến tranh thế giới thứ 2, thế giới từ 3 cực chuyển thành 2 cực: Tư Bản Chủ Nghĩa và Xã Hội Chủ Nghĩa, 2 khối tuy không đủ sức nuốt trọn lẫn nhau bằng quân sự, nhưng vẫn “gườm” nhau suốt 45 năm (1945-1991), gây ra một giai đoạn xung đột chính trị-căng thẳng quân sự-cạnh tranh kinh tế-chạy đua vũ trang, đó là giai đoạn chiến tranh lạnh.
Tuy 2 khối không đối đầu trực tiếp về quân sự, nhưng vẫn tạo ra rất nhiều xung đột như cuộc phong toả Berlin (1948–1949), Chiến tranh Triều Tiên (1950–1953), Khủng hoảng Berlin năm 1961, Chiến tranh Việt Nam (1954–1975), Khủng hoảng tên lửa Cuba (1962), Chiến tranh Xô viết tại Afghanistan (1979–1989)
(Chiến tranh Việt Nam ở một góc độ nhất định vẫn được coi là 1 bộ phận của chiến tranh lạnh, do mỗi bên tham chiến (Miền Bắc và miền Nam Việt Nam) đều nhận được hỗ trợ lớn từ 2 khối Xã Hội Chủ Nghĩa và Tư Bản Chủ Nghĩa)
Cuối thập niên 1980, cuộc chiến tranh lạnh kết thúc, Liên Bang Xô Viết chấm dứt, nhiều nước thay đổi chính thể. Người góp phần lớn nhất cho các thay đổi này, là Mikhail Sergeyevich Gorbachyov(Gorbachev), Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Liên Xô.
Đánh giá về “công – tội” của Mikhail Sergeyevich Gorbachyov (Gorbachev) luôn là điều không dễ, ngay cả đối với người Nga:
Mọi người sẽ chỉ nhớ về một cô bé đang trong tình trạng khỏa thân sau khi quần áo và da thịt em bị những giọt napalm nóng bỏng đốt cháy. Cô bé vô tội ấy sẽ luôn chỉ được biết tới với tư cách một nạn nhân vô danh, nếu không có bức ảnh gây chấn động thế giới mang tên “Em bé napalm”.
Khoảnh khắc vô giá này, do nhiếp ảnh gia Huỳnh Công “Nick” Út, phóng viên hãng tin AP chụp được, sắp tròn 40 tuổi. Bức ảnh, với sức mạnh hơn mọi ngôn từ, đã gợi nhớ về một quá khứ kinh hoàng của thời chiến tranh ở Việt Nam, đồng thời một trong những giai đoạn đen tối của lịch sử nước Mỹ.
Bức ảnh chụp ngày 8/6/1972. Các em nhỏ đang khóc và chạy trên đường quốc lộ 1 gần Trảng Bàng, Tây Ninh sau khi bom napalm dội xuống làng của các em. Kim Phúc là cô bé ở giữa. Phía sau các em là binh lính của Sư đoàn 25 của chính quyền Việt Nam Cộng hòa.
Tuy nhiên, phía sau bức ảnh vô giá ấy là một câu chuyện ít được biết tới, về cuộc đời của một đứa trẻ đang cận kề với cái chết và nỗ lực của một nhiếp ảnh gia trẻ. Chính khoảnh khắc hỗn loạn và đau thương ấy đã cứu sống một cô bé vô tội và là động lực để cô thay đổi cuộc sống của chính mình.
Đã 65 năm ngày Cụ Huỳnh Thúc Kháng yên nghỉ trên núi Thiên Ấn, Quảng Ngãi (21/4/1947), nhưng mỗi lần nhớ đến Cụ chúng ta không khỏi bồi hồi xúc động hồi tưởng về những trang viết của Cụ trên báo Tiếng Dân về chủ quyền quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam mà cụ là chủ bút.
Trong đó Cụ đặc biệt chú ý đến các luận cứ khoa học để chứng minh chủ quyền quần đảo Hoàng Sa của đất nước ta.
Nhà hát Lớn thành phố một đêm đầu tháng 5 năm 1954. Khán giả chìm trong im lặng khi cây đũa của người nhạc trưởng vang lên, và âm thanh trầm buồn của cả dàn giao hưởng làm nền cho cây vĩ cầm độc tấu khúc Réquieme. Rồi âm thanh đó tràn sang toàn bộ cảnh chồng hình những chiếc Dacota bay đen bầu trời và những cột khói lửa bốc lặng lẽ…
Không hiểu sao, tôi bỗng nhớ đến cái trường đoạn đầy rung cảm và có lẽ là hay nhất trong bộ phim “Điện Biên Phủ” của đạo diễn P.Schoendoerffer khi tôi vượt đèo Pha Đin…Tây Bắc đang mùa ban nở. Hoa ban làm bừng sáng các hẻm núi, vực sâu, những vạt đồi trơ trụi. Hoa ban trắng đến ngẩn ngơ – thứ hoa hút hồn cả tuổi trẻ của tôi trên vùng núi hiểm trở và khắc nghiệt này…
Thật thú vị đến bất ngờ, tôi bắt gặp người đạo diễn của bộ phim đó ở ngay trong bảo tàng nằm giữa chiến trường xưa: hình ảnh người phóng viên mặt trận đang bị ngã cố bảo vệ chiếc máy quay, và có thể vẫn đang bấm máy. Phải chăng, khúc tưởng niệm về một cuộc chiến bi thảm đã dạo hoà âm mở đầu trong tâm hồn Schoendoerffer ngay từ cú bấm máy đặc biệt ấy?
Ngày 1/5 là Ngày Quốc tế Lao Động, còn gọi là “Ngày Tháng Năm” (May Day). Đây là ngày lễ tại nhiều quốc gia trên thế giới, dành để tôn vinh lao động và gây dựng đoàn kết lao động trên thế giới.
Tại Mỹ và Canada, Ngày Lao Động là ngày Thứ hai đầu tiên của tháng 9. Cho năm nay (2011), Ngày Lao Động ở Mỹ và Canada là ngày 3.9.2012. Ngày Lao Động tháng 9 này có nguồn gốc từ Canada. Ngày 3 tháng 9 năm 1872, một số nghiệp đoàn ở Canada biểu tình chống việc chính phủ bắt một số nhân công tuần hành “đòi tuần làm việc 58 giờ” trong một cuộc biểu tình trước đó vài tháng. Cuộc biểu tình tháng 9 thành công. Ngày 23.7.1894, thủ tướng Canada John Thompson ký sắc lệnh ấn định Ngày Lao Động trong tháng 9.
Tại Mỹ, kể tử ngày 5 tháng 9 năm 1882, nghiệp đoàn cũng đã bắt đầu tuần hành hàng năm vào đầu tháng 9 như ở Canada. Và năm 1894, năm Canada chính thức nhận Ngày Lao Động tháng 9, thống thống Mỹ Grover Celveland cũng chấp nhận Ngày Lao Động tháng 9 như Canada, để cạnh tranh với Ngày Quốc Tế Lao Động 1 tháng 5, là ngày Đệ Nhị Quốc Tế Cộng Sản đã chọn là Ngày Quốc Tế Lao Động và được cả thế giới đồng ý.
Nhưng, lịch sử có nhiều chuyện buồn cười, và lãnh đạo thế giới đôi khi hành động như trẻ con :-), vì Ngày Quốc Tế Lao Động 1 tháng 5 có nguồn gốc từ Mỹ !!
Lobo và BlancaTrong tiếng Tây Ban Nha, Lobo có nghĩa là chó sói, và Blanca là từ Blanco có nghĩa là Trắng. Đây là một chuyện tình hào hùng và bi thảm, của một đôi tình nhân, làm thổn thức trái tim nước Mỹ, và thúc đẩy việc hình thành những chính sách tạo ra những khu sinh thái quốc gia dành riêng cho thú vật được sống an toàn ngày nay.
Chàng Lobo là chú sói huyền thoại lãnh đạo bầy sói ở vùng thung lũng Currumpaw ở tiểu bang New Mexico vào thập niên 1890’s. Vào thời gian đó những người dân cư Mỹ đến New Mexico lập nghiệp đã săn bắn gần hết các thú hoang là thức ăn tự nhiên của các đàn sói, nên sói bắt đầu lẻn về các khu làng mạc của người và bắt các thú vật mà người nuôi. Và do đó người bắt đầu xem sói như kẻ tử thù.
Lobo được gọi là Chúa tể của Currumpaw (King of Currumpaw), lãnh đạo đàn sói “phi pháp”, có sự khôn ngoan ngoài sức tưởng tượng của người ta, đã thanh toán rất nhiều trâu bò của cư dân. Cư dân và các cowboys vùng Currumpaw dùng đủ mọi phương kế nhưng không thể thắng Lobo.
Có lẽ các bạn đã biết chuyện cưu binh Úc Wildeboer lưu trữ các kỷ vật của một liệt sĩ Việt, trong đó có bài thơ Lá Thư Xuân trong 40 năm, và gấn đây đã mang các kỷ vật đó trả lại Việt Nam.
Loạt bài sau đây của Dân Trí kẻ lại cuộc hành trình đó của Wildeboer và sự trợ giúp của một số chuyên gia Việt trong việc tìm kiếm gia đình các liệt sĩ. Một trong những chuyên gia đó là cựu Thượng Tá Nguyễn Thị Tiến, Người Đương Thời của VN, và là bạn thường xuyên của Vườn Chuối.
Hai bài cuối cùng có nhiều ảnh của chị Tiến.
Cảm ơn chị Tiến đã chia sẻ cùng các anh chị em. Có thông tin gì mới nữa không, chị đến đây comment cho ĐCN tin đặc biệt dành riêng nhé.
Hoành
Lá Thư Xuân
Từ buổi ấy xa em biền biệt
Thấm thoát thoi đưa mấy độ xuân về
Hỡi em yêu còn ở chốn quê
Chắc ngoài ấy đang tung trời vui cánh én
Viết thư cho em đầu xuân sáu tám
Ngoài quê hương em đang rét run người
Xuân trong này cũng lạnh lắm em ơi
Đừng khóc nữa nhớ anh nhiều em nhé
Nhớ buổi ra đi nhìn nhau lặng lẽ
Giọt lệ sầu thương cho tiếng tiễn đưa
Mà hôm nay đã mấy độ xuân về
Nhớ em lắm
Nhớ quê hương đang bừng nổi dậy
Tàu chiến Mỹ ăn đòn bốc cháy
Giặc nhà trời cũng vùi xác biển đen
Còn trong này anh đứng giữa tiền duyên
Giao thừa đến vui tiếng kèn xung trận”
Đêm hành quân mừng xuân sáu tám
Vắng đào thơm mà ngát nhụy mai vàng
Trên người anh rung cành lá ngụy trang
Theo nhịp bước đoàn quân xuống đường quyết thắng.