Category Archives: Văn Hóa

Niềm Hạnh Phúc Giản Dị

    “Trong cuộc đời mỗi người, có những lúc ngọn lửa trong tim ta bị lụi tàn nhưng sau đó lại bùng cháy lên, đôi khi chỉ bằng một cuộc tiếp xúc với một người nào đó. Chúng ta nên biết ơn những người đã giúp khơi dậy ngọn lửa tinh thần ấy trong ta.” (Albert Schweitzer)

Và câu chuyện tôi muốn chia sẻ với các bạn hôm nay là về một cuộc tiếp xúc kì diệu như thế!
Bạn không may mắn khi sinh ra đã mang trên mình một căn bệnh rất khó cứu chữa và có lẽ nó sẽ kéo dài dai dẳng suốt cuộc đời bạn? Bạn cảm thấy mỗi ngày trôi qua dường như thật vô nghĩa? Và đôi khi bạn tự hỏi tại sao mình lại không có được cuộc sống hoàn hảo như những người khác, với một cơ thể khoẻ mạnh và tình cảm được yêu thương, có thể làm những điều mình thích mỗi ngày?
lonely
Anh là một người có hoàn cảnh như vậy. Mang trên mình căn bệnh “máu khó đông” suốt hai mươi hai năm trời, nhiều lúc tôi thấy anh thật tuyệt vọng và dường như mất hết niềm tin vào cuộc sống! Những di chứng của căn bệnh quái ác đã khiến đôi chân của anh bị dị tật, và nỗi đau lớn nhất là hầu hết thời gian của mình anh gắn bó với….bệnh viện!

Anh đã từng học rất giỏi, và là một người con rất ngoan. Có lẽ anh sẽ trở thành sinh viên của một trường đại học Kinh tế tiếng tăm nào đó nếu như đến năm 18 tuổi căn bệnh của anh không phát tác nặng nề như thế. Là con trai duy nhất của một gia đình trí thức có ba chị em, anh luôn được hưởng một cuộc sống vật chất đủ đầy, được sống trong sự quan tâm của gia đình và cả mọi người xung quanh, nhưng anh vẫn cảm thấy thiếu vắng một điều gì đó, nhỏ bé thôi những có ý nghĩa hết sức lớn lao đối với mỗi con người…

Hẳn bạn hiểu đó là cảm giác thiếu vắng những hương vị ngọt ngào của tình yêu đôi lứa đúng không? Đã từng có những rung động mãnh liệt với người khác giới, nhưng chưa một lần anh được đáp lại, có lẽ bởi họ sợ hãi về tương lai mù mịt của anh, về sự sống bấp bênh của anh…

Nhưng anh vẫn có nghị lực sống tràn trề. Anh vẫn chấp nhận đối diện với bệnh tật mỗi ngày và quý trọng từng phút giây mình được tồn tại trên cuộc đời. Và mỗi khi nghe tin anh lại phải nhập viện, tim tôi như ngừng đập vài giây, cầu mong cho anh đủ sức chống chọi với căn bệnh quái ác đó. Tôi tin anh sẽ làm được, và sự thật đến hôm nay, anh vẫn làm được. Anh vẫn đăng kí theo học một khoá học của trường trung cấp và hiện tại, anh đã trở thành nhân viên của một công ty về xây dựng. Dù gia đình luôn ở bên, anh đã có thể tự tạo dựng cuộc sống bằng chính những thứ mình làm ra. Thật đáng khâm phục!

Cuộc đời có lẽ không bất công với bất kì ai, và một niềm hạnh phúc dường như không tưởng đã đến với anh. Cuối cùng anh cũng đã gặp được một nửa đích thực của riêng mình. Khuôn mặt anh rạng rỡ hơn bao giờ hết, vì anh đang mỉm cười cảm ơn cuộc sống tươi đẹp này!

Đó là một cuộc gặp gỡ định mệnh, anh gặp chị trong một lần vào Huế điều trị. Chị xinh đẹp, có công việc khá ổn định và là con gái của một gia đình nền nếp. Nhưng có lẽ không gì tuyệt hơn, là chị đã thấu hiểu và thương cảm khi nhìn thấy những nỗ lực phi thường của anh, để vượt lên chính mình bất chấp số phận nghiệt ngã. Và anh chị đã đến với nhau như thế, không một chút băn khoăn, do dự; không một rào cản vật chất tầm thường nào. Hiếm có người con gái nào có tấm lòng cao cả và thánh thiện đến vậy!

“Thế giới này vẫn còn rất nhiều người tốt. Một số hoàn toàn xa lạ với bạn, một số khác rẩt gần gũi như người trong gia đình. Thật xúc động khi biết rằng trên thế giới vẫn còn rất nhiều người vui vẻ trao tặng một cái chạm tay yêu thương, một vòng tay ấm áp hoặc đôi tai biết kiên nhẫn lắng nghe. Họ giống như những thiên thần nâng ta dậy khi đôi cánh của ta quên đi cách bay”. (Steve Goodier)
yeunhau
Cuộc tiếp xúc của anh chị xuất phát từ sự đồng điệu về tâm hồn và sự rung cảm với nỗi bất hạnh của người khác. Chị sẵn sàng đưa bàn tay nhận cái chạm của tình yêu thương, lắng tai nghe những lời chia sẻ của anh bằng một trái tim nồng ấm và mở rộng vòng tay đón những vỗ về chân thật từ anh. Chính chị đã làm ngọn lửa sắp lụi tàn trong anh lại sáng bừng lên để chỉ hướng cho anh đi đến tương lai tươi đẹp. Và tình yêu được nuôi lớn từ những điều giản dị ấy, những điều giản dị nhưng không hẳn ai cũng đủ dũng cảm để kiếm tìm và chinh phục hạnh phúc đích thực cho mình.

Sau những tháng ngày gần gũi, gắn bó và tìm hiểu những giá trị thực sự trong tâm hồn của nhau, hôm nay là ngày vui của anh chị. Biết bao người đã ngạc nhiên và chúc mừng cho một mầm yêu đẹp đẽ đến ngày nở rộ. Cha mẹ anh đón niềm vui lớn lao trong những giọt nước mắt hạnh phúc. Gia đình anh ai cũng phấn khởi và chúc phúc cho tình yêu của anh chị. Và người hạnh phúc nhất hẳn nhiên là anh, vì anh đã tìm thấy được hạnh phúc của mình một cách giản dị như thế. Anh chị tay trong tay và nhìn thấy một thiên đường rộng mở trong đôi mắt của nhau. Ở thiên đường đó, không có chỗ cho sự ích kỷ chỉ nghĩ đến bản thân, không có chỗ cho những rào cản của số phận khắc nghiệt. Ở đó, luôn tràn ngập sự mầu nhiệm của lòng quan tâm, của sự hi sinh cao cả cho người mình yêu thương. Ở đó, niềm tin vào cuộc sống của mỗi con người sẽ không bao giờ vụt tắt!

Đâu đó trong tâm hồn tôi những ca từ và giai điệu đẹp của ca khúc “Ngày cưới” (Đỗ Bảo) vang lên như một lời chúc phúc cho anh chị:

Ngày cưới để ta nguyện ước chung một tương lai
Ngày ta mong ước riêng dành cho ai ngày ta sẽ về bên nhau mãi mãi
Ngày cưới, để đôi ta hạnh phúc trái tim ta mừng vui
Phút nguyện thề đắm đuối với trăng sao trên trời thấy tình yêu sang trang
Câu chuyện đời sang trang
Ngày cưới để ta ra ngắm xem đời còn thênh thang
Để ta vun đắp mối tình trong sáng
Ta không quên mang tình theo năm tháng.
…”

Và cũng chính lúc này đây, tôi nhận ra hạnh phúc đâu phải chỉ đến từ những điều lớn lao, vĩ đại mà thực xa vời, mà nó còn xuất phát từ những điều giản dị xung quanh mình!

Ca khúc Ngày Cưới của nhạc sĩ Đỗ Bảo


Ca sĩ: Tấn Minh – Ngọc Anh

Thảo Vi

Thủy Tiên, Thế Vinh, Richard Fuller – Một cõi đi về

Chào các bạn,

Thủy Tiên, tiếng ca thiết tha của nhạc Trịnh, với căn bệnh làm mất môi, khuôn mặt dị dạng, và tiếng nói ngọng nghịu, đã phải chui vào lu để tập nói.
thuytienthevinh
Thế Vinh chỉ còn một cánh tay nhưng vừa chơi guitar vừa chơi harmonica.

Richard Fuller người Mỹ hát nhạc Trịnh.

Nhìn bộ ba này trình diễn Một Cõi Đi Về của Trịnh Công Sơn, làm sao ta không đem lòng cảm phục?

Thật là những bậc kỳ tài! Thật là những tấm gương tích cực!

Mời các bạn thưởng thức Một Cõi Đi Về.

Sau video là 3 bài báo, về Thủy Tiên, Thế Vinh, và Richard Fuller.

Chúc các bạn một ngày vui.

Cám ơn anh Phan Quang đã giới thiệu.

Hoành
.

.

Ca sĩ khuyết tật Thủy Tiên: Vượt lên định mệnh
03.03.2008

Sau 8 lần phẫu thuật môi, tiếng nói của Thủy Tiên đã trở nên ngọng líu ngọng lô. Ròng rã gần hai năm trời, cái lu đựng nước đã giúp Tiên luyện cách phát âm và tiếng nói của cô trở lại gần như người bình thường. Mỗi lần buồn chán và tuyệt vọng, thay vì phải khóc nức nở, Thủy Tiên giấu mình vào cái lu và hát…
Tôi gặp Thủy Tiên tại cuộc Liên hoan tôn vinh những thanh niên khuyết tật thành đạt, chủ đề “Hoa cuộc sống”, do Trung ương Đoàn tổ chức. Thủy Tiên xuất hiện tại liên hoan không chỉ với tư cách một điển hình tuổi trẻ khuyết tật vượt lên hoàn cảnh, mà còn là một ca sĩ.

Lâu nay, giọng hát của cô đã khá quen thuộc đối với khán giả ở TP HCM qua các chương trình biểu diễn nghệ thuật từ thiện, tại các phòng trà, hội quán và cả trên sóng phát thanh, truyền hình.

Người ta biết cô là một ca sĩ khuyết tật chuyên hát nhạc Trịnh và hát rất hay, nhưng ít người biết, để có được tiếng hát ấy, để có được niềm đam mê được đứng dưới ánh đèn sân khấu hằng đêm, Thủy Tiên đã trải qua một quãng đời đau đớn và tuyệt vọng đến cùng cực…

Là con gái út trong một gia đình có 7 anh em, lên 3 tuổi, cô bé Tô Thị Thanh Thủy Tiên đã mồ côi cha. Người mẹ của 7 đứa con phải còng lưng tất bật tối ngày với từng mớ rau, con cá tại cái chợ cóc nằm trong một góc phố nghèo ở phường 24, quận Bình Thạnh, TP HCM, mới có thể kiếm đủ vài ba ký gạo mỗi ngày để duy trì cuộc sống.

Lên 7 tuổi, Thủy Tiên đã biết giúp mẹ bán hàng mưu sinh. Dù cuộc sống bộn bề vất vả, khó khăn, song cô bé vẫn rất chăm học và học giỏi. Cánh diều tuổi thơ chưa kịp đón gió thì bi kịch cuộc đời đã đổ ập xuống mái đầu non nớt. Thủy Tiên bị mắc một chứng bệnh hiểm nghèo.

Ban đầu bờ môi cô bé xuất hiện những nốt đỏ tấy, ngứa ngáy rất khó chịu. Mọi người tưởng Thủy Tiên bị bệnh nấm, nhưng càng bôi thuốc thì những vết tấy càng lan rộng. Mẹ Thủy Tiên đưa cô bé đến một thầy lang ở khu Lái Thiêu chữa trị. Những nắm thuốc được bào chế từ thảo dược của thầy lang càng làm cho bệnh tật nặng thêm lên.

Năm lên 8 tuổi, căn bệnh của cô bé chuyển sang lở loét. Vành môi xinh xắn như bị một con chuột quái ác gặm nhấm nham nhở, buốt thấu xương. Thủy Tiên đau mà không khóc được, vì càng khóc lại càng đau. Mỗi lần bị cơn đau hành hạ, cô bé chỉ biết dùng một cái khăn ướt đắp lên miệng rồi quằn quại trên giường, lăn trên nền nhà rên la một cách bất lực trong cổ họng.

Hoàn cảnh gia đình khó khăn nên chỉ đến khi đau đớn không chịu được nữa, Thủy Tiên mới được đưa đến bệnh viện. Kết quả xét nghiệm đã làm rụng rời hết thảy mọi người trong gia đình. Cô bé bị mắc bệnh xỉ tổ mả, một chứng bệnh rất hiếm gặp trên thế giới.

Những vết lở loét xung quanh miệng cô bé là dấu hiệu cho thấy bệnh đã diễn biến rất nặng, chuyển sang giai đoạn hoại tử. Để cứu mạng sống của cô bé, không còn cách nào khác phải phẫu thuật cắt bỏ những phần môi đã nhiễm bệnh.

Bờ môi xinh xắn của Thủy Tiên mất dần, mỏng dần, nhưng khi vết khâu vừa lên da non thì vết lở loét lại xuất hiện, lại phải gồng mình chống lại những cơn đau đớn cùng cực để các bác sĩ đưa những đường dao kéo. “Bây giờ nghĩ lại, em vẫn còn rùng mình kinh hãi. Thậm chí chỉ vô tình nhìn thấy dao kéo hoặc tiếng kim loại va vào nhau, em cũng đã nổi hết gai ốc” – cô nói.

Bước vào tuổi thiếu nữ, khi vấn đề nhan sắc được ý thức một cách rõ rệt, Thủy Tiên chỉ biết gục đầu vào tấm khăn để giấu đi những giọt nước mắt mỗi khi phải đối diện với chiếc gương soi.

Nhưng bi kịch hơn cả là tiếng nói của cô đã trở nên ngọng líu ngọng lô, do bờ môi đã bị biến mất gần như hoàn toàn sau 8 lần phẫu thuật. Những cố gắng tái tạo lại vành môi của các bác sĩ cũng chỉ giúp gương mặt cô bé bớt phần dị dạng.

Đã có lúc Thủy Tiên nghĩ đến cái chết để giải thoát, nhưng khi nghĩ về mẹ, cô lại không đành lòng. “Những lúc tuyệt vọng em muốn có một căn phòng đủ rộng và kín đáo, chốt chặt cửa lại để la hét cho vơi nỗi đau đớn và tủi thân, nhưng nhà nghèo, lấy đâu ra một không gian như vậy. Vật dụng duy nhất để em có thể thu mình vào trong đó là cái lu đựng nước loại lớn của mẹ. Em đã ngồi vào đó, cốt để cho tiếng khóc của mình không ai nghe thấy…” – Thủy Tiên nhớ lại.

Những lần gục đầu trong cái lu đựng nước, Thủy Tiên nghe rõ mồn một tiếng khóc của mình vọng bên tai. Và một ý nghĩ lóe lên: Mình có thể luyện giọng nói nhờ cái lu này. Tự mình nói và tự mình kiểm nghiệm giọng nói trực tiếp.

Rất khó khăn và nan giải. Thủy Tiên dồn hết mọi khả năng có thể để phát âm từng từ một, từng âm tiết một. Có ngày tập mỏi cả miệng, đến khi ăn cơm không nhai được nữa.

Có lần cái lu ấy được mẹ đổ đầy nước. Thủy Tiên đành xả bớt đi một nửa để gục đầu vào đó luyện phát âm. Khổ cho người mẹ già, lượng nước trong lu bà phải rất vất vả mới kiếm được giữa mùa khô hạn, giọt nước quý như vàng. Bực mình, bà bắt Thủy Tiên nằm sấp xuống quất cho mấy roi vào mông. Khi hiểu rõ sự tình, con gái đang luyện giọng nói bằng cái lu nước, bà ôm chầm lấy con, nước mắt giàn giụa…

Trung bình mỗi ngày hai lần, mỗi lần hơn một giờ đồng hồ, Thủy Tiên luyện cách phát âm của một người không còn bờ môi trong cái lu ấy. Ròng rã gần hai năm trời, Thủy Tiên đã thành công. Tiếng nói của cô trở lại gần như người bình thường.

Mỗi lần buồn chán và tuyệt vọng, thay vì phải khóc nức nở, Thủy Tiên cất tiếng hát. Cô giấu mình vào cái lu và hát. Hát cho quên đi nỗi đau, hát cho nước mắt chảy vào trong. Hát cũng là cách luyện khả năng phát âm.

Nhà có một chiếc đài cũ kỹ, Thủy Tiên sưu tầm các băng nhạc về bật lên nghe và hát theo. Nhạc Trịnh là thứ Thủy Tiên say mê nhất. Nghe nhạc Trịnh, cô như được sẻ chia nỗi đau, sự tiếp sức của tình yêu cuộc sống. Một năm, hai năm, rồi ba năm… Thủy Tiên thuộc và hát thành thạo hầu hết các sáng tác của Trịnh Công Sơn…

Sự mặc cảm về bản thân khiến Thủy Tiên sống thu mình. Rời trang sách tuổi học trò, trong lúc những người bạn cùng trang lứa, đứa thì vào đại học, đứa vào khu công nghiệp làm công nhân, Thủy Tiên chỉ biết “một cõi đi về” của mình từ nhà cho đến cái chợ cóc mà người mẹ đã còng lưng gánh nỗi ưu tư mấy chục năm rồi.

Thế giới tâm hồn của Thủy Tiên chỉ là cái lu đựng nước, đựng trong đó cả tấn bi kịch tuổi thơ và những lời ca như con chim còn nằm trong vỏ trứng…

Lệ Uyên và Thủy Tiên.

Một ngày nọ, sau khi hát với thế giới của mình, Thủy Tiên bắt gặp một người con gái trạc tuổi mình từ đâu tìm đến. Đó là một thiếu nữ xinh đẹp, vóc dáng như người mẫu. Cô gái giới thiệu tên là Lệ Uyên và muốn được làm quen với Thủy Tiên.

Lệ Uyên có người quen ở gần nhà Thủy Tiên. Khi đến chơi nhà người quen, tình cờ Lệ Uyên nghe được câu chuyện về một người con gái tập hát trong lu nước. Một chút tò mò xen lẫn sự thương cảm, mến phục, Lệ Uyên tìm đến.

Uyên đang làm việc tại một công ty ở Khu chế xuất Tân Thuận, là người rất mê nhạc Trịnh và hát khá hay. Lệ Uyên là thành viên của Hội Những người hát nhạc Trịnh. Tối thứ bảy hàng tuần họ lại tụ tập về Hội quán Nhạc Trịnh tại Khu du lịch Bình Quới, hát cho nhau nghe. Thành viên của hội có cả những nhạc sĩ, ca sĩ nổi tiếng.

Sau mấy lần đến thăm bạn, Lệ Uyên động viên Thủy Tiên hãy can đảm bước ra khỏi sự mặc cảm, hòa nhập với cuộc sống. Số phận nghiệt ngã với mình, nhưng mình không được nghiệt ngã với chính mình. Lệ Uyên đưa Thủy Tiên đến với Hội quán Nhạc Trịnh và động viên Thủy Tiên lên hát.

Lần đầu tiên đứng dưới ánh đèn sân khấu, Thủy Tiên như muốn không gian tối sầm lại, để mọi người đừng nhìn thấy mình, chỉ nghe mình hát mà thôi. Thủy Tiên hát, nước mắt chảy tràn tình khúc. Hát mà như đang kể chuyện đời mình.

Khi lời ca vừa dứt cũng là lúc cô bật khóc nức nở. Cả Hội quán lặng im. Thủy Tiên trở thành hội viên Hội Những người hát nhạc Trịnh bằng ấn tượng như thế.

Tại hội thi hát nhạc Trịnh tổ chức sau đó ít lâu, Thủy Tiên gây bất ngờ lớn khi vượt qua hàng trăm ca sĩ để giành giải nhất. Cô nổi danh từ đó. Những chương trình ca nhạc từ thiện hoặc chương trình dành cho người khuyết tật, người nghèo, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn,… các đạo diễn thường xuyên mời Thủy Tiên tham gia.

Sự góp mặt của cô trên sân khấu và truyền hình, không chỉ mang tiếng hát phục vụ khán giả, mà quan trọng hơn, đó là một bằng chứng sống động về một con người đã chiến thắng nỗi đau, bệnh tật để vươn lên bằng ý chí, nghị lực và trên hết là bằng sự sẻ chia của một tình bạn cao cả và cảm động.

Mỗi lần Thủy Tiên hát, Lệ Uyên đóng vai trò là người phối bè. Họ biểu diễn rất ăn ý trên sân khấu và thân thiết với nhau trong cuộc sống như ruột thịt. Lệ Uyên trở thành nguồn sức mạnh của Thủy Tiên, động viên, tiếp sức cho bạn.

Để giúp Thủy Tiên có cuộc sống ổn định, Lệ Uyên xin cho bạn vào làm việc tại Khu Chế xuất Tân Thuận với công việc kiểm hàng. Ban ngày làm việc, buổi tối họ đi hát ở Hội quán, phòng trà và tập luyện để tham gia các chương trình biểu diễn khi có lời mời.

Thủy Tiên chỉ hát nhạc Trịnh và biểu diễn rất thành công các ca khúc “Một cõi đi về”, “Đừng tuyệt vọng”, “Xin cho tôi tình yêu”, “Diễm xưa”…

Câu chuyện của Thủy Tiên đầy nước mắt, nhưng ngồi với chúng tôi, Thủy Tiên không khóc. Dường như những đớn đau, bi lụy đều đã đi qua, như bóng đêm hun hút phía sau lưng. Cô nói rằng, nếu không có Lệ Uyên, có thể giờ đây thế giới tâm hồn của cô vẫn chỉ là… cái lu đựng nước.

Còn Lệ Uyên thì không nói gì về mình. Trong ánh mắt và suy nghĩ của cô, Thủy Tiên là một người bạn tốt, đã vượt qua những nỗi đau và mặc cảm, tự ti để khẳng định mình.

Nếu như… Vâng! Nếu như không có căn bệnh quái ác ấy, thì Thủy Tiên đẹp lắm. Ánh mắt ấy, vóc dáng ấy, làn da ấy, gương mặt có cái lúm đồng tiền ấy… đủ để trở thành niềm mơ ước khát khao của biết bao chàng trai…

TP Hồ Chí Minh đầu tháng 1/2008

Phan Tùng Sơn

.

Nghệ sĩ khuyết tật Nguyễn Thế Vinh: 1 tay, chơi 2 nhạc cụ!

Thứ tư, 21 Tháng bảy 2004, 05:27 GMT+7 // <![CDATA[//

 

Nghe si khuyet tat Nguyen The Vinh 1 tay choi 2 nhac cu
Tags: Nguyễn Thế Vinh, Trịnh Công Sơn, Khu du lịch Văn Thánh, sự chú ý, nhạc cụ, nghệ sĩ, một tay, cùng lúc, khuyết tật, thời gian, anh, chơi, học, đàn

 

Nha Khoa Lan Anh
// <![CDATA[//

 

Nghe si khuyet tat Nguyen The Vinh 1 tay choi 2 nhac cu
Nguyễn Thế Vinh đang chơi cùng lúc hai nhạc cụ guitar và harmonica Ảnh: H.S.

Trong đêm nhạc “Cõi tình – Trịnh Công Sơn” vừa rồi tại khu du lịch Văn Thánh, có một nghệ sĩ nghiệp dư nhưng lại tạo sự chú ý đặc biệt, đó là Nguyễn Thế Vinh.

Vóc người nhỏ thó, da ngăm đen và bị cụt mất một tay, thế mà anh lại độc diễn cùng lúc hai nhạc cụ guitar và harmonica với sự hòa điệu hết sức độc đáo, làm khán giả vô cùng ngạc nhiên và thán phục…

Tuổi thơ bất hạnh

Quê của Nguyễn Thế Vinh vốn là một vùng đất nghèo ở Bắc Bình, Bình Thuận. Ba Vinh mất trong chiến tranh. Ba năm sau ngày ba mất, mẹ của Vinh cũng buồn khổ mà chết khi anh mới tròn 7 tuổi. Bốn anh em nheo nhóc mồ côi được ông bà ngoại đem về cưu mang.

Sau mỗi buổi học về, Vinh lại dắt đôi bò của hợp tác xã đi chăn để phụ giúp ông bà. Trong một buổi chiều xui rủi, Vinh bị ngã từ trên lưng bò xuống và gãy tay. Nếu như được đưa vào bệnh viện băng bó kịp thời thì chẳng có chuyện gì lớn, đằng này Vinh lại được đưa đến một thầy lang và không biết ông ta chữa trị như thế nào mà sau đó ít hôm cánh tay phải của Vinh bị hoại tử, phải cắt bỏ. Hai chữ “độc thủ” đeo bám đời Vinh từ đó.

Bôn ba tìm kế sinh nhai

Với hai nhạc phẩm Một cõi đi vềNgụ ngôn mùa đông, anh đã làm ngây ngất những ai có mặt trong đêm nhạc “Cõi tình – Trịnh Công Sơn”. Đây cũng là chương trình lớn đầu tiên anh được tham gia (sau khi trở thành thành viên của hội quán Hội Ngộ chừng hai tháng nay) và ngay lập tức tạo được một tình cảm đặc biệt nơi công chúng yêu nhạc Trịnh.

 

Sau mỗi ca khúc của Vinh, mọi người lại vỗ tay không ngớt và dành cho anh những bó hoa tươi thắm nhất. Có ai đó còn thốt lên rằng: “Lại xuất hiện thêm một “quái kiệt” mới trong làng âm nhạc thành phố!”. Quái kiệt hay không còn phải chờ thời gian thẩm định thêm. Chỉ biết rằng trong giờ phút ấy, ai tinh mắt sẽ nhận thấy những giọt lệ đang lặng lẽ lăn ra từ khóe mắt Vinh.

Anh xúc động tột cùng vì lâu nay anh tập chơi đàn cốt để thỏa mãn đam mê âm nhạc, để gửi gắm tâm sự cuộc đời chứ đâu ngờ lại có thể đem niềm vui đến cho người khác.

Hè năm lên lớp 4, sau khi da thịt đã lành lặn, Vinh bắt đầu tập viết bằng tay trái. Sau một tuần miệt mài và quyết chí tập luyện, Vinh đã viết được tuy hơi chậm hơn trước đây và sẵn sàng cho năm học mới.Thời gian đầu Vinh gặp rất nhiều khó khăn vì phải gò viết bằng tay trái, nhưng với ý chí vượt khó của một cậu bé đầy nghị lực, Vinh vẫn học rất chăm và luôn đạt kết quả cao trong học tập.

Dù còn một tay nhưng Vinh vẫn tiếp tục phụ chăn bò cho gia đình đến hết lớp 7… Thấm thoắt vậy mà cậu bé một tay ấy cũng học hết lớp 12.

Sau khi tốt nghiệp THPT, vì không muốn phụ thuộc gia đình nên Vinh quyết định vào TP.HCM tìm kế sinh nhai. Trong thời gian tá túc “ké” mấy anh sinh viên ở cơ sở D Trường ĐH Kinh tế (sau lưng nhà hát Hòa Bình), được mấy anh khuyến khích, động viên, Vinh quyết định học tiếp và mượn sách vở của các anh để ôn thi.

Năm 1989, Vinh trúng tuyển vào ĐH Kinh tế TP.HCM. Để có tiền ăn học, Vinh đã phải dành dụm số tiền học bổng ít ỏi hằng tháng và làm đủ thứ nghề từ vá xe đạp, dạy kèm cho đến giữ xe chung cư…

Tuy học quản trị kinh doanh nhưng Vinh lại rất mê ngành điện tử. Anh đã học lóm nghề này từ một người bạn và mua sách vở mày mò học thêm. Vậy mà không ngờ chính nghề điện tử này lại gắn bó với anh đến tận bây giờ (hiện anh đang là thợ sửa chữa điện thoại di động và có hẳn một cửa hàng riêng ở Gò Vấp).

Ba năm cho một ngón đàn

“Năm học lớp 6, mặc dù bị cụt một tay nhưng khi thấy người cậu chơi đàn guitar, mình rất mê. Hễ có dịp là mình lấy đàn ra tìm cách đánh thử. Khi thì kẹp phím vào cùi tay cụt để gảy, khi thì gảy thử bằng chân… nhưng tất cả đều thất bại” – Vinh nhớ lại.

Mãi đến ba năm sau Vinh mới nghĩ ra cách để có thể chơi đàn với tay trái duy nhất của mình: dùng ngón trỏ để gảy và các ngón còn lại bấm phím. Thời gian đầu anh chỉ tập bấm từng nốt một, tập một cách mày mò, kiên trì vì chơi đàn như thế rất khó và hầu như chưa thấy ai chơi như vậy bao giờ. Dần dà Vinh cũng đàn được một số bài hát và chừng đó cũng cảm thấy sướng lắm rồi.

Tuy nhiên đàn từng nốt như thế thì chưa thể gọi là đàn nên sau khi vào đại học, Vinh dành dụm tiền đi làm thêm – được 60.000 đồng – và mua một cây đàn guitar mà đến nay anh vẫn còn nhớ ngày mua là 14-6-1990.

Có đàn, Vinh bắt đầu tập bấm hợp âm, từng đêm tỉ mẩn mày mò khổ luyện tập từng hợp âm một. Mỗi hợp âm như thế Vinh phải tập cả tháng trời, khi đã nhuần nhuyễn mới tập tiếp hợp âm khác. Cứ thế anh âm thầm luyện ngón đàn trong ba năm và thành công ngoài mong đợi. Các ngón tay Vinh giờ đây dường như đã độc lập với nhau và anh có thể đàn một cách rất bài bản, chỉ với một bàn tay!

Song song với chơi guitar, Vinh còn chơi tốt harmonica từ khi học lớp 10. Sau này anh nảy ra ý định “sao mình không thử hòa âm harmonica với guitar nhỉ?”. Thế là anh lại lao vào cuộc chơi mới vừa đánh guitar vừa thổi harmonica.

Để hai tiếng đàn và kèn này hòa âm đồng bộ với nhau thì đây lại là một giai đoạn tập luyện kỳ công nữa của Vinh. Cuối cùng, với lòng kiên trì và quyết tâm, Nguyễn Thế Vinh đã chơi được cùng lúc hai nhạc cụ, với một sự kết hợp tuyệt vời mà nhiều người không hiểu tại sao anh có thể làm được.

HỒNG SƠN

.

Thứ Hai, 06/10/2008, 14:00

Khi Richard Fuller hát nhạc Trịnh

TP- Năm 1969, Richard làm việc cho một tổ chức tình nguyện quốc tế và có dịp đến VN, bắt đầu đồng cảm với những ca khúc của Trịnh Công Sơn.

Richard Fuller hát nhạc Trịnh tại phòng trà ATB

Từ đó ông thường xuyên có những chuyến đi – về giữa Mỹ và Việt Nam, năm 1993 trở lại VN trong thời bình Richard được gặp Trịnh Công Sơn, họ đã cùng nhau hát trong một số chương trình đặc biệt.

Và khi thăm lại quê hương của Trịnh Công Sơn vào năm 2001, Richard không còn được gặp ông nữa vì nhạc sĩ đã qua đời.

Bước lên sân khấu phòng trà ATB tối 3-4/9 vừa hát, Richard vừa giới thiệu nghệ sĩ khác một cách hồn nhiên, ngộ nghĩnh khiến khán giả bật cười: Xin giới thiệu một “kẻ thù” sẽ lên biểu diễn (ám chỉ các ca sĩ cạnh tranh với nhau trên sân khấu!), đó là Thế Vinh.

Tôi gặp Vinh và thích tài năng của anh, từ đó chúng tôi hát chung với nhau. Nghệ sĩ Thế Vinh đàn cho Richard hát Diễm xưa đong đầy cảm xúc. Không chỉ hát Dậy mà đi (Tôn Thất Lập), Người con gái Việt Nam da vàng (Trịnh Công Sơn), Không (Nguyễn Ánh 9)… mà Richard còn chiều lòng khán giả, hát ca khúc ngoại như Quantalamera, nghệ sĩ Thế Vinh hóm hỉnh: “Anh Phú Phong Trần nhớ tiếng Việt rất tốt, nhưng nghe anh hát tiếng Anh mà tôi cứ sợ anh quên.

Vừa rồi anh hát rất tốt chứng tỏ trình độ tiếng Anh đang khá lên rất nhiều!”. Khán giả cười ồ còn Richard thì vừa cười vừa lắc đầu: “Bó tay! Đấy, quý vị đã hiểu vì sao tôi gọi anh ấy là… kẻ thù!”.

Bà chủ phòng trà ATB Ánh Tuyết nhận xét về ca sĩ đặc biệt này: “Nghe Richard hát bằng tiếng Việt, cách rung động làn hơi rất chân thành và chứa chất nhiều day dứt mà dường như chính anh đã chứng kiến, đã thấu hiểu. Nhiều lần tiếp xúc với anh, tôi biết anh rất yêu VN.

Mấy tháng trước tôi cùng anh ra dự Festival Huế 2008, trước khi tới Huế, anh nằng nặc bảo tôi rằng anh phải ra Nha Trang thăm bà con. Tôi ngạc nhiên bởi anh làm gì có bà con ở Nha Trang mà thăm nom, anh cười: tôi có nhiều bà con ở Nha Trang chứ, đó là những người VN…”.

Yêu đời hơn, yêu người hơn, đó là điều đọng lại sau khi nghe một người nước ngoài yêu VN như Richard Fuller cất giọng hát.

Lâm Văn

Di sản Thế giới – Vịnh Hạ Long

Chào các bạn,

Vùng Biển Rồng Đáp này thì rất khó để giới thiệu với các bạn, vì như thế thì chẳng khác gì với thiệu ông chú với bà thím. “Chào chú, giới thiệu với chú, bà này là vợ chú đấy.” Đôi khi cũng có thể phải làm thế thật. 🙂 Nhưng Vịnh Hạ Long thì chắc là không cần.

Nét hùng vĩ và kỳ bí của Vịnh Hạ Long thật là có một không hai trên thế giới. Dù là Vịnh Hạ Long có dự phần trong hai cuốn phim lớn, Indochine và Tomorrow Never Dies (James Bond 007), hai cuốn phim này chẳng làm nên công lý cho Hạ Long. Thực sự là phải ngồi bập bềnh giữa trời biển núi bao la ấy, ta mới cảm nhận được nét tuyệt mỹ cùa Hạ Long và tính vô tận của trời đất.

Mình mới làm xong PPS Vinh Hạ Long, với nhạc nền là bản Hải Đảo Xa Xôi (Distant Island) của Deuter. Post đây để chia sẻ với các bạn.

Xin các bạn click vào ảnh dưới đây để xem slideshow và download.

Chúc các bạn một ngày hùng vĩ.

Bình an & Sức khỏe,

Túy-Phượng
.

halong

Hà Nội Phố, Hà Nội Mùa Đông!

Chút gió heo may về mang theo hơi hướng của một mùa đông Hà Nội sắp bắt đầu. Thu còn chần chừ, vấn vương chia tay trong hương cốm man mát, hương hoa sữa nồng nàn, ngây ngất phố, trong màu nắng vàng tươi như mật ong. Đông ngập ngừng với những cơn gió mùa đông bắc đầu tiên, lẫn vào từng cơn mưa, mưa lá bay đầy trời, kéo theo cái lạnh của khoảnh khắc giao mùa, vừa đủ cho những đôi tình nhân tìm hơi ấm tay trong tay bên nhau.
hanoi1

Lập Đông, Hà Nội có gam màu và hương vị say đắm là lạ. Màu vàng, đỏ của nắng, của lá cây, hương phố tỏa ra từ những hàng quà mùa Đông dọc vỉa hè…Tất cả những điều thi vị đó mang cho những người con xa Hà Nội một nỗi nhớ khó tả. Không ồn ào náo nhiệt như mùa Hè, không nồng nàn say đắm như mùa Thu, không tươi trẻ đầy sức sống như mùa Xuân, Đông Hà Nội mang chút lạnh lùng nghiêm nghị nhưng cũng không kém phần đáng yêu và duyên dáng giống như những nàng thiếu nữ Hà Nội vậy.

Hồ Gươm ngày Đông, mặt nước phẳng lặng, soi bóng Tháp Rùa cổ kính và những cành cây khẳng khiu, trụi lá. Lá đã theo gió đi cùng mùa Thu, dành lại cành trơ khấc cho mùa Đông.
hanoi2
Nắng không đủ rực rỡ, chỉ vừa đủ để làm hồng đôi má của ai đó. Những con đường với những rặng cây đang thay sắc lá. Thỉnh thoảng vài chiếc lá còn sót, rơi xuống trông giống như một vạt nắng vàng lấp lửng giữa khoảng không. Những chùm quả bàng chín vàng ửng, treo lủng lẳng trên cành, những bông hoa điệp còn vương lại, những cành cây cơm nguội rung rinh trong gió có vẻ như không muốn rời đi theo mùa, làm cho cái màu xám đặc trưng của mùa Đông được giảm bớt. Nhờ đó ta vẫn thấy ấm áp trong cái lạnh của gió, của không khí khi bắt gặp Đông trên phố.


“…Hà Nội mùa này chiều không buông nắng

Phố vắng nghiêng nghiêng cành cây khô

Quán cóc liêu xiêu một câu thơ

Hồ Tây, Hồ Tây tím mờ…”

hanoi3

Hồ Tây sương phủ mờ, con đường Cổ Ngư hôm nay dường như cũng có chút khác lạ. Rộng hơn, lạnh hơn, không còn những đôi tình nhân sóng sánh bên nhau dạo bước dưới nắng chiều. “…Đường Cổ Ngư xưa chầm chậm bước ta về…” .

Hà Nội Đông về còn quyến rũ lòng người bởi những món ăn rất riêng. Đó là ngô nướng, ốc luộc và quẩy nóng chiên giòn.

Những bắp ngô nếp còn non, vừa mới được trẩy về từ bãi giữa cầu Long Biên, ven sông Hồng. Bóc lớp áo lá xanh mướt bên ngoài, ta bắt gặp những hạt ngô trắng ngần, bóng mịn, còn căng sữa. Đem quạt nướng trên than hồng chừng mươi phút sẽ cho chúng ta những bắp ngô nướng ngọt dẻo thơm bùi, ngon phải biết…Ngô nướng quyến rũ thực khách bằng hương thơm riêng biệt, mùi thơm của hương đồng gió bãi, của phù sa hào phóng. hanoi4-ngôNgô nướng chỉ sinh ra vào đúng mùa này, đúng khoảng khắc này khi cái se se lạnh của heo may bủa vây quanh ta, khi màn đêm biến chậu than hồng trở nên lung linh huyền ảo. Ai cũng muốn ngồi gần chậu than hơn chút nữa, những đôi má ửng đỏ, những cặp mắt long lanh xúm quanh người quạt ngô, những câu chuyện không đầu không cuối, những tiếng xuýt xoa trong tà áo mỏng, âm thanh lép bép của lò than…tạo nên một không gian ấm cúng kỳ lạ, hòa quyện vào không khí chờ đợi thơm mùi ngô nếp. Cầm bắp ngô nướng chín nóng hôi hổi trên tay, ta có cảm giác hơi ấm lan truyền từ tay vào từng đường gân thớ thịt. Cẩn thận tách từng hạt, từng hạt, nhẹ nhàng bỏ vào miệng, nhẹ nhàng nhâm nhi như sợ cái vị ngon ngọt ấy tan nhanh đi mất.

Sẽ là thiếu sót nếu ta bỏ qua món quẩy nóng.
Mặc dù chỉ mới qua mấy trận gió mùa mà đâu đó bên những vỉa hè, cổng trường đã xuất hiện hàng quẩy nóng với mấy cái ghế, cái bàn con sơ sài cùng chảo mỡ to đùng. Đây là món ăn dân dã và rất rẻ. Ta có thể bắt gặp trên phố rất nhiều hàng quẩy nóng nhưng nổi tiếng nhất vẫn là quẩy ở các phố như Cửa Nam, Phan Bội Châu, Quán Thánh, Thụy Khuê. hanoi5-quay
Quẩy ở phố nào cũng giống nhau, nhưng điều để thu hút thực khách và làm cho món quẩy của quán mình trở nên nổi tiếng thì bắt buộc người chủ phải có nước chấm ngon. Chua ngọt của dấm đường, se cay đầu lưỡi của ớt tươi, mặn dịu của nước mắm và không thể thiếu những lát đu đủ hay cà rốt thái mỏng. Một đĩa quẩy nóng, chấm với nước chấm chua ngọt, thêm chút tương ớt… Chao ơi mới hấp dẫn làm sao.

Có ngô nếp nướng, quẩy nóng giòn, sao ta có thể quên ốc luộc được chứ! Những con ốc béo ngậy được làm sạch sẽ, luộc với lá chanh, sả và một chút gia vị ta có được món ốc ngon tuyệt. Cũng giống như ăn quẩy, ốc ngon một phần nhờ nước chấm, mỗi quán có một cách pha nước chấm riêng, khiến người ăn không thể nhầm lẫn. Nhẹ nhàng xoắn ruột ốc ra khỏi vỏ, rồi nhẹ nhàng nhấn chìm vào nước chấm, mùi vị chúng hòa quyện vào nhau, ngọt ngào biết mấy. Đêm mùa Đông, ngồi xì xụp húp bát nước ốc, uống rượu trong hơi men, xích lại gần nhau nói đủ thứ chuyện, những con ốc như kéo gần khoảng cách mỗi người.hanoi6-oc

Cứ vẩn vơ, mơ màng với cây, với lá, với quà phố Hà Nội trong cái lạnh ngọt ngào còn vương chút thu, dạo bước qua những con đường lá rụng ngập đầy lối đi, dễ khiến hồn ta bay bổng theo từng cơn gió. Đông ơi, chào mi nhé. Mi về đây để ta có thể diện những chiếc khăn len ấm áp, để ta có thể thưởng thức một tách cafe nóng trong quán quen, để ta có thể hít hà cái lạnh giá của sương sớm…

Thi thoảng ta tự tạo cho mình cảm giác nhớ, để lại được mơ màng trong những dư âm cùng giá rét, nơi biến ta thành kẻ mộng mị sống cùng kí ức với niềm dấu yêu dành cho Hà Nội. Hà Nội mùa Đông với mái ngói rêu phong, với cây bàng trụi lá thân sẫm trong sương mờ. Hà Nội mùa Đông với thấp thoáng phố xá ánh đèn, quán cóc vỉa hè, tiếng rao vẳng phố khuya…để lại từng nỗi niềm yêu thương mong nhớ hoài cảm.
hanoi7

Và ta thấy lòng chùng xuống như khi nghe một giai điệu quen thuộc và vọng trong ta một khúc ca Hà Nội phố:

“Em ơi Hà Nội phố

Ta còn em mùi Hoàng Lan

Ta còn em mùi hoa sữa

Con đường vắng rì rào cơn mưa nhỏ

Ai đó chờ ai tóc xõa vai mềm

Ta còn em cây bàng mồ côi mùa đông

Ta còn em góc phố mồ côi mùa đông…”

Nguyễn Thanh Mai
Leo_pretty

Hồi Ký của Y Ngông Niê Kdăm

Thấy quyển hồi ký của ba chị Linh Nga, bác Y Ngông Niê Kdăm, rất hữu ích cho chúng ta để hiểu biết thêm về đồng bào Tây Nguyên trong chiến tranh và cách mạng, đồng thời biết thêm về một chiến sĩ cách mạng và biết thêm về bạn quý Linh Nga của chúng ta, mình xin phép chị Linh Nga post lên Đọt Chuối Non. Ảnh trong hồi ký là ảnh minh họa của mình. Hy vọng mai mốt chị Linh Nga có thể cho chúng ta các bức ảnh liên hệ đến bác để chúng ta thay thế ảnh minh họa.

Cám ơn chị Linh Nga rất nhiều !

Hoành

.

    Ba tôi có hai lần viết hồi ký . Cuốn ” Khát vọng Tây Nguyên” do nữ nhà báo Diệu Ân ghi, Nhà xuất bản VHDT phát hành năm 1994, không được ông ưng ý lắm. nên Mẹ tôi, bà Bùi Thị Tân đã một lần nữa ghi lại. Đó chính là bản này , chân thật hơn.

      (Linh Nga Niê Kdăm)

.

Nguyên bản của Y NGÔNG NIÊ KDĂM

    “ Bạn ơi lắng nghe, nghe tiếng núi rừng
    Dòng suối xanh trong đất nước anh hùng
    Bền vững như non cao như dòng sông Ba”

Đó là câu mở đầu của một bài hát về Tây nguyên do nhạc sĩ Trần Quý sáng tác, nó có vẻ hư cấu, nhưng là một bài hát nổi tiếng ca ngợi quê hương Tây Nguyên tươi đẹp. Với những người Tây Nguyên như chúng tôi, khi nghe lời ca đó đều có một tình cảm rạo rực, xúc động trong lòng.Tôi rất thích và thường hay cất lên lời ca này, mỗi khi nhớ về Tây Nguyên.
BMT6
Tây nguyên bao la hồi xưa với rừng già còn lút mắt, thú rừng chim đẹp, nhiều vô kể. Ngay ven những con đường là rừng cây to hằng mấy người ôm. Rừng cây đã nuôi sống, che chở và bảo vệ cho các tộc người sống rải rác trên cao nguyên đất đỏ bazan mênh mông.

Thực dân Pháp sau khi bình định các tỉnh miền xuôi đã len lỏi tới rừng núi cao nguyên này. Chúng đã bị một số tù trưởng người dân tộc, như Săm Brăm, N’Trang Lơng, N’Trang Gưh, Ama Djao….liên kết chống trả ác liệt.Dù với đủ chính sách, cả cứng rắn, mềm dẻo đều có, nhưng hầu như chúng không thể nào khuất phục nổi lòng người Tây nguyên.

Mặc dầu họ rất nghèo vì còn hoàn toàn phụ thuộc vào đời sống tự nhiên, kỹ thuật canh tác quá thô sơ, hàng năm phải vài tháng đào củ rừng bổ xung cho bữa ăn, nhưng người Tây Nguyên vẫn sống rất thoải mái giữa núi rừng bao la hùng vĩ, đất rộng người thưa.

Mẹ đã sinh ra tôi trong bối cảnh đó, vào lúc gà gáy sáng ban mai ngày 13 – 08 – 1922 tại buôn Ea Sup, xã Kma Rang Prong – nay thuộc thị trấn Ea Pok, huyện Cư Mgar, tỉnh Đăk lăk. Thật ra người Êđê chỉ biết tính tuổi theo mùa rẫy, nhưng sau này đi học theo trường Pháp, họ gọi bố mẹ hỏi cặn kẽ, rồi tính ngược lại để lập giấy khai sinh cho chúng tôi.

Người Êđê chúng tôi ở Đăk lăk có 2 dòng họ lớn Niê và Mlô.Từ 2 dòng tộc chính này toả ra 24 nhánh họ. Niê kdăm đứng đầu dòng họ Niê, Mlô Duôn Du đứng đầu dòng họ Mlô. Mẹ tôi thuộc dòng họ Niê kdăm, một dòng họ từ xa xưa có nhiều tù trưởng giàu có, hùng mạnh( vì theo truyền thuyết thì khi lên khỏi mặt đất, các dòng tộc khác đã chia chác, lựa chọn hết những vật có sẵn, người trưởng họ Niê kdam giận dỗi đạp mạnh chân lên mặt đất, nói “ tất cả đất này là của Niê kdam”). Nhưng tới thời thuộc Pháp người Êđê nghèo dần. Sau Cách mạng Tháng 8, chế độ tù trưởng cũng đã không còn nữa. Tôi mang họ Niê kdăm của mẹ theo đúng luật tục mẫu hệ Êđê.

Mẹ đã sinh tôi trong cảnh đói nghèo, chỉ có 2 anh em trai: tôi và Y Wung . Bố đẻ tôi đã ốm chết ở buôn Dhăh sau chuyến đi phu ở đồn điền cafe Cư H”lâm của chủ Tây. Lúc đó tôi chưa biết gì. Sau này mẹ tôi đi bước nữa, sinh thêm được 4 em nhưng chết 2, chỉ còn 2 cô em gái là H’Reo và H’Droh ( hiện đang ở buôn Ea Sut, thị trấn Ea Pok, huyện Cư M”gar, tỉnh ĐL).Bố dượng tôi rất tốt, ông đã nuôi và dạy dỗ chúng tôi như người cha đẻ. Những năm hai anh em tôi đi học ở trường tiểu học Pháp- Đê , ngày nghỉ, dượng thường lên đón chúng tôi về buôn Sut.Y Wung nhỏ tuổi hơn, luôn được dượng cõng trên lưng.Còn tôi ỷ mình lớn, tự hào được chạy theo chân cha suốt dọc đường gần 20km từ trường về buôn. Có cả cha và em luôn bên cạnh, tôi đâu có sợ.

Gia đình tôi thường xuyên đói, năm nào cũng ăn củ rừng thay cơm. Có một lần khi mới 5 tuổi, mẹ đã cho tôi đi theo cùng với em trai địu sau lưng, vào rừng đào củ mài. Rễ củ ăn quá sâu, mẹ cứ đào mãi, đào mãi, mồ hôi vã ra như tắm. Vừa mệt vừa đói, mẹ tôi ngã chúi xuống hố.Hai anh em tôi cùng kêu khóc gọi mãi nhưng chẳng thấy mẹ nói gì. Tôi vô cùng sợ hãi, sức nhỏ yếu không kéo được mẹ lên, chỉ biết ôm chân mẹ mà khóc. Mãi sau có dân làng cũng đi rừng về nghe tiếng khóc mới chạy đến dìu mẹ lên và dắt chúng tôi về.

Những năm tháng đó thật khủng khiếp (1927), bọn Pháp vây ráp, dân đói khát, bệnh tật, không gạo, không muối, không có quần áo. Vì tù trưởng Ama Djao bất hợp tác với Pháp, nên bọn chúng chặn luôn cả đường buôn bán từ miền xuôi lên, nên càng thiếu muối ăn. Nhiều người già, trẻ em chết gục ngoài rừng. Tình hình Tây nguyên hết sức rối ren, cảnh đói cơm lạt muối, chết chóc thảm thương càng khắc sâu mối thù của người Tây nguyên với giặc Pháp.

Không chịu ngồi im để nhìn đồng bào chết dần chết mòn, một số tù trưởng đã tổ chức nhân dân nổi dậy chống lại chế độ hà khắc của giặc Pháp. Bọn Pháp truy quét gắt gao các tù trưởng để ngăn chặn làn sóng đấu tranh của nhân dân. Có thể nói năm 1929 là năm đói nhất. Thực dân Pháp càng tổ chức bắt bớ, nhân dân càng thấy rõ bộ mặt dã man của chúng, lại càng căm thù và cương quyết không chịu theo. Pháp đến, dân bỏ đi, chỉ cần trên vai có cái gùi, con dao và ít muối. Đối lại, thực dân Pháp dùng chính sách vừa đàn áp, vừa dụ dỗ. Để phô trương chính sách khai hoá văn minh của nhà nước bảo hộ, chúng mở ra tại Buôn Ma Thuột một trường nội trú dân tộc với tên là : “Groupe Scolaire Franco – Rhadé” – Trường tiểu học Pháp – Đê, do Legale làm hiệu trưởng. Học sinh do lính đi càn ở các buôn làng bắt về.

Khi đó tôi mới 7 tuổi, hôm ấy đang say sưa nô đùa với các bạn trong làng vào ngày lễ cúng Yang bến nước. Bên bờ suối mọi người đang đánh chiêng, uống rượu cần thì một trung đội lính khố xanh người dân tộc thiểu số do một tên Pháp dẫn đầu kéo tới. Chúng bảo chủ làng : Theo lệnh quan công sứ phải bắt trẻ con từ 6 – 7 tuổi về Buôn Ma Thuột đi học.

Nghe thấy vậy chúng tôi chạy toán loạn vào rừng, trèo lên các cây to, cây nhỏ trốn. Tôi và một số bạn trèo lên một cây cam to. Bọn lính ngồi uống rượu, bắt chủ làng khai tên bọn trẻ con 7 tuổi trong buôn và doạ :

– Ai không gọi con về thì cha mẹ sẽ bị bắt, khi nào nộp con mới được về.

Qua một đêm một ngày. Bọn lính lùng sục không tìm được ai, nhưng chúng tôi đói quá phải rủ nhau về nên bị bắt một loạt. Bố mẹ chúng tôi phải mang quần áo đưa con về Buôn Ma Thuột.Tôi và em trai Y Wung cũng ở trong số này.Suốt một năm đầu bố dượng tôi phải theo lên khu nội trú dắt chúng tôi đi học, vì chúng tôi bé quá, đi ăn cơm cũng chưa biết chỗ.Những năm sau tôi học được loại khá, nhưng do nhớ nhà nên hay trốn về. Chính quyền tỉnh bắt gíam dượng tôi 3 tháng, sau đó anh em tôi thương dượng quá mà không dám trốn về nữa. Học được mấy năm, lên lớp 4, 5 tôi luôn là học sinh giỏi.Vào các ngày chủ nhật được ra phố chơi, chúng tôi thường gặp các đoàn tù ở nhà đày Buôn Ma Thuột đi lao động quét đường, cắt cỏ. Họ mặc áo xanh có số đeo sau lưng, có lính khố xanh canh gác. Bọn chúng tôi thắc mắc lắm, về trường hỏi thầy giáo :

– Thầy ơi ! Các ông kia quét đường lại có lính gác, họ có tội gì đấy ?

Thầy giáo nói nhỏ :

– Đó là Cộng sản bị Pháp bắt tù đấy

– Vì sao họ bị tù ?

– Đó là những người yêu dân, yêu nước, chống lại bọn Pháp. Vì chúng nó bắt dân ta làm nô lệ, bắt đi xâu, làm cu li đồn điền trồng cao su, cafe cho chúng.

Tôi nghĩ trong đầu : “Bố mình cũng phải đi phu đồn điền, không mang gì về cho gia đình mà mẹ còn phải tiếp tế cho bố. Nó chơi ác cả với bố mình và gia đình mình rồi”

Dần dần thầy giáo bí mật giảng giải cho chúng tôi biết như thế nào là yêu nước. Tôi còn nhớ đó là các thầy Đào Tử Chí, thầy Phú…Năm tôi 15 tuổi, cả trường có chừng 600 học sinh, chúng cho học thì ít, bắt lao động thì nhiều. Sáng học, chiều nuôi bò, nuôi heo, chủ nhật đi vào rừng lấy củi. Thấy cuộc sống gò bó, căng thẳng, có một số học sinh rủ nhau trốn học nhưng bị bắt lại. Tôi rủ một số bạn học sinh lớn tuổi lên gặp thầy hiệu trưởng Legale xin ông cho giảm giờ lao động, tăng giờ học. Hiệu trưởng đồng ý, nhưng từ đó tôi bị nhà trường theo dõi.
BMT7
Khi học hết cấp I, tôi tốt nghiệp loại giỏi và được chọn đi học nội trú cấp II ở trường trung học Quy Nhơn cùng một số anh em khác như Y Nuê (sau này là giáo sư bác sỹ Ái Phương ), Y Tlam (sau này cũng là giáo sư y khoa ), Nay Phin ( sau là đại biểu quốc hội tỉnh Gia Lai ).Từ năm 1937 – 1940 tôi học ở đây cùng các bạn Tây nguyên và người Kinh. Vì còn ít tuổi lại cùng ở xa nhà nên chúng tôi rất dễ quen nhau, thương nhau không kể người Kinh, người dân tộc. Bạn thân của tôi lúc đó là anh Võ Đông Giang, người Kinh, ngồi cùng bàn ( sau này anh giữ chức bộ trưởng Bộ Ngoại giao trong chính phủ ). Bọn Pháp không cho chúng tôi nói tiếng Kinh, không được mặc trang phục và học cách giao tiếp của người Kinh, không được yêu người Kinh. Không được học lịch sử dân tộc Việt Nam, chỉ được học lịch sử nước mẹ mẫu quốc. Tôi rất thắc mắc, tôi thấy người Kinh có nhiều cái hay cần phải học hỏi. Sao lại phải cấm ? Bọn học sinh chúng tôi vẫn bí mật học nói, học viết tiếng Kinh.

Lúc đó trong trường có một số thầy giáo và học sinh có tinh thần yêu nước. Các thầy thường giảng giải cho chúng tôi về lòng yêu nước, yêu đồng bào, yêu quê hương, căm thù bọn Phâp cướp nước. Nhờ đó tôi đã dần dần hiểu và biết mình chỉ là người dân nô lệ bị khinh miệt mà thôi. Tôi thấy thương đồng bào mình hơn. Nhưng cũng vì sự hiểu biết này mà tôi đã bị liệt vào loại học sinh bị theo dõi. Do đó tôi không được thi tốt nghiệp.Công sứ Pháp đã nói với tôi, giọng đe doạ :

– Mày học đòi người Kinh và tham gia chính trị, không được học nữa.

Continue reading Hồi Ký của Y Ngông Niê Kdăm

Triết lý Việt – Phù Đổng Thiên Vương

    Đã đăng trên Hoa Thịnh Đốn Việt Báo, số 31, ngày 25 tháng 11 năm 1985

I. Chính truyện

Đời Hùng Vương thứ ba, thiên hạ thái bình, dân vật đầy đủ. Ân vương (ở Trung Quốc) lấy sự thiếu lễ triều cống, giả đi tuần thú để xâm chiếm nước ta.

Hùng Vương nghe được mới triệu quần thần hỏi về kế hoạch đánh hay giữ. Có nhà phương sĩ dâng lời nói rằng:

– Không gì bằng cầu Long Quân để nhờ âm phù.

Hùng Vương nghe theo mới đắp đàn trai giới, đặt vàng bạc lụa là ở trên bàn, đốt hương cầu tế ba ngày thì cảm sấm mưa, thoắt thầy một ông già cao hơn sáu thước, mặt vuông, bụng lớn, râu mày bạc phơ, ngồi ở ngã ba mà nói cười ca múa; người ta trông thấy, ngờ là người phi thường mới tâu với vua. Vua thân hành ra bái yết, rước vào trong đàn; ông già không ăn uống, không nói năng gì cả.
PDTV1
Hùng Vương bước đến nói rằng:

– Này binh nhà Ân sắp sang đánh, hơn thua ra sao, nếu có kiến thức gì xin bày cáo cho.

Ộng già giây lát mở thẻ ra bói, thưa với vua rằng:

– Sau ba năm giặc mới qua đánh.

Vua lại hỏi kế hoạch để đánh giặc, ông già đáp rằng:

– Nếu có giặc đến thì phải nghiêm chỉnh khí giới, tinh luyện sĩ tốt để cho nước có uy thế, rồi tìm khắp thiên hạ có ai dẹp được giặc thì phong cho tước ấp, hễ được người ấy thì dẹp được giặc ngay.

Nói đoạn, bay lên không mà đi, mới biết đó là Long Quân.

Vừa đúng ba năm, biên binh cáo cấp có quân Ân sang. Hùng Vương y theo lời nói của lão nhân, sai sứ đi khắp thiên hạ để tìm người dẹp giặc.

Sứ giả đến làng Phù Đổng, quận Vũ Ninh, trong làng có một ông nhà giàu đã hơn 60 tuổi mới sinh được một người con trai ba tuổi không biết nói, chỉ nằm ngữa không ngồi dậy được. Bà mẹ nghe sứ giả đến, nói bỡn với con rằng:

– Sinh được thằng này thì chỉ biết ăn uống chớ không biết đánh giặc để lĩnh thưởng của triều đình mà đền ơn bú mớm.

Đứa trẻ nghe mẹ, thình lình nói lên rằng:

– Mẹ hãy gọi sứ giả vào đây, con hỏi thử xem là việc gì.

Bà mẹ cả kinh, mừng rỡ báo với xóm làng:

– Con tôi đã biết nói.

Xóm giềng cũng lấy làm lạ mới rước sứ giả về nhà.

Sứ giả hỏi rằng:

– Mầy là đứa trẻ mới biết nói mà bảo kêu ta đến làm gì?

Đứa trẻ mới ngồi dậy bảo Sứ giả rằng:

– Lập tức về tâu với vua đúc cho ta một con ngựa sắt cao mười tám thước, một gươm sắt dài bảy thước, một cái nón sắt, trẻ này cỡi ngựa, đội nón đi đánh giặc cho, giặc sẽ phải tan tành, nhà vua việc gì mà lo.

Sứ giả chạy về trình cáo với vua. Vua mừng bảo rằng:

– Thế thì ta không lo gì vậy.

Quần thần đều tâu:

– Một người đánh giặc làm sao phá nổi?

Vua nói:
PD1
– Đó là Long Quân giúp ta, lời lão nhân đã nói trước không phải là lời nói không, các ngươi không nên ngờ.
Rồi sai người tìm sắt cho được năm mươi cân luyện thành ngựa sắt, gươm sắt và nón sắt; Sứ giả đem tất cả đến; bà mẹ thấy thế cả kinh, sợ họa đến cho mình, lo sợ hỏi con.

Đứa trẻ cả cười nói rằng:

– Mẹ đem cơm thật nhiều cho con ăn, con đi đánh giặc, mẹ đừng lo sợ.

Rồi đứa trẻ lớn rất mau, áo cơm hàng ngày bà mẹ cung cấp không đủ, hàng xóm nấu thêm cơm, làm thịt trâu, rượu, bánh, trái, thế mà đứa trẻ vẫn không no bụng; vải lụa gấm vóc mặc chẳng kín hình, đều phải lấy thêm hoa cây hoa lau mà che nữa.

Đến khi quân nhà Ân kéo đến Trâu Sơn, đứa trẻ mới duỗi chân đứng dậy, mình cao hơn mười trượng, nghểnh mũi mà nhẩy, nhẩy mũi hơn mười tiếng rồi tuốt gươm nói lớn lên rằng:

– Ta là Thiên Tướng đây!

Bèn đội nón nhảy lên ngựa, ngựa phi như bay, múa gươm xông đến trước, quan quân theo sau đến sát lũy giặc, dàn trận dưới núi Trâu Sơn. Quân Ân cả vỡ, trở giáo chạy lùi, Ân Vương chết ở Trâu Sơn, còn dư đảng
thì la liệt sụp lạy và hô rằng:

– Thiên tướng, chúng tôi hết thảy xin đầu hàng.

Đứa trẻ đi đến núi Việt Sóc mới cởi áo mặc rồi cưỡi ngựa bay lên trời, chỉ lưu dấu chân trên đá ở dưới núi mà thôi.

Hùng Vương nhớ đến công lao, không biết lấy gì đền báo mới tôn làm Phù Đổng Thiên Vương, lập đền thờ ở vườn nhà làng ấy, cho ruộng một trăm khỏanh để làm lễ hưởng tế xuân thu.

Đời nhà Ân hai mươi bảy vua, trải qua sáu trăm bốn mươi năm, không dám đem binh sang đánh nữa.

Man Di bốn phương nghe được như vậy cũng đều thần phục, về phụ với Vương. Sau vua Lý Thái Tổ phong làm Xung Thiên Thần Vương, lập miếu tại Phù Đổng (nay ở huyện Tiên Du) bên chùa Kiến Phúc, tạc tượng ở núi Vệ Linh, xuân thu đều có tế lễ vậy.

Có bài thơ rằng:

Vệ Linh năm tháng đám mây nhàn.
Muôn tía nghìn hồng chói thế gian.
Ngựa sắt ở trời, danh ở sử.
Uy linh lừng lẫy khắp giang san.

II. Triết lý tiềm ẩn

Truyện Phù Đổng Thiên Vương hẳn nhiên là một huyền thoại. Vài người có thể gọi đó là huyền sử. Ở đây, huyền sử có thể được định nghĩa như là huyền thoại dựa trên vài sự kiện lịch sử có thật; tuy nhiên, chuyện thật đã được huyền thoại hóa quá nhiều. Vấn đề chúng ta đang giải quyết, không phải là tìm hiểu xem trong truyện Phù Đổng Thiên Vương có sự kiện lịch sử nào có thật hay không, nhưng nhìn toàn câu truyện như là một huyền thoại.

Huyền thoại, cũng như tất cả các loại tiểu thuyết khác, luôn luôn là phản ánh của ý thức và tiềm thức của tác giả. Khi huyền thoại đã trở thành truyện cổ tích hay huyền sử của một dân tộc, huyền thoại trở thành phản ánh tiềm thức của cả dân tộc đó.

Phần ý thức của huyền thoại, nếu có, thì đã chết mất sau nhiều ngàn năm, vì tác giả của huyền thoại đã biến mất và không ai biết được thực sự tác giả ý thức chuyện gì. Hơn nữa, một huyền thoại có thể kết hợp do rất nhiều tác giả qua rất nhiều ngàn năm, những ý thức hỗn hợp đó không ai có thể tìm thấy.

Tuy vậy, tiềm thức của huyền thoại trường tồn. Huyền thoại được dân tộc hóa, được cả một dân tộc chấp nhận, say mê, và lưu luyến, vì sức lôi cuốn, quyến rũ nào đó từ trong lòng huyền thoại đối với cả dân tộc. Sức quyến rũ đó hiện hữu vì nó phản ánh những ước muốn, những suy tư, nhiều khi chưa được ý thức hóa, hoặc không thể thực hiện được trên thực tế, vẫn còn chìm đắm trong tiềm thức và thể hiện thành những giấc mơ. Huyền thoại của một dân tộc chính là sự thể hiện tiềm thức của dân tộc đó qua những mơ mộng thần thoại.

Như vậy, giấc mơ Phù Đổng Thiên Vương diễn tả những ước muốn, những suy tư gì nhỉ?
pd2
Câu chuyện thật ngắn, nhưng đi từ thời bình đến thời chiến, từ triều đình đến một gia đình ở nông thôn. Câu chuyện bàng bạc những ‎ý niệm chính trị, chiến lược và giáo dục căn bản cho một quốc gia hùng cường. Tìm hiểu những suy tư căn bản này, tức là tìm hiểu những tư tưởng giáo dục, chính trị và chiến lược căn bản cho dân tộc Việt Nam, tức là tìm hiểu cái, trên l‎ý thuyết, ta gọi là lập trường dân tộc, và trên thực hành, ta gọi là hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế… phù hợp với dân tộc Việt Nam.

Trong phần sau đây, tác giả sẽ bàn về ba điểm chính của truyện Phù Đổng Thiên Vương. Thứ nhất, quan niệm giáo dục; thứ hai, quan niệm chính trị; và thứ ba, quan niệm chiến lược. (Trong truyện có sự xuất hiện của nhiều con số, nhất là số ba và những bội số của nó. Các đọc giả muốn tìm hiểu ý nghĩa triết lý của những con số, xin đọc quyển Kinh Hùng và các sách khác trong bộ Triết Lý An Vi của giáo sư Kim Định).

A. Giáo dục

Quan niệm giáo dục Việt Nam được diễn tả bằng hành động của người mẹ đối với cậu bé lên ba. Cậu bé chỉ biết ăn và nằm, không biết nói, có nghĩa là cậu bé có vẻ rất chậm lụt, u mê. Người mẹ hẳn nhiên là rất buồn bã: “Con mình sao không được như con người ta. Con người ta thông minh, ăn nói hoạt bát, chạy nhảy nhanh nhẹn, chứ đâu có ăn và nằm và câm như con mình.” Và khi đứa trẻ bắt đầu nói câu đầu tiên, là chỉ nói chuyện điên, kêu mẹ mời sứ giả của vua vào, và kêu sứ giả bảo vua làm ngựa sắt, gươm sắt… Nếu thực sự đứa bé nói chuyện điên, thì không biết cái đầu của bà mẹ còn nằm trên cổ được bao lâu.

Dầu vậy, những lời nói điên khùng của đứa con dốt nát đó không làm cho người mẹ bỏ qua lời nói của con. Người mẹ vẫn chấp nhận may rủi cho cái đầu của mình, và thử làm theo lời con. Hành động treo sinh mạng của mình trên sợi chỉ mành chỉ để cho đứa con dốt nát của mình thử ý kiến của nó, là hành động rất can đảm, quý vị ạ. Cũng nhờ bà mẹ có can đảm chấp nhận may rủi mà Việt Nam có thiên tướng Phù Đổng.

Việc giáo dục ngày nay cũng vậy, bố mẹ cần chú tâm đến ý muốn của con cái. Dù là đôi khi tư tưởng của con cái có vẻ rất là quái gở. Nếu con mình vẫn giữ vững lập trường của nó sau khi mình đã giải thích cặn kẻ, hãy để cho con thử ý kiến của nó, và hãy đứng sau lưng đỡ nó khi nó vấp ngã. Giáo dục như vậy là giáo dục Việt Nam. Lối giáo dục này nằm rành rành trong truyện Phù Đổng Thiên Vương mấy ngàn năm về trước. Nhiều người nói rằng con cái Việt Nam phải nghe lời bố mẹ răm rắp, con cái không có quyền có ý tưởng mới lạ quái gở; chỉ có cái đám Mỹ hóa mới để con cái nói đủ thứ chuyện. Nói như thế là sai, giáo dục Việt nam chính thống là giáo dục cởi mở như trong Phù Đổng Thiên Vương. Bố mẹ nên mừng rỡ khi con mình có những ý tưởng mới lạ. Nên giúp con phát triển tư tưởng mới lạ và cùng con cái tìm hiểu tư tưởng đó. Nếu mình không đồng ý với con, thì để cho nó thử ý của nó. Dĩ nhiên là cha mẹ phải chấp nhận may rủi; luôn luôn đứng sau lưng con đỡ nó khi nó vấp ngã. Nếu nó sai, nó sẽ học khôn; nếu nó đúng, đời nó có lợi.

Giáo dục theo lối cha mẹ nói gì con phải gật theo, không phải là lối giáo dục Việt Nam, mà là giáo dục nô lệ. Khi người Tàu cai trị Việt Nam, họ không muốn dân Việt Nam biết suy nghĩ, họ đốt sách vở của người Việt, và họ muốn dân Việt phải nghe theo họ răm rắp. Gọi dạ bảo vâng. Và lối giáo dục đó dần dần ăn sâu vào gia đình Việt nam; dĩ nhiên là có lợi cho người Tàu, vì lối giáo dục đó đào tạo một đám dân nô lệ chỉ biết dạ, vâng.

Vì vậy, các vị bố mẹ, hãy suy gẫm chuyện Phù Đổng Thiên Vương; hãy đến gần con cái; hãy chú ý đến các tư tưởng mới lạ, dầu là quái gỡ, của con cái; hãy vui mừng khi con cái biết suy nghĩ mới lạ; hãy chấp nhận may rủi; và hãy để con cái phát triển tư tưởng cá nhân của nó. Sợ hãi là nguồn gốc của nô lệ. Nếu bố mẹ sợ hãi tư tưởng mới lạ quái gỡ của con cái, mà nhất định theo lối giáo dục nô lệ, thì chính mình đã biến con mình thành những nô lệ mới trong xã hội mới, dù ở Hoa Kỳ hay bất cứ nơi đâu.

B. Chính trị

Phù hợp với phương cách giáo dục cởi mở phía trên, truyện Phù Đổng Thiên Vương diễn tả một hệ thống dân chủ cao độ. Nhà vua cai trị bằng ý kiến và sự khôn ngoan của dân chúng, và nhân dân là sức mạnh duy nhất của quốc gia.
pd3
* Hùng Vương, khi cần ý kiến về chính trị, thấy có ông già quái gỡ hát múa ngoài đường, là gọi vào xin ý kiến. Ông già vào cũng không nói năng chi, đợi vua hỏi mới trả lời. Ông già là biểu tượng của sự khôn ngoan của nhân dân. Thường thường người lớn tuổi suy tư cặn kẻ hơn người nhỏ tuổi; vì vậy ông già là biểu hiện cho sự khôn ngoan. Ông già ở ngoài đường, không quen biết gì với vua cả, chỉ là một người dân như mọi người dân khác thôi. Vì vậy, ông già là biểu hiện của dân chúng.

Ông già lại hát múa ngoài đường như là người điên, có nghĩa là nhân dân dầu có vẽ ngu dốt điên cuồng vẫn luôn luôn là kẻ thông thái nhất trong việc trị nước. Các nhà lãnh đạo, các nhà cách mạng, phải biết rằng mình không thể khôn ngoan hơn nhân dân được. Đừng cho rằng dân chúng dốt nát, trình độ thấp kém, không biết gì, để rồi lạm dụng quyền hành, biến thành kẻ độc tài bất tài.

Ông già vào cung vua vẫn không nói năng chi, đợi vua hỏi mới trả lời. Nhân dân là vậy, nhân dân luôn luôn thầm lặng, nhân dân không bao giờ tuyến bố ồn ào. Các nhà lãnh đạo phải đến gặp dân, phải hỏi ý dân, dân mới trả lời. Nhân dân không tuyên bố sự khôn ngoan của mình bừa bải. Đừng bao giờ đợi nhân dân tự động cho ý kiến.

* Nhân dân gồm mọi hạng người, không phải chỉ có những kẻ to lớn, quyền thế, hoặc có vẻ hiểu biết (biểu hiện bằng ông già cao hơn sáu thước, mặt vuông, bụng lớn, râu mày bạc phơ), mà còn là những người có vẻ kém hiểu biết nhất, có vẻ bất tài vô dụng nhất (biểu hiện bằng đứa trẻ lên ba mà chỉ biết ăn và nằm). Cũng như ông già, đưa trẻ không nói, đến lúc sứ giả vừa đi ngang qua mới nói. Sự im lặng được nhấn mạnh hai lần trong câu truyện. Các nhà lãnh đạo phải đặc biệt chú ý đến điểm này, nhân dân không bao giờ nói, trừ khi được hỏi đến.

Nhân dân nói ra nhiều khi nghe rất điên khùng, như cậu bé đòi vua làm ngựa sắt, gươm sắt… Nhưng dầu điên khùng cách mấy đi nữa thì nhân dân luôn luôn đúng, luôn luôn biết mình muốn làm gì, làm được gì.

* Không những nhân dân luôn luôn có lý, mà nhân dân là sức mạnh duy nhất của quốc gia. Cậu bé một mình phá giặc. Quần thần sợ quá phải tâu vua: “Một người đánh giặc sao phá nổi.” Một người đây là hình ảnh của nhân dân trong một khối. Hình ảnh của những người dân quê mùa có vẻ bất tài vô dụng, nhưng khi phải chiến đấu, lại là sức lực duy nhất của quốc gia. Giáo sư Kim Định viết: “Thánh Dóng (Phù Đổng Thiên Vương) không chi khác hơn là bóng dáng con người đại ngã tâm linh có tầm vóc như vũ trụ được biểu lộ ra ngoài bằng tinh thần tự lực, tự cường của dân nước Văn Lang, ngày thường không ai để ý đến (nói bóng là trẻ ba năm chưa biết nói); nhưng khi phải đối phó với nguy cơ thì đức tự lực tự cường dâng lên tầm kích vũ trụ, nâng con người lên ngang hàng cùng trời, đất, đáng mặt dẫn đầu các anh hùng trong nhân thoại Việt…” Lối giải thích chính trị của tác giả và lối giải thích thuần túy triết l‎ý của giáo sư Kim Định, dầu ngôn từ khác nhau, vẫn là một tinh thần đại ngã của dân tộc Việt Nam.

* Lối cai trị bằng cách đi khắp nơi hỏi han ý kiến dân chúng và làm theo lời dân chúng, dù dân chúng nói năng có vẻ rất quái gỡ điên rồ là lối cai trị dân chủ. Ý dân là ‎ trời. Và lối cai trị dân chủ có sức mạnh vạn năng, Tiền nhân ta vẫn biết rằng nếu nghe lời dân thì dầu có giặc Ân hùng mạnh, Việt Nam vẫn thắng. Trong thực trạng chính trị, lối cai trị này thật là sáng suốt. Vì chiến tranh được chính nhân dân đổ xương đổ máu chiến đấu, các vị lãnh đạo đâu có phải là người trực tiếp chiến đấu ở chiến trường; nếu kế hoạch không hợp ý dân, người dân làm sao hăng say chiến đấu. Hiệu lực dân chủ trong chiến tranh, nhiều ngàn năm về sau, còn thể hiện rõ ràng hơn trong Hội Nghị Diên Hồng của nhà Trần.

Sự quan trọng của nhân dân còn được nhấn mạnh trong truyện Phù Đổng Thiên Vương bằng cách thần thánh hóa nhân dân. Ông già là Long Quân và cậu bé là thiên tướng. Vua phải nghe lời người trời; tức là vua phải nghe theo lời nhân dân. Và cứ như Hùng Vương, nghe theo nhân dân răm răp ắt là đánh đâu thắng đó.

* Chuyện Phù Đổng Thiên Vương còn diễn tả hệ thống kinh tế tư sản, tự do và sự vắng bóng của ghen tị giai cấp trong văn hóa Việt Nam. Ông già bảo vua Hùng Vương tìm trong thiên hạ có ai dẹp được giặc thì phong “tước ấp”. Tước là chức vụ, ấp là một mảnh đất khá rộng. Cậu bé là con của một ông “nhà giàu”. Cậu bé đánh giặc xong không cần tước ấp mà lại đi thẳng lên trời. Điều này có nghĩa là nhân dân chiến đấu không phải vì tư lợi, nhưng nhân dân vẫn ưa chuộng hệ thống kinh tế tư sản. Dân Việt Nam không chống đối ông “nhà giàu”, ngược lại vẫn ưa chuộng ông nhà giàu có con là anh hùng cứu quốc. L‎ý thuyết đấu tranh giai cấp vô sản tư sản, vì vậy, xa lạ với truyền thống dân tộc Việt Nam trong Phù Đổng Thiên Vương.

Độc giả nên nhớ rằng huyền thoại là một giấc mơ. Nếu đấu tranh giai cấp ảnh hưởng nặng nề trong tiềm thức dân Việt Nam, truyện Phù Đổng Thiên Vương không thể có anh hùng nhà giàu được. Dù tác giả câu truyện có viết “nhà giàu”, thì mấy ngàn năm sau sẽ biến thành “nhà nghèo”, nếu thực sự dân Việt Nam có ý niệm đấu tranh giai cấp tiềm ẩn. Sự xa lạ của đấu tranh giai cấp trong văn hóa Việt Nam còn thể hiện rất nhiều trong những huyền thoại khác, như Chử Đồng Tử và Tiên Dung.

* Hệ thống dân chủ trong truyện Phù Đổng Thiên Vương còn được diễn tả rõ ràng hơn, bằng biện pháp đi tìm nhân tài. Khi cần nhân tài, nhà vua tìm cả trong nước, dầu đứa bé con lên ba cũng được sử dụng. Hệ thống chính trị như vậy không có giai cấp. Ai cũng có thể làm quan được nếu có tài. Lối tổ chức chính trị như vậy khác với hệ thống tổ chức nhằm giữ quyền hành độc đoán trong tay một thiểu số cầm quyền, như chế độ phong kiến của tây phương. Hơn nữa, trong hệ thống dân chủ Phù Đổng, người tài luôn luôn có dịp thi thố tài năng của mình, không bị đè nén vì giai cấp hay vì l‎ý do nào khác.
pd4
Tác giả cần nhấn mạnh ở đây, dân chủ thực sự thể hiện trong hành động của nhà cầm quyền. Tư tưởng dân chủ có thể thực hiện được nếu vua, như vua Hùng Vương chú trọng đến nhân dân.

C. Chiến lược

Trong hệ thống giáo dục và chính trị Phù Đổng, những quy ước chiến lược được thiết lập rõ ràng. Chiến lược là biện pháp phối hợp các hoạt động và hệ thống chính trị, kinh tế, giáo dục để phục vụ mục tiêu tối hậu của quốc gia. Mục tiêu tối hậu của quốc gia, thể hiện trong truyện Phù Đổng Thiên Vương, là bảo tồn sức mạnh quốc gia trước đe dọa xâm lăng.

* Quy ước chiến tranh Phù Đổng khởi đầu bằng hệ thống cởi mở và hệ thống chính trị dân chủ, lấy dân làm sức mạnh như đã nói trên. Hệ thống quân sự được tổ chức trên hai khái niệm liên hệ chặt chẻ với nhau.

Thứ nhất, tổ chức quân sự là tổ chức cởi mở, cho mọi nhân tài cùng tham dự. Tổ chức quân sự này dùng tinh thần dân tộc, lòng yêu nước, làm nền tảng cho sự đoàn kết của quân đội. Hiện tượng đứa bé gốc gác nông dân được nắm quyền chinh phạt nhà Ân diễn tả tinh thần cởi mở của quân đội. Tinh thần yêu nước diễn tả bằng hiện tượng cậu bé đi thẳng lên trời thay vì ở lại nhận tước ấp.

Lối tổ chức quân đội này là tổ chức quân đội ngày nay áp dụng. Dưới chế độ phong kiến tây phương, mỗi lãnh chúa có quân đội riêng. Quân đội lãnh chúa lấy tư lợi và sự trung thành với lãnh chúa làm căn bản. Quân lính không có ý thức quốc gia mà chỉ có ý thức lãnh chúa. Vì vậy, trong một quốc gia có nhiều lãnh chúa, quân đội của các lãnh chúa không thống nhất và thiếu nền tảng đoàn kết cho quốc gia.

Tại những quốc gia cổ Hy Lạp, khi quân đội là một giai cấp biệt lập với các giai cấp khác, chiến lược không liên hệ gì tới nhân dân, vì quân đội xa cách với nhân dân. Kể cả trong các quốc gia phong kiến, vấn đề chiến lược rất ít lệ thuộc vào nhân dân, vì nhân dân không có quyền lợi gì trong chiến tranh cả. Nhân dân không có tài sản, nếu có chiến tranh là nhân dân chỉ có chiến đấu và chết để phục vụ tài sản của lãnh chúa.

* Nhận định trên đưa đến khái niệm tổ chức quân đội thứ hai của Phù Đổng. Nhân dân phải là nhân dân hữu sản, biểu hiện bằng ông nhà giàu. Khi có chiến tranh, nhân dân không những chiến đấu vì lòng yêu nước mà vì còn bảo vệ tư sản của mình. Lòng yêu nước có sẵn trong nhân dân nhưng nó vẫn trừu tượng. Lòng yêu nước cần được bổ sung bằng quyền tư hữu để nhân dân thấy quyền lợi trước mắt. Ảnh hưởng của tư hữu trên lòng hăng say chiến đấu của quân đội được biểu hiện bằng cậu bé thiên tướng con ông nhà giàu, và sự ban thưởng tước ấp do ông già khuyên vua.

Tóm lại, hệ thống giáo dục cởi mở, chính trị dân chủ, và kinh tế tư sản của Phù Đổng đưa đến tổ chức quân đội lấy dân, quyền tư hữu của dân, và lòng yêu nước làm căn bản. Tổ chức quân đội đó có sức mạnh trong thời chiến, biểu hiện bằng chiến thắng quân Ân. Trong thời bình hệ thống chính trị cũng làm nhân dân vui vẻ, như lúc bắt đầu vào truyện Phù Đổng Thiên Vương.

* Khi tổ chức quân đội đã phù hợp với hệ thống giáo dục, chính trị và kinh tế của quốc gia rồi, vấn đề nền tảng cho sức mạnh quân đội đã được giải quyết xong. Truyện Phù Đổng Thiên Vương còn đưa ra vài lý thuyết chiến lược khác.

Thứ nhất, binh sĩ phải được lo lắng nuôi dưỡng tử tế; quốc gia không thể để binh sĩ thiếu thốn. Hiện tượng cậu bé ăn uống hoài, cả làng xóm phải lo ăn lo mặc, diễn tả sự quan trọng‎ của vấn đề nuôi dưỡng binh sĩ.

Câu chuyện còn diễn tả hậu quả kinh tế của việc nuôi dưỡng một đoàn quân. Cậu bé nhỏ xíu mà cả làng phải lo. Như vậy, những vị lãnh đạo quốc gia phải lo nuôi dưỡng binh sĩ tử tế, quân đội mới có sức mạnh. Nhưng coi chừng, chiến tranh trường kỳ sẽ làm cho nền kinh tế suy sụp, vì một người lính hao tốn bằng năm bằng mười người thường.

Thứ hai, Phù Đổng Thiên Vương còn đưa ra quy ước chiến lược “tấn công phòng thù” và vận tốc để chủ động chiến trường. Trong truyện, quân đội nhà Ân đến núi Trâu Sơn, quân đội phòng thủ của Hùng Vương thay vì án binh bất động chờ tấn công, thì lại ra tay tấn công nhà Ân ở Trâu Sơn. Phòng thủ một lãnh thổ bằng cách tấn công quân đội xâm lăng, thay vì chỉ chờ bị tấn công, là chiến pháp nhằm chủ động chiến trường đã được nhấn mạnh nhiều, từ Tôn Tử đến Clausewitz.

Chủ động chiến trường không những chỉ nhờ tấn công mà còn nhờ vận tốc. Trong truyện nói đến ngựa sắt chạy như bay. Đây cũng là vấn đề Tôn Tử và Clausewitz nhấn mạnh rất nhiều. Một quân đội thiếu vận tốc, bị động, chỉ chờ tấn công là quân đội chết. Vận tốc cao làm cho quân đội có thể lùi khi địch tiến, tiến khi địch lùi, và tấn công khi địch sơ hở.

Các khái niệm chiến lược chú trọng về tấn công và vận tốc khác với quan niệm chiến lược cổ điển của tây phương lệ thuộc vào bị động phòng thủ trong những thành quách khổng lồ. Mấy ngàn năm trước tiền nhân của ta đã thấy những khái niệm chiến lược mà tây phương mới bắt đầu sử dụng gần đây. Napoleon là chiến lược gia tây phương đầu tiên sử dụng tấn công và vận tốc trong lịch sử Âu Châu cận đại.

III. Kết luận

Truyện Phù Đổng Thiên Vương, một huyền thoại, một giấc mơ của dân tộc Việt Nam, cũng như những giấc mơ khác của dân tộc Việt, mang trọn tâm tư của dân tộc Việt, mang trọn kiến thức của dân tộc Việt. Những kiến thức trong những huyền thoại nhiều ngàn năm về trước lại là những kiến thức giáo dục, chính trị, kinh tế, chiến lược thực tiễn trong thế giới hiện đại. Những kiến thức đó rất gần với chân lý vì đã trường tồn mấy ngàn năm. Đám con cháu hậu tiến, không thấy được những tinh hoa cao vời đó, mà còn cho rằng văn hóa Việt Nam cổ hủ, là đã có mắt không tròng vậy.

Trần Đình Hoành

Bài liên hệ: Triết lý Việt – Quả Dưa Hấu

Giới thiệu tranh: Mùa xuân và Cơn bão

The Spring
Cô gái và chàng trai ngồi trên một chiếc đu treo lơ lửng trên những cành cây đâu đó trong một góc rừng đầy nắng. Cô có khuôn mặt bầu bĩnh trẻ thơ đang quàng tay qua cổ người yêu, ánh mắt nhìn đắm đuối với một nụ cười thật e lệ và ấm áp. Cái váy trắng của cô gần như trong suốt để lộ ra những đường cong thật hoàn hảo. Chàng trai thì dang rộng cánh tay nắm chặt lấy những sợi dây thừng và anh nhìn cô tràn đầy vẻ yêu thương.

Những hình ảnh này trong bức Mùa xuân (Le Printemps – The Spring) có lẽ rất quen thuộc với những ai yêu thích tranh sơn dầu. Đây là một trong số những kiệt tác của họa sĩ người Pháp Pierre Auguste Cot (1837-1883) vốn nổi tiếng với phong cách chọn các chủ đề thần thoại và chân dung tự họa. Ông vẽ bức Mùa xuân vào năm 1873. Chỉ trong vài thập niên sau đó Mùa xuân đã nhanh chóng trở nên nổi tiếng đến mức gần như người dân châu Âu nào cũng biết đến và trở thành biểu tượng của nghệ thuật đương đại thế kỉ 19. Trong suốt 125 năm qua bức tranh này đã được sao chép hàng triệu bản và người ta vẫn không ngừng tranh cãi về nguồn gốc của câu chuyện hai người mà Cot mô tả.
The Storm
Cũng bí ẩn và gây tranh cãi không kém là bức Cơn bão (La Tempete – The Storm) trong đó Cot vẽ hai người yêu nhau đang trốn chạy. Dù đang trong một cuộc trốn chạy khỏi một cơn bão, có thể là cơn bão thật hay như nhiều người nói nó ám chỉ sự trốn chạy khỏi những nỗi khổ đau của cuộc đời, điều khiến bức tranh rung động trái tim của người xem là tình yêu và niềm tin tràn ngập trên khuôn mặt của chàng trai và cô gái. Cô gái mắt mở to có chút gì đó ngơ ngác nhưng không hề tỏ ra lo sợ vì đang được che chở trong vòng tay bảo vệ của người yêu. Còn chàng trai, nét mặt thật rạng ngời và hạnh phúc như chẳng có cơn bão nào đang đuổi theo họ ở phía sau. Vẻ thánh thiện của đôi uyên ương trong cả hai bức tranh làm cho người xem thật khó lòng rời mắt.

Hai bức tranh này hiện nay đang được trưng bày tại bảo tàng Metropolitan Museum of Art, thành phố New York.

Hoàng Khánh Hòa

Bảo kiếm được rèn thế nào?

Chào các bạn,

Ngày xưa, trước khi súng đạn ra đời, đao kiếm là vũ khí chính cho chiến sĩ và hiệp sĩ. Một thanh kiếm quý chém sắt như chém bùn là một bảo vật vô giá, thường được xem là thần kiếm, thường nằm trong tay đệ nhất cao thủ võ lâm, và khi kiếm lạc khỏi tay chủ thì thường sinh ra sóng gió trên chốn giang hồ, tạo nên những cuộc thảm sát, tranh giành kiếm.
samurai_sword
Người xưa rèn bảo kiếm thế nào?

Rèn kiếm là một nghệ thuật cao độ. Vị thầy rèn kiếm thực ra là các hóa học gia về kim loại, nghiên cứu cách thức chế tạo các loại thép tổng hợp từ những kim loại thuần, và rèn luyện, đập, cán, mài, dũa nó thành một thanh kiếm với những đặc tính tốt nhất cho một kiếm phái. Kiếm Nhật của samurai thì to, nặng, cứng và hơi cong. Ngược lại, Thái cực kiếm của phái Võ Đang thì thẳng, dài, nhỏ, và nhẹ nhàng lay động như một thanh thép mỏng. Dù vậy, đặc tính chung của các thần kiếm phải là chém sắt như chém bùn, có thể chém gãy binh khí tầm thường của địch.

Ngày nay, với phát triển của khoa học, có lẽ chúng ta có thể làm thần kiếm dễ dàng bằng kim loại tốt, nấu loãng, đổ vào khuôn, rổi mài, và trang trí cho đẹp, trước khi mang ra chợ bán, phải không các bạn?
loren1

Không dễ như vậy đâu. Không dễ gì làm một thanh kiếm thật nhẹ và có thể lay động như một thanh sắt mỏng, lại có sức chịu đựng và công phá kinh khủng. Không biết làm thì thanh kiếm của ta sẽ gãy hay méo khi va chạm mạnh vào một thanh kiếm khác cùng loại hay tốt hơn.

Công thức làm kiếm rất công phu. Trước hết, là phải đúng kim loại. Đây là bí mật nhà nghề.

Kim loại được nấu loãng và đổ vào khuôn, nguội lại thành thanh thép. Thanh thép này sẽ được nung nóng đỏ cho mềm ra, và được đập bằng búa cho mỏng xuống, rồi gấp lại thành hai, và đập cho mỏng xuống.

Xong rồi lại được nung cháy đỏ, đập mỏng ra, gấp lại làm đôi, đập mỏng.

Rổi lại được nung đỏ, đập mỏng, gấp làm đôi…

Cứ như thế khoảng 30 lần. Lúc này thanh kiếm không phải chỉ là một khối thép mà là 2-lũy-thừa-30 lớp thép mỏng vô cùng. Nếu bạn có một quyển sách dày chừng ấy trang thì không cây súng nào thời nay có thể bắn thủng quyển sách đó. Thanh kiếm như vậy chắc và dẻo dai đến thế nào, bạn biết không?
loren2

Và khi làm xong, kiếm cũng không thể cho nguội ngay bằng nước lạnh, mà phải để nguội dần dần, từ nhiệt độ cực cao của thép đang cháy đỏ đến nhiệt độ cực lạnh, lạnh hơn nước đá nhiều lần càng tốt. Thế thì kiếm sẽ rất dẻo dai và không dòn.

Cuối cùng là phần dũa, mài, đánh bóng, gắn chuôi, gắn vỏ…

Cho đến lúc kiếm được trao cho chủ, có thể bằng một lễ trao kiếm rất nghiêm trang và cung kính.

Thần kiếm hạ sơn!

Thần kiếm như phượng múa rồng bay trong tay uy vũ kiếm khách!
the_last_samurai_7
Mỗi chúng ta…

Mỗi chúng ta sinh ra để được Thương đế dùng trong tay của ngài, vào việc của ngài, như một thần kiếm.

Vậy thì, bạn có sẵn sàng để chịu nung cháy đỏ, gập đôi, và đập mỏng, 30 lần không? Rơi chầm chậm, từ đỉnh hỏa diệm sơn đến tận đáy băng sơn không? Mài dũa hàng ngày trước và sau chiến trận không?

Tự vấn…

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

© copyright 2009
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Giã từ tổ quốc – Enrico Macias

Chào các bạn,

Enrico Macias được biết đến với giọng ca nhẹ nhàng, nhức nhối, hòa quyện cùng tiếng đàn flamenco điêu luyện réo rắt ngọt ngào. Và người Việt không ai mà không biết đến bản tango L’amour c’est pour rien của Enrico Macias.
enrico-macias
Enrico Macias sinh vào một gia đình Do Thái ở Constantine, Algeria, lúc đó là thuộc địa của Pháp. Bố là nhạc sĩ vĩ cầm trong một dàn hòa tấu. Enrico chơi guitar từ nhỏ và năm 15 tuổi bắt đầu chơi trong dàn hòa tấu, và sau đó làm nhạc trưởng.

Năm 1961 kháng chiến dành độc lập bùng nổ ở Algerie, Enrico cùng vợ là con gái sang Pháp tị nạn. Sang Pháp, Enrico tiếp tục cuộc đời âm nhạc. Bản Adieu Mon Pays (Giã Từ Tổ Quốc), mà Enrico làm trên chuyến tàu rời quê hương sang Pháp tị nạn, nổi tiếng ngay lập tức ở Pháp năm 1962, và sau đó trở thành huyền thoại quốc tế.

Những năm sau đó Enrico Macias trình diễn tour ở các nước Trung Đông và Cận Á–Lebanon, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ. Và tiếp tục có những big hít ở Paris, như Tu m’a pris dans tes bras, L’amour c’est pour rien… Năm 1968 Enrico trình diễn lần đầu ở Mỹ, tại Carnegie Hall, bán sạch vé (ngày 17 tháng 2 năm 1968).
enrico-macias.1
Năm 1968, Enrico có đĩa vàng cho Meslissa, và năm 1980 được Tổng Thư Ký Liên Hợp Quốc Waldheim trao tặng danh hiệu Ca Sĩ của Hòa Bình (Singer of Peace).

Bản “Giã Từ Tổ Quốc” đã là bản nhạc cho hàng triệu người Việt xa quê hương nhỏ lệ trong thập niên 70s và 80s.

Hôm nay chia sẻ với các bạn, đặc biệt là các bạn xa nhà, xa quê hương, xa tổ quốc.

Sau đây là lời nguyên thủy tiếng Pháp, mình đã dịch sang Anh và Việt. Sau đó là video nhạc Adieu Mon Pays.

Bồi dưỡng thêm, video L’amour c’est pour rien của Enrico Macias, cùng link đến audio trình diễn tiếng Việt của Tú Quyên.

Chúc các bạn một ngày tangoish. 🙂

.

Adieu mon pays

J’ai quitté mon pays, j’ai quitté ma maison
Ma vie, ma triste vie se traîne sans raison
J’ai quitté mon soleil, j’ai quitté ma mer bleue
Leurs souvenirs se reveillent, bien après mon adieu
Soleil, soleil de mon pays perdu
Des villes blanches que j’aimais, des filles que j’ai jadis connu
J’ai quitté une amie, je vois encore ses yeux
Ses yeus mouillés de pluie, de la pluie de l’adieu
Je revois son sourire, y près de mon visage
Il faisait resplendir les soirs de mon village
Mais du bord du bateau, qui m’éloignait du quai
Une chaîne dans l’eau a claqué comme un fou
J’ai longtemps regardé ses yeux bleus qui fouillent
La mer les a noyé dans le flot du regret

.

Goodbye My Country

I left my country, I left my home
My life, my sad life crawls along without reason
I left my sun, I left my blue sea
Their memories replay long after my goodbye
The sun, the sun of my lost country
The white cities I loved, The girls I knew
I left a friend, I still see her eyes
Her wet eyes of rain, the rain of goodbye
I see again her smile, there near my face
It brightened the evenings of my village
But on board the ship that took me out of the harbor
A chain in the water clanging like a madman
I looked for a long time at the searching blue eyes
The sea drowned all in a flow of regret
.

Giã từ tổ quốc

Tôi rời xa tổ quốc, tôi rời xa quê hương
Đời tôi, đời tôi buồn lê lết không ý nghĩa
Tôi rời xa mặt trời, rời xa biển xanh
Ký ức vẫn sống mãi sau buổi biệt ly
Mặt trời, ôi mặt trời đã mất
Những thành phố trắng tôi yêu, những người con gái tôi biết
Tôi rời xa bạn tôi, tôi vẫn còn thấy mắt nàng
Ánh mắt của màn mưa, mưa từ ly
Tôi thấy lại nụ cười, sát bên mặt tôi
Nụ cười rạng rỡ những buổi chiều làng
Nhưng đứng trên boong tàu đưa tôi rời cảng
Sợi xích dưới nước lịch kịch như thằng điên
Tôi đã nhìn rất lâu đôi mắt xanh kiếm tìm
Biển đã nhận chìm tất cả trong một dòng nuối tiếc
.

Adieu mon pays

.

Mình có bài thơ The Glass of Coconut – Ly nước dừa có lẽ cũng thích hợp với tinh thần bài Adieu mon pays này, nên gời link đây để các bạn đọc.

.

L’amour c’est pour rien

.

Tình cho không biếu không – Tú Quyên – xin click vào đây

Chợ Phiên Cán Cấu

Những ai đã từng có cơ hội đặt chân lên mảnh đất Lào Cai, đã từng có cơ hội được tham dự những phiên chợ vùng cao, đều đọng lại trong tâm trí những kỷ niệm không thể quên về những phiên chợ họp trên núi.
cancau1
Chợ Cán Cấu là một trong những phiên chợ như thế, mới nghe cái tên thôi cũng đã hứa hẹn cho chúng ta nhiều điều thú vị. Cái tên thật lạ. Hỏi vì sao lại có tên gọi là Cán Cấu thì có người giải thích rằng : “Cán Cấu có nghĩa là vừa cắn vừa cấu”

Chợ phiên Cán Cấu thuộc địa phận xã Cán Cấu, huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai. Cách thành phố Lào Cai gần 100km, cách thị trấn Bắc Hà, huyện Bắc Hà gần 30km. Từ thành phố Lào Cai, xuôi theo quốc lộ 4D, du khách sẽ đến xã Phong Niên, huyện Bảo Thắng.Tiếp tục xuôi theo tỉnh lộ 153, qua trị trấn Bắc Hà, du khách sẽ đến được với phiên chợ đặc biệt, phiên chợ Cán Cấu.

Khi những làn sương đêm vẫn còn đọng lại trên sườn núi, khi nhưng tia nắng đầu tiên vừa le lói, thì người dân tộc từ các buôn làng đã rủ nhau cùng tới chợ.
cancau2
Con đường lên núi thơ mộng trong vạt nắng vàng rực rỡ, ẩn hiện trong màn mây trắng, hôm nay dường như lại càng đẹp hơn, rộn rã hơn bởi sắc mầu của muôn vàn chiếc váy xòe hoa dập dìu.

Bạn có thể đi bộ, leo núi như những người dân bản xứ để lên chợ, hoặc đôi chân bạn chưa đủ dẻo dai để vượt dốc, thì lúc này xe ôm là phương tiện hữu hiệu nhất. Với tốc độ như bay, chỉ trong vòng 20 phút, bạn sẽ được các “xế ôm” đưa tới chợ Cán Cấu. Chợ họp vào mỗi thứ bảy hàng tuần. Chợ họp trên ngọn đồi thoai thoải cạnh đường xe. Lán trại sơ sài mang tính hoang dã của núi rừng.

Một phiên chợ hoàn toàn của người dân tộc, mang nhiều nét văn hóa của các dân tộc Mông Đen, Mông Đỏ, Mông Hoa, Giao, Tày…Người bản xứ thường đi bộ hoặc thồ hàng bằng ngựa. Họ mang tới chợ những đặc sản của dân tộc mình, hàng dệt thổ cẩm, nông sản, gia súc…Chợ phiên là nơi mọi người có thể mua và bán đủ các thứ mà không cần phải xếp loại hay theo khuôn mẫu nào. cac cau 3Bạn sẽ dễ dàng tìm được những món quà lưu niệm nhỏ xinh bằng chất liệu thổ cẩm được làm thủ công. Nếu bạn thích, bạn có thể sắm sanh cho mình một vài chiếc váy rực rỡ sắc màu, mang về xuôi làm điệu cùng bạn bè, rất độc đáo.

Chợ không chỉ là nơi bày bán hàng hóa, đó còn là nơi hẹn hò của các đôi nam thanh nữ tú. Là nơi những cô thiếu nữ dân tộc xinh xắn tìm cho mình người thương. Những cô gái miền sơn cước mang một nép đẹp rất riêng, rất lạ. Nắng hanh hanh làm ửng hồng đôi mà càng tăng thêm phần duyên dáng của họ.
cancau4
Mỗi cô đều mang một vẻ đặc trưng của dân tộc mình, tạo nên những sắc màu của phiên chợ vùng cao.

Bạn có biết đây là gì không? Đó là xôi tím, món ăn đặc sản của chợ phiên Cán Cấu. Xôi được nấu từ một loại gạo đặc biệt của người dân tộc nên có màu tím. Ăn rất ngon và thơm. Nếu đã đi chợ Cán Cấu mà không ăn xôi tím thì bạn mới chỉ được thưởng thức một nửa hương vị Cán Cấu mà thôi.
xoitim

Đến với chợ phiên Cán Cấu, ngoài việc mua bán, trao đổi hàng hóa, người Mông nơi đây và du khách phương xa còn có mục đích giao lưu văn hóa, gặp gỡ, tâm tình. Những chàng trai cô gái gương mặt hồ hởi, tạo nên không khí vưi tươi như ngày hội. Phiên chợ kết thúc, mọi người cùng ra về trong sự tiếc nuối, sự ước mong cho thời gian qua mau để lại được gặp nhau ở phiên chợ lần sau.

Đứng dưới chân núi và phóng tầm nhìn lên cao, chợ Cán Cấu giống như những bậc thang rực rỡ bởi váy áo và hàng hóa của bà con dân tộc. Nhìn từ trên cao xuống, lại thấy chợ như những bông hoa ngũ sắc, nằm lọt giữa những ngọn núi hùng vĩ của xứ Si Ma Cai. Khung cảnh ở Cán Cấu từ bao năm nay vẫn giữ nguyên được dáng vẻ hoang sơ trong trẻo vốn có. Nét hoang sơ đó cũng chính là sức hấp dẫn khó cưỡng đối với ai yêu thích vẻ đẹp thiên nhiên của núi rừng Tây Bắc Việt Nam.

Nguyễn Thanh Mai ( Leo_pretty)
11 -2009

Spice Girls – Ban Nhạc Nữ Thành Công Nhất Mọi Thời Đại

Chào các bạn,

Nhạc Xanh hôm nay cùng quay trở lại với những giai điệu vui nhộn ca ngợi tình yêu, tình bạn và niềm tin vào cuộc sống của 5 cô gái Spice Girls – ban nhạc nữ thành công nhất mọi thời đại.
spice-girls1
Những năm 1990 là giai đoạn nở rộ của các boyband như Take That hay Backstreetboys. Hai cha con Bob và Chris Herbert đã nảy ra ý tưởng thành lập một nhóm nhạc nữ để cạnh tranh với các boyband này. Vậy là Spice Girls đã ra đời tại Berkshire, Anh vào năm 1994 với 5 thành viên: Victoria Beckham, Melaine Brown, Emma Bunton, Melanie Chisholm và Geri Halliwell.

Spice Girls phát hành đĩa đơn “Wannabe” đầu tiên vào năm 1996. Album của họ đã trở thành bản nhạc số 1 ở 31 nước và tạo thành một hiện tượng trên khắp thế giới. Album đầu tiên này đã bán được hơn 23 triệu bản và trở thành đĩa hát bán chạy nhất do một ban nhạc nữ trong lịch sử âm nhạc thế giới cho đến nay. Spice Girls đã phát hành 4 album (Spice, Spiceworld, Forever, Greatest Hits) và 12 đĩa đơn với 65 triệu bản đã bán ra và trở thành ban nhạc Anh thành công nhất sau The Beatles.

Khác với các boyband cùng thời có xu hướng ăn mặc và phong cách khá giống nhau, các cô gái trong Spice Girls tạo ra một sự khác biệt hoàn toàn khi mỗi người một vẻ thể hiện rõ nhất qua cách ăn mặc và cách đặt nickname. Victoria Beckham gọi là Posh Sprice do luôn xuất hiện với những bộ quần áo rất thời trang và những đôi giày cao gót nhọn. Melanie Brown được gọi là Scary Sprice do phong cách mạnh mẽ, hay mặc áo da báo và có mái tóc xồm ấn tượng. Emma Bunton gọi là Baby Spice vì cô là người trẻ nhất nhóm, mặc những bộ quần áo kiểu búp bê và luôn dễ thương rất con gái. Melaine Chisholm gọi là Sporty Spice vì cô luôn mặc bộ đồ thể thao bó sát, buộc tóc đuôi ngựa và nổi tiếng với khả năng nhào lộn. Geri Halliwell được gọi là Ginger Spice với tính cách sôi động và mái tóc nhuộm đỏ cháy và sau này rất nổi tiếng với bộ quần áo in hình cờ nước Anh. Cô cũng được xem là lãnh đạo của nhóm nhờ phong cách ăn nói và giao tiếp kinh doanh trời phú. Sau khi Halliwell rời nhóm vào năm 1998, Spice Girls đã tái hợp vào tháng 6 năm 2007 và có một tour diễn vòng quanh thế giới rất thành công.
spicegirls2007
Một trong những ấn tượng mà Spice Girls để lại không chỉ là số lượng phát hành kỉ lục các album mà còn góp phần đưa khái niệm Sức mạnh nữ quyền (Girl Power) vào lịch sử nhân loại. Với sự cổ vũ của Spice Girls, khái niệm này đã trở thành một hiện tượng xã hội nói về sự trao quyền cho phái nữ, cho phép họ tự do thể hiện tính cách và vẻ bề ngoài của mình, nhấn mạnh sự bình đẳng giới cũng như tình bạn gắn bó giữa các cô gái. Mặc dù không phải là những người tiên phong kêu gọi bình đẳng giới và nữ quyền, ảnh hưởng rộng lớn của Spice Girls đã khiến khái niệm này được hàng triệu các các cô gái trẻ đang ở tuổi vị thành niên, mới lớn và cả những người đã trưởng thành cổ vũ và nó trở thành một hiện tượng xã hội toàn cầu. Khái niệm Girl Power thậm chí đã xuất hiện trong cuốn từ điển tiếng Anh Oxford.

Các bài hát của Spice Girls có một điểm chung là giai điệu khá rộn ràng, vui vẻ thể hiện niềm tin mãnh liệt vào cuộc sống và những điểu tốt đẹp sẽ đến ngày mai.
spicegirls4
No matter what we must go on
Just keep the faith
And let love lead the way

Dù thế nào đi nữa chúng ta vẫn phải đi tới
Hãy giữ niềm tin
Và để tình yêu dẫn lối

(trong bài Let Love Lead The Way)

Cũng như các cô gái ở khắp nơi trên thế giới chúng ta cùng cất cao các bài hát của Spice Girls ca ngợi niềm khát khao bình đẳng giới và khẳng định vẻ đẹp của phái mình các bạn nhé.

Chúc các bạn một ngày vui tươi,

Hoàng Khánh Hòa
.

Wannabe

.

2 become 1

Click vào đây để xem trên Youtube

.

Spice Up Your Life

Click vào đây để xem trên Youtube

.

Viva Forever

.

Mama

.

Let Love Lead The Way

.

Goodbye

Click vào đây để xem trên Youtube

Triết lý Việt — Quả Dưa Hấu

Chào các bạn,

Mình viết bài này 23 năm về trước, nhân dịp Tết năm Bính Dần 1986, cho các báo hải ngoại. Nay post lại đây chia sẻ với các bạn.

Các bạn làm ơn đọc rồi cho biết TĐH bây giờ viết khác TĐH hồi đó thế nào nhé.

Cám ơn các bạn.

Hoành
___________

Triết lý Việt — Quả Dưa Hấu

duahau
I. Chính truyện (*)

Ngày xưa, đời Hùng Vương có một người tên Mai An Tiêm, người ngoại quốc, mới được bẩy tuổi, do thuyền buôn chở đến. Vương mua về làm đầy tớ, kịp lúc lớn lên thì diện mạo đoan chính, nhớ biết nhiều việc.

Vương đặt tên là Yển, tên chữ là An Tiêm, và cho một người thiếp, sinh được một trai, Vương yêu dùng để sai bảo, dần dần Yển thành thành phú quý, ai cũng uy phục, và chen nhau đến dâng lễ vật không thức gì là không có; Yển sinh ra kiêu mạn, thường tự bảo rằng:

– Của cải này là vật tiền thân của ta, ta không từng trông nhờ vào ơn chúa.

Hùng Vương nghe được, cả giận nói rằng:

– Làm thần tử mà nó không biết ơn chúa, sinh ra kiêu mạn, nói rằng của cải đều là vật tiền thân của nó. Bây giờ ta đem bỏ nó ra ngoài biển, ra cái chỗ không người ấy coi thử nó còn cái vật tiền thân của nó nữa hay không?

Bèn đày Mai Yển ra ngoài bãi cát cửa biển Nga Sơn từ phía không có dấu chân người đi đến, chỉ để cho lương thực đủ dùng trong bốn năm tháng mà thôi, ăn hết là chết đói. Chị vợ khóc ầm lên, bảo rằng ta chắc chết ở đây không lý‎ gì sống được.

Tiêm nói:

– Trời đã sinh thì trời phải dưỡng, có lạ gì?

Ở chưa được bao lâu, đương lúc tháng tư, bỗng thấy có một con bạch hạc từ phương tây bay lại, đậu lên một mõm núi cao, kêu lên ba bốn tiếng thì sáu bảy hạt dưa rơi trên mặt cát, đâm chồi nẩy lộc, lan trên cát, xanh tốt rườm rà, rồi kết thành trái dưa, nhiều không kể xiết.

An Tiêm mừng rỡ nói:

– Đây đâu phải là quái vật, đó là trời cho để ta nuôi đó.

Bổ dưa ra ăn thì mùi vị thơm tho ngọt ngào, ăn vào thì tinh thần khỏe khoắn, rồi cứ mỗi năm tỉa thêm, ăn không hết thì đem đổi lấy lúa gạo nuôi vợ con. Nhưng không biết dưa ấy tên là gì mới nhân chim tha từ phương tây đem đến nên đặt là Tây Qua.

Những khách chài lưới, buôn bán, ưa mùi vị của nó đều đem phẩm vật của mình để đổi lấy dưa. Nhân dân xa gần, trên rừng dưới bến tranh nhau mua hạt, bắt chước trồng tỉa khắp bốn phương; dân gian suy tôn An Tiêm làm “Tây qua phụ mẫu”.

Lâu ngày, Vương nhớ đến An Tiêm, sai người đến chỗ An Tiêm ở hỏi thăm có còn sống hay không. Người ấy về tâu lại với Vương. Vương than thở hồi lâu mới nói rằng:

maiantiem8
– Nó bảo là vật tiền thân của nó, thực là không nói dối vậy.

Vương bèn triệu An Tiêm về, trả quan chức lại và cho tỳ thiếp, đặt tên chỗ An Tiêm ở là “An Tiêm Sa Châu”; thôn ấy gọi là Mai An, đến nay còn lấy tây qua tôn phụng tổ khảo mà tế tự, là khởi tự An Tiêm vậy.

II. Triết lý‎ tiềm ẩn

Huyền thoại dưa hấu có thể hiểu trên cả hai mặt, ý thức và tiềm thức. Tác giả không chú trọng nhiều vào phân phân tích ý thức bằng phân tích tiềm thức. Ý thức của huyền thoại là ‎ý thức của tác giả huyền thoại, đa số là lớp sĩ phu, học cao hiểu rộng. Tiềm thức huyền thoại là những suy tư ước muốn của đám dân gian quê mùa biểu lộ qua những say mê về hình ảnh của huyền thoại. (Xem bài “Phù Đổng: Triết Lý Chính Trị Dân tộc, Hoa Thịnh Đốn Việt Báo, số 31, ngày 15 tháng 11 năm 1985). Đi tìm tiềm thức của huyền thoại tức là đi tìm tâm lý cội rễ của nhân dân Việt Nam, tức là đi tìm con người Việt Nam thực sự. Dĩ nhiên, phần ý‎ thức huyền thoại nhiều khi giúp cho người phân tích nhiều mấu chốt để phăng ra tiềm thức. Đôi khi tiềm thức và ý thức là một cũng không biết chừng.

Trong phần sau đây, tác giả bàn về hai điểm chính. Thứ nhất, nhũng nhận xét sơ lược. Những nhận xét sơ lược này phần lớn chỉ là phân tích ‎ý thức, và không là điểm chính của bài này. Tuy nhiên, tác giả cũng nhắc qua, gọi là gợi ý. Trong phần hai, tác giả bàn về triết lý thầm lặng. Phần triết lý thầm lặng nhắm vào phân tích tâm lý, tìm hiểu tiềm thức đám bàng dân Việt Nam.

    1. Nhận xét sơ lược

Những nhận xét sơ lược sau đây nhằm vào ý‎ thức của tác giả huyền thoại, dầu vẫn có vài phân tích tiềm thức lẫn vào. Nhiều dấu vết ‎ý thức còn rõ ràng như hai với hai là bốn; vài điểm khác mù mờ hơn. Vì phần này chỉ nhằm mục đích gợi ý, tác giả sẽ không bàn sâu về mỗi chi tiết.

* Trước hết, câu chuyện rõ ràng nói đến truyền thuyết nhân quả của nhà Phật du nhập vào Việt Nam. Những gì con người trải qua kiếp này chỉ là hậu quả của việc làm kiếp trước. Thuyết nhân quả khi mới qua Việt Nam bị dân Việt Nam nghi ngờ, chống đối, như Hùng Vương đày An Tiêm ra hoang đảo. Sau đó, thuyết nhân quả dần dần chứng minh được sức mạnh của nó, biểu hiện bằng mức thành công của An Tiêm ngoài hải đảo. Dần dần được dân Việt Nam ưa chuộng, biểu hiện bằng việc vua rước An Tiêm về.

Vài chi tiết khác nói rõ về nguồn gốc của thuyết nhân quả. Chim hạc trắng từ phương tây mang hạt dưa đến chỗ An Tiêm. An Tiêm là người theo thuyết nhân quả, mà hạc trắng lại đến từ hướng tây, nghĩa là thuyết nhân quả (theo An Tiêm tới cùng) đến từ hướng tây Việt Nam. Ta biết, thuyết nhân quả phát sinh từ Phật giáo ở Ấn Độ, mà Ấn Độ ở phía tây Việt Nam.
HacTrang
An Tiêm lại là người ngoại quốc. Phải chăng An Tiêm là biểu hiện của sứ giả nền văn minh Ấn Độ? Trái dưa hấu lại gọi là trái Tây Qua. Rõ ràng là tác giả nhấn mạnh hướng tây, hướng Ấn Độ.

* Nhưng tại sao lại là hạc trắng? Trên phương diện luận lý, chim đưa hạt đến hoang đảo là dễ hiểu nhất. Chẳng lẽ cá lại mang hạt từ biển lên, hay ngựa chạy trên mặt biển mang hạt vào? Trên phương diện phân tâm, chim là vật tổ của dân Việt Nam. Nói mang máng, chim là tên họ của dân Việt. Ta thấy chim đầy dẫy trong văn hóa Việt Nam, từ hải âu (Âu Cơ) đến vịt trời (Vụ Tiên), đến ngỗng (Hồng Bàng). Nói rõ hơn,chim là họ mẹ. Người Việt ta ảnh hưởng mẹ rất nặng nề (Sẽ bàn đến trong một dịp khác). Hạc trắng vì màu trắng là màu tinh khiết, thanh cao. Chim hạc dịu dàng, khiêm kính, có thể bay đến cõi trời. Chim hạc lại ẻo lả, yếu đuối, gần giống như con cò, như mẹ Việt Nam.

“Con cò lặn lội bờ ao
Gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non”

Trong truyện lại nói đến An Tiêm được dân gian suy tôn làm “Tây Qua phụ mẫu”. An Tiêm là đàn ông thì “phụ” (“bố”) được rồi, tại sao lại “phụ mẫu” (“bố mẹ”)? Cũng như tại sao Phùng Hưng được dân gọi là “Bố Cái Đại Vương”? Ta thấy ảnh hưởng của người mẹ mạnh mẽ đến nỗi mẹ luôn luôn đi kèm với bố, dầu trên thực tế người đàn ông chỉ nên gọi là “bố” mà thôi. Hơn nữa bố mẹ luôn luôn đi đôi còn tỏ được tinh thần bình đẳng nam nữ trong văn hóa Việt Nam cổ điển. Tiếc rằng, nhiều ngàn năm sau con cháu Việt Nam chạy theo Tàu, rồi chạy theo Tây, đâm ra khinh nữ trọng nam.

* An Tiêm người ngoại quốc mà lại được Hùng Vương sủng ái. Thế là tinh thần hài hòa đa dung của người Việt đã đến độ thượng thừa. Tinh thần đa dung hài hòa này làm cho người Việt sẵn sàng du nhập những cái hay từ văn hóa nước ngoài, từ Phật giáo ở Ấn Độ, đến Lão giáo, Khổng giáo ở Trung Quốc, đến các triết lý gần đây từ Âu Mỹ. Tinh thần đa dung này mạnh đến nỗi, nếu để ý, ta phải ngạc nhiên. An Tiêm là gốc ngoại quốc, mà ngày nay dân ta luôn luôn coi An Tiêm là người Việt và quả dưa hấu đã thành một biểu tượng rất quan trọng trong văn hóa Việt Nam. Rõ ràng là dân ta chẳng bao giờ nề hà văn hóa nước ngoài cả.

Vì vậy, dầu ta hãnh diện về nền văn hóa Việt Nam, cũng cần để ý đến tính đa dung hài hòa của dân ta, để đừng cố chấp, cho rằng văn hóa Pháp, văn hóa Mỹ, v.v… chỉ là văn hóa ngoại lai. Văn hóa Việt Nam là văn hóa tổng hợp. Nếu ta cứ khư khư cố chấp, ếch ngồi đáy giếng xem trời bằng vung, không những ta không bao giờ tiến bộ, mà còn đi ngược lại bản tính đa dung hài hòa Việt Nam.
hài hòa
* Trong truyện An Tiêm còn nói, “Trời đã sinh thì trời dưỡng, có lo gì?” Triết lý thiên định này khác với thuyết nhân quả. Hơn nữa, thuyết thiên định còn có vẻ ngược với thuyết nhân quả.

Theo thuyết nhân quả, mọi sự đều do người. Kiếp này làm phúc, khiếp sau hưởng nhàn.

Thuyết thiên định, tương tự như quan niệm số mệnh của Nho giáo, cho rằng mọi sự đều do trời định. Ở xứ ta “học tài thi phận” hay là “số giàu đem đến dửng dưng, lọ là con mắt tráo trưng mới giàu”. Đời sống cực khổ, vô hy vọng của dân ta làm thuyết thiên định trở nên hấp dẫn.

Ta thấy ở đây hai thuyết có vẽ nghịch nhau (chưa hẳn là nghịch nhau hoàn toàn) đều nằm chung trong câu chuyện một cách hòa bình. Đó là tinh thần Việt Nam hài hòa. (Các độc giả muốn đọc thêm về thuyết thiên định trong văn hóa Việt Nam, xin đọc Truyền Thống Dân Tộc, của Lê Văn Siêu, tr. 51-63 Sống Mới (19??).

* Ngoài những điểm kể trên, tác giả mạn phép được nhắc lại ý kiến của giáo sư Kim Định: “Đây là muốn cụ thể vào một việc cho rõ đạo tự cường tự lực. Tuy đã nhiệm mầu Phật nhưng cũng còn cậy vào công cũ, nên vẫn giữ được vẻ tự cường tự lực của nhân thoại”. (Kinh Hùng Khải Triết, tr. 194). Thế nghĩa là An Tiêm là biểu hiện của dân Việt Nam tự lực tự cường, dầu có lâm vào đường cùng vẫn có thể tự lực cánh sinh để trở thành hùng mạnh. Hơn nữa, công lao tự lực của thời trước vẫn luôn sinh hoa trái cho kẻ thời sau.

Ta thấy ở đây ý chí tự lực, thuyết thiên định, và thuyết nhân quả phối hợp với nhau một cách kỳ dị, và trở thành cái ta gọi là văn hóa Việt Nam. Sản phẩm cuối cùng thật là phức tạp khó hiểu. Nhưng, có tổng hợp nào ở đời lại quá giản dị đâu?
humbleness

    2. Triết lý thầm lặng

* Điểm hấp dẫn hơn hết và là trọng tâm của câu truyện là quả dưa hấu. Ta thấy những nhận xét trên đây đều chẳng liên hệ gì đến quả dưa. Nếu vậy thì quả dưa chẳng là tiểu tiết lắm sao?

Nhưng tại sao lại là dưa hấu mà không là những quả khác? Ta thấy rõ ràng là dưa hấu giữ một vai trò quan trọng trong văn hóa Việt Nam. Ngày lễ quan trọng nhất trong năm, Tết Nguyên Đán, là phải có dưa hấu.

Nhưng xét trên thực tế, ta chẳng thấy lý do nào để dưa hấu trở thành quan trọng. Tháng Tết vẫn là tháng lạnh, dưa hấu chẳng có gì hấp dẫn như giữa mùa hè. Nếu Tết nằm giữa mùa hè, và vì quá nóng, dưa hấu trở thành quan trọng, lâu năm trở thành biểu tượng văn hóa, thì dễ hiểu hơn.

Về kinh tế, dưa hấu chỉ làm cho người ta hết khát, chứ không làm cho người ta no thế cơm. Mà Việt Nam lại không là sa mạc, nước quý như vàng. Nghĩa là dưa hấu chẳng quan trọng gì cho kinh tế hàng ngày cả. Hơn nữa, dưa hấu không giữ được lâu, nghĩa là bán buôn khó khăn, không có lời. Bán trễ một tí là chỉ có nước mang đi đổ. Vì vậy, người ta không thể xuất cảng dưa hấu ra ngoài, nhất là vào thời chưa có máy móc xe cộ. Do đó, dưa hấu không quan trọng cho đời sống kinh tế nhân dân.

Về mùi vị thì dưa hấu khá ngon. Nhưng so với các loại trái cây khác thì chẳng thể nào dưa hấu đứng được hàng đầu. Việt Nam thiếu gì trái cây thơm ngon, đẹp đẻ, mùi vị hấp dẫn. Dưa hấu cũng chỉ là một trong những số trái ngon mà thôi. Thế thì l‎ý do gì làm dưa hấu trở thành quan trọng?

Nguyễn Trọng Thuật trong Quả Dưa Đỏ và Nguyễn Lang trong Văn Lang Dị Sử, có nói đến hạt dưa đen nhánh như răng các cô thiếu nữ. (A, các cô thiếu nữ ngày nay, đừng vội cười. Ngày xửa ngày xưa, răng càng đen càng đẹp đấy nhé). Nhưng hạt dưa đẹp như răng của mấy cô cũng không thể nâng quả dưa lên hàng quan trọng. Cùng lắm cũng chỉ như hạt lựu so với răng các cô thời nay.

Nhìn kỹ lại dưa hấu ta thấy gì khác với các loại trái cây khác?

Trước hết là vỏ dưa xanh. Non cũng xanh, chín cũng xanh, lạt cũng xanh, ngọt cũng xanh. Đa số các trái cây khác khi chín đổi màu vàng hay đỏ, nhìn là biết ngay. Dưa hấu chín vẫn âm thầm lặng lẽ, khó mà biết được. Đây là điểm âm thầm thứ nhất.

Một vài trái cây khác khi chín vẫn mang màu xanh, như trái mít chẳng hạn. Nhưng những trái xanh khác khi chín lại bốc mùi thơm hấp dẫn. Dưa hấu chín vẫn âm thầm, chẳng khoe khoang hương vị. Đây là điểm âm thầm thứ hai.

Tóm lại, dưa hấu luôn luôn âm thầm, không lộ cái hay cái đẹp của mình ra ngoài bằng màu sắc hay mùi vị. Nhưng nếu người ta bổ ra thì bên trong thế nào? A! Màu đỏ. Màu của con tim, của tình yêu, của nhiệt huyết, của cả tấm lòng trung can tiết nghĩa. Mấy trái cây Việt Nam có bên trong đẹp hồng như dưa hấu? Không những chỉ có màu sắc, mà còn ngọt ngào mát mẻ. Nghĩa là đẹp cả hình thức lẫn nội dung.

Như vậy, dưa hấu là biểu tượng của con người tâm huyết trung nghĩa vẹn toàn. Nhưng con người đó âm thầm khiêm tốn, không hề tỏ lộ tấm lòng ra ngoài bao giờ. Khi người khác bổ ra, tìm hiểu lòng mình, họ mới thổ lộ chân tình.
dua-hau
Xanh vỏ, đỏ lòng.

Chính vì biểu tượng trung nghĩa âm thầm đó, mà dân Việt Nam say mê ưa chuộng quả dưa hấu, và dưa hấu được dùng đến trong mỗi đầu năm. Dân Việt Nam ưa chuộng thầm lặng và khiêm tốn trong lòng.

* Một điểm khác trong chính truyện làm sáng tỏ thêm một tí triết lý thầm lặng.

Trong truyện nói đến đời Hùng Vương mà không nói là đời thứ mấy. Nguyễn Lang trong quyển Văn Lang Dị Sử cho là đời Hùng Vương thứ 3 (tr. 130, in lần ba, Lá Bối, 1982). Nguyễn Trọng Thuật trong Quả Dưa Đỏ cho là đời Hùng Vương thứ 17 (tr.11).

Trên phương diện triết lý, đời 17 có lý hơn đời thứ 3. Theo Dịch học (mà người Việt ta nếu không là một trong những tác giả, thì cũng sử dụng rất nhiều), số 3 là con số thái dương, con số của thời huy hoàng cực thịnh. Số 17 là tổng số của 10 và 7. Số 10 là số thái cực, trung dung, vô thưởng vô phạt. Số 7 là số dương suy, thời đi xuống. Đời 17 là đời kế đời Hùng Vương cuối cùng. Đời vua 18 bị Thục Phán xâm chiếm.

Mà Hùng Vương trong truyện này có vẻ là vua của thời đi xuống. Vua nuôi An Tiêm, thương như con, nhưng khi nghe An Tiêm nói tin vào tiền thân, có vẻ như phụ ơn vua, là vua đùng đùng nổi giận đày ra hoang đảo. Người làm việc phúc đức sao lại bắt người ta mang ơn của mình hoài, nếu người ta tỏ vẻ như là vô ơn thì mang ra phạt? Thế là kẻ phúc đức hay kẻ háo danh? Thế là kẻ khiêm tốn hay “cái tôi lớn như quả núi”?

Hùng Vương trong truyện có thể là biểu hiện của sức đối kháng của dân Việt với văn hóa Phật giáo thời đó. Nhưng cũng có thể là biểu hiện của “cái tôi” quá lớn. Cũng may mà Hùng Vương vẫn còn thấy được An Tiêm có lý vào lúc cuối truyện.

“Cái tôi” to lớn của Hùng Vương đặt kế tính khiêm nhường âm thần của quả hưa hấu, làm nổi bật vai trò quan trọng của quả dưa. Âm thầm khiêm tốn và trung nghĩa trong lòng là vốn liếng của cái làm cho An Tiêm giàu có, và chinh phục được “cái tôi” to lớn của Hùng Vương.
khiêm tốn phục vụ
Như vậy, dân Việt ta vì yêu chuộng thầm lặng khiêm tốn mà thành ra yêu chuộng dưa hấu, và đưa dưa hấu lên hàng đầu trong văn hóa Việt Nam. Dĩ nhiên, không phải là mỗi người Việt đều “thấy” mối liên hệ giữa dưa hấu và tính khiêm tốn, vì “thấy” là ý thức, mà ta đang phân tích tiềm thức dân tộc. Nhưng làm sao ta biết là ta phân tích đúng hay sai? Thưa, ta đem so sánh lời phân tích của ta với các câu truyện khác rõ ràng hơn về tính thầm lặng mà dân Việt Nam ưa chuộng, như Con Tấm Con Cám, Thạch Sanh Lý Thông. Tính thầm lặng là một trong những đặc tính tâm l‎ý của dân Việt, mà ta phải để ý trong những lúc thực hành.

III. Kết luận

Thầm lặng là một cái gì thật giản dị, thật dễ hiểu. Nhưng khi áp dụng, thầm lặng đòi hỏi ta phải kiên nhẫn và tự kỷ cao độ. Kiên nhẫn để bỏ sức ra làm việc chậm chạp và mệt nhọc bằng năm bằng mười lần hô hào bắc loa to lớn. Kiên nhẫn để khỏi nóng nảy áy náy là con đường mình đi sao quá chậm. Tự kỷ để mình có thể chống lại hào quang của những tràng pháo tay, những lời xưng tụng. Ôi! Hào quang sao đẹp đẽ thế mà có sức hủy diệt nhân tài!

    Chú thích: (*) Phần chính truyện trích nguyên văn từ phần Chính Kinh của quyển Kinh Hùng Khải Triết do giáo sư Kim Định viết.

    Theo giáo sư Kim Định, “Kinh Hùng là 15 truyện đầu trong quyển Lĩnh nam Trích Quái theo bản VHv 1473 là bản Phạm Quỳnh đã theo và Lê Hữu Mục đã dịch… Ở đây chúng tôi chỉ dùng bản dịch của họ Lê sau khi đã sửa vài ba chỗ sai (chắc vì vô tình) hoặc quá xa bản chính, nhưng nói chung đã đủ cho phương diện triết lý”. Xem K.H.K.T. tr. 151 (Thanh Niên Quốc Gia xuất bản, 198?).

    Bản chính truyện này gần giống hoàn toàn với bản chính truyện Nguyễn Trọng Thuật đã dùng trong Quả Dưa Đỏ, tr. 6-7 (Sống Mới, 1955).

Trần Đình Hoành

© copyright 2009
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Pô-lô-ne Tạm biệt tổ quốc của Oginski

poland01[1]

Chào các bạn,

Hôm nay chúng ta cùng nghe bản Polonaise cung La thứ của nhạc sĩ người Ba Lan Michał Kleofas Ogiński. Bản Polonaise này còn có tên là Tạm biệt tổ quốc (Farewell to Fatherland) hay đơn giản là Polonaise Oginski.
Michal_Kleofas_Oginski[1]
Đây là bản nhạc nổi tiếng nhất của Oginski viết về nỗi nhớ quê hương Ba Lan yêu dấu. Bản nhạc là nỗi nhớ da diết về quê hương Ba Lan an bình trong tâm khảm.

Oginski là một hoàng tử của Polish-Lithuanian Commonwealth, và đi theo sự nghiệp chính trị từ nhỏ, cho đến khi quốc gia của ông bị Russia (Nga), Prussia (Phổ) và Austria (Áo) xâm lược, chia cắt và biến mất trên bản đồ thế giới. Cả cuộc đời ông lưu vong khắp nơi, khi là người chiến sĩ cách mạng, khi là nhà ngoại giao, khi là thượng nghị sĩ cho Nga Hoàng. Ông luôn đấu tranh để dành lại cho quê hương Ba Lan trước sự xâm lược của các nước Nga, Áo và Phổ.

Ông cũng là nhà soạn nhạc nghiệp dư. Đóng góp lớn nhất của Oginski là những bản Polonaise, điệu nhảy Ba Lan, nhưng được soạn để nghe chứ không phải để khiêu vũ. Ông được coi là cha đẻ của dòng piano Ba Lan và ảnh hưởng lớn tới thiên tài Chopin trẻ tuổi.

Vào năm 1823, khi Oginski đã 58 tuổi, ông định cư biệt xứ ở Ý cho tới cuối đời, sau một cuộc đời hoạt động chính trị liên tục. Ông thất vọng  và mất niềm tin vào chính trị. Vào năm này, ông viết nên bản Polonaise “Tạm biệt tổ quốc” để diễn tả nỗi nhớ về quê hương Ba Lan.

Bản nhạc đã sống mãi và là một trong những bản được yêu thích nhất, không chỉ ở Ba Lan mà ở tất cả những nước vùng Slavs.

Dưới đây chúng ta có ba video. Video thứ nhất là Polonez do dàn nhạc hòa tấu trên nền hình ảnh đất nước Ba Lan. Video thứ hai là dàn đồng ca Ba Lan hát tại tòa nhà quốc hội Belarus. Và video thứ ba là video cây nhà lá vườn do anh Daniil Nazarov độc tấu ghi-ta ấm áp.

Chúc các bạn một ngày yêu tổ quốc,

Hiển.
.

Polonaise Tạm biệt tổ quốc của Oginski, dàn nhạc hòa tấu

.

Polonaise Tạm biệt tổ quốc của Oginski, dàn đồng ca Ba Lan hát ở tòa nhà quốc hội Belarus

.

Oginski polonez độc tấu ghi ta bởi anh Daniil Nazarov

Bộ Đôi Nghệ Sĩ Ba Lê Khuyết Tật Tài Năng

Năm 1996 một tai nạn ô tô thảm khốc đến như một định mệnh trong cuộc đời Lima đã lấy đi cánh tay phải của cô. Khi đó cô 19 tuổi và là một vũ công ba lê chuyên nghiệp người Trung quốc xinh đẹp đầy hứa hẹn. Người bạn trai khôi ngô từ bỏ cô khiến cô tuyệt vọng và đã tìm cách kết liễu cuộc đời, nhưng may nhờ cha mẹ cứu được. Tình yêu đối với cha mẹ đã cho cô nghị lực để tiếp tục sống. Cô đã học cách sống độc lập. Cô học và viết chữ Hoa thật đẹp bằng tay trái, và làm được nhiều việc khác như chải mái tóc đến ngang bờ vai, học nấu ăn và giặt quần áo….

Vài tháng sau cô mở một hiệu sách nhỏ. Năm năm sau, Lima được mời tham dự cuộc thi Biểu Diễn Nghệ Thuật Đặc Biệt cho người khuyết tật và đoạt huy chương vàng.
Lima & Xiaowei Zhai

Năm 2002, một thanh niên đẹp trai, Tao Li, đem lòng yêu cô say đắm, nhưng cô tránh mặt anh ta vì sợ bị tổn thương lần nữa.
Sau khi cô biến mất ở Bắc Kinh, Tao tìm kiếm cô khắp nơi bất chấp sự phản đối và nhạo báng của cha mẹ cô. Sau cùng anh tìm được cô đang múa tại một quán bar. Từ đó họ không xa nhau nữa. Khi bệnh Sars hoành hoành họ túng quẫn vì các nhà hát đóng cửa. Năm 2004, anh xin được giấy phép làm người đại diện hợp pháp cho cô và cố gắng giúp cô phát triển nghệ thuật biểu diễn độc đáo của cô. Vào một đêm tuyết rơi giá buốt, khi cả hai đang co ro trong một đường hầm chờ sáng để đón xe buýt sau một ngày dài phụ diễn tại một điểm chiếu phim, cô đột nhiên muốn múa trong tuyết với anh.

Trước đây cô đã dùng điệu múa của mình để kể cho anh câu chuyện của đời cô, và lần này, anh chợt nhận ra đây chính là tài năng độc đáo của cô. Tháng 9 / 2005, Li gặp một người thanh niên – Xiaowei Zhai, đang được huấn luyện để dự thi đua xe đạp tại Thế Vận Hội Đặc Biệt cho người khuyết tật. Xiaowei chưa từng múa trước đó. Năm 4 tuổi, anh trèo lên một chiếc xe máy cày ngã xuống và mất một cẳng chân trái . Khi đó bố anh hỏi anh có sợ không vì bác sĩ sẽ cưa chân anh. Cậu bé Xiaowei Zhai không thể hiểu được cuộc đời mình sẽ khác biệt thế nào nên trả lời không. Khi người cha hỏi cậu có sợ những trở ngại và khó khăn trong đời, cậu hỏi lại: Trở ngại và khó khăn là gì? Chúng có ngon không? Người cha cười mà ứa lệ: “Có, chúng giống như những cây kẹo con ưa thích” rồi lau nước mắt trả lời tiếp:

“Con chỉ cần ăn những thứ ấy một lần một miếng.” Lớn lên Xiaowei Zhai rất lạc quan, giỏi điền kinh và có tính hài hước. Anh tập nhảy cao, nhảy xa, bơi, lặn và sau cùng quyết định thi xe đạp. Huấn luyện viên tin rằng anh sẽ dành được 2, 3 huy chương tại Thế Vận Hội Đặc Biệt này.
Thoạt đầu Xiaowei Zhai không hiểu là thế nào anh có thể “múa” khi anh chỉ còn một chân, vì thế Li mời anh đến xem cô biểu diễn điệu “Tay Trong Tay “ với một nam nghệ sĩ khác. Khi xem cô biểu diễn, anh cảm thấy rằng mình đang được xem một tâm hồn mạnh mẽ và thuần khiết, biểu diễn tuyệt vời trên sân khấu, và đồng ý thử. Li và Tao đối xử với anh như với người em trai và họ sống chung một nhà trong hơn một năm khổ luỵện.

lima2
Không ai có thể tưởng tượng được những khó khăn và chướng ngại họ phải đương đầu. Anh chưa từng biết gì về múa, trong khi cô lại là người cầu toàn. Có thật nhiều câu chuyện đáng khâm phục và làm mọi trái tim cảm động rơi lệ. Với người lành lặn bình thường, cũng cần rất nhiều quyết tâm và kiên trì mới có thể luyện tập và biểu diễn vũ ba lê. Huống chi đây là một bộ đôi khuyết tật ở những bộ phận mà không ai tin họ có thể vũ ba lê. Thế nên chúng ta có thể hình dung được những vất vả, gian khó, bao nhiêu mồ hôi và nước mắt đã đổ xuống sàn tập của họ. Chỉ một động tác buông cô xuống, thật đáng kinh ngạc và ngưỡng mộ, anh đã làm cô ngã trên sàn cứng hơn 1000 lần.

Để có một bước chuyển qua phải, họ bắt đầu tập lúc 8 giờ sáng và đến hơn 8 giờ tối chỉ tập được một điệu duy nhất.
Tất cả những gì họ làm là luyện tập ngày đêm, từ sáng đến tối từ 8 giờ sáng đến 11 giờ khuya mỗi ngày, dưới mọi thời tiết cho đến khi họ hết sạch tiền vào đầu năm 2007. Tháng tư năm đó, họ đã bước vào vòng chung kết cuộc thi, đã thắng được 7000 đối thủ trong cuộc thi Vũ Ba Lê Truyền Hình Cáp Trung quốc.

Đấy là lần đầu tiên cặp nghệ sĩ khuyết tật này dự thi biểu diễn. Họ đoạt huy chuơng bạc với số điểm là 99, 17, chưa nói đến điểm bình chọn cao nhất của khán giả.

Mời các bạn xem phần biểu diễn độc nhất vô nhị của căp nghệ sĩ khuyết tật có nghị lực phi thường này với khúc ba lê Tay Trong Tay (Hand in Hand)

Chúc các bạn luôn tràn đầy nghị lực sống có ích và quyết tâm đi đến đích thành công.

– BALLET – HAND IN HAND, do Xiaowei Zhai (mất một cẳng chân) và Lima (mất một cánh tay) biểu diễn