Category Archives: Video & PPS

Cung đạo – Nghệ thuật bắn cung Nhật Bản

kyudo-1Cung đạo là nghệ thuật bắn cung của Nhật (kyudo) còn gọi là xạ nghệ. Cung đạo mang một ý nghĩa triết lý sâu xa. Do vậy mục đích chính của người bắn cung không phải là bắn trúng đích mà là nắm vững cái nghệ thuật bắn cung. Khi cung thủ nắm vững đến mức hoàn thiện từng động tác của mình – thoát ra khỏi cái ý muốn thường ám ảnh là muốn tên phải bắn trúng đích – thì mũi tên sẽ tự lao đến đích. Người Nhật không coi Cung đạo là một môn thể thao mà coi nó như là một nghi thức tôn giáo. Do đó “đạo” của Cung đạo chẳng phải nói về thể thao gia tập luyện thân thể mà nói về năng lực phát huy từ việc rèn luyện tâm linh, với mục đích bắn trúng mục tiêu tâm linh. Cho nên, trên căn bản, cung thủ nhắm vào chính mình và thậm chí có thể thành công trong việc bắn trúng chính mình.

kyudo-2Như vậy, Cung đạo là những bài học luyện tập tâm linh, là phương pháp tu tập thiền định, người thực hành không thể thành tựu được điều gì ở bên ngoài bằng cung tên, mà chỉ có thể thành tựu trong nội tâm, với chính bản thân. Cung tên là một loại võ khí của thời xưa, nhưng nay thì nó là một phương pháp không chỉ riêng nhắm đến mục đích vị lợi hoặc thuần túy thỏa mãn óc thẩm mỹ, mà cốt để tu tâm dưỡng tính, hay nói đúng hơn là để tâm hội nhập với chân lý thâm cùng.Tinh tuý của Cung đạo ngày nay là đạt đến chân thiện mỹ, lấy trạng thái tâm linh làm nền tảng .

Cây cung dùng trong Cung đạo lớn hơn nhiều so với loại cung thường. Cây cung này cũng không được cân đối. Sợi dây của cây cung không được chạm vào vòng cung. Mũi tên cũng dài hơn thường lệ. Chiều dài của mũi tên cũng như tầm cao của cây cung tương xứng với vóc dáng của cung thủ. Cung thủ thường dùng cái găng tay bằng da để nắm cung. Khoảng cách và vòng tròn của cái bia xa gần, lớn nhỏ tuỳ thuộc vào người tổ chức. Thông thường, một cái bia tiêu chuẩn có 36cm đường kính, đặt cách cung thủ 28m và trên mặt đất 9cm .

kyudo3Rèn luyện bắn cung trước tiên là tu tập nội tâm. Cung tên chỉ là phương tiện cho những gì có thể xảy ra mà không cần tới chúng, chúng chỉ là con đường dẫn tới mục tiêu, chứ chẳng phải là chính mục tiêu, chỉ là những hỗ trợ cho bước nhảy vọt tối hậu. Giương cung, ngưng lại, buông tên đều phải tuân thủ theo những giáo huấn đặc biệt. Chỉ cần chú ý rằng thân thể phải thư giãn khi đứng, ngồi, hoặc nằm. Nếu cung thủ tập trung tâm lực vào hơi thở thì lúc ấy chỉ còn nhận biết mình đang thở. Như vậy là sai . Muốn tự tách mình ra khỏi cảm giác và tri thức này, người ta không cần tới một quyết tâm nào, bởi vì hơi thở sẽ tự nó đi chậm lại, trở thành mỗi lúc một tiết kiệm hơi thở hơn trước, cuối cùng biến thành mờ nhạt và hoàn toàn thoát ra khỏi sự chú ý của cung thủ.

Trong thuật bắn cung, cái bắn trúng và cái bị bắn không còn là hai đối tượng tách biệt nhau, mà hợp thành một thực thể duy nhất. Người bắn không còn ý thức gì về mình khi chăm chú vào tâm điểm trước mặt. Trạng thái không còn ý thức gì về mình hay “vô tâm”, “vô thức”, “phi tư lương” này chỉ có được khi cung thủ – người bắn – hoàn toàn vắng lặng, dứt bỏ cái tôi và nhập một với việc trao dồi để hoàn thiện tài năng kỹ thuật; mặc dù trong việc này có cái gì đó thuộc về một đẳng giới rất khác biệt không thể đạt đến bằng bất cứ sự học tập nghệ thuật theo cách tiệm tiến nào.

Tính toán quá kỹ sẽ sai lầm. Toàn bộ công trình bắn cung như vậy là thất bại. Tâm lăng xăng của cung thủ đã phản bội lại chính mình trong mọi hướng và trong mọi môi trường hoạt động. Để dễ nhập vào tiến trình giương cung và buông tên, cung thủ quì một đầu gối và bắt đầu nhập định, đứng lên, bước về phía tấm bia theo nghi thức nghiêm trang, kính cẩn dâng cung tên lên trước mặt giống như dâng hiến phẩm vật cúng tế, rồi lắp mũi tên, nâng cung lên, giương cung và chờ đợi với thái độ tâm linh vô cùng tỉnh thức. Sau khi mũi tên và sức căng được thả ra nhanh như tia chớp, cung thủ giữ nguyên tư thế đó, đồng thời chậm rãi thở ra hết hơi rồi hít hơi vào. Chỉ tới lúc đó cung thủ mới được buông thõng tay xuống, cúi chào cái bia và – nếu đã bắn hết tên – lặng lẽ lui về phía sau.

 Loan Subaru (Sưu tầm và tổng hợp)

Bài hát đếm số dễ thương

Chào các bạn,

Counting-songĐể thay đổi không khí, hôm nay mình xin được giới thiệu với các bạn một bài hát tiếng Nhật nho nhỏ gọi là “Bài hát đếm số”. Bài hát này được phát trong chương trình Minna no Uta (Everybody’s song) của đài NHK – Nhật lần đầu tiên vào ngày 1/10/2008 và được rất nhiều người ưa chuộng. Bài hát này rất đơn giản các bạn à, chỉ cần đếm dần các con số, bắt đầu từ 1 là đã có một bài hát thật dễ thương. Bài hát này do chính nữ ca sĩ khá nổi tiếng Ikeda Ayako sáng tác và biểu diễn.

Sau đây là đoạn video clip và phần lươc dịch nội dung của bài hát. Mời các bạn thưởng thức và chúc các bạn một ngày thật vui tươi!

Một Hai Ba Bốn Năm Sáu Bảy
Chỉ cần đếm số là thành một bài ca
Một Hai Ba Bốn Năm Sáu Bảy
Giọng hát bạn thành một bài ca

Các con số ở khắp nới trên thế giới 
Nếu cùng hát chung với nhau thì thật hay nhỉ.
Cách đếm số ở đất nước bạn
Nếu hát lên thì, hãy nhìn kia, những gương mặt tươi cười

(Cách đếm số 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7 của các quốc gia như Trung Quốc, Đức, Thổ Nhĩ Kỳ, Châu Phi)

Tràn ngập trên thế giới
Tương lai trong tay ta
Như cầu vòng bảy sắc
Ta vượt qua bảy đại dương 

Bài hát đếm số vang vọng lên bầu trời cao
Trong đêm sao, vào buổi sáng ngập nắng
Như bạn bè và như gia đình
Chúng ta cùng hát, và nắm tay nhau.

Không hề có khoảng cách
Chúng ta gắn kết với nhau trên trái đất này.

Loan Subaru

USA for Africa và We Are The World

Nhạc Xanh tiếp tục mời các bạn thưởng thức một bản nhạc thuộc dòng nhạc pop rock lừng danh thế giới, còn được mệnh danh là quốc tế ca thời hiện đại, hay bản thánh ca của thế kỷ 20: “We Are The World” (Chúng ta là thế giới), một ca khúc giàu tính nhân văn và đại đồng.
We-are-the-World.1

We Are The World cùng với Heal The World, và Earth Song là 3 ca khúc hay nhất về thế giới, hòa bình và nhân đạo.

Sự thực là đã hơn 24 năm qua từ ngày ca khúc ra đời, bài hát này vẫn còn nguyên giá trị cao đẹp vì ý nghĩa và mục đích ra đời của nó, tiếp tục vượt thời gian và không gian, đi vào trái tim của những người nhân ái, yêu hoà bình, chứ không chỉ là người yêu nhạc.

Mọi sự khởi đầu từ tháng 11 năm 1984, ca sĩ rock Bob Geldof, người Ireland, đáp lại một bản tin về trẻ em châu Phi bị chết đói, đã sang Ethiopia theo sự ủy nhiệm của Ủy Hội vì châu Phi (Commission for Africa). Bất ngờ và xúc động trước sự nghèo khó cùng cực và cuộc chiến sắc tộc đẫm máu ở xứ sở này, khi trở về, Geldof đã viết bài hát “ Do They Know It’s Christmas?” và vận động các ngôi sao nhạc Rock khác ghi âm và phát hành đĩa đơn này với số tiền cuối cùng thu được là hơn 8 triệu đô la để cứu trợ cho nạn nhân của nạn đói ở châu Phi và Ethiopia.

Sau đó ngày 13/7/ 1985 Geldof khởi xướng và tổ chức đồng thời 2 chương trình âm nhạc qui mô lớn có tên Live Aid ở sân vận động Wembley tại London và sân vận động John F. Kennedy ở Philadelphia, với sự tham gia của các ca sĩ lừng danh như Sting, Elton John, Eric Clapton, Bob Dylan, Madonna, Paul McCartney, Phil Collins, Tina Turner, Sade, Neil Young, Paul Young, Bryan Adams, v.v, và các ban nhạc tiếng tăm như U2, Who, Queen, Dire Straits, Heartbreakers, The Pretenders, … Chương trình từ thiện này được truyền trực tiếp qua truyền thanh và truyền hình với 9 vệ tinh nhân tạo cho khoảng hơn 1 tỉ khán giả hơn 100 nước. Tổng số tiền thu được để cứu trợ nạn đói là hơn 150 triệu đô la.

Tại chương trình này, ngoài bài hát nói trên của Bob Geldof, We Are the World là một sự kiện lớn gây chấn động cả thế giới vì sự truyền cảm và tác động sâu sắc của ca khúc.
Được sáng tác bởi Michael Jackson và Lionel Richie, 2 ca sĩ-nhạc sĩ đỉnh cao âm nhạc, ca khúc này do Quincy Jones chỉ đạo và sản xuất; sau đó nó được thu âm vào ngày 28-1-1985 bởi một nhóm các ngôi sao nhạc pop nổi danh thời bấy giờ, được mệnh danh là USA for Africa ( United Support of Artists for Africa) – nhóm những Nghệ Sĩ Ủng Hộ Châu Phi.
SP_USA_for_Africa_Front
Harold Belafonte ( sinh năm 1927), một ca sĩ Mỹ da đen, đã khởi xướng ý tưởng cho bài hát này, lấy cảm hứng từ ý tưởng của sự kiện âm nhạc từ thiện ở Châu Âu của Bob Geldof. Xuất thân nghèo khó, Belafonte hăng say tham gia hoạt động xã hội và từ thiện với UNICEF, và thành lập “USA for Africa”. Hơn 40 nghệ sĩ kiệt xuất của nhiều thế hệ ca sĩ Mỹ như Bruce Springsteen, Michael Jackson, Ray Charles, Stevie Wonder, Bob Dylan, Diana Ross, Tina Turner, Billy Joel… đã hợp lực thu thanh bài hát vĩ đại này đúng vào đêm trao Giải thưởng Âm nhạc Nước Mỹ (American Music Awards), 28-1-1985.
We are the world 4doc

Đĩa đơn có bài hát We Are The World lập tức nhảy lên vị trí 1 trong 4 tuần từ 17/ 4/ 1985 trên Billboard 100 ở Mỹ và cũng đứng đầu bảng xếp hạng ở Vương quốc Anh và ở vị trí đỉnh cao ở hấu hết các nước trên thế giới. Đĩa này sau đó bán được hơn 7 triệu bản, đoạt 4 giải Grammy năm 1986: “Ca Khúc của Năm”, “Bản Thu Âm của Năm”, “Trình Diễn Pop Xuất Sắc Nhất dành cho Tốp ca”, và giải thưởng “Video Âm Nhạc Hay Nhất, Thể Loại Clip Ngắn”. Số tiền thu được từ CD We Are The World, 63 triệu đô la Mỹ đã sung vào quỹ từ thiện cứu trợ đói nghèo ở châu Phi.

We Are the World đã được các ca sĩ và ban nhạc khác trình bày lại nhiều lần, với sự chỉnh sửa về lời và tên gọi để phục vụ cho nhiều mục đích khác nhau. Năm 1986, ca sĩ Nina Hagen đã hát lại một bản duy nhất bằng tiếng Đức – Wir sind die Welt – trong chương trình truyền hình Đức kỉ niệm 40 năm ngày thành lập Quỹ nhi đồng Liên hiệp quốc UNICEF. Cũng có một số người chỉ trích USA for Africa là nhằm vào mục đích quảng bá hình ảnh hơn là mục đích từ thiện, nhưng ngoài số tiền hơn 60 triệu đô la vì nạn đói châu Phi, bài hát này đến tận thế kỷ 21 vẫn còn giá trị biểu cảm và thẩm mỹ âm nhạc lớn, và tiếp tục làm lay động xúc cảm cao đẹp và khát vọng hòa bình của con người bất kể chủng tôc, màu da và tôn giáo. Khi nào trên thế giới này, những hiểm họa như nạn đói, bệnh tật, thiên tai, nghèo đói và chiến tranh vẫn là những mối đe dọa đến sự bình yên và hạnh phúc của con người thì những bài hát như We Are The World vẫn còn sức sống mãnh liệt.
weworld

Ngoài ra có thể nói thành công của bài hát đỉnh cao này còn bởi giai điệu tuyệt vời và ca từ sáng đẹp như :
There comes a time when we heed a certain call
When the world must come together as one
There are people dying
Oh, and it”s time to lend a hand to life
The greatest gift of all
Đã đến lúc chúng ta để ý đến một lời kêu gọi
Khi cả thế giới cần phải sát cánh bên nhau như một
Ngoài kia, những người đang chết dần mòn
Đã đến lúc chìa bàn tay giúp đỡ
Đó là một món quà tuyệt vời hơn tất cả

We can’t go on pretending day by day
That someone, somehow will soon make a change
We’ re all a part of God’s great big family
And the truth
You know love is all we need

Chúng ta không thể tiếp tuc giả vờ ngày lại ngày
Rằng một ai đó bằng cách nào đó sẽ thay đổi
Chúng ta đều là thành viên trong đại gia đình của Chúa / Thượng đế
Và sự thực là
Bạn cũng biết tình yêu là tất cả những gì chúng ta cần.

Ca khúc này với phần trình bày solo bởi giọng ca của các nghệ sĩ tài danh hàng đầu, dù hát đơn hay hát đôi trong một hai phút, chất giọng độc đáo của họ làm xúc động lòng người, chẳng hạn Lionel Richie, Stevie Wonder, Paul Simon, Kenny Rogers, Tina Turner, Billy Joel,Michael Jackson, Diana Ross, Willie Nelson , Al Jurreau và Dionne Warwick mà các bạn đã nghe qua Dionne Warwick & Friends và That’s What Friends Are For trong chuyên mục Nhạc Xanh (26/5/2009) . Sau đó họ hòa chung giọng hát với cả nhóm cùng hát đoạn điệp khúc 3 lần.

Links :
1. We Are The World- USA for Africa ( + with lyrics)

2. We Are The World – Live From Pavarotti & Friends

3. We Are The World – Michael Jackson

Sau đây là ca từ của bài hát kèm tên của ca sĩ trình bày theo bản 1985 ( USA for Africa)

There comes a time when we heed a certain call (Lionel Richie)
When the world must come together as one (Lionel Richie & Stevie Wonder)
There are people dying (Stevie Wonder)
Oh, and it’s time to lend a hand to life (Paul Simon)
The greatest gift of all (Paul Simon/Kenny Rogers)
We can’t go on pretending day by day (Kenny Rogers)
That someone, somehow will soon make a change (James Ingram)
We’ re all a part of God’s great big family (Tina Turner)
And the truth (Billy Joel)
You know love is all we need (Tina Turner/Billy Joel)
( CHORUS )
We are the world, we are the children
We are the ones who make a brighter day so let’s start giving (Michael Jackson)
There’s a choice we’re making we’re saving our own lives (Diana Ross)
It’s true we’ll make a better day just you and me (Michael Jackson/Diana Ross)
Well, send’em you your heart so they know that someone cares (Dionne Warwick)
And their lives will be stronger and free (Dionne Warwick/Willie Nelson)
As God has shown us by turning stone to bread (Willie Nelson)
And so we all must lend a helping hand (Al Jurreau)
( REPEAT CHORUS )
We are the world, we are the children (Bruce Springsteen)
We are the ones who make a brighter day so let’s start giving (Kenny Logins)
There’s a choice we’re making we’re saving our own lives (Steve Perry)
It’s true we’ll make a better day just you and me (Daryl Hall)
When you’re down and out there seems no hope at all (Michael Jackson)
But if you just believe there’s no way we can fall (Huey Lewis)
Well, well, well, let’s realize that a change can only come (Cyndi Lauper)
When we (Kim Carnes)
stand together as one (Kim Carnes/Cyndi Lauper/Huey Lewis)
(REPEAT CHORUS AND FADE )
(giọng phụ họa ứng khẩu : Bob Dylan, Ray Charles, Stevie Wonder, Bruce Springsteen, James Ingram)

Phần điệp khúc xin dành cho các bạn tự dịch.
Thân ái chúc các bạn một ngày vui và hạnh phúc cuối tuần.

Charles-Camille Saint-Saëns và giai điệu “Thiên Nga”

Saint-SaënsChào các bạn,

Trong chuyên mục Nhạc xanh ngày hôm nay, mình xin được giới thiệu về nhà soạn nhạc nổi tiếng người Pháp Charles-Camille Saint-Saëns và nhạc phẩm “Thiên Nga”. Điều thú vị là người nhạc sĩ thiên tài này đã từng đến và sống ở Việt Nam.

Charles-Camille Saint-Saëns (9/10/1835 – 16/12/1921) là một nhà soạn nhạc, nghệ sĩ organ, nghệ sị dương cầm người Pháp rất nổi tiếng với các tác phẩm như “The Carnival of the Animals”, “Danse Macabre”, “Samson and Delilah”, “Havanaise”. Ông còn là nhà du hành lớn, từng đi đến Nga, các nước Châu Âu, Châu Mỹ, Cuba, Myanma, Đông Dương…

Tác phẩm của ông gồm 13 vở Opéra, 10 bản Concerto (trong đó có 5 bản viết cho piano), 3 bản giao hưởng, thánh ca và rất nhiều bài hát, trích đoạn piano. Ông được đánh giá là thần đồng âm nhạc bẩm sinh, có địa vị chói sáng trong nền âm nhạc Pháp và cả châu Âu.

SwanTháng 3 năm 1895, ông đến Côn Đảo – Việt Nam và được Chúa đảo Louis Jacquet dành ngôi biệt thự nằm biệt lập phía bên ngoài nhà Chúa đảo (nay là Bảo tàng Côn Đảo), mặt trông ra biển, đối diện với cầu tàu 914 – một vị trí hết sức thơ mộng…để ông lưu trú trong suốt 1 tháng. Chính trong căn nhà này ông đã hoàn tất 3 chương cuối của vở nhạc kịch bất hủ Brunehilda… Ngày nay, ngôi nhà trở thành Di tích Nhà Công Quán với Phòng Trưng Bày Lưu Niệm Nhạc Sĩ Camille Saint Saens với rất nhiều hình ảnh, tài liệu về người nhạc sĩ tài hoa. Bức tượng bán thân của ông được đặt trang trọng giữa nhà, còn trên vách là dòng chữ trích từ bức thư ông gửi cho Chúa đảo trước khi từ biệt: “Ở đâu cái đẹp được tôn trọng thì ở đó tội ác bị đẩy lùi, ở đó chẳng cần đến luật pháp” (trích thư gửi Chúa đảo Louis Jacquet tháng 4/1895).

The SwanSau đây, xin mời các bạn thưởng thức nhạc phẩm “Thiên Nga”, do nghệ sĩ violoncell Tanja Derwahl biểu diễn. Đây là một nhạc phẩm thuộc chương thứ 13, và nổi tiếng nhất trong tập nhạc 14 chương “The Carnival of The Animals” của ông. Bản nhạc được viết cho độc tấu Violoncell cùng với 2 cây piano. Giai điệu mượt mà, tuyệt đẹp của bản nhạc này được ví như con thiên nga đang lướt nhẹ nhàng và duyên dáng trên mặt hồ.

Loan Subaru

 

Dionne Warwick & Friends và That’s What Friends Are For

that'swhatfriendsarefor
Nhạc Xanh xin mời các bạn thưởng thức hai bản nhạc. Bài hát thứ nhất “That’s What Friends Are For” và bài thứ hai :”I Just Called to Say I Love You.”

Bài hát “That’s What Friends Are For” do Burt Bacharach và Carole Bayer Sager viết; Rob Stewart đã hát như bài hát chủ đề kết thúc bộ phim hài Night Shift vào năm 1982. Ba năm sau bài hát trở thành nổi tiếng khi được Dionne Warwick và những người bạn gồm Stevie Wonder, Gladys Knight, và Elton John trình bày lại để gây quỹ từ thiện ở Anh và Mỹ.

“That’s What Friends Are For” được thu âm để lấy tiền quyên góp cho Tổ Chức Nghiên Cứu Bệnh AIDS ở Mỹ ( American Foundation for AIDs Research) và thu được hơn 3 triệu đô la cho mục đích này. Bản nhạc này đứng ở vị trí số 1 suốt 4 tuần tháng 1/ 1986 trong bảng xếp hạng Billboard, và được Billboard chọn là đĩa đơn hay nhất của năm 1986. Sau đó nhóm nghệ sĩ này đoạt được giải Grammy dành cho “Nhóm Trình Diễn Nhạc Pop Hay Nhất “ và đoạt giài “ Bài Hát Của Năm “ vào năm 1986.

Bài hát này sau đó còn trở thành chủ đề cho một đêm nhạc từ thiện lớn lấy tên của bài hát tại thành phố New York nhằm quyên góp cho nạn nhân AIDS. Một tháng sau đêm nhạc được phát trên kênh truyền hình CBS với “That’s What Friends Are For” là bài hát kết thúc chương trình nhạc 2 giờ có sự tham gia của Warwick và tất cả nghệ sĩ khách mời danh tiếng. Đêm nhạc đã thu thêm được hơn 2,5 triệu đô la nữa cho các hoạt động cứu trợ nạn nhân AIDS.

“That’s What Friends Are For” được xếp hạng 51 trong danh sách Billboard cho Những Bản Nhạc Hay Nhất của Mọi Thời Đại.

Xin giới thiệu với các bạn đôi nét về 2 tài năng đã hát bài này : nữ danh ca Dionne Warwick và ca sĩ huyền thoại Stevie Wonder.

Dionne_That's_What_Friends_are_for_group_shot

Dionne Warwick sinh ngày 12/12 / 1940, tại East Orange, New Jersey, Mỹ. Bà là ca sĩ, diễn viên, nhà hoạt động phong trào rất nổi tiếng. Bà là Đại sứ Toàn cầu của Liên Hiệp Quốc cho Tổ Chức Lương Nông ( Food and Agriculture Organization), từng là Đại Sứ của Mỹ về Y tế và Nhân đạo. Theo tạp chí Billboard, Dionne Warwick là một tài năng âm nhạc, xếp thứ hai trong danh sách Billboard Hot 100 ( chỉ sau Aretha Franklin ) với 56 CD đạt đỉnh cao trong tổng số 100 của kỹ nguyên nhạc rock 1955-1999. Warwick cũng được xếp thứ 20 trong tổng số 200 ca sĩ hát nhạc Pop nổi tiếng được hâm mộ nhất.

Warwick bắt đầu hát solo từ năm lên 6 trong hát lễ nhà thờ, sau đó trong ban nhạc Drinkard Singers, và trong ban nhạc gia đình với người cô, em gái, và em trai của bà. Bà ra mắt lần đầu trên TV vào cuối thập niên 1950 ở đài truyền hình New Jersey và New York. Tốt nghiệp trung học East Orange năm 1959, bà được trao một học bổng đại học về âm nhạc ở Hatford, Connecticut, cũng tại trường đại học này bà được cấp bằng Tiến sĩ về Giáo dục Âm nhạc.

dionne-warwick

Bài thứ hai là bài hát được trao giải Oscar 1984. Bài hát Hay Nhất trong phim The Woman In Red với giọng ca huyền thoại của ca sĩ khiếm thị người Mỹ gốc Phi Steve Wonder.

Steve Wonder tên khai sinh là Steveland Hardaway Judkins, sinh ngày 13/5/ 1950, tại Saginaw, Michigan. Về sau ông đổi tên là Steveland Hardaway Morris. Ông viết nhạc, biểu diễn nhiều loại nhạc cụ, nhà sản xuất các chương trình ghi âm, và là một tài năng xuất chúng về nhạc pop trong nửa cuối thế kỷ 20.

Wonder có hơn 20 đĩa xếp hạng top 10 của Mỹ, đoạt 26 giải Grammy, ( là nghệ sĩ hát solo đoạt nhiều giải nhất trong lịch sử của giải này ), với 1 giải Thành Tựu Trọn Đời, Giải cho Bài Hát Hay Nhất, và được vinh danh trong Bảo tàng Âm Nhạc với dòng nhạc Rock and Roll và với tư cách nhạc sĩ. Một điều đặc biệt về Stevie Wonder là ông bị mù bẩm sinh, đến năm 11 tuổi bắt đầu hát nhạc ở góc phố rồi ký hợp đồng với Motortown Record, và tiếp tục biểu diễn và thu âm cho hãng này. Năm 12 tuổi, cậu bé Steveland Morris đã gây ấn tượng mạnh trong lòng khán giả khi xuất hiện trong chương trình American Bandstand.

Tuy bị khiếm thị, nhưng người nghệ sĩ tài hoa này đã tự học và có thể biểu diễn điêu luyện nhiều loại nhạc cụ như piano, harmonica, trống, guitar bass, đàn organ, trống nhỏ vỗ bằng tay, đàn clavinet, vv… Khi còn thơ ấu, Stevie Wonder nổi tiếng về tài chơi harmonica, nhưng sau này ông lừng danh với tài chơi piano và với giọng ca vàng được mệnh danh là huyền thoại nhạc pop của Mỹ.
stevie_wonder

Nhiều bài hát của Stevie Wonder trở thành top hit như “I Just Called to Say I Love You” đã đoạt giải Oscar 1984 cho bài hát hay nhất trong phim The Woman in Red. Từ bài hát Blowin’ in the Wind của Bob Dylan được ông trình bày lại, hay các sáng tác của chính mình như You Are the Sunshine of My Life, My Cherie Amour, Signed, Superstition, Higher Ground, L:iving For The City, Sesame Street, hay các bản ballad như Golden Lady và All In Love Is Fair đều giản dị nhưng rất được ưa chuộng và thành top hits. Album Innervisions năm 1973 của ông đạt được 3 giải Grammy, và thành album của năm.

Với 10 bản nhạc pop xếp hạng 1 và 20 bài R & B hạng 1 ( Rhythm and Blues), với tổng số album bán được trên 100 triệu bản, Stevie Wonder được xếp hạng như nghệ sĩ da màu thứ hai đoạt giải Oscar về Bài Hát Hay Nhất, và ở vị trí 11 trên tổng số nhạc sĩ lừng danh trên bảng tổng sắp của Anh (britishhitsongwriters.com).

Vốn là một nghệ sĩ rất được Obama yêu thích, Wonder đã biểu diễn vào ngày 18/1/ 2009 trong lễ nhậm chức của Tổng thống Barack Obama tại đài tưởng niệm Abraham Lincoln. Ông đã hát 2 bài, “Brand New Day, và bài hát mới “All About The Love Again,” và cùng các ca sĩ khác bài Signed, Sealed, and Delivered .

stevie_wonder_gal_obama

Gần đây nhất, ngày 23/2/ 2009, Stevie Wonder được trao giải thưởng Gershwin Prize của Thư viện Quốc hội Mỹ ( người thứ hai được trao giải này ) vì những bài hát của ông rất được hâm mộ trong lòng những người yêu nhạc toàn thế giới. Giải thưởng này nhằm vinh danh những nghệ sĩ có tác phẩm vượt biên giới âm nhạc để tạo nên sự hiểu biết giữa con người với nhau.

Bài 1 That’s What Friends Are For

Link1 : Dionne Warwick, Stevie Wonder, Luther Vandross & Whitney Houston
.


.

Link 2 : Stevie Wonder & Dionne Warwick
.

Verse 1

And I
Never thought I’d feel this way
And as far as I’m concerned I’m glad I got the chance to say
That I do believe I love you

And if I should ever go away
Well then close your eyes and try to feel the way we do today
And than if you can’t remember…..

Chorus
Keep smilin’
Keep shinin’

Knowin’ you can always count on me
for sure
that’s what friends are for

In good times
And bad times
I’ll be on your side forever more
That’s what friends are for

Verse 2

Well you came and open me
And now there’s so much more I see
And so by the way I thank you….

Ohhh and then
For the times when we’re apart
Well just close your eyes and know
These words are coming from my heart
And then if you can’t remember….Ohhhhh
(Repeat chorus 3x)

Bài 2 I Just Called To Say I Love You ( Stevie Wonder )
.


.

No new year’s day
To celebrate
No chocolate covered candy hearts to give away
No first of spring
No song to sing
In fact here’s just another ordinary day
No April rain
No flowers bloom
No wedding Saturday within the month of June
But what it is
Is something true
Made up of these three words that I must say to you

I just called to say I love you
I just called to say how much I care
I just called to say I love you
And I mean it from the bottom of my heart

No summer’s high
No warm July
No harvest moon to light one tender August night
No autumn breeze
No falling leaves
No even time for birds to fly to southern skies
No Libra sun
No Halloween
No giving thanks to all the Christmas joy you bring
But what it is
Though old so new
To fill your heart like no three words could ever do.

I just called to say I love you
I just called to say how much I care
I just called to say I love you
And I mean it from the bottom of my heart.

I just called to say I love you
I just called to say how much I care
I just called to say I love you
And I mean it from the bottom of my heart
Of my heart
Of my heart

Các bạn có thể tùy ý post lời dịch cho bài nào trong hai bài trên đều xin hoan nghênh và tán thưởng
Thân ái chúc các bạn một ngày mới tươi hồng và một tuần làm việc vui hiệu quả

Khúc nhạc chiều lãng mạn “Serenata”

Enrico-Toselli

Chào các bạn,

Lại bắt đầu 1 tuần mới rồi nhỉ? Đối với mình, ngày đầu tuần bao giờ cũng là ngày bận rộn với một loạt meeting và khá nhiều việc để xử lý. Không biết các bạn thì thế nào nhỉ? Chắc cũng không phải ngoại lệ? Thôi thì, để tâm trạng ngày đầu tuần sảng khoái, trước khi bắt tay vào công việc, xin được giới thiệu với các bạn bản “Serenata” trữ tình và lãng mạn của nhà soạn nhạc người Ý Erico Toselli! 🙂

Enrico Toselli (13/3/1883 – 15/1/1926) là nghệ sĩ dương cầm, nhà soạn nhạc nổi tiếng người Ý. Ngay từ lúc trẻ, ông đã bắt đầu sự nghiệp sáng chói của mình như là một nghệ sĩ piano cho các buổi hòa nhạc ở Ý, Châu Âu và Bắc Mỹ với danh tiếng lẫy lừng. Ông đã sáng tạc rất nhiều bài hát, cùng với hai vở nhạc kịch nổi tiếng (La cattiva Francesca – 1912 và La principessa bizzarra – 1913). Một trong những bản nhạc nổi tiếng nhất của ông là bản “Serenata” mà mình sẽ giới thiệu trong chuyên mục Nhạc Xanh ngày hôm nay.

Serenata“Serenade” (hay còn gọi là “Serenata”), nghĩa là khúc ban chiều – nhạc theo phong cách lãng mạn. Bản Serenade thường chơi vào buổi chiều tà, ở ngoài trời, và ngay dưới cửa sổ (chắc là dưới cửa sổ nhà người yêu 😀 :-D). Cho đến bây giờ, có hai bài viết theo thể Serenade nổi tiếng nhất mà chưa có bài nào vượt qua được hai bài bất hủ này. Đó là “Serenade” của Schubert và “Serenata” của Enrico Toselli.

Video clip dưới đây là bản Serenata của Enrico Toselli, do nghệ sĩ vĩ cầm kiêm nhạc trưởng nổi tiếng người Hà Lan Andre Rieu trình bày. Mời các bạn thưởng thức giai điệu mượt mà, trữ tình và lãng mạn của nhạc phẩm này. 

Chúc các bạn một tuần làm việc hiệu quả và vui vẻ! 🙂 🙂

Loan Subaru

Đàn vô hình Theremin

Theremin
Chào các bạn,

Theremin là một nhạc cụ điện tử không giây, không phím, không … đàn. Chỉ có hai ăngten và nhạc sĩ tạo ra âm thanh nhờ đụng tay vào các làn sóng điện giữ 2 ăngten này, như là các nhạc cụ thấy trong Star Wars. Đàn lấy tên của ngựời phát minh, giáo sư người Nga Léon Thérémin, lấy bằng sáng chế năm 1928.

Ngày nay môt số ít nhạc sĩ chơi nhạc cụ kỹ-nguyên-không-gian này. Dưới đây là hai videos hai nghệ sĩ trình diễn theremin. Video đầu tiên là Pamelia Kurstin, nghệ sĩ Theremin hàng đầu thế giới, trình diễn các bản nhạc nổi tiếng Autumn Leaves, Lush Life và Listen, Words Are Gone, với nhạc đệm piano.

Video thứ hai là bản nhạc chính của game “The Legend of Zelda” do Shigeru Miyamoto và Takashi Tezuka tạo ra, và Nintendo phát hành., với nhạc đệm synthersizer.

Pamelia Kurstin
.


.

The Legend of Zelda
.

Lời nhắn nhủ của các Già làng Hopi

hopi elder
Chào các bạn,

Ở xứ khô gió bờ Tây nước Mỹ, tiểu bang Arizona, bộ lạc da đỏ Hopi đã sống trong tinh thần đoàn kết, yêu thương, và can đảm từ rất xa xưa, từ trước khi Christopher Columbus đặt chân tới nước Mỹ.

“Lời nhắn nhủ của các Già làng Hopi” là lời nhắn nhủ rất lâu đời của bộ lạc Hopi, về sự tưng bừng, quyết buông mình trong dòng chảy xiết nhanh và mạnh của con sông chúng ta, xóa đi mọi cái tôi ảo tưởng, không bám vào bụi cỏ hay mỏm đá cạnh bờ mà bơi ra tận giữa giữa dòng kia. Có thật nhiều anh em đang vui mừng lễ hội ở đó 🙂

Ở giữa dòng chảy kia, chúng ta chính là chúng ta, tình yêu 🙂

Sau bài dịch của mình là 2 videos về bài này. Video đầu tiên có chữ viết nhưng không lời, và đa số hình ảnh là hình của bang Arizona với Grand Cannyon hùng vĩ và Sedona với núi đồi đỏ rực, hai thắng cảnh nổi tiếng của nước Mỹ, đã vào rất nhiều phim cao bồi viễn tây của Hollywood. Video thứ hai có nhạc da đỏ cổ truyền và lời đọc. Đây là cách đọc thơ của người Mỹ.

Chúc các bạn một ngày chảy xiết, 🙂

Hiển.
.

Ảnh (truyền thống) Người Hopi
Ảnh (truyền thống) Người Hopi

Lời Nhắn Nhủ Của Các Già làng

Các bạn thường nói với đồng bào rằng đây là Giờ Thứ Mười Một. Bây giờ các bạn phải quay lại và nói với đồng bào, đây là Giờ Đã Điểm.

Đây là những điều cần suy nghĩ:

Bạn đang sống ở đâu?
Bạn đang làm gì?
Bạn có các quan hệ gì?
Quan hệ của bạn có đúng không?
Vùng nước của bạn ở đâu?
Hãy biết về mảnh vườn của bạn.
Đã đến giờ nói về Sự Thật của bạn.
Hãy tạo ra cộng đồng của bạn.
Đối xử tốt với nhau.
Và không tìm người dẫn lối ở đâu ngoài chính mình.

Đây có thể là thời điểm tốt!

Có một dòng sông đang cuộn chảy rất nhanh.
Lớn và nhanh, đến nỗi sẽ có những người sợ hãi.
Họ sẽ cố bám vào bờ.
Họ sẽ cảm thấy như bị xé rách, và họ sẽ rất đau khổ.

Hãy biết rằng dòng sông có đích đến.
Các già làng bảo, chúng ta phải buông bờ, lao ra tận giữa dòng sông,
Mở mắt, và giữ đầu nổi trên mặt nước.

Xem ai đang ở đó với bạn và cùng mừng vui.

Người Hopi (ở Grand Canyon)
Người Hopi (ở Grand Canyon)

Ở thời điểm này trong lịch sử, chúng ta không coi gì là cá nhân, nhất là chính bản thân mình.

Vì khi tính toán cá nhân, sự trưởng thành tâm linh và cuộc hành trình của ta bị ngừng lại.

Thời gian cho sói cô đơn đã qua rồi.
Hãy họp lại.

Xóa đi chữ “đấu tranh” trong thái độ và ngôn ngữ của các bạn.

Mọi điều ta làm bây giờ phải được làm trong cung cách thiêng liêng và tưng bừng lễ hội.

CHÚNG TA LÀ NHỮNG NGƯỜI CHÚNG TA ĐANG CHỜ ĐỢI.

Các già làng.
Oraibi, Arizona
Bộ lạc Hopi

.

hopiwater
Hopi Elders’ Message

You have been telling the people that this is the Eleventh Hour.
Now you must go back and tell the people that this is The Hour.

Here are the things that must be considered:

Where are you living?
What are you doing?
What are your relationships?
Are you in right relation?
Where is your water?
Know our garden.
It is time to speak your Truth.
Create your community.
Be good to each other.
And do not look outside yourself for the leader.

Búp bê Kachina của Hopi
Búp be Kachina của Hopi

This could be a good time!

There is a river flowing now very fast.
It is so great and swift that there are those who will be afraid.
They will try to hold on to the shore.
They will feel like they are being torn apart, and they will suffer greatly.

Know the river has its destination.
The elders say we must let go of the shore, push off toward the middle of
the river,
keep our eyes open, and our heads above the water.

See who is there with you and celebrate.

At this time in history, we are to take nothing personally, least of all
ourselves!
For the moment we do, our spiritual growth and journey comes to a halt.

Vũ Hopi
Vũ Hopi

The time of the lonely wolf is over.
Gather yourselves!

Banish the word struggle from your attitude and vocabulary.

All that we do now must be done in a sacred manner and in celebration.

WE ARE THE ONES WE HAVE BEEN WAITING FOR.”

The Elders,
Oraibi, Arizona
Hopi Nation

Nothing is impossible — Không có gì là không được

vodich
Vô địch quốc gia và vô địch thế giới
2 lần vô địch Thế vận hội
5 lần thắng giải xe đạp Tour De France
Tập 12 giờ
MỖI NGÀY
Lance Armstrong
Thắng bệnh ung thư
.

16 giờ tập
4 giờ lý thuyết
4 giờ ngủ
MỖI NGÀY
Nadia Comaneci
Người đầu tiên có điếm 10 hoàn toàn
Không tăng thêm vận tốc
Chỉ ít chậm lại hơn mọi người
Làm việc cực nhọc để đạt điều đó
MỖI NGÀY
.

Kapil Dev
Ngày nay là một vận động viên chơi gôn chuyên nghiệp
Lập 35 kỷ lục thế giới
Thi đấu với chính kỷ lục của mình
MỖI NGÀY
.

Sergei Bubka
Vẫn đứng cao
Vào 350km một giờ
Mỗi giây chậm lại đều có nghĩa là thất bại
Luyện tập đến mức hoàn toàn
MỖI NGÀY
.

Michael Schumacher
6 lần vô dịch thế giới
Và vẫn còn đang đếm

Edson Arantes do Nascimento
1285 lần đá vào gôn trong 1321 trận đấu
Luyện tập trẹo đầu gối
MỖI NGÀY

Pelé
Vua Bóng Đá

Hãy tưởng tượng điều gì sẽ xảy ra
Nếu mỗi người chúng ta biểu hiện đam mê như vậy

MỖI NGÀY
.

 

Chùa Kyaiktiyo – kỳ quan huyền bí của vùng Đông Nam Á

Golden_Rock
Chùa Kyaiktiyo lúc hoàng hôn

Chùa Kyaiktiyo (còn gọi là Đá Vàng) là một trong 3 nơi hành hương rất nổi tiếng ở Myanma (xếp sau chùa Shwedagon, chùa Mahamuni). Chùa này chỉ cao 5.5m, và tọa lạc trên tảng đá lớn phủ bởi các lá vàng do những người hành hương dán lên khi đến viếng thăm chùa. Cả Chùa và tảng đá này nằm trên đỉnh của ngọn núi Kyaiktiyo. Chùa Kyaiktiyo được xây dựng vào năm 574 trước Công Nguyên và được xem như một trong những kỳ quan của vùng Đông Nam Á.

Theo truyền thuyết, Đức Phật trong một lần xuống hạ giới đã tặng một sợi tóc Golden leafcho vị ẩn sĩ tên Taik Tha. Vị ẩn sĩ này giữ gìn sợi tóc của Phật cẩn thận. Trước khi qua đời, ông trao sợi tóc lại cho người con nuôi là vua Tissa, cai trị Myanma thế kỷ XI, với lời trăn trối: hãy cất giữ xá lợi này trong một hòn đá có hình dáng như đầu của vị ẩn sĩ. Vâng lời cha, vua Tissa, với sự giúp đỡ của các thần linh, đã tìm đến hòn đá nằm trên đỉnh núi Kyaiktiyo, xây một ngôi chùa trên đỉnh để thờ cúng xá lợi Phật. Và người ta tin rằng, chính nhờ có sợi tóc của Đức Phật mà hòn đá này nằm yên trên một vị trí cheo leo hiểm hóc hàng trăm năm nay.

Golden-Rock-seaKhoảng thời gian kỳ ảo nhất trên đỉnh núi là hoàng hôn và bình minh, khi ánh mặt trời rực rỡ chiếu sáng hòn đá và những người hành hương bắt đầu cầu nguyện. Theo tục lệ, chỉ có những người đàn ông có thể lại gần khu vực Đá Vàng để có thể dán những miếng vàng dát mỏng lên, áp đầu vào hòn đá và cầu nguyện. Còn phụ nữ thì không được đi vào khu vực Đá Vàng này, nên họ chỉ có thể lặng lẽ dâng vật cúng lên các bàn thờ rồi quỳ trên nền đất, cầu nguyện hàng giờ trong khói hương mờ ảo.

 

Cái cưa gỗ – một loại nhạc cụ thật độc đáo

Nhạc cưa
Nhạc cưa

Các bạn có biết là cái cưa cũng có thể được sử dụng như một nhạc cụ không? Trên thực tế, người ta không thể tưởng tượng được cái cưa gỗ cũng có thể phát ra âm thanh hay như vậy. Âm thanh phát ra từ nhạc nhạc cưa nhẹ nhàng và cao vút, rất giống với Theremin (một trong những nhạc cụ hoàn toàn bằng điện tử, bao gồm 2 máy dao động tần số radio và 2 antenna kim loại).

Nhạc cưa đã xuất hiện hơn một thế kỷ. Có những cây cưa được làm từ loại thép bình thường cho đến những cây cưa tinh xảo được phủ vàng, trị giá hàng trăm đô-la.

ZingzaagKhi chơi nhạc cưa, thông thường, nhạc công ngồi trên ghế, kẹp cây cưa vào giữa hai chân và điều khiển bằng tay. Việc bẻ cong lưỡi cưa theo hình chữ S và kéo dọc sống lưng của lưỡi cưa, phần hình vòng cung chữ S nhằm tạo ra âm thanh. Có thể điều chỉnh cao độ bằng cách điều chỉnh vùng hình chữ S. Ngoài ra, để tạo âm thanh ngân nga, réo rắt, nhạc công có thể rung chân hoặc lắc cánh tay giữ chóp của lưỡi cưa.

Sau đây, xin giới thiệu với các bạn 1 video clip của một nhạc công nhạc cưa Nhật Bản – anh Hajime Sakita. Anh được xem là một trong những nhạc công nhạc cưa hàng đầu ở Nhật bản, từng giành được giải nhất trong liên hoan nhạc cưa Santa Cruz (Mỹ) vào năm 1997, giải nhì vào năm 2005, và lưu diễn khá nhiều nơi trên thế giới như: Cộng Hòa Sec, Hàn Quốc, Ý…Bản nhạc anh chơi trong video clip có tên là “VIOLA”. Mời các bạn thưởng thức giai điệu mượt mà, du dương và bay bổng của nhạc cưa này!

 

Huyền Thoại Âm Nhạc Sinatra và My Way

franksinatra
Nhạc Xanh hôm nay xin mời các bạn nghe bản nhạc My Way. Bản nhạc này do Paul Anka viết lại lời  từ ca khúc Pháp Comme d’habitude của Claude François và Jacques Revaux. My Way đã  trở thành một trong những bản nhạc bất hủ nhờ  giọng ca của Frank Sinatra năm 1969. Quả thực, đây là ca khúc gắn chặt với tên tuổi Frank Sinatra nhất, hơn bất kỳ ca khúc nào trong suốt 70 năm trong sự nghiệp âm nhạc của Sinatra. Cũng có nhiều nghệ sĩ khác đã trình bày bài hát này như Andy Williams, Paul Anka,  Elvis Presley, nhưng hầu như người ta chỉ nhớ tới My Way qua tiếng hát của Frank Sinatra, cũng hệt như nhạc Trịnh Công Sơn với giọng ca có một không hai của Khánh Ly. Ngoài ra, các bạn cũng có thể nghe thêm  giọng ca của ông hoàng  nhạc pop Elvis Presley hát live trong cuộc trình diễn cuối cùng tháng 6/1977. Nhạc Xanh sẽ tiếp tục giới thiệu vua nhạc pop này trong một bài khác.

Ca từ của bài My Way nói về câu chuyện của một người đã cận kề với sự ra đi,  sẵn sàng cho cái chết. Hồi tưởng lại đời mình, ông ta không chút nuối tiếc về việc mình đã sống như thế nào, bởi cho đến cuối đời ông đã làm tất cả theo cách của mình. Trước khi các bạn trải hồn mình theo giai điệu bài hát với chất giọng hoàn hảo của Sinatra, xin các bạn hãy lướt qua đôi dòng về tiểu sử với những thành tựu thực đồ sộ của người ca sĩ huyền thoại này. Và xin nhắc nhỏ, các bạn chớ quên dành ít thời gian dịch lời bài hát tuyệt vời này nhé.

Frank Sinatrađược coi là một trong số ít nghệ sĩ biểu diễn âm nhạc đại chúng (popular music) xuất sắc nhất thế giới, người đã tạo được nhiều chuẩn mực và ảnh hưởng trong âm nhạc và điện ảnh của Mỹ. Không chỉ là một ca sĩ lừng danh, Frank Sinatra còn làm nên tên tuổi trong các lĩnh vực soạn nhạc, diễn viên, đạo diễn, nhà sản xuất với hàng chục giải thưởng nghệ thuật khác nhau. Tại Mỹ, người ta đã xếp ông vào danh sách những nghệ sĩ có ảnh hưởng nhất thế kỷ 20, ngang hàng với Beatles, Elvis Presley hay Louis Amstrong.

franksinatra3

Francis Albert “Frank” Sinatra , sinh ngày 12/12/ 1915 tại Hoboken, bang New Jersey ; mất ngày 14/5/1998). Là con một trong gia đình có cha mẹ là người Ý nhập cư. Cha ông làm việc trong Đội Cứu Hỏa Hoboken. Sinatra học chưa hết bậc Trung học, đã sớm rời bỏ trường học theo nghiệp ca hát. Thực ra, đầu những năm 1930, Sinatra có một thời gian đi làm công việc giao báo, rồi thợ tán đinh. Chính vào giai đoạn này, Sinatra bắt đầu sự nghiệp ca hát. Được mẹ thuyết phục, năm 1935 ông gia nhập ban nhạc địa phương The Three Flashes; ban này sau đó đổi tên thành The Hoboken Four. Họ đoạt được giải nhất trong chương trình ca nhạc Major Bowes Amateur Hour trên sóng vô tuyến (radio ) phát trên NBC và CBS-, và hợp đồng 6 tháng hát trên sân khấu và radio toàn nước Mỹ. 1 năm sau đó, Frank chuyển sang ban nhạc của tay trumpet lừng danh Tommy Dorsey và có ngay ca khúc chiếm vị trí quán quân bảng xếp hạng – I’ll Never Smile Again.

Sau hơn 23 ca khúc ghi âm cùng nhiều ban nhạc lọt vào Top Ten Bill Board, Frank Sinatra quyết định tách ra hát solo và ký hợp đồng với hãng ghi âm Columbia Record. Kể từ đó, tên tuổi của ông  lên vùn vụt với rất nhiều ca khúc đỉnh cao, như White Christmas, Sartuday Night (Is The Lonelinest Night of the Week), People Will Say We’re In Love, Dream, I Should Care, If I Love You, You’ll Never Walk Alone. Có nhiều bài hát pop được cho là kinh điển của Sinatra như It Might As Well Be Spring,  Fly Me To The Moon, More, I Can’t Stop Loving You, The Best Is Yet To Come, Girl from Ipanema, Stranger in the Night.

Khởi đầu sự nghiệp âm nhạc trong thời kỳ nhạc swing cùng với Henry James, và Tommy Dorsey, Sinatra nổi lên như một ca sĩ hát solo rất thành công, từ đầu đến giữa thập niên 1940, và thành thần tượng của rất nhiều cô gái trẻ trong độ tuổi teen . Ông được tặng danh hiệu The Voice, bởi giọng hát rất đặc biệt, được cho là hoàn hảo: thể hiện được nhiều sắc thái khác nhau, khi thì ngọt ngào say đắm, lúc thì lại ai oán, lạnh lùng. Frank Sinatra cũng có kỹ thuật hát độc đáo, một thủ thuật từ những tay chơi kèn trumpet giúp kéo dài trường độ của một nốt nhạc tới mức kỷ lục (vào thời điểm đó). Ngoài ra, nhạc pop của Sinatra rất đậm đà chất jazz, từ kiểu nhả chữ với chất giọng nam trung có thể được đẩy lên thành nam cao tới kiểu nhạc đệm của ban nhạc, nên ông chinh phục được cả người yêu nhạc pop lẫn nhạc jazz nhờ chất giọng, kỹ thuật hoàn hảo, và đặc biệt là xúc cảm âm nhạc tha thiết dâng trào.

franksinatra2

Đầu thập niên 50, sự nghiệp của ông chửng lại, nhưng lại được phục hồi sau khi ông đoạt giải Oscar dành cho Diễn viên Phụ Xuất Sắc trong phim From Here to Eternity vào năm 1954. Ông đã ký hợp đồng với hãng Đĩa Capitol và có nhiều album được giới phê bình ca ngợi như In the Wee Small Hours, Songs for Swingin’ Lovers, Come Fly with Me, Only the Lonely Nice ‘n’ Easy. Sau khi ngưng hợp tác vơi Capitol, Sinatra lại tiếp tục gặt hái thành công với nhiều album mới như Ring-A-Ding-Ding, Sinatra at the Sands and Francis Albert Sinatra & Antonio Carlos Jobim. Ông đi lưu diễn nhiều nơi trên thế giới, là sáng lập viên của nhóm Rat Pack (qui tụ giới nghệ sĩ ở đỉnh cao danh vọng như Humprey Bogart, Dean Martin, và kết thân với những người nổi danh, trong số đó có tổng thống Mỹ John F. Kennedy. Phim truyền hình Frank Sinatra: Chân Dung và Âm Nhạc mà ông đóng vai đoạt giải Emmy. ( Giống như giải Oscar hay còn gọi giải thưởng điện ảnh của viện Hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Điện ảnh Mỹ dành cho phim, giải Grammy cho âm nhạc, giải Emmy là giải cho phim truyền hình thiên về giải trí). Ông lại ghi thêm vào danh sách dài của mình những ca khúc top hit như Strangers in the Night, My Way, và rất nhiều bài là top trong bảng xếp hạng Billboard.

Sinatra đã được 4 giải Oscar cho cả vai trò diễn viên, soạn nhạc và trình bày, 2 giải Emmy (Giải thưởng truyền hình Mỹ), 3 giải Quả cầu vàng, và nhiều giải thưởng cao quí khác như Kennedy Center Honors, năm 1983 ( cho những nghệ sĩ trọn đời cống hiến cho nền văn hóa Mỹ), giải Presidential,  Medal of Freedom từ Tổng thống Reagan năm 1985 và Congressional Gold Medal năm 1997.  Trong lĩnh vực âm nhạc,   nhân vật huyền thoại này đã nhận 13 giải Gramm, trong đó bao gồm giải Grammy Thành Tựu Trọn Đời (1965), có tới 209 ca khúc và 55 album lọt vào bảng xếp hạng Bill Board, rất nhiều trong số đó  ở vị trí quán quân.

Với sự thay đổi thị hiếu của người nghe trong dòng nhạc pop, ông mất dần số người ưa chuộng cùng với doanh thu từ nhạc và phim giảm đáng kể, Sinatra ngưng tất cả vào năm 1971. Thế nhưng niềm đam mê ca hát của ông chưa tắt, năm 1973 ông lại  xuất hiện, thu âm thêm nhiều album, có thêm một bài hát thành công vang dội nữa vào năm 1977 : Bài hát chủ đề cho bộ phim New York, New York. Ông tiếp tục đi lưu diễn trên đất Mỹ và trên thế giới cho đến 2 năm trước khi ông mất vào năm 1998,  sau một cơn đau tim ở tuổi 82.

LINKS

1. My Way ( Frank Sinatra )

2. My Way  ( Luciano Pavarotti and Frank Sinatra )

3. My Way ( Elvis Presley ; live in the last concert of June 21 , 1977 )


My Way
(words and music by François, Revaux Thibault, Anka)

And now, the end is near;
And so I face the final curtain.
My friend, Ill say it clear,
Ill state my case, of which Im certain.

I’ve lived a life thats full.
I’ve traveled each and evry highway;
And more, much more than this,
I did it my way.

Regrets, Ive had a few;
But then again, too few to mention.
I did what I had to do
And saw it through without exemption.

I planned each charted course;
Each careful step along the byway,
But more, much more than this,
I did it my way.

Yes, there were times, Im sure you knew
When I bit off more than I could chew.
But through it all, when there was doubt,
I ate it up and spit it out.
I faced it all and I stood tall;
And did it my way.

I’ve loved, I’ve laughed and cried.
I’ve had my fill; my share of losing.
And now, as tears subside,
I find it all so amusing.

To think I did all that;
And may I say – not in a shy way,
No, oh no not me,
I did it my way.

For what is a man, what has he got?
If not himself, then he has naught.
To say the things he truly feels;
And not the words of one who kneels.
The record shows I took the blows –
And did it my way!

Thân ái chúc các bạn một ngày mới tươi hồng,  bắt đầu một tuần học tập và làm việc hiệu quả.

Đây này, cho những kẻ điên

crazy
Đây này, cho những kẻ điên.
Kẻ không hợp khung.
Kẻ nổi loạn.
Kẻ gây phiền toái.
Kẻ vuông tròn không hợp.

Here’s to the crazy ones.
The misfits.
The rebels.
The troublemakers.
The round pegs in the square holes.

.

Kẻ có cái nhìn khác thường.
Kẻ không thích quy luật.
Và chẳng tôn trọng tình trạng đứng yên.

The ones who see things differently.
They’re not fond of rules.
And they have no respect for the status quo.

.

Bạn có thể khen họ, không đồng ý với họ, trích dẫn họ,
Không tin họ, tôn vinh họ, hay bêu riếu họ.
Chỉ điều duy nhất bạn không thế làm, là lờ họ đi.
Bởi vi họ thay đổi nhiều thứ.

You can praise them, disagree with them, quote them,
disbelieve them, glorify or vilify them.
About the only thing you can’t do is ignore them.
Because they change things.

.

Họ phát minh. Họ tưởng tượng. Họ hàn gắn.
Họ khám phá. Họ sáng tạo. Họ khơi nguồn cảm hứng.
Họ đẩy nhân loại về phía trước.

They invent. They imagine. They heal.
They explore. They create. They inspire.
They push the human race forward.

.

Có lẽ họ phải điên.
Nếu không, làm sao có thể nhìn vào một giá vẽ trống không và thấy một tác phẩm nghệ thuật?
Hay ngồi trong yên lặng và nghe một bài ca chưa được viết bao giờ?
Hay nhìn một hành tinh màu đỏ và thấy một phòng thí nghiệm trên những bánh xe?

Maybe they have to be crazy.
How else can you stare at an empty canvas and see a work of art?
Or sit in silence and hear a song that’s never been written?
Or gaze at a red planet and see a laboratory on wheels?

.

Chúng tôi chế tạo dụng cụ cho những loại người này.
Trong khi một số người thấy họ là những kẻ điên,
Chúng tôi thấy họ là những thiên tài.

We make tools for these kinds of people.
While some see them as the crazy ones,
we see genius.

.

Bời vì những người đủ điên để nghĩ rằng
họ có thể thay đổi thế giới, là những người thay đổi thế giới.

Because the people who are crazy enough to think
they can change the world, are the ones who do.

Nguyễn Minh Hiển dịch

Chú thích: Đây là một quảng cáo rất nổi tiếng của Apple Computer để phát động slogan Think Different, từ năm 1997 đến 2002. Mời các bạn xem video.

.