Các bạn có biết là cái cưa cũng có thể được sử dụng như một nhạc cụ không? Trên thực tế, người ta không thể tưởng tượng được cái cưa gỗ cũng có thể phát ra âm thanh hay như vậy. Âm thanh phát ra từ nhạc nhạc cưa nhẹ nhàng và cao vút, rất giống với Theremin (một trong những nhạc cụ hoàn toàn bằng điện tử, bao gồm 2 máy dao động tần số radio và 2 antenna kim loại).
Nhạc cưa đã xuất hiện hơn một thế kỷ. Có những cây cưa được làm từ loại thép bình thường cho đến những cây cưa tinh xảo được phủ vàng, trị giá hàng trăm đô-la.
Khi chơi nhạc cưa, thông thường, nhạc công ngồi trên ghế, kẹp cây cưa vào giữa hai chân và điều khiển bằng tay. Việc bẻ cong lưỡi cưa theo hình chữ S và kéo dọc sống lưng của lưỡi cưa, phần hình vòng cung chữ S nhằm tạo ra âm thanh. Có thể điều chỉnh cao độ bằng cách điều chỉnh vùng hình chữ S. Ngoài ra, để tạo âm thanh ngân nga, réo rắt, nhạc công có thể rung chân hoặc lắc cánh tay giữ chóp của lưỡi cưa.
Sau đây, xin giới thiệu với các bạn 1 video clip của một nhạc công nhạc cưa Nhật Bản – anh Hajime Sakita. Anh được xem là một trong những nhạc công nhạc cưa hàng đầu ở Nhật bản, từng giành được giải nhất trong liên hoan nhạc cưa Santa Cruz (Mỹ) vào năm 1997, giải nhì vào năm 2005, và lưu diễn khá nhiều nơi trên thế giới như: Cộng Hòa Sec, Hàn Quốc, Ý…Bản nhạc anh chơi trong video clip có tên là “VIOLA”. Mời các bạn thưởng thức giai điệu mượt mà, du dương và bay bổng của nhạc cưa này!
Nhạc Xanh hôm nay xin mời các bạn nghe bản nhạc My Way. Bản nhạc này do Paul Anka viết lại lời từ ca khúc Pháp Comme d’habitude của Claude François và Jacques Revaux. My Way đã trở thành một trong những bản nhạc bất hủ nhờ giọng ca của Frank Sinatra năm 1969. Quả thực, đây là ca khúc gắn chặt với tên tuổi Frank Sinatra nhất, hơn bất kỳ ca khúc nào trong suốt 70 năm trong sự nghiệp âm nhạc của Sinatra. Cũng có nhiều nghệ sĩ khác đã trình bày bài hát này như Andy Williams, Paul Anka, Elvis Presley, nhưng hầu như người ta chỉ nhớ tới My Way qua tiếng hát của Frank Sinatra, cũng hệt như nhạc Trịnh Công Sơn với giọng ca có một không hai của Khánh Ly. Ngoài ra, các bạn cũng có thể nghe thêm giọng ca của ông hoàng nhạc pop Elvis Presley hát live trong cuộc trình diễn cuối cùng tháng 6/1977. Nhạc Xanh sẽ tiếp tục giới thiệu vua nhạc pop này trong một bài khác.
Ca từ của bài My Way nói về câu chuyện của một người đã cận kề với sự ra đi, sẵn sàng cho cái chết. Hồi tưởng lại đời mình, ông ta không chút nuối tiếc về việc mình đã sống như thế nào, bởi cho đến cuối đời ông đã làm tất cả theo cách của mình. Trước khi các bạn trải hồn mình theo giai điệu bài hát với chất giọng hoàn hảo của Sinatra, xin các bạn hãy lướt qua đôi dòng về tiểu sử với những thành tựu thực đồ sộ của người ca sĩ huyền thoại này. Và xin nhắc nhỏ, các bạn chớ quên dành ít thời gian dịch lời bài hát tuyệt vời này nhé.
Frank Sinatrađược coi là một trong số ít nghệ sĩ biểu diễn âm nhạc đại chúng (popular music) xuất sắc nhất thế giới, người đã tạo được nhiều chuẩn mực và ảnh hưởng trong âm nhạc và điện ảnh của Mỹ. Không chỉ là một ca sĩ lừng danh, Frank Sinatra còn làm nên tên tuổi trong các lĩnh vực soạn nhạc, diễn viên, đạo diễn, nhà sản xuất với hàng chục giải thưởng nghệ thuật khác nhau. Tại Mỹ, người ta đã xếp ông vào danh sách những nghệ sĩ có ảnh hưởng nhất thế kỷ 20, ngang hàng với Beatles, Elvis Presley hay Louis Amstrong.
Francis Albert “Frank” Sinatra , sinh ngày 12/12/ 1915 tại Hoboken, bang New Jersey ; mất ngày 14/5/1998). Là con một trong gia đình có cha mẹ là người Ý nhập cư. Cha ông làm việc trong Đội Cứu Hỏa Hoboken. Sinatra học chưa hết bậc Trung học, đã sớm rời bỏ trường học theo nghiệp ca hát. Thực ra, đầu những năm 1930, Sinatra có một thời gian đi làm công việc giao báo, rồi thợ tán đinh. Chính vào giai đoạn này, Sinatra bắt đầu sự nghiệp ca hát. Được mẹ thuyết phục, năm 1935 ông gia nhập ban nhạc địa phương The Three Flashes; ban này sau đó đổi tên thành The Hoboken Four. Họ đoạt được giải nhất trong chương trình ca nhạc Major Bowes Amateur Hour trên sóng vô tuyến (radio ) phát trên NBC và CBS-, và hợp đồng 6 tháng hát trên sân khấu và radio toàn nước Mỹ. 1 năm sau đó, Frank chuyển sang ban nhạc của tay trumpet lừng danh Tommy Dorsey và có ngay ca khúc chiếm vị trí quán quân bảng xếp hạng – I’ll Never Smile Again.
Sau hơn 23 ca khúc ghi âm cùng nhiều ban nhạc lọt vào Top Ten Bill Board, Frank Sinatra quyết định tách ra hát solo và ký hợp đồng với hãng ghi âm Columbia Record. Kể từ đó, tên tuổi của ông lên vùn vụt với rất nhiều ca khúc đỉnh cao, như White Christmas, Sartuday Night (Is The Lonelinest Night of the Week), People Will Say We’re In Love, Dream, I Should Care, If I Love You, You’ll Never Walk Alone. Có nhiều bài hát pop được cho là kinh điển của Sinatra như It Might As Well Be Spring, Fly Me To The Moon, More, I Can’t Stop Loving You, The Best Is Yet To Come, Girl from Ipanema, Stranger in the Night.
Khởi đầu sự nghiệp âm nhạc trong thời kỳ nhạc swing cùng với Henry James, và Tommy Dorsey, Sinatra nổi lên như một ca sĩ hát solo rất thành công, từ đầu đến giữa thập niên 1940, và thành thần tượng của rất nhiều cô gái trẻ trong độ tuổi teen . Ông được tặng danh hiệu The Voice, bởi giọng hát rất đặc biệt, được cho là hoàn hảo: thể hiện được nhiều sắc thái khác nhau, khi thì ngọt ngào say đắm, lúc thì lại ai oán, lạnh lùng. Frank Sinatra cũng có kỹ thuật hát độc đáo, một thủ thuật từ những tay chơi kèn trumpet giúp kéo dài trường độ của một nốt nhạc tới mức kỷ lục (vào thời điểm đó). Ngoài ra, nhạc pop của Sinatra rất đậm đà chất jazz, từ kiểu nhả chữ với chất giọng nam trung có thể được đẩy lên thành nam cao tới kiểu nhạc đệm của ban nhạc, nên ông chinh phục được cả người yêu nhạc pop lẫn nhạc jazz nhờ chất giọng, kỹ thuật hoàn hảo, và đặc biệt là xúc cảm âm nhạc tha thiết dâng trào.
Đầu thập niên 50, sự nghiệp của ông chửng lại, nhưng lại được phục hồi sau khi ông đoạt giải Oscar dành cho Diễn viên Phụ Xuất Sắc trong phim From Here to Eternity vào năm 1954. Ông đã ký hợp đồng với hãng Đĩa Capitol và có nhiều album được giới phê bình ca ngợi như In the Wee Small Hours, Songs for Swingin’ Lovers, Come Fly with Me, Only the Lonely Nice ‘n’ Easy. Sau khi ngưng hợp tác vơi Capitol, Sinatra lại tiếp tục gặt hái thành công với nhiều album mới như Ring-A-Ding-Ding, Sinatra at the Sands and Francis Albert Sinatra & Antonio Carlos Jobim. Ông đi lưu diễn nhiều nơi trên thế giới, là sáng lập viên của nhóm Rat Pack (qui tụ giới nghệ sĩ ở đỉnh cao danh vọng như Humprey Bogart, Dean Martin, và kết thân với những người nổi danh, trong số đó có tổng thống Mỹ John F. Kennedy. Phim truyền hình Frank Sinatra: Chân Dung và Âm Nhạc mà ông đóng vai đoạt giải Emmy. ( Giống như giải Oscar hay còn gọi giải thưởng điện ảnh của viện Hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Điện ảnh Mỹ dành cho phim, giải Grammy cho âm nhạc, giải Emmy là giải cho phim truyền hình thiên về giải trí). Ông lại ghi thêm vào danh sách dài của mình những ca khúc top hit như Strangers in the Night, My Way, và rất nhiều bài là top trong bảng xếp hạng Billboard.
Sinatra đã được 4 giải Oscar cho cả vai trò diễn viên, soạn nhạc và trình bày, 2 giải Emmy (Giải thưởng truyền hình Mỹ), 3 giải Quả cầu vàng, và nhiều giải thưởng cao quí khác như Kennedy Center Honors, năm 1983 ( cho những nghệ sĩ trọn đời cống hiến cho nền văn hóa Mỹ), giải Presidential, Medal of Freedom từ Tổng thống Reagan năm 1985 và Congressional Gold Medal năm 1997. Trong lĩnh vực âm nhạc, nhân vật huyền thoại này đã nhận 13 giải Gramm, trong đó bao gồm giải Grammy Thành Tựu Trọn Đời (1965), có tới 209 ca khúc và 55 album lọt vào bảng xếp hạng Bill Board, rất nhiều trong số đó ở vị trí quán quân.
Với sự thay đổi thị hiếu của người nghe trong dòng nhạc pop, ông mất dần số người ưa chuộng cùng với doanh thu từ nhạc và phim giảm đáng kể, Sinatra ngưng tất cả vào năm 1971. Thế nhưng niềm đam mê ca hát của ông chưa tắt, năm 1973 ông lại xuất hiện, thu âm thêm nhiều album, có thêm một bài hát thành công vang dội nữa vào năm 1977 : Bài hát chủ đề cho bộ phim New York, New York. Ông tiếp tục đi lưu diễn trên đất Mỹ và trên thế giới cho đến 2 năm trước khi ông mất vào năm 1998, sau một cơn đau tim ở tuổi 82.
LINKS
1. My Way ( Frank Sinatra )
2. My Way ( Luciano Pavarotti and Frank Sinatra )
3. My Way ( Elvis Presley ; live in the last concert of June 21 , 1977 )
My Way
(words and music by François, Revaux Thibault, Anka)
And now, the end is near;
And so I face the final curtain.
My friend, Ill say it clear,
Ill state my case, of which Im certain.
I’ve lived a life thats full.
I’ve traveled each and evry highway;
And more, much more than this,
I did it my way.
Regrets, Ive had a few;
But then again, too few to mention.
I did what I had to do
And saw it through without exemption.
I planned each charted course;
Each careful step along the byway,
But more, much more than this,
I did it my way.
Yes, there were times, Im sure you knew
When I bit off more than I could chew.
But through it all, when there was doubt,
I ate it up and spit it out.
I faced it all and I stood tall;
And did it my way.
I’ve loved, I’ve laughed and cried.
I’ve had my fill; my share of losing.
And now, as tears subside,
I find it all so amusing.
To think I did all that;
And may I say – not in a shy way,
No, oh no not me,
I did it my way.
For what is a man, what has he got?
If not himself, then he has naught.
To say the things he truly feels;
And not the words of one who kneels.
The record shows I took the blows –
And did it my way!
Thân ái chúc các bạn một ngày mới tươi hồng, bắt đầu một tuần học tập và làm việc hiệu quả.
Đây này, cho những kẻ điên.
Kẻ không hợp khung.
Kẻ nổi loạn.
Kẻ gây phiền toái.
Kẻ vuông tròn không hợp.
Here’s to the crazy ones.
The misfits.
The rebels.
The troublemakers.
The round pegs in the square holes.
.
Kẻ có cái nhìn khác thường.
Kẻ không thích quy luật.
Và chẳng tôn trọng tình trạng đứng yên.
The ones who see things differently.
They’re not fond of rules.
And they have no respect for the status quo.
.
Bạn có thể khen họ, không đồng ý với họ, trích dẫn họ,
Không tin họ, tôn vinh họ, hay bêu riếu họ.
Chỉ điều duy nhất bạn không thế làm, là lờ họ đi.
Bởi vi họ thay đổi nhiều thứ.
You can praise them, disagree with them, quote them,
disbelieve them, glorify or vilify them.
About the only thing you can’t do is ignore them.
Because they change things.
.
Họ phát minh. Họ tưởng tượng. Họ hàn gắn.
Họ khám phá. Họ sáng tạo. Họ khơi nguồn cảm hứng.
Họ đẩy nhân loại về phía trước.
They invent. They imagine. They heal.
They explore. They create. They inspire.
They push the human race forward.
.
Có lẽ họ phải điên.
Nếu không, làm sao có thể nhìn vào một giá vẽ trống không và thấy một tác phẩm nghệ thuật?
Hay ngồi trong yên lặng và nghe một bài ca chưa được viết bao giờ?
Hay nhìn một hành tinh màu đỏ và thấy một phòng thí nghiệm trên những bánh xe?
Maybe they have to be crazy.
How else can you stare at an empty canvas and see a work of art?
Or sit in silence and hear a song that’s never been written?
Or gaze at a red planet and see a laboratory on wheels?
.
Chúng tôi chế tạo dụng cụ cho những loại người này.
Trong khi một số người thấy họ là những kẻ điên,
Chúng tôi thấy họ là những thiên tài.
We make tools for these kinds of people.
While some see them as the crazy ones,
we see genius.
.
Bời vì những người đủ điên để nghĩ rằng
họ có thể thay đổi thế giới, là những người thay đổi thế giới.
Because the people who are crazy enough to think
they can change the world, are the ones who do.
Nguyễn Minh Hiển dịch
Chú thích: Đây là một quảng cáo rất nổi tiếng của Apple Computer để phát động slogan Think Different, từ năm 1997 đến 2002. Mời các bạn xem video.
Phim “Người cuối cùng của bộ lạc Mohican” được dàn dựng dựa trên tiểu thuyết cùng tên. Đây là một cuốn tiểu thuyết rất nổi tiếng của nhà văn Jamese Fenimore Cooper (1789 – 1851) – nhà văn viết tiểu thuyết đầu tiên của nền văn học Mỹ đa sắc màu.
Tiểu thuyết “Người cuối cùng của bộ tộc Mohican”, xuất bản năm 1826, trên khung nền của một cuộc chiến tranh giành đất đai giữa hai đế quốc thực dân Anh và Pháp mà nhân vật chính ủng hộ quân Anh chống lại quân Pháp. Cuốn truyện phác họa khung cảnh thiên nhiên hùng tráng của miền đất mới với những chủ nhân thực sự của nó là những người Mohican da đỏ tính cách dữ dội nhưng chất phác, trung thực và trọng nhân phẩm, hoàn toàn cách biệt với sự sa đọa của xã hội văn minh. Những người Mohican vẫn là biểu tượng cho lòng kiên trì, can đảm chiến đấu. Cho đến con người cuối cùng, giọt máu cuối cùng, họ vẫn chiến đấu để bảo vệ cho bộ tộc của mình.
Có rất nhiều bộ phim được dàn dựng dựa trên tiểu thuyết này, ví dụ: năm 1920 – diễn viên chính Wallace Beery, năm 1932 – diễn viên chính Harry Carey, năm 1936 – diễn viên chính Randolph Scott, năm 1992 – diễn viên chính Daniel Day-Lewis. Tuy nhiên, Thư viện Quốc Hội Mỹ đánh giá bộ phim sản xuất vào năm 1920 là ấn tượng nhất và hiện được bảo quản tại US National Film Registry.
Indiogenes
Dưới đây là video clip nhạc chủ đề của phim “Người cuối cùng của bộ lạc Mohican”. Bản nhạc này có tên là “The Gael”, do nhà soạn nhạc nổi tiếng người Scotland – Dougie MacLean sáng tác vào năm 1990, trong album “The Search”. Năm 1992, Trevor Jones đã sử dụng bài này làm nhạc chủ đề của phim “Người cuối cùng của bộ lạc Mohican”.
Cảm nhận đầu tiên của mình là bản nhac này là quá tuyệt vời, thật đẹp và thật hùng tráng. Một sự kết hợp hài hòa giữa âm nhạc hiện đại và âm nhạc huyền bí, cổ xưa của những bộ lạc, thổ dân da đỏ (đặc biệt là những tiếng sáo phát ra từ cây sáo của thổ dân Mỹ). Mời các bạn thưởng thức!
Na Uy đã thắng giải Eurovision tổ chức tại Moscow năm nay với mức điểm ấn tượng 387. Đây là giải bản nhạc hay nhất Âu châu hàng năm, với sự tham dự của 25 quốc gia. Iceland về nhì với 218 điểm và Azerbaijan về ba với 207. Eurovision là chương trình TV rất được yêu chuộng ở Âu châu.
Alexander Rybak của Na Uy sinh tại Minsk (Belarus) ngày 13 tháng 5 năm 1986. Và lớn lên ở Nesodden, ngay bên ngoài thủ đô Oslo của Na Uy. Anh đã chơi violon từ lúc lên 5, tự viết nhạc và tự trình diễn violon và hát. Năm 2006 anh thắng giải tài năng Kjempesjansen ở Na Uy với bản nhạc chính anh viết. Anh đã trình diễn như là người chơi violon trong nhạc kịch Người Đàn Violon Trên Nóc Nhà (Fiddler On The Roof) tại Oslo Nye Theatre (2007), và đang tham dự cuốn phim Yohan – Child Wanderer, dự định phát hành tháng 9 này.
Mời các bạn thưởng thức video ba bản nhạc thắng ba giải Eurovision cao nhất năm nay.
Hôm nay các bạn sẽ nghe không chỉ một mà là hai bài hát qua một giọng ca nhí nhưng không non nớt về tài năng chút nào. Giọng ca nhí được mệnh danh giọng ca thiên thần ngọt ngào từ khi ra mắt người yêu nhạc ở nước Anh năm 2007. Chất giọng trong trẻo và phong cách biểu diễn tự nhiên ngây thơ của cô bé chưa tròn 9 tuổi đã chinh phục người nghe và làm mềm ngay cả những trái tim sắt đá.
Connie Talbot sinh ngày 20/12/ 2000, tại Streetly, thành phố Walsal, West Midlands. Cô bé xinh xắn trở thành ca sĩ nổi tiếng sau khi lọt vào vòng chung kết cuộc thi Tài Năng Anh Quốc năm 2007 trên truyền hình. Trong cuộc thi chung kết này, cô bé hát bài The Wizard of Oz (trong album Over The Rainbow) và chỉ chịu thua Paul Potts, 37 tuổi, hát opera trong cuộc bình chọn qua điện thoại. Hợp đồng dự kiến ký với hãng nhạc Sony BMG phải hủy bỏ do tuổi ca sĩ còn quá nhỏ. Không lâu sau đó, cô kí hợp đồng với hãng thu âm Rainbow, và phát hành album đầu tay của cô “Over The Rainbow” ngày 26/11/2007.
Mặc dù có những lời chỉ trích của các nhà phê bình, nhưng album đầu tay của Connie vẫn bán được hơn 250.000 bản trên khắp thế giới, và được xếp hạng 1 ở ba nước, xếp hạng 7 của Billboard Heat Seeker tại Mỹ. Sau khi phát hành album đầu tay, Connie đã biểu diễn trước khán giả và trên truyền hình ở cả châu Âu, châu Mỹ và châu Á, ở những nơi này giọng hát trẻ thơ ngọt ngào của cô bé đã làm rung động người nghe qua You Tube. Một điểm độc đáo là cô bé biết ca hát từ khi lên 2 tuổi này chưa từng trải qua một trường lớp âm nhạc nào cả, vốn liếng âm nhạc của cô trước khi đến dự cuộc thi Tài Năng Anh quốc là kinh nghiệm hát Karaoke ở nhà.
Album Over The Rainbow được tái phát hành ngày 18/6/ 2008 với 1 ca khúc mới. Album thứ hai, Album Nhạc Giáng sinh của Talbot , ra mắt ngày 24/12/ 2008, và đĩa đơn đầu tiên từ album “ Three Little Birds” được phát hành ngày 10/6/2008. Các bài hát từ album này được đưa vào một trò chơi video về Talbot sắp phát hành. Đĩa đơn I Will Always Love You với một ca khúc mới được ghi âm, You Raise Me Up vừa được phát hành tại Mỹ ngày 7/4/2009.
Dù đang trên đỉnh cao của sự nghiệp ca hát, nhưng Connie vẫn tiếp tục theo học văn hóa tại trường tiểu học Blackwood và sống cùng cha mẹ tại Streetly. Mẹ cô là bà Sharon, công nhân tại nhà máy điện và cha là ông Gavin, một kĩ sư. Ngoài ra Connie còn có một em trai là Josh và em gái là Molbie. Hai ca khúc “Signature song” và “Over the Rainbow” đã được Connie hát trong đám tang của bà ngoại mình. Đó chính là những bài hát mà bà ngoại cô rất thích khi xem cô biểu diễn.
Connie Talbot được xem là một hiện tượng, và được rất nhiều người hâm mộ trên khắp thế giới về giọng ca độc đáo và tính cách đáng yêu của mình. Trong vòng hơn 1 năm qua, cô bé đã chứng tỏ rằng mình có thể sống bình thường như một cô bé học trò ở Milands, Anh, trong khi vẫn quảng bá cho các đĩa CD của mình, quay video, đón nhận các đĩa vàng và bạch kim, ký tặng CD nhạc, và xuất hiện trên các chương trình TV lớn toàn cầu. Với 5 đĩa vàng và bạch kim, có thể khẳng định cô bé sinh ra để ca hát.
Theo đề nghị của các bạn, hôm nay mình cũng sẽ không post lời dịch Tiếng Việt. Cám ơn các bạn đã hưởng ứng gửi lời dịch cho Top of The World. Mong các bạn tiếp tục đóng góp lời dịch cho góc âm nhạc hôm nay.
Link bài hát: SMILE
.
Smile, though your heart is aching
Smile, even though it’s breaking
When there are clouds in the sky
You’ll get by…
If you smile
With your fear and sorrow
Smile and maybe tomorrow
You’ll find that life is still worthwhile
If you just…
Light up your face with gladness
Hide every trace of sadness
Although a tear may be ever so near
That’s the time you must keep on trying
Smile, what’s the use of crying
You’ll find that life is still worthwhile
If you just…
Smile, though your heart is aching
Smile, even though it’s breaking
When there are clouds in the sky
You’ll get by…
If you smile
Through your fear and sorrow
Smile and maybe tomorrow
You’ll find that life is still worthwhile
If you just smile…
That’s the time you must keep on trying
Smile, what’s the use of crying
You’ll find that life is still worthwhile
If you just smile.
Link bài hát : I will Always Love You ( Connie Talbot hát chung với Whitney Houston )
If I should stay
I would only be in your way.
So I’ll go but I know
I’ll think of you
Every step of my way.
And I will always love you.
I will always love you.
(My darling, you)
Bittersweet memories,
That is all I’m taking with me.
So goodbye, please don’t cry.
We both know I’m not what you, you need.
and I will always love you.
I will always love you.
I hope life will treat you kind
And I hope you’ll have
All you’ve dreamed of.
and I do wish you joy and
happiness.
But above all this, I wish you love.
I love you i wil always love you.
And I will always always love you.
I will always love you…
i will always love you
Hôm nay xin giới thiệu với các bạn ban nhạc The Carpenters, và bài hát rất nổi tiếng của họ: Top of the World. Với lời nhạc chan chứa tình yêu đời, yêu người và giai điệu mượt mà qua tiếng hát được mệnh danh thiên thần của Karen Anne Carpenter, mong rằng bản nhạc này sẽ đem lại những giây phút dễ chịu, vui tươi cho các bạn dù đầu ngày hay trong lúc giải lao.
Mình sẽ không post lời dịch Tiếng Việt lên đây để các bạn cảm nhận nét đẹp ngôn ngữ trong âm nhạc. Rất mong các bạn nghe nhạc hưởng ứng dịch hộ mình, post lên như bài I Have A Dream. Mình thấy các bạn đều nắm nội dung và dịch nhuyễn. Nếu các bạn thấy mình cần post lời dịch cũng xin cho biết ý kiến.
Thông tin về ban Carpenters
Ban nhạc với bộ đôi anh em nhà Carpenters ở nước Mỹ đã làm rung chuyển cả thế giới âm nhạc và bước lên đài vinh quang của âm nhạc ở thập niên 1970 nhờ tài năng, dòng nhạc, và cách chơi nhạc độc đáo của họ. Tuy sự nghiệp của họ không kéo dài vì cô em gái Caren Carpenter qua đời đột ngột, nhưng những bài hát của họ vẫn còn sống mãi với thời gian. Uớc tính có khoảng 100 triệu đĩa đơn và album của Carpenters được bán, khiến họ trở thành một trong những ban nhạc có số lượng đĩa nhạc bán nhiều nhất thế giới. Họ đi lưu diễn khắp nơi trong suốt những năm 70. Giọng hát của Karen rất trong trẻo và diễn cảm với những giai điệu lãng mạn, dịu dàng và sâu lắng. Tuy cách ăn mặc giản dị, có phần hơi lỗi thời so với các nghệ sĩ thời bấy giờ, nhưng giọng hát, tài năng và phong cách biểu diễn của anh em nhà Carpenters đã chinh phục được trái tim của hàng triệu khán giả trên toàn thế giới.
Người anh trai Richard Lynn Carpenter sinh ngày 15 tháng 10 năm 1946; Karen Anne Carpenter sinh ngày 2 tháng 3 năm 1950 tại New Haven, bang Connecticut. Cô mất ngày 4/2/ 1983 vì một căn bệnh còn lạ ở giai đoạn đó: chứng chán ăn tâm lý ( anorexia nervosa). Hai anh em nhà Carpenters đã lớn lên trong tiếng nhạc từ rất nhiều đĩa nhạc swing mà người cha đã mua cho họ. Giọng hát của Les Paul và Mary Ford, Spike Jones, và Patti Page đóng một vài trò tác động lớn đến việc Karen trở thành ca sĩ kể cả khi cô đã thành nổi tiếng. Ngay từ năm 12 tuổi, Richard đã chứng tỏ có năng khiếu thực sự về âm nhạc, đặc biệt là piano. Karen rất kính phục tài năng của anh trai và cố gắng học hỏi theo Richard.
Mùa thu năm 1964,trong khi Karen vẫn còn học tại trường trung học thì người anh trai 17 tuổi Richard đã vào học tại trường đại học bang California khoa âm nhạc Tại đây, anh cùng người bạn thân, tay chơi tuba và bass tên là Wes Jacobs, và Karen thành lập ra ban nhạc Richard Carpenter Trio. Bước đầu họ thường chơi trong các vũ hội hay đám cưới, và cuối cùng đoạt giải thưởng tại cuộc thi tài năng “The Battle of the Bands” ở Hollywood Bowl. Tháng 5 năm 1966, Karen đã ký hợp đồng với hãng thu băng đĩa Magic Lamp Records, do Joe Osborn điều hành ở Los Angeles. Đĩa đơn đầu tiên được phát hành vào mùa hè năm 1966 nhưng không thành công lắm. Sau đó, hai anh em Karen và Richard quyết định hát chung và thu thanh tất cả những ca khúc của họ, và cái tên Carpenters ra đời từ đó.
Album đầu tiên của Carpenters ra mắt vào tháng 11 năm 1969. Đĩa đơn đầu tiên Ticket to Ride đứng thứ 54 trong số những bài hát được yêu thích; bài Close to You có doanh số bán kỷ lục, với 6 tuần ở ví trí thứ nhất và liên tục đứng thứ 4 nhiều tuần sau đó. Bài hát trở thành bài hát đầu tiên trong 17 của 20 đĩa đơn thành công nhất của họ, trong đó có các bài “Superstar,” “Rainy Days And Mondays,” “Sing,” “Top Of The World,” và “Yesterday Once More.” Từ đĩa đơn “Close To You” năm 1970 tới “A Kind Of Hush” năm 1976, Carpenters có một chuỗi thành công liên tục thật bất ngờ. Đặc biệt tại Nhật Bản, những đĩa của Carpenters vẫn là những đĩa có số lượng bán chạy nhất, vượt qua cả vua nhạc Pop Micheal Jackson và ban nhạc Eagles.
Top of the World của The Carpenters là một trong số những bản nhạc gắn liền với tên tuổi của The Carpenters. Thoạt đầu bài hát xuất hiện trên album bạch kim A Song For You vào tháng 6 / 1972. Sau đó bài hát được phát hành như đĩa đơn ở Nhật và đạt đĩa vàng. Năm 1973 hai anh em phát hành lại bài hát này, và nó lập tức ở vị trí dẫn đầu trong danh sách Billboard Hot 100, trở thành đĩa đơn thứ hai xếp hạng nhất toàn nước Mỹ của họ.
Link 1 Top of The World (biểu diễn năm 1974 ở Hòa Lan)
.
Link 2 : Top of the World ( biểu diễn năm 1978 trong chương trình TV Starparade ở Đức)
Such a feeling’s comin’ over me
There is wonder in most everything I see
Not a cloud in the sky
Got the sun in my eyes
And I won’t be surprised if it’s a dream
Everything I want the world to be
Is now coming true especially for me
And the reason is clear
It’s because you are here
You’re the nearest thing to heaven that I’ve seen
I’m on the top of the world lookin’ down on creation
And the only explanation I can find
Is the love that I’ve found ever since you’ve been around
Your loves put me at the top of the world
Something in the wind has learned my name
And it’s telling me that things are not the same
In the leaves on the trees and the touch of the breeze
Theres a pleasing sense of happiness for me
There is only one wish on my mind
When this day is through I hope that I will find
That tomorrow will be just the same for you and me
Mời các bạn thưởng thức bản nhạc cho ngày tươi hồng, một bản tình ca: La Vie En Rose.
La Vie en Rose theo Tiếng Pháp, Tiếng Anh: Life in Pink (Cuộc Đời Hồng), là bài hát của nữ ca sĩ huyền thoại người Pháp Édith Giovanna Gassion với nghệ danh Édith Piaf. Piaf (19/12/1915 – 10/10/1963) nổi tiếng với những bài hát Non, Je Ne Regrette Rien, Hymne à L’Amour, vv…
Người ca sĩ này còn là một ngôi sao trong lĩnh vực điện ảnh, và sân khấu.
La Vie En Rose được Piaf phổ biến lần đầu năm 1946. Ca từ của bài do Piaf viết, giai điệu của Louiguy (Louis Gugliemi). Lời Anh do Mack David viết sau này.
David (1912-1993) là nhạc sĩ Mỹ, rất nổi tiếng trong thập niên 1960 với những những bộ phim truyền hình, nhất là phim Disney như Cindrella và Alice in Wonderland (Lọ Lem và Alice ở xứ Thần Tiên )
Bản nhạc nhanh chóng đạt thành công lớn, trở thành nổi tiếng, được rất nhiều ca sĩ biểu diễn kể cả Louis Armstrong. Bài hát này được trao giải Grammy Hall of Fame Award năm 1988 và đến nay vẫn được xem là một trong những bài hát kinh điển thể loại nhạc nhẹ của Pháp.
Cuốn phim tài liệu về Édith Piaf La Vie en Rose 1998 do Marion Cotillard đóng vai Piaf (từ 19 tuổi đến khi bà mất năm 47tuổi), đã đem về cho cô một giải Nữ Diễn viên Xuất Sắc Nhất 2007. Cuộc đời của Piaf quả là huyền thoại đan xen giữa danh vọng và bi kịch, với một tuổi thơ đầy biến động. Mẹ của Piaf là một ca sĩ đường phố và cha là diễn viên xiếc nhào lộn. Do cuộc sống khó khăn, cô bị mẹ bỏ rơi, mẹ cô giao cho bà ngoại nghiện rượu nuôi và bị bỏ mặc nên mắc nhiều bệnh kể cả suy dinh dưỡng. Về sau cha cô từ mặt trận trở về và đem cô cho bà nội vốn là chủ nhà chứa nuôi dưỡng. Tuổi thơ cô không hạnh phúc, được các cô gái bán hoa trong nhà chứa của bà chăm sóc và chịu đựng nhiều bệnh tật (cô suýt bị mù vì tổn thương ở giác mạc năm 7 tuổi). Sau thế chiến thứ I, cha cô trở về . Từ đó Piaf dong ruỗi như một ca sĩ đường phố cùng người cha, với chất giọng bẩm sinh tuyệt vời của cô. Rồi cô thành ca sĩ phòng trà (1935) và tháng 3/ 1938 cô bắt đầu tỏa sáng như một ngôi sao sân khấu khi xuất hiện lần đầu tại nhà hát tạp kỹ ABC ở Paris. (Dịch từ các nguồn tổng hợp từ Internet)
Links của bài hát La Vie En Rose :
LINK 1 (EDITH PIAF)
LINK 2 (MARLENE and EDITH)
LINK 3 : (LOUIS ARMSTRONG)
Sau đây là lời bài hát bằng Tiếng Anh :
Hold me close and hold me fast
The magic spell you cast
This is la vie en rose
When you kiss me, Heaven sighs
And though I close my eyes
I see la vie en rose
When you press me to your heart
I’m in a world apart
A world where roses bloom
And when you speak
Angels sing from above
Every day words
seem to turn into love songs
Give your heart and soul to me
And life will always be
La vie en rose
I thought that love was just a word
They sang about in songs I heard
It took your kisses to reveal
That I was wrong, and love is real
Hold me close and hold me fast
The magic spell you cast
This is la vie en rose
When you kiss me, Heaven sighs
And though I close my eyes
I see la vie en rose
When you press me to your heart
I’m in a world apart
A world where roses bloom
And when you speak
Angels sing from above
Every day words
Seem to turn into love songs
Give your heart and soul to me
And life will always be
La vie en rose
Dịch lời Việt:
Hãy ôm em thật chặt
Anh mang lại sự kỳ diệu
Đây chính là cuộc đời hồng
Khi anh hôn em, đến Thượng đế phải thở dài
Và dù em nhắm mắt
Em vẫn thấy cuộc đời hồng
Khi anh ôm em vào lòng
Là em ở trong một thế giới riêng
Một thế giới có hoa hồng nở rộ
Và khi anh nói
Các thiên thần ca hát trên cao
Mỗi ngày ngôn từ dường như thành những bản tình ca
Hãy trao cho em trái tim và tâm hồn của anh
Cuộc đời sẽ luôn là cuộc đời hồng
Em tưởng tình yêu chỉ là một từ được
người ta hát về nó trong những bài ca em đã nghe
Cần đến những nụ hôn của anh em mới có thể phát hiện ra
Rằng em đã sai, tình yêu là thực
Hãy ôm em thật chặt
Anh mang lại sự kỳ diệu
Đây chính là cuộc đời hồng
Khi anh hôn em, đến Thượng đế phải thở dài
Và dù em nhắm mắt
Em vẫn thấy cuộc đời hồng
Khi anh ôm em vào lòng
Là em ở trong một thế giới riêng
Một thế giới có hoa hồng nở rộ
Và khi anh nói
Các thiên thần ca hát trên cao
Mỗi ngày ngôn từ dường như thành những bản tình ca
Hãy trao cho em trái tim và tâm hồn của anh
Cuộc đời sẽ luôn là cuộc đời hồng
Shakuhachi có nghĩa là 1.8 foot = 30.3 cm. Đây là một nhạc cụ truyền thống tiêu biểu làm bằng tre ở Nhật, gọi là sáo tre Shakuhachi. Du nhập vào Nhật từ Trung quốc khoảng cuối thế kỷ thứ 7, sáo tre Shakuhachi phát triển ở Nhật như một nhạc cụ độc đáo, gợi lên một âm hưởng sâu lắng trong tâm hồn.
Sáo này làm từ giống tre Madake, có 4 lỗ ở phía trước và 1 lỗ ở phía sau. Vì vậy đôi khi người phương Tây cũng gọi nó là “sáo tre 5 lỗ”. Năm lỗ này đủ để tạo ra các nốt trong mọi âm vực. Trên thực tế, số lượng lỗ thổi nhỏ đã khiến âm thanh của sáo Shakuhachi trở nên réo rắt, đôi lúc khá chói tai. Tuy rất đơn giản, nhưng sáo tre Shakuhachi đòi hỏi người chơi không chỉ tập trung cao độ ở chiếc môi, mà phải rất thành thạo trong việc kiểm soát hơi thổi (phải thổi trong 117 nhịp thở). Sáo Shakuhachi được coi như là một công cụ tinh thần độc quyền của môn phái Zen sáo tre. Ðây là nhạc cụ truyền thống của Nhật Bản được các thiền sư Komusou (“nhà sư hư vô” ) ngày xưa hay thổi các bản nhạc thiền khi đi hành thiền.
Tre Madake
Theo truyền thuyết, Kyochiku – một thầy tế lễ – người sáng lập môn phái thiền Myoan đã mê đi trong khi thực hành thổi sáo trong ngôi đền ở Ise. Ông mơ thấy mình đơn độc trên một chiếc thuyền giữa biển đầy mù sương và nghe một âm thanh lạ từ trên trời. Khi sương tan dần, ông lại nghe một âm thanh kỳ diệu khác. Tỉnh dậy, ông lập tức thể hiện những âm thanh bí ẩn đó vào các dụng cụ bằng tre, và tạo ra ba khúc nhạc: “Koku” (Empty sky), “Kyorei” (Empty bell), và “Mukaiji” (misty sea). Ðó là “Ba tấu khúc xưa” rất đặc trưng và mẫu mực cho nhạc thiền “Koku” – một điệu nhạc thanh thản và trầm lặng, được chơi với sáo Shakuhachi. Dòng nhạc này coi như thể hiện được quan niệm Hư Vô của Phật giáo.
Nhà sư Komusou
Phong cách chơi sáo chủ yếu theo truyền thống của đền Myoan ở Kyoto. Âm thanh chính của nó là “tiếng thì thào của gió qua động tre” dùng để thư giãn và thiền. Sáo tre Shakuhachi là một nhạc cụ được sáng tạo một cách bất ngờ, đơn giản, nhưng trong tay các bậc thầy có thể trình tấu một loạt các âm thanh từ đơn giản đến phức tạp và truyền cảm như tiếng nói của con người, dựa trên trực quan và tinh thần của người biểu diễn. Diễn đạt âm thanh là để đạt cao trình độ phát triển của tinh thần.
Dưới đây là video clip một nhà sư Komusou đang thổi sáo Shakuhachi ở Nagoya (một thành phố lớn thứ 4 ở Nhật, thuộc vùng Trung bộ, trung tâm đảo Honshu).
Socotra là một phần của quần đảo gồm 4 đảo, nằm trên Ấn Độ Dương cách Somalia 250km và Yemen 340km, thuộc nước Cộng Hòa Yemen. Quần đảo này tách ra khỏi châu Phi cách đây hàng triệu năm, và nằm khuất trong vịnh Aden, là khu bảo tồn sinh vật độc nhất trên thế giới.
Nơi này có ảnh hưởng hết sức quan trọng đối với hệ động – thực vật, vì sự đa dạng sinh học cao với hệ động thực vật phong phú, đặc biệt rất nhiều loài trong đó là loài đặc hữu – nghĩa là không có ở ở bất cứ nơi nào khác trên thế giới. Thực vật ở đây đã được bảo tồn và duy trì một cách tự nhiên qua hàng triệu năm, có những loài đã tồn tại từ cách đây… 20 triệu năm.
Cây huyết rồng
Một trong những nét ấn tượng nhất của đảo Socotra là cây huyết rồng, có hình dáng kỳ dị, mọc trên những ngọn núi cao và có thể sống tới 500 năm. Nhựa của nó màu đỏ, được dùng để trang trí, làm thuốc nhuộm hoặc dùng trong y học. Đây là loài thực vật mang lại sự huyền bí và nổi tiếng cho quần đảo này.
Tuy khí hậu khắc nghiệt, nóng và khô, nhưng thật ngạc nhiên là cây cối ở đây phát triển rất nhanh. Bãi cát rộng, trải dài tới các dãy núi đá vôi với các hang động (dài khoảng 7km) và các ngọn núi cao tới 1525m.
Bông hồng sa mạc
Cư dân trên đảo đa số là người Ả Rập, Somali và Nam Á, theo đạo Hồi và nói tiếng Soqotri – tiếng địa phương của Ả Rập. Chỉ có khoảng 50,000 người sống trên đảo này. Họ sống bằng nghề đánh bắt thủy hải sản, nuôi trồng gia súc, trồng chà là, và gần đây là du lịch.
Chính vì sự huyền bí, cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp và đa dạng về sinh học, vào tháng 7/2008, UNESCO đã chính thức công nhận đảo Socotra là di sản thiên nhiên thế giới.
Video này chị Thùy Dương đã tải lên authorstream, nói đến những căn bản sống tích cực chúng ta nói rất thường trên Đọt Chuối Non. Nhưng những lời này từ một vị Bác sĩ, khuyên chúng ta sống thế nào cho khỏe mạnh, không bệnh hoạn.
.
Hôm nay mời các bạn thưởng thức một bài hát vàng, hết sức thành công của ABBA, ban nhạc Pop Thụy Điển đã làm mình say mê từ lâu lắm và sức hấp dẫn của nó qua bao nhiêu năm tháng dường như vẫn còn nguyên vẹn. Nếu chúng ta tin vào sức mạnh của ngôn từ, và đặc biệt của âm nhạc đối với cuộc sống và tâm hồn chúng ta, thì bài hát này là một trong những bài hát có giá trị lớn truyền tải một thông điệp tích cực, lạc quan vượt không gian và thời gian. Bài hát còn có tựa đề khi đang viết là I Know A Song và Take Me In Your Armpit. Ca khúc do Benny Andersson và Bjorn Ulvaeus viết, được ghi âm trong album năm 1979 của ABBA, Voulez-Vous.
Giọng hát chính là của Anni-Frid Lyngstad. Ca khúc này được phát hành như một đĩa đơn tháng 12 năm 1979. I Have a Dream” là đĩa đơn cuối cùng mà ABBA phát hành năm 1997, thập kỷ mà họ thu được thành công về thương mại nhiều hơn bất kỳ loại hình âm nhạc nào khác. Đây cũng là bài hát duy nhất của ABBA với không chỉ 4 giọng hát của 4 thành viên Anni-Frid Lyngstad, Björn Ulvaeus, Benny Andersson và Agnetha Fältskog, mà còn có cả một dàn đồng ca thiếu nhi. (Tên của ban nhạc ABBA do tập hợp các chữ đầu tên của bốn thành viên tạo thành) Bài hát này được đưa vào tuyển tập ABBA Gold: Greatest Hits (Những Bài Hát Vàng của ABBA: Thành Công Vang Dội Nhất “)
“I Have a Dream” là một thành công lớn trên toàn cầu, vươn đến vị trí số 1 ở Áo, Bỉ, Thụy Sĩ và Hà Lan, vị trí thứ 2 ở Anh, vươn đến Top 5 ở Ireland, Phi Châu và Tây Đức, và nó cũng vươn lên số 1 trong bản xếp hạng của tạp chí Adult Contemporary của Canada. Phiên bản tiếng Tây Ban Nha của ca khúc, “Estoy Soñando”, đạt vị trí thứ 15 ở Tây Ban Nha và nằm trong Top 5 ở Argentina và Mexico.
“I Have a Dream” không được thương mại hóa tại Hoa Kỳ, nhưng được phát thanh qua sóng của Easy Listening và Adult Contemporary, nơi nó trở thành một bài hát được yêu cầu với số lượng rất nhiều. Ngày nay, nó là ca khúc có mặt ở danh sách nhạc của nhiều đài phát thanh dành cho người lớn. Năm 1981, ca sĩ nhạc Country Gospel Cristy Lane hát lại bài này và nó vươn lên vị trí thứ 15 trong bản xếp hạng 17 trong Bản danh sách các Bài Hát Đồng Quê Thành Công Hot (Country Songs).
Riêng với mình bài hát này như một điều kỳ diệu, một giai điệu cổ tích đã giúp mình có thêm niềm tin vào cuộc sống, đặc biệt trong những lúc khó khăn, khắc nghiệt nhất của thời kỳ bao cấp, phải ăn cơm độn, xếp hàng mua thực phẩm, vẫn không mất đi niềm tin tưởng vào khả năng phấn đấu vượt qua gian khó và vẫn còn đó ước mơ về một ngày mai cuộc sống rồi sẽ tốt đẹp hơn. Đã nhiều năm qua, bài hát này vẫn là một trong những bài hát ưa thích cả đời của mình.
Vâng, tất cả chúng ta đều từng say mê chuyện thần tiên. Và theo mình, sẽ đáng tiếc cho những ai không tin vào thông điệp của những chuyện cổ tích- vai trò của các thiên thần mà ABBA nói riêng, các nhạc sĩ và ca sĩ nói chung đã truyền đạt bằng hòa âm, giai điệu và giọng hát tuyệt vời của họ.
Sau đây là link bài hát I Have A Dream. Từ chương trình biểu diễn gọi là “The Late, Late Breakfast Show” vào năm 1982. ABBA được truyền trực tiếp từ Stockholm qua vệ tinh trên đài BBC ở Anh . Thực không may, đây lại là lần cuối toàn ban nhạc cùng biểu diễn chung trước công chúng. Đến năm 1983, họ chia tay và lo cho sự nghiệp hát solo của họ. Sự nghiệp cộng hưởng của họ dừng ở đó. Đến năm 2000, họ dù muốn nhưng không thể và đành hủy bỏ chuyến lưu diễn tái ngộ để đời 100 điểm hẹn dự kiến đạt 1tỉ đô la
(4’26)
Link 2: có giọng phụ họa của các em bé Luân Đôn (5’43)
Theo mình bài hát này quá hay, nên xin đưa vào phần Thách Thức Anh Ngữ để các bạn dịch sẽ tự cảm nhận sự tuyệt vời của âm nhạc nói chung và bài hát này nói riêng.
I have a dream, a song to sing
To help me cope with anything
If you see the wonder of a fairy tale
You can take the future even if you fail
I believe in angels
Something good in everything I see
I believe in angels
When I know the time is right for me
I’ll cross the stream – I have a dream
I have a dream, a fantasy
To help me through reality
And my destination makes it worth the while
Pushing through the darkness still another mile
I believe in angels
Something good in everything I see
I believe in angels
When I know the time is right for me
I’ll cross the stream – I have a dream
I’ll cross the stream – I have a dream
I have a dream, a song to sing
To help me cope with anything
If you see the wonder of a fairy tale
You can take the future even if you fail
I believe in angels
Something good in everything I see
I believe in angels
When I know the time is right for me
I’ll cross the stream – I have a dream
I’ll cross the stream – I have a dream.
Cả tuần nay, mình thấy các bạn rất nhiệt tình, và cũng khá vất vả (?) chiến đấu với mục “Thách thức Anh ngữ hàng ngày” của anh Hoành và chị Huệ. Vì thế, để giúp các bạn thư giãn vài phút, cũng như giúp các bạn nạp thêm chút năng lượng trước khi bắt tay vào “xử” các bài tập Thách thức Anh ngữ của tuần này, xin được giới thiệu với các bạn video clip bài hát “Tui là gấu”.
Đây là một bài hát khá nổi tiểng, do ca sĩ trứ danh người Nhật – Utada Hikaru sáng tác, lấy cảm hứng từ con gấu nhồi bông của chị. Bài hát này được phát thanh và phát sóng lần đầu tiên vào ngày 1 tháng 10 năm 2006, trong chương trình “Mina no Uta” (Everybody’s song, đối tượng chủ yếu là trẻ em). Ngay sau khi phát sóng, và thể theo yêu cầu nồng nhiệt của khán thính giả, bài hát này được phát liên tiếp trong suốt 4 tháng (từ tháng 10 năm 2006 đến tháng 1 năm 2007) và cũng liên tục đứng đầu trong bảng xếp hạng đĩa đơn J-POP ở Nhật trong năm 2006.
Mời các bạn thưởng thức và chúc các bạn một tuần thật vui! 😀
À, do bài hát bằng tiếng Nhật, nên mình xin lược dịch một chút để các bạn có thể hiểu được nội dung!
Tui là gấu
Tui không phải là xe hơi, mà là gấu
Tui không đi được, nhưng tui có thể khiêu vũ
Tui không nói được, nhưng tui có thể hát
Tui là gấu, gấu, gấu.
Tui là gấu
Tui ghét cãi nhau lắm
Đối thủ của tui là con tôm chiên
Kiếp trước chắc tui là kẹo sô-cô-la
Tui là gấu, gấu, gấu.
Xin chào, tui tên là Gấu
Bạn có khỏe không?
Tui là gấu
Mùa đông thì buồn ngủ lắm
Buổi tối thì
“Chúc anh gối ngủ ngon nhé” (Note: anh gối: cái gối)
Hôm nay xin được giới thiệu với các bạn đôi nét về nhà soạn nhạc thiên tài người Ba Lan – Chopin và một trong những tác phẩm vĩ đại của ông, “Bản Ballade Số 1”. Lần đầu tiên nghe bản Ballade này, mình đã rất xúc động. Nó tuyệt đẹp, đầy chất thơ: bi thương, ngọt ngào, trữ tình và lãng mạn (Có lẽ mình đã nghe tác phẩm này hơn chục lần, nhưng mỗi lần nghe đều không thể kiềm chế được cảm xúc)! À, nếu bạn nào đã từng xem bộ phim “The Pianist”, chắc chắn sẽ không thể nào quên được bản Ballade này.
* Tiểu sử (theo wikipedia) : Chopin (Frédéric François Chopin; 1810 – 1849) là một nhà soạn nhạc vĩ đại người Ba Lan. Ông sinh ngày 22 tháng 2 năm 1819 tại làng Żelazowa Wola (Ba Lan); bố là Mikołaj Chopin – một nhạc sĩ gốc Pháp, mẹ là Tekla Justyna Krzyzanowska – một người Ba Lan. Tài năng của Chopin nảy nở từ rất sớm, và được so sánh với thần đồng âm nhạc Mozart.
Năm 1823 – năm 1826: Chopin học tại Warsawa Lyceum, nơi bố ông là một trong những người giảng dạy. Chopin đã trở nên gắn bó với âm nhạc dân gian của vùng đồng bằng Ba Lan, với sự thanh khiết, đặc sắc, giàu tính giai điệu và âm hưởng dân vũ. Khi sáng tác những bản Mazurka đầu tiên và một số bản khác sau này, Chopin đã dựa vào nguồn cảm hứng được ông lưu giữ đến cuối đời này.
Mùa thu năm 1826, Chopin bắt đầu học lý thuyết âm nhạc và sáng tác âm nhạc tại trường trung học phổ thông về âm nhạc tại Warsawa, một bộ phận của Nhạc viện Warsawa và Đại Học Warsawa. Chopin kết thúc quá trình học tập của mình tại trường phổ thông vào năm 1829 và sau 3 năm học tại trường, Elsner đã viết trong một bản báo cáo: “Chopin, Fryderyk, học sinh năm thứ 3, một tài năng lớn, thiên tài âm nhạc”. Khi trở về Warsawa, Chopin cống hiến cho sự nghiệp sáng tác và đã viết một số tác phẩm, trong đó có 2 bản Concerto cho piano và dàn nhạc cung Fa thứ và Mi thứ. Đây cũng là thời kỳ Chopin cho ra đời những bản Nocturne, Etude, Waltz, Mazurka đầu tiên.
Mùa thu năm 1831, ông đến Paris. Ở Paris, ông chọn nghề chơi và dạy đàn cùng lúc soạn nhạc, lấy tên tiếng Pháp là Frédéric-François Chopin. Cả cuộc đời, sức khoẻ ông không được tốt . Ông qua đời do lao phổi ngày 17 tháng 10 năm 1849 tại Paris, thọ 39.
* Bản Ballade Số 1 (Thời gian sáng tác: 1835-1836). Bài này ông sáng tác để tặng Nam tước Stockhausen (một đại sứ Đức). Bản Ballade Số 1 là bản đầu tiên trong 4 bản ballade và thường được xem là một trong những tác phẩm vĩ đại của Chopin. Trước ông, không ai sáng tác ra thể loại nhạc nào được gọi là ballade (một thể loại luôn gắn liền với thơ). Ông sử dụng nhiều kỹ thuật kết cấu và giai điệu trữ tình để viết nên một loại âm nhạc mạnh mẽ, anh hùng. James Huneker (một nhạc sĩ và nhà bình phê bình nhạc người Mỹ) gọi tác phẩm này là “Odyssey trong tâm hồn Chopin” (Odyssey là một tác phẩm sử thi của Hy Lạp cổ đại). Ông viết bản Ballade đầu tiên này tại Vienna và hoàn tất tại Paris năm 1836. Dựa theo một số tài liệu văn học, bản Ballade này được truyền cảm hứng bởi một nhà thơ sống tại Paris cùng thời với Chopin tên Adam Mickiewicz.
Khúc mở đầu của bản nhạc tràn ngập cảm xúc ảm đạm, tối tăm. Vài phút sau, nhịp điệu tăng nhanh dần và theo thời gian, những giai điệu đẹp đẽ và lãng mạn nhất của Chopin tuôn trào. Đây là một trong những sáng tác vĩ đại nhất của Chopin trong những năm đầu tại Paris. Và còn thêm 3 bản ballade nữa, nhưng dường như chỉ Ballade Số 4 là có đủ khả năng sánh ngang bản Ballade Số 1 này.
Dưới đây là 2 video clip: video clip nghệ sĩ piano thiên tài người Ý – Arturo Benedetti Michelangeli biểu diễn Bản Ballade Số 1, và video clip trong phim “The Pianist”. Mời các bạn thưởng thức.
Hôm nay xin giới thiệu với các bạn giọng hát của Whitney Houston qua bài hát One Moment In Time. Với bài hát này, cô đã được đề cử giải Grammy 1989 . Trước hết chúng ta tìm hiểu đôi điều về người nữ ca sĩ da màu rất thành công này.
Whitney Houston sinh ngày 9/8. 1963 tại Newark, bang New Jersey, là một ca sĩ nổi tiếng hát nhạc Pop, R&B. Cô là một trong nữ ca sĩ thành công và có ảnh hưởng nhất mọi thời đại, được đánh giá là nữ ca sĩ bán được nhiều đĩa thứ tư trong nền công nghiệp âm nhạc Mỹ, chỉ sau Barbra Streisand, Madonna và Mariah Carey. Thể loại nhạc chủ yếu của cô là các bản ballad trữ tình và nhạc Pop-Dance sôi động nhờ vào chất giọng truyền cảm mà vô cùng khỏe khoắn và được biết đến với danh hiệu The Voice .
Whitney là nghệ sĩ đầu tiên và duy nhất có 7 đĩa đơn liên tiếp đạt vị trí quán quân trong bảng xếp hạng Billboard Hot 100 của Mỹ. Với 11 đĩa đơn quán quân, cô chỉ đứng sau Mariah Carey và Madonna trong giới nữ ca sĩ.
Whitney Houston là một trong những nghệ sĩ Mỹ đầu tiên thành công trên MTV, cùng với Michael Jackson và Madonna . Ca khúc cover lại của Dolly Parton năm 1992 mang tên “I Will Always Love You” (ca khúc nhạc phim của The Bodyguard) trở thành một trong những ca khúc bất diệt trong lịch sử âm nhạc và lập kỷ lục là đĩa đơn bán chạy nhất của nữ ca sĩ từ trước đến nay. Sau này, cô mở rộng sự nghiệp sang cả lĩnh vực điện ảnh và kinh doanh, tự mình gây dựng lên nhiều phòng thu và sản xuất đĩa nhạc trong khi vẫn theo đuổi nghiệp chính của mình.
Ca khúc One Moment In Time do Albert Hammond viết và được Whitney Houston trình bày trong Thế Vận Hội Olympic Mùa Hè tổ chức tại Seoul, Nam Hàn.Bản nhạc này nhanh chóng trở thành top hit trong nhiều tuần lễ ở nhiều nước ngoài nước Mỹ như Anh, Đức, Thụy sĩ, Pháp, Úc , Philippines, vv , và nằm trong bảng xếp hạng Bill Board Hot 100
ONE MOMENT IN TIME
Mỗi ngày tôi sống
Tôi muốn đó là một ngày
Cống hiến những điều tốt đẹp nhất của tôi
Tôi chỉ là một
Nhưng tôi chẳng cô đơn
Ngày đẹp nhất của tôi dầu chưa biết
Tôi đau đớn tim mình
Chiến đấu cho từng cái được
Để nếm trải ngọt ngào
Tôi đối mặt với nỗi đau
Tôi lao lên và ngã xuống
Nhưng qua tất cả thăng trầm
Vẩn còn lại nhiều
Tôi muốn một giây phút trong đời
Khi tôi vượt lên trên cả suy nghĩ về khả năng của chính mình
Khi mà tất cả những giấc mơ của tôi chỉ cách một nhịp tim đập
Và mọi câu trả lời phụ thuộc vào tôi
Hãy cho tôi một giây phút thích hợp trong dời
Khi tôi đang chạy đua cùng định mệnh
Rồi chính trong giây phút ấy
Tôi sẽ cảm thấy
Tôi sẽ cảm thấy thiên thu
Tôi đã sống để trở thành
Người giỏi nhất
Tôi muốn tất cả là giây phút ấy
Không thể khác hơn
Tôi đã bày ra mọi kế sách
Để giờ đây đặt cơ hội ấy
trong tay tôi
Hãy cho tôi một giây trong đời
Khi tôi vượt lên trên cả suy nghĩ về khả năng của chính mình
Khi mà tất cả những giấc mơ của tôi chỉ cách một nhịp tim đập
Và mọi câu trả lời phụ thuộc vào tôi
Hãy cho tôi một giây ấy trong đời
Khi tôi đang chạy đua cùng định mệnh
Rồi chính trong giây phút ấy
Tôi sẽ cảm thấy
Tôi sẽ cảm thấy thiên thu
Bạn là người chiến thắng cả một đời
Nếu bạn chớp lấy một giây ấy
Làm cho nó tỏa sáng
Hãycho tôi một giây trong đời
Khi tôi vượt lên trên cả suy nghĩ về khả năng của chính mình
Khi mà tất cả những giấc mơ của tôi chỉ cách một nhịp tim đập
Và mọi câu trả lời phụ thuộc vào tôi
Hãy cho tôi một giây ấy trong đời
Khi tôi đang chạy đua cùng định mệnh
Rồi chính trong giây phút ấy
Tôi sẽ
Tôi sẽ
Tôi sẽ tự do
Huỳnh Huệ dịch
.
.
Each day I live,
I want to be,
A day to give,
The best of me.
I’m only one,
But not alone,
My finest day,
Is yet unknown.
I broke my heart,
Fought every gain,
To taste the sweet,
I face the pain.
I rise and fall,
Yet through it all,
This much remains.
I want one moment in time,
When I’m more than I thought I could be.
Then all of my dreams are a heartbeat away,
And the answers are all up to me.
Give me one moment in time,
When I’m racing with destiny,
Then in that one moment of time,
I will feel,
I will feel eternity.
I’ve lived to be,
The very best.
I want it all,
No time for less.
I’ve laid the plans,
Now lay the chance,
Here in my hands.
Give me one moment in time,
When I’m more than I thought I could be.
When all of my dreams are a heartbeat away,
And the answers are all up to me.
Give me one moment in time,
When I’m racing with destiny.
Then in that one moment of time,
I will feel,
I will feel eternity.
You’re a winner for a lifetime,
If you seize that one moment in time,
Make it shine.
Give me one moment in time,
When I’m more than I thought I could be,
When all of my dreams are a heartbeat away,
And the answers are all up to me.
Give me one moment in time,
When I’m racing with destiny.
Then in that one moment of time,
I will be,
I will be,
I will be free.
I will be free