Phim “Người cuối cùng của bộ lạc Mohican” được dàn dựng dựa trên tiểu thuyết cùng tên. Đây là một cuốn tiểu thuyết rất nổi tiếng của nhà văn Jamese Fenimore Cooper (1789 – 1851) – nhà văn viết tiểu thuyết đầu tiên của nền văn học Mỹ đa sắc màu.
Tiểu thuyết “Người cuối cùng của bộ tộc Mohican”, xuất bản năm 1826, trên khung nền của một cuộc chiến tranh giành đất đai giữa hai đế quốc thực dân Anh và Pháp mà nhân vật chính ủng hộ quân Anh chống lại quân Pháp. Cuốn truyện phác họa khung cảnh thiên nhiên hùng tráng của miền đất mới với những chủ nhân thực sự của nó là những người Mohican da đỏ tính cách dữ dội nhưng chất phác, trung thực và trọng nhân phẩm, hoàn toàn cách biệt với sự sa đọa của xã hội văn minh. Những người Mohican vẫn là biểu tượng cho lòng kiên trì, can đảm chiến đấu. Cho đến con người cuối cùng, giọt máu cuối cùng, họ vẫn chiến đấu để bảo vệ cho bộ tộc của mình.
Có rất nhiều bộ phim được dàn dựng dựa trên tiểu thuyết này, ví dụ: năm 1920 – diễn viên chính Wallace Beery, năm 1932 – diễn viên chính Harry Carey, năm 1936 – diễn viên chính Randolph Scott, năm 1992 – diễn viên chính Daniel Day-Lewis. Tuy nhiên, Thư viện Quốc Hội Mỹ đánh giá bộ phim sản xuất vào năm 1920 là ấn tượng nhất và hiện được bảo quản tại US National Film Registry.
Indiogenes
Dưới đây là video clip nhạc chủ đề của phim “Người cuối cùng của bộ lạc Mohican”. Bản nhạc này có tên là “The Gael”, do nhà soạn nhạc nổi tiếng người Scotland – Dougie MacLean sáng tác vào năm 1990, trong album “The Search”. Năm 1992, Trevor Jones đã sử dụng bài này làm nhạc chủ đề của phim “Người cuối cùng của bộ lạc Mohican”.
Cảm nhận đầu tiên của mình là bản nhac này là quá tuyệt vời, thật đẹp và thật hùng tráng. Một sự kết hợp hài hòa giữa âm nhạc hiện đại và âm nhạc huyền bí, cổ xưa của những bộ lạc, thổ dân da đỏ (đặc biệt là những tiếng sáo phát ra từ cây sáo của thổ dân Mỹ). Mời các bạn thưởng thức!
Na Uy đã thắng giải Eurovision tổ chức tại Moscow năm nay với mức điểm ấn tượng 387. Đây là giải bản nhạc hay nhất Âu châu hàng năm, với sự tham dự của 25 quốc gia. Iceland về nhì với 218 điểm và Azerbaijan về ba với 207. Eurovision là chương trình TV rất được yêu chuộng ở Âu châu.
Alexander Rybak của Na Uy sinh tại Minsk (Belarus) ngày 13 tháng 5 năm 1986. Và lớn lên ở Nesodden, ngay bên ngoài thủ đô Oslo của Na Uy. Anh đã chơi violon từ lúc lên 5, tự viết nhạc và tự trình diễn violon và hát. Năm 2006 anh thắng giải tài năng Kjempesjansen ở Na Uy với bản nhạc chính anh viết. Anh đã trình diễn như là người chơi violon trong nhạc kịch Người Đàn Violon Trên Nóc Nhà (Fiddler On The Roof) tại Oslo Nye Theatre (2007), và đang tham dự cuốn phim Yohan – Child Wanderer, dự định phát hành tháng 9 này.
Mời các bạn thưởng thức video ba bản nhạc thắng ba giải Eurovision cao nhất năm nay.
Hôm nay các bạn sẽ nghe không chỉ một mà là hai bài hát qua một giọng ca nhí nhưng không non nớt về tài năng chút nào. Giọng ca nhí được mệnh danh giọng ca thiên thần ngọt ngào từ khi ra mắt người yêu nhạc ở nước Anh năm 2007. Chất giọng trong trẻo và phong cách biểu diễn tự nhiên ngây thơ của cô bé chưa tròn 9 tuổi đã chinh phục người nghe và làm mềm ngay cả những trái tim sắt đá.
Connie Talbot sinh ngày 20/12/ 2000, tại Streetly, thành phố Walsal, West Midlands. Cô bé xinh xắn trở thành ca sĩ nổi tiếng sau khi lọt vào vòng chung kết cuộc thi Tài Năng Anh Quốc năm 2007 trên truyền hình. Trong cuộc thi chung kết này, cô bé hát bài The Wizard of Oz (trong album Over The Rainbow) và chỉ chịu thua Paul Potts, 37 tuổi, hát opera trong cuộc bình chọn qua điện thoại. Hợp đồng dự kiến ký với hãng nhạc Sony BMG phải hủy bỏ do tuổi ca sĩ còn quá nhỏ. Không lâu sau đó, cô kí hợp đồng với hãng thu âm Rainbow, và phát hành album đầu tay của cô “Over The Rainbow” ngày 26/11/2007.
Mặc dù có những lời chỉ trích của các nhà phê bình, nhưng album đầu tay của Connie vẫn bán được hơn 250.000 bản trên khắp thế giới, và được xếp hạng 1 ở ba nước, xếp hạng 7 của Billboard Heat Seeker tại Mỹ. Sau khi phát hành album đầu tay, Connie đã biểu diễn trước khán giả và trên truyền hình ở cả châu Âu, châu Mỹ và châu Á, ở những nơi này giọng hát trẻ thơ ngọt ngào của cô bé đã làm rung động người nghe qua You Tube. Một điểm độc đáo là cô bé biết ca hát từ khi lên 2 tuổi này chưa từng trải qua một trường lớp âm nhạc nào cả, vốn liếng âm nhạc của cô trước khi đến dự cuộc thi Tài Năng Anh quốc là kinh nghiệm hát Karaoke ở nhà.
Album Over The Rainbow được tái phát hành ngày 18/6/ 2008 với 1 ca khúc mới. Album thứ hai, Album Nhạc Giáng sinh của Talbot , ra mắt ngày 24/12/ 2008, và đĩa đơn đầu tiên từ album “ Three Little Birds” được phát hành ngày 10/6/2008. Các bài hát từ album này được đưa vào một trò chơi video về Talbot sắp phát hành. Đĩa đơn I Will Always Love You với một ca khúc mới được ghi âm, You Raise Me Up vừa được phát hành tại Mỹ ngày 7/4/2009.
Dù đang trên đỉnh cao của sự nghiệp ca hát, nhưng Connie vẫn tiếp tục theo học văn hóa tại trường tiểu học Blackwood và sống cùng cha mẹ tại Streetly. Mẹ cô là bà Sharon, công nhân tại nhà máy điện và cha là ông Gavin, một kĩ sư. Ngoài ra Connie còn có một em trai là Josh và em gái là Molbie. Hai ca khúc “Signature song” và “Over the Rainbow” đã được Connie hát trong đám tang của bà ngoại mình. Đó chính là những bài hát mà bà ngoại cô rất thích khi xem cô biểu diễn.
Connie Talbot được xem là một hiện tượng, và được rất nhiều người hâm mộ trên khắp thế giới về giọng ca độc đáo và tính cách đáng yêu của mình. Trong vòng hơn 1 năm qua, cô bé đã chứng tỏ rằng mình có thể sống bình thường như một cô bé học trò ở Milands, Anh, trong khi vẫn quảng bá cho các đĩa CD của mình, quay video, đón nhận các đĩa vàng và bạch kim, ký tặng CD nhạc, và xuất hiện trên các chương trình TV lớn toàn cầu. Với 5 đĩa vàng và bạch kim, có thể khẳng định cô bé sinh ra để ca hát.
Theo đề nghị của các bạn, hôm nay mình cũng sẽ không post lời dịch Tiếng Việt. Cám ơn các bạn đã hưởng ứng gửi lời dịch cho Top of The World. Mong các bạn tiếp tục đóng góp lời dịch cho góc âm nhạc hôm nay.
Link bài hát: SMILE
.
Smile, though your heart is aching
Smile, even though it’s breaking
When there are clouds in the sky
You’ll get by…
If you smile
With your fear and sorrow
Smile and maybe tomorrow
You’ll find that life is still worthwhile
If you just…
Light up your face with gladness
Hide every trace of sadness
Although a tear may be ever so near
That’s the time you must keep on trying
Smile, what’s the use of crying
You’ll find that life is still worthwhile
If you just…
Smile, though your heart is aching
Smile, even though it’s breaking
When there are clouds in the sky
You’ll get by…
If you smile
Through your fear and sorrow
Smile and maybe tomorrow
You’ll find that life is still worthwhile
If you just smile…
That’s the time you must keep on trying
Smile, what’s the use of crying
You’ll find that life is still worthwhile
If you just smile.
Link bài hát : I will Always Love You ( Connie Talbot hát chung với Whitney Houston )
If I should stay
I would only be in your way.
So I’ll go but I know
I’ll think of you
Every step of my way.
And I will always love you.
I will always love you.
(My darling, you)
Bittersweet memories,
That is all I’m taking with me.
So goodbye, please don’t cry.
We both know I’m not what you, you need.
and I will always love you.
I will always love you.
I hope life will treat you kind
And I hope you’ll have
All you’ve dreamed of.
and I do wish you joy and
happiness.
But above all this, I wish you love.
I love you i wil always love you.
And I will always always love you.
I will always love you…
i will always love you
Anh Trần Bá Thiện vừa gửi link đến bài phóng sự anh viết trên Tuổi Trẻ về sinh hoạt của ban nhạc latin rock Azomatli của Los Angeles, Mỹ, hiện đang thăm viếng Việt Nam với tư cách đại sứ văn hóa. Chúng ta post lại bài đó ở đây, vì nó có nhiều hình ảnh rất đẹp, rất vui.
Cám ơn anh Thiện nhiều nhé.
.
TTO – Hơn 2.000 khán giả có mặt tại Trung tâm ca nhạc Lan Anh (TP.HCM) tối 13-5 đã có một đêm nhạc tưng bừng cùng ban nhạc từng ba lần đoạt giải Grammy Ozomatli. 1 giờ 15 phút với hơn 10 bài hát đa thể loại, từ rap, hip hop đến rock alternative… Ozomatli đã cống hiến cho khán giả những giây phút cuồng nhiệt với âm nhạc.
Đêm nhạc còn có sự góp mặt của nghệ sĩ nhạc dân tộc Hồ Nga.
Chiều nay (14-5), tại Nhà văn hóa Thanh niên (TP.HCM), Ozomatli có buổi biểu diễn đặc biệt dành cho trẻ bụi đời, trẻ em khuyết tật, tàn tật và người có HIV.
Một số hình ảnh của đêm diễn:
GIA TIẾN
Tưng bừng với các bạn trẻ khiếm thị Thiên Ân
Sáng 13-5-2009, hội trường Mái ấm khiếm thị Thiên Ân, Tân Bình, TP.HCM rộn rã với âm nhạc Latin chân phương trần trụi, mộc mạc nhưng đầy quyến rũ. Không cần hệ thống xử lý âm thanh hiện đại, không cần hào quang của các giải Grammy, những đại sứ văn hóa trong nhóm Ozomatli tiến lên sân khấu và tự giới thiệu mình bằng ngôn ngữ âm nhạc.
Ozomatli – Ảnh: Xuân Huy
Sau vài ca khúc nhộn nhịp của Ozomatli, Y Byoc (đọc là Bờ dóc) một bạn khiếm thị người dân tộc Tây nguyên đã đáp lễ bằng những ca khúc mang âm hưởng núi rừng như “Em muốn sống bên anh trọn đời”.
Y Byoc (đọc là Bờ dóc) – Ảnh: Xuân Huy
Chủ và khách hết sức phấn khích bởi âm nhạc của nhau. Hơn 40 cử tọa trong hội trường chợt gào lên tán thưởng khi tiếng kèn Saxophone của Ozomatli tấu giai điệu bài… “Cả nhà thương nhau”. Mọi người cuồng nhiệt ca vang bài hát này cùng với tiếng nhạc đệm của Ozomatli. Chủ và khách hòa quyện vào nhau. Hai nền văn hóa hòa vào nhau. Chất liệu âm nhạc Việt được làm mới trong phần nền bổ túc của âm nhạc Latin rock.
Kết thúc phần nói với nhau bằng ngôn ngữ âm nhạc, các thành viên Ozomatli và các bạn khiếm thị Thiên Ân rôm rả chuyện trò. Những câu tiếng Anh bập bẹ và những khuôn mặt hân hoan ấm áp tình thân trao cho nhau…
Shakuhachi có nghĩa là 1.8 foot = 30.3 cm. Đây là một nhạc cụ truyền thống tiêu biểu làm bằng tre ở Nhật, gọi là sáo tre Shakuhachi. Du nhập vào Nhật từ Trung quốc khoảng cuối thế kỷ thứ 7, sáo tre Shakuhachi phát triển ở Nhật như một nhạc cụ độc đáo, gợi lên một âm hưởng sâu lắng trong tâm hồn.
Sáo này làm từ giống tre Madake, có 4 lỗ ở phía trước và 1 lỗ ở phía sau. Vì vậy đôi khi người phương Tây cũng gọi nó là “sáo tre 5 lỗ”. Năm lỗ này đủ để tạo ra các nốt trong mọi âm vực. Trên thực tế, số lượng lỗ thổi nhỏ đã khiến âm thanh của sáo Shakuhachi trở nên réo rắt, đôi lúc khá chói tai. Tuy rất đơn giản, nhưng sáo tre Shakuhachi đòi hỏi người chơi không chỉ tập trung cao độ ở chiếc môi, mà phải rất thành thạo trong việc kiểm soát hơi thổi (phải thổi trong 117 nhịp thở). Sáo Shakuhachi được coi như là một công cụ tinh thần độc quyền của môn phái Zen sáo tre. Ðây là nhạc cụ truyền thống của Nhật Bản được các thiền sư Komusou (“nhà sư hư vô” ) ngày xưa hay thổi các bản nhạc thiền khi đi hành thiền.
Tre Madake
Theo truyền thuyết, Kyochiku – một thầy tế lễ – người sáng lập môn phái thiền Myoan đã mê đi trong khi thực hành thổi sáo trong ngôi đền ở Ise. Ông mơ thấy mình đơn độc trên một chiếc thuyền giữa biển đầy mù sương và nghe một âm thanh lạ từ trên trời. Khi sương tan dần, ông lại nghe một âm thanh kỳ diệu khác. Tỉnh dậy, ông lập tức thể hiện những âm thanh bí ẩn đó vào các dụng cụ bằng tre, và tạo ra ba khúc nhạc: “Koku” (Empty sky), “Kyorei” (Empty bell), và “Mukaiji” (misty sea). Ðó là “Ba tấu khúc xưa” rất đặc trưng và mẫu mực cho nhạc thiền “Koku” – một điệu nhạc thanh thản và trầm lặng, được chơi với sáo Shakuhachi. Dòng nhạc này coi như thể hiện được quan niệm Hư Vô của Phật giáo.
Nhà sư Komusou
Phong cách chơi sáo chủ yếu theo truyền thống của đền Myoan ở Kyoto. Âm thanh chính của nó là “tiếng thì thào của gió qua động tre” dùng để thư giãn và thiền. Sáo tre Shakuhachi là một nhạc cụ được sáng tạo một cách bất ngờ, đơn giản, nhưng trong tay các bậc thầy có thể trình tấu một loạt các âm thanh từ đơn giản đến phức tạp và truyền cảm như tiếng nói của con người, dựa trên trực quan và tinh thần của người biểu diễn. Diễn đạt âm thanh là để đạt cao trình độ phát triển của tinh thần.
Dưới đây là video clip một nhà sư Komusou đang thổi sáo Shakuhachi ở Nagoya (một thành phố lớn thứ 4 ở Nhật, thuộc vùng Trung bộ, trung tâm đảo Honshu).
Socotra là một phần của quần đảo gồm 4 đảo, nằm trên Ấn Độ Dương cách Somalia 250km và Yemen 340km, thuộc nước Cộng Hòa Yemen. Quần đảo này tách ra khỏi châu Phi cách đây hàng triệu năm, và nằm khuất trong vịnh Aden, là khu bảo tồn sinh vật độc nhất trên thế giới.
Nơi này có ảnh hưởng hết sức quan trọng đối với hệ động – thực vật, vì sự đa dạng sinh học cao với hệ động thực vật phong phú, đặc biệt rất nhiều loài trong đó là loài đặc hữu – nghĩa là không có ở ở bất cứ nơi nào khác trên thế giới. Thực vật ở đây đã được bảo tồn và duy trì một cách tự nhiên qua hàng triệu năm, có những loài đã tồn tại từ cách đây… 20 triệu năm.
Cây huyết rồng
Một trong những nét ấn tượng nhất của đảo Socotra là cây huyết rồng, có hình dáng kỳ dị, mọc trên những ngọn núi cao và có thể sống tới 500 năm. Nhựa của nó màu đỏ, được dùng để trang trí, làm thuốc nhuộm hoặc dùng trong y học. Đây là loài thực vật mang lại sự huyền bí và nổi tiếng cho quần đảo này.
Tuy khí hậu khắc nghiệt, nóng và khô, nhưng thật ngạc nhiên là cây cối ở đây phát triển rất nhanh. Bãi cát rộng, trải dài tới các dãy núi đá vôi với các hang động (dài khoảng 7km) và các ngọn núi cao tới 1525m.
Bông hồng sa mạc
Cư dân trên đảo đa số là người Ả Rập, Somali và Nam Á, theo đạo Hồi và nói tiếng Soqotri – tiếng địa phương của Ả Rập. Chỉ có khoảng 50,000 người sống trên đảo này. Họ sống bằng nghề đánh bắt thủy hải sản, nuôi trồng gia súc, trồng chà là, và gần đây là du lịch.
Chính vì sự huyền bí, cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp và đa dạng về sinh học, vào tháng 7/2008, UNESCO đã chính thức công nhận đảo Socotra là di sản thiên nhiên thế giới.
Cả tuần nay, mình thấy các bạn rất nhiệt tình, và cũng khá vất vả (?) chiến đấu với mục “Thách thức Anh ngữ hàng ngày” của anh Hoành và chị Huệ. Vì thế, để giúp các bạn thư giãn vài phút, cũng như giúp các bạn nạp thêm chút năng lượng trước khi bắt tay vào “xử” các bài tập Thách thức Anh ngữ của tuần này, xin được giới thiệu với các bạn video clip bài hát “Tui là gấu”.
Đây là một bài hát khá nổi tiểng, do ca sĩ trứ danh người Nhật – Utada Hikaru sáng tác, lấy cảm hứng từ con gấu nhồi bông của chị. Bài hát này được phát thanh và phát sóng lần đầu tiên vào ngày 1 tháng 10 năm 2006, trong chương trình “Mina no Uta” (Everybody’s song, đối tượng chủ yếu là trẻ em). Ngay sau khi phát sóng, và thể theo yêu cầu nồng nhiệt của khán thính giả, bài hát này được phát liên tiếp trong suốt 4 tháng (từ tháng 10 năm 2006 đến tháng 1 năm 2007) và cũng liên tục đứng đầu trong bảng xếp hạng đĩa đơn J-POP ở Nhật trong năm 2006.
Mời các bạn thưởng thức và chúc các bạn một tuần thật vui! 😀
À, do bài hát bằng tiếng Nhật, nên mình xin lược dịch một chút để các bạn có thể hiểu được nội dung!
Tui là gấu
Tui không phải là xe hơi, mà là gấu
Tui không đi được, nhưng tui có thể khiêu vũ
Tui không nói được, nhưng tui có thể hát
Tui là gấu, gấu, gấu.
Tui là gấu
Tui ghét cãi nhau lắm
Đối thủ của tui là con tôm chiên
Kiếp trước chắc tui là kẹo sô-cô-la
Tui là gấu, gấu, gấu.
Xin chào, tui tên là Gấu
Bạn có khỏe không?
Tui là gấu
Mùa đông thì buồn ngủ lắm
Buổi tối thì
“Chúc anh gối ngủ ngon nhé” (Note: anh gối: cái gối)
Hôm nay, Thứ bảy 9.5.2005, rằm tháng tư âm lịch, là Lễ Phật Đản PL. 2553, tức là Đức phật sinh ra 2553 năm về trước. Đọt Chuôi Non cầu chúc tất cả các bạn một Lễ Phật Đản nhiều tình yêu và an lạc.
Trong post này chúng ta có các thông tin sau đây:
1. Toàn văn thông điệp Phật Đản PL 2553, của Hoà thượng Thích Phổ Tuệ, Pháp Chủ Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam.
2. Link đến Giác Ngộ online:
. Tòa Tổng Giám Mục TP HCM chúc mừng Phật đản PL. 2553
. Chủ tịch UBTƯMTTQVN gửi thư chúc mừng Phật tử nhân Đại lễ Phật đản PL. 2553
. Thông tin và hình ảnh Phật Đản 2009 khắp nơi
3. Hình ảnh về Ngày Phật Đản Liên Hợp Quốc 2008 tại Việt Nam, một ngày quan trọng cho Phật giáo Việt Nam.
4. Lời chào mừng của Hội Đồng Giáo Hoàng về Đối Thoại Liên Tôn gửi đến các Phật tử toàn thế giới, do mình dịch sang Việt ngữ.
Hoà thượng Thích Phổ Tuệ
Nam mô Bản Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Hòa chung không khí đại hoan hỷ và hòa hợp của Tăng Ni, Phật tử trên khắp hành tinh, hôm nay các cấp Giáo hội Phật giáo Việt Nam, cũng như mỗi cơ sở tự viện trong toàn quốc, Tăng Ni, Phật tử cả nước long trọng tổ chức Đại lễ Kỷ niệm ngày Đản sinh của Đức Từ Phụ giáo chủ Bản Sư Thích Ca Mâu Ni Phật – Phật lịch 2553, dương lịch 2009. Thay mặt Ban Thường trực HĐCM và nhân danh cá nhân, tôi có lời cầu chúc đến chư tôn đức giáo phẩm, cùng toàn thể quý vị Đại đức Tăng Ni, cư sĩ Phật tử ở trong nước và ở nước ngoài thân tâm thường an lạc, Phật sự thành tựu.
Kỷ niệm ngày Đản sinh của Đức Bản Sư là sự kiện quan trọng của mỗi người Phật tử, đó cũng là cơ duyên để mỗi chúng ta khẳng định sự trong sáng của giáo lý Đức Phật và sự đóng góp của Phật giáo trong suốt chiều dài hơn 2.500 năm qua đối với nhân loại. Tư tưởng giáo lý về hòa bình, từ bi, hỷ xả, vô ngã, vị tha và tự giác ngộ đối với chính bản thân mỗi người vẫn luôn là kim chỉ nam đối với người con Phật trên con đường tu tập và phụng sự đạo pháp, dân tộc, đó cũng là tư tưởng phù hợp với sự tiến bộ xã hội. Đây chính là cốt lõi mà chúng ta cần phải nhận thức đúng đắn và trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp thích hợp trong việc giải quyết những vấn đề của thời đại như nghèo đói, chiến tranh, xung đột tôn giáo, sắc tộc và công bằng xã hội.
Hai nghìn năm hiện diện, đồng hành với dân tộc và trở thành tôn giáo của dân tộc, Phật giáo Việt Nam phát huy những giá trị tích cực của giáo lý Đức Phật, góp phần tích cực đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Nhiều hoạt động Phật sự ích đạo lợi đời được các cấp Giáo hội Phật giáo Việt Nam và cá nhân mỗi Tăng Ni, Phật tử quan tâm chú trọng, triển khai toàn diện không chỉ ở trong nước mà còn đối với cộng đồng quốc tế và cộng đồng Phật tử Việt Nam đang sinh sống ở nước ngoài. Thay mặt Ban Thường trực Hội đồng Chứng minh, tôi có lời tán thán công đức đến các cấp Giáo hội Phật giáo Việt Nam cũng như cá nhân mỗi chư tôn giáo phẩm và Tăng Ni, Phật tử đã không ngừng tinh tấn, phụng sự Đạo pháp và Dân tộc để Phật pháp được xương minh, thế giới hòa bình, chúng sinh an lạc.
Nhân dịp ngày Đản sinh của Đức Bản Sư, tôi kêu gọi các cấp Giáo hội Phật giáo Việt Nam và mỗi Tăng Ni, Phật tử Việt Nam ở trong nước và ở nước ngoài, với vai trò trách nhiệm của mình, hoàn thành tốt mọi Phật sự để thiết thực chào mừng Đại lễ 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội và Hội nghị Thượng đỉnh Phật giáo Thế giới lần thứ VI được tổ chức tại Việt Nam vào trung tuần tháng 11 năm 2010.
Nam mô Bản Sư Thích Ca Mâu Ni Phật tác đại chứng minh.
TM. Ban Thường trực
Hội đồng Chứng minh GHPGVN
Pháp chủ
Năm 1999 Đại Hội Đồng Liên Hợp Quốc đồng ý mừng Lễ Phật Đản hằng năm tại Liên Hiệp Quốc, và từ năm 2000 đến nay, các quốc gia (mà đa số là) Phật giáo đã thay phiên tổ chức Ngày Phật Đản Liên Hợp Quốc tại nước mình. Năm 2008 là năm cho Việt Nam.
1. Lễ Phật Đản là một cơ hội tốt để chúng tôi gửi đến các bạn, với tư cách đại diện Hội Đồng Giáo Hoàng về Đối Thoại Liên Tôn, lời chúc mừng thành thật và cầu mong thân thiết: Cầu chúc lễ Phật Đản một lần nữa mang hân hoan và tĩnh lặng đến quả tim của mọi Phật tử trên thế giới. Ngày lễ thường niên này cho tín hữu Công giáo một cơ hội để chào mừng bạn bè và láng giềng Phật tử, và nhờ đó làm các thân tình bằng hữu thêm khắng khít cũng như tạo thêm thân tình mới. Các ràng buộc thân thiết này cho phép chúng ta chia sẻ với nhau những niềm vui, những hy vọng và những kho tàng tâm linh.
2. Trong khi làm mới lại cảm giác gần gũi với các bạn Phật tử trong thời đại này, càng ngày ta càng thấy rõ là cùng nhau chúng ta có thể đóng góp, trong cung cách trung thành với truyền thống tâm linh riêng của mình, vào phúc lợi của cộng đồng của chúng ta, cũng như cộng đồng nhân loại trên thế giới. Chúng tôi cảm nhận sâu xa thử thách trước mắt chúng ta đến từ, môt bên là hiện tượng nghèo đói càng ngày càng lan rộng trong nhiều hình thức, một bên là sự theo đuổi sở hữu vật chất không ngừng và bóng tối tràn ngập của chủ nghĩa tiêu thụ.
3. Như Đức Giáo Hoàng Benedict XVI mới nói đây, có hai loại nghèo rất khác nhau, đó là nghèo “tự nguyện” và nghèo “phải chống” (bài giảng ngày 1 tháng 1 năm 2009). Cho tín hữu Thiên chúa giáo, nghèo tự nguyện là cái nghèo cho phép chúng ta theo chân chúa Giêsu Kitô. Khi tự nguyện như thế, nguời Thiên chúa giáo sắn sàng để đón nhận ân huệ của chúa Giêsu, người đã vì chúng ta mà thành nghèo khổ dù người rất giàu có, để nhờ sự nghèo khổ của ngài mà chúng ra trở thành giàu có (2 Corinthians 8, 9). Chúng tôi hiểu rằng nỗi nghèo khổ này có ý nghĩa cao nhất là làm cái tôi trở thành trống rỗng, nhưng chúng tôi cũng hiểu một ý nghĩa nữa là chúng ta chấp nhận chính mình, với mọi tài năng và giới hạn của mình. Nghèo khó như vậy làm cho chúng ta sẵn lòng để nghe Thượng đế và nghe các anh chị em của chúng ta, cởi mở với các anh chị em, và kính trọng các anh chị em như là những cá nhân đáng kính. Chúng ta trân trọng mọi sáng tạo, kể cả các thành quả của con người, nhưng chúng ta được dạy là phải làm như vậy với tự do và tri ân, ân cần và kính trọng, với một tinh thần vô chấp cho phép chúng ta sử dụng mọi sản phẩm của thế giới như là chúng ta không sở hữu đìều gì nhưng lại nắm giữ mọi điều. (2 Corinthians 6, 10). Nhà Thờ Phát Diệm VN
4. Đồng thời, như Giáo Hoàng Benedict nói, “có một loại nghèo khổ, một loại tước đoạt, mà Thượng đế không muốn và cần phải chống; loại nghèo khổ ngăn cản các cá nhân và gia đình sống với đầy đủ nhân phẩm; loại nghèo khổ xúc phạm công lý và bình đẳng và, do đó, đe doạ sự sống chung hoà bình.” Hơn nữa, “trong các xã hội giàu có tiền tiến, có bằng chứng về sự đi ra ngoài lề, cũng như nghèo khổ về tình cảm, đạo đức và tâm linh, trong những nguời có nội tâm lạc hướng với đủ mọi chứng bệnh dù là họ rất sung túc về kinh tế.” (Thông điệp cho Ngày Hoà Bình Thế Giới 2009, chú thích 2).
5. Khi người Công giáo suy gẫm như thế này về ý nghĩa của nghèo khổ, chúng tôi cũng chú tâm đến kinh nghiệm tâm linh của các bạn, các bạn Phật tử thân ái. Chúng tôi xin cám ơn các bạn về việc làm chứng đầy hứng khởi của các bạn về vô chấp và tri túc thường lạc. Các sư thầy, sư cô, và nhiều Phật tử trong các bạn sống cuộc sống nghèo khổ “tự nguyện”, sự nghèo khổ nuôi dưỡng quả tim con người, làm giàu rất nhiều cho đời sống với trí tuệ sâu xa soi chiếu ý nghĩa của hiện hữu, và quyết tâm bền vững trong việc thăng tiến thiện tâm của toàn thể cộng đồng nhân loại. Một lần nữa, xin cho phép chúng tôi được nói lời chào mừng tận đáy lòng và chúc tất cả các bạn một Lễ Phật Đản nhiều hạnh phúc.
Hội Đồng Giáo Hoàng về Đối Thoại Liên Tôn
Hồng Y Jean-Louis Tauran
Giám Đốc
Đại Học Trung Nam Học Viện Y Tương Nhã (中南大学湘雅医学院)
(Xiang Ya School of Medicine Central South University)
Học viện y Tương Nhã ngày xưaKhu trường cũKhung cảnh trườngKhu nhà học chínhCông viên trong bệnh viện trườngLưu học sinh các nước -- Noel 2008Cùng nhau làm Nem Rán và Chả NướngĐi dạo bên sông Tương sau những buổi họcPicnic của phe ta
Chào các bạn!
Mình là nghiên cứu sinh năm 1 tại Học Viện Y Tương Nhã của Đại học Trung Nam, tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc.
Trong Học Viện Y có 5 sinh viên Việt và toàn Đại Học Trung Nam có 11 người. Mấy hôm nay mình đã post một số bài về văn hoá Trung quốc. Hôm nay mình chia sẻ với các bạn về trường của mình nhé.
Tỉnh Hồ Nam thường được gọi tắt là 湘 (Tương), còn Yale trong tiếng Hán được phiên âm là 雅 (Nhã) do đó trường được mang tên “Tương Nhã ”.
Năm 2000, Đại Học Y Tương Nhã cùng Đại Học Công Nghiệp Trung Nam (中南工业大学)và Học Viện Đường Sắt Trường Sa(长沙铁道学院)sát nhập thành Đại Học Trung Nam (Central South University). Đây là đại học khá lớn ở miền Nam Trung quốc thuộc tỉnh Hồ Nam.
Hồ Nam có Động Đình Hồ (Lạc Long Quân và Âu Cơ) và sông Tương (chàng tại đầu sông Tương, thiếp tại cuối sông Tương, cùng uống nước sông Tương, tương tư nhưng không tương kiến), rất quen thuộc với văn hoá Việt Nam, Thành cổ Phụng Hoàng như trong bài trước mình đã giới thiệu, hay núi Hành Sơn (một trong 5 ngọn núi có độ cao nhất của Trung Quốc), v.v….
Học Viện Y Tương Nhã là một trong những trường Tây Y được thành lập sớm nhất tại Trung Quốc . Tháng 9 năm 1996, Học Viện được xếp vào tốp “211 công trình trọng điểm Quốc Gia.” Học Viện là 1 trong 5 trường ở Trung Quốc đã thành lập hệ 8 năm Học Viện Y Dược . Hoc Viện có 10 chuyên nghành đào tạo chính quy, và đến năm 2003 trường được chọn là 1 trong 5 trường đại học thí điểm mang tiêu chuẩn Quốc Tế.
Học viện hiên nay có 1773 viên chức (không bao gồm bệnh viện trực thuộc ), trong đó có 179 Giáo Sư, 387 Phó Giáo Sư, 627 Giảng Viên, và khoảng 120,000 sinh viên.
Học Viện có diện tích hơn 77,000 m2 ( không bao gồm bệnh viện trực thuộc). Ngoài khu nghiên cứu, khu giảng dạy và thư viên, trường còncó nhà ăn dành cho sinh viên, khu kí túc xá, ngân hàng, bưu điện, siêu thị, khu giao lưu văn hóa, cung thể thao, sân vận động…
Các hoạt động giao lưu đối ngoại của trường rất sôi nổi, hiện trường đã thiết lập quan hệ hợp tác hữu nghị với hơn 100 trường đại học và hơn 300 cơ sở nghiên cứu khoa học của 25 Quốc Gia và khu vực.
Học Viện Y Tương Nhã hiên có 5 lưu học sinh Việt Nam, và toàn Đại Học Trung Nam thì có 11 sinh viên Việt Nam. Bọn mình ở đây tuy ít nhưng sống đoàn kết và vui lắm. Ngoài việc học tâp, tham gia các hoạt động của trường, của khoa, thì bọn mình còn có hoạt động riêng của người Việt.
Ví dụ như buổi chiều mọi người thường đợi mình đi làm về rồi cùng nhau đi tập thể duc. Cuối tuần thì cả bọn cùng nhau đi siêu thị mua đồ ăn và tất nhiên trong những ngày nghỉ bọn mình thường cùng nhau nấu các món ăn Việt như Nem Rán, Bánh Xèo, Thịt Cuốn, Chè Đậu Xanh …(hi kể ra bọn mình cũng khéo tay đấy chứ :-)).
Sống xa nhà nhưng ngày lễ tết cổ truyền gì của dân tộc bọn mình đều nhớ và tham gia rất nhiệt tình. Thường thì các bạn bên Trung Nam sôi nổi hơn Tương Nhã, nhưng khi bên đó có tổ chức gì thì bên Tương Nhã bọn mình đa phần đều có mặt đầy đủ . Mình là người lớn tuổi nhất ở đây, nhưng khi được sống bên các bạn trẻ, được hòa nhập cùng lứa tuổi sinh viên mình thấy cuộc sống xung quanh mình thật vui vẻ, lúc nào cũng tràn ngập tiếng cười, niềm vui.
Mình hy vọng thông qua câu chuyện về cuộc sống xa nhà của các bạn Tương Nhã nói riêng, mình mong rằng các bạn lưu học sinh ở những nơi khác cũng có những ngày tháng vui vẻ như bọn mình nhé.
Dano – Lễ hội Đoan Ngọ còn được coi là “Ngày của thần linh” là ngày 5 tháng 5 âm lịch hàng năm. Con số 5 là biểu tượng cho sức sống và thông thái, đồng thời ngày 5/5 với con số 5 được lặp lại 2 lần được coi là một điềm may. Tại những cộng đồng nông nghiệp, Dano là một ngày lễ hội, một ngày để nghỉ ngơi sau một mùa thu hoạch lúa mạch và gạo. Đây cũng là một lễ hội cầu một vụ mùa bội thu.
Trong khi Dano, mộtlễ hội theo mùa vốn bắt nguồn từ Trung Quốc và sau đó được lan truyền tới các quốc gia trong khu vực Đông Bắc Á vào thời trung cổ, những thế hệ kế tiếp đã đã biến Danoje – lễ hội Đoan ngọ khu vực Gangneung thành một lễ hội tổng hợp hết sức độc đáo của bán đảo Triều Tiên. Nói một cách khác, Danoje tại Gangneung, tỉnh Gangwon, là một lễ hội địa phương nhằm khơi dậy tinh thần cộng đồng của người dân sinh sống tại khu vực phía Đông của rặng Daegwallyeong tại Yeong-dong. Trong suốt lễ hội này, người dân bày tỏ sự kính trọng đến 3 vị thần giám hộ: Tướng Kim Yusin thời Silla – người có công đóng góp vào lần đầu tiên thống nhất bán đảo; Tăng lữ Beomil – tăng lữ xuất thân tại Gangneung, nhà lãnh đạo về mặt tinh thần của những vị tổ tiên sáng lập ra triều đại Goryeo; một nữ nhân trong lịch sử hiện thân cho sự đau khổ do thiên tai và những gian khổ trong cuộc đời.
Danoje khu vực Gangneung được đánh giá cao với lịch sử dài gần 1000 năm, phản ánh lịch sử và cuộc sống của tầng lớp thường dân. Đặc biệt, nền tảng về tinh thần của lễ hội này là sự pha trộn các tôn giáo truyền thống của dân tộc Hàn như Nho giáo, Đạo Shaman, Đạo Phật và Đạo Lão, đồng thời diễn ra với rất nhiều các lễ hội và chương trình biểu diễn đa dạng. Âm nhạc, các điệu múa, các tác phẩm văn học, kịch và các tác phẩm thủ công được đưa vào lễ hội này đều mang giá trị nghệ thuật cao.
Ngoài ra, Danoje khu vực Gangneung cũng được coi là cơ hội để gìn giữ văn hóa truyền thống. Trong suốt thời gian diễn ra lễ hội, người dân có dịp tiếp xúc với những nghi lễ mang tính chất tôn giáo như Dano Gut (một nghi lễ đạo shaman), kịch mặt nạ, Nongak và Nongyo (nông nhạc) và rất nhiều di sản văn hóa hữu hình có giá trị nghệ thuật cao.
Là một nguyên mẫu lễ hội văn hóa của dân tộc Hàn, Danoje đóng vai trò không chỉ là một kênh truyền tải văn hóa truyền thống mà còn cả những kinh nghiệm mang tính giáo dục. Lễ hội kéo dài trong 30 ngày thu hút hơn 1 triệu du khách trong và ngoài nước, trong đó có 230 nghìn người dân khu vực Gangneung.
Nét độc đáo về mặt văn hóa, cộng với giá trị lớn về mặt nghệ thuật của lễ hội Danoje khu vực Gangneung – Di sản văn hóa quan trọng số 13, đã được UNESCO công nhận. Đồng thời lễ hội này đã được công nhận là Kiệt tác di sản truyền miệng & di sản hữu hình của nhân loại vào ngày 25/11/2005.
Ngày Phật đản sinh thứ 2553 lại về với tinh thần từ bi và giải thoát đau khổ cho chúng sinh, trong tình thương yêu bao la của Đức Phật. Những giá trị nhân bản cao đẹp của Phật giáo, những lời dạy của Đức Phật về những hạnh lành, việc thiện đã và đang được giới tăng ni Phật tử chung sức chung lòng thực hiện với ước mong giúp cho cuộc sống của mọi người luôn tươi đẹp, hạnh phúc. Tinh thần Phật đản thực sự là hướng thiện và nhân ái, và không chỉ tĩnh tâm cầu nguyện, người Phật tử phải tích cực trong cuộc sống, biết yêu thương giúp đỡ những mảnh đời khốn khó và bất hạnh.
Một địa chỉ quen thuộc để chúng tôi tìm đến mỗi mùa Phật đản là chùa Bửu Thắng, trụ trì là sư cô Huệ Hướng. Hôm nay tôi cùng những người bạn trở lại thăm chùa. Từ ngày đầu tiên viếng chùa nhân Phật đản 5 năm về trước đến nay , tôi không bao giờ quên được những ánh mắt trẻ thơ vương nét buồn ở nhà Tình Thương – Cô Nhi chùa Bửu Thắng. Những ánh mắt đen láy, ngây thơ, những khuôn mặt ngơ ngẩn vì bệnh Down, những người già nằm liệt giường ấy như một ám ảnh khiến tôi nao lòng từ ngày ấy.
Chùa Bửu Thắng, nằm trên quốc lộ 14, cách thành phố Buôn Ma Thuột 38 km. Trước năm 2001 đây là một ngôi chùa dột nát hoang phế. Năm 2001 sư cô Huệ Hướng về trụ trì và ngay trong năm này, ngoài việc tu tập Đạo Pháp, chùa chỉ có 1 sư cô và 2 sa di đã tham gia hoạt đông từ thiện dù còn vô vàn khó khăn về cơ sở vật chất. Đến cuối năm 2001, chùa đã nuôi dưỡng 20 người gồm người già yếu bệnh tật không nơi nương tựa, lẫn cô nhi và các trẻ sơ sinh bị người ta vất bỏ trước cổng chùa. Đến nay số người già trẻ mà chùa Bửu Thắng phải cưu mang đã lên tới 161. Trong số này có 46 người già yếu, 78 trẻ em cô nhi, đặc biệt là 21 người khuyết tật gồm cả trẻ và già. 15 người là các sư cô và sa di, trong đó có 6 người đang theo học Phật học tại Đại học Vạn Hạnh cũng do nhà chùa chu cấp. Những người khuyết tật mà chúng tôi đến thăm số đông là bị thuơng tật ở tay chân, và người già, người bệnh tâm thần, bại não sơ sinh và bệnh Down, ở các em độ tuổi 15, 18. Khi nhìn những người bất hạnh này, chúng tôi vừa thấy xót thương cho họ, vừa cảm phục hạnh từ bi của những tu sĩ chùa Bửu Thắng!
Theo lời sư cô trụ trì, các sư cô và sa di ở chùa Bửu Thắng đã cố gắng hết sức để vượt qua những thời kỳ vô cùng khó khăn tưởng như không trụ được để xây dựng và phát triển hoạt động của ngôi chùa như hiện nay. Chùa vừa mới khánh thành ngôi chánh điện được xây trang nghiêm năm trước. Ngoài việc là nơi thờ tự, tu tập và hoằng pháp với gần 500 tín đồ là người dân tộc Ê Đê, chùa đã ghi một dấu ấn đậm nét trong lòng mọi khách thập phương đến lễ và viếng chùa với hoạt động từ thiện xã hội chăm lo Nhà Tình Thưong và Cô Nhi.
Chùa hiện có một dãy nhà gồm 5 phòng cho người già yếu, và một nhà gồm 3 phòng cho trẻ em (do tổ chức Care to Help xây tặng). Được biết cho đến nay chùa chủ yếu là tự thân vận động nhờ vào những tấm lòng vàng, của khách thập phương, tâm từ bi của thiện nam tín nữ cúng dường làm từ thiện, chứ chưa nhận được nguồn tài trợ giúp đỡ thường xuyên của cá nhân hay tổ chức nào. Bằng nỗ lực phi thường và từ tâm của Phật tử, sư cô trụ trì Huệ Hướng đã thực sự làm thay đổi cơ sở vật chất của chùa để chăm lo cho những mảnh đời bất hạnh, khốn khó. Những tiện nghi cho sinh hoạt tuy đã được cải thiện dần nhờ sự phát tâm từ bi cúng dường để làm việc thiện của khách thập phương nhưng đều thiếu và còn hạn chế đối với cả người già và con trẻ. Ví dụ các bé trong độ tuổi chưa thôi nôi phải nằm võng chứ không có nôi, một sân rộng ngay trước lớp học chưa có điều kiện tráng xi măng như ước mong của các sư cô, và cô giáo. Đất cao nguyên này, dẫu mưa hay nắng, cái sân ấy vẫn đầy bụi và lầy lội. Đó là nơi các cháu nhỏ lớp mẫu giáo, lớp 1 chơi đùa, chạy nhảy, ngồi và té ngã trên đó.Một cái sân ciment còn chưa có, nên ước mơ có một sân chơi cho các cháu vẫn chỉ là mơ ước của mọi người trong chùa.
Đến nay trong chùa có một lớp học cho các cháu nhỏ, một phòng khám bệnh có 2 bác sĩ tự nguyện thay phiên đến giúp khám và trị bệnh cho hơn 160 con người (kể cả các tu sĩ) nhưng rất thiếu thốn về thuốc men. Hôm nay chúng tôi đến, trong đoàn có các bác sĩ của bệnh viện Thiện Hạnh ( thành phố Buôn Ma Thuột ) vào thăm và tặng 2 thùng thuốc gồm nhiều loại. Các bác sĩ đã khám các bệnh chuyên khoa như da liễu và sẽ tiếp tục cấp thuốc chủng ngừa viêm gan siêu vi. Nhưng nhu cầu về cuộc sống của các cụ già, học hành và vui chơi của các em bé vẫn còn là nỗi lo canh cánh bên lòng của sư cô trụ trì, một tu sĩ bình dị, vóc người bé nhỏ mà mang cả một tâm nguyện lớn lao vừa tu tập vừa cứu giúp cho đời, vừa mới đây đã được nhà nước phong tặng Anh Hùng Lao Động Thời Đại Mới ngày 26/4/2009.
Do đó với tình hình khó khăn chung về đời sống, lạm phát giá cả như hiện nay, thiết nghĩ phải lo ăn, lo học, lo thuốc men cho hơn 160 con người là cả một vấn đề lớn vượt quá khả năng nhà chùa bởi nguồn tài chính không ổn định. Đã không ít lần sư cô trụ trì phải đi vào tận thành phố Hồ Chí Minh xin được ít gạo cũ để cứu đói cho những người bất hạnh này trong lúc ngặt nghèo. Nói chi đến tấm bánh hay cây kẹo cho các trẻ cô nhi. Tôi không sao quên được những nụ cười trên những khuôn mặt ngây thơ và ngây ngô vì bệnh tật khi cầm những cái kẹo được người lễ chùa đem tặng cho trong ngày lễ Phật đản.
Các tín đồ Phật giáo với truyền thống nhân đạo, hành thiện với quan niệm:
“Dù xây chín bậc phù đồ.
Không bằng làm phúc cứu cho một người”
luôn tích cực đi đầu trong hoạt động xã hội từ thiện có lẽ sẽ quan tâm đến công tác từ thiện của ngôi chùa Bửu Thắng để góp phần thiết thực hổ trợ cho chùa và những người già, em bé được cưu mang ở đây.
Nhân ngày Phật đản, nhớ đến các cô nhi, và những người khốn khó, chúng tôi viết về ngôi chùa với tâm nguyện sao cho những cuộc đời bất hạnh ở đây được nhiều người biết đến và giúp đỡ để chùa có thể duy trì và phát triển Nhà Tình Thương-Cô Nhi- làm vơi bớt nỗi đau của họ.
Số ĐT của chùa: 05003573523
Số ĐT di động: 090534 8564
Đám cưới người Campuchia thường được tiến hành trong 3 ngày:
Ngày vào lều: Là ngày đầu tiên của đám cưới. Đầu tiên nhà gái phải dựng ở nhà mình một lều tân lang, bên cạnh đó là lều tiếp khách và lều bếp núc. Chú rể khi đến nhà cô dâu thì vào luôn lều tân lang.
Ngày thứ hai: Từ sáng sớm, bố mẹ và bạn bè hai gia đình đến nhà cô dâu tổ chức lễ cúng tổ tiên, cầu nguyện, phù hộ cho đôi vợ chồng trẻ. Buổi chiều tổ chức lễ cắt tóc. Sau 3 tiếng trống phù dâu và phù rể sẽ cắt tóc cho cô dâu, chú rể trong tiếng hát “Bài ca cắt tóc”, một người của đội nhạc đại diện cho cô dâu chú rể múa hát. Tổ chức nghi lễ này là để xoá tan những điều không may mắn của hai người. Cuối cùng là lễ tụng kinh. Cô dâu, chú rể quỳ trước mặt 4 nhà sư, hai tay chắp trước ngực, 4 nhà sư tụng kinh trong khoảng nửa tiếng.
Tiếp theo là tiệc cưới, ăn xong thì hát múa. Nam nữ thanh niên quây quần xung quanh cô dâu, chú rể hát múa đến tận đêm khuya, hát múa xong thì tổ chức lễ buộc dây. Cô dâu chú rể ngồi xếp vòng tròn, hai tay chắp lại trước ngực, bố mẹ hai người sẽ lần lượt buộc dây vào cổ tay hai người. Điều này tượng trưng cho mối quan hệ với hai gia đình gắn bó chặt chẽ.
Ngày thứ ba: Là ngày bái đường. Nghi lễ do một người già cả chủ trì, phần lớn được tổ chức ở chùa chiền. Khi tổ chức lễ, đội nhạc sẽ tấu lên ca khúc bái đường. Sau đó đến tiết mục song ca của cô dâu chú rể và mọi người hát tập thể. Cuối cùng người chủ trì nghi thức sẽ phân phát trầu cau cho người nhà. Mọi người rắc hoa tươi lên cô dâu, chú rể để chúc phúc.
Sau khi kết thúc nghi lễ bái đường, người hát lúc nãy sẽ hát bài ca quấn chiếu cỏ và cuốn cái chiếu cỏ lúc nãy hai người ngồi và đem bán đấu giá. Khi ấy, cô dâu, chú rể phải bỏ tiền ra mua lại và đem vào trong phòng tân hôn, chiếc chiếu này sẽ được trải trên giường của họ. Sau đó, chủ hôn sẽ giao chú rể cho cô dâu trước mặt mọi người, đám cưới cũng kết thúc tại đó.
Dưới đây là một đoạn video clip về lễ cắt tóc trong tiếng hát “Bài ca cắt tóc”. Mời các bạn thưởng thức.
Tương Tây nơi trú ngụ của người dân tộc Miêu và Thổ có một thành cổ rất nổi tiếng mang tên Thành cổ Phụng Hoàng.
Thành cổ này nằm ven phía Tây của tỉnh Hồ Nam, với tổng diện tích 1751.1km2, Nam Bắc dài 66 km, Đông Tây rộng 50 km.
Tổng nhân số là 390.000 người. Toàn huyện phân thành 9 xã 22 thôn, là nơi hội tụ của nhiều dân tộc thiểu số, trong đó chủ yếu là người dân tộc Miêu và Thổ ( chiếm hơn một nửa).
Khí hậu ôn hòa. Nhiệt độ trung bình trong năm là 15.9C, lượng mưa trung bình là 1308.1mm, cách Trương Gia Giới khoảng 200km.
Thành cổ Phụng Hoàng có lịch sử rất lâu đời. Sử sách có lưu lại rằng đời Đường nơi đây là huyện Dương.
Đời Nguyên、Minh có rất nhiều trại quân được đóng tại đây.
Đến đời Thanh được đổi tên thành “Trấn Can”. Thời kì này bắt đầu xây dựng một vài Đình ven bờ Giang Đà (một nhánh nhỏ của sông Trường Giang (Dương Tử) chảy bao quanh thành cổ ), với vật liệu chủ yếu là tre trúc chặt trong rừng, và được gọi là Đình Phụng Hoàng.
Đến năm 1797 thì các Đình được nâng cấp và xây dựng hàng loạt hai bên bờ sông tạo thành Thành nhỏ trên sông và được đổi tên thành Thành Phụng Hoàng.
Nơi đây có rất nhiều di tích lịch sử nổi tiếng như Động Kì Lương (奇梁洞), Cung Triều Dương(朝阳宫), Cung Vạn Thọ (万寿宫), Miếu Thiên Vương(天王庙), Điện Đại Thành(大成殿), Lầu Hà Xương(遐昌阁), Tháp Vạn Danh(万名塔), Thành Nam Trường(南长城), Trại Bàn Đá(石板寨), Cầu Hoàng Ti(黄丝桥古城)….tất cả đã tạo thành một bức họa tuyệt diệu, và góp phần cho Phụng Hoàng được mệnh danh là Thành cổ đẹp nhất Trung Quốc.
Nhân kiệt địa linh, phong cảnh hữu tình, là nơi kết hợp hài hòa giữa thiên nhiên, con người, phong tục tập quán…
Vào khoảng tháng 2 bạn có thể đến đây du xuân, dự những buổi lễ khấn thần Thổ Địa.
Tháng 3 có tết Thanh Minh.
Tháng 4 có lễ Tứ Nguyệt Bát “四月八节”( lễ hội lớn nhất của người dân tộc Miêu)…
Tại đây cứ 5 ngày lại họp chợ một lần, thời gian họp chợ của các thôn thường khác nhau, do đó tại Phụng Hoàng gần như ngày nào cũng có họp chợ. Người ta đến đây không chỉ đơn thuần trao đổi hàng hóa mà người Miêu cho rằng đây cũng là nơi tranh tài, tranh sắc của những cô gái trẻ. Do đó đến Thành Cổ Phụng Hoàng bạn không chỉ dùng mắt để ngắm nhìn phong cảnh mà còn phải dùng tâm linh để cảm nhận nét đẹp văn hóa nơi đây .
Vào những ngày đầu tháng năm, trên những vùng quê Nhật Bản bạn sẽ bắt gặp hình ảnh những chú cá chép màu sắc sặc sỡ đang bơi lội trên bầu trời xanh. Và nếu có dịp đi đến thăm những gia đình có bé trai, bạn sẽ được ngắm nhìn những bộ áo giáp, mũ của các samurai, hay những hình nộm samurai được trang trí trong phòng khách. Tất cả những điều này là một trong những nghi thức cầu chúc cho sự trưởng thành của những bé trai ở những gia đình người Nhật Bản.
Koinobori
Ở Nhật Bản, có tất cả 5 ngày quan trọng nhằm đánh dấu sự thay đổi của thời điểm chuyển mùa trong năm. Ngày 5 tháng 5 là một trong những ngày quan trọng đó (Tết đoan ngọ), là ngày báo hiệu cho một mùa xuân, mùa cây xanh đâm chồi nảy lộc, mùa sinh trưởng của tất cả mọi loài, đồng thời cũng là giai đoạn dễ phát sinh dịch bệnh, dễ đau ốm do chuyển tiết, chuyển mùa. Bắt nguồn từ những phong tục, nghi lễ được tiến hành trong dịp lễ tết Đoan ngọ của Trung Quốc, gia đình Nhật hoàng và giới quý tộc triều đình cũng tổ chức việc phân phát lá thuốc phòng bệnh, hay tổ chức những buổi lễ phi ngựa bắn cung nhằm phòng trừ tà ma ác quỷ.
Đến thời Kamakura (1185 -1333: bắt đầu thời kì Samurai), các tập tục này được các gia đình Samurai thay đổi bằng việc treo những lá cờ (Nobori), mũ giáp (Kabuto), hay những vũ khí chiến đấu trước cổng và hàng rào nhà mình. Còn với người dân thường thì thay thế bằng những mũ giáp và hình nộm Samurai to lớn, dũng mãnh được làm từ giấy.
Kabuto
Cho đến thời Edo, việc chính phủ Nhật quy định đây là ngày lễ quan trọng trong năm càng làm cho phong tục này lang rộng trong dân gian. Có một điều khác biệt ở đây là ở các gia đình dân thường vì không có cờ để treo như các gia đình Samurai, thay vào đó là những Koinobori (cờ cá chép) rất được yêu thích.
Cờ cá chép bắt nguồn từ chuyện kể về một loại cá chép sống ở sông Hoàng Hà (Trung Quốc) vượt dốc bơi lên thượng nguồn. Do vậy người xưa cho rằng đây là loài cá xuất thế, làm biểu tượng cầu mong cho những đứa trẻ trong nhà sau này lớn lên có thể tự thân lập nghiệp, thành công trên đường đời. Nếu bạn chú ý hơn nữa sẽ thấy cờ cá chép có ba màu sắc: đen, đỏ, xanh biểu hiện cho người cha, người mẹ và trẻ con.
Theo thuyết ngũ sắc:
* Màu đen biểu hiện cho nước vào mùa đông. Mùa đông là mùa vạn vật đều tĩnh lặng, ít hoạt động. Người cha theo quan điểm của người xưa là người phải trầm tính. Còn nước là nơi bắt nguồn của mọi sự sống.
* Màu đỏ là màu của lửa vào mùa hạ. Lửa làm cho vạn vật sinh trưởng dồi dào, cũng là biểu hiện cho trí tuệ. Mùa hạ là mùa sinh sôi nảy nở của muôn loài. Nên có thể nói là biểu trưng cho hình ảnh người mẹ.
* Màu xanh là màu biểu hiện cho cây vào mùa xuân,mùa cây cối đâm chồi nảy lộc, vươn thẳng, biểu hiện cho lớn lên của đứa trẻ.
Như vậy, ba chú cá chép biểu hiện cho sự an định và cung cấp nguồn sống, trí tuệ và nuôi dưỡng, sự trưởng thành và phồn vinh, là những yếu tố không thể thiếu được trong một gia đình đầm ấm, làm cơ sở cho sự trưởng thành hài hòa của những đứa trẻ.
Gần đây, do các gia đình sống trong thành phố, vì không có sân vườn để có thể treo cờ cá chép, nên cờ cá chép cũng được thu nhỏ lại để có thể treo ở ban công, cửa sổ trong nhà . Đồng thời, bên cạnh cờ cá chép còn có chong chóng, các sợi dây đủ màu sắc cũng được treo cùng, bay phất phơi trong gió.
Dưới đây là 1 đoan video clip với bài hát “Koinobori”. Mời các bạn thưởng thức.
Xin giới thiệu với các bạn William Arthur Ward, một nhà giáo dục lỗi lạc của nước Mỹ .
William Arthur Ward (1921-1994), tác giả của Fountains of Faith ( Suối Nguồn của Niềm Tin).
Ông là tác giả của rất nhiều danh ngôn được trích dẫn nhiều nhất Hơn 100 bài báo, bài thơ và suy tưởng của ông đã được xuất bản trong các tạp chí như Reader’s Digest, This Week , The Upper Room, Together, The Adult Teacher, The Adult Student, Science of Mind, Sunshine, vv… Mục Danh Ngôn trên báo Fort Worth Star –Telegram của ông được đề cao không chỉ Mỹ mà ở nước ngoài.
Sinh ra và lớn lên ở bang Louisiana, ông tham gia vào quân đội Mỹ năm 1942 và trải qua 4 năm quân ngũ ở Philippines . Ông tốt nghiệp Đại học Mc Murry, nhận bằng Thạc sĩ tại trường Đại học Oklahoma, và Tiến sĩ Luật danh dự ở trường này vì những đóng góp to lớn về học thuật, giáo dục, văn chương, nhân văn và xã hội của ông. Ông tham gia làm quản lý giáo dục tại Đại học Texas Wesleyan ở Fort Worth và nhiều cơ sở giáo dục khác.
Tiểu sử của ông được nêu trong Who’s Who – Giáo Dục của nước Mỹ , và Who’s Who- Quan Hệ Xã Hội.
Có thể nêu ra vài câu trong số nhiều danh ngôn nổi tiếng nhất của ông như :
1. “The pessimist complains about the wind; the optimist expects it to change; the realist adjusts the sails.”
Người bi quan phàn nàn về gió; người lạc quan mong muốn nó đổi chiều, người thực hiện điều chỉnh những cánh buồm.
2. “The more generous we are, the more joyous we become. The more cooperative we are, the more valuable we become. The more enthusiastic we are, the more productive we become. The more serving we are, the more prosperous we become.”
Chúng ta càng độ lượng, chúng ta càng vui tươi. Chúng ta càng hợp tác, chúng ta càng trở nên quý giá. Chúng ta càng hăng hái, chúng ta càng sáng tạo. Chúng ta càng phụng sự, chúng ta càng giàu có.
Và câu thứ ba là một trong những lời vàng của tôi cũng như các đồng nghiệp:
3. “The mediocre teacher tells. The good teacher explains. The superior teacher demonstrates. The great teacher inspires.”
Người thầy trung bình nói. Người thấy tốt giảng giải. Người thầy giỏi chứng minh. Người thầy tuyệt vời truyền cảm hứng.
Sau đây là bài thơ WHILE của William Arthur Ward
TRONG KHI
Hãy tin tưởng trong khi ai khác nghi ngờ.
Hãy hoạch định trong khi ai khác chơi đùa.
Hãy học hỏi trong khi ai khác đang ngủ.
Hãy quyết định trong khi ai khác trì hoãn.
Hãy chuẩn bị trong khi ai khác mơ màng.
Hãy bắt đầu trong khi ai khác do dự.
Hãy làm việc trong khi ai khác mơ ước.
Hãy tiết kiệm trong khi ai khác lãng phí.
Hãy lắng nghe trong khi ai khác đang nói.
Hãy mỉm cười trong khi ai khác cau mày.
Hãy ca ngợi trong khi ai khác chỉ trích.
Hãy kiên trì trong khi ai khác từ bỏ.
WHILE
Believe while others are doubting.
Plan while others are playing.
Study while others are sleeping.
Decide while others are delaying.
Prepare while others are daydreaming.
Begin while others are procrastinating.
Work while others are wishing.
Save while others are wasting.
Listen while others are talking.
Smile while others are frowning.
Commend while others are criticizing.
Persist while others are quitting.
Chúng ta cùng thực hiện những “Hãy” mà William Arthur Ward đã nêu trên và trước hết hãy là người lạc quan và người bắt tay thực hiện.