Kinh kịch (là một loại kịch có xuất sứ tại Bắc Kinh; Beijing Opera) có lịch sử gần 200 năm, hiện đang là loại kịch lưu hành rộng rãi nhất, và có ảnh hưởng sâu rộng nhất trong các loại kịch tại Trung Quốc. Trong quá trình hình thành Kinh kịch vừa chịu ảnh hưởng bởi các phong tục tập quán và loại tiếng địa phương Bắc Kinh đồng thời vừa thu hút rất nhiều tinh hoa của các loại kịch địa phương khác. Hiện Kinh kịch không chỉ được lưu hành tại Bắc Kinh, mà trên mọi vùng của Trung Quốc đều tồn tại những đoàn kịch biểu diễn loại Kinh kịch này. Sau đây tôi sẽ giới thiệu với các bạn đôi chút về môn nghệ thuật này nhé.
Kinh kịch là môn nghệ thuật kết hợp hài hòa giữa hát, đọc, làm, và đánh :
– Hát, là chỉ dựa vào một làn điệu nhất định nào đó để biểu diễn.
– Đọc, là phần tự bạch hoặc đối thoại trong Kinh kịch.
– Làm, chỉ thông qua động tác hoặc nét mặt để biểu diễn.
– Đánh, là dùng võ thuật hoặc điệu múa đã được biến hóa để biểu diễn.
Trong quá trình phát triển trường kì của mình, Kinh kịch đã hình thành một bộ bao gồm các động tác hư cấu để biểu diễn. Ví dụ như: Một mái chèo có thể tượng trưng cho một chiếc thuyền, hay một cái đuôi ngựa có thể tượng trưng cho một con ngựa…Diễn viên không cần bất kỳ một đạo cụ nào cũng có thể diễn đạt một cách hoàn hảo các động tác lên lầu, xuống lầu, mở cửa, đóng cửa…Các động tác này mặc dù có phần hơi khuyếch trương nhưng vẫn đem lại cho quần chúng cảm giác chân thực và tốt đẹp.
Diễn viên Kinh kịch được phân thành 4 vai diễn là: Sinh, Đán, Tịnh, Xú (vai hề):
– Vai diễn Sinh: người đảm nhiệm vai diễn này thường là các nhân vật nam, lại phân thành lão sinh, tiểu sinh, và vũ sinh. Các diễn viên nổi tiếng trong vai diễn này có Mã Liên Lương, Chu Tín Phương, Diệp Thịnh Lan, Lý Thiếu Xuân, Cái Khiếu Thiên…
– Vai diễn Đán: người đảm nhiệm cho vai diễn này thường là các nhân vật nữ, lại phân thành Thanh Y (tức nữ tì), Hoa Đán, Vũ Đán, Lão Đán. Các diễn viên được coi là diễn xuất sắc trong vai diễn này vào thế kỷ 20 của những năm 20 gồm có tứ đại danh Đán là: Mai Lan Phương, Trình Nghiêm Thu, Thượng Tiểu Vân, Tuệ Sinh.
-Vai diễn Tịnh: vai diễn Tịnh thể hiện trong vở diễn là người đàn ông có tính cách hào phóng thẳng thắn, người đóng vai này phải vẽ mặt phác họa vì thế vai này cũng được gọi là “Hoa Liễm”, những diễn viên Hoa Liễm nổi tiếng gồm có: Cầu Thịnh Nhung, Viên Thế Hải…
-Vai diễn Xú: lđảm nhiệm vai diễn này thường là một nhân vật nam , đây là một vai hề, vừa hài hước, hóm hỉnh, linh hoạt lại vừa giảo hoạt, ranh mãnh, nham hiểm. Diễn viên nổi tiếng trong vai này gồm có: Tiêu Trường Hóa, Mã Phú Lộc.
Cách hóa trang trong Kinh kịch cũng có những đặc điểm rất riêng. Cách hóa trang cho các vai diễn “Sinh”, “Đán” cần phải tô lông mày hoặc đeo lông mày giả, vẽ vòng mắt. Còn các vai diễn “Tịnh”, “Xú” thì cách hóa trang lại phải phụ thuộc vào tính cách của vai diễn trong vở kịch để phác họa, ví dụ nhân vật là người trung dũng thì vẽ mặt đỏ, còn nhân vật có tính cách gian trá thì phải vẽ mặt màu trắng.
Kinh kịch có rất nhiều kịch mục, hiện tại có khoảng 3800 vở. Trước mắt thường diễn ba loại chính là : kịch mang tính truyền thống, kịch lịch sử, và kịch hiện đại.
Kinh kịch được coi là tinh hoa trong các loại kịch của Trung Quốc, có ảnh hưởng khá lớn đến cả trong và ngoài nước. Hiện đã có rất nhiều lớp chuyên giảng dạy Kinh kịch cho người nước ngoài nữa rồi đấy các bạn ạ.
Và bây giờ thì mời các bạn thưởng thức đoạn kịch sau nhé:
Dưới đây là bài bài báo nhà thơ Vương Trọng vừa viết về bài thơ Lời Thỉnh Cầu ở Nghĩa Trang Đồng Lộc, mà anh viết năm 1995, khắc lên bia xi-măng năm 2002, mình dịch ra Anh ngữ năm 2005 (biên tập lại năm 2008), và khắc song ngữ lên bia đá tại Nghĩa Trang Đồng Lộc tháng 1 năm 2009.
Mình thăm Đồng Lộc tháng 5 năm 1995, trên một chuyến về thăm quê hương cụ Hồ tại Nghệ An, với một số Việt Kiều khác, do anh Nguyễn Ngọc Trân, trưởng Ban Việt Kiều Trung Ương tổ chức. Trên đường anh Trân cho xe ghé vào Đồng Lộc. Lúc đó mình hoàn toàn chẳng biết Đồng Lộc là gì cả.
Ấn tượng đầu tiên của mình là, đó là một vùng rất nghèo khổ, xác xơ, nóng đổ lửa… và nó làm cho mình có cảm giác buồn buồn vì cái nghèo của quê hương và cái khổ của dân quê. Mình vẫn luôn luôn như thế từ hồi 16, 17 tuổi.
Vào đến nơi, thấy mười ngôi mộ xi măng khiêm tốn nằm trên một ngọn đồi với vài bóng cây lưa thưa, giữa một vùng đồng khô cỏ cháy. Rồi từ từ hiểu chuyện, nhìn hố bom nơi các cô hy sinh, nhận biết rằmg các cô này cở tuổi mình hay có người chỉ sinh trước một hai năm, nhưng cuộc đời có quá nhiều khác biệt… làm cho mình thật là nhức nhối. Lúc đó mình “try to be connected” với các cô bằng cách nhờ anh Trân chụp một tấm ảnh mình ngồi bên cạnh một ngôi mộ. Tấm ảnh này có đăng trong báo Quê Hương (của Ban VKTW) sau chuyến đi đó.
Vì các cô trẻ mãi không già, cho nên mình luôn luôn có cảm tưởng các cô này là những người em gái bất hạnh của mình. Vì vậy, mình không quên các cô được những tháng năm sau đó. Hơn 10 năm sau, khi đọc nhật ký Đặng Thùy Trâm lần đầu, ý tưởng đầu tiên đến trong đầu mình là 10 cô gái Đồng Lộc.
Đến năm 2005, 10 năm sau khi anh Vương Trọng viết bài thơ và 3 năm sau khi nó được khắc vào bia xi măng, chị Diệu Ánh (admin của VNBIZ forum) trong một chuyến du hành trên quốc lộ Trường Sơn, ghé qua Đồng Lộc, thấy bài thơ, chụp và gởi cho mình. Mình dịch ngay ra tiếng Anh và post trên VNBIZ. Đây là bài thơ duy nhất mà mình ứa nước mắt rất nhiều lần trong khi dịch.
Đến đầu năm 2008 chị Diệu Ánh gặp chị Minh Lý, phóng viên Hà Tĩnh nhưng hiện sống ở Vũng Tàu, chị Minh Lý biết anh Vương Trọng. Thế là mình chỉnh sửa lại bài thơ một tí nữa rồi nhờ chị Diệu Ánh và Minh Lý chuyển đến anh Vương Trọng. Anh Vương Trọng nói chuyện với anh Thế Ban, sở Văn Hóa Thể Thao Hà Tĩnh. Sở quyết định khắc cả bài nguyên thủy lẫn bài dịch vào bia đá, thay bia xi măng đã hao mòn quá nhiều. Tháng giêng 2009, bia đá hoàn thành.
Mình đã viết một bài hồi tháng ba năm nay (2009) về bài thơ này để chia sẻ với các bạn. Hôm nay chúng ta nghe câu chuyện từ phía anh Vương Trọng. Bài này của anh Vương Trọng đã đăng trên Văn Nghệ Công An ngày 20 tháng 7 năm 2009.
Cám ơn anh Vương Trọng. Chúc các bạn một ngày vui.
Mến,
Hoành
.
Bài thơ song ngữ ở Nghĩa Trang Đồng Lộc
Vương Trọng
Vương Trọng
Từ khi Ngã ba Đồng Lộc trở thành khu di tích lịch sử của Thanh niên xung phong cả nước, khách tìm đến nơi này mỗi ngày một đông, đặc biệt là tầng lớp thanh niên, học sinh, sinh viên. Có người nói rằng, chỉ cần đến nơi này một lần, bài học về giáo dục truyền thống tự nhiên thấm vào người, và lớp trẻ có điều kiện để nhận thức được cái giá của độc lập, tự do.
Gần đây có nhiều bạn trẻ sau khi viếng thăm Ngã ba Đồng Lộc, ra Hà Nội có tìm gặp tôi để trò chuyện. Có người tôi quen biết từ trước, nhưng cũng có kẻ tôi mới được gặp lần đầu. Nguyên nhân là vì một bài thơ của tôi đã được khắc đá và dựng lên ở nghĩa trang này. Hơn nữa, bài thơ đó lại được dịch ra tiếng Anh, khắc trên tấm bia đá cao 2,5 mét, rộng 1 mét, mặt này là bài thơ Lời thỉnh cầu ở nghĩa trang Đồng Lộc của tôi, mặt kia là bản dịch của ông Trần Đình Hoành, một Việt kiều ở Mỹ. Bởi vậy tôi muốn có đôi lời tâm sự với bạn đọc về chuyện này. Đài tưởng niệm Đồng Lộc
Mùa hè năm 1995, lần đầu tôi đến thăm nghĩa trang Mười cô gái Ngã ba Đồng Lộc. Mặc dù mười cô gái đã hy sinh trước đó 27 năm trời, thế nhưng khi đứng lặng trước hố bom đã giết các cô, khi thắp hương lần lượt cắm lên mười nấm mộ, cũng như khi chứng kiến những kỷ vật các cô để lại…, tôi tự nhủ phải viết một cái gì đấy để giải tỏa nỗi xúc động. Bút ký, tuỳ bút cũng có thể chuyển tải được cảm xúc này, nhưng vì trong đoàn còn có nhà văn Xuân Thiều, nhà văn Nam Hà, nên tôi nghĩ nên “nhường” văn xuôi cho hai vị cao niên này. Bởi thế trước mắt tôi chỉ còn một cửa hẹp là thơ.
Nhưng thơ về Đồng Lộc cũng không phải dễ, vì trước đó đã có nhiều người viết rồi, có bài khá nổi tiếng như của nhà thơ Huy Cận. Thế thì mình phải viết thế nào để không bị chìm lấp bởi những bài đã có. Sự hy sinh cùng một lúc của mười cô gái trẻ khi đang san lấp hố bom làm mọi người cảm động, nên khi nào trên mười ngôi mộ cũng có thật nhiều hương khói. Khi cắm những nén hương đang cháy lên mộ các cô, tôi tự hỏi, nếu mười cô gái hiển linh, họ sẽ nghĩ thế nào? Bức ảnh cuối cùng của 10 cô gái Ngã ba Đồng Lộc (Nhiếp ảnh gia Văn Sắc)
Qua tài liệu thu thập được, tôi biết số người hy sinh ở ngã ba này thật nhiều, riêng Trung đoàn phòng không 210 đã có 112 liệt sĩ đã hy sinh khi bảo vệ mảnh đất này. Thế mà họ không có bia mộ để thắp hương, bởi thịt xương họ đã hoà trộn vào đất. Thế là cái ý tưởng dùng lời mười cô gái trò chuyện với các đoàn khách thăm viếng được nẩy sinh, và tôi thấy thuận lợi khi muốn chở ý tưởng: mọi chính sách, chế độ đối với những người đã hy sinh, nghĩ cho cùng là vì những người đang sống. Bởi vậy, xây dựng cho cuộc sống ấm no, hạnh phúc cũng là một cách thể hiện sự biết ơn đối với các liệt sỹ đã hy sinh.
Bài thơ có bốn khổ thì ba khổ đầu là lời mười liệt sĩ nhắc người đến nghĩa trang nên nhớ thắp hương cho những liệt sĩ mà thân xác đã tan trong đất, khuyên các em nhỏ nên trồng cây, các bạn cùng trang lứa cố gắng sản xuất. Còn các cô chỉ ước có vài cây bồ kết…
Bài thơ tôi viết và in lần đầu vào năm 1995, đến năm 1998 lại xuất hiện trong tuyển tập thơ về Đồng Lộc. Điều đáng nói là tập thơ này đã đến tay anh Nguyễn Tiến Tuẫn, là một trong ba anh hùng ở Đồng Lộc, thời mà mười cô gái hy sinh, anh đang phụ trách đơn vị Cảnh sát giao thông ở trọng điểm ác liệt này. Anh bảo rằng, anh bị bài thơ ám ảnh, và tự đặt cho mình phải làm một việc gì đó để giải toả sự ám ảnh này. Việc anh làm là lên huyện Hương Sơn tìm hai cây bồ kết con để đáp ứng lời thỉnh cầu của mười cô gái: ” Thỉnh cầu đất cằn cỗi nghĩa trang/ Cho mọc dậy vài cây bồ kết/ Hương chia đều trong hư ảo khói nhang”. Hai cây bồ kết anh trồng rất cẩn thận, hố đào to, phân tro nhiều nên tốt rất nhanh.
Bốn năm sau, năm 2002 thì hai cây bồ kết đã cao tới ba, bốn thước; cây lớn vào mùa thu đã nở hoa. Một lần trở lại thăm nghĩa trang đúng lúc gặp một đoàn khách, biết anh là người đã trồng hai cây bồ kết này, mọi người rất cảm phục và hỏi anh từ ý nghĩ nào mà làm được việc hết sức độc đáo và tuyệt vời này? Anh trả lời là từ cảm xúc một bài thơ, thế là họ hỏi anh có nhớ bài thơ đó không. Anh nói rằng bài thơ đó anh đã thuộc, nhưng không quen đọc thơ trước đám đông, anh hứa với họ là nếu lần sau quay lại thì thế nào cũng được đọc bài thơ đó ở đây. Mọi người nghe, kể cả người giới thiệu khu di tích, ai cũng nghĩ anh nói thế cho qua chuyện, ai ngờ anh bắt đầu ý định khắc bài thơ ấy lên đá. Điều trước tiên là phải liên hệ với Tỉnh đoàn Hà Tĩnh, đơn vị phụ trách khu di tích này. Nghe anh trình bày ý định khắc đá bài thơ đó, mọi người tán thành và coi đây là một việc làm văn hoá. Thế là chiều ngày 14 tháng 8 năm 2002, bia đá cỡ 80cm . 40cm với bài thơ 25 câu chia thành bốn khổ, được khắc sâu và tô màu sơn vàng rất dễ đọc đã dựng lên cạnh hai cây bồ kết bên nghĩa trang Mười cô gái Ngã ba Đồng Lộc. 10 Mộ
Mấy năm năm nay, nhiều tờ báo đã đăng bài về chuyện này, và có nhiều bài đã gây xúc động người đọc. Ông Trịnh Xuân Tòng là cán bộ giảng dạy trường đại học Cần Thơ, đã nghỉ hưu; sau khi đọc bài báo của Ngô Vĩnh Bình nói về chuyện bài thơ và hai cây bồ kết, ông đã bỏ công mấy tuần liền để vẽ một bức tranh cỡ lớn với nhan đề : Múa dưới trăng, nỗi vui mừng khi có cây bồ kết . Trong bức tranh, ông đã vẽ mười cô gái liệt sĩ ở ngã ba Đồng Lộc, khi trăng lên đã cùng nhau nhảy múa, năm cô leo lên cây, năm cô múa trên đất. Trong bức tranh lớn đó, ông trích bốn câu thơ làm đề từ:
Ngày bom vùi, tóc tai bết đất
Nằm xuống mộ rồi, mái đầu chưa gội được
Thỉnh cầu đất cằn cỗi nghĩa trang
Cho mọc dậy vài cây bồ kết…
Đặc biệt hơn, ông còn viết một bức thư cảm động Gửi mười em gái ngã ba Đồng Lộc. Bức tranh và bức thư này, báo QĐND đã giới thiệu trong số đặc biệt ra ngày 22- 12- 2002.
Gần đây tôi có dịp trở lại Đồng Lộc. Khác hẳn với quang cảnh tôi đã chứng kiến năm 1995, bây giờ ở khu di tích Đồng Lộc, đường sá rộng rãi, nhà cửa xây dựng khang trang, và đặc biệt cây cối quanh vùng tươi xanh như một vùng du lịch sinh thái. Không còn những vạt “cỏ may khâu nặng ống quần” khách đến thăm, không còn đồi Trọ Voi trọc lóc, lở lói. Nhiều cảnh tôi nhắc đến trong bài thơ đã lạc hậu so với bây giờ. 10 Cô
Đồng chí giới thiệu khu di tích hướng dẫn đoàn chúng tôi đi thắp hương trên từng nấm mộ và đốt những quả bồ kết khô. Mấy năm nay, nhiều đoàn khách đến thăm khu di tích này thường đem theo những chùm quả bồ kết khô để đốt sau khi thắp nhang. Người đầu tiên đốt bồ kết ở đây là nhà văn Nguyễn Thế Tường, quê Quảng Bình, công tác tại Tuần báo Văn nghệ. Tháng 10 năm 2002, anh Tường gặp tôi ở Tuần báo Văn nghệ, khi anh sắp vào nghĩa trang Đồng Lộc, anh hỏi tôi có nhắn gì không. Tôi nói rằng, hai cây bồ kết mới ra hoa nhưng chưa có quả, tôi muốn nhờ anh mua hộ tôi một chùm bồ kết, vào đó đốt để viếng mười cô gái. Anh đã làm thế, và ngạc nhiên, khi vừa đốt mấy quả bồ kết thì bát hương lớn bỗng hoá, cháy bùng lên, làm mọi người ngạc nhiên và anh gọi điện cho tôi ngay. Ngẫu nhiên hay tâm linh? Anh bảo rằng mọi người có mặt hôm đó, kể cả những người quản lý khu di tích, không ai nghĩ là ngẫu nhiên.
Tôi tới bia đá khắc bài thơ của mình thì thấy có nhiều em sinh viên đang xúm xuýt mở sổ chép thơ. Biết tôi là tác giả, nhiều em xin chụp ảnh lưu niệm và hỏi chuyện quanh bài thơ. Bằng vi tính, nét chữ khắc đẹp, chỉ tiếc cắt khổ phần đầu không thật chính xác, vì bài thơ của tôi gồm bốn khổ, khổ đầu sáu câu chứ không phải bốn câu như đã khắc. Tương đài Đồng Lộc, khi còn hoang vu, tháng 5 năm 1995, khi TĐH đến thăm
Sau đó không lâu, trong đoàn Việt kiều Mỹ về nước đến viếng nghĩa trang Đồng Lộc, có ông Trần Đình Hoành, một luật sư nhưng ham mê văn học, người đã từng dịch nhiều bài thơ của các nhà thơ Việt Nam ra tiếng Anh, xuất bản ở Mỹ. Ông xúc động khi đọc bài thơ “Lời thỉnh cầu ở nghĩa trang Đồng Lộc” và muốn truyền sự xúc động đó cho du khách nước ngoài nên đã dịch bài thơ này. Giám đốc sở Văn hoá và Du lịch Hà Tĩnh là nhà văn Đức Ban, người rất hiểu tác dụng của thơ văn vào cuộc sống, đã cho bài thơ và bản dịch đó hiển hiện lên bia đá như các bạn đã thấy vào sáng 17 tháng giêng năm 2009.
Nhân đây tôi chép lại bản tiếng Việt và tiếng Anh đã khắc trên hai mặt bia đó.
Ô. Trương Tấn Sang, Bộ Chính Trị, trong lễ khánh thành bia đá
Lời thỉnh cầu ở nghĩa trang Đồng Lộc
– Mười bát nhang, hương cắm thế đủ rồi
Còn hương nữa hãy dành phần cho đất
Ngã xuống nơi này đâu chỉ có chúng tôi
Bao xương máu mới làm nên Đồng Lộc
Lòng tưởng nhớ xin chia đều khắp
Như cỏ trong thung, như nắng trên đồi.
– Hoa cỏ may khâu nặng ống quần, kìa
Ơi các em tuổi quàng khăn đỏ
Bên bia mộ xếp hàng nghiêm trang quá
Thương các chị lắm phải không, thì hãy quay về
Tìm cây non trồng lên đồi Trọ Voi và bao vùng đất trống
Các chị nằm còn khát bóng cây che.
– Hai mươi bảy năm qua, chúng tôi không thêm một tuổi nào
Ba lần chuyển chỗ nằm, lại trở về Đồng Lộc
Thương chúng tôi, các bạn ơi, đừng khóc
Về bón chăm cho lúa được mùa hơn
Bữa ăn cuối cùng, mười chị em không có gạo
Nắm mì luộc chia nhau rồi vác cuốc ra đường.
– Cần gì ư ? Lời ai hỏi trong chiều
Tất cả chưa có chồng và chưa ngỏ lời yêu
Ngày bom vùi tóc tai bết đất
Nằm xuống mộ rồi, mái đầu chưa gội được
Thỉnh cầu đất cằn cỗi nghĩa trang
Cho mọc dậy vài cây bồ kết
Hương chia đều trong hư ảo khói nhang.
Đồng Lộc, 5 – 7- 1995
Vương Trọng
.
Học sinh trường THCS Đồng Lộc A Request at Dong Loc Cemetery
That’s enough for ten bowls
The rest of incense, let’s save for others
We’re not the sole fallen ones
So much blood and bone was spent for Dong Loc
Memories, let’s spread evenly
Like grass in the valley, sunlight on the hill.
Look! Tongue-grass buds cling to the pants!
O you red-scarfed children standing straight by the tombs
You love us so much, don’t you?
Then, go home, find little plants
Plant them on Tro Voi Hill and on these bare lands
We’re so thirsty longing for some tree shades!
Twenty-seven years have passed, we haven’t grown a day
Three times changing bed, we’re now back in Dong Loc
Friends, if you love us, don’t cry!
Go back and tend the rice for better harvest
The last meal we ten had no rice
Just a handful of cassava, then out with hoes we went.
Our needs? One afternoon someone has asked
We’re not yet married and haven’t got a chance to love
When the bomb buried us all, our hair was enmeshed in dust
Lying here in these tombs, we haven’t got a chance to wash our hair
We ask that on the parched ground of this cemetery
Someone would grow some carob trees
That spread fragrance evenly in the ethereal incense smoke…
Dong Loc July 5, 1995
VUONG TRONG
Translated by TRAN DINH HOANH
( A Vietnamese Resident in The USA)
Khmer rock là một phối hợp hấp dẫn giữa âm thanh và nhạc cụ truyền thống của Khmer với âm thanh, nhịp điệu, và khí cụ tân thời. Theo Saraj Cuddon của BBC thì Khmer rock là phối hợp giữa nhạc rock Mỹ và nhạc cụ Khmer thời thập niên 1960’s khi quân đội Mỹ có mặt ở Kampuchia trong thời chiến tranh. Loại nhạc này phát triển được 10 năm, đến thời Khmer đỏ (1975-1979) thì nó bị tận diệt cùng với các nhạc sĩ và ca sĩ thời đó. Ngày nay có sống lại với đầy đủ sắc thái riêng.
Bên cạnh các ban nhạc rock ở Kampuchia, tại Los Angeles (California, Mỹ) có ban nhạc Dengue Fever mang Khmer Rock đến khán giả quốc tế.
Tháng 11 năm 2006, trong vòng đi Á châu của mình, mình có ghé qua Kampuchia (và Sài Gòn & Hà Nội). Thăm bảo tàng viện diệt chủng Pol Pot, thực sự là buồn. Các bạn à, cái tâm con người mong manh lắm, từ thiên thần ta thành ác quỉ chỉ một bước, và có thể là chỉ trong phút giây. Cho nên ta phải canh giữ tâm mình kỹ lưỡng, như người chăn trâu trong thập nhị ngưu đồ.
Xem các videos Khmer rock ngày nay, chúng ta có thể cảm nhận được lòng tự hào của các anh em Khmer của chúng ta. Dưới đây, hai videos đầu là của Dengue Fever ở Los Angeles, hai video sau là của hai nhóm rock ở Kampuchia.
Mời các bạn thưởng thức.
Hoành
.
Dengue Fever — Seeing hands
.
Dengue Fever — Sleeping Walking Through The Mekong
Cho đến năm 2007, CPDRC ở Cebu, Phi Luật Tân, là nhà tù với những tù nhân nguy hiểm nhất nước Phi. Hơn hai phần ba tù nhân ở CPDRC có án giết người, cướp, hiếp dâm hay ma túy.
Nhờ lớp vũ 4 tiếng một ngày, ngày nay các tù nhân CPDRC thành đội vũ nhà tù nỗi tiếng nhất thế giới. Và các tù nhân trở thành vui vẻ hiền từ.
Mỗi thứ bảy cuối tháng, đội vũ này biểu diễn hai lần trước sân Tòa Thống Đốc Cebu cho mọi người xem, không tính tiền 🙂
Chương trình vũ này là sáng kiến của Quản Đốc nhà tù Byron F. Garcia, được bà chị là thống đốc bang Cebu cho chức quản đốc. Nhiệm vụ của quản đốc Garcia là làm sạch sẽ nhà tù, dù là ông chẳng có tí kinh nghiệm nào với trại tù hay tù nhân cả. Việc trước tiên ông làm là tách riêng các đại gia xếp xòng các bằng đảng trong tù, không cho ở chung với đại đa số tù nhân. Sau đó ông quan sát tù nhân và cảm thấy là họ thích nhảy, thế là có lớp nhảy cho tất cả hơn 1.500 tù nhân, 4 tiếng một ngày.
Ngày nay đoàn vũ này có đến mấy mươi triệu người trên thế giới xem trên Youtube.
Mong là các nhà tù Việt Nam cũng sẽ có những sáng kiến tương tự.
Sau đây mời các bạn thưởng thức các màn vũ của Các Tù Nhân CPDRC. Video cuối cùng là phim tài liệu nói về chương trình này. 🙂
.
Thriller (Michael Jackson)
.
Do the Hustle
.
Jump
.
Black Eyed Peas
.
Soulja Boys
.
Đây là phim tài liệu nói về đoàn vũ Tù Nhân CPDRC.
.
Các links sau đây là các màn trình diễn của tù nhân CPDRC, nhưng phải xem trực tiếp trên Youtube. Mời các bạn click vào link.
Simon & Garfunkel là đôi song ca – nhạc sĩ người Mỹ lừng danh của ban nhạc Paul Simon và Art Garfunkel. Simon and Garfunkel, thành danh vào thập niên 60 như những người tiên phong trong việc khiến folk rock được vinh danh và trở thành loại hình âm nhạc được yêu mến qua những bản nhạc rock đậm đà chất dân ca của họ.
Paul Frederic Simon sinh 13 tháng 10, 1941 tại Newark, New Jersey. Art Garfunke sinh ngày 5 – 11- 194 tại Forest Hills, thành phố New York. Paul Simon & Art Garfunke đều lớn lên tại Kew Gardens, Queens, New York. Là bạn học thời trung học, ngay từ lớp 6, họ đã khám phá rằng họ có thể hát chung rất hay. cả hai bắt đầu đi hát từ năm 1955 cho các ban nhạc; đến năm 1957 họ đã thành các ngôi sao ca hát địa phương. Bản nhạc thành công đầu tiên do họ sáng tác là “Hey, Schoolgirl” và sau đó họ được mời thu âm cho Big Records. Tốt nghiệp trung học họ chia tay nhau.
Thời gian sau đó, Paul viết nhạc, trong khi Art vào đại học ngành Toán và trong thời kỳ học đại học có thu âm cho Octavia Records. Art Garfunkel có một bằng Thạc sĩ Toán học. Năm 1963, Paul and Art cùng thu âm cho CBS Records ở New York dưới tên Simon & Garfunkel. Những bản nhạc nổi tiếng của họ phần lớn do Simon viết bao gồm những ca khúc top hits như The Sound of Silence, The Boxer, Mrs. Robinson và Bridge Over Troubled Water. Bài hát “Mrs. Robinson’” nhạc chính trong bộ phim thành công vang dội The Graduate (1967) đã đem đến danh vọng cho họ như những ngôi sao quốc tế.
Bộ đôi nổi tiếng về nghệ thuật hòa âm và biểu diễn rất hợp ý với nhau. Chất giọng vocal thiên phú của Art trong những bài “Scarborough Fair/Canticle” and “For Emily, Wherever I May Find Her” hòa quyện với các giai điệu và lời ca đầy cảm xúc, tha thiết và mượt mà, cùng với nghệ thuật đối âm của Simon đã lôi cuốn bao nhiêu fan hâm mộ.
Tuy nhiên đến năm 1969, cùng với những chuyến lưu diễn liên miên, trở về mệt mỏi và căng thẳng, mối quan hệ của bộ đôi đã không còn đẹp như xưa vì những bất đồng nghệ thuật. Art bắt đầu say mê điện ảnh.
Năm 1970, khi đang ở đỉnh cao của sự nổi tiếng, nhóm nhạc tan rã. Art tiếp tục làm phim trong khi Paul theo đổi sự nghiệp âm nhạc sô lô hết sức kiên trì. Cả hai gặt hái thành công riêng ở những mức độ khác nhau. Simon bắt đầu một sự nghiệp sô lô thành công sau đó, đỉnh cao là album Graceland ra đời năm 1986 với những thử nghiệm về âm nhạc châu Phi. Nhưng rồi tình yêu nghệ thuật lại gắn kết họ lại. Họ đã tái kết hợp nhiều lần từ sau cuộc chia tay năm 1970 , đáng kể nhất là Cuộc Biểu Diễn Live ngoài trời ở công viên trung tâm của New York năm 1981 thu hút đến 750.000 khán giả.
Hai người không biểu diễn lại cùng nhau cho tới năm 1993, khi họ kết hợp với nhau trong một loạt các chương trình hòa nhạc ở New York. Họ tái hợp tại Lễ trao giải Grammy năm 2003 – Cả hai song ca bài The Sound of Silence , đó là màn trình diễn trước công chúng đầu tiên của họ sau 10 năm. Năm 2003 họ lại có chương trình hòa nhạc lưu diễn Mỹ đầu tiên đến 28 thành phố sau hơn 20 năm lấy tên là Bạn Cũ (Old Friends) . Kết quả là họ ra được album 2004 live cùng tên Old Friends
Bộ đôi nghệ sĩ này đã đạt được nhiều giải Grammy, và được ghi tên vào Đại sảnh Danh Vọng Rock & Rock năm 1990, đại sảnh Danh Vọng của Long Island năm 2007 và nhiều giải thưởng lớn khác. Năm 2004, Rolling Stone xếp bộ đôi này hạng 40 trong danh sách 100 nghệ sĩ vĩ đại nhất mọi thời đại.
Những nhạc phẩm đầy chất thơ với ca từ trữ tình mà mộc mạc dân dã của Simon đã được dư luận và các nhà phê bình khen ngợi và dành được những thành công thương mại rất đáng kể trong bốn thập kỉ.
Cũng sẽ là một thiếu sót lớn mất đi rất nhiều sức truyền cảm và rung động và của những bản nhạc ấy nếu không có chất giọng thiên thần cao vút của Garfunkel. Do đó mà bộ đôi này được giới trẻ chấp nhận như những nghệ sĩ được mến mộ nhất , trong khi những người lớn tuổi hơn lại yêu thích sự sâu sắc và kinh lịch của họ trên sân khấu. Như thế sự nghiệp âm nhạc của bộ đôi nghệ sĩ này chắc chắn sống mãi với thời gian trong lòng những người yêu nhạc folk rock.
Sau đây mời các bạn nghe 7 bản nhạc nổi tiếng qua các thời kỳ của Simon & Garfunkel :
Are You Going To Scarborough Fair? ; The Sound of Silence ; Bridge Over Troubled Water; Old Friends; April Come She Will; El Condor Pasa (If I Could) và For Emily Whenever I May Find Her
Thân chúc các bạn có được nhiều niềm vui, ngoài niềm vui âm nhạc cho mỗi ngày trong đời bạn 🙂
I. Simon and Garfunkel – Are You Going To Scarborough Fair?
Are you going to Scarborough Fair?
Parsley, sage, rosemary & thyme
Remember me to one who lives there
She once was a true love of mine
Tell her to make me a cambric shirt
(On the side of a hill in the deep forest green)
Parsely, sage, rosemary & thyme
(Tracing a sparrow on snow-crested ground)
Without no seams nor needlework
(Blankets and bedclothes a child of the mountains)
Then she’ll be a true love of mine
(Sleeps unaware of the clarion call)
Tell her to find me an acre of land
(On the side of a hill, a sprinkling of leaves)
Parsely, sage, rosemary, & thyme
(Washed is the ground with so many tears)
Between the salt water and the sea strand
(A soldier cleans and polishes a gun)
Then she’ll be a true love of mine
Tell her to reap it in a sickle of leather
(War bellows, blazing in scarlet battalions)
Parsely, sage, rosemary & thyme
(Generals order their soldiers to kill)
And to gather it all in a bunch of heather
(And to fight for a cause they’ve long ago forgotten)
Then she’ll be a true love of mine
Are you going to Scarborough Fair?
Parsley, sage, rosemary & thyme
Remember me to one who lives there
She once was a true love of mine.
2. The Sound of Silence (Live 2003)
Hello darkness, my old friend,
I’ve come to talk with you again,
Because a vision softly creeping,
Left its seeds while I was sleeping,
And the vision that was planted in my brain
Still remains
Within the sound of silence.
In restless dreams I walked alone
Narrow streets of cobblestone,
‘Neath the halo of a street lamp,
I turned my collar to the cold and damp
When my eyes were stabbed by the flash of a neon light
That split the night
And touched the sound of silence.
And in the naked light I saw
Ten thousand people, maybe more.
People talking without speaking,
People hearing without listening,
People writing songs that voices never share
And no one dared
Disturb the sound of silence.
“Fools” said I, “You do not know
Silence like a cancer grows.
Hear my words that I might teach you,
Take my arms that I might reach you.”
But my words like silent raindrops fell,
And echoed
In the wells of silence.
And the people bowed and prayed
To the neon god they made.
And the sign flashed out its warning,
In the words that it was forming.
And the sign said, the words of the prophets are written on the subway walls
And tenement halls.
And whisper’d in the sounds of silence.”
3. Bridge Over Troubled Water (Live 1969)
When you’re weary; feeling small,
When tears are in your eyes, I will dry them all;
I’m on your side oh when times get rough
And friends just can’t be found.
Like a bridge over troubled water
I will lay me down.
Like a bridge over troubled water
I will lay me down.
When you’re down and out;
when you’re on the street;
when evening falls so hard
I will comfort you.
I’ll take your part
oh when darkness comes.
And pain is all around.
Like a bridge over troubled water
I will lay me down
Like a bridge over troubled water
I will lay me down
Sail on silvergirl;
sail on by.
Your time has come to shine.
All your dreams are on their way.
See how they shine.
Oh if you need a friend
I’m sailing right behind.
Like a bridge over troubled water
I will ease your mind
Like a bridge over troubled water
I will ease your mind.
4. Old Friends
Old friends, old friends,
Sat on their parkbench like bookends
A newspaper blown through the grass
Falls on the round toes
of the high shoes of the old friends
Old friends, winter companions, the old men
Lost in their overcoats, waiting for the sunset
The sounds of the city sifting through trees
Settle like dust on the shoulders of the old friends
Can you imagine us years from today,
Sharing a parkbench quietly
How terribly strange to be seventy
Old friends, memory brushes the same years,
Silently sharing the same fears
5. April Come She Will
April come she will
When streams are ripe and swelled with rain;
May, she will stay,
Resting in my arms again.
June, she’ll change her tune,
In restless walks she’ll prowl the night;
July, she will fly
And give no warning to her flight.
August, die she must,
The autumn winds blow chilly and cold;
September I’ll remember
A love once new has now grown old.
6. El Condor Pasa (If I Could) (Live At Acer Arena, Sydney, 2009)
I’d rather be a sparrow than a snail
Yes I would, if I could, I surely would
I’d rather be a hammer than a nail
Yes I would, if I only could, I surely would
Away, I’d rather sail away
Like a swan that’s here and gone
A man gets tied up to the ground
He gives the world its saddest sound
Its saddest sound
I’d rather be a forest than a street
Yes I would, if I could, I surely would
I’d rather feel the earth beneath my feet
Yes I would, if I only could, I surely would
7. For Emily Whenever I May Find Her
What I dream I had:
Pressed in organdy;
Clothed in crinoline of smoky Burgundy;
Softer than the rain.
I wandered empty streets
Down past the shop displays.
I heard cathedral bells
Tripping down the alley ways,
As I walked on.
And when you ran to me
Your cheeks flushed with the night.
We walked on frosted fields of juniper and lamplight,
I held your hand.
And when I awoke and felt you warm and near,
I kissed your honey hair with my grateful tears.
Oh I love you, girl.
Oh, I love you.
Văn học thời Đường được coi là đỉnh cao của nền văn học Trung Quốc. Đặc biệt thơ ca cổ điển trong giai đoạn này phát triển đến mức tột đỉnh, và được coi là thời đại hoàng kim của thơ ca Trung Quốc. Trong lịch sử hơn 300 năm của nhà Đường, đã có hơn 48900 tác phẩm thơ ca được viết và lưu truyền đến tận ngày nay. Một lượng lớn các tác phẩm đó cũng đã làm hơn 2300 thi nhân được ghi danh trong sử sách. Ý tưởng được gửi gắm vào trong thơ của Đường thơ chủ yếu là kết hợp chủ nghĩa thực tiễn và chủ nghĩa lãng mạn, về hình thức có các dạng:
– Thất ngôn tứ tuyệt (tức bài thơ có bốn câu, mỗi câu bảy chữ, thực chất là một bài “thất ngôn bát cú” đem bỏ đi bốn câu đầu hoặc bốn câu cuối tạo thành),
– Ngũ ngôn tứ tuyệt (tức bài thơ có bốn câu, mỗi câu năm chữ, được biến thể từ bài thất ngôn tứ tuyệt: bỏ đi hai chữ đầu ở mỗi câu),
– Ngũ ngôn bát cú (tức bài thơ có tám câu, mỗi câu năm chữ, được biến thể từ bài thất ngôn bát cú: bỏ hai chữ đầu ở mỗi câu mà thành).
Trong đó thất ngôn bát cú được coi là dạng thơ chuẩn, và các dạng còn lại được coi là thơ biến thể.
Các thi nhân nổi tiếng vào thời Đường chủ yếu là Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị, Vương Duy, Lý Hạ, Đỗ Mục…. Do chịu ảnh hưởng của các luồng tư tưởng khác nhau (Nho giáo, Đạo giáo, hay Phật giáo), do đó phong cách Làm thơ của các nhà thơ đời Đường cũng rất khác nhau. Thơ của Lý Bạch thì mang phong cách phóng túng, còn Đỗ Phủ và Bạch Cư Dị thì lại theo khuynh hướng hiện thực kết hợp với trữ tình nhiều hơn.
Thơ Đường súc tích, đa dạng, phong phú, không chỉ nói lên được tâm tình, khát vọng của bản thân mà còn vẽ lên được những thực hiện đời sống lúc bấy giờ.
Lý Bạch
Lý Bạch
Theo sử sách ghi lại thì Lý Bạch là hậu duệ của tướng quân Lý Quảng (thời nhà Hán), sinh năm 701 tại Lũng Tây trong một gia đình khá giả, ngay từ nhỏ ông đã cùng cha của mình đi ngao du khắp nơi, được chứng kiến cuộc sống vất vả của người dân nghèo, vì thế trong ông hình thành tư tưởng không thích trốn quan trường và đến năm 16 tuổi ông đã chọn cuộc sống ẩn trên núi Đái Thiên.
Được 2 năm ông lại xuống núi và bắt đầu cuộc hành trình viễn du của mình dòng giã suốt 3 năm trời, khi đến Vân Mông ông đã cưới cháu gái của Hứa tướng, và cũng từ đó tiếng tăm thơ ca của ông đã vang rộng khắp nơi.
Đến năm 745 ông được người bạn thơ tiến cử vào cung để làm thơ hầu vua, nhưng được một thời gian do cách sống say xỉn, phóng túng ham chơi của mình ông đã bị mọi người trong triều ghét bỏ và thường nói xấu sau lưng, thấy vậy ông đã tự nguyện rời cung và tiếp tục cuộc sống ngao du đây đó khắp nơi.
Khoảng chừng 10 năm, sau đó ông lại về núi Lư ở ẩn. Được một thời gian ông lại về phủ của Vương Lân sống, do Vương Lân làm phản nên Lý Bạch cũng bị liên lụy và bị băt theo, ông đã bị đi đày khắp các vùng Động Đình, Tam Giác…sau đó được tha và đến năm 762 do tuổi già, sức yếu ông đã qua đời tại Đang Đồ.
Lý Bạch được người đời đặt danh là “诗仙” tức “Thi Tiên”. Ông là một người phóng khoáng, sôi nổi, nhiệt tình, tài hoa nhưng lại có phần gàn dở. Thơ ca của ông khí phách hào hùng nhưng lại rất phóng khoáng, ông thích dùng những từ ngữ sôi nổi để ca tụng phong cảnh núi non hùng vĩ của tổ quốc. Hiện các tác phẩm thơ ca của ông còn được lưu giữ khoảng hơn 990 bài, trong đó bài (Sắp mời rượu), (Hành lộ nan), (Tĩnh dạ tứ)…là những bài thơ tiêu biểu của ông và được mọi người truyền tụng.
Mời các bạn thưởng thức bài Tĩnh dạ tứ của Lý Bạch:
Tĩnh dạ tứ
Đầu giường rọi ánh trăng soi,
Làm ta cứ ngỡ như là màn sương.
Ngẩng đầu trăng sáng như gương,
Cúi đầu sao nhớ quê hương ngàn trùng.
.
(Bản dịch của Nguyễn Dương)
Đỗ Phủ
Đỗ Phủ
Cùng với Lý Bạch và Bạch Cư Dị, Đỗ Phủ cũng là một trong những nhà thơ vĩ đại của Trung Quốc vào thời Đường. Ông được người đời mệnh danh là “诗圣” tức “Thư thánh”. Ông sinh năm 712 mất năm 770, xuất thân trong một gia đình quý tộc nhưng đã sa sút. Là một người ham học, có trí làm quan nên ông đã nhiều lần tới kinh đô để dự thi, nhưng đều không đỗ. Đến năm 755 Loạn An Lộc Sơn xảy ra khiến cho cuộc sống của ông phiêu bạt khắp nơi.
Ông đã tận mắt chứng kiến cảnh chết chóc, nạn đói và những ngược đãi bất công của xã hội, do đó trong thơ của ông luôn thể hiện những đồng cảm về cuộc sống thống khổ của người dân và phản ánh những hiên thực bất công của xã hội lúc bấy giờ. Thơ của ông vào thời đó không được đánh giá cao lắm nhưng đến thế kỷ thứ 9 thì thơ của ông dần dần được chú ý và đến thế kỷ thứ 11 thì lên tới mức cực điểm. Hiện các tác phẩm của ông còn được lưu giữ khoảng hơn 1400 bài, trong đó tiêu biểu là các bài (Binh xa hành), (Xuân vọng), (Tam biệt), (Tam lại)…
Mời các bạn thưởng thức bài Xuân vọng của Đỗ PHủ:
Đổ Phủ
Xuân Vọng
Nước tàn sông núi còn đây;
Thanh xuân cây cỏ mọc đầy khắp nơi.
Cảm thời hoa cũng lệ rơi;
Chim kia cũng sợ hận người lìa tan.
Lửa phong ba tháng lan tràn;
Thư nhà đưa đến muôn vàng chắt chiu
Xoa đầu tóc bạc ngắn nhiều,
So le lởm chởm khó điều cài trâm.
.
Tháng trước đã có một bạn trẻ đề nghị Nhạc Xanh giới thiệu Richard Clayderman. Hôm nay, để thay đổi không khí chúng ta sẽ nghe nhạc sĩ Richard Clayderman với ngón đàn piano được rất nhiều fan của ông khen là tài hoa. Richard Clayderman tên khai sinh là Philippe Pagès, sinh ngày 28 tháng 12 năm 1953 tại Paris, Pháp. Ông là một nghệ sĩ dương cầm nổi tiến, đã phát hành rất nhiều album nhạc, trong đó có các nhạc phẩm của Beethoven, Liszt, Chopin và Mozart. Richard Clayderman cũng được biết đến bởi khả năng diễn xuất tuyệt vời những bản nhạc pop được nhiều người ưa chuộng như Yesterday, The Sound of Silence và Memory.
Từ khi còn rất bé, Clayderman đã theo học đàn piano với cha vốn là một giáo viên dạy đàn piano. Năm 12 tuổi, Clayderman được nhận vào trường Âm nhạc Paris, tại đây ông trở thành nổi tiếng vào những năm trưởng thành.Gặp nhiều khó khăn về tài chính, ít nhất cũng bị thúc bách từ bệnh tật của người cha và cản trở sự nghiệp đầy hứa hẹn của một nghệ sĩ piano cổ điển.. Vì thế để kiếm sống , Clayderman vừa làm nhân viên ngân hàng vừa làm người đệm đàn trong các ban nhạc đương thời. Ông đệm đàn cho các ca sĩ nhạc Pop nổi tiếng của Pháp là Johnny Hallyday, Thierry Leluron, và Michael Sardou.
Năm 1976, ông được Olivier Toussaint, một nhà sản xuất đĩa ghi âm người Pháp và đối tác là Paul de Senneville đề nghi thu âm một bản ballad chơi với piano thật êm dịu, để tặng cho cô con gái sơ sinh tên là Adeleine của Senneville. Và khi chơi thử cùng 20 chàng nghệ sĩ piano khác, chàng trai trẻ Clayderman 23 tuổi được chọn vì “ trông rất đẹp trai, một nghệ sĩ có tài bấm phím thật nhẹ nhàng với kỹ thuật cao”, theo lời của Toussaint. Bản Ballad Pour Adeline bán được 22 triệu bản ở 38 nước. Ông đổi sang tên Richard Claydeman, họ của bà cố để tránh phát âm sai tên ông ở ngoài Pháp.
Ông sống ở Normandy với vợ Christine, con trai Peter, và con gái Maud.
Mặc dù được đào tạo để trở thành nghệ sĩ piano cổ điển, song hầu hết các đĩa nhạc của ông tập trung vào âm nhạc phổ thông với những tình khúc đương thời.
Tuy Clayderman rất nổi tiếng ở các nước thế giới thứ ba, nhiều nhà phê bình cho rằng nhạc của ông là “nhạc thang máy”, bởi vì các tác phẩm của ông được chơi ở những nơi không gian rộng rãi, chuyển tiếp như thang máy, khu buôn bán… Ngoài ra những người yêu đàn piano đặc biệt là cổ điển cho rằng ông có kỹ thuật không cao, biểu diễn nhạc mang tính thương mại vì chơi các bản nhạc cổ điển ở dạng cách điệu
Clayderman đã ghi âm được hơn 1.200 giai điệu và đã tạo ra một phong cách lãng mạn mới qua việc kết hợp kỹ thuật biểu diễn riêng điêu luyện của ông giữa classic và nhạc Pop tiêu chuẩn. Ông đã dành phần lớn thời gian tổ chức hòa nhạc và làm hài lòng các fan như việc biểu diễn 200 sô trong 250 ngày. Đến nay ông đã đạt đến kỉ lục về doanh số bán được gần 90 triệu, và kỉ lục 267 đĩa Vàng và 70 đĩa Bạch kim. Ông rất thành công và nổi tiếng ở Châu Á.
Sách Guiiness về Kỹ Lục Thế Giới xem ông là Nghệ Sĩ piano Thành Công Nhất Thế Giới.
Nhạc Xanh mời các bạn nghe 6 bản nhạc piano gồm cả hòa tấu classic và pop trong số được ưa chuộng nhất của Clayderman sau đây:
1. Moonlight Sonata (Ludwig van Beethoven)
.
2. Jardin Secret (Paul De Senneville)
.
3. Balada para Adelina (1998) (Ballade pour Adeline, của Paul De Senneville)
.
4. Fur Elise (Ludwig van Beethoven)
.
5. Memory (Nhạc Andrew Lloyd Webber, lời T.S. Eliot, Trevor Nunn, nhạc kịch CATS)
Sẽ là một thiếu sót lớn trong chuyên mục âm nhạc đại chúng (pop ) của Nhạc Xanh nếu chưa giới thiệu cùng các bạn một nhân vật được xem là tượng đài, huyền thoại và biểu tượng văn hóa ảnh hưởng lớn đến nền âm nhạc đại chúng không chỉ của nước Mỹ trong 5 thập kỷ qua. Ấy là Bob Dylan.
Bob Dylan có tên khai sinh là Robert Allen Zimmerman, sinh ngày 24 tháng 5, 1941 tại Minesota, Mỹ. Các phương tiện truyền thông báo chí, các kênh truyền hình, và đài phát thanh đã dành không biết bao nhiêu bài báo, chương trình về nhân vật được mệnh danh là chàng hát rong huyền thoại. Với phong cách đặc biệt, ông đã vượt xa các tác giả cùng thời và xứng đáng được tôn vinh là nghệ sỹ xuất sắc thứ 2 mọi thời đại, một trong 100 nhân vật có ảnh hưởng nhất trong thế kỉ X X.
Ông là một ca sĩ, tác giả, nhà soạn nhạc, nhà thơ và gần đây nhất là một DJ. Rất nhiều thành quả lao động của Dylan được thừa nhận từ thập niên 1960 đã gây nhiều xôn xao trong dư luận Mỹ. Các bài hát của ông như “Blowin’ in the Wind” và “The Times They Are a-Changin” trở thành những bài ca chống chiến tranh và ủng hộ phong trào nhân quyền.
Album Studio gần đây nhất của ông “Modern Times”, phát hành ngày 28 tháng 8, 2006, đã dành vị trí số 1 tại các bảng xếp hạng của Mỹ, giúp ông, ở tuổi 65, trở thành ca sĩ cao tuổi nhất còn sống dành vị trí cao nhất trong các bảng xếp hạng. Sau đó, album đã được tạp chí Rolling Stone bầu chọn là “Album của năm”.
Khi còn nhỏ, ông học chơi guitar và harmonica. Lên trung học, ông cùng bạn thành lập một ban nhạc rock & roll mang tên The Golden Chords. Tốt nghiệp đại học năm 1959, ông tiếp tục theo học nghệ thuật tại đại học Minnesota, Minneapolis. Tại đây, ông bắt đầu chơi nhạc folk ở các quán cà phê dưới tên Bob Dylan (lấy tên của nhà thơ Dylan Thomas ghép với biệt danh của ông là Bob). Ấn tượng với phong cách của Hank Williams và Woody Guthrie, Dylan tập nghe nhạc blues và kết hợp thể loại nhạc này vào trong các tác phẩm của mình.
Tháng 1/1961, Dylan đến New York và ngay lập tức tạo được ấn tượng với cộng đồng chơi nhạc folk ở Greenwich Village. Nhưng Dylan không từ bỏ việc chơi đàn ở các quán cà phê và sự mến mộ công chúng tại đây đã giúp đỡ ông rất nhiều trong những bước đi quan trọng sau này. Năm 1961, ông chơi trong một buổi hoà nhạc và được Robert Shelton (tờ New York Times) đánh giá rất cao. Cũng nhờ đánh giá này mà nhà sản xuất John Hammond (hãng đĩa Columbia Records) để ý và ký hợp đồng với ông. Tháng 3/1962, Bob Dylan cho ra mắt album đầu tay là tuyển tập những bản folk và blues chuẩn mực. Sau khoá học nhạc một năm, Dylan bắt đầu viết một lượng lớn các ca khúc (có cả những bài ca phản chiến nằm trong album thứ 2 – “The Free Wheelin’ Bob Dylan”) tiêu biểu là “Blowin’ the wind”, “A hard rain’ a – gonna fall”…Đến cuối năm 1965, Dylan đã tự khám phá cho mình một phong cách riêng và hoàn toàn mới lạ: đó là folk – rock.
Thời gian từ 1964 – 1966 là thời gian thành công nhất của Dylan trong cả vai trò nhạc sĩ và ca sĩ. “Highway 61 Revisited”, album đậm chất rock đầu tiên, nằm trong bảng xếp hạng của Top Ten (1965).
Những lời trong các bài hát đầu tiên của Dylan là sự kết hợp sâu sắc ảnh hưởng của chính trị, bình luận xã hội, triết học và văn chương, thách thức dòng nhạc Pop đương thời và tạo sức hút rộng rãi văn hóa đối lập thời đó. Trong khi tiếp tục phát triển và cá nhân hóa các phong cách âm nhạc, ông đã thể hiện sự tâm huyết với nhiều dòng nhạc truyền thống của Mỹ từ folk và country/blues đến rock and roll và rockabilly, tới nhạc folk Anh, Scotland, Ireland, thậm chí là jazz, swing, Broadway, rock nặng và gospel.
Dylan thường biểu diễn với guitar, keyboard and harmonica. Được sự giúp đỡ của nhiều nhà soạn nhạc, ông đã thực hiện các tour diễn đều đặn từ cuối thập niên 1980, chính vì vậy mà sau đó họ gọi đó là “Never Ending Tour” (tour diễn không bao giờ kết thúc). Dylan đã biểu diễn cùng nhiều danh ca lớn như The Band, Tom Petty, Joan Baez, George Harrison, The Grateful Dead, Johnny Cash, Willie Nelson, Paul Simon, Eric Clapton, Patti Smith, Emmylou Harris, Bruce Springsteen, U2, The Rolling Stones, Joni Mitchell, Jack White, Merle Haggard, Neil Young, Van Morrison, Ringo Starr và Stevie Nicks. Dù những thành quả với tư cách là ca sĩ và nghệ sĩ thu âm là dấu ấn lớn trung tâm trong sự nghiệp Dylan, nhưng việc sáng tác ca khúc được ghi nhận là đóng góp lớn nhất của ông cho âm nhạc đương đại.
Album Modern Times.năm 1976 là album cuối mà Bob Dylan được xếp hạng nhất trong năm tuần.
Gần đây năm 2006 lần đầu tiên sau 30 năm ca –nhạc sĩ huyền thoại này Bob có album bán chạy nhất ở Mỹ, nhờ đĩa Desire.
Ông đứng đầu bảng xếp hạng Top 200 album Billboard với “Modern Times”. Hãng đĩa Columbia đã bán hơn 192.000 bản đĩa này tại Mỹ trong tuần đầu tiên.
Together Through Life là album studio thứ 33 của Bob Dylan phát hành ngày 28-4-2009 Album này đã giúp huyền thoại âm nhạc này trở lại vị trí số 1 sau gần 40 năm, kể từ năm 1970 với album New Morning. Đây cũng là lần thứ bảy Bob Dylan leo lên vị trí số 1 trong bảng xếp hạng album tại Anh. Album đầu tiên mang về cho Bob Dylan vị trí số 1 tại bảng xếp hạng album ở Anh chính là Freewheelin’ Bob Dylan vào năm 1964. (theo Official Charts Company).
Gennaro Castaldo – phát ngôn viên của nhà bán lẻ khổng lồ ngành công nghiệp âm nhạc Anh – HMV đã ca ngợi về Bob Dylan: “Ông được xem là biểu tượng văn hóa của chúng ta, âm nhạc và ca từ của ông cho dù cách đây năm thập kỷ hay đến tận ngày hôm nay vẫn còn nguyên sức mạnh”
Những bản thu âm đã giúp ông dành giải Grammy, Quả Cầu Vàng và nhiều giải thưởng của viện Hàn Lâm. Ông cũng đã vài lần được đề cử giải Nobel văn học. Ông đã được ghi danh tại đại sảnh danh vọng về dòng nhạc Rock&Roll, đại sảnh danh vọng cho các nhà soạn nhạc tại Nashville, và đại sảnh danh vọng dành cho các nhà soạn nhạc. Dylan được tạp chí Time bầu là một trong những nhân vật có tầm ảnh hưởng nhất thế kỷ 20.
Tháng 1 năm 1990, ông được trao huân chương nghệ thuật và văn học (Commandeur des Arts et des Lettres) bởi Bộ trưởng văn hóa Pháp Jack Lang. Năm 2000, ông được trao giải Polar Music bởi viện âm nhạc hoàng gia Thụy Điển. Năm 2004, Bob Dylan được xếp ở vị trí thứ 2 bên cạnh The Beatles trong danh sách 100 nghệ sĩ xuất sắc nhất mọi thời đại của tạp chí Rolling Stone. Năm 2004, người nghệ sĩ lớn này được trường đại học tổng hợp St Andrews trao tặng bằng Tiến sĩ âm nhạc danh dự.
Và năm 2007, Dylan được trao giải Prince of Asturias- được xem như giải Nobel của Tây Ban Nha trong lĩnh vực nghệ thuật. Dylan được Hội đồng giám khảo đánh giá như “một huyền thoại sống của lịch sử âm nhạc đại chúng, là ngọn đèn soi đường của một thế hệ muốn thay đổi thế giới” và “một trong những gương mặt lớn của âm nhạc đã kết hợp một cách mẫu mực vẻ đẹp của thi ca, và đạo đức”. Tháng 4-2008, người nhạc sĩ phản chiến này đoạt được giải thưởng Pulitzer.
Dylan được tôn vinh như tượng đài văn hóa “đã tác động sâu sắc đến nền âm nhạc và văn hóa Hoa Kỳ do những sáng tác giàu sức sống mãnh liệt với ca từ là lời thơ khác thường.” Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn của Việt Nam được cho là cùng chia sẻ tư tưởng phản chiến với Bob Dylan.
Nhạc Xanh mời các bạn thưỡng thức 5 bản nhạc sau đây của nhạc sĩ Bob Dylan : Blowing In The Wind, Forever Young, Knockin’ on Heaven’s Door, Tryin’ To Get To Heaven, Don’t Think Twice, It’s Alright, và bài Yesterday (nhạc và lời của The Beatles)
BLOWING IN THE WIND : một ca khúc phản chiến của Bob Dylan. Bài hát này đã vang lên ở Mỹ trong suốt những năm 1960 để phản đối cuộc chiến tranh Việt Nam. ( cũng là bài hát ưa thích nhất của mình )
Phải bao nhiêu lằn tên mũi đạn trước khi vũ khí bị cấm đời đời?
Phải bao nhiêu tháng năm hiện hữu trước khi được làm người tự do?
Biết bao nhiêu lần ta ngoảnh mặt, giả vờ như là điếc là đui?
1. BLOWING IN THE WIND – BOB DYLAN (Madison Square Garden NY 1971)
How many roads must a man walk down
Before you call him a man?
Yes, n how many seas must a white dove sail
Before she sleeps in the sand?
Yes, n how many times must the cannon balls fly
Before they’re forever banned?
The answer, my friend, is blowin in the wind,
The answer is blowin in the wind.
How many times must a man look up
Before he can see the sky?
Yes, n how many ears must one man have
Before he can hear people cry?
Yes, n how many deaths will it take till he knows
That too many people have died?
The answer, my friend, is blowin in the wind,
The answer is blowin in the wind.
How many years can a mountain exist
Before it’s washed to the sea?
Yes, n how many years can some people exist
Before they’re allowed to be free?
Yes, n how many times can a man turn his head,
Pretending he just doesn’t see?
The answer, my friend, is blowin in the wind,
The answer is blowin in the wind.
2. FOREVER YOUNG (live)
May God bless and keep you always,
May your wishes all come true,
May you always do for others
And let others do for you.
May you build a ladder to the stars
And climb on every rung,
May you stay forever young,
Forever young, forever young,
May you stay forever young.
May you grow up to be righteous,
May you grow up to be true,
May you always know the truth
And see the lights surrounding you.
May you always be courageous,
Stand upright and be strong,
May you stay forever young,
Forever young, forever young,
May you stay forever young.
May your hands always be busy,
May your feet always be swift,
May you have a strong foundation
When the winds of changes shift.
May your heart always be joyful,
May your song always be sung,
May you stay forever young,
Forever young, forever young,
May you stay forever young.
3. KNOCKIN’ ON HEAVEN’S DOOR
“Mama, take this badge off of me
I can’t use it anymore.
It’s gettin’ dark, too dark for me to see
I feel like I’m knockin’ on heaven’s door.
Knock, knock, knockin’ on heaven’s door
Knock, knock, knockin’ on heaven’s door
Knock, knock, knockin’ on heaven’s door
Knock, knock, knockin’ on heaven’s door
Mama, put my guns in the ground
I can’t shoot them anymore.
That long black cloud is comin’ down
I feel like I’m knockin’ on heaven’s door.
Knock, knock, knockin’ on heaven’s door
Knock, knock, knockin’ on heaven’s door
Knock, knock, knockin’ on heaven’s door
Knock, knock, knockin’ on heaven’s door”
4. TRYIN’ TO GET TO HEAVEN
The air is getting hotter
There’s a rumbling in the skies
I’ve been wading through the high muddy water
With the heat rising in my eyes
Every day your memory grows dimmer
It doesn’t haunt me like it did before
I’ve been walking through the middle of nowhere
Trying to get to heaven before they close the door
When I was in Missouri
They would not let me be
I had to leave there in a hurry
I only saw what they let me see
You broke a heart that loved you
Now you can seal up the book and not write anymore
I’ve been walking that lonesome valley
Trying to get to heaven before they close the door
People on the platforms
Waiting for the trains
I can hear their hearts a-beatin’
Like pendulums swinging on chains
When you think that you lost everything
You find out you can always lose a little more
I’m just going down the road feeling bad
Trying to get to heaven before they close the door
I’m going down the river
Down to New Orleans
They tell me everything is gonna be all right
But I don’t know what “all right” even means
I was riding in a buggy with Miss Mary-Jane
Miss Mary-Jane got a house in Baltimore
I been all around the world, boys
Now I’m trying to get to heaven before they close the door
Gonna sleep down in the parlor
And relive my dreams
I’ll close my eyes and I wonder
If everything is as hollow as it seems
Some trains don’t pull no gamblers
No midnight ramblers, like they did before
I been to Sugar Town, I shook the sugar down
Now I’m trying to get to heaven before they close the door
4. SOMETHING’S BURNING
Something is burning, baby, are you aware?
Something is the matter, baby, there’s smoke in your hair
Are you still my friend, baby, show me a sign
Is the love in your heart for me turning blind?
You’ve been avoiding the main streets for a long, long while
The truth that I’m seeking is in your missing file
What’s your position, baby, what’s going on?
Why is the light in your eyes nearly gone?
I know everything about this place, or so it seems
Am I no longer a part of your plans or your dreams?
Well, it is so obvious that something has changed
What’s happening, baby, to make you act so strange?
Something is burning, baby, here’s what I say
Even the bloodhounds of London couldn’t find you today
I see the shadow of a man, baby, makin’ you blue
Who is he, baby, and what’s he to you?
Something is burning, baby, are you aware?
Something is the matter, baby, there’s smoke in your hair
Are you still my friend, baby, show me a sign
Is the love in your heart for me turning blind?
You’ve been avoiding the main streets for a long, long while
The truth that I’m seeking is in your missing file
What’s your position, baby, what’s going on?
Why is the light in your eyes nearly gone?
I know everything about this place, or so it seems
Am I no longer a part of your plans or your dreams?
Well, it is so obvious that something has changed
What’s happening, baby, to make you act so strange?
Something is burning, baby, here’s what I say
Even the bloodhounds of London couldn’t find you today
I see the shadow of a man, baby, makin’ you blue
Who is he, baby, and what’s he to you?
We’ve reached the edge of the road, baby, where the pasture begins
Where charity is supposed to cover up a multitude of sins
But where do you live, baby, and where is the light?
Why are your eyes just staring off in the night?
I can feel it in the night when I think of you
I can feel it in the light and it’s got to be true
You can’t live by bread alone, you won’t be satisfied
You can’t roll away the stone if your hands are tied
Got to start someplace, baby, can you explain?
Please don’t fade away on me, baby, like the midnight train
Answer me, baby, a casual look will do
Just what in the world has come over you?
I can feel it in the wind and it’s upside down
I can feel it in the dust as I get off the bus on the outskirts of town
I’ve had the Mexico City blues since the last hairpin curve
I don’t wanna see you bleed, I know what you need but it ain’t what you deserve
Something is burning, baby, something’s in flames
There’s a man going ’round calling names
Ring down when you’re ready, baby, I’m waiting for you
I believe in the impossible, you know that I do
5. DON’T THINK TWICE, IT’S ALRIGHT – Bob Dylan & Eric Clapton
It ain’t no use to sit and wonder why, babe
If’in you don’t know by now
An’ it ain’t no use to sit and wonder why, babe
It’ll never do some how.
When your rooster crows at the break of dawn
Look out your window and I’ll be gone
You’re the reason I’m trav’lin’ on
Don’t think twice, it’s all right
It ain’t no use in turnin’ on your light, babe
That light I never knowed
An’ it ain’t no use in turnin’ on your light, babe
I’m on the dark side of the road
but I wish there was somethin’ you would do or say
To try and make me change my mind and stay
We never did too much talkin’ anyway
So don’t think twice, it’s all right
It ain’t no use in callin’ out my name, gal
Like you never done before
It ain’t no use in callin’ out my name, gal
I can’t hear you any more
I’m a-thinkin’ and a-wond’rin’ walkin’ down the road
I once loved a woman, a child I’m told
I give her my heart but she wanted my soul
But don’t think twice, it’s all right
So long, Honey Babe
Where I’m bound, I can’t tell
But Goodbye’s too good a word, babe
So I’ll just say fare thee well
I ain’t sayin’ you treated me unkind
You could have done better but I don’t mind
You just kinda wasted my precious time
But don’t think twice, it’s all right
6. YESTERDAY – Bob Dylan with George Harrison – ( nhạc và lời của Paul McCartney)
Yesterday, all my troubles seemed so far away
Now it looks as though they’re here to stay
Oh, I believe in yesterday.
Suddenly, I’m not half the man I used to be,
There’s a shadow hanging over me.
Oh, yesterday came suddenly.
Why she had to go I don’t know she wouldn’t say.
I said something wrong, now I long for yesterday.
Yesterday, love was such an easy game to play.
Now I need a place to hide away.
Oh, I believe in yesterday.
Mm mm mm mm mm.
Thân ái chúc các bạn những ngày cuối tuần tươi vui và hạnh phúc. 🙂
Sườn Xám ( hay còn gọi Xường Xám) là trang phục truyền thống của các thiếu nữ người Mãn (thời nhà Thanh), và cũng được coi là một trong những trang phục truyền thống điển hình của Trung Quốc. Sườn xám lúc đó là kiểu cổ cao tròn ôm sát, ống tay hẹp, bốn mặt vạt áo đều xẻ, có khuy nối các vạt lại với nhau, kèm theo thắt đai lưng, chất liệu vải thường là các loại da thuộc. Sườn Xám (Xường Xám)
Từ những năm đầu thế kỉ hai mươi, Sườn Xám có sự thay đổi khá nhiều về mặt kết cấu,ví dụ như: cổ dựng, chỉ có hai bên vạt áo xẻ, ôm sát thân, tay áo có thể liền hoặc rời thân. Và bắt đầu từ những năm hai mươi, Sườn Xám xuất hiện dần dần trên đường phố Thượng Hải rồi lan sang Tô Châu, Hàng Châu, Dương Châu… Sau đó do ảnh hưởng của nền văn hóa phương tây Sườn Xám đã có một vài đổi mới so với thời Mãn Thanh: Cổ áo có thể cao hoặc thấp, ống tay lúc hẹp lúc loe, vạt áo dài ngắn tùy sở thích mỗi người. Trường Bào và Mã Quái
Loại váy áo liền thân này làm tôn thêm dáng của người thiếu nữ, phần trên ôm sát thân, hàng cúc được thiết kế vắt chéo sang môt bên rồi chạy dọc một bên sườn, hai tà xẻ cao đến ngang đùi tạo dáng thướt tha, tôn vẻ nữ tính, mặt trước của Sườn Xám thường được thêu các họa tiết bằng chỉ ngũ sắc. Trên phương diện tạo mẫu hay trang trí thủ pháp đều thể hiện được những nét truyền thống văn hóa sâu đậm của Trung Quốc nói riêng và của các nước phương đông nói chung. Ngoài ra, loại váy áo này còn làm nổi bật đức tính đoan trang, trang nhã, kín đáo của người thiếu nữ. Đường trang (trang phục đời Đường)
Trang phục truyền thống tiêu biểu của giới nam gồm có: Trường Bào, Mã Quái (một dạng áo khoác bên ngoài), hai loại trang phục này đều là trang phục của dân tộc Mãn Thanh, áo cổ tròn, ống tay cửa hẹp, Mã Quái thường là xẻ giữa, cài nút thắt, ống tay áo hình chữ U, còn Trường Bào thường là xẻ bên.
Cũng có loại trang phục được kết hợp giữa Trường Bào và Mã Quái, loại trang phục này chỉ có vạt áo dưới của Trường Bào còn phần trên là Mã Quái, hai phần được nối với nhau bằng một dải cúc được đính ở mặt trong của Trường Bào, mặc hai loại trang phục này không chỉ thể hiện được sự long trọng mà còn đem lại cảm giác tự nhiên, thoải mái cho người mặc.
Yếm trẻ em, thêu ngũ tú
Hội nghị APEC năm 2001, các nguyên thủ quốc gia đều mặc trang phục đời Đường, vì người phương tây thường gọi nơi ở của người Hoa là “Đường nhân phố”, cho nên loại trang phục người Đường mặc tất nhiên được coi là trang phục truyền thống tiêu biểu của người Hoa rồi. Và cũng từ đấy đã dấy lên phong trào coi “Đường trang” làm một trong những trang phục mốt, thịnh hành được giới trẻ yêu thích. “Đường trang” hiện nay là do Mã Quái thời đại Thanh cải cách thành, kết cấu của loại trang phục này gồm có 4 đặc điểm lớn:
– Là loại cổ đứng, phần cổ giữa trước được may mở và kéo dài xuống một chút đối với nữ trang.
– Thân áo và tay áo liền với nhau, không có đường chỉ vê nối.
– Hai vạt áo xẻ giữa, cũng có thể xẻ bên.
– Cúc áo hình vuông. Yếm người lớn
Ngoài ra, trang phục của từng vùng, từng dân tộc cũng không giống nhau, đều mang những bản sắc riêng của mình. Ví dụ như, Yếm là loại trang phục truyền thống sát thân của trẻ con Trung Quốc tại Quan Trung và Thiểm Bắc, hai vạt của Yếm phía trên được buộc với nhau bởi hai dây vải vòng qua cổ, phía dưới cũng được nối với nhau bởi hai dây buộc vòng qua thắt lưng. Mặt trước của Yếm thường được dùng chỉ ngũ sắc để thêu các hình đầu hổ và ngũ tú, thông qua đó muốn gửi gắm hy vọng cầu mong cho con cái mình được manh khỏe… Trang phục nữ Huệ An
Các trang phục truyền thống của những dân tộc thiểu số cũng rất đặc biệt, ví dụ như trang phục của Nữ Huệ An tại Phúc Kiến (các bạn có thể xem chi tiết hơn trong bài Con gái Huệ An), hay của các dân tộc thiểu số Di, Bạch, Cáp Nê, Miêu (H’Mông), mông cổ…..
Có bao giờ nhỉ, các bạn nhớ thật tha thiết người thân xa nhà lâu ngày? Mong chờ người thân hoàn thành xong giai đoạn cải tạo trong tù? Trong trại cai nghiện? Đi công tác xa nhà lâu ngày? Đi du học nước ngoài?
Tình cảm gia đình và người thân đau đáu, nhưng thời gian đằng đẵng trôi và bao nỗi lo lắng thực tế chen ngang vào suy tư hàng ngày của cả người thân và gia đình.
Thật kinh khủng trong một tình yêu thật sâu.
“Tie a Yellow Ribbon Round the Ole Oak Tree” hát về tình cảm xa cách người yêu dấu kinh khủng đó. Được thu âm bởi nhóm Tony Orlando and Dawn vào tháng 4 năm 1973, bài hát ngay lập tức chạm sâu vào tình cảm của người Mỹ trong cuộc chiến Việt Mỹ, và đứng đầu các bảng xếp hạng của Mỹ và Anh nhiều tuần liên tiếp.
Bài hát dựa trên một câu chuyện có thật.
Trên một chuyến xe bus đi về phía Nam tới Miami. Một trong những hành khách giải thích cho anh tài là anh mới xong hạn tù, đã ở tù 3 năm xong. Trong một bức thư gửi cho vợ, anh đã viết là cô ấy không phải đợi anh đâu; nhưng, nếu cô ấy còn quan tâm, cô có thể cho anh biết bằng cách buộc một dải băng vàng quanh cây sồi duy nhất ở quảng trường thành phố. Khi chuyến xe bus lăn bánh qua quốc lộ U.S 17 gần tới quê nhà của anh ở White Oak, Georgia, anh tài được yêu cầu lái chậm lại để tất cả mọi người có thể nhìn xem dải băng vàng có ở chỗ đó không. Đem đến cho người đàn ông sự giải thoát trong hàng nước mắt, dải băng vàng ở đó! Anh tài tạt xe vào lề, dừng lại, gọi điện về tồng đài để báo tin, và tin tức cảm động đó được phát khắp nước Mỹ. Nhà viết nhạc Irwin Levine và L. Russell Brown đọc tin đó trên báo và viết nên bản tình ca bất hủ này.
Tony Orlando và ban hợp ca Dawn do anh thành lập, gọi tắt là Tony & Dawn, ghi băng bản này năm 1973. Cũng trong thời kỳ đó, Tony & Dawn cũng rất thành công với bản Knock Three Times mà có lẽ là người Việt nào cũng biết. Dưới đây là video “Tie a Yellow Ribbon Round the Ole Oak Tree.” Theo sau đó là lời của bản nhạc này.
.
“Tie a Yellow Ribbon Round the Ole Oak Tree”
Tony Orlando & Dawn
I’m comin’ home, I’ve done my time
Now I’ve got to know what is and isn’t mine
If you received my letter telling you I’d soon be free
Then you’ll know just what to do
If you still want me
If you still want me
Whoa, tie a yellow ribbon ’round the old oak tree
It’s been three long years
Do ya still want me?
If I don’t see a ribbon round the old oak tree
I’ll stay on the bus
Forget about us
Put the blame on me
If I don’t see a yellow ribbon round the old oak tree
Bus driver, please look for me
’cause I couldn’t bear to see what I might see
I’m really still in prison
And my love, she holds the key
A simple yellow ribbon’s what I need to set me free
I wrote and told her please
Whoa, tie a yellow ribbon round the old oak tree
It’s been three long years
Do ya still want me?
If I don’t see a ribbon round the old oak tree
I’ll stay on the bus
Forget about us
Put the blame on me
If I don’t see a yellow ribbon round the old oak tree
Now the whole damned bus is cheerin’
And I can’t believe I see
A hundred yellow ribbons round the old oak tree
I’m comin’ home
.
“Tie a Yellow Ribbon Round the Ole Oak Tree” cũng là bản “quốc ca” trông mong sự chở về của người yêu dấu của người Mỹ, từ chiến trường Việt Nam, Iraq và Afghanistan.
Dải băng vàng cũng là biểu tượng trông mong sự chở về của người yêu dấu của người dân Mỹ.
Năm 1980, mọi người đặt dải băng trên cây để đón chào sự chở lại của những con tin người Mỹ trong vụ bắt cóc con tin ở Iran.
Ở Singapore, một sáng kiến có cảm hứng từ bài hát này là “Dự án dải băng vàng”, tạo ra sự chấp nhận và đón chào của xã hội với những người từng phạm tội.
Năm 1990, một nhóm xã hội tên là Visual AIDS thuyết phục những người tham dự Tony Awards mang một dải băng đỏ nhỏ, gây ý thức cộng đồng đối với bệnh AIDS.
Một sự khởi đầu mới, một dải băng vàng. Việt Nam, bạn có thể làm được gì để đón chào và đem đến sự khởi đầu mới cho những người trở lại xã hội từ nhà tù, trại cai nghiện nhỉ? Điều này phụ thuộc vào tình yêu và ý thức của những người công dân bình thường như mỗi chúng ta. Bạn sẽ làm gì tiếp sau đây?
Hôm nay mình kể với các bạn một câu chuyện về sức mạnh của những bài hát từ …vỉa hè nhé 🙂 Sau đây, mình giới thiệu với các bạn một số nghệ sĩ đường phố 🙂
1. Anh Roger Ridley ở Santa Monica, California, anh hát đang hát bài “Stand by me” – Hãy đứng bên em!
Thông điệp của anh là “Dù bạn là ai và đang đi ở đâu trên đường đời, sẽ có một thời điểm nào đó trong cuộc đời, bạn sẽ cần một người để đứng bên cạnh bạn. Không cần biết bạn có bao nhiêu tiền, bạn sẽ cần ai đó, ai đó, để đứng bên bạn”
.
2. Chị Tal Ben Ari, với tên thân mật là “Tula”, chị là người nguyên gốc ở Tel Aviv, Israel, chị đang hát bài hát “Chanda Mama” trên đường phố Barcelona, Tây Ban Nha.
.
.
3. Anh Louis Mhlanga người Zimbabwe, anh đang hát một bài hát rumba về hòa bình và tình yêu ở quê hương anh, bằng tiếng mẹ đẻ.
.
.
Các anh chị vui vẻ hát và tạo không khí hứng khởi tuyệt vời trên các đường phố, nóc nhà cao tầng, ga tầu điện ngầm của quê hương họ, cùng bao anh chị khác trên các nẻo đường của Nepal, Việt Nam, Lào, Mexico, Nam Phi, Palestine, Úc, New Zealand.
Một số anh chị thu nhạc của mình để trên youtube, mở blog như myspace, wordpress và vô vàn cơ hội khác từ Internet để giúp thông điệp của họ quảng bá rộng rãi. Như nhóm Fabulous Lemon Drops từ Brisbane, Úc sau đây, ủng hộ phong trào “Go Green”:
Tháng 5 năm 2005, nhà sản xuất âm nhạc Mark Johnson đi dạo trên đường và nghe anh Roger Ridley hát bài Stand by me từ xa. Anh chạy đến xem và nhận ra ngay rằng giọng hát, linh hồn và âm nhạc của anh Rogerphải được chia sẻ với thể giới.
Vốn là nhà sản xuất âm nhạc và yêu cảm hứng mê hồn từ âm nhạc để thay đổi thế giới bằng hòa bình và tình yêu, anh Mark Johnson… đưa anh Roger Ridley và các nghệ sĩ đường phố lên Internet. Anh Mark tạo ra một phong trào truyền thông đa phương tiện để thay đổi thế giới – “Chơi để thay đổi” – Playing for Change.
Anh dùng mọi thứ từ dùng ô tô để làm studio, xe đẩy chạy bằng pin và dần dần bằng máy tính laptop để thu những bài hát, thay đổi cùng kỹ thuật máy tính theo thời gian. Nhưng một điều không thay đổi, đó là cam kết tạo ra môi trường để giúp những nghệ sĩ đưa giọng ca tiếng hát của họ qua khỏi các khu phố, qua khỏi các biên giới, tới được Úc, Nam Phi, Việt Nam.
Mark Johnson và người bạn quayMark Johnson đứng giữa
.
Sau hơn 5 năm hoạt động tới giờ, “Playing for Change” đã liên kết được với nghệ sĩ từ nhiều bang của Mỹ, Châu Âu, Châu Á, Châu Phi.
.
.
Sau đây là bản nhạc “Don’t Worry” (Đừng lo lắng) do Pierre Minetti viết và nhiều nghệ sĩ đường phố trên thế giới hát với nhiều ngôn ngữ khác nhau, và Playing for Change thu hình.
.
.
Bây giờ, một nghệ sĩ Việt Nam có thể thu âm bài hát và gửi đến Playing for Change 🙂
Hay một ngày kia, Playing for Change sẽ đến Việt Nam và thu phim bài hát của bạn, nếu bạn đang hát trên vỉa hè 🙂
Mình thấy câu chuyên Playing for Change thật là hay và kinh khủng 🙂
Câu chuyện về Chơi để Thay đổi, Ôm miễn phí (Free Hugs), câu lạc bộ 3 R’s (Reduce, Reuse, Recycle) đều từ những điều rất bình thường của cuộc sống, nhưng điều gì đã khiến nó thành một phong trào rộng khắp thế giới?
Làm sao để một ý tưởng tốt đẹp có thể tỏa sáng khắp thế giới?
Các bạn hãy trả lời cùng mình nhé 🙂
1. Theo mình, trước tiên những nghệ sĩ đó biểu diễn đầy tình yêu. Đơn giản vậy thôi. Họ chơi. Hay họ nhóm lại để chơi một cái gì đó vui vui. Họ hát lên một bài hát 🙂
Những bài hát tình yêu đó rung động trái tim những người khác.
2. Mọi người chia sẻ và “hát” tiếp “bài hát” đó. Những người khác tạo ra môi trường để cho những bài hát đó được ngân xa. 🙂
“There are two ways of being creative. One can sing and dance. Or one can create an environment in which singers and dancers flourish.” (Warren G. Bennis)
Có hai cách sáng tạo. Một người có thể hát và nhảy múa. Hoặc một người có thể tạo ra một môi trường để ca sĩ và vũ công phát triển.
3. Đặc biệt ngày nay, yếu tố môi trường nuôi dưỡng bài hát và ý tưởng dễ dàng hơn hơn nhiều bởi sự giúp sức của kỹ thuật máy tính và Internet website.
Nếu bạn yêu một ý tưởng, hãy “hát” nó lên theo cách của bạn. Bạn có thể “hát” lên từ giữa ruộng lúa hay từ một blog mới tạo trên Internet, hay giúp những nụ cười tươi của bà con nông dân xuất hiện trên bao bì của sản phẩm công ty bạn 🙂
Đứng trước dàn nhạc, Seiji Ozawa xem giống như là một vũ công đang uốn mình bay bổng lên xuống với dòng nhạc hơn là một nhạc trưởng. Vào thập niên 80’s khi Ozama đang là nhạc trưởng ở dàn hòa tấu Boston Symphony Oschestra và tóc xỏa dài gần đến lưng thì “điệu vũ” của anh trước ban nhạc còn thẩm thấu, nồng nhiệt và bão tố hơn cả ngày nay. Ngắm Ozama vũ với gậy nhạc trưởng làm cho cảm nhận của ta về dòng nhạc mạnh mẽ hơn rất nhiều.
Seiji Ozama có bố mẹ Nhật, sinh ngày September 1, 1935 ở thành phố Shenyang, Trung Quốc, thời kỳ Nhật đang chiếm đóng Trung Quốc. Đến 1944 anh trở về Nhật học piano. Xong trung học, anh bị thương một ngón tay, không chơi piano được. Một người thầy đưa anh đi nghe hòa nhạc; bản Symphony Số 5 (Bản giao hưởng “Định Mệnh”) đã cho anh quyết định học làm nhạc trưởng.
Gần 10 năm sau anh thắng giải Nhạc Trưởng Quốc Tế (International Competition of Orchestra Conductors) ở Besancon, France, nhờ đó được Charles Munch, giám đốc âm nhạc của dàn hòa tấu Boston Symphony Orchestra mời sang học tại Berkshire Music Center (ngày nay là Tanglewood Music Center) tại Boston, Mỹ. Đến năm 1960, anh lại được sang Bá Linh học với nhạc trưởng người Áo nỗi tiếng thế giới , Herbert von Karajan, của dàn hòa tấu Berliner Philharmoniker.
Ozawa bắt đầu trở thành khuôn mặt lớn của làng nhạc cổ điển thế giới khi anh thành nhạc trưởng của Boston Symphony Orchestra năm 1973. Và anh giữ chức vị này liên tục trong 29 năm, phá kỷ lục 25 năm của nhạc trưởng Koussevistzky trước kia. Từ năm 2002 đến nay Ozawa là nhạc trưởng cùa dàn hòa tấu nước Áo (Austria State Orcchestra).
Năm 1976 Ozawa được giải Emmy cho chương trình “Evening at Symphony”, chương trình âm nhạc hàng tuần của Boston Symphony Orchestra. Năm 1994, được thêm một giải Emmy cho “thành tích cá nhân về văn hóa” cho chương trình “Dvorak in Prague, a celebration.” Năm 2008, Ozawa được giải “Order of Music,” giải thưởng cao nhất của nước Nhật. Ông đã có tiến sĩ danh dự từ các đại học Harvard, New England Conservatory, Đại Học Tiểu Bang Massachusette, và Wheaton College. Và dĩ nhiên là vô số các giải thưởng khác.
Năm 1992 ông thành lập dàn hòa tấu Saito Kinen Orchestra, để các nghệ sĩ Nhật có dịp trình diễn với các nghệ sĩ quốc tế. Ngày nay dàn hòa tấu này đã có tên tuổi quốc tế.
Trong thập niên 1980’s Ozawa có nói: Người Nhật coi thường tài năng của người Nhật, chỉ đến khi quốc tế chấp nhận rồi thì người Nhật mới thấy được tài năng.
Sau đây mời các bạn xem vài bản cổ điển quen thuộc, do Ozawa và dàn hòa tấu Berliner Philharmoniker trình diễn:
1. Múa đao (Sabre dance) trong bài vũ Gayaneh, của Aram Khachaturian.
2. Vũ khúc Polovtsian trong nhạc kịch Prince Igor của Alexander Borodin.
3. Overture 1812 của Tchaikovsky (phần 1)
4. Overture 1812 của Tchaikovsky (phần 2)
Xin mời !
Hoành
.
Sabre dance from ballet Gayaneh, by Aram Khachaturian. Berliner Philharmoniker
.
Polovtsian dances from opera Prince Igor by Alexander Borodin. Berliner Philharmoniker.
.
Tchaikovsky – 1812 overture. Berliner Philharmoniker. (Part 1)
.
Tchaikovsky – 1812 overture. Berliner Philharmoniker. (Part 2)
Theo lý thuyết về di dân vẫn đang trong vòng tranh luận, thổ dân da đỏ–những ngựời đầu tiên sống ở Mỹ châu–dến từ Châu Á khoảng 12 ngàn năm trước đây, qua một giải đất gọi là Beringia nối liền Á Châu (Tây Bá Lợi Á) và Mỹ Châu (Alaska), mà ngày nay nằm dưới lòng biển ở Bering Strait. Ta quen gọi họ là da đỏ, nhưng thực ra họ tóc den, da vàng, mũi tẹt, chẳng khác người Việt lắm. Continue reading Âm nhạc thổ dân da đỏ→
Sau thế chiến thứ hai, các chiến binh về nhà, và… sinh con, tạo ra một thế hệ trẻ em gọi là baby boomers. Thế hệ này là phần chính của đời sống nước Mỹ, và có lẽ là của thế giới, từ đó đến nay. Mới ra đời là nhu cầu của baby boomers đã tạo ra những phát minh mới về thực phẩm và vật dụng trẻ em cùng những đại công ty trong ngành, như công ty thực phẩm trẻ em Gerber và kem dánh răng Crest.
Vừa mới qua, hoặc chưa kịp qua tuổi teen, baby boomers đã thành phong trào nỗi loạn văn hóa trên thế giới. Đây là thế hệ hiện sinh của Jean Paul Sartre, Albert Camus… của hippi, Woodstock, the Bealtes, Bob Dylan, Joan Baez… của cần sa… và biểu tình chống chiến tranh tại Việt Nam.
Đến giữa thập niên 1970’s, từ sau chiến tranh Việt Mỹ, và cả thập niên 1980’s, đây là thế hệ của những kẻ “nghiện làm” (workaholic), của “cá tính A” (type A personality), của thành công kinh tế và khởi đầu của cuôc cách mạng thông tin. Đây là thời của Bee Gees, Diana Ross… Nghệ thuật New Age
Đến đầu thập niên 1990’s baby boomers bắt đầu chậm lại, và bắt đầu nghe nhạc nhẹ, âm hưởng dịu dàng tự nhiên (consonant sounds) như âm hưởng nhạc cổ điển, nhưng với các khí cụ điện tử mới, nhất là synthersizer, và những nguồn nhạc từ các nền văn hóa khác—như văn hóa người da đỏ, Á châu, Phi Châu.. cùng những khí cụ cổ truyền của các nền văn hóa này. Đó là nhạc New Age. Cùng lúc, tính khám phá của Baby Boomers chuyển sang khám phá văn hóa tâm linh của các nền văn hóa khác, bên cạnh Thiên chúa giáo—Phật giáo, Ấn độ giáo, tín ngưỡng người da đỏ… Đó là văn hóa New Age đang sống mạnh ngày nay tại Mỹ và Âu châu cũng như ảnh hưởng rộng đến toàn thế giới.
Khoảng đầu thập niên 1990’s trong làng nhạc New Age xuất hiện một thiên tài: YANNI. Yanni, tên thật là Yiannis Hrysomallis, sinh năm 1954 tại thành phố Kalamata, Hy Lạp. Tự học piano, keyboard và soạn nhạc. Anh có cử nhân tâm lý học và chưa bao giờ học nhạc trong một lớp nhạc nào.
Album Dare to Dream năm 1992 và In My Time năm 1993 được dự tranh giải Grammy. Anh bắt đầu nỗi bật 1994 với video Yanni Live at the Acropolis, đây là video bán chạy thứ hai trong lịch sử âm nhạc, sau Michael Jackson’s Thriller 9 triệu đĩa.
Từ đó đến nay anh đã trình diễn trên 20 quốc gia với tổng số trên 2 triệu khán giả. Đạt được 35 đĩa bạch kim và vàng. Yanni là một trong những người thành công nhất trong việc giúp hệ thống TV công ở Mỹ thu đóng góp từ công chúng. Đại Học Minnesota của tiều bang Minnesota (Mỹ) tặng anh bằng tiến sĩ văn chương danh dự.
Yanni thường tìm các ca nhạc sĩ tại nhiều nước trên thế giới, nhất là các nước nhỏ ít người để ý, cộng tác trình diễn, nên nhạc của anh thường mang âm hưởng lạ, ngôn ngữ lạ và khí cụ lạ. Nhạc có âm hưởng êm ái của các nốt nhạc êm tai và hòa âm tự nhiên (consonant notes, tonal chords), cái buồn sâu lắng của gam thứ, nhưng lại có vận tốc tuôn chảy ồ ạt triền miên của hàng hàng lớp lớp sóng biển cuộn vỗ chập chùng, như người viễn xứ hoài hương đứng trước đại dương.
Từ năm 1988 đến nay, nhạc của anh được sử dụng trong mỗi kỳ Thế Vận Hội,và dĩ nhiên là trong rất nhiều cuộc tranh tài thể thao khắp nơi.
Trong các video sau đây chúng ta sẽ thưởng thức, bên cạnh các nhạc cụ tân thời, âm nhạc của một số nhạc cụ dân tộc của các nước: DUduk Didgeridoo Nghệ sĩ Didgeridoo Hammered Dulcimer Harp Conga và bongo Didgeridoo: Nhạc cụ của thổ dân miền bắc Australia, bằng gỗ, thường là gỗ bạch đàn (khuynh diệp), dài khoảng 1,3m, thổi bằng miệng và tạo ra âm thanh rền rĩ rất lạ lùng.
Hammered Dulcimer: Theo truyền thuyết, có nguồn gốc từ Iran 2 ngàn năm về trước. Gồm các dây đàn căng ngang thùng đàn, chơi bằng cách dùng hai “búa” nhỏ gõ vào dây đàn.
Harp: Đàn cho nhiều dây căng thẳng góc với thùng đàn. Harp đã thành hình từ thời cổ đại tại nhiều nơi trên thế giới. Người ta đoán là harp thành hình từ âm thanh tạo ra của sợi dây cung căng ngang cái cung. Bên Âu châu, truyền thuyết là harp thành hình từ Ai Cập 4 nghìn năm trước công nguyên và vùng Iran-Iraq 3 ngàn năm trước công nguyên. Sau đó người Moors đưa vào Âu châu thời trung cổ. Đến thế kỷ 18, nữ hoàng Marie Antoinette vợ vua Louis 16 của Pháp, cổ vũ harp như là cây đàn cho phái nữ. (Marie Antoinnette và Louis bị cách mạng dân quyền của Pháp xử tử). Cũng vì vậy mà các nhạc sư từ đó đến nay không soạn nhạc harp, vì chê là đàn của phái nữ 😦
Trống bongo và conga: Bongo và conga đến từ Cuba, do người nô lệ da đen mang từ Phi châu sang khi bị bắt sang Cuba làm nô lệ. Người nô lệ làm trống bằng các thân cây rỗng, nhưng sang Cuba thì trống làm bằng gỗ và một mặt căng da, mặt dưới để rỗng. Bongo và Conga luôn luôn đi cặp đôi, một lớn một nhỏ, và chơi bằng hai bàn tay. Trống ngắn chừng hai tấc là trống Bongo; conga cao khoảng hơn 1m. Bongo và conga khởi đầu được dùng theo nhịp Rumba, sau đó là salsa, changui và son khi các loại nhạc này phát triển ở miền đông Cuba vào thế kỷ 19.
Năm Video đầu tiên dưới đây đều trích từ DVD Yanni Live! The Concert Event và gồm có các nhạc sĩ chính sau đây:
Yanni: Keyboard, synthesizer.
David Hudson [Australia]: Didgeridoo
Samvel Yervinyan [Armenia]: Violin
Sayaka Katsuki [Japan]: Violin
Victor Espinola [Paraguay]: Harp
Ramon Flores [Mexico]: Trumpet
Michelle Amato [USA]: Vocal (giọng hát)
Victor Espinola [Paraguay]: Vocal và harp
Video thứ sáu là một Aria, tức là một đoạn nhạc cho giọng người, dùng như là một khí cụ âm nhạc hơn là hát, tại buổi trình diễn ‘Yanni Live at the Acropolis’ năm 1993 tại Hy Lạp.
Video thứ bảy là Yanni trình tấu piano bản Reflection of Passion (Ảnh hình đam mê)
Mời các bạn thưởng thức
.
1. Yanni – Rainmaker
Didgeridoo: David Hudson [Australia]; Violin: Samvel Yervinyan [Armenia]; Vocal: Michelle Amato [USA]; Vocal/ Harp: Victor Espinola [Paraguay] Yanni Live! The Concert Event
.
2. Yanni – The Storm
Violin: Samvel Yervinyan [Armenia]; Violin: Sayaka Katsuki [Japan]; Harp: Victor Espinola [Paraguay]; Trumpet: Ramon Flores [Mexico] Yanni Live! The Concert Event.
Vocal: Michelle Amato [USA]; Trumpet: Ramon Flores [Mexico]; Flutes: Pedro Eustache [Venezuela]; Hammer Dulcimer: Dan Violin: Samvel Yervinyan [Armenia]; Harp: Victor Espinola [Paraguay], Yanni Live! The Concert Event.
.
5. Yanni — World Dance
From DVD album Yanni Live! The Concert Event performed by Dan Landrum, Pedro Eustache, Samvel Yervinyan, Sayaka Katski, Victor Espinola, Armen Movsessian, Zachary Carrettin, Walter Rodrigues.
Phần lớn Họ của người Việt Nam gắn liền với các triều đại phong kiến ngày xưa, trong đó họ Nguyễn chiếm đa số (khoảng 38% dân số), còn Họ của người Trung Quốc thì sao? sau đây tôi sẽ giới thiệu với các bạn đôi chút về cách đặt tên họ của người Trung Quốc nhé: họ Chu
Theo ghi chép lưu lại thì Họ của người Trung Quốc xuất hiện từ thời xã hội mẫu quyền, lúc đó con người đặt người đàn bà (người mẹ) thành trung tâm để hình thành lên các thị tộc, vì để dễ phân biệt lên mỗi thị tộc đã tự chon cho mình một họ để xưng hô. Nguồn gốc của Họ, bao gồm một vài loại sau đây:
1. Xã hội mẫu quyền, lấy tên của mẹ làm họ cho con.
2. Dựa vào thời đại viễn cổ con người sùng bái những loại động vật để đặt tên họ cho con cái, ví dụ như họ Mã, Ngưu, Dương, Long…
3. Dùng tên nước để làm họ, ví dụ như họ Triệu, Tống, Tần, Ngô…
4. Dùng chức tước của tổ tiên để làm họ, ví dụ như: Ti Mã, Ti Đồ…
5. Dựa vào tước vị, ích hiệu đặt làm họ.
6. Dùng tên quê hương hay một địa danh nào đó làm họ.
7. Dựa vào nghề nghiệp của gia đình để đặt họ, ví dụ gia đình có truyền thống làm gốm sứ lâu đời thường lấy tên họ là Đào.
8. Dùng danh hiệu của tổ tiên làm họ, ví dụ như tổ tiên của người Trung Quốc có Hoàng đế danh Hiên Viên, về sau Hiên Viên đã trở thành một dòng họ . họ Trương
Họ của người Trung Quốc có thể chỉ là một từ, cũng có thể là hai hoặc ba từ trở lên. Cho đến nay Trung Quốc vẫn chưa có một thống kê chuẩn xác về số Họ của mình. Người đương đại Trung Quốc hiện đang sử dụng số Họ lên đến khoảng 3500 Họ. Và trong 100 Họ hay gặp thì có ba Họ lớn nhất đó là Họ Lý, Vương, Trương.
Tên của người Trung Quốc cũng có những đặc điểm truyền thống riêng của mình. Họ tên của người Trung Quốc đều là Họ đặt phía trước, tên đặt phía sau. Tên thì do một từ tạo thành (chủ yếu), cũng có thể do hai từ tạo thành (chiếm số ít).
Người thuộc cùng một dòng họ, tên gọi phải dựa vào thế hệ (lứa) để xếp đặt, những người cùng lứa hay cùng một thế hệ nhất định phải có một từ giống nhau. tên Viên
Tên họ của người Cổ Đại phức tạo hơn nhiều so với người Hiện Đại, người có văn hóa, có địa vị ngoài Tên, Họ ra còn có thêm Tự và Hiệu, ví dụ như: Văn học gia Tô Thức (đời Tống), họ Tô, tên Thức, tự là Tử Thiêm, hiệu là Đông Pha Cư Sĩ. Nhà thơ Lý Bạch (đời Đường) thời thơ ấu sống tại thôn Thanh Liên của Tứ Xuyên, do đó ông đã tự đặt cho mình hiệu “Thanh Liên Cư Sĩ”.
Tên của người Trung Quốc thường mang một hàm nghĩa nhất định nào đó, biểu thị một vài nguyện vọng nào đó. Một vài tên gọi bao hàm địa điểm sinh, thời gian sinh hoặc hiện tượng tự nhiên nào đó, ví dụ như “Kinh”, “Thần”, “Đông”, “Tuyết”…Một vài tên gọi biểu thị hy vọng một vài đức tính tốt đẹp nào đó, ví dụ như “Trung”, “Nghĩa”, “Lễ”, “Tín”,…Cũng có một vài tên gọi biểu thị ý nghĩa hy vọng khỏe mạnh, trường thọ, hạnh phúc, ví dụ như “Kiện”, “Thọ”, “Tùng”, “Phúc”… Tên Hoa ngữ của Google
Tên của người con trai và con gái cũng không giống nhau, tên của người con trai thường dùng những từ biểu thị vũ lực, quyền thế, ví dụ như: “Hổ”, “Long”, “Hùng”, “Vĩ”, “Cương”, “Cường”…Còn con gái thì thường dùng những từ đẹp và mềm mại, ví dụ như: “Phượng”, “Hoa”, “Ngọc”, “Thái”, “Quyên”, “Tịnh”…
Hiện nay, người Trung Quốc không còn quá coi trọng trong chuyện đặt tên nữa. Thông thường chỉ có tiểu danh, đại danh, và tên không nhất thiết phải dựa vào thế hệ để xếp đặt. Tất nhiên, chọn một cái tên hay cho con cháu của mình, vừa ý nghĩa lại không giống với người khác vẫn là niềm hy vọng của đại đa số người dân Trung Quốc.