Category Archives: trà đàm

Chào mừng Ngày Quốc Tế Lao Động 1.5

1.5.1913 (Nguồn: Thư Viện Quốc Hội Mỹ)
1.5.1913 (Nguồn: Thư Viện Quốc Hội Mỹ)

Chào các bạn,

Ngày 1/5 là Ngày Quốc tế Lao Động, còn gọi là “Ngày Tháng Năm” (May Day). Đây là ngày lễ tại nhiều quốc gia trên thế giới, dành để tôn vinh lao động và gây dựng đoàn kết lao động trên thế giới.

Tại Mỹ và Canada, Ngày Lao Động là ngày Thứ hai đầu tiên của tháng 9. Cho năm nay (2009), Ngày Lao Động ở Mỹ và Canada là ngày 7 tháng 9. Ngày Lao Động tháng 9 này có nguồn gốc từ Canada. Ngày 3 tháng 9 năm 1872, một số nghiệp đoàn ở Canada biểu tình chống việc chính phủ bắt một số nhân công tuần hành “đòi tuần làm việc 58 giờ” trong một cuộc biểu tình trước đó vài tháng. Cuộc biểu tình tháng 9 thành công. Ngày 23.7.1894, thủ tướng Canada John Thompson ký sắc lệnh ấn định Ngày Lao Động trong tháng 9.

Tại Mỹ, kể tử ngày 5 tháng 9 năm 1882, nghiệp đoàn cũng đã bắt đầu tuần hành hàng năm vào đầu tháng 9 như ở Canada. Và năm 1894, năm Canada chính thức nhận Ngày Lao Động tháng 9, thống thống Mỹ Grover Celveland cũng chấp nhận Ngày Lao Động tháng 9 như Canada, để cạnh tranh với Ngày Quốc Tế Lao Động 1 tháng 5, là ngày Đệ Nhị Quốc Tế Cộng Sản đã chọn là Ngày Quốc Tế Lao Động và được cả thế giới đồng ý.

Nhưng, lịch sử có nhiều chuyện buồn cười, và lãnh đạo thế giới đôi khi hành động như trẻ con :-), vì Ngày Quốc Tế Lao Động 1 tháng 5 có nguồn gốc từ Mỹ !!

Truyền đơn kêu gọi biểu tình ở Quảng trường Haymarket 4.5.1886
Truyền đơn kêu gọi biểu tình ở Quảng trường Haymarket 4.5.1886

Khởi đầu với biến cố Haymarket, ngày Thứ ba, 4.5.1886, tại Quảng trường Haymarket ở Chicago. Ba ngày trước đó, 1.5.1886, hàng chục nghìn nhân công ở Chicago và các thành phố khác đã biểu tình đòi “Ngày làm việc 8 tiếng.” Ngày 4/5, cảnh sát đàn áp, một trái nổ không biết ai ném, giết chết một nhân viên cảnh sát. 8 lãnh đạo nghiệp đoàn bị bắt. 7 người bị tuyên án tử hình và 1 người án tù 15 năm, dù là không có bằng chứng gì nối cuộc ném bom với các lãnh đạo nghiệp đoàn, và cho đến ngày nay người ta vẫn không xác minh được là ai đã ném bom. Hai người án tử hình sau đó được thống đốc bang Illinois giảm xuống thành án chung thân. Trước ngày tử hình, một người tự tử trong tù, 4 người bị đưa ra pháp trường.

Quảng trường Haymarket 4.5.1886
Quảng trường Haymarket 4.5.1886

Vụ án này làm giới lao động và báo chí nước Mỹ phẩn nộ, đưa đến nhiều đấu tranh của lao động ở Mỹ cũng như tại các nơi khác trên thế giới. Năm 1888, Hiệp Hội Lao Động Mỹ (AFL — American Federation of Labor) quyết đinh chọn ngày 1.5.1890 (kỷ niệm biến cố Haymarket) để biểu tình tranh đấu đòi “Ngày làm việc 8 tiếng.” Năm 1889, chủ tịch AFL, Samuel Gompers, gửi một lá thư đến hội nghị đầu tiên của Đệ Nhị Quốc Tế Cộng Sản đang họp ở Paris, đề nghi một cuộc đấu tranh quốc tế cho “Ngày làm việc 8 tiếng.” Đệ Nhị Quốc Tế liền quyết định gọi một “cuộc biểu tình quốc tế vĩ đại” cùng một ngày trên khắp thế giới, vào ngày 1 tháng 5.

Bảng Di Tích Lịch Sử tại Haymarket ngày nay
Bảng Di Tích Lịch Sử tại Haymarket ngày nay

Chúng ta có thể đọc bài sau đây trên VietNamNet, viết ngày 1.5.2007.


Lịch sử ngày Quốc tế Lao động 1/5

(VietNamNet) – Hằng năm, người lao động trên toàn thế giới lại cùng nhau kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động 1/5. Tại Việt Nam, đây là một ngày mà mọi người dân ai ai cũng được nghỉ ngơi, vui chơi không phải làm việc. Tuy vậy, không phải ai cũng biết được lịch sử cũng như ý nghĩa trọng đại của ngày Quốc tế Lao động, nhất là các bạn trẻ thế hệ 8X, 9X.

Trong cuộc đấu tranh giữa tư bản và lao động, vấn đề thời gian lao động có ý nghĩa quan trọng. Ngay sau khi thành lập Quốc tế I năm 1864, Mác coi việc rút ngắn thời gian lao động là nhiệm vụ đấu tranh của giai cấp vô sản. Tại Đại hội lần thứ nhất của Quốc tế Cộng sản I họp tại Gieneve (Thụy Sĩ) tháng 9/1866, vấn đề đấu tranh cho ngày làm việc 8 giờ được coi là nhiệm vụ quan trọng. Khẩu hiệu ngày làm 8 giờ sớm xuất hiện trong một số nơi của nước Anh, nước có nền công nghiệp phát triển sớm nhất. Yêu sách này dần lan sang các nước khác.

Chuẩn bị cho 1/5, Senaatintori square, Helsinki, Finland
Chuẩn bị cho 1/5, Senaatintori square, Helsinki, Finland

Do sự kiện giới công nhân viên chức Anh di cư sang Mỹ, phong trào đòi làm việc 8 giờ phát triển mạnh ở nước Mỹ từ năm 1827, đi đôi với nó là sự nảy nở và phát triển phong trào Công đoàn. Năm 1868, giới cầm quyền Mỹ buộc phải thông qua đạo luật ấn định ngày làm 8 giờ trong các cơ quan, xí nghiệp thuộc Chính phủ. Nhưng các xí nghiệp tư nhân vẫn giữ ngày làm việc từ 11 đến 12 giờ.

Năm 1884, tại thành phố công nghiệp lớn Chicago, Đại hội Liên đoàn Lao động Mỹ thông qua nghị quyết nêu rõ: “…Từ ngày 1/5/1886, ngày lao động của tất cả các công nhân sẽ là 8 giờ”. Sở dĩ ngày 1/5 được chọn bởi đây là ngày bắt đầu một năm kế toán tại hầu hết các nhà máy, xí nghiệp ở Mỹ. Vào ngày này, hợp đồng mới giữa thợ và chủ sẽ được ký. Giới chủ tư bản có thể biết trước quyết định của công nhân mà không kiếm cớ chối từ.

1.5.1948 New York City
1.5.1948 New York City

Ngày 1/5/1886, do yêu cầu của công nhân không được đáp ứng một cách đầy đủ, giới công nhân trên toàn nước Mỹ đã tham gia bãi công nhằm gây áp lực buộc giới chủ thực hiện yêu sách của mình. Đầu tiên là cuộc bãi công tại thành phố Chicago. Khoảng 40 nghìn người không đến nhà máy. Họ tổ chức mit-tinh, biểu tình trên thành phố với biểu ngữ “Từ hôm nay không người thợ nào làm việc quá 8 giờ một ngày! Phải thực hiện 8 giờ làm việc, 8 giờ nghỉ ngơi, 8 giờ vui chơi!” Cuộc đấu tranh lôi cuốn ngày càng đông người tham gia. Cũng trong ngày hôm đó, tại các trung tâm công nghiệp khác trên nước Mỹ đã nổ ra 5.000 cuộc bãi công với 340 nghìn công nhân tham gia. Ở Washington, New York, Baltimore, Boston… hơn 125.000 công nhân giành được quyền ngày chỉ làm 8 giờ.

Những cuộc biểu tình tại Chicago diễn ra ngày càng quyết liệt. Giới chủ đuổi những công nhân bãi công, thuê người làm ở các thành phố bên cạnh, thuê bọn khiêu khích và cảnh sát đàn áp, phá hoại cuộc đấu tranh của công nhân. Các xung đột xảy ra dữ dội khiến hàng trăm công nhân chết và bị thương, nhiều thủ lĩnh công đoàn bị bắt… Báo cáo của Liên đoàn Lao động Mỹ xác nhận: “Chưa bao giờ trong lịch sử nước Mỹ lại có một cuộc nổi dậy mạnh mẽ, toàn diện trong quần chúng công nghiệp đến như vậy”.

1.5.2008 New York City
1.5.2008 New York City

Ngày 20/6/1889, ba năm sau “thảm kịch” tại thành phố Chicago, Quốc tế cộng sản lần II nhóm họp tại Paris (Pháp). Dưới sự lãnh đạo của Frederic Engels, Đại hội lần thứ nhất của Quốc tế Cộng sản II đã quyết định lấy ngày 1/5 hàng năm làm ngày biểu dương lực lượng và đấu tranh chung của tầng lớp vô sản các nước.

Từ đó, ngày 1/5 trở thành Ngày Quốc tế Lao động, ngày đấu tranh của giai cấp công nhân, ngày nghỉ ngơi và biểu dương lực lượng, ngày hội của công nhân và nhân dân lao động toàn thế giới.

Năm 1920, dưới sự phê chuẩn của Lê Nin, Liên Xô (cũ) là nước đầu tiên cho phép người dân được nghỉ làm vào ngày Quốc tế Lao động 1/5. Sáng kiến này dần dần được nhiều nước khác trên thế giới tán thành.

Tại Việt Nam, sau khi Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời (1930), giai cấp công nhân Việt Nam đã lấy ngày l/5 hàng năm làm ngày đỉnh cao của phong trào đấu tranh chống thực dân, đế quốc, giành độc lập – tự do – dân chủ, giành những quyền lợi kinh tế – xã hội. Trong thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám, việc kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động 1/5 phần nhiều phải tổ chức bí mật bằng hình thức treo cờ, rải truyền đơn. Năm 1936, do thắng lợi của Mặt trận bình dân Pháp và Mặt trận dân chủ Đông Dương, ngày Quốc tế Lao động lần đầu tiên được tổ chức công khai tại Hà Nội, thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia. Đặc biệt, ngày 1/5/1938, một cuộc biểu tình lớn gồm hàng chục ngàn người đã diễn ra ở khu Đấu xảo Hà Nội với sự tham gia của 25 ngành, giới: thợ hoả xa, thợ in, nông dân, phụ nữ, người cao tuổi, nhà văn, nhà báo… Đây là cuộc mit-tinh lớn nhất trong thời kỳ vận động dân chủ (1936 – 1939), một cuộc biểu dương sức mạnh đoàn kết của nhân dân lao động do Đảng lãnh đạo. Nó đánh dấu một bước trưởng thành vượt bậc về nghệ thuật tổ chức và lãnh đạo của Đảng ta.

Ngày nay, ngày Quốc tế Lao động đã trở thành ngày hội lớn của hai giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam. Đây cũng là ngày biểu thị tình đoàn kết hữu nghị với giai cấp công nhân và nhân dân lao động toàn thế giới, cùng đấu tranh cho thắng lợi của hòa bình, tự do, dân chủ và tiến bộ xã hội.

L.A (dịch từ Internet)

Chúc các bạn một Ngày Quốc Tế Lao Động vui vẻ thoải mái, không lao động !

Mến,

Hoành

Goodwill – thiện ý nhỏ, thành công lớn

Chào các bạn,

Mỗi người dân dù là người Mỹ hay ngoại quốc, giàu hay nghèo, không ai là không biết đến Goodwill.

Bạn sinh viên du học mới sang Mỹ cần mua một chiếc microwave. Đến Goodwill.

Đôi vợ chồng dọn về nhà mới, cần một số đồ trang trí lặt vặt. Đến Goodwill.

Một anh chàng nhạc sĩ sắp chuyển đến nơi khác, không thể mang hết mấy bộ đồ điện tử, đàn guitar cũ. Đến Goodwill.

Một cô gái con nhà khá giả mới mua thêm mấy bộ đồ mới nên muốn dọn bớt đống quần áo cũ cho rộng tủ. Đến Goodwill.

Goodwill là cái gì vậy mà ai ai cũng nhắc đến thế nhỉ?

Good will có nghĩa là thiện tâm, thiện ý. Goodwill là một thương hiệu cửa hàng bán đồ cũ giá rẻ nổi tiếng và lớn nhất nước Mỹ. Goodwill được sáng lập từ những năm 1890 bởi mục sư Reverend Edgar J. Helms. Là người sáng lập một nhà thờ ở Boston, mục sư Helms tổ chức các hoạt động giúp đào tạo kĩ năng để giúp mọi người xin việc dễ dàng hơn. Trong giai đoạn chiến tranh Mỹ – Tây Ban Nha, mục sự Helms đi đến các gia đình giàu có gõ cửa từng nhà để xin quần áo cũ và các đồ thừa khác. Sau đó ông thuê những người đàn ông và phụ nữ nghèo đến sửa lại các vật dụng này để bán chúng lấy tiền. Số tiền đó dùng để trả công cho chính những người nghèo này. Và ý tưởng ban đầu hình thành Goodwill Industries như một công ty kiểu self-help đã hình thành từ đó.

Cho đến nay nguyên lý hoạt động của Goodwill vẫn thật đơn giản: lấy của người giàu cho người nghèo. Nói chính xác hơn, lấy của người “không cần” cho người “cần”.

Đôi khi bạn có một số đồ cũ nhưng vẫn còn dùng tốt. Vứt đi thì không đành mà cho thì chẳng biết cho ai. Vậy thì bạn có thể mang chúng đến các thùng nhận đồ ủng hộ của Goodwill hoặc mang chúng trực tiếp đến cửa hàng của Goodwill.

Những đồ đạc này dù ít có giá trị với bạn nhưng với những người đang cần chúng hay nhất là những người nghèo khổ, vô gia cư, sống dựa vào trợ cấp xã hội, thì lại vẫn hữu dụng vô cùng. Goodwill cung cấp dịch vụ sửa chữa lại những đồ đạc này và bán chúng trong cửa hàng do những người nghèo, người khuyết tật quản lý.

Đi mua đồ ở Goodwill đôi khi trở thành thú vui của nhiều người Mỹ, vì họ có thể tìm được nhiều đồ tốt mà giá rất rẻ so với mua đồ mới 100%. Không hẳn chỉ có người nghèo mới tìm đến Goodwill, những người có thu nhập khá khi có nhu cầu mua sắm đồ đạc vẫn đến Goodwill để tiết kiệm ngân sách.

Một điểm nữa giúp Goodwill khá phát triển ở Mỹ có lẽ một phần là do nước Mỹ rất rộng. Chuyện di chuyển chỗ ở từ bang này sang bang khác đi hàng trăm dặm khiến nhiều người có nhu cầu cho đồ đạc mỗi khi chuyển nhà cửa. Goodwill trở thành một thị trường giúp cho người muốn cho (cung) và người muốn nhận (cầu) gặp nhau.

Điểm đặc biệt ở đây là Goodwill chỉ nhận đồ tài trợ, cho không (donate) chứ không mua lại. Và Goodwill là một tổ chức phi lợi nhuận, vì thế mà doanh thu và lãi từ hoạt động bán hàng của Goodwill không dùng để chia cổ phần mà chỉ dùng để trả lương và cho các hoạt động phát triển của Goodwill.

Cho đến những năm 1930, hoạt động của Goodwill tập trung vào đáp ứng nhu cầu của những người khuyết tật, vốn trước đó bị xã hội Mỹ lãng quên. Ngày nay Goodwill đã có mạng lưới bao gồm 205 tổ chức phi lợi nhuận độc lập tại địa phương và là tổ chức phi lợi nhuận lớn nhất bắc Mỹ về số lượng tạo công ăn việc làm và dịch vụ đào tạo nghề. Giá trị thương hiệu Goodwill hiện nay là 3.2 tỉ USD.

Ngoài Mỹ, Canada, Goodwill còn hoạt động ở 22 quốc gia khác và tạo việc làm cho những người khuyết tật bằng cách tạo việc làm cho họ cũng như hỗ trợ sau tuyển dụng. Qua đó Goodwill góp phần giúp mọi người vượt qua rào cản khi xin việc làm và trở thành những thành viên độc lập, đóng thuế cho cộng đồng của mình.

Từ một “goodwill” thật giản dị ban đầu mà ngày nay đã phát triển thành một tổ chức Goodwill lớn mạnh, thật là tuyệt vời phải không các bạn.

Chúc các bạn có nhiều goodwill cho ngày hôm nay nhé.

Hoàng Khánh Hòa

Thiền khơi lửa

Hakuin thường kể cho các đệ tử chuyện về một lão bà chủ một tiệm trà, ca ngợi sức thông hiểu Thiền của bà. Các đệ tử không tin lời thầy và đến tiệm trà để xem thực hư.

Mỗi khi thấy họ đến, lão bà biết ngay là họ đến để uống trà hay tò mò về hiểu biết Thiền của bà. Nếu đến để uống trà, bà sẽ phục vụ tử tế. Nếu đến vì tò mò, bà sẽ gọi họ ra sau bức bình phong. Ngay lúc họ bước vào, bà sẽ dùng cây khơi lửa đánh họ.

9 phần 10 số đệ tử không thoát khỏi ăn đòn của bà.
.

Bình:

• Điều ta suy nghĩ bên trong, thường bộc lộ ra ngoài, kể cả khi ta muốn che dấu. Đây là thân ngữ (body language). Thân ngữ thường bộc lộ tự nhiên, và người nhậy bén về thân ngữ có thể đọc được y’ ‎ tưởng của người khác qua thân ngữ.

Các điều tra viên giỏi thường rất nhậy cảm với thân ngữ. Các thiền sư rất tĩnh lặng thường nhậy cảm về mọi sự, kể cả thân ngữ. Tuy nhiên, giỏi đọc thân ngữ hay không cũng tùy người.

• Đối với thiền sinh, tò mò về sức hiều biết thiền của người khác là một tội, vì nó chẳng giúp được gì cho thiền sinh cả, ngoại trừ làm cho thiền sinh đi lạc đường–so sánh cạnh tranh mình với người khác.

• Thiền không thể thấy, không thể so sánh. Thiền là sống ở đây lúc này, với tâm không vướng mắc. Thế thì làm sao nhìn một người để thấy Thiền của người đó được?

• Ai cũng có thể đạt được Thiền. Lão bà bán trà có thể đạt Thiền, trong khi nhiều thiền sư không thể. Thiền đến từ tâm tĩnh lặng, không vướng mắc. Có gì lạ đâu mà tò mò?

(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.

Fire-Poker Zen

Hakuin used to tell his pupils about an old woman who had a teashop, praising her understanding of Zen. The pupils refused to believe what he told them and would go to the teashop to find out for themselves.

Whenever the woman saw them coming she could tell at once whether they had come for tea or to look into her grasp of Zen. In the former case, she would serve them graciously. In the latter, she would beckon the pupils to come behind her screen. The instant they obeyed, she would strike them with a fire-poker.

Nine out of ten of them could not escape her beating.

# 92

Mùi vị của thanh kiếm của Banzo

Matajuro Yagyu là con của một kiếm sĩ nổi tiếng. Cha của Matajuro tin rằng con mình quá tầm thường để có thể thành đại kiếm sĩ, nên từ con.

Vì vậy Matajuro lên núi Mount Furata và tìm gặp kiếm sĩ lừng danh Banzo. Nhưng Banzo xác nhận sự định giá của người cha. “Cậu muốn học kiếm đạo của tôi?” Banzo hỏi. “Cậu không thể làm tròn các yêu cầu được đâu.”

“Nhưng nếu con tập luyện chăm chỉ thì cần bao nhiêu năm để thành cao thủ?” cậu nhỏ kiên trì.

“Cả đời cậu,” Banzo trả lời.

“Con không đợi lâu thế được,” Matajuro giải thích. “Con sẵn sàng chịu đựng mọi cực khổ, nếu thầy bằng lòng dạy con. Nếu con trở thành người đầy tớ trung tín của thầy, thì sẽ tốn bao lâu?”

“Ô, có thể là 10 năm.” Banzo lùi bước.

“Cha của con đã già rồi, và con sẽ phải lo cho cha sớm thôi,” Matajuro tiếp tục. “Nếu con làm việc cực nhọc hơn rất nhiều, thì sẽ tốn bao lâu?”

“Ô, có thể là 30 năm,” Banzo nói.

“Sao vậy?” Matajuro hỏi. “Lúc đầu thầy nói 10 năm và bây giờ lên 30 năm. Con sẽ chịu bất kì cực khổ nào để thuần thục kiếm thuật trong thời gian ngắn nhất!”

“À,” Banzo nói, ‘trong trường hợp đó cậu sẽ phải ở với tôi đến 70 năm. Một người hấp tấp đòi kết quả như cậu ít khi học nhanh được.”

“Vâng được,” cậu nhỏ tuyên bố, cuối cùng cậu cũng hiểu là cậu đang bị mắng vì thiếu kiên nhẫn, “con đồng ý.”

Matajuro được ra lệnh không bao giờ được nhắc đến kiếm thuật và không bao giờ được sờ đến thanh kiếm. Cậu nấu ăn cho sư phụ, rửa chén, dọn giường, dọn dẹp sân, chăm sóc vườn, làm tất cả mà không nói một lời về kiếm thuật.

Ba năm trôi qua. Matajuro vẫn tiếp tục lao động. Nghĩ đến tương lai, cậu buồn. Cậu chưa được ngay cả bắt đầu để tập môn nghệ thuật mà cậu đã hiến dâng cả đời mình.

Nhưng một ngày nọ Banzo lén bò đến sau lưng Matajuro và cho cậu một đập dữ dội với thanh kiếm gỗ.

Ngày hôm sau, khi Matajuro đang nấu cơm, Banzo lại nhảy đến tấn công bất ngờ.

Từ ngày đó, ngày cũng như đêm, Matajuro phải lo chống đỡ các cú tấn công bất ngờ. Chẳng có lúc nào Matajuro lại không nghĩ đến mùi vị của thanh kiếm của Banzo.

Cậu học nhanh đến nỗi cậu mang nụ cười đến trên mặt của sư phụ. Matajuro trở thành kiếm sĩ vĩ đại nhất trong nước Nhật.
.

Bình:

• Tĩnh lặng là căn bản của võ học. Khi tĩnh lặng thì cả ngũ quan lẫn tư tưởng của ta nhạy bén hơn để chiến đấu.

• Kiên nhẫn là căn bản của luyện tập. Tất cả mọi môn học trên thế gian đều cần kiên nhẫn, vì sự tiến hóa cần thời gian, và người ta chỉ có thể tăng tiến từ từ theo thời gian. Không ai có thể đi từ 1 đến 10 trong một bước. Những người thiếu kiên nhẫn thường bỏ học nữa chừng, hoặc thường tìm cách đi đường tắt, là đường dở hơn.

• Các công việc của đầy tớ–nấu ăn, rửa bát, dọn dẹp—là các công việc tốt nhất để tập chúng ta kiên nhẫn và khiêm tốn—càng khiêm tốn ta càng kiên nhẫn và càng tĩnh lặng. Cái tôi lớn thường làm cho tâm ta ồn ào xung động và không kiên nhẫn.

• Trong “cuộc chiến” với đời sống, chúng ta cũng cần tĩnh lặng để chiến thắng, và cần kiên nhẫn để học nghệ thuật chiến thắng.

Và làm các việc đầy tớ hàng ngày là cách huấn luyện ta rất tốt. Các bạn, nhất là các bạn nam, có nấu ăn, rửa bát, quét sân, giặt đồ, chùi toilette thường không?

(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.

The Taste of Banzo’s Sword

Matajuro Yagyu was the son of a famous swordsman. His father, believing that his son’s work was too mediocre to anticipate mastership, disowned him.

So Matajuro went to Mount Futara and there found the famous swordsman Banzo. But Banzo confirmed the father’s judgment. “You wish to learn swordsmanship under my guidance?” asked Banzo. “You cannot fulfill the requirements.”

“But if I work hard, how many years will it take to become a master?” persisted the youth.

“The rest of your life,” replied Banzo.

“I cannot wait that long,” explained Matajuro. “I am willing to pass through any hardship if only you will teach me. If I become your devoted servant, how long might it be?”

“Oh, maybe ten years,” Banzo relented.

“My father is getting old, and soon I must take care of him,” continued Matajuro. “If I work far more intensively, how long would it take me?”

“Oh, maybe thirty years,” said Banzo.

“Why is that?” asked Matajuro. “First you say ten and now thirty years. I will undergo any hardship to master this art in the shortest time!”

“Well,” said Banzo, “in that case you will have to remain with me for seventy years. A man in such a hurry as you are to get results seldom learns quickly.”

“Very well,” declared the youth, understanding at last that he was being rebuked for impatience, “I agree.”

Matajuro was told never to speak of fencing and never to touch a sword. He cooked for his master, washed the dishes, made his bed, cleaned the yard, cared for the garden, all without a word of swordmanship.

Three years passed. Still Matajuro labored on. Thinking of his future, he was sad. He had not even begun to learn the art to which he had devoted his life.

But one day Banzo crept up behind him and gave him a terrific blow with a wooden sword.

The following day, when Matajuro was cooking rice, Banzo again sprang upon him unexpectedly.

After that, day and night, Matajuro had to defend himself from unexpected thrusts. Not a moment passed in any day that he did not have to think of the taste of Banzo’s sword.

He learned so rapidly he brought smiles to the face of his master. Matajuro became the greatest swordsman in the land.

# 91

Tu luyện tư duy tích cực

Chào các bạn,

Nếu bạn muốn giỏi đàn, giỏi đá bóng, giỏi toán, giỏi văn… giỏi bất kì môn nào trên đời, thì bạn phải làm gì? Bạn có thể đọc sách về các môn đó lâu năm để giỏi được không? Hay là bạn phải bỏ mỗi ngày ít ra là 1 tiếng đồng hồ để tập luyện về môn đó?

Tự duy tích cực cũng vậy. Tư duy tích cực đòi hỏi tu luyện hàng ngày. Chúng ta không thể đọc các bài tư duy tích cực trong một quyển sách nào đó, hay trên Internet, và có thể tư duy tích cực. Rất tiếc là đa số chúng ta sống như thế. Cứ đọc ngấu đọc nghiến điều gì ta thấy hấp dẫn, và tự bảo là như thế là ta biết môn đó, mà không hề bỏ ta công sức để tập tành một phút nào cả.

Nhiều người còn có thói quen, dùng tư duy tích cực như một đề tài để nói và viết, đọc ở đâu đó vài bài rồi góp nhặt viết lại thành bài của mình, nghe rất kêu, nhưng chẳng nghĩa lý‎ gì cho chính mình hay cho ai cả, vì chính mình cũng chưa hề tập luyện một giờ nào.

Tư duy tích cực đến từ công phu tu luyện. Nếu bạn không tập võ một ngày nào, đừng tưởng tượng công phu mình đã đến lúc tung mình lên trời đá song phi.

Chuỗi bài tư duy tích cực trên Đọt Chuối Non có hơn 600 bài. Đó là quá quá quá nhiều. Thực ra tất cả tư duy tích cực chỉ nên dưới 100 chữ. Thật ra, dưới 20 chữ là tốt nhất. Người tu tập, thường chẳng cần một chữ nào. Các thiền sư thường vô ngôn. Viết nhiều đọc nhiều là bệnh của chúng ta trong thời Internet, và nó làm cho chúng ta dễ lạc đường, cứ nghĩ rằng viết và đọc là mục tiêu chính.

Tư duy tích cực có hai bước chính:

1. Khi bạn hoàn toàn bi quan và thiếu tự trọng, không xem mình ra gì cả, thì bạn phải tập luyện suy tư và hành động để làm vững chính mình và cái nhìn của mình: Tôi vững mạnh, tôi quyết định vận mệnh của tôi, tôi có thể thành công nếu tôi muốn.

Đó là giai đoạn của nửa ly nước: Nửa ly nước, có thể nói là đầy nửa ly hay cạn nửa ly. Đàng nào cũng đúng. Chỉ là vấn đề lựa chọn của bạn.

Cái nhìn của ta về chính mình, về mọi người chung quanh mình, về thế giới của mình là cái nhìn “đầy nửa ly” hay “cạn của ly” do ta lựa chọn. Và mỗi lựa chọn là một con đường sống khác nhau.

2. Khi cái tôi đã vững, chúng ta phải thoát ra khỏi cái tôi, vì cái tôi là đầu mối của mọi tội lỗi—tự cao, tự kiêu, ngã mạn, vô cảm, thành kiến, hẹp hòi, tham lam, dữ dằn…

Lúc này là lúc ta phải đi vào “không tôi”, vào vô ngã, vào khiêm tốn thật sự, vào “giao phó cuộc đời trong tay chúa” (total submission, total surrender).

Đây là cái học của người đã có bằng tiến sĩ và bắt đầu quên mất là mình có bằng, bắt đầu khám phá những bí quyết của môn học bằng cái nhìn bỡ ngỡ của trẻ thơ, hỏi mọi điều, mần mò mọi điều, khám phá sự thật bí ẩn của mọi điều.

Đây là mức độ của các trường phái tâm linh của con người. Các trường phái suy tư không tâm linh không thể đến được mức này, và chỉ nằm ở mức con người tranh đấu lẫn nhau với những ham muốn, ước vọng và cuồng vọng của mình.

• Nếu là Phật giáo thì ta tự quán mình đến lúc thấm nhuần toàn tâm toàn trí là “ngũ uẩn giai không” (con người ta là không—Bát Nhã Tâm Kinh), lúc đó ta đạt được “vô ngã”, được “không tôi”, ta không còn bị “cái tôi” chi phối trong tư duy và hành động của mình.

• Nếu là dòng tâm linh Moses (Do thái giáo, Thiên chúa giáo—công giáo, chính thống giáo, các nhánh tin lành—và Hồi giáo), thì ta “giao phó” mình hoàn toàn cho Thượng đế–total surrender to God. Suy tư và sống hoàn toàn do thượng đế chi phối và điều khiển. Cái tôi hoàn toàn biến mất vào tay thượng đế, chỉ có thượng đế sống trong tôi. Tôi và ý chí của tôi biến mất, chỉ có thượng đế và ý muốn của thượng đế trong tôi.

Cả hai mức “vô ngã” cùa Phật gia và “hoàn toàn giao phó” của dòng Moses (Môi Sen hay Mai Sen) đều rất khó đạt và phải được tu tập công phu nhiều năm tháng. Có người sẽ không bao giờ đạt dược cả đời.

Ngược lại, vẫn có người đạt được mức này rất nhanh, như Lục tổ Huệ Năng của Thiền tông, Thánh Têrêsa Hài Đồng… Đó là những người có căn cơ, hoặc có lòng yêu thương Thượng đế cực mạnh.

Cho đa số chúng ta, mức này chỉ có thể đạt được bằng tu luyện mỗi ngày, hoặc bằng thiền quán, hoặc bằng kiên tâm cầu nguyện đối thoại với Thượng đế (với Christ), rất nhiều tháng nhiều năm.

Cả hai phương thức, dù có tên khác nhau đều có vài điểm căn bản chung:

(1) Tĩnh lặng,
(2) quán sát tư duy và hành động của chính mình,
(3) để “cái tôi” của mình hoàn toàn không còn ảnh hưởng gì đến tư duy của mình nữa–một tâm hoàn toàn trống rỗng, và
(4) tâm trống rỗng đó

    (a) trong truyền thống Phật gia, tự nó Đi Như Thế Đến Như Thế–tức là “tâm Như Lai”, hay

    (b) trong truyền thống Moses, được chuyển động bởi quyền lực siêu nhiên tối hậu—mà ta gọi là Thượng đế, Chúa, hay Christ.

Dù là trường phái nào đi nữa thì chúng ta cũng không cần thêm lý thuyết và giải bày, mà chỉ cần kiên tâm thực hành, tu luyện—ít nhất là nửa tiếng tĩnh lặng để thiền quán hay cầu nguyện mỗi ngày; lý tưởng nhất là thiền quán hay cầu nguyện mỗi giây trong ngày dù bất kì ta đang làm gì.

Và cứ như thế cả đời mình.

Chúng ta hãy thực tập đi, và đừng nói nhiều.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,
Hoành

© copyright 2010
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

AIMER – YÊU – TO LOVE

Thân tặng hai bạn Minh Hiển và Khánh Hòa
Quỳnh Linh

Romeo:

Yêu, đó là khi có điều đẹp nhất
Yêu, là bay lên thật cao
Và chạm đến cả những cánh chim
Yêu, đó là có được điều đẹp nhất

Juliette:

Yêu, đó là đánh cắp thời gian
Yêu, đó là sống mãi (1)
Và cháy lên như lòng núi lửa
Yêu, đó là khi có điều vĩ đại nhất

Romeo và Juliette:

Yêu, đó là điều mạnh hơn mọi sự
Là trao cho nhau những gì tốt đẹp nhất của mình
Là yêu và cảm nhận trái tim người ấy
Yêu để bớt đi nỗi sợ hãi

Hợp xướng:

Yêu, đó là khi có điều đẹp nhất
Yêu, là bay lên thật cao
Và chạm đến cả những cánh chim
Yêu, đó là có được điều đẹp nhất
Yêu, đó là đánh cắp thời gian
Yêu, đó là sống mãi
Và cháy lên như lòng núi lửa
Yêu, đó là khi có điều vĩ đại nhất

Hợp xướng và Juliette:

Yêu, đó là thắp sáng những đêm tối của người ấy
Yêu, đó là sẵn sàng trả giá
Và trao cho cuộc sống người ấy một cảm giác
Yêu, đó là thắp sáng những đêm tối của người ấy

Hợp xướng và Romeo:

Yêu, đó là khi có điều đẹp nhất
Yêu, là bay lên thật cao
Và chạm đến cả những cánh chim
Yêu, đó là khi có điều đẹp nhất
Yêu …

Quỳnh Linh dịch

(1) mình không hiểu ý này lắm, chắc tác giả muốn nói là khi yêu người ta có “cảm tưởng”như là sẽ sống mãi trong lòng nhau!

Đây là “bản tuyên ngôn tình yêu” của Roméo và Juliette trong vở nhạc kịch của Pháp “Romméo et Jullietted – De la haine à l’amour” (Romeo và Juliette – Từ thù hận đến tình yêu) – nhạc và lời của Gérard Presgurvic (dựa trên vở kịch “Romeo & Juliet”của William Shakespeare).

Trích đoạn này chắc không cần giới thiệu mọi người cũng có thể đoán được đó là cảnh Cha xứ làm lễ kết hôn kín cho Romeo và Juliette trong nhà thờ.

Đây là lời gốc bằng tiếng Pháp của bài hát.

Roméo:
Aimer c’est ce qu’y a d’plus beau
Aimer c’est monter si haut
Et toucher les ailes des oiseaux
Aimer c’est ce qu’y a d’plus beau

Juliette:
Aimer c’est voler le temps
Aimer c’est rester vivant
Et brûler au cœur d’un volcan
Aimer c’est c’qu’y a de plus grand

Roméo et Juliette:
Aimer c’est plus fort que tout
Donner le meilleur de nous
Aimer et sentir son cœur
Aimer pour avoir moins peur

Chœurs:
Aimer c’est ce qu’y a d’plus beau
Aimer c’est monter si haut
Et toucher les ailes des oiseaux
Aimer c’est ce qu’y a d’plus beau

Aimer c’est voler le temps
Aimer c’est rester vivant
Et brûler au cœur d’un volcan
Aimer c’est c’qu’y a de plus grand

Chœurs et Juliette:
Aimer c’est brûler ses nuits
Aimer c’est payer le prix
Et donner un sens à sa vie
Aimer c’est brûler ses nuits

Chœurs et Romeo:
Aimer c’est ce qu’y a d’plus beau
Aimer c’est monter si haut
Et toucher les ailes des oiseaux
Aimer c’est ce qu’y a d’plus beau

Aimer…

Cú đầu lần cuối

Tangen đã học với Sengai từ hồi còn bé. Lúc lên 20 Tangen muốn rời thầy và thăm viếng các thầy khác để học đối chiếu. Nhưng Sengai không cho phép. Mỗi lần tangent nhắc đến chuyện đó, Sengai lại cho Tangen một cái cú đầu.

Cuối cùng Tangen hỏi một sư huynh xin thầy hộ. Sư huỵnh làm được và cho tangent biết: “Xong rồi. Anh đã sắp xếp để em bắt đầu cuộc hành hương ngay lập tức.”

Tangen đến găp Sengai để cám ơn thầy đã cho phép. Sư phụ trả lời Tangen bằng một cái cú đầu.

Khi Tangen kể lại chuyện cho sư huynh, sư huynh nói: “Chuyện gì vậy? Thầy không thể cho phép xong rồi thay đổi ‎ý kiến. Anh sẽ nói với thầy như vậy.” Và sư huynh đến gặp thầy.

“Thầy đâu có hủy phép,” Sengai nói. “Thầy chỉ muốn cho nó cái cú đầu cuối cùng, vì khi nó trở về nó sẽ giác ngộ và thầy không thể la mắng nó nữa.”
.

Bình:

• Bài này tóm tắt triết lý giáo dục thiền tông mà ta đã quen thuộc trong những bài trước. Thầy dùng đủ hình thức giáo dục để giúp học trò tỉnh thức, từ dịu dàng nhẹ nhàng, đến la mắng, đập bàn, gõ nền nhà, đôi khi cho cái tát tai, cái cú đầu, hay một gậy. Nhưng các hình thức “giáo dục nặng” không vì thầy giân dữ, mà chỉ là một phương cách để đánh động tâm trí học trò tỉnh thức.

• Khi học trò đã tỉnh thức, tức là đã đạt ngộ, người học trò trở thành thầy, và mọi hình thức giáo dục cũ chấm dứt. Bây giờ thầy trò đều là thầy cả, đều đã đạt ngộ, không cần và không thể giáo dục nặng nữa. Cùng lắm là bàn với nhau vài ba câu.

• Ngày nay chúng ta cũng có các câu hỏi trong hệ thống giáo dục: Giáo viên có nên sử dụng hình phạt thể chất (physical punishment—quỳ gối, khẻ mông, v.v..) với học sinh? Nếu có thì trong những trường hợp nào, và những hình phạt nào có thể chấp nhận được? Giáo viên có được huấn luyện để biết rằng hình phạt là giáo dục, chứ không phải là cách để làm cho mình hả giận không?

(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.

The Last Rap

Tangen had studied with Sengai since childhood. When he was twenty he wanted to leave his teacher and visit others for comparative study, but Sengai would not permit this. Every time Tangen suggested it, Sengai would give him a rap on the head.

Finally Tangen asked an elder brother to coax permission from Sengai. This the brother did and then reported to Tangen: “It is arranged. I have fixed it for you to start your pilgrimage at once.”

Tangen went to Sengai to thank him for his permission. The master answered by giving him another rap.

When Tangen related this to his elder brother the other said: “What is the matter? Sengai has no business giving permission and then changing his mind. I will tell him so.” And off he went to see the teacher.

“I did not cancel my permission,” said Sengai. “I just wished to give him one last smack over the head, for when he returns he will be enlightened and I will not be able to reprimand him again.”

# 90

Đối thoại Thiền

Thiền sư thường dạy học trò biểu lộ chính mình. Có hai thiền viện, mỗi thiền viện có một thiền sinh nhỏ. Một em, mỗi sáng đi mua rau, gặp em kia trên đường đi.

“Bạn đi đâu đó?” một em hỏi.

“Tôi đi nơi nào chân tôi đi,” em kia trả lời.

Câu trả lời làm em này bối rối, nên em về hỏi thầy giúp đở. “Sáng mai,” thầy bảo em, “khi con gặp bạn, hỏi câu hỏi đó lại. Nó sẽ trả lời y như cũ, rồi con hỏi nó: ‘Nếu bạn không có chân, thì bạn đang đi đâu?’ Vậy sẽ chỉnh được nó.”

Hai bé lại gặp nhau sáng hôm sau.

“Bạn đang đí đâu dó?” em thứ nhất hỏi.

“Tôi đi nơi nào gió thổi đi,” em kia trả lời.

Câu trả lời này lại làm em choáng váng. Em mang thất bại về hỏi thầy.

“Hỏi nó đang đi đâu nếu không có gió,” thầy chỉ.

Hôm sau hai bé gặp nhau lần thứ ba.

“Bạn đang đi đâu dó?” em thứ nhất hỏi.

“Tôi đang đến chợ mua rau,” em kia trả lời.
.

Bình:

• “Biểu lộ chính mình” là nói điều gì mình muốn nói, bằng cách mình muốn nói. “Tôi đi nơi nào chân tôi đi” hay “Tôi đi nơi nào gió thổi đi” cũng như chúng ta hay nói “Đi vòng vòng” hay “Đi lang thang”, tức là đi nơi nào hai chân đưa đi.

• Đối thoại có nghĩa là nếu hỏi thì trả lời, không phải là đấu chữ. Thiền sư đôi khi dùng từ rất thi ca trong cách nói, làm người ta tưởng các vị đấu chữ. Không phải là một vị nói ra một câu văn vẻ, vị khi phải đối lại bằng một câu văn vẻ hơn, hay câu siêu hơn có thể làm cho vị trước bị bí—đó không phải là đối thoại. Và đó là thái độ sai lầm của em bé hỏi đầu tiên, và thầy của em.

• “Biểu lộ chính mình” là nói điều gì đang xảy ra. Đó là đối thoại thành thật, với thực tại đang xảy ra.

Nếu dùng công thức, hôm qua nói sao hôm nay nói vậy, thì đó là không thành thật, vì hôm qua khác nay khác, nói cùng một câu sao được? Đối thoại chứ đâu phải trả bài học thuộc lòng!

• Đối thoại Thiền là sống Thiền—sống ở đây lúc này, nói ở đây lúc này, với tâm trống rỗng, không màu mè, không đóng kịch, không ngầm hạ nhau.

Mỗi ngày chúng ta đối thoại thế nào? Chúng ta đối thoại, hay chỉ lảm nhảm công thức đã thuộc lòng, chẳng nghĩa l‎y’ gì cả? Đối thoại thật sự hay ngầm đấu đá để tìm cách hạ nhau?

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

Zen Dialogue

Zen teachers train their young pupils to express themselves. Two Zen temples each had a child protégé. One child, going to obtain vegetables each morning, would meet the other on the way.

“Where are you going?” asked the one.

“I am going wherever my feet go,” the other responded.

This reply puzzled the first child who went to his teacher for help. “Tomorrow morning,” the teacher told him, “when you meet that little fellow, ask him the same question. He will give you the same answer, and then you ask him: ‘Suppose you have no feet, then where are you going?’ That will fix him.”

The children met again the following morning.

“Where are you going?” asked the first child.

“I am going wherever the wind blows,” answered the other.

This again nonplussed the youngster, who took his defeat to his teacher.

“Ask him where he is going if there is no wind,” suggested the teacher.

The next day the children met a third time.

“Where are you going?” asked the first child.

“I am going to the market to buy vegetables,” the other replied.

# 89

Tình yêu giúp ta nhận ra chính mình

Tôi thích đọc các công án thiền từ cái thời chưa đầy 20. Máu háo thắng làm tôi nghĩ nếu các vị thiền sư đời xưa có thể tìm ra các đề tài làm công án thiền cho đồ đệ thì mình cũng tự tìm ra 1 đề tài cho chính mình. Bởi các vị ấy ra đề một cách dễ như lấy đồ trong túi vậy. Cậu độ đệ trẻ chạy vào xin công án, thế là thầy phán ngay: hãy nói về tiếng kêu của 1 bàn tay. Anh hòa thượng trẻ đi lang thang ngang hàng thịt, nghe lõm được câu quảng cáo của chủ hàng ba hoa: ở đây món nào cũng ngon cả. Chỉ có vậy mà cũng là 1 công án. Chỉ có vậy mà cũng giúp một tâm hồn giác ngộ. Thế thì tôi cứ thử tìm cho tôi một công án xem sao?

Nghĩ là làm, Bởi xét cho cùng tôi có tìm ra cho chính mình một công án hoặc không tìm ra thì tôi cũng chẳng mất xu ten, hay đồng bạc lẻ nào hết. Vậy là sau vài ngày nghiền ngẫm sự đời, tôi đã sáng tác cho mình một công án. Công án của tôi vỏn vẹn chỉ có 3 từ: tôi là ai?

Mỗi người chúng ta đều phải trả lời những câu như: tôi là Nguyễn Văn X, hoặc tôi là chủ chiếc xe này, hoặc tôi là nhân viên/giám đốc công ty này, tôi là chồng của cô ấy, tôi là chuyên viên này hoặc kỹ sư nọ…. Chúng ta chỉ nói các câu ấy để trả lời với thiên hạ. Hãy thử trả lời cho chính mình: tôi là ai?

Tìm ra được cái công án này tôi sướng mê người vì cảm thấy mình sao mà trí tuệ đến vậy. Thế nhưng cái việc tự đánh giá chính mình là một trò ăn gian. Bạn sẽ vừa đá bóng, vừa thổi còi. Mất chừng vài tuần, tôi đã có thể trả lời được câu hỏi kỳ khôi: tôi là ai này. Nhưng chỉ qua vài hôm, tôi lại cảm thấy thất vọng với đáp án đã tìm. Câu hỏi ngu ngốc, ngớ ngẩn ấy đi theo tôi suốt đời.

Sau này, khi học phương pháp nghiên cứu của xã hội học, tôi nhận ra để khỏi ngu như kiến thì ta phải nghiên cứu. Và làm đề tài nghiên cứu thì tất nhiên phải có giả thuyết nghiên cứu. Chính cái câu hỏi ngớ ngẩn là kẻ dẫn đường cho các nhà nghiên cứu khám phá ra bí ẩn của vũ trụ và của kiếp nhân sinh.

Thêm một ví dụ khác để minh họa, giả sử bạn chưa bao giờ ra Huế. Lần này bạn cần ra Huế để họp, để thăm bà con hay một lý do nào khác. Trước khi đi, ai đó nói bún bò Huế ăn tại chợ Đông Ba rất ngon. Người khác cho rằng bún bò Huế bán ở chợ Đông Ba chỉ đáng đem đổ nước mã . Muốn thưởng thức thì nên ăn cơm hến mới là đặc sản Huế. Thế là ta có thể đưa ra giả thuyết: bún bò Huế bán tại Huế có ngon không? Hoặc cũng có thể giả thuyết ấy là so sánh bún bò Huế tại Huế và tại cái quán ta thường ăn gần nhà. Khi có câu hỏi ấy, bạn đến Huế và sẽ quyết tâm tìm câu trả lời. Chính nhờ sự tìm tòi ấy bạn khám phá ra nhiều điều hơn là thưởng thức bún bò. Có khi bạn sẽ quen được một cô bạn duyên dáng nào đó có cùng thú vui ẩm thực. Hoặc nhận ra mưa Huế buồn ơi là buồn. Hoặc một kết luận chẳng ăn nhằm gì đến bún bò cả. Tuy nhiên nhờ cái câu hỏi đi ăn bún bò mà bạn khám phá Huế từ nhiều gốc nhìn. Nếu không bạn sẻ chỉ đến đó đi họp rồi quay về. Chẳng để lại gì ở Huế hoặc Huế chẳng ghi dấu gì trong lòng bạn.

Tôi đã dùng 1 giả thuyết hay công án để khám phá cuộc đời chính mình và các sự kiện liên quan đến nó. Kết quả thu lượm thì rất nhiều nhưng Tôi chỉ xin bật mí với các bạn một gốc nhỏ trong các gốc hẹp của mình qua bài viết này.

Tất cả chúng ta đều chung sống với một nhóm người nào đó. Trong nhóm ấy có các thế hệ như 5X, 6X, 7X… Nói gì thì nói, chơi gì thì chơi chứ đừng có dại dột đem cái 5X của ta ra mà chê cái 8X là các chú trẻ người non dạ nên chưa hiểu điều này đâu. Hoặc gán ghép cho người khác những trách nhiệm mà họ chưa thực sự chuẩn bị: “Các chú 8X mà không làm được việc này thì xấu hổ quá…” rủi những điều không mong đợi ấy xảy ra là ta sẽ giận nhau. Khi giận nhau, ta dễ nghĩ rằng:

-Giá mà tôi đừng thuê nhà trong cái xóm lộn xộn này. Giá mà tôi đừng làm việc cho cơ quan này. Giá mà tôi đừng cưới cô ấy. Giá mà tôi đừng sinh ra đứa con như nó….

Giận thì ta sẽ làm cho ra lẽ, cho chúng biết tay. Nghĩa là cơn giận sẽ mời gọi ta thể hiện bản lĩnh của mình với đối thủ và với tha nhân. Cơn giận giúp ta nhận ra chính mình là ai.

Bạn sẽ nói hình ảnh chính mình được vẻ ra trong cơn giận hay lúc bị chơi quê sẽ méo mó không hoàn hảo…. Ui nói thì dễ lắm vậy bạn có chắc rằng kết luận ấy là đúng không? Ta chưa rõ ta là ai nên cứ từ từ xem các hình ảnh cơn giận, cơn tự ái đã vẻ về ta thế nào.

Ta sẽ là kẻ muốn chơi trội với mọi người để được mọi người trọng nể, ngán mặt. Nếu có kẻ chưa ngán và có đủ tài để chơi qua mặt ta, thì ta lại phải ép mình vượt qua hắn. Càng bị bỏ xa ta sẽ càng cố sức, và thà chết chứ không chịu thua hắn được.

Hình ảnh của ta trong cơn giận, cơn tự ái sẽ chia làm nhiều cấp độ. Quê sương sương thì ta là kẻ ngại tiếp xúc với một số người nào đó. Quê cấp 2 ta nói vài câu xúc phạm người cho hả giận. Quê nặng nữa thì ta sẵn lòng liều mạng với kẻ thù. Ta là thế sao?

Trong cơn giận ta từ chối chính mình là thành viên của các nhóm người ta quen biết. Thậm chí, ta từ bỏ cả gia đình, quê hương và chủng tộc của mình. Nhưng rồi cơn giận có lúc cũng qua đi, sự bình an quay trở lại. Ta lại thương cái xóm nhỏ của mình, thương công việc và cơ quan từng cộng tác, thương yêu lại vợ con… Khi ấy, ta nhận ra chính mình với một hình ảnh khác.

Ta cũng chia ra các cấp độ tương ứng như lúc giận. Thương sơ sơ thì thấy mình từng có những điều ấy trong đời. Thương dạt dào hơn sẽ thấy mình cần đóng góp để phát triển đời sống, phát triển sự nghiệp cùng với những người thân ấy. Thương tha thiết ta cũng có thể cống hiến cả mạng sống mình.

Điểm khác biệt giữa hình ảnh trong cơn giận và hình ảnh trong lúc yêu chính là các cánh cửa tâm hồn. Khi yêu ta muốn mở rộng cửa để đón nhận, để tha thứ, để chở che và để cảm thông. Khi giận ta đóng cửa lại chỉ chừa vài lối ra vào. Những lối ấy đe dọa mọi người, buộc mọi người phải theo ý muốn của ta. Nói một cách khác, cơn giận biến ta trở nên hẹp hòi, ích kỷ. tình yêu lại giúp ta rộng mở và bao dung.

Ta là ai? Sự lựa chọn là của mỗi con người vào mỗi tình huống cụ thể. Có lúc ta đã từng chọn sự giận dữ. Tâm hồn ta luôn chìm ngập trong khắc khoải, dày vò và buồn bực. Mãi đến khi tình yêu trở lại. Tâm hồn ta thanh thản nhẹ nhàn và giải thoát.

Tôi không dám khuyên bạn nên chọn điều gì. Vì chẳng có gì đảm bảo rằng chọn tình yêu sẽ làm cho bạn giàu có, nổi tiếng, khôn ngoan, thành đạt. Nhưng chúng ta đều thấy rằng khi chọn tình yêu, hình ảnh của ta trong lòng ta sẽ đem lại cho ta những ngày vui vẻ, bình an. Nếu bạn muốn chính mình là một người bình an xin hãy để tình yêu giúp bạn nhận ra chính mình.

20/Apr/10 10:11:55 AM
Trần Bá Thiện

Làm sao để viết một bài thơ Tàu

Một thi sĩ nổi tiếng của Nhật được hỏi làm thế nào để làm một bài thơ Tàu.

“Thơ Tàu thường có 4 hàng,” thi sĩ giải thích. “Hàng đầu là câu đầu tiên; hàng thứ nhì là tiếp tục của câu đầu; hàng thứ ba bỏ chủ đề này và bắt đầu chủ đề mới; và hàng thứ tư liên kết ba hàng đầu với nhau. Một bài hát phổ thông của Nhật minh họa điều này:

Hai tiểu thơ nhà bán lụa ở Kyoto
Cô chị hai mươi em mười tám
Chiến binh giết người bằng gươm dáo
Hai cô giết người bằng đôi mắt

.

Bình:

• Bốn câu thơ trong một bài tứ tuyệt là: Khởi, thừa, chuyển, hợp.

• Chính vì sắc đẹp có thể giết người mà khi Ryonen, sắc đẹp khuynh thành, xin đi tu thiền, cả thiền sư Tetsugya và Hakuo đều từ chối ngay lập tức. Ryonen phải dùng sắt nóng đốt mặt mình, hủy hoại nhan sắc vĩnh viễn, mới được Hakuo nhận làm đệ tử.

Các thiền sư thường chẳng sợ gì cả, nhưng xem ra sợ sắc đẹp.

• Sắc đẹp là một trong ba mục tiêu lớn của tham—tiền tài, sắc đẹp, và danh vọng. Phụ nữ tham sắc đẹp cho mình. Đàn ông tham chiếm hữu phụ nữ nhan sắc. Tham là một trong ba độc: tham sân si.

• Sắc đẹp giết người thì rõ rồi. Nhưng có thật thế không? Sắc đẹp giết người, hay “long tham sắc” giết người? Tiền giết người hay “lòng tham tiền” giết người?

• “Lòng tham” là tâm. Vậy thì, chính tâm ta giết ta, sao lại đổ lỗi cho tiền bạc hay sắc đẹp?

• Mọi thứ khác của ba độc tham sân si cũng thế:

— Tôi chửi hắn vì hắn làm thế. Không, không phải vì hắn làm thế, mà vì tôi nổi lòng sân hận. Hắn làm thế là việc của hắn, nổi nóng và chửi hắn hay tĩnh lặng là việc của ta. Đừng nhầm lẫn, đừng đổ lỗi cho người khác.

— Tôi nói xấu hắn, vì hắn nói xấu tôi. Không, đó là vì tôi không quản được tâm tôi và cái miệng của tôi, không phải vì hắn. Tôi không phải là hình nộm mà hắn muốn giật dây tôi lúc nào thì tôi cũng sẵn sàng nhảy theo lệnh của hắn lúc đó.

— Hắn làm việc xấu tôi nói cho mọi người biết là việc đương nhiên. Không, đó chẳng là việc đương nhiên. Thứ nhất, chuyện của bạn nói về hắn thường là không đúng 100% và nếu có mặt hắn đó để giải thích hay biện hộ, thì câu chuyện có thể khác đi rất nhiều. Nói chuyện một chiều giản dị là nói dối, vì nó không thật. Thứ hai, nếu bạn nói xấu về hắn thì được gì cho xã hội, ngoài việc thỏa mãn thói quen của cái miệng thích nói hành nói tỏi của bạn? Nói hay không là vì mình có quản được cái tâm và cái miệng của mình không. Đừng đổ lỗi vì người này, người kia.

— Mọi người đều tham nhũng hết, tôi phải tham nhũng để sống.

Vậy sao?
Mọi người đều hút thuốc hết, tôi phải hút để sống?
Mọi người đều uống rượu hết, tôi phải uống rượu để sống?
Mọi người đều đánh nhau hết, tôi phải đánh nhau để sống?
Mọi người đều nói dối hết, tôi phải nói dối để sống?

Hơn nữa, từ “mọi người” là phóng đại quá rồi. “Một số người” thì đúng hơn.

Tham nhũng hay không là do lòng tham của mình. Đừng đổ lỗi cho người khác.

• Tóm lại: Tâm là chủ.

Nghĩa là ta làm gì, tốt hay xấu, cũng là do tâm ta. Hãy nhận trách nhiệm 100% cho mọi tư tưởng và hành động của mình. Đừng chỉ ngón tay vào người khác, vật khác.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.

How to Write a Chinese Poem

A well-known Japanese poet was asked how to compose a Chinese poem.

“The usual Chinese poem is four lines,” he explains. “The first line contains the initial phase; the second line, the continuation of that phase; the third line turns from this subject and begins a new one; and the fourth line brings the first three lines together. A popular Japanese song illustrates this:

Two daughters of a silk merchant live in Kyoto.
The elder is twenty, the younger, eighteen.
A soldier may kill with his sword.
But these girls slay men with their eyes.

# 88

Lời nguyện cho đất nước

Chào các bạn,

Lời nguyện sau đây đại loại là là các ý nguyện mình hay dùng để cầu nguyện cho đât nước thường xuyên, dù là viết ra thì mạch lạc hơn là cầu nguyện trong đầu. Đăng đây để chia sẻ với các bạn quan tâm chính của mình về đất nước, và để chía sẻ lời cầu nguyện với các bạn thường cầu nguyện.

Mình có các bạn thời còn đi học đứng tay phải, có các bạn thân quen những năm sau này đứng tay trái. Tay phải và tay trái không chơi được với nhau, cho nên nhiều khi mình cảm thấy thực là nhức nhối. Và tháng tư, mình hay nghĩ đến.

Chia sẻ một mảnh tình với các bạn.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

Chúa ơi,

Chiến tranh tưởng đã hết lâu rồi, nhưng chúng con vẫn còn chia cách.
Hẳn Chúa đau buồn vì cách sống của chúng con.
Xin Chúa hãy vào ngự trị trong tâm hồn mỗi người chúng con.
Thánh hóa chúng con, làm cho trái tim chúng con trở thành rộng mở và hiền dịu.
Chúng con không thể ảnh hưởng con tim của nhau, nhưng tất cả mọi con tim của chúng con đều nằm trong tay Chúa.
Hãy giúp chúng con biết yêu nhau—anh em một nhà.
Giữ chúng con là một trong Chúa.

Chúa ơi,

Đất nước con đã qua nhiều chiến tranh, anh em chúng con đã có nhiều thù hận.
Xin Chúa là dòng nước mát rửa sạch tất cả tội lỗi, muộn phiền, đớn đau dĩ vãng.
Đưa chúng con đến bến bờ thanh tịnh của hiện tại.
Hướng chúng con về ánh sáng tương lai.
Xin Chúa giúp chúng con xả bỏ lỗi lầm của nhau,
nhìn thấy hình ảnh của Chúa trong nhau,
nhận nhau như nhận một mảnh nhỏ của Chúa,
gán ghép vào nhau để thành thân thể Chúa.
Để chúng con có được an bình và tình yêu thật sự.
Để chúng con có thể làm việc cùng nhau hầu đưa đất nước đi lên.
Để chúng con có thể rao giảng tình yêu và hòa bình của Chúa cho thế giới.

Chúa ơi,

Hãy giúp chúng con nhận biết Chúa đang ở trong mỗi người chúng con,
và mỗi chúng con là khí cụ bình an của Chúa.

Amen

Ba loại đệ tử

Một thiền sư tên Gettan sống vào cuối đời sứ quân Tokugawa. Thiền sư thường nói: “Có ba loại đệ tử: Loại truyền Thiền cho người khác, loại giữ gìn chùa chiền và bàn thờ, và rồi có phường giá áo túi cơm.”

Gasan diễn tả cùng một y’ tưởng. Khi Gasan đang học với Tekisui, vị thầy này rất khắc nghiệt. Đôi khi thiền sư đánh Gasan. Các đệ tử khác không chịu lối dạy thế này và nghỉ học. Gasan ở lại với thầy, nói rằng: “Đệ tử dở dựa oai thầy. Đệ tử trung bình ái mộ sự hiền dịu của thầy. Đệ tử giỏi lớn mạnh trong kỹ luật của thầy.”
.

Bình:

• Dù ngôn từ khác nhau, Gettan và Gasan diễn tả cùng một ‎ ý tưởng: Đệ tử giá áo túi cơm dựa oai thầy. Đệ tử trung bình giữ chùa chiền bàn thờ, ái mộ sự hiền dịu của thầy. Đệ tử giỏi truyền Thiền cho người khác, lớn mạnh trong kỹ luật của thầy.

• Tùy theo vị thầy đào tạo loại đệ tử nào, vị thầy có cung cách dạy cho loại đệ tử đó. Dạy phường giá áo túi cơm thì “sao cũng được”. Dạy đám trung bình thì nhẹ nhàng. Đào tạo các bận thượng thừa thì cực kỳ khắt khe. Chẳng có huấn luyện viên của các đội thể thao và vận động viên vô địch quốc tế nào mà xìu xìu ển ển, vuốt ve cả.

Cho nên nếu ta muốn thành vô địch mà tìm thầy của hạng trung bình cho nhẹ nhàng, thì không thể thành vô địch được. Biết là mình muốn gì, rồi tìm thầy cho đúng mục đích đó. Rồi chịu đựng kỹ luật của thầy.

• Cho nên việc học là tùy đệ tử hơn là tùy thầy. Thầy dạy cách của thầy, nếu đệ tử không thích thì tìm thầy khác. Thầy có mục đích đào tạo và dùng phương pháp hợp cho mục đích đó, Đệ tử không cùng mục đích thì tìm thầy khác. Cùng mục đích thì ở lại và chịu đựng giáo huấn.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

Three Kinds of Disciples

A Zen master named Gettan lived in the latter part of the Tokugawa era. He used to say: “There are three kinds of disciples: those who impart Zen to others, those who maintain the temples and shrines, and then there are the rice bags and the clothes-hangers.”

Gasan expressed the same idea. When he was studying under Tekisui, his teacher was very severe. Sometimes he even beat him. Other pupils would not stand this kind of teaching and quit. Gasan remained, saying: “A poor disciple utilizes a teacher’s influence. A fair disciple admires a teacher’s kindness. A good disciple grows strong under a teacher’s discipline.”

# 87

Văn hóa an bình

Chào các bạn,

Khi nói về tư duy tích cực ta luôn luôn nghe cụm từ “bình an trong tâm hồn”, tức là bình an trong tâm mình. Bình an trong tâm hồn để đi qua cuộc đời một cách sống động là đích điểm tối hậu của tư duy tích cực.

Và tư duy tích cực luôn luôn khởi đầu với tâm ta. Tâm của chính ta là nơi toàn năng lượng của tư duy tích cực tập trung vào.

Nhưng ta sống trong xã hội với nhiều người khác. Tư duy tích cực của ta sẽ thể hiện hàng ngày qua cách sống của ta với người chung quanh. Và cách sống của ta với người chung quanh thường là bằng chứng rõ ràng nhất về trình độ tư duy tích cực của ta. Đây là một điểm quan trọng trong tiến trình huấn luyện tư duy tích cực, vì thông thường nếu ta chỉ ở một mình không gặp ai, thì có thể rất khó cho ta biết mình tư duy tích cực đã đến đâu. Ta có thể tưởng là ta đã đạt được mức thượng thừa (vì lúc nào cũng thấy bình an tĩnh lặng), cho đến khi ra ngoài, đụng chuyện với người khác, thì ta hành động rất ấu trĩ. Lúc đó ta mới thấy rất rõ là mình vẫn còn ớ mức nhập môn, và công phu của mình chưa đến đâu cả.

Mình có quen vài người thầy như thế. Một vị thầy dạy Yoga vẫn xem chính anh là người đã tĩnh lặng, vì anh dạy học trò môn này. Tuy nhiên, rất nhiều khi ra ngoài, gặp người phê phán, thái độ anh bất mãn cay cú thấy rõ. Và có một lần nói chuyện, chính anh ta cũng xác nhận với mình là anh cay cú khi bị phê phán (tức là cũng rất tốt; ít ra là anh ấy thấy vấn đề). Một vị sư mình biết và rất khâm phục về kiến thức kinh kệ của thầy, nhưng nếu ngồi nói chuyện một tí là thầy sẽ đi vào các khẩu hiệu và lời nói chống cộng cực đoan, dù là đang nói đến Bát Nhã Tâm Kinh, chẳng tí nào liên hệ đến chính trị, và thầy chẳng biết thầy luôn luôn tự lái đi trật đường rầy như thế.

Điểm quan trọng chúng ta muốn nói ở đây là ngồi một mình thì khó biết là ta thực sự tĩnh lặng hay xao động, cho đến khi ta ra ngoài và đụng chuyện với người khác.

Tâm tĩnh lặng, khi ở trong tâm là tâm, khi đi ra ngoài xã hội là “văn hóa an bình”. “Tâm tĩnh lặng” sẽ ứng xử với mọi người với “văn hóa an bình.”

Mỗi người chúng ta thử nhìn quanh ta một vòng, rồi nhìn xa hơn tí nữa, nhìn quanh thế giới một vòng. Không phải là chung quanh ta đánh nhau, áp bức nhau, chia rẽ nhau, thù hận nhau, ghen ghét nhau, chiến tranh với nhau đầy tràn hay sao? Những thứ này từ đâu tới, không phải chúng đến từ tâm con người hay sao?

Thế thì làm thế nào để thành phố của ta, làng xã của ta, đất nước của ta, nhân loại của ta bớt ghen ghét, thù hận và chiến tranh? Không phải câu trả lời là phải làm cho trái tim của ta hiền dịu và an bình sao? Không phải là mang an bình từ trong tâm ta ra thành văn hóa an bình trong xã hội hay sao?

Văn hóa an bình là văn hóa không có ghen ghét, thù hận, và chia rẽ trong đó.

Văn hóa an bình không có nghĩa là lúc nào cũng giả vờ ngọt như đường phèn vì “khẩu Phật tâm xà” hay vì mình hoàn toàn không có xương sống. Đọc các truyện Thiền về các Thiền sư, ta thấy các vị thường la lối chưởi mắng học trò, đôi khi còn cho vài cái tát hay vài gậy… xem ra rất bạo động… nhưng vẫn là văn hóa an bình, vì trong tất cả các hành động ồn ào đó không có ghen ghét, thù hận, và chia rẽ, ngược lại chúng là tình yêu, là giáo huấn, là tĩnh lặng.

Tâm làm chủ.

Một người , vì lý do nào đó, nói điều gì đó không tốt cho ta. Ta có sân hận lên không? Sân là một trong ba độc, là văn hóa bạo động.

Một người nào đó buôn bán cạnh tranh làm ta mất khách, ta có nổi sân lên không? Nếu có, là văn hóa bạo động. Đó là tham và sân, hai trong ba độc.

Trong một nhóm—trường học, gia đình, khu phố, chính phủ, hay diễn đàn—ta có vì bất kì lý do nào đó mà kết bè kết đảng và chẻ nhóm đó ra thành hai ba mảnh không. Đó là văn hóa bạo động, và là nguyên do số một gây ra chiến tranh trên thế giới, cũng là nguyên do số một làm cho Việt Nam chậm tiến. Đây là si trong ba độc.

Dù người nói xấu về ta đúng hay sai, cố tình hay vô ý, ta không cay cú và sân hận. Đó là không sân. Và đó là văn hóa an bình. Làm gì thì tính sau. Đôi khi phải làm gì đó để mai mốt họ không làm thế với mọi người, để cho làng xóm có bình an hơn, nhưng có làm gì thì cũng làm với tâm tĩnh lặng, không sân hận.

Người cạnh tranh làm ta mất khách, nhưng ta không sân hận thù oán. Đó là không tham. Và đó là văn hóa an bình. Làm gì thì tính sau. Thường thì phải nghĩ ra chiêu thức mới, chiếm thị trường trở lại, để còn lo công ăn việc làm cho nhân viên. Nhưng làm với tâm tĩnh lặng an bình.

Mọi người thích kết bè kết đảng, và ai nấy đều có lý do “đúng” của riêng họ để làm thế. Ta có thể vượt lên trên các cái “đúng” bè đảng đó, vượt lên trên thói quen cố hữu của người Việt là kết bè kết đảng để đì nhau, tìm mọi cách để mọi người có thể làm việc chung hay không? Đó là không si. Và đó là văn hóa an bình.

Các bạn,

Các bậc thánh nhân—Phật Thích Ca, Chúa Giêsu, Tiên Tri Mohammad—tốn thời giờ giáo huấn mọi người là để mang an bình lại cho toàn thế giới, chẳng phải cho riêng ai. Nhưng các ngài luôn chỉ chú tâm vào quả tim của một người mà thôi—quả tim của chính bạn. Các ngài thường chẳng nói gì về thế giới và các vấn đề xã hội cả. Tất cả quan tâm đều tập trung vào một trái tim của bạn. Vì các thánh nhân đều biết một điều rất căn bản: Chiến tranh thế giới, hay hòa bình thế giới, chẳng đến từ đâu khác hơn là quả tim của mỗi người.

Các bạn đừng nên tiếp tục nghĩ rằng các cuộc chiến trên đường phố của thành phố của bạn chẳng liên hệ gì đến con tim bạn cả, và con tim bạn chẳng liên hệ gì đến việc mang lại an bình cho thành phố hay đất nước của bạn cả. Nếu bạn đã từng nghĩ là bạn chẳng liên hệ gì, thì hãy ngưng cách suy nghĩ lầm lạc đó.

Văn hóa của một thành phố, của một quốc gia, không thể tự nó mà có. Nếu mang tất cả người dân của một thành phố ra khỏi thành phố đó, thì thành phố đó không còn văn hóa gì hết. Văn hóa đến từ tư duy, thái độ và tác phong của mỗi người. Mỗi chúng ta có trách nhiệm liên đới về thành phố của ta, đất nước của ta, thế giới của ta.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

© copyright 2010
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Nước

Anh về với non cao nhìn thác đổ
Nghe đâu xa muôn thú khóc trên ngàn
Chim mỏi cánh khi lìa cành nhớ tổ
Trong tay em, anh tiếc thuở xa đàn.

Anh về với đầu ghềnh nhìn suối chảy
Hứng nước xuôi nguồn gội mái tóc em
Ngón yêu thương anh lược mềm gỡ chải
Bên gương tình soi bóng một chiều êm

Anh về với dòng sông nhìn nhánh cạn
Chia nỗi niềm ra từng bến trăm năm
Em nhón gót chân trần nghe cát sỏi
Thì thầm nhau đợi con nước trăng rằm

Anh về với ngày mưa nhìn bão dậy
Buồn hai tay chống đỡ mãi cơn giông
Trong tia mắt bỗng dưng hồn rực cháy
Em cười lên môi nở một cánh hồng.

Anh cắm cánh hồng vào ly nước lọc
Thấy tình em trong vắt ánh bình minh.

Qphan .VA 4/18/10.

Ba phép mầu

Một em bé may mắn gặp bụt. Bụt nói:

-Ta có 3 phép mầu. Phép mầu thứ nhất chứa trong cái túi thần. Khi nào cần tiền cứ mở túi lấy. Bao nhiêu tiền cũng có và lấy mãi cũng không bao giờ hết. Phép mầu thứ hai là quyển sách thần. Chỉ cần mở sách ra xem, trí tuệ sẽ minh mẩn, nhớ dai học giỏi. Phép mầu thứ ba là trái tim vàng. Ai giữ nó sẽ biết thương yêu mọi người, mọi thứ và mọi ngày trong đời. Người ấy sẽ luôn vui tươi, hạnh phúc. Ta sẽ tặng cho con một trong ba món ấy. Vậy con chọn món nào?

Em bé ngần ngừ một lúc vì món nào cũng quý cả. Thế nên em xin bụt cho em ba hôm để suy nghĩ. Bụt nhận lời rồi biến mất.

Chiều hôm thứ nhất,, em gặp một tỷ phú ngồi hóng mát bên bờ sông. Em lại gần và hỏi phú ông:

-Thưa phú ông, Một người giàu có như ông có khi nào buồn không vậy?

Phú ông nhìn em một lúc rồi chầm chậm đáp:

-Ta chỉ có tiền thôi và chẳng còn gì cả. Mọi người chung quanh ta, kể cả bạn bè, vợ con cũng chỉ thấy số tiền của ta và không thấy gì khác. HỌ nịnh hót ta rồi xâu xé nhau để dành được phần tiền nhiều hơn từ tay ta. Ta cô đơn lắm. Tiền nhiều không đem lại hạnh phúc

Sáng hôm sau, em gặp một vị giáo sư rất uyên bác. Em lễ phép hỏi vị giáo sư:

-Thưa thầy, thầy học rộng biết nhiều, ai cũng kính nể sự uyên bác của thầy, vậy thầy có vui không?

Vị giáo sư ngửa mặt lên trời cười chua chát và nói với em:

-Này bé ngoan, bằng tuổi con thầy chỉ thích học và chăm học. Trời cho thầy nhớ dai và sáng trí, học một hiểu mười. Suốt đời thầy chỉ biết học và luôn mơ ước phát minh ra những điều kỳ diệu giúp ích nhân loại. Thế nhưng, các phát minh ấy đã bị họ lợi dụng để gây ra chiến tranh. Họ tìm cách làm giàu và phá hoại môi trường tự nhiên… Thầy lại phải tìm cách phát minh ra những thứ có thể ngăn chận sự hủy hoại do con người gây ra. Ta mệt mỏi với chính những điều mà ta đã khám phá…

Tối hôm ấy, cả nhà lại quây quần bên nhau. Sau một ngày làm việc mệt mỏi , cha mẹ vẫn chưa được nghỉ ngơi. Cha mẹ còn phải dọn dẹp nhà cửa, chuẩn bị bửa cơm tối và chăm sóc em. Em ái ngại hỏi:

-Hôm nay cha mẹ làm việc có vất vả không?
-Ngày nào cũng vất vả cả, cha nói. Nhưng nhờ vậy cha mẹ mới kiếm đủ tiền lo cho con. Thương con và lo cho con là niềm vui của cha mẹ. Nhờ đó, mọi nhọc nhằn qua đi..
-Hôm nay con đi học vui không? Mẹ hỏi
-Dạ, con vẫn ráng học, em nói. Nhưng nhớ bài khó quá. Con làm bài chưa tốt như các bạn. Con biết làm gì cho cha mẹ vui bây giờ?
-Hãy thương yêu cha mẹ, cha em nói. Con biết thương yêu cha mẹ sẽ biết thương yêu việc học. Từ yêu thích học tập con sẽ giỏi. hãy yêu thương bạn và thầy cô. Nhờ thương yêu mọi người con sẽ vui và quên đi mọi vất vả. Khi trái tim chứa đầy thương yêu, con sẽ thành người hữu ích và hạnh phúc nhất đời.

Sáng hôm sau theo đúng hẹn, em gặp lại bụt. Các bạn đoán thử em sẽ xin bụt phép mầu nào?

16/Apr/10 11:41 AM
Viết tặng các em tự kỷ
Trần Bá Thiện