Có một chàng nghệ sĩ với mái tóc quăn bồng bềnh là nghệ sĩ chơi saxophone có lượng đĩa nhạc bán chạy nhất trên thế giới đạt kỷ lục 70 triệu bản trong hai thập niên và lên đỉnh vinh quang âm nhạc. Tuy giành được vô số giải thưởng lớn, nhưng Kenny G bậc thầy về saxophone, lại khá giản dị khi nói về đam mê của mình : “Tôi không chơi nhạc để kiếm những lời bình luận tốt đẹp hay để mọi người xếp tôi vào một thể loại và nói, đó là thứ nhạc jazz hay. Với tôi, nó chẳng có ý nghĩa gì cả. Thậm chí khi ai đó nói: Anh ấy là nghệ sĩ vĩ đại nhất mọi thời đại, cũng chỉ như thế mà thôi”
Kenneth Gorelick , được biết nhiều với nghệ danh Kenny G, là một nhạc sĩ saxophone người Mỹ. Duotones, một trong bốn album đưa đến sự thành công bất ngờ cho ông vào năm 1986. Nhạc cụ chính của Kenny là kèn soprano saxophone, nhưng đôi lúc ông cũng chơi kèn alto, tenor saxophone, flute
Kenny sinh ngày 5 tháng 6 năm 1956 tại Ann Arbor, Michigan, và lần đầu tiên tiếp xúc với kèn saxophone khi ông nghe một người nào đó trình diễn nó tại show The Ed Sullivan Show. Sau đó, ông bắt đầu học các chơi kèn saxophone bằng cách tự lhọc. Ông học chơi kèn bằng cách tập với các đĩa ghi âm phần lớn của Grover Washington, Jr., và tìm hiểu những cung bậc âm thanh mà ông nghe được. Tại trường trung học Franklin, bang Washigton ông thất bại trong việc gia nhập một ban nhạc jazz. Năm sau, ông đã thử lần nữa, và nhờ lòng quyết tâm, ông đã chính thức được gia nhập ban nhạc. Đồng thời, ông cũng đã chơi trong đội golf của trường, môn thể thao mà ông đam mê khi được người anh trai, Brian Gorelick giới thiệu năm ông 10 tuổi
Vừa tròn 20 tuổi, Kenneth Gorelick bắt đầu cuộc đời nhạc công khi ông chơi nhạc saxophone với Barry White, Love Unlimited Orchestra vào năm 1976, lúc ấy ông cũng đang học chuyên ngành kế toán. Sau đó, ông tốt nghiệp Đại học Washington, ông chơi trong ban nhạc funk có tên là Cold, Bold & Together sau trở thành thành viên của ban nhạc The Jeff Lorber Fusion.. Ông bắt đầu sự nghiệp solo sau thời gian chơi trong ban nhạc này.
Năm 1982, Kenny G kí hợp đồng với hãng đĩa Arista Records khi có lời mời từ giám đốc của hãng, khi đó là Clive Davis. Ông đã làm khá nhiều đĩa đơn và hợp tác với các ca sĩ Whitney Houston, Toni Braxton , Natalie Cole, Steve Miller, và Aretha Franklin. Nhạc của ông mang ảnh hưởng của Grover Washington, Jr., các album của Kenny G thường được xếp vào thể loại smooth jazz.
Ông thành công hơn trước, với cả G Force và Gravity, album thứ hai và thứ ba nhận đạt danh hiệu đĩa bạch kim tại Mỹ. Những album này bán rất chạy với hơn 5 triệu bản riêng tại Mỹ. Album thứ năm, Breathless, trở thành album hòa tấu bán chạy nhất mọi thời đại, với trên 15 triệu bản tiêu thụ, riêng tại Mỹ đã là 12 triệu bản.
Kenny G đã ghi âm một số bài hát Trung Hoa, như bài Jashmine Flower , hay The Moon Represents My Heart. Nhạc của ông rất được ưa chuộng tại Trung quốc. Bản thu bài Going Home của ông thường được chơi khi bế giảng năm học tại các trường học và khi bế mạc một sự kiện ở nơi công cộng. Ngoài ra người ta còn có thể nghe nhạc của Kenny G trên rất nhiều tuyến xe lửa ở Thượng Hải và Thiên Tân khi tàu đến ga cuối.
Năm 1991, Kenny thể hiện lại ca khúc trong bộ phim “Dying Young” của Julia Robert; và năm 1998 bản nhạc “My Heart Will Go On” của tuyệt phẩm “Titanic” cũng được Kennny thể hiện và thu âm, đem thêm vinh quang về cho ông trong hai bộ phim
Năm 2005, sự thành công vang dội của album “At Last… the Duets Album”, một trong những đại diện tiêu biểu của dòng jazz bảo thủ, lịch thiệp và dễ cảm nhận, đã đưa Kenny lên đỉnh cao trong Top album jazz đương đại, mang về cho anh danh hiệu Nghệ sĩ jazz đương đại số một trong năm.
Nhiều người cho rằng nhạc của ông hay, dễ nghe, với giai điệu nhẹ nhàng, mà không kén chọn người nghe như của Kitaro hay Shanti.
Vào năm 2003, Kenny G được RIAA, (Recording Industry Association of America )Hiệp Hội Công nghiệp Ghi Âm Của Mỹ xếp hạng 25 trong số các nghệ sĩ có doanh số cao nhất, Ông có 48 triệu album được bán vào 7/ 2006 . Năm 1994, Kenny G được trao tặng giải Grammy về Nhạc Cụ Hay Nhất với Forever in Love. Ngoài ra Kenny còn nhâc được rất nhiều giải thưởng khác của Amercian Music, Soul Train, World music & NAACP Image Awards
Các album nổi tiếng nhất của ông gồm:
• The Collection (1993)
• Montage (1993)
• The Very Best of Kenny G (1994)
• Kenny G – Greatest Hits (1997)
• In America (2001)
• Ultimate Kenny G (2003)
• The Romance of Kenny G (2004)
• The Essential Kenny G (2006)
• Forever in Love: The Best O Kenny G (2009)
Sau đây mời các bạn thưởng thức 8 bài Saxophone của Kenny G.
Bài mở đầu sẽ là một bài tha thiết với giai điệu tha thiết sâu lắng, như đưa bạn vào cõi mộng của tình yêu bất tử, mà nói bao nhiêu cũng không cùng. Chính bài hát này trong Album Forever in Love đã mang về cho Kenny G thêm một chiến công trong sự nghiệp ngợi ca tình yêu, cuôc đời và con người của ông.
Bài 2 sẽ làm say đắm lần nữa những con tim yêu Titanic.
Bài You’re Beautiful với hình ảnh minh họa thât đẹp phù hợp với tựa đề bài hát
Bài Summer Time sẽ vui hơn bài Yesterday mà có lần một bạn cuả Nhạc Xanh đã nhắc đến .
Kết thúc chương trình sẽ là bài nhạc Trung Hoa rất được ưa chuộng của Kenny G. Mong rằng không có bạn nào than rằng mình post ít quá nha.
Thân chúc các bạn một ngày mới vui tươi năng động dù có thả hồn theo tiếng saxophone mê hồn của Kenny G.
1. Forever in Love
2/ Titanic / My Heart will Go On
3. You’re Beautiful
4. Summer Time
.
5. The Way We Were
6 Yesterday
7. One More Time ( with Kenny G’ s daughter, Beth as singer )
I lie half awake, late at night
I reach out to touch you
feel you by my side
and I reach, and I reach,
but I never get to feel you
Will I ever get to feel you again, again
Just one more time
One more moment
To take you in my arms
One more chance
One more kiss
Before I wake to find you gone
One more time
Before I have to face another day,
and my heart breaks again
It´s only a dream
but it´s all so real
Don´t want it to end
but I know it will
So I pray, and I pray
Every night I´m on my kness
Begging for the chance to see you
again, again
Just one more time
One more moment
To take you in my arms
One more chance
One more kiss
Before I wake to find you gone
One more time
Before I have to face another day,
and my heart breaks again
Oh one more time
Before I have to face another day,
and my heart breaks again
again…
Vietnam and China are talking about problems on the sea. We’ll keep our fingers crossed.
Here is the news. Please read it and I will say something after you finish reading.
Đàm phán Việt – Trung tập trung vào vấn đề trên biển
Phó thủ tướng Phạm Gia Khiêm, trong buổi tiếp Trưởng đoàn đàm phán cấp chính phủ Trung Quốc Vũ Đại Vĩ hôm nay nhấn mạnh rằng đàm phán về biên giới lãnh thổ giữa hai nước đã chuyển sang một giai đoạn mới, tập trung vào giải quyết vấn đề trên biển.
Phó thủ tướng Phạm Gia Khiêm nhấn mạnh, trong bối cảnh tình hình thế giới đang diễn biến phức tạp, Việt Nam – Trung Quốc cần tăng cường và đẩy mạnh hơn nữa sự hợp tác trên tất cả các lĩnh vực, trước mắt cần phối hợp tổ chức tốt “Năm hữu nghị Việt – Trung 2010”.
Trưởng đoàn đàm phán cấp Chính phủ Trung Quốc Vũ Đại Vĩ đang ở Hà Nội để tiến hành cuộc gặp giữa hai Trưởng đoàn đàm phán cấp Chính phủ Việt Nam -Trung Quốc về biên giới lãnh thổ từ ngày 12 đến 14/8.
Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Gia Khiêm tiếp ông Vũ Đại Vĩ, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Trung Quốc. Ảnh: TTXVN.
Phó thủ tướng Phạm Gia Khiêm đánh giá cao ý nghĩa của việc hai nước hoàn thành công tác phân giới cắm mốc trên biên giới đất liền Việt – Trung, yêu cầu hai bên tiếp tục đẩy nhanh việc hoàn tất các văn bản pháp lý liên quan và công việc còn lại để sớm đưa Hiệp ước Biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc thực sự đi vào cuộc sống, góp phần làm sâu sắc thêm mối quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện giữa hai nước.
Về vấn đề trên biển, hai bên cần quán triệt những nhận thức chung giữa lãnh đạo cấp cao hai nước, nghiêm chỉnh tuân thủ Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), tôn trọng luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Luật biển 1982 của Liên hợp quốc; kiên trì hiệp thương hữu nghị, tìm kiếm giải pháp cơ bản, lâu dài cho vấn đề trên biển và duy trì hòa bình ổn định trên biển.
Phó thủ tướng Phạm Gia Khiêm ghi nhận phản hồi tích cực của phía Trung Quốc đối với các đề nghị của Việt Nam về việc xử lý vấn đề ngư dân và tàu cá Việt Nam bị bắt giữ theo tinh thần hữu nghị, nhân đạo và đề nghị các cơ quan hữu quan của Trung Quốc tiếp tục giải quyết các vấn đề còn lại.
Phó thủ tướng cảm ơn phía Trung Quốc đã có những biện pháp cứu trợ kịp thời đối với tàu “Hoàng Phương 02” và 10 thuyền viên trong cơn bão Goni ngày 8/8 vừa qua.
Thứ trưởng Vũ Đại Vĩ khẳng định Đảng, Chính phủ và nhân dân Trung Quốc luôn coi trọng quan hệ hữu nghị hợp tác với Việt Nam.
Thứ trưởng Vũ Đại Vĩ cho rằng cuộc đàm phán về biên giới lãnh thổ lần này giữa hai đoàn Trung Quốc – Việt Nam đã thu được kết quả tích cực và bày tỏ tin tưởng việc hai nước kịp thời xử lý các vấn đề nảy sinh trên biển và phối hợp tìm kiếm các giải pháp thỏa đáng cho vấn đề trên biển sẽ góp phần xứng đáng vào việc củng cố và tăng cường quan hệ đối tác, hợp tác chiến lược toàn diện giữa hai Đảng, hai nước.
Trước đó, Thứ trưởng Ngoại giao, Trưởng đoàn đàm phán cấp Chính phủ về biên giới lãnh thổ Việt Nam Hồ Xuân Sơn và Thứ trưởng, Trưởng đoàn Trung Quốc Vũ Đại Vĩ đã gặp tại Hà Nội.
Hai bên trao đổi các biện pháp đẩy nhanh việc hoàn tất Nghị định thư phân giới cắm mốc, Hiệp định về Quy chế quản lý biên giới, Hiệp định về quản lý cửa khẩu trên biên giới đất liền Việt Nam – Trung Quốc để ký kết trước cuối tháng 12/2009; đồng thời thúc đẩy xây dựng Hiệp định về cùng hợp tác khai thác, phát triển du lịch thác Bản Giốc và Hiệp định tàu thuyền đi lại tự do khu vực cửa sông Bắc Luân.
Về vấn đề trên biển, hai bên khẳng định quyết tâm thực hiện nghiêm túc các thỏa thuận liên quan của Lãnh đạo cấp cao hai nước; kiên trì đàm phán, hiệp thương hữu nghị tìm kiếm giải pháp cơ bản lâu dài cho vấn đề Biển Đông.
Hai bên nhất trí tiếp tục phát huy vai trò của các cơ chế hiện hành, thúc đẩy vững chắc đàm phán phân định và hợp tác cùng phát triển vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ; tích cực trao đổi về việc tiếp tục triển khai các lĩnh vực hợp tác như tìm kiếm cứu nạn trên biển, bảo vệ môi trường biển, dự báo sóng biển… Hai bên đồng ý xây dựng cơ chế thích hợp nhằm kịp thời xử lý các tranh chấp trên biển.
(Theo TTXVN)
The part I have marked with boldfaced type in the article is the quote from Deputy Prime Minister Phạm Gia Khiêm thanking China for “solving the issue related to arrested Vietnamese fishermen in the spririt of friendship and humanity.” It really means that “We –China–arrested you guys because you guys violated our territory. Now, because you are our friend and because we are charitalbe, we let these guys go. But you guys still violated our territory.” That is China’s language.
Where is Vietnam’s language? There is nothing to interpret that Vietnam does assert its territory the way China did.
Are we being dim-witted enough to allow China to outwit us in every step of the game?
These guys in the government get me nervous. We all need to keep a close eye on this China issue and make sure that this government will not agree to anything the People (us) doesn’t want.
I have no problem with being in a brotherly spirit with China. And I promote a brotherly relationship with China. But we don’t want to act dumb, in the face of clear aggressive signals from China and the submissive attitude of the Vietnamese government.
I don’t know exactly how and when my liking for poetry began. The seed of my love for Wordsworth and Byron must have been sowed during my collegiate days.
“The Daffodils” is one of the best poems that Ms Hue has introduced to us. Three years passed, but the poem has stayed in my mind since the morning she recited it in our English Literature class. It has made a great impression upon me. How regretful it would be if this poem were not recommended to to the poetry buff.
“The Daffodils” known as “I Wandered Lonely As A Cloud” is a famous poem written in 1804 by William Wordsworth. Daffodils is one of the most popular poems of the Romantic Age, unfolding the poet’s excitement, love and praise for a field blossoming with daffodils. It was inspired by an April 15, 1802 event, in which Wordsworth and his sister, Dorothy, came across a “long belt” of daffodils on a walk near Ullswater Lake in England. This poem was first published in 1807, and a revised version was released in 1815.
I wander’d lonely as a cloud
That floats on high o’er vales and hills
When all at once I saw a crowd,
A host of golden daffodils,
Beside the lake, beneath the trees
Fluttering and dancing in the breeze.
Continuous as the stars that shine
And twinkle on the milky way,
They stretched in never-ending line
Along the margin of a bay:
Ten thousand saw I at a glance
Tossing their heads in sprightly dance.
The waves beside them danced, but they
Out-did the sparkling waves in glee:
A poet could not but be gay
In such a jocund company!
I gazed – and gazed – but little thought
What wealth the show to me had brought:
For oft, when on my couch I lie
In vacant or in pensive mood,
They flash upon that inward eye
Which is the bliss of solitude!
And then my heart with pleasure fills,
And dances with the daffodils.
Just reading the first verses, we can feel the time and space William wrote The Daffodils. The inspiration for this poem may have been drawn from a walk he took with his sister Dorothy around Lake Ullswater.
“I wander’d lonely as a cloud
That floats on high o’er vales and hills …
… Beside the lake, beneath the trees”
The poet was wandering in the forest and enjoying the fascinating nature around him, when suddenly he saw a crowd of golden daffodils by the lakeside. The daffodils appeared so beautifully that he was compelled to gaze at these flowers playing with pleasure in the wind.
His sister Dorothy later wrote in her journal as a reference to this walk: “I never saw daffodils so beautiful they grew among the mossy stones about and about them, some rested their heads upon these stones as on a pillow for weariness and the rest tossed and reeled and danced and seemed as if they verily laughed with the wind that blew upon them over the lake, they looked so gay ever dancing ever changing…”
How glorious and plentiful these daffodils were! Maybe this was also the first time he had come across such an immense field of daffodils along the shore. It was impossible for us to count them, but the author could still feel how many flowers were stretching as far as the eye can see:
“Ten thousand saw I at a glance”… (Hyperbole)
“They stretched in never-ending line
Along the margin of a bay…
The figures of simile and metaphor are also subtly used and it is not very hard for us to find them in the poem. The golden daffodils were compared to the stars shining and twinkling on the galaxy; and enjoying themselves in a happy dance.
“Continuous as the stars that shine
And twinkle on the milky way…” (Simile)
Though the lake’s sparkling waves danced beautifully, the daffodils seemed to do much better than them, in its pleasure.
“The waves beside them danced, but they
Out-did the sparkling waves in glee”… (Comparison/Personification)
The poet felt happy and pleasant in the meanwhile to see golden flowers smiling in the sunshine. He put his loneliness aside and mingled with the beautiful sight. To him, the daffodil’s charm was a great gift and no fortune was as wonderful as the beauty granted by the God:
“I gazed – and gazed – but little thought
What wealth the show to me had brought”… (Metaphor)
In the description of the daffodils, William used quite a lot of literary devices and it was these figures that helped us understand more about the vivid picture he draw and the way he connected with the nature.
“I wander’d lonely as a cloud
That floats on high o’er vales and hills…” (Simile)
“Fluttering and dancing in the breeze…” (Personification)
“Tossing their heads in sprightly dance…” (Personification)
“The waves beside them danced, but they
Out-did the sparkling waves in glee…” (Comparison/Personification)
Through characterized daffodils, we could find that nature had its own soul. William lifted him out of his soul and placed him in a higher state in which the soul of nature and the soul of man were united into a single harmony. Apparently, he felt dazed with so many daffodils around him and there was no limitation between his vision and the long belt of golden flowers.
Many years later, the daffodil’s beauty still haunted William. Whether he stayed in empty or thoughtful mood, the images of daffodils came to mind and flashed upon his inner eyes.
“They flash upon that inward eye
Which is the bliss of solitude!” (Oxymoron)
The memory of the daffodils was etched in the author’s mind and soul to be cherished forever. When he was feeling lonely, dull or depressed, he thought of the daffodils and cheered up. These flowers seemed to be emerging before him, far and wide. Then his loneliness and sorrow seemed to vanish; and he desired to dance with the daffodils.
“And then my heart with pleasure fills,
And dances with the daffodils.”
The full impact of the daffodil’s beauty (symbolizing the beauty of nature) did not strike him at the moment of seeing them, when he stared blankly at them but much later when he sat alone, sad and lonely and remembered them. Thanks to the closing of the last stanza, we can get more reason why William wrote the poem. His impression at the daffodils would never fade in his mind, and it was the amazing motivation for him.
“For oft, when on my couch I lie
In vacant or in pensive mood,
They flash upon that inward eye…”
We can point out that William’s state was changing in a slight way. He was not alone any longer, yet he probably thought that he would be stronger if he made a contrast between a lonely traveler and happy daffodils. This simple but effective way seems to take hold on us, and then each time we read this poem, we can see the harmonious beauty of the poet and the long belt of golden daffodils and enjoy their brightness.
This poem helps us get into our head how much love and admiration William gives to Nature. He would like to call us to come back to the nature and enjoy it. Moreover, at any rate William could make us realize that what we feel at the beauty of golden daffodils is the way they speak to us, via their own soul.
As for me, the Daffodils has touched my soul very deeply
MỘT VÀI CẢM NHẬN VỀ BÀI THƠ “HOA THỦY TIÊN”
Tôi không biết đích xác như thế nào và khi nào tôi bắt đầu đem lòng yêu thích thơ ca. Chắc hẳn những hat giống cho tình yêu Worsdsworth và Byron… đã được gieo trong những ngày của đời sinh viên của tôi.
“Hoa Thủy Tiên” là một trong những bài thơ hay nhất mà cô Huệ đã giới thiệu cho chúng tôi. Ba năm đã trôi qua, và bài thơ vẫn còn ở trong tâm trí tôi kể từ buổi sáng mà cô đọc cho chúng tôi trong giờ Văn học Anh. Bài thơ để lại trong tôi nhiều ấn tượng sâu sắc. Thật đáng tiếc nếu không giới thiệu bài thơ này đến bạn đọc yêu thơ ca.
“Hoa Thuỷ Tiên” còn được biết đến với tên khác “Tôi Phiêu Du Như Áng Mây Trôi” là một bài thơ nổi tiếng được William Wordsworth sáng tác năm 1804. Đây là một trong những bài được yêu thích nhất của thời kỳ văn học lãng mạn, thể hiện hứng thú, tình yêu, và chiêm ngưỡng của nhà thơ trước một cánh đồng rực rỡ Thủy tiên vàng. Bài thơ được lấy cảm hứng từ một sự kiện xảy ra ngày 15 tháng Tư năm 1802, khi Wordsworth cùng chị gái mình, Dorothy, tình cờ nhìn thấy một thảm hoa Thủy tiên nhân một cuộc dạo chơi gần hồ Ullswater. Bài thơ được giới thiệu lần đầu tiên năm 1807, và được tái bản năm 1815.
Như đám mây phiêu diêu đơn độc
Trôi bồng bềnh trên thung lũng, núi đồi
Ồ phía dưới trải dài khắp muôn nơi
Hoa Thuỷ tiên nở vàng rực rỡ
Bên bờ hồ, và bên dưới tán cây
Cùng thổi sáo, khiêu vũ với gió nhẹ
Và cứ thế như sao trời toả sáng
Lấp lánh trên dòng sông Ngân bạt ngàn
Hoa trải dài xa tít tắp muôn nơi
Và bất chợt, bên bờ hồ tôi thấy
Mười nghìn hoa Thuỷ tiên vàng khoe sắc
Uốn mình theo điệu vũ luân sống động
Bên Thuỷ tiên, từng con sóng nhảy múa
Thủy tiên càng toả sáng trong hân hoan
Một bài thơ không thể tả hết lời
Nhưng niềm vui bên bạn bè – có thể
Tôi ngắm nhìn và rồi chợt nghĩ đến
Điều tuyệt vời bên Thủy tiên đem lại
Và mỗi tối khi nằm trên trường kỷ
Khi lơ đãng hay lúc trầm tư
Thuỷ tiên lại hiện về trong tâm trí
Đó chính là niềm vui trong cô đơn
Và khi ấy tim tôi tràn cảm xúc
Nhảy múa cùng những đoá Thuỷ tiên xinh.
Đọc những khổ thơ đầu tiên, ta có thể cảm nhận được khoảng thời gian và không gian William viết bài thơ “Hoa Thủy Tiên” này. Cảm hứng bài thơ có thể từ một lần dạo chơi cùng người chị gái Dorothy bên hồ Ullswater.
“Như đám mây phiêu diêu trong đơn độc
Trôi bồng bềnh trên thung lũng, núi đồi….
…..Bên bờ hồ, phía dưới những tán cây”
Khi đang thơ thẩn trong rừng và ngắm nhìn cảnh đẹp tuyệt quanh mình, chợt người thi sĩ nhìn thấy một thảm hoa Thuỷ tiên vàng cạnh hồ nước. Hoa Thuỷ tiên đẹp đến nỗi nhà thơ phải đứng lại ngắm nhìn nhứng đóa hoa này hòa mình trong gió.
Chị gái William, Dorothy, sau này đã ghi lại trong nhật ký như một gợi nhớ rằng: “Tôi chưa từng thấy những đoá hoa Thuỷ tiên nào đẹp đến vậy. Chúng mọc xen kẽ nhau giữa những tảng đá phủ đầy rêu, một vài bông hoa ngả cánh lên những phiến đá ấy như thể đang tựa đầu vào gối để xua đi sự mệt mỏi, những đóa khác thì tung mình uốn lượn, nhảy múa như thể chúng cười đùa với những cơn gió thoảng trên mặt hồ, những bông hoa trông thật vui vẻ, cứ mãi nhảy múa, cứ mãi rập rờn…”
Những bông Thuỷ tiên ấy thật là rực rỡ và nhiều biết bao! Cũng có thể đây là lần đầu tiên nhà thơ bắt gặp một cánh đồng hoa Thuỷ tiên rộng thênh thang, trải dài theo bờ hồ đến vậy. Thật không thể đếm nổi bao nhiêu bông hoa, nhưng tác giả vẫn cảm nhận được thảm hoa ấy trải dài bất tận phía chân trời xa.
“Và bất chợt, bên bờ hồ tôi thấy
Mười nghìn hoa Thuỷ tiên vàng khoe sắc (Cường điệu hoá)
Uốn mình theo điệu vũ luân sống động”
Phép so sánh và ẩn dụ cũng được tác giả sử dụng thật tinh tế, và chẳng khó cho ta tìm thấy trong bài thơ này. Những bông Thuỷ tiên vàng được ví như những vì sao toả sáng lấp lánh trên dải ngân hà, đắm mình trong vũ điệu hạnh phúc.
” Và cứ thế như sao trời toả sáng
Lấp lánh trên dòng sông Ngân bạt ngàn” (phép so sánh)
Dẫu những con sóng lóng lánh/bạc đầu của mặt hồ khiêu vũ đã đẹp rồi, nhưng dường như hoa Thuỷ tiên còn tuyệt hơn thế nữa, trong niềm hân hoan của mình,
“Bên Thuỷ tiên, từng con sóng nhảy múa
Thủy tiên càng toả sáng trong hân hoan” (sự so sánh và nhân hoá)
Thi nhân cũng cảm thấy thật hạnh phúc và dễ chịu khi ngắm nhìn những đóa thuỷ tiên vàng hàm tiếu dưới ánh nắng mai, và gạt nỗi trống trải sang một bên để hoà mình vào cảnh đẹp. Với nhà thơ, vẻ đẹp của hoa Thuỷ tiên là một món quà tuyệt vời và không có tài sản nào tuyệt vời bằng món quà mà Chúa đã ban tặng cho:
Tôi ngắm nhìn và rồi chợt nghĩ đến
Điều tuyệt vời bên Thủy tiên đem lại
Khi miêu tả những bông hoa thuỷ tiên, William đã sử dụng rất nhiều các biện pháp tu từ và chính những biện pháp này giúp chúng giúp ta hiểu sâu hơn về bức tranh rực rỡ mà tác giả phác họa cũng như cách nhà thơ giao tiếp/hòa mình với thiên nhiên
“Như đám mây phiêu diêu trong đơn độc
Trôi bồng bềnh trên thung lũng, núi đồi” (So sánh)
Cùng thổi sáo, khiêu vũ với gió nhẹ (nhân hoá)
“Bên Thuỷ tiên, từng con sóng nhảy múa
Thủy tiên càng toả sáng trong hân hoan” (so sánh/nhân hoá)
Qua những bông hoa Thuỷ tiên được nhân cách hóa, ta có thể nhận ra rằng thiên nhiên mang tâm hồn riêng của mình. William đã thoát ra khỏi tâm hồn và đặt mình vào một trạng thái cao hơn, nơi mà ở đó hồn thiên nhiên và hồn người như được hòa quyện vào nhau. Dường như là, nhà thơ cảm thấy mê hồn bởi quá nhiều bông hoa Thuỷ tiên quanh mình và không có giới hạn nào giữa tầm nhìn của nhà thơ với thảm hoa vàng rực rỡ đấy.
Nhiều năm về sau, vẻ đẹp của hoa Thuỷ tiên vẫn ám ảnh William. Dẫu cho có cảm thấy trống vắng hay trầm tư, nhưng hình ảnh của hoa Thuỷ tiên vẫn hiện lên trong tâm trí và loé sáng trong con mắt tâm tưởng nhà thơ.
Cô đơn phiền muộn dường như tan biến, rồi nhà thơ trở nên khao khát múôn được khiêu vũ cùng với Thuỷ tiên vàng
Thuỷ tiên lại hiện về trong tâm trí
Đó chính là niềm vui trong cô đơn!” (phép nghịch hợp)
Kí ức về hoa thuỷ tiên đã khắc sâu trong tâm trí và tâm hồn nhà thơ và mãi mãi được ấp ủ. Khi cảm thấy cô đơn, buồn bã hay tuyệt vọng/chán chường, tác giả lại nghĩ đến hoa thuỷ tiên và cảm thấy vui trở lại. Những bông hoa ấy dường như hiện lên trước mắt ông, rộng mênh mông. Nỗi cô đơn và phiền muộn dường như tan biến, và nhà thơ lại muốn nhảy múa cùng những đóa thủy tiên.
“Và khi ấy tim tôi tràn cảm xúc
Nhảy múa cùng những đoá thuỷ tiên xinh.”
Tác động trọn vẹn của vẻ đẹp của hoa Thuỷ tiên (tượng trưng cho vẻ đẹp của thiên nhiên) thực ra không gây ấn tượng với thi sĩ ngay khoảnh khắc nhìn thấy chúng, khi ông ngắm nhìn sững sờ, mà là những lúc tác giả ngồi một mình, cô đơn và nhớ về hoa Thủy tiên. Nhờ khổ thơ cuối, ta có thể hiểu lý do William viết nên bài thơ này. Ấn tượng về hoa Thủy tiên sẽ không phai mờ trong tâm trí, và đấy cũng là một thôi thúc tuyệt vời đối với nhà thơ.
Và mỗi tối khi nằm trên trường kỷ
Khi lơ đãng hay lúc trầm tư
Thuỷ tiên lại hiện về trong tâm trí
Có thể thấy rằng tâm trạng của William đang thay đổi một cách nhẹ nhàng. Dù không còn thấy cô đơn nữa, nhưng nhà thơ vẫn nghĩ rằng mình sẽ mạnh mẽ hơn nếu tạo ra sự tương phản giữa người lữ hành cô đơn với những đoá hoa thuỷ tiên hạnh phúc. Biện pháp đơn giản nhưng đầy hiệu quả này dường như có tác động lớn đến chúng ta, và mỗi khi đọc bài thơ, ta có thể cảm nhận vẻ đẹp hài hoà của nhà thơ và thảm thuỷ tiên vàng; và tận hưởng vẻ rực rỡ đấy.
Bài thơ giúp ta nhận ra tình yêu và lòng ngưỡng mộ mà William dành cho thiên nhiên phong phú và sâu đậm biếtdường nào. Nhà thơ kêu gọi ta hãy trở về và tận hưởng thiên nhiên. Hơn nữa, ở một mức độ nào đấy, William giúp ta nhận thấy rằng những gì chúng ta cảm nhận về vẻ đẹp của những bông hoa thuỷ tiên vàng chính là cách những bông hoa nói chuyện với chúng ta, bằng chính tâm hồn mình.
Với riêng tôi, bài thơ đã chạm vào cõi sâu thẳm trong hồn tôi
Nếu tin nước Mỹ giàu có, mọi người có mức sống cao và điều kiện làm việc tốt, thì có lẽ phim ảnh chưa chiếu kỹ vào một góc trong mỗi thành phố lớn của Mỹ, vùng người nghèo và nhiều nguy hiểm về an ninh.
Những khu nhà ổ chuột và các tổ chức Mafia trong khu Harlem của New York, nơi cảnh sát không màng tới, đơn giản vì không có lợi ích đô la gì từ việc trông nom họ.
Nếu không có cơ hội khác, những người ở một góc thành phố New Haven, Connecticut tiếp tục sống bằng nghề điếu hút và kinh doanh điếu hút. Một chiếc xe ô tô đỗ rất nhanh trước cửa một căn nhà ở phố Lilac, một trao đổi ngắn chừng 3 phút và chiếc xe đó phóng đi.
Xóm liều ở Thanh Nhàn và những người trở về từ các nhà tù của Việt Nam?
Những người nghèo đó cần tiếp sức để đi vào dòng chảy chung của xã hội, họ cần lửa và ánh sáng của hy vọng để nhấc đi ám ảnh tinh thần què quặt, họ cần ai đó đưa họ ra phía ánh sáng, cho họ niềm tin.
Ánh sáng đó đến từ những tấm gương người thực việc thực, nhìn thấy được của người thân, của bạn bè, của bạn, của tôi.
Họ cần cơ hội để làm lại cuộc đời tù tội. Cần giáo dục. Cần vay tiền để mở mang làm ăn, cần việc làm, cần giới kinh doanh nhìn họ như một thị trường tốt và đầu tư vào họ. Cần ai giúp họ nhìn thấy những giấc mơ bên ngoài cửa sổ và đặt vào tay họ chiếc xẻng cuốc đất.
Sau một vụ ẩu đả dân sự ở Los Angeles năm 1992, nhà khởi nghiệp trẻ John Hope Bryant đã thành lập tổ chức Operations Hope để cung cấp các công cụ kinh tế và dịch vụ để tiếp năng lực cho những người nghèo, tạo ra dòng hy vọng chảy liên tục trong cộng đồng.
Liên tục cho đến nay, anh John và Operations Hope đã có tác động rất lớn vào xã hội Mỹ, và được cựu tống thống Bill Clinton đề cao trong cuốn sách “Giving, How each of us can change the world” của ông. Có lẽ chúng ta sẽ quay lại với Operations Hope vào một dịp khác.
Hôm nay, mình giới thiệu với các bạn bản sứ mệnh của anh John Hope, người sáng lập và CEO của tổ chức Operations Hope. Anh John có tầm nhìn thật sáng và hiểu sâu sắc về người nghèo.
Dưới bối cảnh nhiều người thất nghiệp và kinh tế thế giới hiện nay, có lẽ chúng ta lại càng thấm thía thông điệp này của anh John hơn. 🙂
Nghèo khác với không có tiền. Và một cánh tay kéo người khác lên, chứ không chỉ một cánh tay cho cứu trợ xã hội.
Chúc các bạn một ngày tiếp lực,
Hiển.
.
Giải phóng khỏi nghèo đói
Có một sự khác biệt giữa không có tiền và nghèo. Không có tiền là một tình trạng kinh tế tạm thời, nhưng nghèo là một cái khung trí óc tê liệt hóa và một trạng thái kiệt quệ của tinh thần của bạn, và bạn phải thề không bao giờ bị nghèo nữa.
Tầm nhìn của tôi cho những người nghèo, thiếu phục vụ, và những người không có tiền của thế giới là giúp họ thấy chính họ — khác đi. Chúng ta có thể làm điều này bằng cách giúp đưa họ ra ánh sáng, giáo dục, truyền năng lực, và cuối cùng là khơi cảm hứng cho họ. Giúp họ trở thành “những người mơ ước, với xẻng trong chính đôi bàn tay của họ”, trích lời bạn tôi, tiến sĩ Dorothy Height.
Nhìn thấy chính họ như là con người thật của họ; giàu có về tinh thần. Như là tài sản, và không phải là những khoản nợ trên bản thanh toán toàn cầu của thế giới.
Bởi vì, tôi đã thấy, thấy đi thấy lại, rằng nếu cho một lựa chọn với đầy đủ thông tin, những người nghèo không muốn nhận bố thí, mà đơn giản là một bàn tay kéo lên. Họ muốn nhân phẩm đến từ việc tự lo lắng cho mình.
Giáo dục là công cụ xóa nghèo đói tối hậu, và khi bạn biết tốt hơn, bạn sẽ làm tốt hơn.
Đi từ quyền dân sự tới quyền tiền bạc. Từ cùng hòa hợp (đen trắng) tại quầy ăn trưa, tới cùng hòa hợp với những đồng đô la.
Những cộng đồng nghèo, khắp thế giới, đại diện cho những thị trưởng đang lên của thế giới. Một người có thế tạo ra sự khác biệt, và chúng ta là người đó. Chúng ta có trách nhiệm với thế giới chúng ta đang sống, bởi vì thực sự đó là thế giới chúng ta tạo ra. Một chút hy vọng có thể tạo ra sự khác biệt.
.
John Hope Bryant Mission Statement
“There is a difference between broke and being poor. Being broke is a temporary economic condition, but being poor is a disabling frame of mind and a depressed condition of your spirit, and you must vow to never, ever be poor again.”
My vision for the poor, the under-served, and the wealthless of the world is to help them see themselves — differently. We can do this by helping to expose, to educate, to empower, and ultimately to inspire them. To help them become “dreamers, with shovels in their own hands,” quoting my friend Dr. Dorothy Height.
To see themselves for what and who they truly already are; rich in spirit. Assets, and not liabilities on the world’s global balance sheet.
Because, I have seen, time and again, that given an informed choice, the poor do not want a hand out, but simply a hand up. They want the dignity that comes from doing for self.
That education is the ultimate poverty eradication tool, and when you know better, you tend to do better.
Moving from civil rights to silver rights. From integrating the lunch counter, to integrating the dollar too.
That low-wealth communities, the world over, represent future emerging markets waiting to be born. That one person can make a diference, and we are that one person. That we are all accountable and responsible for the world we live in, because it is literally the world we create. A little hope can make the difference.
John Hope Bryant
Chairman, Chief Executive Officer
Trong bài Không giống ai! chúng ta đã nói đến vấn đề rất căn bản cho văn minh Đại Việt là, văn hóa của chúng ta không những không sáng tạo mà còn tích cực chống lại sáng tạo, vì trong cuộc sống hàng ngày, văn hóa của ta nhắm diệt cá tính và ép mọi người giống nhau. Sáng tạo là cá tính; cái mới nhất định là phải “không giống ai” mới là mới.
Hôm nay ta tiếp tục nghiên cứu, làm cách nào để chúng ta gia tăng sáng tạo cho mỗi cá nhân chúng ta và, như vậy, dĩ nhiên là cho cả quốc gia.
Hiện nay chúng ta có 3 điều lợi cho việc biến văn hóa của ta thành văn hóa sáng tạo. Thứ nhất là Internet. Internet giúp cho mỗi người Việt tiếp xúc với tư tưởng mới lạ hoặc xa lạ hàng ngày. Điều này làm cho cách suy nghĩ của chúng ta trở nên rộng rãi hơn, và bớt bảo thủ.
Điều thứ hai là chúng ta có người Việt trên khắp thế giới, liên lạc với quê nhà nhà 24 giờ một ngày qua Internet. Mấy anh chàng và cô nàng “lai Tây, lai Mỹ, lai Hoa, lai Nhật , lai Đức…” này đương nhiên là có những tư tưởng không giống ai mỗi ngày. Điều đó làm cho văn hóa của ta có cơ hội tiếp nhận tư tưởng mới mỗi ngày. (Hay hoặc dở, để đó tính sau. Việc trước mắt là tư tưởng mới mỗi ngày).
Điều thứ ba là chúng ta hiện có một dân số rất trẻ trung. Tuổi trẻ cộng với Internet, đó là công thức rất tốt cho sáng tạo.
Với những điều kiện thuận tiện như vậy, mỗi chúng ta cần quan tâm đặc biết đến sáng tạo một tí, để năng lực sáng tạo có thể sống tốt sống mạnh.
1. Điều thứ nhất là tư duy: Sống là sáng tạo. Sống là mọc thêm chồi non, lá mới, cành mới mỗi ngày. Sáng tạo không phải là y’ thích. Sáng tạo chính là sống. Không còn sinh ra được cái gì mới nữa là đã chết hay sắp chết. Giản dị thế thôi.
2. Sáng tạo là suy nghĩ không giống ai, làm cái không giống ai. Cho nên hãy ca ngợi những cái không giống ai của người khác, dù cái đó mình không cần, và không mấy thích (miễn là không thực sự phải chống vì ly’ do cụ thể nào đó về vệ sinh, hay đạo đức, hay ly’ do quan trọng nào đó).
3. Khuyến khích con cái, học trò, bạn bè, và những người quanh ta thể hiện cá tính của họ, thể hiện các suy tưởng và hành động mới lạ của họ.
4. Dĩ nhiên không phải tư tưởng mới hành động mới nào cũng tốt, nhưng nếu có 100 cái mới, sau đó thời gian đào thải hết 70 còn 30 là vừa, Thay vì, có chỉ 2 cái mới và thời gian đào thải 1 chỉ còn lại 1.
5. Có tư tưởng mới có nghĩa là bạn nằm trong thiểu số chỉ có một người. Cho nên phải có cam đảm đi một mình, đừng sợ ma. Nếu ta chia sẻ y’ tưởng với các bạn, thì cũng chỉ có một số rất nhỏ có thể thấy được điều ta nói (vì tư tưởng mới lạ thường là thế). Lại nữa, trong môi trường chống “không giống ai” của văn hóa Việt, ta có thể lại càng cô đơn. Phải can đảm vả chấp nhận chuyện đó. Thiên tài thường phải lặn lội một mình. Những vẫn cứ chia sẻ ra ngoài, biết đâu hàng xóm thì không hiểu được, nhưng một người bạn bên kia quả địa cầu lại hiểu được.
6. Một phát mính mới không có nghĩa là một việc cực kỳ mới lạ và lớn lao, như… làm con đường đi bộ lên mặt trăng. Đại đa số phát minh trên thế giới chỉ là một tí cải tiến trên cái cũ. Ví dụ: Lon Coca Cola có đáy nhỏ hơn đầu, là một cải tiến nhỏ xíu, từ lon cũ đầu bằng đáy. Nhưng tiện nghi kinh tế của phát minh nhỏ xíu này lại rất lớn. Hầu hết tất cả các máy móc dụng cụ mà ta đang sử dụng là kết quả của cả trăm phát minh nhỏ trong nhiều năm dồn lại, chứ không phải 1 phát minh lớn.
7. Tư tuởng cần hành động mới trở thành hiện thực. Cho nên có y’ tưởng rồi thì hãy tìm cách thực hiện nó.
8. Đừng lo thắng bại. Tất cả các thí nghiệm về tất cả mọi vấn đề, từ hóa học, đến IT, đến kinh tế, đến thương mãi, do bất kỳ ai làm, tại bất kỳ nơi nào trên thế giới, luôn luôn bị thất bại nhiều lần, rồi mới được thành công. Cho nên bạn sẽ phải hỏng nhiều lần trước khi thành. Nhưng bị hỏng là bước đường bắt buộc phải có trước khi thành. Hỏng là một đoạn đường có ổ gà trên toàn đoạn đường đi đến thành công. Không đi đoạn này thì không có đoạn sau. Người sợ hỏng là người không hiểu đời một tí nào cả, như là lái xe mà đòi đường không có ổ gà hay nước lụt hay chướng ngại gì đó.
9. Ngày xưa ta cần sáng tạo để tìm ra giải pháp cho một vấn đề, để đáp ứng một nhu cầu của thị trường. Nói chung, ngày xưa sáng tạo là phản ứng. Ngày nay, ta sáng tạo không phải chỉ để đáp ứng nhu cầu có sẵn, mà là để tạo ra nhu cầu khi nhu cầu đó chưa có. Ví dụ: Những người tạo ra computer đã tạo ra cho chúng ta một nhu cầu, dù là mấy mươi năm trước đây, trước khi computer ra đời, chẳng ai cần computer cả. Điện thọai di động, lò vi sóng.. cũng thế. Tất cả đều là do các chuyên viên IT tạo ra nhu cầu.
Trong khung cảnh kinh tế thế giới ngày nay, nếu chỉ sáng tạo để đáp ứng một nhu cầu có sẵn, là ta đã đi lẹt đẹt đằng sau rất chậm. Ta phải đi trước, phải tạo ra nhu cầu khi nhu cầu chưa có. Ta phải mường tượng được thế giới đang đi về hướng nào, để sáng tạo ra giải pháp khi nhu cầu chưa kịp đến, vấn đề chưa kịp hiển lộ, và đa số người không ai biết tại sao ta làm thế.
10. Tất cả chúng ta cần biết rằng “sáng tạo” là yếu tố quyết định thắng hay bại, cho mỗi cá nhân ta, và cho tổ quốc ta trên chính trường và thương trường quốc tế. Đầu óc lờ đờ không tìm ra cái gì mới thì phải thua, càng nghĩ ra được nhiều cái mới ta càng thắng.
Tất cả hệ thống giáo dục, chính trị, kinh tế, xã hội của ta phải nhắm vào mục tiêu gia tăng mức sáng tạo mỗi cá nhân trong nước. Các hình thức bóp nghẹt sáng tạo phải được dẹp bỏ. Chúng ta là một quốc gia vô địch. Ta đã thắng những cường quốc mạnh nhất thế giới trong nhiều cuộc chiến. Hãy sống và làm việc như những người vô địch.
Tin sáng quốc tế, anh Trần Đình Hoành tóm tắt và nối links.
Chính phủ Đài Loan tăng thêm hơn 4.000 quân để cứu hộ các nạn nhân đất chuồi – Đã tìm thấy 70 người chết. Tổng thống Đài Loan nói có thể có hàng trăm người chết chưa tìm ra. Hồ tắm ở Pháp cấm burkini– Burkini là bộ đồ tắm cho phụ nữ Hồi giáo, giống như bộ thường phục với mũ che đầu. Một phụ nữ Pháp theo đạo Hồi giáo, mua bộ burkini ở Dubai, về mặc trong hồ tắm ở Paris. Tuy nhiên, nhân viên hồ tắm mời bà ra khỏi hồ với lý do vệ sinh: Không được mặc áo quần thường xuống hồ tắm.
Facebook Lite ra đời – Facebook đã chào hàng Facebook Lite cho mobile phones và Internet vận tốc chậm ở Ấn độ, và đang dự đinh mở sang Trung quốc và Nga.
Mỹ thắng Trung quốc tại WTO – WTO vừa tuyên bố là chính sách Trung quốc không cho các công ty Mỹ bán phim ảnh và sách vỡ trực tiếp cho dân Trung Quốc và phải qua các công ty nhà nước của Trung quốc, là vi phạm luật WTO. Đây là một chiến thắng quan trọng cho Mỹ.
Tin sáng quốc nội, chị Thùy Dương tóm tắt và nối links.
Tôn vinh “Dũng sĩ nghìn việc tốt” – Liên hoan Dũng sĩ nghìn việc tốt toàn quốc lần thứ nhất với sự tham dự của 231 đại biểu thiếu nhi tiêu biểu, đại diện cho gần 15 triệu thiếu nhi cả nước diễn ra trong ba ngày, từ 15 – 17/8 tại Hà Nội và Bắc Ninh.
Những kỹ sư vì cộng đồng – 15 cá nhân được chọn vào vòng chung khảo Giải thưởng Tôn Đức Thắng năm nay là những người tiêu biểu nhất cho niềm đam mê nghề nghiệp, óc sáng tạo và nỗ lực bền bỉ, phấn đấu không ngừng.
Ngôi nhà xưa bên suối dự Giải thưởng Văn học ASEAN 2009 – Tập truyện ngắn Ngôi nhà xưa bên suối của nhà văn Cao Duy Sơn vừa được Hội Nhà văn Việt Nam chọn gửi tham dự Giải thưởng Văn học Asean 2009, tổ chức tại Thái Lan. Tác phẩm cũng từng nhận được giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam 2008.
Từ phòng mổ đến giảng đường – Nghị lực phi thường đã được đền đáp, Nguyễn Thị Yến đậu cả hai ngành luật và công nghệ sinh học của ĐH Tây Nguyên.
Ngày hội của những người tình nguyện lần 3-2009 – sẽ diễn ra từ 6g-22g ngày 16-8, nhằm hướng đến việc chăm lo cho các bạn nhỏ khó khăn, người già neo đơn, bệnh nhi hiểm nghèo, SVHS nghèo hiếu học… Ngày hội mời gọi các bạn trẻ, chiến sĩ các chiến dịch tình nguyện và người dân TP.HCM cùng tham dự.
Hôm nay trong chương trình Nhạc Xanh chúng ta đến thăm viếng nước anh em Lào, đề hiểu thêm về nền văn hóa này một tí. Khèn
Âm nhạc truyền thống Lào rất giống âm nhạc Khmer, và cũng rất giống nhạc truyền thống Thái. Có gốc sâu xa trong nhạc truyền thống Ấn độ. Các nước Thái, Khmer và Lào đều nẳm trong vùng văn minh Ấn Độ. Và Indochina (Việt Nam, Lào và Campuchia) có nghĩa là Ấn Trung, nơi hai nền văn minh cổ đại Ấn Độ và Trung Hoa gặp nhau.
Khí cụ nỗi bật nhất trong nhạc truyền thống lào là Khèn (khene), là một khí cụ thổi do nhiều ống sao hợp lại, nhưng có thể tạo ra hợp âm, như là tiếng đàn phong cầm (accordion). “Khèn làm ra người Lào và người Lào làm ra khèn.”
Hoa sứ, Dok Champa -- quốc hoa của Lào
Ban nhạc lễ bái truyền thống, gọi là Sep Nyai, có hai bộ gồng (kong vong), một đàn gõ bằng gỗ (lanat), sáo (pei hay salai), hai bộ trống, và hai bộ chiêng nhỏ (xing).
Dàn nhạc Sep Noi, để chơi nhạc phổ thông, là dàn nhạc ngoài các khí cụ của Sep Nyai còn có thêm đàn cò hai dây, gọi à So U hay So I hay đàn Ấn độ, và dĩ nhiên là khèn.
Sau đây mời các bạn nghe một số bản nhạc tượng trưng.
Video 1: Nhạc khèn cùng lời ca truyền thống.
Video 2: Vũ truyền thống Lào, với dàn nhạc truyền thống Sep Nyai
Video 3: Noon, một ca sĩ và nữ minh tinh màn bạc đương đại của Lào, hát bài Dok Champa, tức la Hoa Sứ, quốc hoa của Lào.
Video 4: Vũ truyền thống Lào tại đại hội thượng đỉnh ASEAN
.
Nhạc Khèn cùng ca truyền thống
.
Vũ truyền thống Lào — Fon Lao Duang Duean với ban nhạc truyền thống Sep Nyai.
. Noon — Dok Champa (Hoa sứ). Noon là ca sĩ và nghệ sĩ đóng phim đương đại.
.
Vũ truyền thống Lào tạo hội nghị thượng đỉnh ASEAN
Trung Quốc là một quốc gia nhiều tôn giáo, vừa có đạo giáo bản địa lại vừa có các tôn giáo được du nhập từ nước ngoài vào như Phật Giáo, Hồi Giáo, Đạo Cơ Đốc..Các kiến trúc xây dựng của Đạo Giáo gọi là “宫” tức “Cung” hoặc “观” tức “Quán-miếu đền”, Hồi Giáo có Thanh Chân Tự, Cơ Đốc GIáo có Giáo Đường. Còn Tự Miếu, Phật Tháp, chùa được xây dựng trong hang đá được coi là ba kiến trúc lớn và đặc sắc của Phật GIáo. Bạch Mã Tự
Phật Giáo được du nhập từ Ấn Độ vào Trung Quốc từ thời nhà Hán, nhưng các kiến trúc xây dựng của Phật Giáo tại Trung Quốc có rất nhiều điểm khác biệt, có lẽ đó là do Phật Giáo sau khi được truyền bá vào Trung Quốc đã bị người Hoa Trung Quốc hóa ngay từ đầu. Điều đó được thể hiện ngay trong bố cục của các Tư Viện thời cổ đại, ví dụ như đa phần phía trước mặt của lối đi chính trong Tự Miếu là Sơn Môn, trong Sơn Môn bên trái và phải đều là lầu chuông, chính điện là điện Thiên Vương, mặt sau là điện Đại Hùng Bảo, phía sau của Đại Hùng Bảo là lầu Tàng Kinh ( nơi cất giữ thư kinh), hai bên lề của lối đi chính được bố trí các kiến trúc như tăng phòng (phòng ở của người tu hành), Trai Đường (phòng ăn chay)…Toàn bộ bố cục kiến trúc của Tự Miếu, điện Đường, mái nhà… đều được mô phỏng theo kiến trúc của cung điện Hoàng Gia, bởi vậy Tự Miếu mang khí thế Trang Nghiêm, dáng vẻ huy hoàng khá riêng biệt thể hiện được nét đặc sắc riêng của kiến trúc Phật Giáo tại Trung Quốc.
Đại Thiệu Tự
Tự Miếu Phật Giáo thường được xây dựng gần núi, cách những nơi đông dân cư. Đặc biệt là bốn núi danh tiếng như: Ngũ Đài Sơn, Nga Mi Sơn, Cửu Hoa Sơn, Phổ Đà Sơn, đây là nơi tập chung những kiến trúc Tư Miếu danh tiếng trong lịch sử, ví dụ như tại Ngũ Đài Sơn có kiến trúc Phật Quang Tự và Nam Thiền Tự .
Phật Quang Tự và Nam Thiền Tự đều được xây dựng vào thời nhà Đường, Nam Thiền Tự là kiến trúc Tự Viện được xây dựng bằng gỗ sớm nhất tại Trung Quốc vẫn còn tồn tại đến ngày nay, Trong Phật Quang Tự thì Tượng Phật, Bức Họa, nét bút mực còn lưu lại và các kiến trúc xây dựng tại đây được coi là tứ tuyệt.
Pháp Môn Tự
Phật giáo được truyền bá rất rộng rãi tại Trung Quốc, bạn có thể gặp rất nhiều các Tự Miếu được xây dựng trên khắp các vùng miền của trung quốc, nó không chỉ ghi chép lại một cách tỉ mỉ sự phát triển về văn hóa xã hội thời cổ đại và sự suy thịnh của các loại tôn giáo trên đất nước Trung Quốc, mà còn mang những giá trị lớn và quan trọng về mặt lịch sử và nghệ thuật.
Sau đây mình sẽ giới thiệu với các bạn 10 Tự Miếu được đánh giá là danh tiếng nhất tại Trung Quốc hiên nay: Miếu Quan Đế
Xếp thứ nhất: Bạch Mã Tự, nằm cách thành đông cũ của thành phố Lạc Dương khoảng vài km, đây là Tự Viện đầu tiên được xây dựng tại Trung Quốc.
Xếp thứ hai: Đại Thiệu Tự, nằm trên phố tám góc tại trung tâm cũ của thành phố Lạp (?), Đại Thiệu Tự bắt đầu xây dựng vào Công Nguyên năm 647. Truyền thuyết có lưu lại rằng, trước khi xây dựng Tự, công chúa Văn Thành đã vận dụng âm dương ngũ hành để tạo nội công biến địa hình của Tây Tạng giống như dáng nằm ngửa của một ma nữ, trong đó Đường Hồ của Lạp (?) lại nằm ở vị trí trung tâm (tức trái tim của ma nữ), do đó người dân đã phải xây dựng Tự tại Đường Hồ để xua đuổi ma nữ.
Tấn Tự
Xếp thứ ba: Pháp Môn Tự, nằm tại trấn Pháp Môn cách thành bắc của tỉnh Phù Phong khoảng 10km. Bắt đầu được xây dựng vào những năm cuối của thời kì Đông Hán, có phát tích từ thời Bắc Ngụy, bắt đầu hưng thịnh từ thời nhà Tùy, và đạt đỉnh cao vào thời nhà Đường, được đặt danh là Tự Miếu Hoàng Gia.
Xếp thứ tư: Miếu Quan Đế, hay còn gọi là Giải Châu Quan Đế Miếu, thuộc trấn Giải Châu thành phố Sơn Tây Trung Quốc. phía Bắc giáp với Ngân Hồ, mặt đối diện là một dãy núi, phong cảnh rất đẹp.
Khổng Miếu
Xếp thứ năm: Tấn Tự, được bắt đầu xây dựng vào thời Bắc Ngụy, nằm tại chân núi Ung Sơn phía tây nam của thành phố Thái Nguyên tỉnh Sơn Tây. Trong kiến trúc Tấn Tự có đặt điện Thánh Mẫu làm chủ thể, ngoài ra còn có điện hiến dâng, điện vũ, Đình Đài, cầu mộc, lầu chuông, Kim Nhân Đài, Miếu Quan Đế, suối Nan Lão, Đường Hòe…
Lạp Bốc Tăng Tự
Xếp thứ sáu: Khổng Miếu nằm tại thành phố Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc, là một kiến trúc phương đông nhiều màu sắc, một quần trúc có quy mô rất lớn, Khổng Miếu cùng với Cố Cung của Bắc Kinh và Sơn Trang Thành Đức tại Hà Bắc được coi là ba đại quần trúc lớn nhất của cổ đại Trung Quốc. Khổng Miếu nằm trong khuôn viên rộng lớn với tổng diện tích vào khoảng 133.000m². Kiến trúc chủ thể của Khổng Miếu là điện Đại Thành (đây là nơi các Hoàng đế đến thờ cúng Khổng Tử), xung quanh là 9 dãy kiến trúc được xếp hàng dọc, Tòa cửa thứ nhất của Khổng Miếu là Linh Tinh Môn được xây dựng vào thời Minh Vĩnh Lạc, tòa cửa này rộng 13m và cao khoảng 10m, được xây dựng để cúng sao Thiên Điền. Hai bên Linh Tinh Môn có đặt hai tấm bia đá lớn, bên trên khắc hàng chữ “quan viên trước khi vào phải xuống ngựa”. Phía sau của Khổng Miếu còn có tòa Khuê Văn Các, đây là tòa lầu ba tầng có chiều cao khoảng 23m rộng 30m, được làm bằng gỗ với các kiến trúc mái cong. Thiếu Lâm Tự
Xếp thứ bẩy: Lap Bốc Lăng Tự.
Xếp thứ tám: Thiếu Lâm Tự, được xây dựng vào những năm 19 thời kì Bắc Ngụy Thái Hòa, là một ngôi chùa được xây dựng trên đỉnh phía tây của Tung Sơn, trấn Trịnh Châu, tỉnh Hà Nam Trung Quốc. Đây được coi là cái nôi của Phật Giáo Thiền Tông và Võ Thuật Trung Quốc. Theo truyền thuyết của Phật Giáo Thiền Tông lưu lại thì Bồ Đề Đạt Ma, một Phật tăng người Ấn Độ sau khi từ biệt Lương Vũ Đế đã vượt sông Trường Giang đến chùa Thiếu Lâm Tự để truyền bá tư tưởng Phật Giáo cho người Hoa. Trong suốt thời gian trụ trì và thuyết pháp ở đó Phật tăng đã thực hành thiền định quay mặt vào núi trong suốt 9 năm liền. Trong quá trình giảng dạy Phật Tăng phát hiện ra các tăng nhân học trò của mình có thể lực rất kém nên đã dùng Án Ma Pháp (một loại thủ thuật kết hợp giữa xoa bóp và điểm huyệt) để dạy cho các Tăng nhân nhằm tăng cường thể lực. Và theo những ghi chép còn lưu lại thì chính Phật Tăng Bồ Đề Đạt Ma là người soạn thảo ra Dịch Cân Kinh và La Hán Thập Bát Thủ (đây chính là bài quyền đầu tiên của Thiếu Lâm Tự). Và cho đến nay Phật Tăng Bồ Đề Đạt Ma được coi là Sư Tổ của phật giáo Thiền Tông và võ thuật tại Trung Quốc. Tháp Nhĩ Tự
Xếp thứ 9: Tháp Nhĩ Tự, nằm tại trấn Lỗ Sa Nhĩ tỉnh Hoàng Trung, cách Tây Ninh khoảng 40km.
Xếp thứ 10: Huyền Không Tự, trong rất nhiều các Tự Miếu được xây dựng tại Trung Quốc thì Huyền Không Tự trên dãy núi Hằng Sơn của Sơn Tây được coi là kiến trúc Tự Miếu kì diệu nhất. Thường thì các Tự Miếu đều được xây dựng trên mặt đất bằng phẳng nhưng Huyền Không Tự lại khác biệt ở chỗ được xây dựng trên vách núi cheo leo. Huyền Không Tự
Mình mong rằng nếu bạn nào đi du lịch tại Trung Quốc, nhớ lưu ý đến 10 Tự Miếu mà mình đã giới thiệu nhé, chúc các bạn một ngày vui.
The following article says that many construction projects in Hanoi are rushing up to meet the Thang Long 1000 celebration.
You know, with all the problems with bad construction in Vietnam, such as the flooded Khâm Thiên Tunnel, the fatal accident at Landmark Tower, the collapsed bridges… I am very concerned when I hear about contractors’ rushing up to finish construction projects. Maybe some of them will collapse right after the day of the celebration.
Someone needs to take a very close look at these projects before someones die.
Các tuyến vành đai 3, quốc lộ 32, Láng – Hòa Lạc, cầu Vĩnh Tuy, cầu Thanh Trì… sẽ cơ bản hoàn tất trước Đại lễ kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long Hà Nội (tháng 10/2010).
>7 công trình ‘lỡ hẹn’ dịp kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long
Sau nhiều năm triển khai, vành đai 3 bao quanh nội đô Hà Nội đã được định hình. Theo báo cáo của Bộ Giao thông Vận tải, đoạn phía bắc cầu Thanh Trì thuộc vành đai này sẽ hoàn thành cuối tháng 8, tuyến phía nam cầu dự kiến xong vào tháng 6/2010. Trên tuyến vành đai 3, cầu Pháp Vân kéo dài, nút cầu vượt Linh Đàm – Pháp Vân, cũng sẽ hoàn tất cuối năm sau.
Đường cao tốc Láng – Hòa Lạc đang được các nhà thầu khẩn trương thi công để hoàn thành vào năm sau. Tương tự, tuyến huyết mạch phía tây nam thành phố quốc lộ 32 (đoạn Diễn – Nhổn), cũng có thể xong vào quý 2/2010.
Đây là các dự án trọng điểm của Hà Nội và Bộ Giao thông Vận tải, được tập trung vốn đầu tư và hưởng các cơ chế đặc thù. Theo đánh giá của Bộ, các dự án này đều đảm bảo tiến độ để kịp chào mừng Đại lễ 1.000 năm Thăng Long.
Nhiều công trình giao thông ở Hà Nội đang đẩy nhanh tiến độ. Ảnh: Hoàng Hà.
Bên cạnh đó, các công trình khác cũng được gấp rút giải phóng mặt bằng, khởi công chào mừng Lễ kỷ niệm, như dự án cầu Nhật Tân đã hoàn thành giai đoạn sơ tuyển thầu, chuẩn bị khởi công xây dựng cầu chính; tuyến đường nối cầu Nhật Tân – Nội Bài; tuyến đường sắt đô thị Hà Nội – Hà Đông phấn đấu khởi công vào quý III/2009. Các dự án khác là đường sắt Nhổn – ga Hà Nội, Nhà ga T2 Nội Bài sẽ được khởi công vào năm 2010.
Tại cuộc họp với các bộ ngành liên quan chiều 11/8, Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải đã yêu cầu UBND thành phố Hà Nội tập trung chỉ đạo các ban ngành, hội đồng giải phóng mặt bằng kịp thời bàn giao mặt bằng theo đúng kế hoạch của từng dự án.
Phó thủ tướng cho biết, sắp tới Chính phủ sẽ ban hành nghị định mới về cải cách thủ tục đất đai, công tác giải phóng mặt bằng sẽ có nhiều chuyển biến, để các dự án giao thông được tiến hành thuận lợi, không chậm tiến độ.
Thị trấn Mai Châu thuộc địa phận tỉnh Hòa Bình, cách Hà Nội 135 km theo hướng Tây Bắc, tiếp giáp với tỉnh Sơn La ở phía Tây, tỉnh Phú Thọ và Hà Tây (nay thuộc về Hà Nội) ở phía Bắc, tỉnh Hà Nam và Ninh Bình ở phiá Đông, và tỉnh Thanh Hóa ở phía Nam.
Mai Châu có khoảng 47.500 người sinh sống, chủ yếu là người đồng bào dân tộc thiểu số như Thái Trắng, H’mông, Dao, Mường, Tày, Hoa và Việt (Kinh). Người dân tộc Mai Châu rất thân thiên và nồng hậu, họ còn nổi tiếng với những mặt hàng thủ công mỹ nghệ, đặc biệt là tài thêu dệt thổ cẩm. Thị trấn Mai Châu còn ban tặng cho người dân một khung cảnh Thung lũng đẹp mê hồn, bao quanh bởi tán cây xanh rì và những ngôi nhà sàn mà cư ngụ ở đó phần lớn là người Thái Trắng. Chợ phiên ngày Chủ nhật kéo biết bao nhiêu dân bản về thị trấn, nơi người ta nấu các món ăn Thái, và chè chén trong những điệu múa cổ truyền.
Chúng tôi không chỉ được chiêm ngưỡng khung cảnh Thung lũng đẹp tuyệt vời, mà còn cảm thấy như là mình đang ở chốn thiên thai. Mai Châu chắc chắn là một trong những thung lũng đẹp nhất Việt Nam mà chúng tôi được viếng thăm. Mặc dù trong chuyến đi, chiếc máy ảnh vẫn có thể ghi lại vài bức ảnh đầy sắc xanh kỳ vĩ trên những thửa ruộng, nhưng cảnh đẹp mê hồn đến nỗi không ống kính máy ảnh nào có thể tái tạo được vẻ đẹp làm say đắm lòng người trong mắt chúng tôi. Khi thả bộ dọc theo con đường đất men cánh đồng, tất cả chúng tôi buộc phải dừng lại chiêm ngưỡng vẻ đẹp ngoạn mục quanh mình. Đoàn chúng tôi gồm 10 người bạn từ Hà Nội đều sửng sờ trước phong cảnh thiên nhiên chung quanh.
Chúng tôi đặc biệt ấn tượng bởi cuộc sống đậm đà màu sắc sinh thái của cộng đồng người thiểu số nơi đây và bởi sự lâu đời của nghề nông và chăn nuôi trâu bò của dân bản. Chúng tôi gặp một người phụ nữ mảnh mai rất đáng yêu, e dè trước ống kính, đang thảnh thơi ngồi bên bờ ruộng rộng thênh thang chờ trâu gặm cỏ về. Hướng dẫn viên địa phương dịch lại những câu hỏi của chúng tôi cho người phụ nữ ấy nghe, có câu này : “Nhỡ trâu của bác không về thì sao ạ?” Người phụ nữ ấy chỉ nhoẻn cười hồn hậu khoe cái miệng đậm màu trầu và mấy chiếc răng còn lại. “Tất nhiên là về chứ, lúc nào mà nó chả về.” Câu hỏi thứ hai của chúng tôi có vẻ đời tư hơn nhưng người phụ nữ vẫn vui vẻ trả lời, “Tôi 76 tuổi rồi,” bà thản nhiên nói.
Đoàn chúng tôi hết sức ngỡ ngàng trước nét đẹp và vẻ tươi tắn của bà ấy. Cả đoàn đều cho rằng người phụ nữ ấy chẳng giống gì một người 70 tuổi cả !
Để ngắm Việt Nam theo cách hẳn vốn có trước chiến tranh “chống Mỹ”, bạn phải đi đến những bản làng đẹp chưa bị ảnh hưởng bởi những kiểu cách tư bản”. Để thoát khỏi ô nhiễm không khí và ùn tắc giao thông ở các thành phố lớn (nhất là Hải Phòng, thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội), bạn phải lang thang trong những chốn quê, ngõ làng của Việt Nam (và có nhiều nơi như thế!) để ngắm nhìn người dân làm ruộng, chăn trâu bò, chăm đồng và tán chuyện với nhau… tất cả đều diễn ra trong khung cảnh đẹp đẽ yên bình! Chúng tôi, những công dân thành phố cảm thấy chút luyến tiếc khi đuổi theo những mục tiêu hơi hướm màu thực dụng, sống cuộc sống gấp gáp, bận rộn; trong khi những người dân tộc ở Mai Châu dường như có tất cả!
Quan Jun dịch
VIETNAMESE HEAVEN!
Mai Chau is located 135 km south-west of Hanoi in the Northern province of Hoa Binh which is bordered by Son La in the West, Phu Tho and Ha Tay in the North, Ha Nam and Ninh Binh in the East, and Thanh Hoa in the South. Mai Chau has a population of about 47,500 inhabitants that belong to different ethnic minority groups such as the White Thai, H’mong, Zao, Muong, Tay, Hoa and Viet. The Mai Chau hill tribes are warm and welcoming, and famous for their handicrafts – in particular for their skills in embroidering clothes. Mai Chau offers a most splendid vista of the Valley which is surrounded by lush greens and stilt houses inhabited mainly by the White Thai ethnic group. The Sunday market brings a lot of people into town where traditional Thai dishes are made and revel in traditional dances.
Not only did we find that the vista of the Valley splendid, we felt like we were in a ecological heaven. Mai Chau is certainly one of the most beautiful valleys I’ve visited in Vietnam. Although the camera was able to capture some of the impressive green tones in the rice fields during our trip, our eyes were captivated by scenes that just could not be replicated by the lens of a camera. As we walked along the dirt paths along the rice paddies all of us were compelled to stop in our tracks because the beauty around us was spectacular.
Our gang of 10 friends from Hanoi was equally amazed at the shear sense of raw nature all around us. We were particularly impressed by how ecologically sound the livelihoods of the ethnic communities were and by how long the community members work their fields and rear their animals. We met one woman who was tender and dear, and who shied away from our camera, who was sitting peacefully at the edge of one of the large rice fields waiting for her buffalo to return from grazing. Our local guide translated our questions to her, one of which was, “what if your buffalo doesn’t return?” The woman just laughed unassumingly, showing off her betel-stained mouth and few remaining teeth, “of course he’ll come back, he always comes back.” Our second question was more intrusive, but she was still happy to answer, “I’m 76 years old,” she said casually. Our group was astounded at her beauty and radiance. We all agreed that she did not look like a 76 year-old woman!
To see Vietnam the way it must have been before the “American” War, one must travel to the beautiful villages that are left untouched by the new “capitalist ways”. So get away from the air pollution and traffic congestion of the big cities (mainly Hai Phong, Ho Chi Minh City and Hanoi), one must wander out into the rural corners of Vietnam (and there are many!) to see people working their fields, tending to their animals, raising their fields, and chatting away with each other…all of these things carried out in beautifully peaceful environments! Us city folks felt a tinge of regret for pursuing the achievement of some-what materialist goals, living fast-paced, busy lives; while the ethnic minorities in Mai Chau seemed to have it all!
Tương lai kinh doanh của thế giới đang đi về hướng nào?
Trong bài viết hôm nay, mình giới thiệu với các bạn xu hướng các việc làm về nghệ thuật và thiết kế trong kinh doanh ở Mỹ, qua trao đổi của anh Daniel Pink, một biên tập viên cho tạp chí Wired nổi tiếng, và là người từng viết diễn văn cho phó tổng thống Al Gore.
Đồng hồ báo thức trong gối
Theo anh Daniel, máy tính và toàn cầu hóa đang lấy đi các việc làm có nhiều ở các thập niên trước như kỹ sư, luật sư, kế toán viên; các công việc có thể lập trình tự động được.
Bây giờ, một người bình thường có thể mở được trang web với các công cụ tự động, một dây chuyền sản xuất có thể chế tạo quần áo, đóng gói rau quả, sản xuất máy tính, với ít kỹ sư và nhân công như trước.
Một chiếc máy tính laptop dần dần sẽ bình thường như một quyển sách hay chiếc bút bi.
Và công việc được trả giá cao và cần thiết hiện nay là nghệ thuật, thiết kế, âm nhạc,… những gì thổi ý nghĩa vào sản phẩm, đổng cảm với tâm hồn con người trong một thế giới được cơ khí quá.
Sản phẩm được trả giá cao hơn sẽ là các sản phẩm đẹp và đồng cảm chứ không chỉ dùng được. Nhà hàng mang phong cách một ốc đảo ở châu Phi, chiếc đĩa mang cảnh làng quê Việt Nam, tranh tường mang vẻ cổ kính của các nhà thờ ở Ý.
Vậy mối liên hệ giữa các sản phẩm có tính nghệ thuật cao và tư duy tích cực như thế nào nhỉ?
Các sản phẩm đẹp cũng giúp cho con người có cái nhìn hướng thượng và tích cực với cuộc sống, trồng nhiều cây xanh, yêu nụ cười của những người nông dân, đồng cảm với ước mơ được đến trường của trẻ em châu Phi.
Đồng thời, sản phẩm đẹp có giá trị kinh doanh cao hơn một sản phẩm chỉ dùng được. 🙂
Tư duy tích cực, thành thật và khiêm tốn giúp con người có được sự tự do tinh thần để tha hồ tưởng tượng và sáng tạo ra những sản phẩm đẹp nhất và chất lượng cao nhất. Tất cả những tác phẩm orgininal được tạo ra dựa trên một điều căn bản: tác giả trung thực với chính mình 🙂
Chúc các bạn một ngày tuyệt vời,
Hiển.
.
Nghệ thuật, Trái tim, và Tương lai
Bàn đánh pingpong
Tôi muốn bắt đầu bằng kể với các bạn về một trong những sai lầm lớn nhất mà tôi từng mắc phải.
Hơn một thập kỷ rưỡi về trước, tôi làm một chuyện tôi rất tiếc – một chuyện tôi đôi chút xấu hổ, một chuyện tôi ước là không ai biết. Tôi muốn nói với bạn ngày hôm nay – Nếu bạn hứa giữ điều này chỉ ở trong phòng này thôi, giữa bạn và tôi.
Khi là một cậu trai trẻ, trong giây phút thiếu chín chắn của tuồi trẻ, tôi đi học luật. Tôi không học tốt ở trường luật. Thực tế, tôi tốt nghiệp trong nhóm 10% dưới đáy lớp. Tôi đã không thích trường luật. Tôi chưa từng hành nghề luật ngày nào trong đời tôi cả. Nếu tôi có thể ấn nút tua lại và làm lại khác hoàn toàn, tôi sẽ ấn.
Vậy, tại sao tôi làm điều đó? Tại sao tôi đi học trường luật? Tại sao, ồ, tại sao tôi đi vào trường luật?
Câu trả lời thực tế rất đơn giản. Đó là câu trả lời một số các bạn có trước đây. Đó là câu trả lời một số các bạn từng nghe trước đây.
Đó là lỗi của cha mẹ tôi.
Để tôi giải thích.
Khi tôi là một đứa trẻ – lớn lên trong một gia đình trung lưu, trong giữa nước Mỹ trong giữa thập kỷ 70s, mỗi cha mẹ đưa ra một đĩa lời khuyên như nhau cho con cái. Có điểm tốt, đi vào đại học, và theo một nghề cho mức sống tốt và có lẽ một chút danh tiếng. Nếu bạn giỏi toán và khoa học, làm bác sĩ. Nếu bạn giỏi tiếng Anh và lịch sử, làm luật sư. Nếu máu làm bạn kinh sợ và khả năng ngôn ngữ của bạn cần nhiều tiến bộ, làm kể toán viên.
Đó là lời khuyên cha mẹ cho tôi. Đó là lời khuyên hầu hết các cha mẹ trung lưu cho con cái. Bác sĩ. Luật sư. Kế toán viên. Kỹ sư. Đó là những công việc lẫn đến mảnh đất hứa của an toàn nghề nghiệp, danh tiếng nghề nghiệp và hạnh phúc.
Lời khuyên này được tin thật nhiều đến nỗi nếu bạn lệch khỏi lối đi này, mọi người cố chen vào và lái bạn về quỹ đạo. Ví dụ, trong trường học, tôi tập trung vào ngữ văn. Và tôi có cùng câu hỏi lặp đi lặp lại. Đó là câu hỏi một số các bạn đã hỏi từ trước. Đó là câu hỏi một số các bạn dã nghe từ trước.
Bạn sẽ làm gì với cái này?
Ngữ văn? Bạn sẽ làm gì với cái này?
Nghe quen không?
Đi học trường luật, cha mẹ tôi nói. Đó là cái gì có thể đở ta cùng đường. Đi học trường luật, mọi người nói. Nó sẽ cho các nhiều cơ hội lựa chọn. Bây giờ, để công bằng, lời khuyên đó có ý tốt. Và ở thời điểm đó, nó không hẳn là sai. Thời đó, đi học trường luật là một lối đi khôn ngoan vào thế giới đáng được tôn trọng.
Nhưng ngày hôm nay, lớp tốt nghiệp 2004, điều đó không còn đúng nữa. Những ngày này, lời khuyên đó không chỉ tẻ nhạt. Nó nguy hiểm. Bởi lẽ tương lai bạn đang nhìn đến rất khác tương lai tôi đối diện khi tôi tốt nghiệp cách đây 18 năm.
Quảng cáo bộ đồ lặn Bare
Ngày hôm nay, tương lai không thuộc về kỹ sư, luật sư, và kế toán. Tương lai thuộc về một loại người khác với kiểu trí óc khác. Tương lai thuộc về nghệ sĩ và người thiết kế, người chụp ảnh, và người minh họa. Tương lai thuộc về người sáng tạo, người đồng cảm, người nhận ra khuynh hướng, người tạo ra ý nghĩa.
Theo cách nói khác, nó thuộc về những người như bạn.
Ở nước Mỹ, số lượng những người thiết kế hình họa đã tăng 10 lần trong một thập kỷ; nhưng người thiết kể nghệ hình họa đã vượt số kỹ sư hóa học gấp bốn lần. Từ năm 1970, nước Mỹ đã có nhiều hơn 30% số người kiếm sống bằng soạn nhạc hay trình diễn nhạc.
Nhiều người Mỹ ngày hôm nay làm về nghệ thuật, giải trí và thiết kế hơn công việc như luật sư, kế toán và kiểm toán.
Đó chỉ là khởi đầu. Bởi lẽ một số lực mạnh mẽ đang hội tụ để làm lời khuyên của cha mẹ tôi lỗi thời – và làm bằng cấp của bạn từ trường Ringling giá trị hơn bạn từng tưởng tượng khi bạn nhập học cách đây bốn năm.
Một trong những lực đó là tự động hóa. Máy tính đã bắt đầu làm rung chuyển cuộc sống của những công nhân cổ trắng trong thế hệ này nhiều như chúng làm ngắt đứt cuộc sống của những công nhân cổ xanh thế hệ trước. Máy tính bây giờ có thể làm nhiều tác vụ lặp lại – xử lý đơn kiện, thêm các con số, tìm kiếm dữ liệu – nhanh hơn, rẻ hơn, và tốt hơn con người. Do đó kế toán viên mất việc cho Turbo Tax và những phần mềm kế toán khác. Cũng như thế với luật sư. Luật sư bình thường tính 180 đô một giờ. Nhưng bây giờ bạn có thể có những văn bản pháp luật đơn giản trên mạng giá 15 đô. Bạn có thể lên mạng và li dị chỉ với 249 đô. Điều đó sẽ làm cho nhiều luật sư mất việc.
Và rồi toàn cầu hóa. Như chúng ta thấy trong năm này, có hàng triệu công nhân cổ trắng có khả năng ở Ấn Độ, Phi Luật Tân, và những nơi khác sắn sàng làm những việc như lập trình đơn giản và phân tích tài chính với giá chỉ bằng một phần nhỏ của lương công nhân ở tây phương. Điều đó sẽ làm cho nhiều người làm việc với code và các con số thất nghiệp.
Hai lực này – tự động hóa và toàn cầu hóa – đang thay đổi sâu sắc thế giới việc làm. Có nghĩa là bất kỳ công việc nào chỉ dựa đơn giản trên việc đi theo một loạt quy luật – công việc có thể viết xuống thành một trang thủ tục, hay có thể được cấu hình để đưa đến một câu trả lời đúng duy nhất – sẽ bị mất. Và điều đó có nghĩa là những công việc còn lại là những việc mà máy tính không thể làm nhanh hơn và công nhân trí thức ở nước ngoài lương thấp không thể làm rẻ hơn.
Những việc còn lại bao gồm các việc tạo ra vẻ đẹp và chạm vào tâm hồn con người. Chúng sẽ dựa ít hơn vào não trái, kiều thông minh SAT chúng ta đã được dạy để kính trọng và tôn thờ – và nhiều hơn về những yếu tố của não phải về nghệ thuật và trái tim.
Nghệ thuật và trái tim. Tạo ra điều gì đó mà thế giới không biết rằng nó đã mất đi. Tạo ra những mối liên hệ đầy ý nghĩa và đồng cảm với người khác. Đó là những tính chất khó sao bản được. Và những cái này, tôi vui vẻ mà nói, đúng là những yếu tố bạn đang thuần thục ở đây tại trường Ringling.
Bàn chải nhà vệ sinh do Michael Graves thiết kế
Nhưng đợi chút, còn nữa. Bạn thấy đấy, nền kinh tế đầy những công nhân não trái đã làm việc tốt. Đất nước này, và hầu hết những nước đã phát triển, trở nên giàu mạnh hơn bất kỳ nhóm dân tộc nào trong lịch sử thế giới. Điều này đã thay đổi bản chất của kinh doanh – và nó sẽ thay đổi tiến trình của đời sống lao động của chúng ta. Và nếu bạn không tin tôi, nhìn vào đây. Đây là một chiếc bản chải trong nhà vệ sinh – nhưng không phải là một bàn chải như bao bàn chải nhà vệ sinh khác. Đây là một bàn chải thiết kế cao cấp — do Michael Graves thiết kế — một trong những kiến trúc sư và nhà thiết kế sản phẩm nổi tiếng nhất thế giới. Nó đáng giá 5.99 đô ở Target [công ty bán hàng giá rẻ]. Đúng rồi, khi chúng ta có bàn chải nhà cầu thiết kế cao cấp, cuộc sống ở Mỹ phải rất tốt.
Nhưng, có một điểm quan trọng ở đây – một điểm rất quan trọng. Trong kinh doanh, không đủ để cho một công ty hay một cá nhân bán ra một sản phẩm chỉ đơn giản là làm được việc. Bất kỳ ai cũng có thể tạo ra sản phẩm như vậy. Trong thị trường ngày nay tràn ngập đủ mọi thứ, sản phẩm và dịch vụ [của ta] phải đẹp đẽ về hình thức và vượt trội về tình cảm. Bây giờ, ở đâu bạn học về vẻ đẹp hình thức và thăng hoa tình cảm? Ở trường luật? Không, ở trường nghệ thuật.
Và điều đó giải thích tại sao một bằng về nghệ thuật bây giờ có lẽ là bằng quan trọng nhất trong kinh doanh.
(Nguyến Minh Hiển dịch)
.
Art, Heart & the Future
Quảng cáo của Pepsi
I’d like to begin by telling you about one of the biggest mistakes
I’ve ever made.
A decade and a half ago, I did something that I very much regret – something that I’m slightly ashamed of, something that I wish nobody would ever know. I’m willing to tell you tonight – if you promise to keep it in this room, just between you and me.
When I was a young man, in a moment of youthful indiscretion, I went to law school. Now, I didn’t do very well in law school. In fact, I graduated in the part of my class that made the top 90 percent possible. I didn’t enjoy law school. I never practiced law a day in my life. If I could press the rewind button and do it over differently, I would.
So why did I do it? Why did I go to law school? Why, oh why, did I go to law school?
The answer is actually quite simple. It’s an answer some of you have given before. It’s an answer some of you have heard before.
It’s my parents’ fault.
Let me explain.
When I was a kid—growing up in a middle class family, in the middle of America in the middle of the 1970s—most parents dished out the same plate of advice to their kids. Get good grades, go to college, and pursue a profession that would offer a decent standard of living and perhaps a dollop of prestige. If you were good at math and science, become a doctor. If you were better at English and history, become a lawyer. If blood grossed you out and your verbal skills needed work, become an accountant.
That’s the advice my parents gave me. That’s the advice most middle-class parents gave their kids. Doctor. Lawyer. Accountant. Engineer.
Those were the jobs that led to the promised land of financial security, professional prestige, and overall happiness.
The advice was so widely believed that if you deviated from the path, everybody tried to step in and steer you back on course. For example, in college, I majored in linguistics. And I got the same question over and over again. It’s a question some of you have asked before. It’s a question some of you have heard before.
Các lọai ly
What are you going to do with that?
Linguistics? What are you going to do with that?
Sound familiar?
Go to law school, my parents told me. It’s something to fall back on.
Go to law school, everyone said. It will keep your options open.
Now, to be fair, that advice was well-intentioned. And at the time, it wasn’t exactly wrong. Back then, going to law school was a wise pathway into the respectable world.
But today, class of 2004, that’s no longer true. These days, that advice is not just boring. It’s dangerous. Because the future you’re facing looks very different from the future I faced when I graduated from college 18
years ago.
Today, the future doesn’t belong to those engineers, lawyers, and accountants. It belongs to a very different kind of person with a very different kind of mind. The future belongs to artists and designers, photographers and illustrators. It belongs to creators and empathizers, pattern recognizers and meaning makers.
In other words, it belongs to people like you.
…
In the U.S., the number of graphic designers has increased tenfold in a decade; graphic designers outnumber chemical engineers by four to one. Since 1970, the U.S. has 30 percent more people earning a living as writers and 50 percent more earning a living by composing or performing music.
More Americans today work in arts, entertainment, and design than work as lawyers, accountants, and auditors.
And that’s just the beginning. Because several powerful forces are converging to make my parents’ advice obsolete—and to make your degree from Ringling more valuable than you ever imagined when you enrolled
here four years ago.
One of those forces is automation. Computers have begun to shake up the lives of white-collar workers this generation much as they disrupted the lives of blue-collar workers last generation. Computers can now do many routine tasks—processing claims, adding figures, searching data—faster, cheaper, and better than humans can. So accountants lose work to TurboTax and other accounting software. The same thing is happening to lawyers. The typical lawyer charges $180 an hour. But now you can get basic fill-in-the-blank legal forms on the web for 15 bucks. You can even go online and
get a divorce for a mere $249. That will leave a lot of lawyers unemployed.
Then there’s globalization. As we’ve seen this year, there are millions of capable white-collar workers in India, the Philippines, and elsewhere willing to do work like basic computer programming and financial analysis for a fraction of the pay of workers in the west. That will leave a lot of code slingers and number crunchers unemployed.
Xe đạp
These two forces—automation and globalization—are profoundly changing the world of work. They mean any job that is based on simply following a prescribed set of rules—that can be reduced to a spec sheet or configured to produce a singe right answer—is a goner. And that means that the jobs that remain will be the sort of things that computers can’t do faster
and low-wage overseas knowledge workers can’t do cheaper. The jobs that remain will involve creating beauty and touching the human soul. They’ll rely less on the sort of left brain, SAT kind of intelligence we’ve been schooled to respect and hectored into worshipping – and more on the right brain qualities of art and heart.
Art and heart. Creating something the world didn’t know it was missing. Forging meaningful relationships and empathizing with others. These are qualities that are difficult to replicate. These are qualities that will define the workforce of the future. And these, I’m happy to say, are the very qualities you’ve been mastering here at Ringling.
But wait, there’s more. You see, that economy filled with left-brain workers did pretty well. This country, and most of the developed countries, became wealthier than any group of people in the history of the world. This has changed the nature of business – and it will change the course of your working lives. And if you don’t believe me, look at this. This is a toilet brush – but not just any toilet brush. It’s a designer toilet brush – designed by Michael Graves, one of the world’s most famous architects and product designers. It costs $5.99 at Target. Yes, when we’ve got designer toilet brushes, life in America must be pretty good.
But there’s a serious point here – a very serious point. In business, it’s no longer enough for a company or an individual to offer a product or a service that’s simply functional – that merely works. Anybody can do that. In today’s overstocked, materially abundant marketplace, that product or service also has to be physically beautiful and emotionally transcendent.
Now, where do you learn about physical beauty and emotional transcendence? At law school? No, at art school.
And that explains why an art degree is now perhaps the most valuable
degree in business.
Daniel H. Pink at Ringling School of Art and Design
May 2004