Thị trấn Mai Châu thuộc địa phận tỉnh Hòa Bình, cách Hà Nội 135 km theo hướng Tây Bắc, tiếp giáp với tỉnh Sơn La ở phía Tây, tỉnh Phú Thọ và Hà Tây (nay thuộc về Hà Nội) ở phía Bắc, tỉnh Hà Nam và Ninh Bình ở phiá Đông, và tỉnh Thanh Hóa ở phía Nam.
Mai Châu có khoảng 47.500 người sinh sống, chủ yếu là người đồng bào dân tộc thiểu số như Thái Trắng, H’mông, Dao, Mường, Tày, Hoa và Việt (Kinh). Người dân tộc Mai Châu rất thân thiên và nồng hậu, họ còn nổi tiếng với những mặt hàng thủ công mỹ nghệ, đặc biệt là tài thêu dệt thổ cẩm. Thị trấn Mai Châu còn ban tặng cho người dân một khung cảnh Thung lũng đẹp mê hồn, bao quanh bởi tán cây xanh rì và những ngôi nhà sàn mà cư ngụ ở đó phần lớn là người Thái Trắng. Chợ phiên ngày Chủ nhật kéo biết bao nhiêu dân bản về thị trấn, nơi người ta nấu các món ăn Thái, và chè chén trong những điệu múa cổ truyền.
Chúng tôi không chỉ được chiêm ngưỡng khung cảnh Thung lũng đẹp tuyệt vời, mà còn cảm thấy như là mình đang ở chốn thiên thai. Mai Châu chắc chắn là một trong những thung lũng đẹp nhất Việt Nam mà chúng tôi được viếng thăm. Mặc dù trong chuyến đi, chiếc máy ảnh vẫn có thể ghi lại vài bức ảnh đầy sắc xanh kỳ vĩ trên những thửa ruộng, nhưng cảnh đẹp mê hồn đến nỗi không ống kính máy ảnh nào có thể tái tạo được vẻ đẹp làm say đắm lòng người trong mắt chúng tôi. Khi thả bộ dọc theo con đường đất men cánh đồng, tất cả chúng tôi buộc phải dừng lại chiêm ngưỡng vẻ đẹp ngoạn mục quanh mình. Đoàn chúng tôi gồm 10 người bạn từ Hà Nội đều sửng sờ trước phong cảnh thiên nhiên chung quanh.
Chúng tôi đặc biệt ấn tượng bởi cuộc sống đậm đà màu sắc sinh thái của cộng đồng người thiểu số nơi đây và bởi sự lâu đời của nghề nông và chăn nuôi trâu bò của dân bản. Chúng tôi gặp một người phụ nữ mảnh mai rất đáng yêu, e dè trước ống kính, đang thảnh thơi ngồi bên bờ ruộng rộng thênh thang chờ trâu gặm cỏ về. Hướng dẫn viên địa phương dịch lại những câu hỏi của chúng tôi cho người phụ nữ ấy nghe, có câu này : “Nhỡ trâu của bác không về thì sao ạ?” Người phụ nữ ấy chỉ nhoẻn cười hồn hậu khoe cái miệng đậm màu trầu và mấy chiếc răng còn lại. “Tất nhiên là về chứ, lúc nào mà nó chả về.” Câu hỏi thứ hai của chúng tôi có vẻ đời tư hơn nhưng người phụ nữ vẫn vui vẻ trả lời, “Tôi 76 tuổi rồi,” bà thản nhiên nói.
Đoàn chúng tôi hết sức ngỡ ngàng trước nét đẹp và vẻ tươi tắn của bà ấy. Cả đoàn đều cho rằng người phụ nữ ấy chẳng giống gì một người 70 tuổi cả !
Để ngắm Việt Nam theo cách hẳn vốn có trước chiến tranh “chống Mỹ”, bạn phải đi đến những bản làng đẹp chưa bị ảnh hưởng bởi những kiểu cách tư bản”. Để thoát khỏi ô nhiễm không khí và ùn tắc giao thông ở các thành phố lớn (nhất là Hải Phòng, thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội), bạn phải lang thang trong những chốn quê, ngõ làng của Việt Nam (và có nhiều nơi như thế!) để ngắm nhìn người dân làm ruộng, chăn trâu bò, chăm đồng và tán chuyện với nhau… tất cả đều diễn ra trong khung cảnh đẹp đẽ yên bình! Chúng tôi, những công dân thành phố cảm thấy chút luyến tiếc khi đuổi theo những mục tiêu hơi hướm màu thực dụng, sống cuộc sống gấp gáp, bận rộn; trong khi những người dân tộc ở Mai Châu dường như có tất cả!
Quan Jun dịch
VIETNAMESE HEAVEN!
Mai Chau is located 135 km south-west of Hanoi in the Northern province of Hoa Binh which is bordered by Son La in the West, Phu Tho and Ha Tay in the North, Ha Nam and Ninh Binh in the East, and Thanh Hoa in the South. Mai Chau has a population of about 47,500 inhabitants that belong to different ethnic minority groups such as the White Thai, H’mong, Zao, Muong, Tay, Hoa and Viet. The Mai Chau hill tribes are warm and welcoming, and famous for their handicrafts – in particular for their skills in embroidering clothes. Mai Chau offers a most splendid vista of the Valley which is surrounded by lush greens and stilt houses inhabited mainly by the White Thai ethnic group. The Sunday market brings a lot of people into town where traditional Thai dishes are made and revel in traditional dances.
Not only did we find that the vista of the Valley splendid, we felt like we were in a ecological heaven. Mai Chau is certainly one of the most beautiful valleys I’ve visited in Vietnam. Although the camera was able to capture some of the impressive green tones in the rice fields during our trip, our eyes were captivated by scenes that just could not be replicated by the lens of a camera. As we walked along the dirt paths along the rice paddies all of us were compelled to stop in our tracks because the beauty around us was spectacular.
Our gang of 10 friends from Hanoi was equally amazed at the shear sense of raw nature all around us. We were particularly impressed by how ecologically sound the livelihoods of the ethnic communities were and by how long the community members work their fields and rear their animals. We met one woman who was tender and dear, and who shied away from our camera, who was sitting peacefully at the edge of one of the large rice fields waiting for her buffalo to return from grazing. Our local guide translated our questions to her, one of which was, “what if your buffalo doesn’t return?” The woman just laughed unassumingly, showing off her betel-stained mouth and few remaining teeth, “of course he’ll come back, he always comes back.” Our second question was more intrusive, but she was still happy to answer, “I’m 76 years old,” she said casually. Our group was astounded at her beauty and radiance. We all agreed that she did not look like a 76 year-old woman!
To see Vietnam the way it must have been before the “American” War, one must travel to the beautiful villages that are left untouched by the new “capitalist ways”. So get away from the air pollution and traffic congestion of the big cities (mainly Hai Phong, Ho Chi Minh City and Hanoi), one must wander out into the rural corners of Vietnam (and there are many!) to see people working their fields, tending to their animals, raising their fields, and chatting away with each other…all of these things carried out in beautifully peaceful environments! Us city folks felt a tinge of regret for pursuing the achievement of some-what materialist goals, living fast-paced, busy lives; while the ethnic minorities in Mai Chau seemed to have it all!
Hầu như nguời nào học guitar cũng học chơi bản The House of The Rising Sun (Căn nhà của Mặt Trời Mọc) rất sớm, bởi vì vận chuyển phong phú của các gam giản dị, giúp học trò guitar có rất nhiều hứng thú. Bản nhạc mà tất cả chúng ta quen thuộc là bản do The Animals, một ban nhạc rock của Anh biên tập và trình diễn năm 1964. Tuy nhiên bản nhạc này nguyên thủy là một bản dân ca Mỹ có nguồn gốc nhiều năm trước đó. Bản nhạc này có vài lời hơi khác nhau một tí. Nguyên thuỷ là lời của một cô gái, đã từng ở trong The House of the Rising Sun, là tên cúng cơm của nhà tù Orleans Parish Prison–nói về cuộc đời bất hạnh và sai lầm của mình, và khuyên người ta không nên đi theo đường đó. Nhà tù này ở phía đông thành phố New Orleans, bang Louisiana, Mỹ, là nơi người ta thấy mặt trời lên trước những người khác trong thành phố. Sau này ban nhạc The Animals đổi một lời tí thành lời của một cậu trai.
Orleans Parish Prison
Nguồn gốc của bản nhạc rất mơ hồ. Chẳng ai có thể nói chắc gốc gác của nó. Năm 1937, Alan Lomax, một người chuyên nghiên cứu dân ca Mỹ cho Thư Viện Quốc Hội Mỹ nghe đuợc và ghi âm lai bản này do một cô bé 16 tuổi tên là Georgia Turner, con của một người thợ mỏ, hát ở Middlesborough, tiểu bang Kentucky. Lomax đặt tên cho bản nhạc là The Risin’ Sun Blues. Bản nhac có âm hưởng nhạc vũ truyền thống của Anh và nhạc Blues của dân nô lệ da đen.
Một số người đã hát và thu băng bản này trong thập niên 30s, 40s, 50s… Đến thập niên 60s nhiều người hát bản này, kể cả Joan Baez và Bob Dylan. Joan Baez có lẽ là bản nghe âm điệu Blues hay nhất trong các bản có trên Youtube.
Đến 1964, nhóm The Animals của Anh hoc được bản này, phong phú hóa hòa âm và đổi lời nhạc–từ lời một cô gái thành lời một cậu–và biến bản nhạc thành một thành công quốc tế, vượt biên giới Đại Tây Dương, qua Mỹ và nhanh chóng chinh phục thế giới.
The House of the Rising Sun đứng thứ 122 trong số 500 Greatest Songs of All Time của tạp chí âm nhạc Rolling Stones. Bản nhạc này cũng nằm trong số “500 bản nhạc định hình Rock and Roll” của Rock and Roll Hall of Fame. Hội Thu Băng Nước Mỹ (RIAA) sắp hạng bản này thứ 240 trong danh sách Các Bản Nhạc Của Thế Kỷ. Năm 1999, The House of The Rising Sun được Grammy Hall of Fame Award. Năm 2005, một sưu tầm của Five poll xác định đây là bản nhac số 4 được yêu chuộng nhất trong lịch sử âm nhạc nước Anh.
Dưới đây ta có lời nhạc Joan Baez hát (lời cô gái) và The Animals hát (lời cậu trai). The Daklak Gang có thể dịch hai bài này ra tiếng Anh để cô Huệ và assistants xem lại.
Lyrics: Joan Baez — The House of The Rising Sun
There is a house in New Orleans
They call the Rising Sun
It has been the ruin of many a poor girl
And me, oh, God, I’m one
If I had listened to what my mother said,
I`d have been at home today,
But i was young and foulish, oh, God
Let a rambler lead me astray
Go tell my babysisters
Don’t do what i have done
To shun that house in New Orleans
They call the rising sun
And going back to new orleans
My race is almost run
I’m going back to spend my life
Beneath the rising sun
.
Lyrics: The Animals — The House of the Rising Sun
There is a house in New Orleans
They call the Rising Sun
And it’s been the ruin of many a poor boy
And God I know I’m one
My mother was a tailor
She sewed my new bluejeans
My father was a gamblin’ man
Down in New Orleans
Now the only thing a gambler needs
Is a suitcase and trunk
And the only time he’s satisfied
Is when he’s on a drunk
—— organ solo ——
Oh mother tell your children
Not to do what I have done
Spend your lives in sin and misery
In the House of the Rising Sun
Well, I got one foot on the platform
The other foot on the train
I’m goin’ back to New Orleans
To wear that ball and chain
Well, there is a house in New Orleans
They call the Rising Sun
And it’s been the ruin of many a poor boy
And God I know I’m one
.
Sau đây mời các bạn thưởng thức vài videos.
Video và bài hát do Leadbelly hát, với lời của một cô gái. Leadbelly là một ca sĩ dân ca da đen, qua đời năm 1949, vậy bản nhạc này phải được ghi âm trước đó.
Video thứ 2 là Joan Baez hát, với lời một cô gái, 1960. Đây là bản với ảnh hưởng Blues (da đen) hay nhất.
Video thứ 3 là Bob Dylan hát, với lời một cô gái, 1962 trong album đầu tiên của Bob Dylan.
Video thứ 4 là bản của The Animals, 1964, bản nhạc đa số người trên thế giới biết, vời lời đổi thành lời một cậu trai.
Video thứ 5 là bản Frijid Pink chơi năm 1971, với psychidelic rock style (rock say, của thời thập niên 70s).
Video thứ 6 là Muse, một ban nhạc rock đương đại của Anh, thành lập năm 1994. Bản The House of the Rising Sun này có lẽ cũng mới đây.
.
1. Leadbelly–The House of the Rising Sun (trước 1949)
.
2. Joan Baez – The House of the Rising Sun (1960)
.
3. Bob Dylan – The House of the Rising Sun, 1962.
.
4. The Animals – The House of the Rising Sun (1964)
.
5. Frijid Pink – The House of the Rising Sun (1971)
.
6. Muse – The House of the Rising Sun (Glastonbury Festival in England in June 26th, 2010)
Có lẽ bất kỳ người nào trong chúng ta cũng đã nghe nhạc của The Ventures, dù người nghe có biết đến The Ventures hay không. The Ventures chỉ chơi nhạc dụng cụ (instrumental music) và không có giọng ca. Thành lập năm 1958 ở Takoma, tiểu bang Washingon, Mỹ, The Ventures trở thành ban nhạc dụng cụ số 1 trong thập niên 60s, với những cách sử dụng guitar thật là mới lạ và những bản nhạc vừa hay cả giai điệu lẫn nhịp điệu. Cho đến ngày nay, The Ventures vẫn là ban nhạc dụng cụ với số đĩa bán nhiều nhất trong lịch sử âm nhạc. Lối chơi của The Ventures ảnh hưởng đến bao thế hệ nhạc sĩ sau này, ai cũng xem The Ventures là thần tượng nhạc dụng cụ. Vì vậy mà The Venture được biết đến như là “Ban nhạc đã sinh ra ngàn ban nhạc.’ Continue reading The Ventures — Ban nhạc sinh ra ngàn ban nhạc→
Hôm thứ bảy cuối tuần các bạn nghe nhiều nhạc pop với nữ ca sĩ Anne Murray và bài hát mang âm hưởng dân ca rất ấm áp như ánh mặt trời. Hôm nay mời các bạn lắng nghe tiếng sáo khi lảnh lót, khi réo rắt, du dương, nhưng âm điệu có thể thanh thoát, và vui tươi và cũng có thể gợi cảm giác xa vắng, man mác như tiếng sáo trúc. Nói như người nghệ sĩ bậc thầy này : Bạn có thể cười hoặc khóc với tiếng sao Pan Flute, vì nó sâu lắng chạm vào tiếng lòng của bạn.
Những fan hâm mộ của Georghe Zamfir nói rằng người nghệ sĩ Romania được mệnh danh là Vua của Sáo Pan Flute. Sáo Pan flute hay panpipes hoặc Syrinx. Là cây sáo mà các bạn nhìn thấy trên tay của Zamfir, còn được gọi là Sáo Thần Păng, trông giống cây khèn của người Việt Nam chúng ta. Sáo này gồm nhiều ống nhỏ ghép lại. Sáo Pan Flute mà Zamfir xử dụng là kiểu truyền thống của Rumania có cải biên, nhiều hơn 20 ống, có thể lên 22, 25, 28 và 30 ống để tăng quảng âm và đạt được 9 tông. Tiếng sáo của ông thường thích hợp với tôn chỉ của dòng nhạc New Age: Thanh bình, thư giãn, và cảm xúc vui, du dương như tiếng chim hót.
Người nghệ sĩ số 1 của thế giới về sáo Pan Flute này sinh ngày 6-4-1941 tại
Găeşti, Romania. Mặc dù tâm nguyện ban đầu của Zamfir là trở thành nghệ sĩ chơi đàn accordeon, năm 14 tuổi ông bắt đầu học sáo Pan Flute. Ông đã theo học ở Học Viện Âm Nhạc Quốc Gia Bucharest năm 27 tuổi.
Ông bắt đầu được công chúng biết đến nhờ phát hiện của nhà nghiên cứu âm nhạc dân tộc Thụy Sĩ Marcel Cellier với công trình nghiên cứu sâu về âm nhạc Rumani vào thập niên 60. Chính Zamfir đã làm được điều kỳ diệu là vinh danh cây sáo cổ truyền của quê hương ông với khắp thế giới, đặc biệt tại Mỹ, rất được mến mộ trên kênh CNN vào thập niên 80.
Zamfir đã nhận được danh hiệu cho 120 đĩa bạch kim và vàng, phát hành trên 200 album bán được trên 40 triệu băng đĩa ghi âm. Ngoài những bản nhạc pop đương đại, và một số tác phẩm hòa tấu, nhạc của ông còn được nghe trong nhiều soundtracks của nhiều film của Hollywood của Billy Joel’s như “Just the Way You Are” hay “The Karate Kid” và “Picnic at Hanging Rock,” Childhood Memories cho bộ phim Once Upon A Time In America. Đặc biệt là bài “The Lonely Shepherd” do James Last sáng tác được ông biểu diễn rất thành công trong phim Kill Bill Vol 1
Sau đây mới các bạn thưởng thức những bản nhạc sau đây
Massenet Serenad, The Lonely Shepherd, I Just Called To Say I Love You Can You Feel the Love Tonight, My Heart Will Go On, Chiquitita ( Abba)
1. Massenet Serenad
2. The Lonely Shepherd ( nhạc phim Kill Bill)
3. I Just Called To Say I Love You
4/ Can You Feel The Love Tonight
5. My Heart Will Go On
6. Chiquitita ( Abba)
Thân ái chúc các bạn một ngày mới tươi vui bắt đầu một tuần làm việc hiệu quả
“Tôi thường nghĩ rằng có lẽ lý do tôi trở thành ca sĩ thành đạt là vì khi còn bé, tôi chẳng bao giờ làm được điều gì bằng được các anh em trai của tôi. Tôi đã muốn làm một việc gì đó giỏi hơn các anh em tôi”. Đó là bí quyết thành công của Anne Murray.
Từ lúc 7 tuổi, Anne hát suốt ngày. Hơn 40 năm ca hát, giọng hát độc đáo và phong cách trình diễn ấm áp đầy cảm xúc của Anne đã làm cho tên tuổi cô trở thành quen thuộc với những người yêu nhạc pop. Anne đã mở đường cho một thế hệ những diva người Canada những người đã chinh phục thế giới âm nhạc: Celine Dion, Shania Twain, Alanis Morissette và Sarah McLachian. Những điva ấy đều theo bước Anne Murray, con chim hay hót của đất nước Canada.
Liên tục nhiều năm trong cuộc đời ca hát của mình, những bài hát của Anne Murray hầu như chẳng mấy khi không lọt vào bảng xếp hạng top. Anne đã bán được hơn 54 triệu album và đoạt được rất nhiều giải thưởng, trong đó có13 giải Juno Awards, 3 giải American Music Awards, và 4 giải Grammy Awards
Tuy vậy, Anne Murray hạnh phúc được xem là một hình ảnh biểu trưng cho âm nhạc từ đất nước Canada của mình hơn. Giọng hát trầm, ấm áp và những bài tình ca đẹp của Anne đã đan xen thành chất liệu cuộc sống và hòa quyện vào tâm hồn của chúng ta. Những bài hát của Anne ghi dấu những sự kiện trọng đại trong một đời người: tuổi thơ, tình yêu đầu đời, ngày cưới, tình yêu của cha mẹ, hạnh phúc, và cả mất mát. Những ca khúc ấy an ủi vỗ về ta, truyền cảm hứng cho ta, đem lại niềm vui và nâng đỡ ta, sẽ luôn sống mãi trong lòng bao người yêu nhạc, yêu Anne Murray trên khắp thế giới.
Morna Anne Murray sinh ngày 20/6/ 1945 tại thành phố mỏ than bé nhỏ Springhil, Nova Scotia, Canada, trong một gia đình gồm 6 anh em với người cha là bác sĩ và mẹ là y tá chuyên tâm lo lắng cho gia đình. Anne học được ý chí quyết tâm và tính cần cù của cha mẹ và từ tuổi thơ với 5 anh em trai. Khi nhớ về thời thơ ấu của mình, Anne chỉ nhớ một điều: ca hát; bố hát trong khi đang cạo râu, mẹ hát vang khắp nhà khi nấu ăn,hay dọn dẹp, và các anh em trai cùng hát với nhau.
Anne rất yêu âm nhạc. Đó chính là thời của nhạc rock ‘n’ roll. Tuy vậy, Anne có niềm say mê âm nhạc khá đa dạng: nhạc cổ điển, nhạc đồng quê, nhạc gospel, dân ca, và những bản tình ca êm dịu như Pattie Page, Bing Crosby và Rosemary Clooney. Anne yêu thích tất cả.
Anne học đàn piano 6 năm. Năm 15 tuổi bắt đầu học các bài luyện giọng cổ điển.
Sau khi học xong trung học, Anne trải qua 1 năm ở Đại học Mount Saint Vincent, sau đó ở đại học New Brunswick. Niềm say mê âm nhạc vẫn tràn đầy trong Anne. Theo lời bạn thuyết phục, Anne đi thi trong một cuộc thi hát Singalong Jubilee, một chương trình truyền hình CBC rất nổi tiếng. Tuy gây được ấn tượng rất tốt, Anne chưa được mời vì đã có đủ ca sĩ giọng trầm. Hai năm sau cô nhận được một cú điện thoại từ giám đốc sản xuất Bill Langstroth. Cô miễn cưỡng tham dự Singalong Jubilee lần thứ hai vào năm 1966. Lần này cô được mời với mức thù lao của ca sĩ là 71, 5 đô la cho một show, hay 99 đô nếu hát solo.
Murray biểu diễn chính ở thể loại nhạc Pop, Đồng quê, và Thanh nhạc.
Murray là nữ ca sĩ Canada đầu tiên được xếp thứ 1 trên bảng xếp hạng của Mỹ, và là người đầu tiên đoạt kỷ lục vàng cho bài hát mang tên tuổi là Snowbird (1970). Anne cũng là người phụ nữ đầu tiên và người Canada đầu tiên đạt được giải Album của Năm. Bà tiếp tục vươn cao với nhiều Album của Năm trong khoảng thời gian từ 1974 – 1993. Tổng cộng Anne vinh dự có cả chục Album của Năm.
Murray hiện tại đã thôi hát và sống ở Toronto, nhưng hầu hết các mùa hè đều ở Nova Scotia. Vào ngày 11/5/ 2007, Murray được tạp chí Golf cho Phụ Nữ đặt tên là tay gôn nữ số 1 trong thế giới của những người nổi tiếng (MURRAY NAMED TOP FEMALE CELEBRITY GOLFER). Murray đã đánh bại Tea Leoni, Celine Dion và người mẫu nước Anh Jodie Kidd để có được vị trí số 1 này. Bà cũng là một nhân vật có nhiều hoạt động từ thiện từ các giải đấu golf để quyên góp tiền hổ trợ công tác nghiên cứu ung thư kết tràng, điển hình như giải đấu ở Uxbrighe, Ontario ngày 20/ 5/ 2009 quyên được 150.000 đô la cho hoạt động nói trên.
Trong đời mình, thành công và vinh quang đến với Murray trong cuộc đời nghệ sĩ, nhưng trong cuộc sống gia đình bà rất dũng cảm vượt qua nhiều khó khăn. Tuy kết hôn với Bill Langstroth năm 1975 và có 2 con trai thành đạt (Dawn Langstroth theo nghiệp mẹ là ca-nhạc sĩ đã vài lần biểu diễn chung với mẹ), bà và Bill sau đó đã li dị. Bà cũng chịu đựng nỗi đau mất mát những người thân yêu ra đi vì căn bệnh ung thư (những người cộng tác trong lĩnh vực âm nhạc, và bạn thân nhất của bà) . Cháu nội của bà mắc chứng bệnh chán ăn (anorexia) .
Dự kiến vào tháng 10/ 2009, Anne Murray sẽ cho phát hành cuốn tự truyện ALL Of Me qua đó người nữ nghệ sĩ lớn của Canada và nhạc pop quốc tế sẽ trải lòng tâm sự về 40 năm ca hát và cuộc đời mình.
Sau đây mời các bạn nghe 7 bài hát của Anne Murray qua những thời kỳ khác nhau.
Mở đầu là bài
1/ You Are My Sunshine, giai điệu rộn ràng vui tươi, giản dị như dân ca với ca từ thật ý nghĩa và dễ thương. Murray mời gọi chúng ta hãy để cho mặt trời đi vào, vào nhà của chúng ta, tâm hồn lạc quan. Hãy cười với ánh nắng và mở rộng lòng mình đón ánh dương ….
Không nói ra các bạn cũng biết vì sao mình đặt nó lên vị trí số 1 trong list nhạc hôm nay? Đây là một trong những bài hát ưa thích của mình. Xin tặng bài hát này cho tất cả các bạn yêu Nhạc Xanh, các em KY, TD, và đặc biệt Leo (đã tìm thấy sunshine mỗi ngày trong đời vì đã mở cửa và mở lòng). Mong sao chúng ta ai cũng có mặt trời trong lòng, luôn giữ cho mình ấm áp bất kể trong thời tiết nào: một sáng hiu hắt không có mặt trời, hay một chiều mưa giông tới….
Thân chúc các bạn một ngày mới tươi hồng với nắng đẹp và nhiều nụ cười, những ngày cuối tuần thật vui tươi.
2/ YOU NEEDED ME
3/ COULD I HAVE THIS DANCE ?
4/ I JUST FALL IN LOVE AGAIN
5/ JUST ANOTHER WOMAN IN LOVE
6. WHEN I FALL IN LOVE – ANNE MURRAY-CÉLINE DION
7. SOMEBODY’S ALWAYS SAYING GOODBYE
1/ YOU ARE MY SUNSHINE
The other night dear
As I lay sleeping
I dreamed I held you in my arms
When I awoke, dear
I was mistaken
So I hung my head and I cried.
You are my sunshine
My only sunshine
You make me happy
When skies are gray
You’ll never know dear
How much I love you
Please don’t take my sunshine away
(Chorus)
So let the sunshine in
Face it with a grin
Smilers never lose
And Frowners never win
So let the sunshine in
Face it with a grin
Open up your heart and let the sunshine in
My mommy told me something
That little girls should know
It’s all about the devil
And I’ve learned to hate him so
I know he’ll be unhappy
Cause I’ll never wear a frown
Maybe if we keep on smiling
He’ll get tired of hangin’ round
2/ YOU NEEDED ME
I cried a tear
You wiped it dry
I was confused
You cleared my mind
I sold my soul
You bought it back for me
And held me up and gave me dignity
Somehow you needed me.
Chorus
You gave me strength
To stand alone again
To face the world
Out on my own again
You put me high upon a pedestal
So high that I could almost see eternity
You needed me
You needed me
And I can’t believe it’s you I can’t believe it’s true
I needed you and you were there
And I’ll never leave, why should I leave
I’d be a fool
‘Cause I’ve finally found someone who really cares
You held my hand
When it was cold
When I was lost
You took me home
You gave me hope
When I was at the end
And turned my lies
Back into truth again
You even called me friend
Repeat Chorus
You needed me
You needed me
3/ COULD I HAVE THIS DANCE ?
I’ll always remember the song they were playing,
The first time we danced and I knew.
As we swayed to the music and held to each other,
I fell in love with you.
Could I have this dance for the rest of my life?
Would you be my partner, then every night?
When we’re together it feels so right,
Could I have this dance for the rest of my life?
I’ll always remember that magic moment,
When I held you close to me.
As we moved together, I knew, forever,
You’re all I’ll ever need.
Could I have this dance for the rest of my life?
Would you be my partner every night?
When we’re together it feels so right,
Could I have this dance for the rest of my life?
Could I have this dance for the rest of my life?
Would you be my partner every night?
When we’re together it feels so right,
Could I have this dance for the rest of my life?
4/ I JUST FALL IN LOVE AGAIN
Dreaming, I must be dreaming
or am I really lying here with you?
Baby, you take me in your arms
And though I’m wide awake
I know my dream is coming true
And Oh I just fall in love again
just one touch and then it happens every time
There I go I just fall in love again
and when I do, I can’t help myself
I fall in love with you
Magic, it must be magic
The way I hold you when the night just seems to fly
Easy for you to take me to a star
Heaven is that moment when I look into your eyes.
And Oh I just fall in love again
just one touch and then it happens every time
There I go I just fall in love again
and when I do, I can’t help myself
I fall in love with you
Can’t help myself
I fall in love with you
5/ JUST ANOTHER WOMAN IN LOVE
I’m strong, I’m sure, I’m in control, a lady with a plan
Believing that life is a neat little package I hold in my hand
I’ve got it together, they call me “the girl who knows just what to say and do”
Still I fumble and fall, run into the wall, ’cause when it comes to you, I’m
CHORUS
Just another woman in love, a kid out of school
A fire out of control, just another fool
You touch me and I’m weak, I’m a feather in the wind
And I can’t wait to feel you touching me again
With you I’m just another woman, just another woman in love
So pardon me if I should stare and tremble like a child
That “wanting you” look all over your face is driving me wild
I’m just what you make me, can’t wait ’till you take me and set all my feelin’s free
I know that you can, so come be my man, tonight I wanna be
6. WHEN I FALL IN LOVE – ANNE MURRAY-CÉLINE DION
When I fall in love
It will be forever
Or I’ll never fall in love
In a restless world
Like this is
Love is ended before it’s begun
And too many
Moonlight kisses
Seem to cool in the warmth of the sun
When I give my heart
I give it completely
Or I’ll never give my heart
And the moment I can feel that you feel that way too
Is when I fall in love with you
7. SOMEBODY’S ALWAYS SAYING GOODBYE
Railroad station, midnight trains
Lonely airports in the rain
And somebody stands there
With tears in their eyes
It’s the same old scene, time after time
That’s the trouble with all mankind
Somebody’s always saying goodbye
Taxi cabs leave in the night
Greyhound buses with red tail lights
Someone’s leaving and someone’s left behind
Well, I don’t know how things got that way
But every place you look these days
Somebody’s always saying goodbye
Take two people like me and you
We could have made it, we just quit too soon
Oh, the two of us, we could have had it all
If we’d only tried
But that’s the way love is, it seems
Just when you’ve got a real good thing
Somebody’s always saying goodbye
Somebody’s always saying goodbye
Kỹ thuật ấn loát là một trong 4 phát minh vào thời cổ đại của người Trung Quốc, có ảnh hưởng lớn đến Trung quốc và cả thế giới. Ba phát minh kia là kim chỉ nam, thuốc súng, và làm giấy.
Kỹ thuật ấn loát có nguồn gốc từ triều Tùy (tức CN 581-618) do Tất Thăng phát minh ra, sau đó được người Mông Cổ truyền sang Châu Âu, về sau người đời gọi Tất Thăng là thủy tổ của nghành in. Bảo tàng viện ấn loát ở Trung Quốc
Trước khi phát minh ra kỹ thuật ấn loát, văn hóa nghệ thuật thường thông qua sao chép bằng tay để lưu truyền lại. Chép bằng tay vừa tốn thời gian, tốn sức lại hay nhầm hay thiếu sót, từ đó có ảnh hưởng và hạn chế rất nhiều đến sự phát triển của nền văn hóa. Ấn chương (tức con dấu) và kỹ thuật khắc đá đã đem lại những kinh nghiệm và chỉ thị trực tiếp cho kỹ thuật ấn loát, ví dụ như dùng phương pháp đặt giấy lên bia đá để rập mực là một trong những gợi ý cho sự hình thành của ấn loát điêu bản.
Ấn chương có từ thời nhà Tần, thường chỉ có vài chữ biểu thị tên họ, quan chức, cơ cấu. Ấn văn đều khắc dưới dạng phản thể, phân biệt thành âm văn và dương văn. Trước khi chưa có sự xuất hiện của giấy thì các công văn và thư tín đều được viết trên giản thẻ (được làm bằng trúc), sau đó dùng thằng buộc chặt, tại nút buộc có quyét một lớp nê dính (tức một loại bùn dính), sau đó dùng ấn chương đóng trên lớp bùn và gọi là “nê phong” (cách chế tạo nê phong thời đó được coi là một trong những bảo mật của triều đình). Sự ra đời của giấy đã làm cho “nê phong” được thay thế bằng “chí phong”.
Kỹ thuật khắc đá là do Ấn chương mở rộng thành, hiện nay 10 tảng thạch cổ của thời Tần được coi là 10 tảng đá được khắc sớm nhất, về sau có nhiều người khắc toàn bộ các chữ của một quyển sách lên khối đá lớn để làm giáo trình cho người học.
Kỹ thuật ấn loát của Trung Quốc đã trải qua hai giai đoạn là ấn loát điêu bản và ấn loát hoạt tự, đem lại sự tiện ích cho cuộc sống của người dân và được coi là một cống hiến lớn cho sự phát triển của loài người.
Loại bản liệu mà ấn loát Điêu bản thường dùng là gỗ cây Táo hoặc Lê, phương pháp điêu bản là đầu tiên dùng chữ viết trên tờ giấy mỏng và trong suốt, dùng mặt giấy có chữ úp lên thân gỗ, rồi dùng dao khắc gỗ theo hình chữ, dùng mực bôi lên miếng gỗ vừa khắc, dùng giấy úp lên mặt gỗ được bôi mực, dùng loát (một loại chổi dùng trong in ấn) nhẹ nhàng quét, sau đó gỡ ra sẽ được mặt chữ in trên giấy. Sự ra đời của ấn loát Điêu bản đem lại tiện lợi nhiều hơn hẳn so với việc sao chép bằng tay, mỗi lần có thể in vài trăm bộ, đến vài nghìn bộ nhưng như vậy vẫn rất tốn công tốn sức do loại điêu bản này có khuyết điểm là mỗi lần in một quyển sách sẽ cần một lượng lớn các bản khắc. Hoạt tự
Do đó vào thời Tống (cách đây khoảng 900 năm) tại Hồ Bắc phát minh gia Tất Thăng (một người bình dân sống và làm việc tại một xưởng điêu bản) thông qua nhiều lần thực tiễn đã phát minh ra loại kỹ thuật ấn loát hoạt tự, ông dùng chữ khắc lên bùn (loại bùn dùng để đóng gạch), mỗi chữ một miếng, đem nung cho khô. Sau đó chuẩn bị một khay sắt, trên khay sắt đó có rắc hương tùng, sáp nến, tro giấy…, 4 cạnh của khay sắt được nẹp bởi một khung sắt, trong khay sắt đó xếp cho kín chữ đã đước khắc, đem nung trên lửa, dùng một tấm kim loại bằng phẳng để nèn các chữ trong khay xuống. Bản in hoạt tự
Để nâng cao năng suất thường chuẩn bị hai khay sắt, để khay này in hết đã có khay khác để in. Không chỉ vậy mỗi một chữ đều được chuẩn bị mấy hoạt tự, những chữ hay dùng sẽ khắc nhiều hoạt tự hơn. Sau khi in xong đem gỡ các hoạt tự ra để lần sau dùng. Loại ấn loát hoạt tự này đã khắc phục được nững điểm yếu của ấn loát Điêu bản, vừa thuận tiện, vừa kinh tế lại tiết kiệm được thời gian…vì vậy đây được coi là quá trình đại cải cách trong lịch sử ấn loát của Trung Quốc. Hiện nay nguyên lý cơ bản của loại bản in diên tự (kim loại chì) đang được thịnh hành trên toàn thế giới đều giống với nguyên lý phát minh của Tất Thắng. Bản in cổ nhất có ghi ngày, còn sót lại--Kinh Kim Cang (11 tháng 5, 868 sau công nguyên) Bản Kinh Kim Cang (nhìn gần)
Đầu tiên kỹ thuật ấn loát hoạt tự được truyền đến Triều Tiên, Nhật Bản, sau đó thông qua người Mông Cổ truyền sang các nước phương tây. Sự ra đời của kỹ thuật ấn loát đã đẩy mạnh tốc độ giao lưu, phát triển văn hóa giữa các nước trên thế giới, do đó có thể coi kỹ thuất ấn loát hoạt tự là một cống hiến lớn của Trung Quốc đối với toàn thế giới.
Chào các bạn,
Bhutan, Miền Đất của Rồng Sấm Sét (Land of Thunder Dragon), là một quốc gia Phật giáo nhỏ bé ở đầu đông dãy Hy-mã-lạp-sơn, giữa Trung Quốc và Ấn Độ.
Bhutan là quốc gia duy nhất trên thế giới có chỉ số Tổng Hạnh Phúc Quốc Gia (Gross National Happiness) là chỉ số kinh tế chính thức. Các quốc gia khác trên thế giới chỉ biết kinh ngạc và thán phục, nhưng không ai dám noi theo, có lẽ vì mọi người thừa biết rằng cách cạnh tranh kinh tế ngày nay, đưa đến những thống kê kinh tế hấp dẫn, làm cho người ta giàu có thêm vật chất nhưng lại giảm hạnh phúc rất nhiều.
Thế giới hầu như bế tắc trên đường tìm kiếm hạnh phúc, trong khi Bhutan can đảm mang “hạnh phúc” vào chính sách kinh tế chính trị quốc gia. Đây không phải là vấn đề dễ làm đối với lãnh đạo ngày nay.
Nhưng, phải chăng đó là chân lý? Tất cả sinh hoạt xã hội chính trị kinh tế của một quốc gia chỉ nhằm mục đính tạo hạnh phúc cho nhân dân. Nhưng, lãnh đạo khắp nơi trên thế giới nói năng bất tận đủ điều, ngọai trừ đích điểm tối hậu–hạnh phúc–thì không ai dám nhắc tới!! Đó là chưa kể, nhiều chính phủ trên thế giới còn làm cho dân khổ sở hơn.
Phải chăng chân lý chính trị của thế giới ngày nay nằm trong một quốc gia nhỏ bé, nhưng rất thành thật với chân lý?
Trong khi dùng kỹ thuật tối tân về computer, viễn thông và Internet để phát triển quốc gia, Bhutan vẫn duy trì và phát triển văn hóa truyền thống của dân tộc, và bảo vệ mội trường, không cho phát triển kinh tế phá họai môi trường như tất cả mọi nơi khác trên thế giới.
Năm 2006, Newsweek thông báo Bhutan là quốc gia hạnh phúc số 1 ở Á Châu và thứ 6 trên thế giới, dựa theo một nghiên cứu của University of Leicester năm 2006 gọi là Bản Đồ Hạnh Phúc Thế Giới (World Map of Happiness).
Sau đây chúng ta hãy cùng xem một vài video nhạc của Bhutan để thấy quốc gia này hiền hòa đến mức nào.
.
Dòng S’repôk, một trong những dòng sông lớn nhất của Tây Nguyên, với chiều dài hơn ba trăm cây số, tạo ra cho nơi đây những thác nước hùng vĩ như là Dray Sap, thác Krong K’mar, thác Gia Long, Dray Nur, thác Trinh Nữ. Những dòng thác này chảy từ hai nhánh nhỏ là sông Krông Nô (Sông Chồng) và Krông Ana (Sông Vợ), luôn là những điểm đến được đánh giá cao dành cho du khách.
Nằm cách trung tâm thành phố Buôn Ma Thuột 25 km về hướng Nam, Dray Nur là thác nước hùng vĩ nhất ở Tây Nguyên. Sự kết hợp của 2 dòng Krong Ana và Krong Nô hòa quyện với nhau tạo nên dòng sông S’repok huyền thoại. Thác Dray Nur có chiều rộng hơn 250m và độ cao 30m, nối liền hai bờ tỉnh Daklak và Daknong. Trong khi thác Dray Sap được vẻ đẹp tự nhiên ưu đãi thì thác Dray Nur lại cuốn hút du khách bởi nét kỳ bí, hùng vĩ và hoang sơ của mình.
Đa phần các thác nước ở Tây Nguyên đều gắn liền với những câu chuyện tình buồn đầy ngang trái của các đôi trai tài gái sắc. Theo tiếng bản địa Êđê, Dray có nghĩa là thác nước còn Nur nghĩa là con dũi.
Truyền thuyết kể rằng ngày xưa có một chàng hoàng tử tên là Nur, con trai của thần biển, thường hay rời bỏ chốn thuỷ cung của cha mình, lang thang trong rừng ngắm cảnh. Một ngày nọ, chàng gặp hai người con gái hết sức xinh đẹp. Đấy là hai cô con gái của vị tù trưởng trong vùng, đã bị giết trong cuộc chiến với bộ tộc khác. Giờ chẳng còn bà con thân thích, hai nàng đành phải sống nương náu trong rừng.
Mặc dù được hoàng tử đem lòng yêu mến, nhưng hai cô gái vẫn luôn lảng tránh, nghĩ là mình không xứng đáng với hoàng tử. Chàng liền dùng phép thuật biến ra một ngôi nhà với bao nhiêu của cải. Động lòng trước nghĩa cử của hoàng tử, hai cô gái ưng thuận lấy chàng.
Chẳng lâu sau, hoàng tử bỏ lại hai người vợ để về nhà thăm cha mình. Biết con trai mình đã kết hôn với những sinh vật trên cạn, vị vua liền cấm hoàng tử không được trở lại đất liền. Tuy nhiên, chàng trai vẫn quay trở về với hai người vợ yêu dấu của mình mà cha không hay biết gì.
Bỗng một ngày, vì lại nhớ cha, hoàng tử tìm mọi cách để về nhà nhưng hai người vợ chẳng muốn chàng đi và theo chàng đến bất cứ nơi đâu. Chẳng còn cách nào khác, chàng liền biến thành con dũi và lặn sâu xuống lòng thác nằm ngay chốn thủy cung của cha mình. Mặc cho hai người vợ ngóng chờ mỏi mòn bên dòng thác, nhưng chàng trai chẳng bao giờ trở về nữa. Và từ đấy dòng thác được đặt tên là Dray Nur để tưởng nhớ câu chuyện tình buồn này.
Dòng nước chảy xiết và những tảng đá khối dưới ngọn thác Dray Nur hùng vĩ tạo nên những vách hang mà du khách có thể ngâm mình dưới dòng nước mát lạnh. Tuy nhiên, hầu hết du khách đến thác Dray Nur thích quay phim chụp ảnh để lưu giữ lại vẻ cuốn hút của thác nước này hơn.
Ngày nay, càng ngày càng có nhiều du khách trong và ngoài nước tìm đến Tây Nguyên để chiêm ngưỡng vẻ kỳ vĩ của dòng Dray Nur. Chẳng phải quá lời khi nhiều du khách ví Dray Nur là Niagara của Việt Nam. Chính vì lẽ đấy mà không ít “dân phượt” đã và đang cố gắng hết sức mình để quảng bá cung đường lên Tây Nguyên, cả thác nước Dray Nur, trên cộng đồng mạng, đặc biệt là Facebook và Youtube. Tất cả chỉ để Việt Nam trở thành một điểm đến hấp dẫn, không chỉ với cánh đồng lúa bao la, người dân hiều khách, dải núi xanh cao vút mà còn những thác nước hùng vĩ nữa.
.
THE MAGNIFIENCE OF DRAY NUR
S’repok River, one of the biggest rivers in the Central Highlands at a length of more than 300 kilometers, creates many impressing waterfalls such as Dray Sap, Krong K’mar, Gia Long, Dray Nur, Virgin… These waterfalls, which flow from the confluence of Krong No (Husband River) and Krong Ana (Wife River) rivers, are highly recommended destinations for tourists.
Located about 25 km from the center of Buon Ma Thuot’s downtown in the South, Dray Nur is the most magnificent waterfall in the Central Highlands. It is a combination of 2 rivers named Krong Ana and Krong No, which mix each other creating the legendary S’repok river. Dray Nur waterfall has over 250 meters of length and 30 meters of height, linking two banks of Daklak and Daknong provinces.While Dray Sap is endowed with natural beauty, Dray Nur lures tourists with its mystery, impressiveness and wildness.
Most of the waterfalls in the central highlands are attached to sad tales of thwarted love between beautiful girls and talented boys. In the Ede language, Dray means waterfall and Nur means bamboo rat.
Legend has it that long ago a prince called Nur, son of the sea king, often left his father’s underwater palace to wander in the forests and enjoyed the view. One day he came across two beautiful girls. They were daughters of a chieftain in the region, who had been killed in a battle against another tribe. Now without relatives and care, the two girls had to search for food in the forest to get by.
Despite the prince’s sincere love for the girls, they tried to avoid him, considering themselves not worthy of him.He then used his spells to stock their house with properties. Admiring his good deeds, the girls agreed to marry him.
Soon afterwards, the prince left his two wives to come home in order to see his father. Being aware that his son had married terrestrial beings, the king forbade him from returning to land. Nevertheless, he managed to come back to his beloved wives without his father knowing.
Then one day, since the prince again missed his father, he tried to come back home but his two wives did not want him to leave; they followed him whenever he went. Without no choice else, the prince turned into a golden bamboo-rat and dived into the waterfall, where his father’s palace was situated. His wives were left waiting in despair by the falls but he would not ever come back. The waterfall was then named Dray Nur to immortalize the sorrowful tale.
The flows of the water and the systems of rocks under the spectacular Dray Nur create caves where tourists can soak themselves in the jets of cool water. However, most of the tourists when reaching to the Dray Nur like to take photos and make films to capture its fascinating beauty.
Nowadays, more and more tourists, domestic and abroad, are traveling up to the Central Highlands to gaze at the magnificence of Dray Nur. It’s not exaggerated for many of them to call it Vietnam’s Niagara. That’s also why not a few of Vietnamese “DIY adventurers” have been trying their best to promote the stretch of road up to the Central Highlands including Dray Nur falls on the networking communities, especially Facebook and Youtube. All is to make Vietnam an appealing destination, not only for immense paddy fields, hospitable people, lofty green mountain ranges but for impressive waterfalls as well.
Trong một lần giúp anh Ái tìm tác giả của bài thơ “Vô Đề” mình đã vô tình đọc được bài thơ “Tương kiến thời nan biệt diệc nan” của Lý Thượng Ẩn, mặc dù bài thơ này không đúng với bài thơ mà anh Ái cần tìm nhưng mình vẫn check rất nhiều tài liệu về bài thơ, và hôm nay mình xin được phép gửi đến các bạn và các anh chị trong ĐCN phần dịch phân tích về bài thơ này nhé, chúc mọi người một ngày tươi sáng
Lý Thượng Ẩn là một nhà thơ vào thời cuối của nhà Đường, đương thời ông cùng Đỗ Mục ngang danh. Nhưng, nếu xét về mặt ảnh hưởng đến đời sau thì ông lại vượt trội hơn hẳn Đỗ Mục. Cống hiến lớn nhất của ông trong lịch sử thơ ca, là làm phong phú thêm nghệ thuật thơ trữ tình. Trong thơ của mình, ông thường dùng những từ ngữ thanh tao để cấu tạo nên hình tượng tốt đẹp, gửi gắm những tình cảm sâu đậm và những hàm ý ẩn giấu vào trong thơ, làm cho người đọc cảm nhận được những vẻ đẹp vừa uyển chuyển nhưng lại rất mông lung. Thất ngôn luật tuyệt được coi là loại tác phẩm thể hiện được phong cách đặc sắc này của ông, trong đó các tác phẩm thuộc thể loại “Vô Đề” (đa phần là thất ngôn cận thể) được coi là điển hình. Thể thơ này không phải nhất thời nhất địa mà đa phần viết về tình yêu, vì nội dung của bài hay vì một lý do nào đó không tiện nói ra hoặc khó khăn trong việc chọn chủ đề để đặt cho bài thơ nên tác giả thường gọi là “Vô Đề”. Sau đây mình sẽ giới thiệu với các bạn một tác phẩm”Vô Đề”-“Tương kiến thời nan biệt diệc nan” của Lý Thượng Ẩn nhé:
无题 Vô Đề Vô Đề -(Tương kiến thời nan biệt diệc nan)
相见时难别亦难, Tương kiến thời nan biệt diệc nan,
东风无力百花残。 Đông phong vô lực bách hoa tàn.
春蚕到死丝方尽, Xuân tám đáo tử ti phương tận,
蜡炬成灰泪始干。 Lạp cự thành khôi lệ thủy can.
晓镜但愁云鬓改, Hiểu kính đản sầu vân tấn cải,
夜吟应觉月光寒。 Dạ ngâm ứng giác nguyệt quang hàn.
蓬山此去无多路, Bồng sơn thử khứ vô đa lộ,
青鸟殷勤为探看。 Thanh điểu ân cần vi thám khán.
(phiên âm-Kiều Tố Uyên)
Khó gặp nhau mà cũng khó xa,
Gió xuân đành để rụng trăm hoa.
Con tằm đến thác tơ còn vướng,
Chiếc nến chưa tàn lệ vẫn sa.
Sáng ngắm gương buồn thay mái tuyết,
Đêm ngâm thơ thấy lạnh trăng ngà.
Bồng lai tới đó không xa mấy,
Cậy với chim xanh dọ lối mà.
(dịch thơ-Khương Hữu Dụng và Tương Như)
Bài thơ này, thông qua lời nói của một người con gái để viết lên tâm trạng khi yêu. Trong đau thương, thống khổ nhưng vẫn luôn thể hiện được tình yêu nóng bỏng, khát vọng, kiên nhẫn… danh giới tình cảm sâu đậm dai dẳng, và rất phong phú.
Hai câu đầu, viết về mối tình trắc trở không có hạnh phúc và tâm trạng trữ tình của người con gái: vì gặp phải những trở ngại lớn, đôi tình nhân đã không còn cơ hội gặp được nhau, nỗi thống khổ vì xa cách làm cho người con gái này khó có thể chịu đựng được. Chữ “别” tức “biệt” trong câu đầu không phải chỉ lời nói chia tay trong hiện tại, mà chỉ sự xa cách trong quá khứ. Hai chữ “ 难”, chữ thứ nhất chỉ cơ hội gặp nhau khó, chữ thứ hai chỉ nỗi thống khổ khó có thể chịu đựng được. Các bậc tiền bối trong thơ đã từng viết “别日何易会日难” tức “Biệt nhật hà dị hội nhật nan” hay “别易会难得” tức “Biệt dị hội nan đắc”…đều nhấn mạnh sự khó khăn trong việc gặp lại, và nỗi khổ khi phải biệt ly.
Nhưng Lý Thượng Ẩn đã tiến xa hơn một bước trong việc bộc bạch: vì “tương kiến thời nan” cho nên “biệt diệc nan”- khó có thể cắt đứt, thống khổ khó có thể chịu đựng. Nhà thơ trong cùng một câu đã sử dụng hai lần từ “nan” tức”khó”, sự xuất hiện của chữ “nan” thứ hai vì trùng lập nên tạo cho người đọc có cảm giác đột ngột, nhưng thông qua đó lại có thể thấy được đây là sự biệt ly không có ngày gặp lại. Trạng thái đau khổ triền miên này người đọc không thể cảm nhân được trong câu “biệt dị hội nan đắc” nhưng trong “tương kiến thời nan biệt diệc nan” thì lại rất rõ.
Cách dùng cảnh vật để phản ánh cảnh ngộ và tình cảm của con người dưới ngòi bút của Lý Thượng Ẩn là rất thường gặp, ta có thể cảm nhận được điều đó ngay trong bài thơ này trong việc phân tích câu thứ hai: Người con gái chữ tình này đã bị tổn thương đến mức vậy, lại đối mặt với cảnh vật vào cuối mùa xuân, tất nhiên càng làm người con gái này đau lòng và khó quên. Vào tiết cuối xuân, gió đông thổi lực không mạnh, trăm hoa tàn lụi, và hương sắc của mùa xuân cũng dần mất theo, sức người trước cảnh vật đó cũng không có cách nào cứu vãn được, lại thêm cảnh ngộ bất hạnh của bản thân và vết thương trong tâm linh, người con gái này cũng trôi theo mùa xuân và lụi tàn giống những bông hoa ngoài kia. Câu “Đông phong vô lực bách hoa tàn”, vừa miêu tả cảnh thiên nhiên, lại vừa phản ánh tâm trạng của người con gái trữ tình này, người vật giao nhau, tâm linh và tự nhiên đã kết hợp với nhau một cách tinh vi.
Bốn câu tiếp theo viết về tình cảm uẩn khúc một cách rõ nét hơn. Chữ “丝” tức “ti” trong câu “Xuân tám đáo tử ti phương tận” có cách đọc giống với chữ “思” tức “tư” nên chữ “ti” ở đây ngụ ý chỉ tương tư. Ý của toàn câu là chỉ sự tưởng nhớ của người con gái đến đối phương, giống như con tằm chỉ khi nào nhả hết tơ đến khi chết mới chịu dừng.
“Lạp cự thành khôi lệ thủy can” là một cách tự ví von bản thân, vì không được hội tụ nên đau khổ, nỗi đau này kéo dài mãi không kết thúc giống như nước mắt của cây nến chỉ đến khi nào nến cháy hết thành tro mới chịu thôi. Tưởng nhớ trong vô tận, mọi thứ trước mắt đều là vô vọng, do đó, người con gái này đã để cho nỗi đau của mình trôi theo dòng đời. Mặc dù biết là vô vọng nhưng người con gái này sống chết vẫn tưởng nhớ đến đối phương, và nguyện dành quãng đời còn lại của mình để yêu người đó.
Do đó trong hai câu này vừa thể hiện nỗi đau và bi thương trong thất vọng, lại vừa thể hiện tình yêu nóng bỏng và lòng kiên nhẫn theo đuổi đến cùng.Theo đuổi ở đây là vô vọng, nhưng trong vô vọng vẫn quyết tâm theo đuổi, do đó theo đuổi ở đây cũng đã được Lý Thượng Ẩn nhuộm màu bi quan. Những tình cảm này hình như tuần hoàn trong vô tận, khó có thể đoán nó sẽ dừng lại ở đâu. Nhà thơ chỉ thông qua hai hình ảnh để so sánh đã diễn tả được trạng thái tâm lý phức tạp của người con gái, qua đó có thể thấy khả năng liên tưởng của nhà thơ phong phú đến mức nào.
Trong câu năm: “云鬓改” tức “vân tấn cải”, chỉ người con gái bị nỗi đau khổ giày vò nên đêm đến xoay ngang xoay dọc vẫn không ngủ được, đến mức tóc mái cũng rụng, dung mạo tiều tụy. “晓镜”tức “hiểu kính” chỉ sáng sớm dậy soi gương phát hiện tóc bị rụng nên sầu khổ, mà ở đây Lý Thợng Ẩn lại nhấn mạnh là “đản sầu”. Nếu chú ý các bạn sẽ phát hiện Lý Thượng Ẩn đã miêu tả một cách rất sinh động tâm trạng uẩn khúc của người con gái này. Bản thân vì đau khổ mà mất ngủ tiều tụy, sáng dậy vì phát hiện dung mạo tiều tụy mà đau khổ. Đau khổ trong đêm là vì tình yêu mà mình theo đuổi không thực hiện được, đến sáng hôm sau vì tiều tụy mà sầu, vì tình yêu mà hy vọng giữ được nét thanh xuân của mình. Nói tóm lại người con gái này vì tình yêu mà tiều tụy, vì đau khổ mà phiền muộn.
Đến câu thứ sáu “夜吟”tức “dạ ngâm”, người con gái từ bản thân mình đã tưởng tượng ra đối phương cũng đang đau khổ giống mình, đêm đến cũng mất ngủ và thường ngâm thơ để tưởng nhớ đến mình. Ở đây nhà thơ đã mượn hình ảnh lạnh lẽo của ánh trăng để phản ánh tâm trạng cô đơn, lạnh giá của người con trai. Và từ “应” tức “ứng” trong câu này là một điều ước đoán, lường trước đã được Lý Thượng Ẩn khéo léo đưa vào trong câu thơ để qua đó giúp người đọc hiểu rằng những tâm tư của đối phương đều là do người con gái tưởng tượng ra mà thôi.
Nhưng tại sao nhà thơ lại có ngụ ý như vậy, chẳng phải vì muốn thông qua sự chủ động trong tưởng tượng của người con gái để nói lên người con gái này đã thấu hiểu được hết những suy nghĩ, tâm tư của đối phương đó sao. Càng tưởng tượng cụ thể, nỗi nhớ càng sâu sắc, càng làm cháy lên khát vọng hội ngộ.
Vì biết hội ngộ là vô vọng nên người con gái đành phải thông qua sứ giả để thay mình đến thăm đối phương và đây cũng là nội dung của hai câu kết cục . Trong thơ thời Đường thường dùng tiên lữ để ví von với người bạn tình, Thanh Điểu là một nàng tiên, Bồng Sơn là một núi tiên trong thần thoại truyền thuyết, cho nên Lý Thượng Ẩn đã dùng Bồng Sơn tượng trưng cho nơi ở của người con trai, và dùng Thanh Điểu làm sứ giả thay cho người con gái. Lý Thượng Ẩn thông qua việc gửi gắm hy vọng vào sứ giả làm kết cục, chứ không thay đổi cảnh ngộ đau khổ “tương kiến thời nan” của người con gái, và đó là hy vọng trong tuyệt vọng, con đường phía trước vẫn là xa tít mù tắp. Bài thơ đã kết thúc tại đây, nhưng nỗi đau khổ và sự quyết tâm đeo đuổi tình yêu của người con gái đó thì vẫn tiếp tục.
Bài viết này phần phiên âm do mình dịch, còn phần thơ do Khương Hữu Dụng và Tương Như dịch.
Cảm ơn anh Ái nhiều vì đã tìm giúp em phần dịch thơ nhé.. À nếu các bạn có thể gửi lời dịch thơ thêm nữa cho bài thơ này thì rất hay.
Năm 1995 mình và bà xã lên thăm Buôn Ma Thuột và đuợc chị Linh Nga Niêk Dam, lúc đó là đang dạy âm nhạc và làm việc tại đài phát thanh Buôn Ma Thuột, đưa đi chơi, ca hát với một nhóm bạn của chị. Và chị Linh Nga giới thiệu cho mình và Phượng nhạc Êđê và giọng ca Ymoan.
Phản ứng đầu tiên của mình với nhạc Êđê là sức mạnh và mức văn minh của nó. Dĩ nhiên là chị Linh Nga đã nói trước với mình, “Anh sẽ ngạc nhiên khi nghe nhạc Êđê. Như là nhạc rock.” Nghe xong một vài bản trong máy cassette của chị mình thấy quá hứng khởi. Mình nói với chị Linh Nga, “Nhạc này mà sang Mỹ trình diễn như nhạc rock tân thời, thì dân Mỹ phải mê.” Mình còn đề nghị với chị Linh Nga là viết lời tiếng Anh cho các ca sĩ Êđê hát, để xuất cảng văn hóa sang Mỹ. Nhạc Êđê mạnh và rất chỏi nhịp. Đó là đặc điểm của nhạc rock tân thời, khác với nhạc cổ điển vào nhịp rất đều đặn.
Chỉ qua âm nhạc là mình đã rất khâm phục các anh chị em Êđê. Âm nhạc như vậy thì sức sống rất mạnh. Mấy năm trước khi có tin UNESCO công nhận nhạc chiêng Tây Nguyên là di sản văn hóa thế giới mình rất vui. Nhạc chiêng của người Êđê rất sophisticated.
Giong ca của Ymoan là giọng ca của núi rừng hùng dũng hoang vu. Đó không phải là giọng ca cho phòng trà, cho dancing trong phòng. Đó là giọng ca với gió ngàn, mây trắng, đồi thấp núi cao, và mang núi đồi hoang dã vào quả tim con người. Nếu người ta vũ theo giọng ca Ymoan, thì nhất định đó phải là những vũ điệu của rừng núi, bên cạnh ánh lửa bập bùng, với nhịp vỗ của gồng chiêng.
Mình đang tính research để viết một bài giới thiệu về Ymoan thì thấy có bài trên VnExpress rất hay. Dùng bài đó giới thiêu thay vì viết một bài dở hơn. Có lẽ đa số các bạn trong nước đã biết rõ về Ymoan, nhưng các bạn nước ngoài có thể được thêm thông tin tốt từ bài báo này.
Sau đó mình mời các bạn xem 4 videos của Ymoan và một video phỏng vấn Ymoan và Nguyễn Cường, người nhạc sĩ viết nhạc Tây Nguyên.
Bài này dành riêng cho The Daklak Gang (chị Huệ et al). Và dành chung cho các bạn khắp thế giới chưa để ý văn hóa Êđê.
Chỉ khi Y Moan hát như… phát rồ, người ta mới thấy được trong lời hát ấy cái lồng lộng của đất trời Tây Nguyên, cái mưa dầm dề, cái nắng thiêu đốt cùng vẻ tươi xanh hào phóng của cao nguyên.
Y Moan và nhạc sĩ Nguyễn Cường trên cao nguyên M’drak 10 năm trước.
Trước Y Moan không có ai và sau Y Moan có lẽ khó tìm được một giọng hát như vậy. Nhưng Y Moan hát hay nhất là khi anh đi về các buôn làng.
Anh bảo chỉ ở làng, nhìn thấy đồng bào đứng chung quanh, lố nhố, bề bộn như thế hát mới “đã”, giọng mới tròn, to, vang hết mức. Dù đồng bào không có thói quen vỗ tay tán thưởng, khen ngợi mỗi khi Y Moan (hay bất cứ ca sĩ nào) hát xong, thế mà vẫn thấy ấm lòng.
Bà con chỉ nói: “Moan, hát đi”, thế là Y Moan hát. Mà khi Moan đã hát thì không biết đến khi nào ngừng; chỉ khi nào trưởng đoàn vì sợ “bể” chương trình, bảo “stop” Moan mới thôi. Vì thế người ta không còn lạ khi Y Moan hát một hơi 13 bài, gần như độc diễn (trong những kỳ đi diễn của Đoàn Ca múa nhạc dân tộc Đăk Lăk), hát đến độ máu miệng trào ra, nhổ bãi máu rồi hát tiếp.
Có chứng kiến Y Moan ôm đàn một mình lững thững giữa thảo nguyên M’drak cỏ xanh trải thảm ngút mắt trên đèo Phượng Hoàng – từ Khánh Hòa lên Đăk Lăk – miệng hát vang mới biết đó là lúc anh đang xuất thần.
Ở đó, giữa núi đồi nghe “một mình qua sông, qua núi đồi” (Chim phí bay về cội nguồn – tác giả Y Phôn Ksor) mà vẫn cứ thấy nhớ núi đồi.
Ở đó, nghe “ai yêu tự do thì lên núi nghe đàn” (Cây đàn Chapi – tác giả Trần Tiến) mới thấy đúng là một phát hiện! Giọng ca bị đóng đinh vào đại ngàn này đâu thể hát ở phòng trà, sân khấu giữa thị thành. Phải trả giọng hát ấy về với núi rừng, về với cao nguyên, với cái nắng, cái gió, cả cái nghèo…
15 năm trước cũng đã có lúc Y Moan định về “lập nghiệp” ca hát ở Sài Gòn. Về đôi ngày hát cho một số chương trình, các phòng trà nhưng rồi quá nhớ rừng, nhớ cái nắng cao nguyên lại nhảy xe về với Đăk Lăk.
Cho đến bây giờ, Y Moan vẫn cảm nhận mồn một nỗi nhớ cao nguyên tha thiết ấy khi lần đầu tiên trong đời rời quê nhà để được thấy đồng bằng, để thấy được sự bao la của biển, thấy được đất nước muôn màu, đa dạng…
Đó là chuyến xuống núi tham gia Hội diễn ca múa nhạc toàn quốc ở Quy Nhơn năm 1979. Rồi có nhiều lần làm “sứ giả văn hóa cao nguyên” trong những chuyến xuất ngoại sang diễn ở châu Âu, châu Mỹ, Australia, Nhật… nhưng chỉ càng cho anh thấy mình không thuộc về thế giới phồn hoa đô hội.
Và Moan quyết định gắn đời mình ở cao nguyên, với Đoàn Ca múa nhạc dân tộc Đăk Lăk, cho dù mỗi đêm đi hát (và hát bao nhiêu bài đi nữa) tiền bồi dưỡng chỉ 70.000 đồng.
Chỉ hát ở cao nguyên, Y Moan mới được gần gũi với “gái trai quê tôi, da nâu mắt sáng, vóc dáng hiền hòa” (Ơi M’drak – tác giả Nguyễn Cường).
Bây giờ ở tuổi 52 với 35 năm theo nghề ca hát, Y Moan vẫn là một “ca sĩ tỉnh lẻ” dù cả nước biết đến tên anh. Nơi anh ở là một cái gara vài chục mét vuông trong khuôn viên của Đoàn Ca múa nhạc dân tộc Đăk Lăk ở thành phố Buôn Ma Thuột. Hằng ngày đoàn di chuyển đến buôn làng nào cũng có Y Moan theo.
Có thể nói Y Moan là “linh hồn” của đoàn từ mấy chục năm. Vắng anh sức hấp dẫn của đoàn mất đi nhiều. Moan đi hát và vẫn đi làm rẫy. Rẫy cà phê 3 ha cách Buôn Ma Thuột chừng 45 km, ở huyện Cư M’gar, là thế giới kết nối một Y Moan nông dân với một Y Moan nghệ sĩ, Y Moan phóng khoáng với Y Moan sâu sắc, Y Moan của núi rừng với Y Moan của phố thị, Y Moan của công chúng với Y Moan của gia đình, và nó nuôi dưỡng tâm hồn của anh. Cuộc sống của gia đình anh 5 người phụ thuộc rẫy cà phê đó.
52 năm trước, có một đứa bé được sinh ra trên rẫy rồi được gói lại gùi về nhà. Về chuyện ca hát, Y Moan nhớ lại lúc còn nhỏ, lần đầu tiên xin đi theo ông Ama Nô đi hát “cho vui”.
Ama Nô là một chiến sĩ cách mạng, cũng là nhạc sĩ, người J’Rai ở Phú Bổn nhưng hoạt động ở chiến trường Đăk Lăk, người phụ trách đầu tiên của Đoàn văn công B3 của tỉnh Đăk Lăk trước năm 1975 – tiền thân của Đoàn Ca múa nhạc dân tộc Đăk Lăk ngày nay.
Anh vẫn nhớ lời mẹ cản ngăn, vì ca hát là nghề xa lạ với buôn làng; nhớ đôi dép cao su đầu tiên mà thầy Ama Nô cắt từ lốp xe cho anh bước vào con đường nghệ thuật (đi dép để ra hát trước đám đông); nhớ màu áo xanh bộ đội văn công được mặc; nhớ đi hát mà vẫn phải mang theo súng AK (vì sợ Fulro phục kích vào những năm đầu giải phóng); nhớ cục lương khô được phát sau mỗi lần hát; nhớ cả lúc đang học nửa chừng ở Nhạc viện Hà Nội phải quay về chỉ vì đoàn không có người… hát, rồi không bao giờ quay lại.
Âm nhạc đã dắt thằng bé chân trần của gió núi mây ngàn đi mãi cho đến ngày hôm nay, quên mất lời hứa với mẹ “đi thử với Ama Nô một thời gian rồi về thôi”.
Nhờ cuộc đi “hát thử” kéo dài cả đời người đó, hình ảnh và giọng hát Y Moan giờ đây đã lưu lại đâu đó trong các ca sĩ cao nguyên như Y Zắc (Đăk Lăk), Siu Black (Kontum), Y Yang Tuyn (Gia Lai), Cil Trinh (Bonner Trinh – Lâm Đồng), Karazan Dik, Krazan Blin (Lâm Đồng), cả Kasim Hoàng Vũ và Y Garia (đang học Cao đẳng Văn hóa nghệ thuật quân đội)…
Thật không quá lời khi nói rằng trong những tác phẩm viết về cao nguyên của nhạc sĩ Nguyễn Cường cũng có bóng dáng tiếng ca hoang dại của kẻ hát rong Y Moan, người không chỉ “truyền bá” âm nhạc Nguyễn Cường mà còn thổi vào đó cái hồn Tây Nguyên.
Trong căn nhà bề bộn nhạc cụ, sách, đĩa nhạc, huy chương, giấy khen, kể cả bằng chứng nhận nghệ sĩ ưu tú của Y Moan, có một đĩa nhạc được “sản xuất” rất không chuyên nghiệp, mang tựa Đứa con của núi rừng có in chân dung và tên Y Moan Ê Nuôl.
“Có phải album cá nhân đầu tiên của Y Moan?”. Anh chậm rãi trả lời: “Mình và thằng con trai Y Wol vừa mới làm xong (cha đàn hát, con hòa âm, phối khí). Chị Nguyễn Thị Minh Ngẫu, vợ của Y Moan, tên Êđê là Amí Wol, cho biết: “Phải làm gấp một cái để lưu lại vì căn bệnh lao phổi mãn tính đang đe dọa giọng hát anh ấy”.
Chị Minh Ngẫu nói bác sĩ Buôn Ma Thuột, TP HCM đều không cho đi hát nữa nhưng Y Moan cứ bước qua lời can ngăn, chỉ vì “Em ơi, không được hát anh chịu không nổi”.
Có một lá đơn Y Moan gửi đến Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Đăk Lăk, bày tỏ rằng những ca khúc đầy “linh hồn” Tây Nguyên của các nhạc sĩ đã mất hay đang sống: Ama Nô, Ama Nui, Rơ Chăm Dơn, Y Sơn Nie, Kpa Ylang, Y Phôn Ksor, Y Kô, Linh Nga Nie Kdam…, những di sản âm nhạc hiện đại của người Tây Nguyên cần được ghi âm, và anh sẽ tình nguyện hát không cần “nhuận ca”. “Nếu không ai làm thì mình tình nguyện, chỉ cần đầu tư cho việc ghi âm, in sang vào đĩa CD hoặc VCD, DVD”.
Trong không gian lặng im như cánh rừng buổi chiều về, bất chợt Y Moan với lấy cây đàn dựng bên góc nhà, rồi những âm thanh quen thuộc vang lên: “Tôi như con chim lạc bay trên đồi cao/ Tôi như con thú lang thang trong rừng sâu/ Tôi như giọt mưa khao khát lời”.
Cái con chim phí của đất trời Tây Nguyên, cái giọng hát đang bị bệnh tật đe dọa ấy lại vang lên say sưa, mê đắm…
(Theo Tuổi Trẻ)
.
Ơi Madrak (Nguyễn Cường)
.
Ơi M’drak – Ymoan (Nguyễn Cường) (biểu diễn trên TV)
Nhạc Flamenco của Tây Ban Nha có một sắc thái rất đặc biệt, từ âm thanh đến phong cách trình diễn. Nói đến Flamenco là nói đến guitar, hát và vũ. Nó có vẻ như là một loại nhạc để người ta đàn, hát và vũ quanh khóm lửa, như là nhạc của những người Gypsy lang thang.
Nhạc Flamenco, về melodie thường đi từ cao xuống thấp và xuống từ từ từng nốt một, la sol fa mi…, có âm hưởng nhac Ả Rập. Trên thực tế, vũ Flamenco có một phần nào múa bụng của người Ả Rập. Cách đánh đàn guitar cũng thoải mái hơn nhạc cổ điển, hòa âm giản dị, dùng vận tốc, và nhịp điệu rõ ràng để vũ.
Ngoài cây guitar, người ta dùng tay hay chân để tạo nhịp, hầu như chẳng cần nhạc cụ nào khác. Đây đúng là nhạc cho những cách đồng hay những đường phố.
Dưới đây chúng ta có một số video vũ Flamenco.
_ Video đầu tiên do Ramon Ruiz chơi guitar và Anita la Maltesa vũ. Cả hai dạy Flamenco ở Luân Đôn.
_ Video 2, Maria Pages trình diễn Fire Dance. Đây là vũ Flamenco, nhưng trình diễn trong chương trình Riverdance, là vũ đoàn Ireland nỗi tiếng. Và Fire Dance là tên Riverdance đặt cho màn vũ này, chứ không phải tên của một vũ điệu.
— Video 3, Joaquín Cortés, nam vũ công nỗi tiếng nhất của Tây Ban Nha ngày nay.
— Video 4, Joanquín Cortés và nữ tài tử Jennifer Lopez.
Mời các bạn thưởng thức cuối tuần. 🙂
Flamenco song, dance and guitar. Guitar by Ramon Ruiz, dance by Anita la Maltesa. London based artists and teachers.
Kinh kịch (là một loại kịch có xuất sứ tại Bắc Kinh; Beijing Opera) có lịch sử gần 200 năm, hiện đang là loại kịch lưu hành rộng rãi nhất, và có ảnh hưởng sâu rộng nhất trong các loại kịch tại Trung Quốc. Trong quá trình hình thành Kinh kịch vừa chịu ảnh hưởng bởi các phong tục tập quán và loại tiếng địa phương Bắc Kinh đồng thời vừa thu hút rất nhiều tinh hoa của các loại kịch địa phương khác. Hiện Kinh kịch không chỉ được lưu hành tại Bắc Kinh, mà trên mọi vùng của Trung Quốc đều tồn tại những đoàn kịch biểu diễn loại Kinh kịch này. Sau đây tôi sẽ giới thiệu với các bạn đôi chút về môn nghệ thuật này nhé.
Kinh kịch là môn nghệ thuật kết hợp hài hòa giữa hát, đọc, làm, và đánh :
– Hát, là chỉ dựa vào một làn điệu nhất định nào đó để biểu diễn.
– Đọc, là phần tự bạch hoặc đối thoại trong Kinh kịch.
– Làm, chỉ thông qua động tác hoặc nét mặt để biểu diễn.
– Đánh, là dùng võ thuật hoặc điệu múa đã được biến hóa để biểu diễn.
Trong quá trình phát triển trường kì của mình, Kinh kịch đã hình thành một bộ bao gồm các động tác hư cấu để biểu diễn. Ví dụ như: Một mái chèo có thể tượng trưng cho một chiếc thuyền, hay một cái đuôi ngựa có thể tượng trưng cho một con ngựa…Diễn viên không cần bất kỳ một đạo cụ nào cũng có thể diễn đạt một cách hoàn hảo các động tác lên lầu, xuống lầu, mở cửa, đóng cửa…Các động tác này mặc dù có phần hơi khuyếch trương nhưng vẫn đem lại cho quần chúng cảm giác chân thực và tốt đẹp.
Diễn viên Kinh kịch được phân thành 4 vai diễn là: Sinh, Đán, Tịnh, Xú (vai hề):
– Vai diễn Sinh: người đảm nhiệm vai diễn này thường là các nhân vật nam, lại phân thành lão sinh, tiểu sinh, và vũ sinh. Các diễn viên nổi tiếng trong vai diễn này có Mã Liên Lương, Chu Tín Phương, Diệp Thịnh Lan, Lý Thiếu Xuân, Cái Khiếu Thiên…
– Vai diễn Đán: người đảm nhiệm cho vai diễn này thường là các nhân vật nữ, lại phân thành Thanh Y (tức nữ tì), Hoa Đán, Vũ Đán, Lão Đán. Các diễn viên được coi là diễn xuất sắc trong vai diễn này vào thế kỷ 20 của những năm 20 gồm có tứ đại danh Đán là: Mai Lan Phương, Trình Nghiêm Thu, Thượng Tiểu Vân, Tuệ Sinh.
-Vai diễn Tịnh: vai diễn Tịnh thể hiện trong vở diễn là người đàn ông có tính cách hào phóng thẳng thắn, người đóng vai này phải vẽ mặt phác họa vì thế vai này cũng được gọi là “Hoa Liễm”, những diễn viên Hoa Liễm nổi tiếng gồm có: Cầu Thịnh Nhung, Viên Thế Hải…
-Vai diễn Xú: lđảm nhiệm vai diễn này thường là một nhân vật nam , đây là một vai hề, vừa hài hước, hóm hỉnh, linh hoạt lại vừa giảo hoạt, ranh mãnh, nham hiểm. Diễn viên nổi tiếng trong vai này gồm có: Tiêu Trường Hóa, Mã Phú Lộc.
Cách hóa trang trong Kinh kịch cũng có những đặc điểm rất riêng. Cách hóa trang cho các vai diễn “Sinh”, “Đán” cần phải tô lông mày hoặc đeo lông mày giả, vẽ vòng mắt. Còn các vai diễn “Tịnh”, “Xú” thì cách hóa trang lại phải phụ thuộc vào tính cách của vai diễn trong vở kịch để phác họa, ví dụ nhân vật là người trung dũng thì vẽ mặt đỏ, còn nhân vật có tính cách gian trá thì phải vẽ mặt màu trắng.
Kinh kịch có rất nhiều kịch mục, hiện tại có khoảng 3800 vở. Trước mắt thường diễn ba loại chính là : kịch mang tính truyền thống, kịch lịch sử, và kịch hiện đại.
Kinh kịch được coi là tinh hoa trong các loại kịch của Trung Quốc, có ảnh hưởng khá lớn đến cả trong và ngoài nước. Hiện đã có rất nhiều lớp chuyên giảng dạy Kinh kịch cho người nước ngoài nữa rồi đấy các bạn ạ.
Và bây giờ thì mời các bạn thưởng thức đoạn kịch sau nhé:
Dưới đây là bài bài báo nhà thơ Vương Trọng vừa viết về bài thơ Lời Thỉnh Cầu ở Nghĩa Trang Đồng Lộc, mà anh viết năm 1995, khắc lên bia xi-măng năm 2002, mình dịch ra Anh ngữ năm 2005 (biên tập lại năm 2008), và khắc song ngữ lên bia đá tại Nghĩa Trang Đồng Lộc tháng 1 năm 2009.
Mình thăm Đồng Lộc tháng 5 năm 1995, trên một chuyến về thăm quê hương cụ Hồ tại Nghệ An, với một số Việt Kiều khác, do anh Nguyễn Ngọc Trân, trưởng Ban Việt Kiều Trung Ương tổ chức. Trên đường anh Trân cho xe ghé vào Đồng Lộc. Lúc đó mình hoàn toàn chẳng biết Đồng Lộc là gì cả.
Ấn tượng đầu tiên của mình là, đó là một vùng rất nghèo khổ, xác xơ, nóng đổ lửa… và nó làm cho mình có cảm giác buồn buồn vì cái nghèo của quê hương và cái khổ của dân quê. Mình vẫn luôn luôn như thế từ hồi 16, 17 tuổi.
Vào đến nơi, thấy mười ngôi mộ xi măng khiêm tốn nằm trên một ngọn đồi với vài bóng cây lưa thưa, giữa một vùng đồng khô cỏ cháy. Rồi từ từ hiểu chuyện, nhìn hố bom nơi các cô hy sinh, nhận biết rằmg các cô này cở tuổi mình hay có người chỉ sinh trước một hai năm, nhưng cuộc đời có quá nhiều khác biệt… làm cho mình thật là nhức nhối. Lúc đó mình “try to be connected” với các cô bằng cách nhờ anh Trân chụp một tấm ảnh mình ngồi bên cạnh một ngôi mộ. Tấm ảnh này có đăng trong báo Quê Hương (của Ban VKTW) sau chuyến đi đó.
Vì các cô trẻ mãi không già, cho nên mình luôn luôn có cảm tưởng các cô này là những người em gái bất hạnh của mình. Vì vậy, mình không quên các cô được những tháng năm sau đó. Hơn 10 năm sau, khi đọc nhật ký Đặng Thùy Trâm lần đầu, ý tưởng đầu tiên đến trong đầu mình là 10 cô gái Đồng Lộc.
Đến năm 2005, 10 năm sau khi anh Vương Trọng viết bài thơ và 3 năm sau khi nó được khắc vào bia xi măng, chị Diệu Ánh (admin của VNBIZ forum) trong một chuyến du hành trên quốc lộ Trường Sơn, ghé qua Đồng Lộc, thấy bài thơ, chụp và gởi cho mình. Mình dịch ngay ra tiếng Anh và post trên VNBIZ. Đây là bài thơ duy nhất mà mình ứa nước mắt rất nhiều lần trong khi dịch.
Đến đầu năm 2008 chị Diệu Ánh gặp chị Minh Lý, phóng viên Hà Tĩnh nhưng hiện sống ở Vũng Tàu, chị Minh Lý biết anh Vương Trọng. Thế là mình chỉnh sửa lại bài thơ một tí nữa rồi nhờ chị Diệu Ánh và Minh Lý chuyển đến anh Vương Trọng. Anh Vương Trọng nói chuyện với anh Thế Ban, sở Văn Hóa Thể Thao Hà Tĩnh. Sở quyết định khắc cả bài nguyên thủy lẫn bài dịch vào bia đá, thay bia xi măng đã hao mòn quá nhiều. Tháng giêng 2009, bia đá hoàn thành.
Mình đã viết một bài hồi tháng ba năm nay (2009) về bài thơ này để chia sẻ với các bạn. Hôm nay chúng ta nghe câu chuyện từ phía anh Vương Trọng. Bài này của anh Vương Trọng đã đăng trên Văn Nghệ Công An ngày 20 tháng 7 năm 2009.
Cám ơn anh Vương Trọng. Chúc các bạn một ngày vui.
Mến,
Hoành
.
Bài thơ song ngữ ở Nghĩa Trang Đồng Lộc
Vương Trọng
Vương Trọng
Từ khi Ngã ba Đồng Lộc trở thành khu di tích lịch sử của Thanh niên xung phong cả nước, khách tìm đến nơi này mỗi ngày một đông, đặc biệt là tầng lớp thanh niên, học sinh, sinh viên. Có người nói rằng, chỉ cần đến nơi này một lần, bài học về giáo dục truyền thống tự nhiên thấm vào người, và lớp trẻ có điều kiện để nhận thức được cái giá của độc lập, tự do.
Gần đây có nhiều bạn trẻ sau khi viếng thăm Ngã ba Đồng Lộc, ra Hà Nội có tìm gặp tôi để trò chuyện. Có người tôi quen biết từ trước, nhưng cũng có kẻ tôi mới được gặp lần đầu. Nguyên nhân là vì một bài thơ của tôi đã được khắc đá và dựng lên ở nghĩa trang này. Hơn nữa, bài thơ đó lại được dịch ra tiếng Anh, khắc trên tấm bia đá cao 2,5 mét, rộng 1 mét, mặt này là bài thơ Lời thỉnh cầu ở nghĩa trang Đồng Lộc của tôi, mặt kia là bản dịch của ông Trần Đình Hoành, một Việt kiều ở Mỹ. Bởi vậy tôi muốn có đôi lời tâm sự với bạn đọc về chuyện này. Đài tưởng niệm Đồng Lộc
Mùa hè năm 1995, lần đầu tôi đến thăm nghĩa trang Mười cô gái Ngã ba Đồng Lộc. Mặc dù mười cô gái đã hy sinh trước đó 27 năm trời, thế nhưng khi đứng lặng trước hố bom đã giết các cô, khi thắp hương lần lượt cắm lên mười nấm mộ, cũng như khi chứng kiến những kỷ vật các cô để lại…, tôi tự nhủ phải viết một cái gì đấy để giải tỏa nỗi xúc động. Bút ký, tuỳ bút cũng có thể chuyển tải được cảm xúc này, nhưng vì trong đoàn còn có nhà văn Xuân Thiều, nhà văn Nam Hà, nên tôi nghĩ nên “nhường” văn xuôi cho hai vị cao niên này. Bởi thế trước mắt tôi chỉ còn một cửa hẹp là thơ.
Nhưng thơ về Đồng Lộc cũng không phải dễ, vì trước đó đã có nhiều người viết rồi, có bài khá nổi tiếng như của nhà thơ Huy Cận. Thế thì mình phải viết thế nào để không bị chìm lấp bởi những bài đã có. Sự hy sinh cùng một lúc của mười cô gái trẻ khi đang san lấp hố bom làm mọi người cảm động, nên khi nào trên mười ngôi mộ cũng có thật nhiều hương khói. Khi cắm những nén hương đang cháy lên mộ các cô, tôi tự hỏi, nếu mười cô gái hiển linh, họ sẽ nghĩ thế nào? Bức ảnh cuối cùng của 10 cô gái Ngã ba Đồng Lộc (Nhiếp ảnh gia Văn Sắc)
Qua tài liệu thu thập được, tôi biết số người hy sinh ở ngã ba này thật nhiều, riêng Trung đoàn phòng không 210 đã có 112 liệt sĩ đã hy sinh khi bảo vệ mảnh đất này. Thế mà họ không có bia mộ để thắp hương, bởi thịt xương họ đã hoà trộn vào đất. Thế là cái ý tưởng dùng lời mười cô gái trò chuyện với các đoàn khách thăm viếng được nẩy sinh, và tôi thấy thuận lợi khi muốn chở ý tưởng: mọi chính sách, chế độ đối với những người đã hy sinh, nghĩ cho cùng là vì những người đang sống. Bởi vậy, xây dựng cho cuộc sống ấm no, hạnh phúc cũng là một cách thể hiện sự biết ơn đối với các liệt sỹ đã hy sinh.
Bài thơ có bốn khổ thì ba khổ đầu là lời mười liệt sĩ nhắc người đến nghĩa trang nên nhớ thắp hương cho những liệt sĩ mà thân xác đã tan trong đất, khuyên các em nhỏ nên trồng cây, các bạn cùng trang lứa cố gắng sản xuất. Còn các cô chỉ ước có vài cây bồ kết…
Bài thơ tôi viết và in lần đầu vào năm 1995, đến năm 1998 lại xuất hiện trong tuyển tập thơ về Đồng Lộc. Điều đáng nói là tập thơ này đã đến tay anh Nguyễn Tiến Tuẫn, là một trong ba anh hùng ở Đồng Lộc, thời mà mười cô gái hy sinh, anh đang phụ trách đơn vị Cảnh sát giao thông ở trọng điểm ác liệt này. Anh bảo rằng, anh bị bài thơ ám ảnh, và tự đặt cho mình phải làm một việc gì đó để giải toả sự ám ảnh này. Việc anh làm là lên huyện Hương Sơn tìm hai cây bồ kết con để đáp ứng lời thỉnh cầu của mười cô gái: ” Thỉnh cầu đất cằn cỗi nghĩa trang/ Cho mọc dậy vài cây bồ kết/ Hương chia đều trong hư ảo khói nhang”. Hai cây bồ kết anh trồng rất cẩn thận, hố đào to, phân tro nhiều nên tốt rất nhanh.
Bốn năm sau, năm 2002 thì hai cây bồ kết đã cao tới ba, bốn thước; cây lớn vào mùa thu đã nở hoa. Một lần trở lại thăm nghĩa trang đúng lúc gặp một đoàn khách, biết anh là người đã trồng hai cây bồ kết này, mọi người rất cảm phục và hỏi anh từ ý nghĩ nào mà làm được việc hết sức độc đáo và tuyệt vời này? Anh trả lời là từ cảm xúc một bài thơ, thế là họ hỏi anh có nhớ bài thơ đó không. Anh nói rằng bài thơ đó anh đã thuộc, nhưng không quen đọc thơ trước đám đông, anh hứa với họ là nếu lần sau quay lại thì thế nào cũng được đọc bài thơ đó ở đây. Mọi người nghe, kể cả người giới thiệu khu di tích, ai cũng nghĩ anh nói thế cho qua chuyện, ai ngờ anh bắt đầu ý định khắc bài thơ ấy lên đá. Điều trước tiên là phải liên hệ với Tỉnh đoàn Hà Tĩnh, đơn vị phụ trách khu di tích này. Nghe anh trình bày ý định khắc đá bài thơ đó, mọi người tán thành và coi đây là một việc làm văn hoá. Thế là chiều ngày 14 tháng 8 năm 2002, bia đá cỡ 80cm . 40cm với bài thơ 25 câu chia thành bốn khổ, được khắc sâu và tô màu sơn vàng rất dễ đọc đã dựng lên cạnh hai cây bồ kết bên nghĩa trang Mười cô gái Ngã ba Đồng Lộc. 10 Mộ
Mấy năm năm nay, nhiều tờ báo đã đăng bài về chuyện này, và có nhiều bài đã gây xúc động người đọc. Ông Trịnh Xuân Tòng là cán bộ giảng dạy trường đại học Cần Thơ, đã nghỉ hưu; sau khi đọc bài báo của Ngô Vĩnh Bình nói về chuyện bài thơ và hai cây bồ kết, ông đã bỏ công mấy tuần liền để vẽ một bức tranh cỡ lớn với nhan đề : Múa dưới trăng, nỗi vui mừng khi có cây bồ kết . Trong bức tranh, ông đã vẽ mười cô gái liệt sĩ ở ngã ba Đồng Lộc, khi trăng lên đã cùng nhau nhảy múa, năm cô leo lên cây, năm cô múa trên đất. Trong bức tranh lớn đó, ông trích bốn câu thơ làm đề từ:
Ngày bom vùi, tóc tai bết đất
Nằm xuống mộ rồi, mái đầu chưa gội được
Thỉnh cầu đất cằn cỗi nghĩa trang
Cho mọc dậy vài cây bồ kết…
Đặc biệt hơn, ông còn viết một bức thư cảm động Gửi mười em gái ngã ba Đồng Lộc. Bức tranh và bức thư này, báo QĐND đã giới thiệu trong số đặc biệt ra ngày 22- 12- 2002.
Gần đây tôi có dịp trở lại Đồng Lộc. Khác hẳn với quang cảnh tôi đã chứng kiến năm 1995, bây giờ ở khu di tích Đồng Lộc, đường sá rộng rãi, nhà cửa xây dựng khang trang, và đặc biệt cây cối quanh vùng tươi xanh như một vùng du lịch sinh thái. Không còn những vạt “cỏ may khâu nặng ống quần” khách đến thăm, không còn đồi Trọ Voi trọc lóc, lở lói. Nhiều cảnh tôi nhắc đến trong bài thơ đã lạc hậu so với bây giờ. 10 Cô
Đồng chí giới thiệu khu di tích hướng dẫn đoàn chúng tôi đi thắp hương trên từng nấm mộ và đốt những quả bồ kết khô. Mấy năm nay, nhiều đoàn khách đến thăm khu di tích này thường đem theo những chùm quả bồ kết khô để đốt sau khi thắp nhang. Người đầu tiên đốt bồ kết ở đây là nhà văn Nguyễn Thế Tường, quê Quảng Bình, công tác tại Tuần báo Văn nghệ. Tháng 10 năm 2002, anh Tường gặp tôi ở Tuần báo Văn nghệ, khi anh sắp vào nghĩa trang Đồng Lộc, anh hỏi tôi có nhắn gì không. Tôi nói rằng, hai cây bồ kết mới ra hoa nhưng chưa có quả, tôi muốn nhờ anh mua hộ tôi một chùm bồ kết, vào đó đốt để viếng mười cô gái. Anh đã làm thế, và ngạc nhiên, khi vừa đốt mấy quả bồ kết thì bát hương lớn bỗng hoá, cháy bùng lên, làm mọi người ngạc nhiên và anh gọi điện cho tôi ngay. Ngẫu nhiên hay tâm linh? Anh bảo rằng mọi người có mặt hôm đó, kể cả những người quản lý khu di tích, không ai nghĩ là ngẫu nhiên.
Tôi tới bia đá khắc bài thơ của mình thì thấy có nhiều em sinh viên đang xúm xuýt mở sổ chép thơ. Biết tôi là tác giả, nhiều em xin chụp ảnh lưu niệm và hỏi chuyện quanh bài thơ. Bằng vi tính, nét chữ khắc đẹp, chỉ tiếc cắt khổ phần đầu không thật chính xác, vì bài thơ của tôi gồm bốn khổ, khổ đầu sáu câu chứ không phải bốn câu như đã khắc. Tương đài Đồng Lộc, khi còn hoang vu, tháng 5 năm 1995, khi TĐH đến thăm
Sau đó không lâu, trong đoàn Việt kiều Mỹ về nước đến viếng nghĩa trang Đồng Lộc, có ông Trần Đình Hoành, một luật sư nhưng ham mê văn học, người đã từng dịch nhiều bài thơ của các nhà thơ Việt Nam ra tiếng Anh, xuất bản ở Mỹ. Ông xúc động khi đọc bài thơ “Lời thỉnh cầu ở nghĩa trang Đồng Lộc” và muốn truyền sự xúc động đó cho du khách nước ngoài nên đã dịch bài thơ này. Giám đốc sở Văn hoá và Du lịch Hà Tĩnh là nhà văn Đức Ban, người rất hiểu tác dụng của thơ văn vào cuộc sống, đã cho bài thơ và bản dịch đó hiển hiện lên bia đá như các bạn đã thấy vào sáng 17 tháng giêng năm 2009.
Nhân đây tôi chép lại bản tiếng Việt và tiếng Anh đã khắc trên hai mặt bia đó.
Ô. Trương Tấn Sang, Bộ Chính Trị, trong lễ khánh thành bia đá
Lời thỉnh cầu ở nghĩa trang Đồng Lộc
– Mười bát nhang, hương cắm thế đủ rồi
Còn hương nữa hãy dành phần cho đất
Ngã xuống nơi này đâu chỉ có chúng tôi
Bao xương máu mới làm nên Đồng Lộc
Lòng tưởng nhớ xin chia đều khắp
Như cỏ trong thung, như nắng trên đồi.
– Hoa cỏ may khâu nặng ống quần, kìa
Ơi các em tuổi quàng khăn đỏ
Bên bia mộ xếp hàng nghiêm trang quá
Thương các chị lắm phải không, thì hãy quay về
Tìm cây non trồng lên đồi Trọ Voi và bao vùng đất trống
Các chị nằm còn khát bóng cây che.
– Hai mươi bảy năm qua, chúng tôi không thêm một tuổi nào
Ba lần chuyển chỗ nằm, lại trở về Đồng Lộc
Thương chúng tôi, các bạn ơi, đừng khóc
Về bón chăm cho lúa được mùa hơn
Bữa ăn cuối cùng, mười chị em không có gạo
Nắm mì luộc chia nhau rồi vác cuốc ra đường.
– Cần gì ư ? Lời ai hỏi trong chiều
Tất cả chưa có chồng và chưa ngỏ lời yêu
Ngày bom vùi tóc tai bết đất
Nằm xuống mộ rồi, mái đầu chưa gội được
Thỉnh cầu đất cằn cỗi nghĩa trang
Cho mọc dậy vài cây bồ kết
Hương chia đều trong hư ảo khói nhang.
Đồng Lộc, 5 – 7- 1995
Vương Trọng
.
Học sinh trường THCS Đồng Lộc A Request at Dong Loc Cemetery
That’s enough for ten bowls
The rest of incense, let’s save for others
We’re not the sole fallen ones
So much blood and bone was spent for Dong Loc
Memories, let’s spread evenly
Like grass in the valley, sunlight on the hill.
Look! Tongue-grass buds cling to the pants!
O you red-scarfed children standing straight by the tombs
You love us so much, don’t you?
Then, go home, find little plants
Plant them on Tro Voi Hill and on these bare lands
We’re so thirsty longing for some tree shades!
Twenty-seven years have passed, we haven’t grown a day
Three times changing bed, we’re now back in Dong Loc
Friends, if you love us, don’t cry!
Go back and tend the rice for better harvest
The last meal we ten had no rice
Just a handful of cassava, then out with hoes we went.
Our needs? One afternoon someone has asked
We’re not yet married and haven’t got a chance to love
When the bomb buried us all, our hair was enmeshed in dust
Lying here in these tombs, we haven’t got a chance to wash our hair
We ask that on the parched ground of this cemetery
Someone would grow some carob trees
That spread fragrance evenly in the ethereal incense smoke…
Dong Loc July 5, 1995
VUONG TRONG
Translated by TRAN DINH HOANH
( A Vietnamese Resident in The USA)
Khmer rock là một phối hợp hấp dẫn giữa âm thanh và nhạc cụ truyền thống của Khmer với âm thanh, nhịp điệu, và khí cụ tân thời. Theo Saraj Cuddon của BBC thì Khmer rock là phối hợp giữa nhạc rock Mỹ và nhạc cụ Khmer thời thập niên 1960’s khi quân đội Mỹ có mặt ở Kampuchia trong thời chiến tranh. Loại nhạc này phát triển được 10 năm, đến thời Khmer đỏ (1975-1979) thì nó bị tận diệt cùng với các nhạc sĩ và ca sĩ thời đó. Ngày nay có sống lại với đầy đủ sắc thái riêng.
Bên cạnh các ban nhạc rock ở Kampuchia, tại Los Angeles (California, Mỹ) có ban nhạc Dengue Fever mang Khmer Rock đến khán giả quốc tế.
Tháng 11 năm 2006, trong vòng đi Á châu của mình, mình có ghé qua Kampuchia (và Sài Gòn & Hà Nội). Thăm bảo tàng viện diệt chủng Pol Pot, thực sự là buồn. Các bạn à, cái tâm con người mong manh lắm, từ thiên thần ta thành ác quỉ chỉ một bước, và có thể là chỉ trong phút giây. Cho nên ta phải canh giữ tâm mình kỹ lưỡng, như người chăn trâu trong thập nhị ngưu đồ.
Xem các videos Khmer rock ngày nay, chúng ta có thể cảm nhận được lòng tự hào của các anh em Khmer của chúng ta. Dưới đây, hai videos đầu là của Dengue Fever ở Los Angeles, hai video sau là của hai nhóm rock ở Kampuchia.
Mời các bạn thưởng thức.
Hoành
.
Dengue Fever — Seeing hands
.
Dengue Fever — Sleeping Walking Through The Mekong