Category Archives: trà đàm

Không có từ tâm

Một người phụ nữ ở Trung Quốc đã cấp dưỡng một vị sư hơn 20 năm. Bà đã làm một chòi nhỏ cho sư và lo việc ăn uống khi sư thiền định. Cuối cùng bà thắc mắc là không biết vị sư đã tiến bộ được gì trong suốt bao nhiêu năm.

Để tìm câu trả lời, bà nhờ một cô gái đầy ham muốn giúp một tay. “Vào ôm ông,” bà bảo cô gái, “rồi hỏi đột ngột: ‘Làm gì bây giờ?’ ”

Cô gái vào gặp sư và, chẳng nề hà gì, đến vuốt ve sư, hỏi sư phải làm thế nào về việc đó.

“Một cây mọc trên tảng đá trong mùa đông,” vị sư trả lời đầy thi vị. “Chẳng nơi đâu có hơi ấm.”

Cô gái trở về và báo cáo lại điều sư nói.

“Nghĩ đến việc tôi nuôi ông này cả 20 năm!” bà than một cách giận dữ. “Ông ta chẳng tỏ vẻ gì quan tâm đến nhu cầu của cô, chẳng hề muốn giải thích tình trạng của cô. Ông ta không cần phải đáp lại ham muốn, nhưng ít ra ông ta cũng phải tỏ lộ được một tí từ tâm.”

Bà liền đi ngay đến chòi của vị sư và đốt nó.

Bình:

* Đoạn nhà sư nói thế này:

Cô gái vào gặp sư và, chẳng nề hà gì, đến vuốt ve sư, hỏi sư phải làm thế nào về việc đó.

“Một cây mọc trên tảng đá trong mùa đông,” vị sư trả lời đầy thi vị. “Chẳng nơi đâu có hơi ấm.”

Ý nhà sư nói, Tôi như là một cây mọc trên đá trong mùa đông, rất lạnh lùng, chẳng có hơi ấm nào nơi tôi, chẳng có xúc cảm nào nơi tôi, cô đừng mất công vô ích.

Đây là thái độ mà ta gọi là “con tim chai đá” chẳng còn một tí cảm xúc nào hết. Và đây là lầm lỗi rất nhiều người có về Thiền, kể cả một số thiền sư. Tức là họ tập “thiền” để chỉ làm cho con tim không còn bị xúc động bởi tất cả mọi điều trên đời.

Nhưng nếu thế thì “tâm từ bi” của Bồ tát làm sao mà có được?

Bồ tát có tâm từ bi, cảm xúc được từng nỗi đau rất nhỏ của con người. Vì vậy mà Bồ tát luôn luôn hộ trì, độ người qua khổ nạn.

Tâm Thiền là tâm cực kỳ nhậy cảm, nhậy cảm với những nỗi đau nỗi khổ dù là rất nhỏ của sinh linh.

Ở đây ta có một cô gái muốn một nhà sư (dù là bên ngoài). Trong bài có nói đây là một cô gái “đầy ham muốn”. Đó là một cái khổ. Thích một nhà sư là một điều rất khổ cho một cô gái. Nhà sư không thích cô gái theo kiểu nam nữ, nhưng ít ra phải cảm xúc được cái khổ của cô, để mà có một tí từ tâm. Biểu lộ từ tâm đó với cô ta bằng cách nào thì tùy theo trường hợp, nhưng có lẽ không phải là cách kiêu kỳ, chẳng nói một chữ về cô ta, mà chỉ tự ví mình là cây mọc trên tảng đá giữa mùa đông. Một lối trả lời rất nhắm vào “cái tôi” thay vì lo lắng cho người kia.

Ở đây ta thấy sự liên hệ giữa tâm chai đá và cái tôi (ngã mạn). Người có tâm chai đá chỉ quan tâm đến họ và chẳng quan tâm đến ai khác.

Bồ tát không quan tâm đến mình, mà quan tâm đến người khác. Đó là Thiền thật sự.

* Người ta thường nhầm lẫn tâm tĩnh lặng của Thiền và tâm chai đá. Tâm tĩnh lặng là mặt nước hồ thu tĩnh lặng, không phải là một tảng đá chết lặng.

Một viên sỏi rất nhỏ cũng làm mặt hồ gợn sóng. Tâm tĩnh lặng rất nhậy cảm với mọi cảm xúc ở đời, nhậy cảm hơn tâm trung bình rất nhiều. Nhưng Tâm tĩnh lặng có thể tự kiểm soát mình rất tốt, cho nên dùng các xúc cảm đó để làm điều thiện, làm thăng hoa cuộc đời.

Mặt khác, chạy ồ ạt theo xúc cảm buồn vui giận ghét của mình không phải là nhậy cảm, mà là không chỉ huy được cảm xúc và là nô lệ cho cảm xúc.

* Bà lão nổi giận vì tốn công nuôi ông sư này 20 năm mà ông ta chẳng hiểu gì về Thiền, về tĩnh lặng, và từ tâm cả. Sự nổi giận của bà lão và con số 20 năm là để nhấn mạnh điều là có rất nhiều vị sư bị lạc về điểm này cả đời họ.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

.

No Loving – Kindness

There was an old woman in China who had supported a monk for over twenty years. She had built a little hut for him and fed him while he was meditating. Finally she wondered just what progress he had made in all this time.

To find out, she obtained the help of a girl rich in desire. “Go and embrace him,” she told her, “and then ask him suddenly: ‘What now?'”

The girl called upon the monk and without much ado caressed him, asking him what he was going to do about it.

“An old tree grows on a cold rock in winter,” replied the monk somewhat poetically. “Nowhere is there any warmth.”

The girl returned and related what he had said.

“To think I fed that fellow for twenty years!” exclaimed the old woman in anger. “He showed no consideration for your need, no disposition to explain your condition. He need not have responded to passion, but at least he could have evidenced some compassion.”

She at once went to the hut of the monk and burned it down.

Lệ thuộc hỗ tương

Chào các bạn,

Dù chúng ta có bao giờ nghĩ đến hay nói đến cụm từ “lệ thuộc hỗ tương” (interdependence) thì chúng ta vẫn đang sống trong một thế giới lệ thuộc hỗ tương, tức là mọi người, mọi quốc gia lệ thuộc lẫn nhau.

Trên phương diện kinh tế chính trị quốc tế, chúng ta đã quen với từ “toàn cầu hóa”. Người ở Mỹ, dùng chén bát từ Trung Quốc, máy chụp ảnh của Nhật, computers chỉ với Intel chip may ra là của Mỹ còn tất cả các cơ phận khác đều sản xuất từ Á Châu… Cuộc khủng hoảng tài chánh toàn cầu vừa qua cho thấy khủng hoảng bắt đầu từ Mỹ đã lập tức lan ra khắp thế giới. Nói chung là vận mệnh các quốc gia ngày nay lệ thuộc vào nhau rất nhiều. Mô hình một hai quốc gia lớn đi chinh phục và thôn tính các nước nhỏ khắp nơi của ngày xưa, ngày nay không còn đứng vững nữa.

Bên cạnh thương mại và kinh tế xuyên quốc gia, AIDS, cúm gia cầm, cúm lợn, và có lẽ là tất cả mọi loại bệnh hay lây khác, cũng là vấn đề xuyên quốc gia. Khủng bố cũng là vấn đề xuyên quốc gia. Nguy cơ chiến tranh nguyên tử là vấn đề xuyên quốc gia. Sự tăng địa nhiệt và thay đổi khí hậu là vấn đề xuyên quốc gia.

Ngày nay, chẳng có vấn đề gì của một quốc gia mà lại không ảnh hưởng đến các quốc iga khác không ít thì nhiều. Vì vậy, “lệ thuộc hỗ tương” trở thành khái niệm quản lý căn bản trong chính trị cũng như kinh tế.

Và, trong đời sống của mỗi cá nhân.

Cách đây không lâu lắm, trong thập niên 60, 70 và 80, người ta chỉ nói đến “độc lập” và “tôi”– “Tôi, của tôi, và cho tôi” là trung tâm của vũ trụ. Ngày nay, sau 3 thập niên “tôi”, người ta khám phá ra rằng đó là cách sống ích kỷ, không thực tế, và không hiệu lực. Thế hệ “tôi” hippy của thập niên 60, ngày nay đã lớn tuổi và học được rất nhanh là họ không thể sống một mình mà phải lệ thuộc vào con cháu, viện dưỡng lão, hay ai đó. Và thế hệ “tôi” thay đổi tư tưởng thành thế hệ “lệ thuộc hỗ tương.”

Nhưng đây không phải là điều gì mới lạ. Người đông phương, cho đến ngày nay vẫn sống lệ thuộc hỗ tương giữa các thành viên trong gia đình, và văn hóa “tôi” chưa bao giờ thực sự mạnh ở đông phương. Trong vòng mấy ngàn năm nay, lệ thuộc hỗ tương là một phần đương nhiên của văn hóa Phật giáo, trong đó tất cả mọi loài mọi thứ mọi điều trong vũ trụ là Một, liên hệ cực kỳ chặt chẻ với nhau—một tiếng gảy móng tay có thể rung động đến vô lượng thế giới.

Điều này, trên phương diện luận ‎lý, chẳng có gì là khó hiểu. Trong một hồ nước vĩ đại, một con cá chết đầu này hồ có thể ảnh hưởng đến mọi con cá khác trong hồ, cho đến tận đầu kia của hồ, nếu con cá vừa chết đã chết vì một bệnh dịch nào đó. Trong Thái dương hệ, nếu một hành tinh nào đó, Mars chẳng hạn, nổ tung thì đương nhiên là mọi hành tinh khác đều bị hỗn loạn đường bay, có khi văng luôn ra khỏi Thái dương hệ không biết chừng. Một thiên hà nào đó gần Ngân Hà nổ tung, chắc là Ngân Hà và trái đất sẽ bị hỗn loạn cực kỳ, nổ tung theo không biết chừng…

“Lệ thuộc hỗ tương” là lẽ tất nhiên của vũ trụ và đời sống. Nhưng trong đời sống của chúng ta, chúng ta có hiểu rõ lý lẽ này, và có dùng nó như là nguyên lý sống hay không?

• Lệ thuộc hỗ tương có nghĩa là cho người khác lệ thuộc ta, cộng tác với người khác, giúp đở người khác, lo lắng và săn sóc người khác, quan tâm đến an nguy và thành công của người khác, đưa vai cho người mệt mỏi tựa vào mình…

• Nhưng quan trọng hơn nữa, lệ thuộc hỗ tương là nhận sự cộng tác, sự giúp đở, của người khác. Gõ cửa người khác nhờ giúp sức khi cần. Khiêm tốn nhờ người khác giúp đở. Hỏi sự giúp đở của người khác là một hành động khiêm tốn. Người nhiều kiêu hãnh và tự ái vặt sẽ nói, “Tôi giúp người khác thì được, nhưng tôi không muốn nhận sự giúp đở của người khác.” Sự thật thì, đối với đa số chúng ta, giúp đở người khác dễ hơn nhờ người khác giúp đở mình, vì… cái tôi luôn luôn đứng đó cản đường.

• Lệ thuộc hỗ tương còn có nghĩa là teamwork, làm việc nhóm. Lệ thuộc hỗ tương là biết hỗ trợ người khác trong team và lệ thuộc vào người khác trong team. Trong các kỹ năng làm việc, thì teamwork có lẽ là kỹ năng yếu nhất của người Việt. Rất nhiều chuyên gia Việt khi làm việc chỉ thích cắm đầu cắm cổ làm một mình, không thích bàn luận thường xuyên với người khác, sợ người ta cho là mình dốt cần vay mượn ý của họ. Khi làm việc, họ không muốn cho thủ lĩnh hay các bạn trong team biết mình đang làm gì, sợ người khác xía vào ‎ý của mình. Các vị đó, không biết rằng người giỏi teamwork thường cầu mong người khác “xía” thêm ý‎ kiến vào việc của mình. Muốn được thêm ý‎ kiến thì khó, chứ khư khư bịt tai không muốn nghe ai là chuyện rất dễ.

Người ta thường nói làm việc nhóm là một kỹ năng. Đúng thế. Nhưng trước khi là một kỹ năng, nó phải là một thái độ–thái độ khiêm tốn, luôn luôn muốn chia sẻ suy nghĩ và kế hoạch của mình với mọi người, luôn luôn muốn được có thêm ‎ý kiến của mọi người để làm giàu cho tư duy của mình, luôn luôn muốn biết các người khác trong nhóm đang làm gì, và muốn cả nhóm biết mình đang làm gì… Đó là thái độ của một cầu thủ trên sân bóng, chỉ thấy đội, đội và đội–không còn thấy cái tôi biệt lập của mình nữa, mà chỉ thấy mình cùng đồng đội hoạt động cực kỳ ăn ý cho chiến thắng.

Chúc các bạn môt ngày vui.

Mến,

Hoành

© copyright 2009
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Cô Ấy Không Xinh Đẹp

Cô ấy không xinh đẹp. Cô ấy chẳng có gì đặc biệt. Cô cũng chẳng có gì khiến mình nổi bật giữa đám đông. Cô là chị cả trong một gia đình có sáu người; nên cô đã phải học cách chịu trách nhiệm khi còn nhỏ.
Cô lớn lên với tính cách mạnh mẽ và thông minh ho, cô tỏa ra sự hiểu biết và khuyến khích bất cứ ai cô ấy gặp. Cô ấy không xinh đẹp, nhưng cô ấy khiến cho người khác cảm thấy thoải mái hơn. Cô gặp một chàng trai có tính cách chống đối, anh ta nghĩ rằng tất cả đàn ông trên thế giới chẳng có ai ngoài mình, cô đối xử tốt với anh ta. Cô dạy anh ta cách đọc sách và với một chút khích lệ, chàng trai muốn đi học cao đẳng, họ nhanh chóng trở thành bạn và cô cảm thấy mình đã yêu cậu học sinh thô ráp nhưng đẹp trai này.

Chàng trai cũng yêu một cô gái khác. Cô gái ấy thật là xinh đẹp. Tóc cô như toả ra hào quang bao quanh Mắt cô xanh thẳm như đại dương. “Giống như một thiên thần” anh ta nói với người cô của mình “ giống như một thiên thần xinh đẹp”. Cô nuốt nỗi nghẹn ngào. Cô không xinh đẹp, cô không sở hữu trái tim của người mà anh ấy yêu, nhưng cô không quan tâm. Chỉ cần anh ấy vui, cô cũng sẽ vui, vì vậy cô tiếp tục cố gắng.

Cô giúp anh viết những lá thư hay nhất cho thiên thần của anh. Cô luôn ảo tưởng mình là người được nhận những lá thư ấy. Và vì vậy cô giúp anh chọn quần áo đẹp, nói những lời hay và mua những món quà thích hợp cho thiên thần.
Thiên thần mang lại cho anh nhiều niềm vui nhưng không ít nỗi buồn khiến cô nhỏ lệ. Nhưng điều đó không khiến cô ngừng cho đi nhiều hơn cả những gì mình được nhận. Chẳng bao lâu sau, thiên thần bỏ anh để theo một người đàn ông khác.Một người giàu và thành đạt hơn anh. Anh đã sốc. Anh rất đau lòng và không nói gì trong nhiều ngày. Rồi cô đến bên anh. Anh khóc trên bờ vai cô và cô cũng khóc.


Anh đau nhưng cô còn đau hơn. Thời gian trôi qua và vết thương lòng kia đã dứt. Chàng trai bỗng nhận ra điều gì đó về người bạn của anh- người dạy phụ đạo cho anh.Một điều mà anh chưa từng nhận ra.Nụ cười của cô thật đẹp, nụ cười ấy đã thắp sáng những ngày đen tối nhất và đối với anh cô bỗng mang một vẻ đẹp giản dị lạ thường!
Thật là đẹp! Anh thấy cô gái chất phác, giản dị trước mắt mới đẹp làm sao. Và anh bắt đầu xiêu lòng. Anh yêu cô gái xinh đẹp này. Một ngày nọ, anh đã lấy hết can đảm đến gặp cô.
Anh đến nhà cô với tâm trạng lo lắng, sốt ruột.Những suy nghĩ cứ lặp đi lặp lại trong đầu anh.
Anh nói với cô rằng đối với anh cô ấy đẹp như thế nào.Và tuyệt vời như thế nào khi anh yêu cô ấy.Anh gõ cửa,không ai ở nhà.

Ngày hôm sau,anh biết rằng người con gái mà anh đã phải lòng đã mắc bệnh u não và đang ở trong cơn hôn mê. Các bác sĩ và gia đình cô ấy đã quyết định để cô ấy ra đi.Đến phút cuối cùng anh phải đến để gặp cô.Anh cầm tay cô.Anh vuốt tóc cô và khóc vì người con gái xinh đẹp này.Anh khóc, nhưng đã quá muộn.Cô gái xinh đẹp đã được chôn và thiên đường đã mở ra.Một cơn mưa xuân xinh đẹp đã dứt,là tiếng khóc vì sự mất mát của họ. Cô ấy là cô gái xinh đẹp nhất trên thế gian và cô ấy đã dạy cho người đàn ông nổi loạn biết yêu và thế nào là được yêu.

Cô là cô gái xinh đẹp nhất trên thế giới.
Nhìn xung quanh bạn.Không phải không có nhiều những khuôn mặt trần ?
Hãy nhìn thật kĩ. Một cái nhìn thật tốt hoặc có thể bạn sẽ bỏ lỡ người đẹp đó.

Nhi và Song Thư dịch

She Was Not Beautiful

She was not beautiful. Nothing about her was extraordinary. Nothing about her made her stand out in a crowd. She grew up in a family of six and being the eldest; she learned responsibility at an early age.
As she grew stronger and brighter, she instilled a sort of light and cheer to whomever she met. She was not beautiful, but she made others feel better about themselves. She meets a rebel boy who thinks he is all man, befriending him, she teaches him. She teaches him how to read and a little boost, the ‘man’ needed to go to college, they become fast friends and she fell fast in love with her rugged handsome student.
The ‘man’ then finds himself in love with a girl. A girl who was so beautiful. Her hair was a hallow of light around her. Her eyes the bluest blue of the ocean. ‘Like an angel’ he tells his tutor ‘like a beautiful angel.’ The girl swallows a lump at her throat. She was not beautiful, she did not posses the heart of the one he loved, but she did not care. As long as he was happy, she would be happy, or so she tried to. She helped write the most beautiful letters to his angel. All the time visioning it was she herself receiving those very letters. And so the girl helped him choose the right clothes, say the right words, and buy the right gifts for his angel.

His angel brought him much joy and much pain to the girl who cried behind her smiles. But that never stopped her from giving more than she will ever receive. Then one day, the angel he loved left him for another man. A richer more successful man. The boy was stunned. He was so hurt, he did not speak for days. The girl went to him. He cried on her shoulder and she cried with him.
He was hurt and she was too. Time went by and so wounds heal. The boy realizes something about his friend/tutor. Something he never realized before. How her laughter sounded heavenly and how her smiles brightened up the darkest days, or how simply beautiful she looked to him!
Beautiful. This plain, simple girl was beautiful to him. And he began to fall. Fall so in love with this beautiful girl. On one day, he picked up all his courage to see her. He walked to her house, nervous, and fidgeting, Running his thoughts over and over his head.
He was going to tell her how beautiful she was to him. He was going to tell her how wonderfully in love he was with her. He knocked. No one was home.

The next day, he found out that the beautiful girl he fell in love with had a brain tumor that put her into a coma. The doctors were grim and the family decided to let her go.
One final time he got to see her. He held her hand. He stroked her hair and he cried for this beautiful girl. He cried, but it was too late. The beautiful girl was buried and the heavens broke. Out a beautiful spring shower, a cry for their loss. She was the most beautiful girl in the world and she had taught the rebel boy-man to love and what it is to be loved.
She was the most beautiful girl in the world.
Look around. Aren’t there a lot of plain faces? Take a good look. A real good look or you might just miss out that beautiful person.

Unknown author

Nếu yêu, hãy yêu công khai

Hai mươi nhà sư và một ni cô tên Eshun học thiền với một thiền sư.

Eshun rất đẹp dù là đầu của ni cô đã cạo và áo chùng rất thường. Vài vị sư thầm yêu nàng. Một vị viết cho nàng một lá thư tỏ tình, xin được gặp riêng nàng.

Eshun không trả lời. Ngày hôm sau thiền sư giảng bài cho cả lớp, và khi thầy giảng xong, Eshun đứng dậy. Nhìn người đã viết thơ tỏ tình cho mình, Eshun nói: “Nếu thực sự anh yêu tôi rất nhiều, hãy đến đây và ôm tôi.”

Bình:

• Không phải chỉ là tình yêu mà là tất cả những chuyện khác. Thường là, nếu không có gì sai trái thì chẳng có lý do gì phải giấu giếm. Nếu có giấu giếm, thường là có chuyện không tốt. Mỗi bí mật là một chấn song tù hãm. Nếu ta có nhiều bí mật trong đời quá, ta ở tù vĩnh viễn.

• Có lẽ ni cô đã nói chuyện với thầy và thầy ra lệnh ni cô phải làm thế. Vì nếu ni cô tự ‎ý làm, thì một là làm mất trật tự lớp học và hai là bất nhẫn. Dù không yêu, cũng cần có từ tâm.

Nhưng thầy ra lệnh thì được.

• Các thiền sư nổi tiếng là dịu dàng, nhưng đối với thiền sinh, tức là những người sẽ thành thầy dạy Thiền sau này, các thầy đôi khi có cách giáo dục rất khắc nghiệt.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

.

If You Love, Love Openly

Twenty monks and one nun, who was named Eshun, were practicing meditation with a certain Zen master.

Eshun was very pretty even though her head was shaved and her dress plain. Several monks secretly fell in love with her. One of them wrote her a love letter, insisting upon a private meeting.

Eshun did not reply. The following day the master gave a lecture to the group, and when it was over, Eshun arose. Addressing the one who had written her, she said: “If you really love me so much, come and embrace me now.”

#5

“Thuộc về” thế giới

Chào các bạn,

Hôm nay chúng ta tiếp tục triển khai ‎ý niệm “thuộc về”, đặt cá nhân của ta trong thế giới chúng ta đang sống.

“Thế giới” đây là thế giới rộng lớn, là cả quả địa cầu, là tất cả mọi quốc gia trên thế giới.

Chúng ta hay nói “tôi sống trong thế giới này”, nhưng ta có thực sự quan tâm đến thế giới này không?

Hãy lấy ví dụ về “lục địa bị quên lãng” là Phi Châu. Phi Châu nghèo đói, bệnh hoạn, bất công, chiến tranh, chết chóc tràn ngập… Bạn đã từng làm gì cho Phi Châu? Chúng ta không cần nói đến đóng góp tiền bạc công sức cho Phi Châu, vì Phi Châu hơi xa, hơn nữa các hoạt động xã hội phục vụ Phi Châu không có tại Việt Nam, và chúng ta lo cho Việt Nam đã không xuể rồi.

Nhưng ít ra hãy tự hỏi lòng là, “Tôi có bao giờ quan tâm đến Phi Châu không?” Nếu có, thì bạn đã “hành động” với quan tâm đó thế nào? Ta đi chùa, đi nhà thờ, cầu nguyện trong đời cả trăm nghìn lần rồi, vậy đã có một lần nào ta dành ra một phút cầu nguyện cho Phi Châu, hay cho một quốc gia nào, hay cho một người nào, ở đó? Ta đã bỏ bao nhiêu thời gian để tìm hiểu về hoàn cảnh kinh tế xã hội của một quốc gia Phi Châu? Ngay cả chỉ 30 phút?

Đọc báo chí hàng ngày, bao nhiêu lần ta thấy có một thông tin gì về một quốc gia Phi Châu?

Nếu bàn chân của ta đang bị ung nhọt mà ta không bao giờ nghĩ đến nó, không bao giờ quan tâm đến nó, liệu rằng cơ thể ta khỏe mạnh được đến đâu?

Đó là vấn đề lớn của thế giới. Toàn thế giới chỉ chú trọng đến những anh nhà giàu. Một tài tử Mỹ hạng C cũng chiếm nhiều diện tích báo ở các nước, như Việt Nam, hơn là mấy triệu dân một quốc gia Phi Châu nào đó đang bị nạn đói đe dọa.

Trong một thế giới bất quân bình và bất công như thế, nếu chúng ta không mở rộng đầu óc, để tối thiểu tạo sự quân bình trong tư tưởng của chính mình, thì bất quân bình và bất công của thế giới này còn sống thoải mái nhiều niên đại nữa.

Nhưng tại sao chúng ta lại phải nói đến các vấn đề xa thế, hầu như chẳng ăn nhập gì đến đời sống của chúng ta cả?

Thưa vì:

1. Mọi sự trên thế giới này đều liên hệ khắng khít với nhau; chẳng có gì đứng rời rạc một mình. Ví dụ: Các bất công và loạn lạc ở Phi Châu là ổ cho các lực lượng khủng bố thế giới phát triển, và không biết lúc nào khủng bố đụng đến một chiếc máy bay Việt Nam.

2. Dù không làm gì cụ thể, nhưng nếu chúng ta quan tâm đến vấn đề, tư tưởng quan tâm đó có ảnh hưởng đến vấn đề. Tư tưởng tích cực luôn luôn có cách mầu nhiệm của nó để ảnh hưởng đến thế giới. Vì vậy, các tôn giáo, với kinh nghiệm của tư duy sâu thẳm của con người nhiều nghìn năm, luôn luôn dùng cầu nguyện như là giải pháp chính để ảnh hưởng đến môi trường xã hội.

3. Nếu ta quan tâm đến Phi Châu xa lắc, đương nhiên là ta sẽ quan tâm 100 lần hơn thế với nghèo đói, bệnh hoạn, bất công và áp bức ngay trong đất nước ta, ngay trong thành phố ta, ngay trong làng xã ta. Tức là lo xa, nhưng ảnh hưởng gần.

Tư tưởng của ta ảnh hưởng mầu nhiệm lên trên tâm trí của chính ta và lên trên môi trường chúng ta sống. Cho nên ta phải giải phóng tư tưởng khỏi những tù ngục tư duy xưa nay. Cất cánh bay cao, nhìn xa, trông rộng, con tim rộng mở bao trùm thế giới. Tư tưởng hoàn toàn tự do. Tư tưởng bay bỗng tự do cũng chính là suối nguồn vô biên của năng lượng tích cực vô tận cho mỗi người chúng ta vậy.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

Bài liên hệ: “Thuộc về” nhóm nào?, Tư duy tích cực – “Thuộc về” cuộc đời

© copyright 2009
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Lời nguyện cuối ngày

Chúa ơi,

Con phó thác cho Chúa ngày hôm nay vừa hết.

Mong sao chỉ có tình yêu còn lại.

Hãy đem tất cả mọi thứ khác vào ngọn lửa của quyền năng thay đổi của Chúa.

Giải phóng con, giải phóng những người khác, khỏi bất kỳ hậu quả nào của trí óc sai lầm hay việc làm sai lầm của con.

Chúa ơi,

Trả con về với ánh sáng của Chúa.

Bây giờ con gửi cho Chúa chính con, những điều con làm, những người con đã yêu, những người con đã thất bại trong tình yêu,

hãy làm tất cả mọi thứ thành đúng.

Hãy nhận tất cả.

Mong con tiếp tục lớn lên trong ánh sáng và tình yêu của Chúa.

Ngày mai, mong sao con tốt hơn.

Amen.

~Marianne Williamson

Nguyễn Minh Hiển dịch

Dear God,

I surrender to You the day now over.

May only the love remain.

Take all else into the fire of Your transformative power.

Release me, release others, from any effects of my wrongmindedness or wrongdoing.

Dear God,

Return me to Your light.

As I now give to You who I am, what I do, who I loved, who I failed to love,

please make all things right.

Take all things.

May I continue to grow in Your light and love.

Tomorrow, may I be better

Amen.

Vâng lời

Các buổi thuyết giảng của thiền sư Bankei thu hút không chỉ thiền sinh mà đủ mọi hạng người của mọi giáo phái. Thiền sư chẳng bao giờ nhắc đến kinh kệ hay dùng các lý luận khoa bảng, mà chỉ nói trực tiếp từ quả tim đến thẳng quả tim của người nghe.

Một nhà sư của giáo phái Nichiren bực tức vì đám đông đến nghe thiền sư Bankei và vì một số tín đồ của nhà sư đã bỏ sư mà đi nghe Bankei giảng. Vị sư Nichiren tự ái, đi đến chùa, nhất định phải tranh luận với Bankei.

“Ê, thiền sư!” vị sư Nichiren gọi. “Đợi một tí. Ai kính trọng ông sẽ vâng theo lởi ông, nhưng người như tôi không kính trọng ông. Ông có thể làm tôi vâng lời ông không?”

“Đến bên cạnh tôi và tôi sẽ chỉ cho ông,” Bankei nói.

Nhà sư Nichiren hãnh diện bước qua đám đông đến cạnh thiền sư.

Bankei smiled. “Qua bên trái tôi.”

Vị sư làm theo.

“Không,” Bankei nói, “chúng ta nói chuyện dễ hơn nếu anh đứng bên phải. Bước qua đây.”

Nhà sư hãnh diện bước sang bên phải.

“Anh thấy không” Bankei nhận xét, “anh đang vâng lời tôi và tôi nghĩ rằng anh là một người rất hiền dịu. Bây giờ, anh ngồi xuống đây và nghe.”

Bình:

• Sân hận và kiêu căng làm vị sư Nichiren mù mắt, đầu óc hết nhậy bén và không thấy những gì đang xảy đến cho mình.

• Ở mức độ cao hơn: Khi tâm mình chấp vào một điều gì đó—như vị sư Nichiren quyết tâm chứng minh trước đám đông là thiền sư Bankei không điều khiển được ông– mình dễ bị mù mắt. Chấp trước làm ta thành si mê.

• Một tâm tĩnh và một tâm động. Tĩnh chỉ huy động, chứ động không chỉ huy tĩnh. Tướng ngồi trong trướng, quân chạy bên ngoài. Tướng chỉ huy quân, quân không chỉ huy tướng.

• Thời Đông Châu Liệt Quốc, Quỷ Cốc Tử, thầy binh pháp của Tôn Tẩn và Bàng Quyên, cũng bị Tôn Tẩn thắng bằng trí. Quỷ Cốc Tử ngồi trên ghế và hỏi hai đệ tử làm cách nào cho ông rời ghế mà không đụng vào người ông. Bàng Quyên nói sẽ đốt lửa dưới ghế. Thầy cho là kế được. Tôn Tẩn nói, “Con không làm cho thầy rời ghế được, nhưng nếu thầy đứng dậy con sẽ có cách làm thầy phải ngồi xuống ghế.” Quỷ Cốc Tử đứng dậy, và trúng kế học trò. (Hai học trò, mỗi người một tâm ý).

(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.

Obedience

The master Bankei’s talks were attended not only by Zen students but by persons of all ranks and sects. He never quoted sutras nor indulged in scholastic dissertations. Instead, his words were spoken directly from his heart to the hearts of his listeners.

His large audiences angered a priest of the Nichiren sect because the adherents had left to hear about Zen. The self-centered Nichiren priest came to the temple, determined to debate with Bankei.

“Hey, Zen teacher!” he called out. “Wait a minute. Whoever respects you will obey what you say, but a man like myself does not respect you. Can you make me obey you?”

“Come up beside me and I will show you,” said Bankei.

Proudly the priest pushed his way through the crowd to the teacher.

Bankei smiled. “Come over to my left side.”

The priest obeyed.

“No,” said Bankei, “we may talk better if you are on the right side. Step over here.”

The priest proudly stepped over to the right

“You see,” observed Bankei, “you are obeying me and I think you are a very gentle person. Now sit down and listen.”

#4

“Thuộc về” nhóm nào?

Chào các bạn,

Trước đây mình đã viết bài Tư duy tích cực – “Thuộc về” cuộc đời, tựu trung nói rằng nếu chúng ta muốn vui vẻ tích cực sống đời này thì ta phải cảm thấy “thuộc về” cuộc đời. Nếu ta luôn cảm thấy lạc lỏng, “sai chuồng” hay, nói như các triết gia, “vong thân” (alienation), ngay trong cuộc đời này, thì rất khó cho ta tích cực được với đời.

Hôm nay chúng ta đi sâu hơn một tí với khái niệm “thuộc về” (sense of belonging), đặt cá nhân vào cơ cấu xã hội cụ thể để khảo sát ý niệm “thuộc về” của mỗi cá nhân trong xã hội.

Mỗi chúng ta có thể “thuộc về” nhiều nhóm khác nhau—gia đình ta, công ty ta, nhà thờ ta, các hội đoàn ta gia nhập, các nhóm bạn ta hay bù khú với.

Mỗi “nhóm” người như vậy là một “môi trường”, cho phép ta ra khỏi cái vỏ nhỏ bé của mình, để dung hòa vào môi trường rộng hơn với mọi người chung quanh.

Nhưng như ta thường thấy, các “nhóm môi trường” này, trong khi cho chúng ta cơ hội để phát triển cá nhân rộng ra, cũng có thể là những hàng rào tù ngục kiên cố nhốt ta lại bên trong và ngăn cách ta với thế giới bên ngoài. Ví dụ: Vài người Hồi giáo có thể cho rằng Thiên chúa giáo là quỷ dữ và tội lỗi, người Hải Phòng thì cho là dân Hà Nội không thành thật, người Bắc thì cho rằng dân Nam thô lỗ, người Việt thì cho rằng người Trung quốc không tin được, người Kinh thì cho là người dân tộc thiểu số kém thông minh…

Đây là vấn nạn của thế giới. Những vườn chơi dấu ái của thế giới thật nhiều tình yêu cho các người trong vườn, cùng một lúc cũng là nhà tù ngăn cách mọi người với cả một vũ trụ rộng lớn bên ngoài.

Tại sao vậy?

Thưa, tại vì chúng ta quen thói quen suy tư phân cách hơn là suy tư hòa hợp. Không những “quen” thói quen, chúng ta còn “ép” nhau suy tư một kiểu.

Cho nên, nếu người Việt mà nói là Trung quốc đúng ta sai là phản quốc, công giáo mà nói Đức Giáo Hoàng sai và Tiên Tri Mohammed đúng là phản đạo, đảng viên mà nói Đảng sai là phản quốc (oops, phản đảng hay phản quốc? :-))

Chúng ta đã thấy được các phi lý và u mê của suy tư thường tình của con người chưa?

Nếu tôi học lớp 10B thì chẳng lý do gì tôi không yêu các lớp khác trong trường, dù rằng nếu lớp tôi đá bóng với các lớp khác tôi sẽ hò reo ủng hộ lớp tôi. Nếu tôi yêu gia đình tôi thì chẳng lý do gì tôi không thể yêu các gia đình khác. Nếu tôi yêu nước tôi thì chẳng lý do gì tôi chẳng yêu các nước khác. Nếu tôi yêu dân tôi thì chẳng lý do gì tôi không thể yêu các dân tộc khác.

Trong dòng tiến hòa của con người, những đầu óc si mê đã và đang tiếp tục dùng những nhóm “tương trợ của các cá nhân” (supporting groups) như những nhà tù giam cầm chính những cá nhân đó. Nhiều bộ lạc man dã khi xưa cũng sống theo cách đó—thấy người khác bộ lạc là tấn công và bắt về, quay làm bữa ăn tối. 🙂 Ngày nay ta không còn ăn tối bằng “chiến binh rô ti” nữa, nhưng tư tưởng phân cách và kỳ thị thì chắc cũng chỉ cải tiến hơn các bộ tộc man dã thời cổ đại khoảng 1cm.

Vì vậy chúng ta cần tự hỏi lòng mình và thay đổi cái nhìn mới mẻ hơn, mới cở 3500 năm trước. Sách Cựu Ước nói rằng tất cả loài người là anh em do Thượng đế tạo ra, với bố mẹ là Adam và Eva. Một ngàn năm sau đó, Phật Thích Ca dạy, tất cả chúng ta là Một, là những làn sóng phù du của đại dương Sự Thật gọi là “Không”. Và vài ngàn năm trước đây, tổ tiên chúng ta cũng đã dạy tất cả người Việt đều là anh em từ một mẹ trăm con.

Thánh nhân đã luôn luôn muốn mở rộng đầu óc chúng ta, muốn đưa ta ra khỏi tù ngục của chính chúng ta xây dựng, cho ta chấp cánh bay cao, như những quả tim tự do trong bầu trời Sự Thật. Nhưng vài ngàn năm sau, chúng ta đã theo tiền nhân được đến đâu? Con hơn cha là nhà có phước, con vẫn thua cha sau vài ngàn năm là…?

Cho nên, nếu yêu mình và yêu gia đình, thì vẫn yêu được các gia đình khác, yêu được làng xóm, yêu được các làng xóm khác, yêu được thành phố, yêu được các thành phố khác, yêu được đất nước, yêu được các đất nước khác, yêu được dân tộc, yêu được các dân tộc khác, yêu được loài người, yêu được các chủng loại khác, yêu được thú vật, yêu được cây cỏ núi rừng, yêu được các thiên hà xa thẳm…

Tâm ta rộng mở được đến đâu?

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

Bài liên hệ: “Thuộc về” thế giới, Tư duy tích cực – “Thuộc về” cuộc đời.

© copyright 2009
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Hoạt động của các NPOs ở Mỹ

Ở Mỹ, các tổ chức phi lợi nhuận (Non-Profit Organizations, gọi tắt là NPOs) phát triển rất mạnh như là một phần không thể thiếu trong quá trình xây dựng một xã hội dân sự tiên tiến và phát triển cộng đồng bền vững.

Theo thống kê của National Center for Charitable Statistics (NCCS), từ năm 1998 đến năm 2008, tổng số NPOs ở Mỹ đã tăng từ 1.1 triệu lên 1.5 triệu tức là tính trung bình cứ 220 người Mỹ thì có một tổ chức phi lợi nhuận. Năm 2007, các tổ chức từ thiện đã báo cáo 1.4 tỉ USD tổng doanh thu và 1.3 tỉ USD tổng chi phí. Trong số 1.4 tỉ USD doanh thu, 22% là từ các đóng góp, quà, và tiền tài trợ (grant), 67% là từ doanh thu dịch vụ, bao gồm thu từ phí và hợp đồng. Trong năm 2008, các tổ chức tôn giáo nhận số tiền đóng góp nhiều nhất, chiếm tới 34.7%, các cơ quan giáo dục đứng thứ 2 với 13.3% tổng doanh thu của các NPOs (con số này không bao gồm các khoản endowment – tiền hiến tặng).

Nhiều trường đại học tư ở Mỹ hoạt động dựa chủ yếu vào số tiền hiến tặng này. Ví dụ, đại học Harvard có tổng số endowment năm 2008 lên tới 36.5 tỉ USD.

Theo luật, các NPOs được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp, nếu tổng số tiền nhận lớn hơn 25,000$ thì phải đăng kí với cơ quan thuế, nếu tổ chức nhỏ với tổng số tiền nhận dưới 5,000$ thì không phải đăng kí. Hai tổ chức phi lợi nhuận lớn nhất ở Mỹ hiện nay là Bill và Melinda Gates Foundation, với tổng số tiền tài trợ là 38 tỉ $, và Viện Y tế Howard Hughes với số tiền tài trợ khoảng 14.8 tỉ $.

Các NPOs được chia làm một số dạng chính:

Các tổ chức từ thiện (public charitities): bao gồm bệnh viện, bảo tàng, dàn nhạc, các trường tư, các tổ chức tôn giáo, trạm phát thanh và truyền hình, bếp ăn công cộng, các tổ chức cung cấp dịch vụ và giúp đỡ người dân.

Các quỹ (foundations): nhiều cá nhân, gia đình, doanh nghiệp và cộng đồng thiết lập các quỹ như là một cách để xúc tiến các chương trình có ích cho xã hội.

Phúc lợi xã hội (social welfare): tham gia chủ yếu vào các hoạt động thúc đấy ban hành luật, lobbying, và các hoạt động cổ động chính trị

Các tổ chức chuyên ngành và thương mại: bao gồm phòng thương mại, các hiệp hội thương mại, và các tổ chức khác xúc tiến thương mại hoặc các lợi ích ngành nghề của một cộng đồng, ngành hoặc nghề nào đó.

Hầu như bất cứ một ngành nghề, lĩnh vực nào ở Mỹ cũng có một vài tổ chức NPOs hoạt động, ví dụ như:

National Association of Consumer Advocates: Hiệp hội bảo vệ người tiêu dùng. Hiệp hội này là một tổ chức bao gồm hơn 1,000 luật sư trên khắp nước Mỹ, đại diện cho hàng trăm nghìn người tiêu dùng ở Mỹ là nạn nhân của các hoạt động kinh doanh lừa đảo hay độc quyền. Việc tham gia các tổ chức này cũng giúp cho các thành viên (là luật sư) tăng thêm hiểu biết về lĩnh vực hoạt động của mình, chia sẻ thông tin, tạo network vv…

America’s Soup Kitchen: tổ chức phi lợi nhuận cung cấp các bữa ăn miễn phí cho người vô gia cư.

Higher Education Associations, Các hiệp hội trong giáo dục đại học và sau đại học: có khoảng hơn 30 hiệp hội, ví dụ như Hiệp hội các trường Y tá, Hiệp hội các Giáo sư, Hiệp hội các trường Luật vv…

US Chamber of Commerce, Phòng Thương Mại Mỹ: là hiệp hội thương mại lớn nhất thế giới đại diện cho 3 triệu doanh nghiệp Mỹ, trong đó 96% là các doanh nghiệp nhỏ dưới 100 nhân viên với các hoạt động chính như phát triển thị trường vốn, luật, giáo dục, năng lượng, cơ sở hạ tầng, thương mại, công đoàn, sở hữu trí tuệ vv…Khi là thành viên của hiệp hội, ngoài đóng phí hàng năm, các doanh nghiệp sẽ có thêm nhiều lợi ích như: tham gia các cuộc hội thảo hàng kì, tiếp cận các nguồn thông tin về lĩnh vực hoạt động của mình, các khóa đào tạo, mở rộng quan hệ với các doanh nghiệp khác, hưởng chiết khấu từ một số dịch vụ do các công ty thành viên khác cung cấp vv…

Các tổ chức phi lợi nhuận không có nghĩa là không được phép hoạt động vì lợi nhuận.

Theo quy định, họ hoạt động như một tổ chức lợi nhuận khác, có thu chi và một tổ chức hoạt động hiệu quả sẽ có “lãi” (doanh thu lớn hơn chi phí) cuối năm hoạt động. Điểm khác với các tổ chức lợi nhuận là cách thức mà số lãi này được phân chia. Đối với các tổ chức lợi nhuận, lãi sẽ được tính vào cổ phần và chia cho các cổ đông. Ngược lại, các NPOs không được phép chia lãi cho các cổ đông, thành viên sáng lập mặc dù được phép trả lương, thưởng cho ban điều hành, tùy mức độ hoạt động hiệu quả của mình.

Ban điều hành (Board of Director hoặc Board of Trustees), chịu trách nhiệm đảm bảo hoạt động của tổ chức tuân thủ luật pháp và sứ mệnh hoạt động của tổ chức, quản lý tài sản, gây quỹ. Ngoài ra còn có các nhóm kiểm soát tư nhân (watchdog, cũng là NPOs) kiểm soát hoạt động của các tổ chức NPOs khác. Báo chí và truyền thông cũng đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát hoạt động của các tổ chức này.

Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của một vài cá nhân, hay một cộng đồng, các hoạt động của NPOs góp phần vào đắp những “lỗ hổng” trong đời sống kinh tế- văn hóa- xã hội mà các cơ quan nhà nước không thể kiểm soát hết. Hoạt động của NPOs cũng góp phần vào việc bảo vệ lợi ích của các nhóm thiểu số trong xã hội, chống lại các hoạt động thương mại mà các doanh nghiệp lớn áp đảo và gây ảnh hưởng tới chính quyền.

Các NPOs đại diện cho tiếng nói của công dân góp phần vào quá trình xây dựng một xã hội dân chủ và đem lại bình đẳng cho mọi người.

Hoàng Khánh Hòa

Lời nguyện cho trái đất

Chúa ơi,

Hãy ban phước cho nhà của chúng con,

trái đất

nơi chúng con sống,

Có những người đau đớn ở đây,

và không biết làm gì.

Có những người lo sợ số mệnh của họ,

và không biết đi đâu.

Chữa lành cho tất cả họ,

thưa Chúa,

và mang họ ra khỏi bóng tối

vào ánh sáng.

Amen.

~Marianne Williamson

Nguyễn Minh Hiển dịch

Dear God,

Please bless our home,

the earth

wherein we dwell.

There are those who suffer here,

and know not what to do.

There are those who fear their lot,

and know not where to go.

Heal them all,

dear God,

and bring them out of darkness

into light.

AMEN.

Vậy à

Thiền sư Hakuin được láng giềng ca tụng là sống một cuộc đời tinh khiết.

Gần nơi thiền sư ở có một cô gái đẹp con của ông bà chủ tiệm thực phẩm. Đột nhiên bố mẹ cô gái khám phá là cô đang có thai.

Bố mẹ cô rất giận. Cô chẳng thú nhận ai là bố đứa bé, nhưng sau nhiều áp lực, cuối cùng cô khai tên thiền sư Hakuin.

Cực kỳ giận dữ, bố mẹ cô đến gặp thiền sư. “Vậy à.” thiền sư chỉ nói vậy.

Sau khi đứa bé chào đời, nó được mang đến cho Hakuin. Đến giờ này thiền sư đã hoàn toàn mất hết tăm tiếng, nhưng ngài chẳng thấy phiền toái gì, và ngài lo cho đứa bé rất tốt. Thiền sư xin hàng xóm sữa và các thứ mà đứa bé cần.

Một năm sau cô gái mẹ đứa bé chịu hết nổi. Cô thú thật với bố mẹ rằng bố thật của đứa bé là một cậu làm việc trong chợ cá.

Bố mẹ cô gái đi gặp Hakuin ngay và xin lỗi, năn nỉ kể lể dài dòng, và xin đứa bé lại.

Hakuin bằng lòng. Và khi giao đứa bé lại, thiền sư chỉ nói “Vậy à.”

Bình:

Tâm tĩnh lặng. Có tăm tiếng, không vui. Mất tăm tiếng, không buồn . Gặp bất công, không sân hận. Hết bất công, không mừng rỡ.

Sống tùy duyên. Duyên mang bé đến thì nuôi. Duyên đưa bé đi thì thôi. Chẳng có gì phải thắc mắc.

“Tâm không” như bầu trời trong xanh. Mây đến tự nhiên và mây đi tự nhiên.

• Nhưng tại sao thiền sư không giải thích tối thiểu là một câu “tôi không phải là cha đứa bé?”

Có thể vì đính chính cũng vô ích–chẳng qua cũng chỉ là lời người này chọi lời người kia. Bé đã có duyên đến với ta thì ta nuôi nấng và vui chơi với bé.

• Một năm sau mẹ em bé tự nhiên đổi ý, khai sự thật, hay cô ta đã được sự tĩnh lặng của Hakuin chuyển hóa?

Tĩnh lặng có sức mạnh hay không?

Tĩnh lặng có lời nói hay không?

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

.

Is That So?

The Zen master Hakuin was praised by his neighbors as one living a pure life.

Cối Xay và Kiến - tranh của thiền sư Hakuin

A beautiful Japanese girl whose parents owned a food store lived near him. Suddenly, without any warning, her parents discovered she was with child.

This made her parents very angry. She would not confess who the man was, but after much harassment at last named Hakuin.

In great anger the parents went to the master. “Is that so?” was all he would say.

After the child was born it was brought to Hakuin. By this time he had lost his reputation, which did not trouble him, but he took very good care of the child. He obtained milk from his neighbors and everything else the little one needed.

A year later the girl-mother could stand it no longer. She told her parents the truth – that the real father of the child was a young man who worked in the fishmarket.

The mother and father of the girl at once went to Hakuin to ask his forgiveness, to apologize at length, and to get the child back again.

Hakuin was willing. In yielding the child, all he said was: “Is that so?”

#3

Phút tĩnh lặng mỗi ngày

Chào các bạn,

Chúng ta đang sống trong một thế giới bận rộn—ta đi làm, về nhà ăn uống với gia đình, dạy con cái một ti, xem TV, đi ngủ, sáng dậy lại mở TV nghe tin tức trong khi uống cà phê xem báo, chạy đi làm… Chu kỳ bận rôn tiếp diễn. Và ta không bao giờ có những phút giây tĩnh lặng cho riêng ta.

Nếu chiếc xe chạy hoài không bao giờ tắt máy, nó sẽ sống được bao lâu?

Chúng ta đã quá quen với bận rộn ồn ào tấp nập, đến nỗi chúng ta nghiện ồn ào: “Hầu hết mọi người bị nghiện với những kích thích gây stress… Chúng ta cực kỳ ngại ngùng về sự tĩnh lặng, về khoảng không, về sự trống rỗng. Đó là vì một định kiến vật chất nghĩ rằng cái gì không sờ mó được thì không hiện hữu.” Lời nguyện cho những khoảng trống, Marianne Williamson. Hệ quả tất yếu là chúng ta nhiều stress, ta dễ nổi nóng, dễ sân hận, dễ gây lộn, dễ có chiến tranh, và dễ bị chết vì đứng tim hay đột quỵ.

Tĩnh lặng để nghỉ ngơi, để nạp năng lượng trở lại, để làm mới. là một bí quyết sống con người đã biết từ hàng nghìn năm về trước. Vì thế ở Đông Phương ta có thiền và khí công, ở Tây phương ta có cầu nguyện hàng ngày, và có Ngày Chúa Nhật, không được làm gì cả và chỉ dành riêng cho Chúa. Tuy vậy, ngày nay các truyền thống nghỉ ngơi tĩnh lặng đó chỉ còn tồn tại với một số rất ít người; đại đa số người trên thế giới chẳng biết hoặc chẳng quan tâm gì về chúng.

Tại sao thế giới càng văn minh, chúng ta càng bận rộn, càng ly dị nhiều, càng nhiều bạo hành trong học đường, càng nhiều trộm cướp trên đường phố, càng nhiều chiến tranh trong quốc gia và xuyên quốc gia? Phải chăng đó là vì mỗi chúng ta đã bị “chồng chất với những ô nhiễm tinh thần dữ dằn và không tự nhiên”? (M. Williamson, bên trên).

Chúng ta nghiện tiếng động đến nỗi chúng ta sợ yên lặng. Nằm một mình cũng phải suy tính công việc ngày mai, phải nghiên cứu việc trả đũa, phải mở nhạc hay mở TV. Hai người bạn ngồi với nhau thì phải nói chuyện huyên thuyên, nếu có một tí thinh lặng thì cả hai đều áy náy và lại phải nói cái gì đó để lấp khoảng trống. Ngay cả khi đi ngủ, rất thường khi chúng ta nẳm mơ về công việc, và suy nghĩ về công việc ngay trong khi ngủ.

Và khi thức, làm việc hấp tấp chưa đủ, chúng ta còn sáng tạo ra mốt làm nhiều việc cùng lúc (multitasking)—vừa nói điện thoại, vừa chát trên computer, vừa viết một report cùng lúc, hay vừa lái xe vừa text trên điện thoại.

Và càng làm nhanh, càng hấp tấp, chúng ta càng bị nghiện các hóa chất của stress, và không thể chậm lại hay nghỉ ngơi được. Hậu quả là việc làm thì hư trước hư sau, liên hệ với mọi người thì vỡ lên vỡ xuống, các vấn đề sức khỏe cá nhân và gia đình hiện đến, cũng như những vấn đề của quốc gia và những xung đột giữa các quốc gia.

Vì vậy. chúng ta cần những phút giây tĩnh lặng mỗi ngày, để nạp lại năng lượng thể chất cũng như tinh thần—yêu ái, bình tĩnh, can đảm, và sáng tạo.

• Theo truyền thống Đông phương, thiền định là cách tĩnh lặng hay nhất. Ngồi thiền, theo dõi hơi thở để tâm trí không chạy lan man. Hoặc thiền hành, tức là đí bộ với chánh niệm—tập trung tư tưởng vào việc quan sát bước đi, chẳng hạn. Hoặc làm việc theo cách thiền–ủi đồ hay rửa bát, và tập trung tư tưởng vào việc quan sát từng cử động nhỏ.

Ngay cả việc tụng kinh, như “Nam mô A-di-đà Phật”, mà tập trung tư tưởng vào mỗi câu kinh, như hình ảnh Phật A-di-đà trong mỗi câu tụng, cũng là một cách tĩnh lặng rất tốt.

• Ở Tây Phương, chúng ta có truyền thống cầu nguyện. Tuy nhiên nếu ta cầu nguyện theo lối xin xỏ–cầu cho hết nợ, cho làm ăn buôn bán tốt, cho hết bệnh… thì cầu nguyện đó là một loại làm việc với đủ mọi loại tiếng ồn xin xỏ chứ chẳng tĩnh lặng tí nào.

Câu nguyện tĩnh lặng là nói chuyện với Thượng đế như hai kẻ yêu nhau—không còn tự ái, không còn vỏ bọc, không còn giả tạo… Một quả tim khiêm cung trần truồng ttước mặt Thượng đế. Tìm lại cái siết tay, cái ôm, với Thượng đế, kết hợp làm một với Thượng đế, mà chúng ta đã đánh mất trong những phút ồn ào trong ngày.

• Nếu ta không theo được hai truyền thống này, thì nghe nhạc rất nhẹ và tập trung vào nghe nhạc, đừng để đầu óc chạy lan man, là cách gần nhất với tĩnh lặng.

Và từ trong tĩnh lặng, chúng ta sẽ nghe được tiếng nói sáng tạo của nguồn năng lượng hồi sinh, như thiền sư Kiều Trí Huyền nói “Tiếng thầm trong ngọc nói lời hay”, hoặc lời Thánh Kinh, “Rồi một luồng gió lớn và mạnh xé rách núi và làm đá vỡ vụn trước mặt Chúa, nhưng Chúa không có trong luồng gió. Sau luồng gió là một trận động đất, nhưng Chúa không có trong động đất. Sau động đất là một trận cháy, nhưng Chúa trong có trong lửa. Và sau trận cháy, một lời thì thầm dịu dàng đến.” 1 Kings 19:11-13.

Chúng ta cần tĩnh lặng để có thể nghe được tiếng thì thầm.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

© copyright 2009
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Lời nguyện cho những khoảng trống

“Tôi ghét những ngày Chủ nhật khi tôi không yêu”, một người bạn đã với tôi như thế. “Những ngày đó có vẻ như thật trống rỗng, làm tôi trầm cảm”.

Hầu hết mọi người mong cuối tuần, nhưng một số người muốn cuối tuần qua mau. Những người nghiện làm việc và những người nghiện sức đẩy của kích thích tố adrenaline của một thế giới lính quy’nh không thể mang được gánh nặng của sự trống không của ngày Chủ nhật. Những khoảng trống có thể nặng không chịu đựng được, cho đến khi ta khám phá ra quyền năng của tĩnh lặng.

Thế giới này cần sự tĩnh lặng khủng khiếp. Hầu hết mọi người bị nghiện với những kích thích gây stress. Về mặt tinh thần và cảm xúc, chúng ta cần kiêng cữ, để làm sạch hệ thống, để đừng chồng chất nó với những ô nhiễm tinh thần dữ dằn và không tự nhiên. Chúng ta cực kỳ ngại ngùng về sự tĩnh lặng, về khoảng không, về sự trống rỗng. Đó là vì một định kiến vật chất nghĩ rằng cái gì không sờ mó được thì không hiện hữu. Khoảng không không phải là vật chất; nó là lực.

Khoảng không là nơi Thượng Đế ở. Những nơi trống, những khoảnh khắc trống chẳng thực sự là trống, chúng đang thai nghén. Thượng Đế là sự đầy tràn tiềm tàng tràn ra từ mọi khoảng trống, sự có thể thường trực của một giây phút huyền diệu hay một ý nghĩ lạ lùng. Từ một tờ giấy trắng nhảy ra một lời gọi của vũ trụ để viết tên của chính bạn. Từ sự tĩnh lặng đó đi đến hợp âm mở đầu của bản giao hưởng số 5 của Beethoven.

Một con người như là một vòng tròn bao bọc bởi toàn bộ thế giới. Đó là điều chúng ta thường cảm thấy – như là những không gian giới hạn bao bọc bởi vô hạn. Chúng ta cố gắng tiêu thụ cái ở bên ngoài, để cho chúng ta một cảm giác thỏa mãn ở bên trong. Nhưng chúng ta không thể thỏa mãn sự thèm khát đó, bởi chẳng có gì bên ngoài chúng ta là cái chúng ta đói khát. Chúng ta càng chụp bắt nhiều hơn, chúng ta càng xa trung tâm. Và do đó chúng ta phân hủy, chúng ta không lớn được. Chúng ta mang những đặc điểm của người đói khát, thần kinh, bởi vì đó là những người chúng ta quyết định trở thành khi chúng ta tìm kiếm ở thế giới những cái mà thế giới không thể cho chúng ta.

Thật cần thiết, do đó, chúng ta dành thời gian mỗi ngày, mỗi tuần, cho sự tĩnh lặng, cho sự tìm kiếm nội tâm, để vinh danh Thượng Đế trước thế giới.

Chúng ta phải ôm lấy sự tĩnh lặng thay vì chống lại nó. Đó là cách của sự huyền bí. Đó là cách duy nhất chúng ta có thể chữa lành.

Chúa ơi,
Con chống lại tĩnh tâm, con chống lại cầu nguyện, con chống lại
thực hành tâm linh đôi khi, bởi con không thoải mái với những khoảng trống.
Con biết, thưa Chúa, rằng con mất cân bằng
với bản chất tâm linh của con.
Con cần được chữa lành.
Hãy chữa lành cho con.
Mang con tới sự tĩnh lặng trong chính con, và
cho con sự yên ổn ở đó.
Chỉ cho con trung tâm mạnh mẽ và yên lặng của
tình yêu của Chúa, ở trong con.
Cảm ơn Chúa rất nhiều.
Amen.

~ Marianne Williamson

Nguyễn Minh Hiển dịch

“I hate Sundays when I’m not in love,” a friend once told me. “They seem so empty. I get depressed.”
Most people want the weekend to get here, but some people want the weekend to be over. The workaholic and others addicted to the adrenaline rush of a frantic world cannot bear the burden of Sunday’s emptiness. Empty spaces can be unbearable before we discover the power of silence.

This world desperately needs silence. Most people are addicted to stress-producing stimuli. Mentally and emotionally, we need to fast, to clean out the system, to stop overloading it with mean and unnatural mental pollution. We are deeply afraid of the silence, the void, the emptiness. That is because a materialistic prejudice thinks that what cannot be touched does not exist. The void is not material; it is force.
The void is where God is. Empty places, empty moments are not really empty; they’re pregnant. God is the potential fullness gushing out from every empty space, the ever-present possibility of a magic moment or miraculous thought. Off the blank page jumps a cosmic summons to write your own name. Out of that silence came the opening chord of Beethoven’s Fifth.

A person is like a circle surrounded by the entire world. That’s often how we feel–like limited spaces surrounded by infinity. We try to consume the external, to give us a feeling of internal satisfaction. And yet we cannot satisfy that yearning, because nothing outside of us is the stuff for which we hunger. The more we grab, the less centered we are. And so we disintegrate; we do not grow. We take on the characteristics of neurotic, needy people, for that is who we decide to be when we look to the world for what the world cannot give us.

It is imperative, therefore, that we give time each day, each week, to silence, to the internal search, to honoring God before the world.

Dear God,

I resist meditation, I resist prayer, I resist my
spiritual practice at times, for I am not com-
fortable with the empty spaces.
I know, dear God, that I am out of balance with
my spiritual nature.
I need to be healed.
Please heal me.
Bring me to the silence within myself, and give
me comfort there.
Show me the fierce and quiet center of Your
love, which is within me.
Thank You very much.
Amen.

Nhặt được kim cương giữa lối bùn

Thiền sư Gudo là thầy của Thiên hoàng. Dù vậy, ngài thường đi xa một mình như là một hành khất lang thang. Ngày nọ trên đường đến Edo, trung tâm văn hóa chính trị của Nhật thời đó, Gudo đến gần một làng nhỏ tên Takenada. Trời đã tối và mưa rất lớn. Gudo ướt sũng cả người. Đôi dép rơm của ngài đã rã nát. Đến một căn nhà gần làng ngài thấy có bốn năm đôi dép trên cửa sổ và quyết định mua vài đôi khô.

Một người đàn bà mang dép ra cho ngài và, thấy ngài ướt sũng, bèn mời ngài về nhà chị trú qua đêm. Gudo nhận lời, cám ơn chị. Ngài vào nhà, tụng một bài kinh trước bàn thờ gia đình. Sau đó ngài được giới thiệu đến mẹ và các con của chị. Thấy cả nhà có vẻ trầm uất, Gudo hỏi có chuyện gì không ổn.

“Chồng con là người mê cờ bạc and say sưa,” chị nói. “Khi anh ấy thắng, anh uống say và trở nên dữ dằn. Khi thua, anh vay tiền của người khác. Đôi khi say quá mức, anh không về nhà luôn. Con làm gì được bây giờ?”

“Tôi sẽ giúp anh ấy,” Gudo nói. “Tôi có tiền đây. Chị mua dùm tôi môt bình rượu lớn và ít đồ ăn. Xong rồi chị có thể đi nghỉ. Tôi sẽ thiền định trước bàn thờ.”

Khi anh chồng về nhà lúc nửa đêm, say mèm, anh rống: ‘Ê, vợ, tôi đây. Có gì cho tôi ăn không?”

“Tôi có chút ít cho anh,” Gudo nói. “Tôi bị kẹt mưa và vợ anh rất tử tế, hỏi tôi ở lại đây qua đêm. Để trả ơn tôi đã mua một ít rượu và cá, vậy anh ăn luôn một thể.”

Anh chồng vui vẻ. Uống một hơi hết hủ rượu và nằm lăn xuống sàn. Gudo ngồi thiền cạnh anh ta.

Đến sáng anh chồng thức dậy và quên mất mọi sự đêm hôm trước. “Ông là ai? Ông tới từ đâu?” anh ta hỏi Gudo, người vẫn đang ngồi thiền.

“Tôi là Gudo ở Kyoto và tôi đang trên đường đi Edo,” thiền sư trả lời.

Anh chồng thấy rất xấu hổ. Anh lính qu‎‎ýnh xin lỗi vị thầy của Thiên hoàng.

Gudo mỉm cười. “Mọi sự trên đời đều vô thường,” ngài giải thích. “Cuộc đời rất ngắn. Nếu anh cứ tiếp tục đánh bạc và say sưa, anh sẽ chẳng còn tí thời gian nào để làm được việcgì khác, và anh sẽ làm gia đình anh đau khổ nữa.”

Đầu óc của người chồng bỗng thức tỉnh như từ trong một giấc mơ. “Thầy nói rất phải,” anh nói. “Làm sao con có thể trả ơn thầy cho những lời dạy vi diệu này! Để con tiễn thầy đi một đoạn và mang đồ cho thầy.”

“Được, nếu anh muốn vậy,” Gudo đồng ý ‎.

Hai người ra đi. Được ba dặm, Gudo bảo anh chồng đi về. “Thêm năm dặm nữa thôi,” anh kèo nài. Họ đi tiếp.

“Anh về được rồi,” Gudo đề nghị.

“Mười dặm nữa,” anh chồng nói.

“Về đi,” Gudo nói khi đã xong mười dặm.

“Con sẽ theo thầy cả đời,” anh chồng tuyên bố.

Các thiền sư Nhật ngày nay đều phát sinh từ dòng của một thiền sư nổi tiếng kế vị Gudo. Đó là thiền sư Mu-nan, người đàn ông không bao giờ quay lại.

Bình:

* Đồ tể buông đao thành Phật. Mỗi người là Phật đang thành. Saul bách hại con Chúa, sau lại trở thành Thánh Paul, cột trụ chính của giáo hội Thiên chúa giáo.

Tôn kính mọi người, như Bồ tát Thường Bất Khinh đã làm. Đừng bao giờ có thành kiến, kỳ thị, và coi thường ai.

* Không có nơi nào là không thể có Phật. Đừng coi thường các vũng bùn thế gian.

* Gudo chỉ tính bảo anh say đừng say nữa, nhưng anh say tỉnh ngộ sâu thẳm đến mức theo tu vĩnh viễn và thành đại thiền sư. Có nghĩa là Gudo không khai sáng cho anh say, mà chính anh say khai sáng mình; Gudo chỉ tạo một tí cơ hội mà thôi.

Tâm của mỗi chúng ta đã sáng từ nguyên thủy, đang bị lu mờ, chỉ cần một tí cơ hội vào đúng lúc là tâm có thể tự tỏa sáng trở lại.

* Nếu các lời Gudo nói mà chỉ đọc trên Internet, hay do người khác nói, thì chưa chắc đã có ảnh hưởng sâu đậm trên anh say đến thế. Sự hiện diện của Gudo, cái từ tốn tĩnh lặng an lạc và nguồn năng lượng toát ra từ người Gudo nhất định là có ảnh hưởng rất lớn trên anh say. Mỗi người chúng ta có một “dáng vẻ”, một bóng dáng nội tâm toát ra bên ngoài như thế.

* Việc anh say Mu-nan gặp đại thiền sư Gudo có phải là duyên kỳ ngộ không? Ta có nên suy gẫm một tí về hai chữ “nhân duyên” không?

* Bạn đã có bao giờ nghe “tiếng gọi” nào mãnh liệt trong lòng bạn như tiếng gọi anh say đi theo Gudo không? Bạn trả lời tiếng gọi đó thế nào?

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

.

Finding a Diamond on a Muddy Road

Gudo was the emperor’s teacher of his time. Nevertheless, he used to travel alone as a wandering mendicant. Once when he was on his was to Edo, the cultural and political center of the shogunate, he approached a little village named Takenaka. It was evening and a heavy rain was falling. Gudo was thoroughly wet. His straw sandals were in pieces. At a farmhouse near the village he noticed four or five pairs of sandals in the window and decided to buy some dry ones.

The woman who offered him the sandals, seeing how wet he was, invited him in to remain for the night at her home. Gudo accepted, thanking her. He entered and recited a sutra before the family shrine. He then was introduced to the woman’s mother, and to her children. Observing that the entire family was depressed, Gudo asked what was wrong.

“My husband is a gambler and a drunkard,” the housewife told him. “When he happens to win he drinks and becomes abusive. When he loses he borrows money from others. Sometimes when he becomes thoroughly drunk he does not come home at all. What can I do?”

“I will help him,” said Gudo. “Here is some money. Get me a gallon of fine wine and something good to eat. Then you may retire. I will meditate before the shrine.”

When the man of the house returned about midnight, quite drunk, he bellowed: “Hey, wife, I am home. Have you something for me to eat?”

“I have something for you,” said Gudo. “I happened to get caught in the rain and your wife kindly asked me to remain here for the night. In return I have bought some wine and fish, so you might as well have them.”

The man was delighted. He drank the wine at once and laid himself down on the floor. Gudo sat in meditation beside him.

In the morning when the husband awoke he had forgotten about the previous night. “Who are you? Where do you come from?” he asked Gudo, who still was meditating.

“I am Gudo of Kyoto and I am going on to Edo,” replied the Zen master.

The man was utterly ashamed. He apologized profusely to the teacher of his emperor.

Gudo smiled. “Everything in this life is impermanent,” he explained. “Life is very brief. If you keep on gambling and drinking, you will have no time left to accomplish anything else, and you will cause your family to suffer too.”

The perception of the husband awoke as if from a dream. “You are right,” he declared. “How can I ever repay you for this wonderful teaching! Let me see you off and carry your things a little way.”

“If you wish,” assented Gudo.

The two started out. After they had gone three miles Gudo told him to return. “Just another five miles,” he begged Gudo. They continued on.

“You may return now,” suggested Gudo.

“After another ten miles,” the man replied.

“Return now,” said Gudo, when the ten miles had been passed.

“I am going to follow you all the rest of my life,” declared the man.

Modern Zen teachers in Japan spring from the lineage of a famous master who was the successor of Gudo. His name was Mu-nan, the man who never turned back.

#2

Phê phán xây dựng hay lải nhải tiêu cực?

Chào các bạn,

Chúng ta ai cũng muốn đóng góp vào việc giúp người khác tốt hơn, làm cho thế giới ta sống đẹp hơn, với những phê phán xây dựng. Tuy nhiên, rất thông thường ta có thể thấy được, nhiều người lải nhải tiêu cực hơn là phê phán xây dựng. Phê phán xây dựng, luôn luôn có tư duy tích cực tiềm ẩn trong đó, làm môi trường ta sống tích cực hơn. Lải nhải tiêu cực mang gió tiêu cực đi khắp nơi, chỉ làm cho không khí thêm tối tăm u ám bứt rứt khó thở mà chẳng đem lại lợi ích nào hết. Một đằng là ánh sáng, một đằng là bóng tối. Vậy thì làm thế nào phân biệt sáng tối, biết đâu là phê phán xây dựng và đâu là lải nhải tiêu cực, để hành động cho đúng?

Đôi khi phân biệt phê phán tích cực và lải nhải tiêu cực cũng hơi khó. Tuy nhiên trong đa số các trường hơp, các tiêu chuẩn phân biệt sau đây sẽ giúp chúng ta nhận diện sáng tối:

1. Phàn nàn chung chung mà không có việc gì cụ thể, không liên hệ đến người nào cụ thể, là lải nhải tiêu cực. Ví dụ: Chính quyền toàn là một lũ tham ô; doanh nhân toàn là một lũ xảo trá; thời thế loạn lạc sâu bộ cai trị người; công giáo toàn là một lũ bán nước; Phật giáo toàn là một lũ dốt; Trung quốc là lưu manh không tin được; Hồi giáo là cực đoan khủng bố; Mỹ là lũng đoạn chính trị các nước khác …

2. Khi nói đến người hay việc cụ thể, cũng chỉ phê phán chung chung mà chẳng đưa ra được điều gì cụ thể, đó là lải phải tiêu cực. Ví dụ: Ôi anh chàng dốt đó mà giám đôc giám điếc gì; xây cái cầu chỗ này là ngu; lại một dự án dốt nữa của nhà nước…

Nếu đã đưa ra các kết luận chung thế, thì phải đưa ra các sự kiện cụ thể chứng minh được kết luận của mình. Không có sự kiện cụ thể mà kết luận phê phán, là lải nhải tiêu cực.

3. Khi đưa ra các l‎ý lẽ để phê phán, thì các l‎ý lẽ phải liên hệ đến sự việc; nói lăng nhăng các sự việc không liên hệ là lải nhải tiêu cực. Ví dụ: Năm năm trước cũng UBND của thành phố này quyết định xây cầu Bến Thủy, 2 năm sau cầu sập một góc. Năm ngoái UBND lại cho xây công viên Xuân Hồng, xây xong lụt nước cây chết hết. Bây giờ dự án xây trường học này cũng sụp thôi.

4. Không nói đến các vấn đề liên hệ mà “tấn công cá nhân” là lải nhải tiêu cực. Ví dụ: Ôi, thằng đó tiếng tăm bồ bịch lung tung mà cho làm kiến trúc sư trưởng dự án này là xập cầu. Ôi, mấy thằng từ Nam Định vào đây mà cho lãnh thầu dự án này là tiêu tán.

Nói chung, khi phê phán một vấn đề gì, chủ đề phê phán phải cụ thể, và các lý lẽ phê phán phải cụ thể và liên hệ trực tiếp đến chủ đề.

Nhưng như vậy cũng chỉ mới là phê phán nửa chuyên nghiệp, chưa có phần “xây dựng” nào trong đó. Muốn được gọi là phê phán xây dựng, thì người phê phán cần đề nghị một biện pháp mới, khác với biện pháp mình đang phê phán. Hay ít ra thì cũng đề nghị một vài sửa đổi trong biện pháp có sẵn. Chỉ phê phán mà không đề nghi giải pháp thì đa phần là lải nhải tiêu cực–có lẽ giải pháp đang có là giải pháp tối ưu rồi, cho nên người phê phán cũng chẳng nghĩ ra được thay đổi nào mới.

Ngoài ra, người có tư duy tích cực thì khi phê phán vấn đề gì đó thì cũng cần lên tiếng khen các điều hay trong đó. Không nên chỉ phê phán cái dở trong khi có cả trăm điều hay mà lại không nói đến. Ít ra cũng là một câu “Các điểm khác trong dự án này tôi chẳng thấy có vấn đề gì cả, duy chỉ có điều này là tôi thấy cần phải xét lại…”

Chúng ta cần phân biệt rất rõ thế nào là phê phán tích cực và thế nào là lải nhải tiêu cực, để tự mình tránh lải nhải, đồng thời giúp chặn đứng rác rến trong dòng thông tin của chúng ta. Các bạn có để ý đến từ “DÒNG thông tin” không? “Dòng” là một dòng sông. Nếu chúng ta cứ đổ rác vào nhiều quá, dòng sông đương nhiên sẽ đen kịt và hôi thối, không những không còn giúp ích gì cho ai được mà lại trở thành một hiểm nguy đe dọa sức khỏe mọi người.

Dòng thông tin trên Internet hiện nay có quá nhiều rác rến. Mọi người nhận rác, không thèm biết đó là rác hay không, tự động ấn nút chuyển tiếp đống rác đến 20 người khác, 20 người này lại tự động chuyển tiếp, mỗi người đến 20 người khác. Đầu ngày là một đống rác, đến cuối ngày ta đã có hơn 2000 đống rác nhập vào dòng sông! Thế thì dòng sông nào mà chịu nổi.

Trong kỷ nguyên thông tin, thông tin có tính cách quyết định thắng bại. Cho nên chúng ta hãy cùng tâm niệm bảo vệ dòng thông tin của chúng ta càng trong xanh càng tốt. Đừng làm ô uế môi trường.

Hãy giúp cho môi trường chúng ta sống trong sạch và hữu ích. Mỗi người hãy làm công việc vệ sinh của mình—nói năng tử tế chính xác, và không chuyển rác và tăng rác.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

Bài liên hệ: Làm thế nào để phê phán tích cực

© copyright 2009
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com