Category Archives: Nước Việt Mến Yêu

Trường ca Bini – Cham (Ariya Bini – Cam)

Chào các bạn,

Ariya Bini – Cam là một trong những thi phẩm cổ điển xuất sắc nhất của Chăm, nhưng ít được phổ biến. Nguyên tác và bản dịch Việt ngữ được Inrasara đưa ra lần đầu trong cuốn Văn học Chăm – khái luận, Nxb. Văn hóa Dân tộc, H., 1994.

Ariya Bini- Cam là hồi ký bằng thơ, ghi lại những hồi tưởng và cảm nhận của một hoàng thân Champa (thuộc tiểu quốc Chàm Panduranga, tức là Ninh Thuận và Bình Thuận ngày nay) về tình yêu của chàng với nàng công chúa đến từ Makah (tiểu bang Kelantan, Malaysia), cũng như tình yêu của chàng đối với đất nước trong bối cảnh đặc biệt của lịch sử Champa.

Cuộc tình tan vỡ, đất nước tiêu vong, Arya Bini – Cam là một tuyệt tác văn chương Chăm, thấm đẫm buồn đau và nước mắt…

Đọc bài dịch tiếng Việt ta cũng có thể nhận ra ngay dịch giả vừa là nhà thơ xuất sắc vừa là một học giả uyên thâm. Dịch giả là Inrasara (xem ảnh bên trên), tên thật là Phú Trạm, sinh 957 tại làng Chăm Caklaing – Mỹ Nghiệp, thị trấn Phước Dân, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.

Công việc đang làm của Inrasara là nghiên cứu văn hóa Chăm; làm thơ, viết văn, dịch & viết tiểu luận – phê bình văn học. Các tác phẩm của Inrasara đến nay gồm có:

Tác phẩm:

Về văn chương

– Tháp nắng – thơ và trường ca, NXB Thanh niên, H., 1996.
– Sinh nhật cây xương rồng – thơ song ngữ Việt Chăm, NXB Văn hóa Dân tộc, H., 1997.
– Hành hương em – thơ, NXB Trẻ, TP Hồ Chí Minh., 1999.
– Lễ tẩy trần tháng Tư – thơ và trường ca, NXB Hội Nhà văn, H., 2002.
– Inrasara – Thơ cho tuổi thơ, NXB Kim Đồng, H., 2003.
– The Purification Festival in April, thơ song ngữ Anh – Việt, NXB Văn nghệ, TP Hồ Chí Minh, 2005.
– Chân dung Cát – tiểu thuyết, NXB Hội Nhà văn, H., 2006.
– Chuyện 40 năm mới kể & 18 bài thơ tân hình thức, NXB Hội Nhà văn, H., 2006.
– Chưa đủ cô đơn cho sáng tạo, tiểu luận-phê bình, NXB Văn Nghệ, TP Hồ Chí Minh, 2006.
– Song thoại với cái mới, tiểu luận, NXB Hội Nhà văn, H., 2008.

Về nghiên cứu văn hóa Chăm

– Văn học Chăm – Khái luận, NXB Văn hóa Dân tộc, H., 1994.
– Văn học dân gian Chăm – Ca dao, Tục ngữ, câu đố.
+ In lần thứ nhất: NXB Văn hóa Dân tộc, H., 1995.
+ In lần thứ hai: NXB Văn hóa Dân tộc, H., 2006.
– Văn học Chăm – Trường ca, sưu tầm – nghiên cứu.
+ In lần nhất: NXB Văn hóa Dân tộc, H., 1995.
+ In lần thứ hai: NXB Văn Nghệ, TP Hồ Chí Minh, 2006.
– Từ điển Chăm – Việt (viết chung), NXB Khoa học Xã hội, H., 1995.
– Từ điển Việt – Chăm (viết chung), NXB Khoa học Xã hội, H., 1996.
– Văn hóa – xã hội Chăm, nghiên cứu & đối thoại, tiểu luận
+ In lần thứ nhất: NXB Văn hóa Dân tộc, H., 1999.
+ In lần thứ hai: NXB Văn học, H., 2003.
+ In lần thứ ba: NXB Văn học, H., 2008.
– Tự học tiếng Chăm, NXB Văn hóa Dân tộc, H., 2003.
– Từ điển Việt – Chăm dùng trong nhà trường (viết chung), NXB Giáo dục, H., 2004.

Chủ biên

Tagalau, tuyển tập sáng tác – sưu tầm – nghiên cứu Chăm (10 tập, 2000-09); Tủ sách văn học Chăm (10 tập, đã xuất bản 4 tập).

Giải thưởng chính

– CHCPI – Sorbonne (Pháp), Văn học Chăm I (1995).
– Hội đồng Dân tộc – Quốc hội khóa IX, Văn học Chăm II (1996).
– Hội Nhà văn Việt Nam, Tháp nắng (1997), Lễ tẩy trần tháng Tư (2003).
– Hội Văn học – Nghệ thuật các DTTS Việt Nam, Sinh nhật cây xương rồng (1998), Văn hóa – xã hội Chăm, nghiên cứu & đối thoại (2003), Ca dao – tục ngữ – thành ngữ – câu đố Chăm (2006).
– Giải thưởng Văn học Đông Nam Á, Lễ tẩy trần tháng Tư (2005).
– Giải thưởng sách Việt Nam, Từ điển Việt – Chăm (2006).
– Tặng thưởng Work of the Month, Tienve.org, tháng 9.2006.
– Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam, Trường ca Chăm (2006).

Chúng ta rất biết ơn Inrasara đã dịch Trường Ca Bini – Cam ra Việt văn, để chúng ta có cơ hội thưởng thức một tuyệt tác văn chương Chăm, đồng thời hiểu biết thêm về văn minh Chăm và Chiêm quốc cũ. Hãy cùng nhau hướng lòng đến các anh em Chăm của chúng ta còn lại ngày nay.

Trường ca này gồm 164 câu. Phần tiếng Việt đi trước tiếng Chăm. Trong phần tiếng Việt có một số các ghi chú. Tất cả các chú giải này đều nằm ở cuối phần tiếng Việt.

Thành thật cám ơn anh Trần Can của Balme đã chia sẻ các thông tin quý báu này.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành
.

Lên Ban Mê Đi Em

Tặng các bạn yêu Ban Mê và những ai chưa đến đó

Lên Ban Mê đi em
Nào phải đâu chỉ uống cà phê!
Tôi sẽ cùng em, hàn huyên phố quán.
Mảnh đất Bazan buồn muôn thuở
Thiên đường xanh, tâm tưởng của bao người

Mỗi lần đi xa: Sài Gòn, Hà Nội hay cả Melbourne.
Không đâu đẹp bằng phố nhỏ trong tôi.
Chiều nhẹ rơi, se lạnh nét tinh khôi.
Dễ thương quá mắt ai cười đằm thắm.

Ban Mê! hương cà phê nồng nàn say đắm.
Ban Mê! dã quỳ vàng âu yếm lối em qua.
Ban Mê! chiều sương mờ giăng câu hoài niệm.
Ban Mê! tiếng ai cười trên dốc nhỏ lao xao.

Hạnh phúc trong tôi quá đổi ngọt ngào!
Tôi yêu lắm
Ban Mê! căng đầy nỗi nhớ…

Huỳnh Huệ

Thị Trấn Trong Sương

Tam Đảo được bao bọc bởi rừng nguyên sinh với khí hậu mát mẻ, địa hình độc đáo.

Vào những năm đầu thế kỷ XX, nhà cầm quyền Pháp có ý định tìm một địa điểm trên núi cao, gần Hà Nội để xây dựng khu điều dưỡng phục vụ cộng đồng người Âu làm việc ở Bắc Kỳ lên nghỉ mát. Sau gần 3 tháng khảo sát trên dãy Tam Đảo, đội thám hiểm tìm được một cao nguyên nhỏ có địa hình lòng chảo tọa lạc trên sườn núi cao gần 1000m, cách Vĩnh Yên khoảng 20km theo đường chim bay. Đến trước 1945, người Pháp đã xây dựng tất cả 143 biệt thự lớn, nhỏ tại Tam Đảo. Các biệt thự được xây bằng đá khai thác tại chỗ, nằm cách biệt men theo sườn núi, không trùng lặp về kiểu dáng thiết kế và được chủ nhân đặt những tên gọi lãng mạn như Đường Chân Trời, Belle Vue… Hầu hết các biệt thự có tường được xây bằng đá dày 60 – 120cm, một số nhà được xây dựng bằng gạch, mái lợp đá mỏng Acđoa được chở đến từ Toulouse, Marseille; nội thất được bố trí lò sưởi, có bể bơi, phòng khiêu vũ, hầm rượu…

Năm 1947 do phải thực hiện tiêu thổ kháng chiến, làm vườn không nhà trống ngăn chặn địch lên đánh đồn ở đỉnh Tam Đảo, ta đành phải phá bỏ khu nghỉ mát. Kháng chiến tháng lợi, hòa bình lập lại ở miền Bắc, Nhà nước ta bắt đầu phục hồi khu nghỉ mát. Điều kiện kinh tế con khó khăn, ta mới làm được một số nhà nghỉ mát bằng gỗ thép; kiến trúc kiểu nhà sàn dân gian miền núi của ta, có dáng dấp nhà nghỉ dưỡng trên núi của châu Âu, trang nhã, hài hòa với cảnh vật rừng núi xung quanh…

Cho tới nay, càng ngày khu nghỉ mát Tam Đảo càng được xây dựng với tốc độ nhanh hơn, với nhiều công trình to lớn và đẹp hơn.

Source: ThoiTrangTre Magazine

THE TOWNLET IN FOG

Tam Dao is framed by primeval forests, along with its cool climate and unique topographies.

In the beginning years of the XX century, French authorities wanted to seek for a location in high mountains, nearby Hanoi to build a retreat zone serving the European community of expats who worked in Vietnamese Tonkin and would go up there for vacation. After the three months investigating the Tam Dao Ranges, the exploration group found a small plateau with the terrain of hollowness, located on a hillside at its elevation of about 1000m, 20km away from the northern city of Vinh Yen, measuring a straight line. Before 1945, the French built a total of 143 villas of small and big sizes in Tam Dao. The villas were made of rocks mined on the premises lay isolated along hillsides, without repetiting architectural styles; and their owners gave them romantic names such as L’Horizon, Belle Vue… Most of them had walls made of rocks of 60 – 120cm in thickness while some was made of bricks and roofed with thin rocks imported from Toulouse, Marseille; and the interiors were equipped with fireplaces, swimming-pools, ballrooms, wine-cellars…

In 1947, due to the scorched-earth policy for the anti-French resistance–making gardens and houses empty in order to prevent enemies from attacking the military posts in Tam Dao, the Vietnamese side had to ruin the resort. After winning the war and restoring peace in the North, our State started restoring it. Because of economic difficulties, we just built a few resort houses from wood and steel and designed them in the style of our hill-tribe traditional stilt-houses, resembling a bit of mountainous European retreat villas, elegant and harmonious with surrounding forest vistas…

Up till now, the resort of Tam Dao has been built more and more at a faster speed, with large numbers of bigger and more charming buildings.


Quan Jun translated

Múa Rối Nước

Chào các bạn,

Hôm nay mình giới thiệu đến các bạn một slideshow mới hoàn thành với các hình ảnh thật dễ thương, về nghệ thuật rối nước cổ truyền của nước ta.

Múa rối là một nghệ thuật khắp nơi trên thế giới, với nhiều hình thức khác nhau. Nhưng rối nước, có từ khoảng thế kỷ thứ 12, có lẽ là môn nghệ thuật rất đặc biệt của Việt Nam. Ngày nay, nói đến văn hóa đặc trưng của Việt Nam, khó mà quên nói đến rối nước. Thăm Việt Nam mà không thăm rối nước thì cũng như đến Việt Nam mà bỏ qua Vịnh Hạ Long.

Ngoài các hình ảnh và hoạt động của các con rối, âm nhạc trong rối nước cũng là âm nhạc truyền thống Việt Nam với các nhạc cụ và bài bản cổ truyền–chèo, lý, quan họ, ả đào… Thật là một di sản văn hóa lớn của chúng ta.

Mời các bạn click vào ảnh sau đây để xem sidleshow và download.

Chúc các bạn một ngày múa rối 🙂

Bình an và Sức khỏe,

Túy-Phượng
.

Mùa Đông Phố Nhỏ


Ban Mê gió nhẹ bước vào đông

Trời đã ngủ quên ánh nắng hồng

Mưa phùn lất phất mềm lối cỏ

Phố nhỏ thơm nồng tách cà phê

Ban Mê giấu nắng để vào đông

Lữ khách đường xa xuyến xao lòng

Cái lạnh nhẹ nhàng như quyến rũ

Dệt ủ hương nồng giọt cà phê

Ban Mê phố nhỏ bước vào đông

Nắng ở mắt ai ấm cõi lòng

Góc phố thân quen dù mới gặp

Nhẹ từng giọt đắng, ngọt ngào rơi

Tách cà phê ấm đã dần vơi

Uống cạn bao lời trao thiện mỹ

Uống vơi tay ấm đón an bình

Uống say nốt nhạc ngày không nắng

Ban Mê giấu nắng bước vào đông

Phố nhỏ trong tôi mãi ấm nồng…

Minh Tâm

Di sản Thế Giới – Phố Cổ Hội An

Chào các bạn,

Phố Cổ Hội An PPS là slideshow cuối trong series năm slideshows Di sản Thế giới về cảnh quan của nước ta trong danh sách Di sản Thế Giới (về cảnh quan) của UNESCO: Phong Nha-Kẻ Bàng, Cổ Thành Huế, Thánh Địa Mỹ Sơn, Vịnh Hạ Long, và Phố Cổ Hội An.

Hội An là một cảng xa xưa của Chiêm quốc. Đến thế kỷ 16 Nguyễn Hoàng biến Hội An thành một cảng quốc tế cho các thương thuyền và chiến thuyền các nước lân cận. Đến thế kỷ 17 Hội An đã trở thành một trong những cảng phồn thịnh nhất Đông Nam Á, đặc biệt tiện nghi cho các thuyền từ Nhật, Trung Quốc, Ấn Độ, và cả Trung Đông.

Khi nhà Thanh chiếm nhà Minh ở Trung quốc, một số người nhà Minh về phương Nam tị nạn và lập nghiệp tại Hội An, mang đến cảng này một nền văn hóa Trung Hoa rất mạnh, tồn tại cho đến ngày nay.

Hội An với tất cả các nét cổ truyền còn lại là gương mẫu cho việc bảo trì văn hóa của một thành phố cổ trong thế giới nhiều thay đổi hiện nay.

Nhạc nền cho slideshow này là Tì Bà Khúc, dùng một nhạc cụ chính trong nhạc cổ truyền Trung Hoa.

Mời các bạn click vào ảnh dưới đây để xem slideshow và download.

Chúc các bạn một ngày hoài cổ.

Bình an & Sức khỏe,

Tuý-Phượng
.

Di sản Thế giới – Vịnh Hạ Long

Chào các bạn,

Vùng Biển Rồng Đáp này thì rất khó để giới thiệu với các bạn, vì như thế thì chẳng khác gì với thiệu ông chú với bà thím. “Chào chú, giới thiệu với chú, bà này là vợ chú đấy.” Đôi khi cũng có thể phải làm thế thật. 🙂 Nhưng Vịnh Hạ Long thì chắc là không cần.

Nét hùng vĩ và kỳ bí của Vịnh Hạ Long thật là có một không hai trên thế giới. Dù là Vịnh Hạ Long có dự phần trong hai cuốn phim lớn, Indochine và Tomorrow Never Dies (James Bond 007), hai cuốn phim này chẳng làm nên công lý cho Hạ Long. Thực sự là phải ngồi bập bềnh giữa trời biển núi bao la ấy, ta mới cảm nhận được nét tuyệt mỹ cùa Hạ Long và tính vô tận của trời đất.

Mình mới làm xong PPS Vinh Hạ Long, với nhạc nền là bản Hải Đảo Xa Xôi (Distant Island) của Deuter. Post đây để chia sẻ với các bạn.

Xin các bạn click vào ảnh dưới đây để xem slideshow và download.

Chúc các bạn một ngày hùng vĩ.

Bình an & Sức khỏe,

Túy-Phượng
.

halong

Hà Nội Phố, Hà Nội Mùa Đông!

Chút gió heo may về mang theo hơi hướng của một mùa đông Hà Nội sắp bắt đầu. Thu còn chần chừ, vấn vương chia tay trong hương cốm man mát, hương hoa sữa nồng nàn, ngây ngất phố, trong màu nắng vàng tươi như mật ong. Đông ngập ngừng với những cơn gió mùa đông bắc đầu tiên, lẫn vào từng cơn mưa, mưa lá bay đầy trời, kéo theo cái lạnh của khoảnh khắc giao mùa, vừa đủ cho những đôi tình nhân tìm hơi ấm tay trong tay bên nhau.
hanoi1

Lập Đông, Hà Nội có gam màu và hương vị say đắm là lạ. Màu vàng, đỏ của nắng, của lá cây, hương phố tỏa ra từ những hàng quà mùa Đông dọc vỉa hè…Tất cả những điều thi vị đó mang cho những người con xa Hà Nội một nỗi nhớ khó tả. Không ồn ào náo nhiệt như mùa Hè, không nồng nàn say đắm như mùa Thu, không tươi trẻ đầy sức sống như mùa Xuân, Đông Hà Nội mang chút lạnh lùng nghiêm nghị nhưng cũng không kém phần đáng yêu và duyên dáng giống như những nàng thiếu nữ Hà Nội vậy.

Hồ Gươm ngày Đông, mặt nước phẳng lặng, soi bóng Tháp Rùa cổ kính và những cành cây khẳng khiu, trụi lá. Lá đã theo gió đi cùng mùa Thu, dành lại cành trơ khấc cho mùa Đông.
hanoi2
Nắng không đủ rực rỡ, chỉ vừa đủ để làm hồng đôi má của ai đó. Những con đường với những rặng cây đang thay sắc lá. Thỉnh thoảng vài chiếc lá còn sót, rơi xuống trông giống như một vạt nắng vàng lấp lửng giữa khoảng không. Những chùm quả bàng chín vàng ửng, treo lủng lẳng trên cành, những bông hoa điệp còn vương lại, những cành cây cơm nguội rung rinh trong gió có vẻ như không muốn rời đi theo mùa, làm cho cái màu xám đặc trưng của mùa Đông được giảm bớt. Nhờ đó ta vẫn thấy ấm áp trong cái lạnh của gió, của không khí khi bắt gặp Đông trên phố.


“…Hà Nội mùa này chiều không buông nắng

Phố vắng nghiêng nghiêng cành cây khô

Quán cóc liêu xiêu một câu thơ

Hồ Tây, Hồ Tây tím mờ…”

hanoi3

Hồ Tây sương phủ mờ, con đường Cổ Ngư hôm nay dường như cũng có chút khác lạ. Rộng hơn, lạnh hơn, không còn những đôi tình nhân sóng sánh bên nhau dạo bước dưới nắng chiều. “…Đường Cổ Ngư xưa chầm chậm bước ta về…” .

Hà Nội Đông về còn quyến rũ lòng người bởi những món ăn rất riêng. Đó là ngô nướng, ốc luộc và quẩy nóng chiên giòn.

Những bắp ngô nếp còn non, vừa mới được trẩy về từ bãi giữa cầu Long Biên, ven sông Hồng. Bóc lớp áo lá xanh mướt bên ngoài, ta bắt gặp những hạt ngô trắng ngần, bóng mịn, còn căng sữa. Đem quạt nướng trên than hồng chừng mươi phút sẽ cho chúng ta những bắp ngô nướng ngọt dẻo thơm bùi, ngon phải biết…Ngô nướng quyến rũ thực khách bằng hương thơm riêng biệt, mùi thơm của hương đồng gió bãi, của phù sa hào phóng. hanoi4-ngôNgô nướng chỉ sinh ra vào đúng mùa này, đúng khoảng khắc này khi cái se se lạnh của heo may bủa vây quanh ta, khi màn đêm biến chậu than hồng trở nên lung linh huyền ảo. Ai cũng muốn ngồi gần chậu than hơn chút nữa, những đôi má ửng đỏ, những cặp mắt long lanh xúm quanh người quạt ngô, những câu chuyện không đầu không cuối, những tiếng xuýt xoa trong tà áo mỏng, âm thanh lép bép của lò than…tạo nên một không gian ấm cúng kỳ lạ, hòa quyện vào không khí chờ đợi thơm mùi ngô nếp. Cầm bắp ngô nướng chín nóng hôi hổi trên tay, ta có cảm giác hơi ấm lan truyền từ tay vào từng đường gân thớ thịt. Cẩn thận tách từng hạt, từng hạt, nhẹ nhàng bỏ vào miệng, nhẹ nhàng nhâm nhi như sợ cái vị ngon ngọt ấy tan nhanh đi mất.

Sẽ là thiếu sót nếu ta bỏ qua món quẩy nóng.
Mặc dù chỉ mới qua mấy trận gió mùa mà đâu đó bên những vỉa hè, cổng trường đã xuất hiện hàng quẩy nóng với mấy cái ghế, cái bàn con sơ sài cùng chảo mỡ to đùng. Đây là món ăn dân dã và rất rẻ. Ta có thể bắt gặp trên phố rất nhiều hàng quẩy nóng nhưng nổi tiếng nhất vẫn là quẩy ở các phố như Cửa Nam, Phan Bội Châu, Quán Thánh, Thụy Khuê. hanoi5-quay
Quẩy ở phố nào cũng giống nhau, nhưng điều để thu hút thực khách và làm cho món quẩy của quán mình trở nên nổi tiếng thì bắt buộc người chủ phải có nước chấm ngon. Chua ngọt của dấm đường, se cay đầu lưỡi của ớt tươi, mặn dịu của nước mắm và không thể thiếu những lát đu đủ hay cà rốt thái mỏng. Một đĩa quẩy nóng, chấm với nước chấm chua ngọt, thêm chút tương ớt… Chao ơi mới hấp dẫn làm sao.

Có ngô nếp nướng, quẩy nóng giòn, sao ta có thể quên ốc luộc được chứ! Những con ốc béo ngậy được làm sạch sẽ, luộc với lá chanh, sả và một chút gia vị ta có được món ốc ngon tuyệt. Cũng giống như ăn quẩy, ốc ngon một phần nhờ nước chấm, mỗi quán có một cách pha nước chấm riêng, khiến người ăn không thể nhầm lẫn. Nhẹ nhàng xoắn ruột ốc ra khỏi vỏ, rồi nhẹ nhàng nhấn chìm vào nước chấm, mùi vị chúng hòa quyện vào nhau, ngọt ngào biết mấy. Đêm mùa Đông, ngồi xì xụp húp bát nước ốc, uống rượu trong hơi men, xích lại gần nhau nói đủ thứ chuyện, những con ốc như kéo gần khoảng cách mỗi người.hanoi6-oc

Cứ vẩn vơ, mơ màng với cây, với lá, với quà phố Hà Nội trong cái lạnh ngọt ngào còn vương chút thu, dạo bước qua những con đường lá rụng ngập đầy lối đi, dễ khiến hồn ta bay bổng theo từng cơn gió. Đông ơi, chào mi nhé. Mi về đây để ta có thể diện những chiếc khăn len ấm áp, để ta có thể thưởng thức một tách cafe nóng trong quán quen, để ta có thể hít hà cái lạnh giá của sương sớm…

Thi thoảng ta tự tạo cho mình cảm giác nhớ, để lại được mơ màng trong những dư âm cùng giá rét, nơi biến ta thành kẻ mộng mị sống cùng kí ức với niềm dấu yêu dành cho Hà Nội. Hà Nội mùa Đông với mái ngói rêu phong, với cây bàng trụi lá thân sẫm trong sương mờ. Hà Nội mùa Đông với thấp thoáng phố xá ánh đèn, quán cóc vỉa hè, tiếng rao vẳng phố khuya…để lại từng nỗi niềm yêu thương mong nhớ hoài cảm.
hanoi7

Và ta thấy lòng chùng xuống như khi nghe một giai điệu quen thuộc và vọng trong ta một khúc ca Hà Nội phố:

“Em ơi Hà Nội phố

Ta còn em mùi Hoàng Lan

Ta còn em mùi hoa sữa

Con đường vắng rì rào cơn mưa nhỏ

Ai đó chờ ai tóc xõa vai mềm

Ta còn em cây bàng mồ côi mùa đông

Ta còn em góc phố mồ côi mùa đông…”

Nguyễn Thanh Mai
Leo_pretty

Hồi Ký của Y Ngông Niê Kdăm

Thấy quyển hồi ký của ba chị Linh Nga, bác Y Ngông Niê Kdăm, rất hữu ích cho chúng ta để hiểu biết thêm về đồng bào Tây Nguyên trong chiến tranh và cách mạng, đồng thời biết thêm về một chiến sĩ cách mạng và biết thêm về bạn quý Linh Nga của chúng ta, mình xin phép chị Linh Nga post lên Đọt Chuối Non. Ảnh trong hồi ký là ảnh minh họa của mình. Hy vọng mai mốt chị Linh Nga có thể cho chúng ta các bức ảnh liên hệ đến bác để chúng ta thay thế ảnh minh họa.

Cám ơn chị Linh Nga rất nhiều !

Hoành

.

    Ba tôi có hai lần viết hồi ký . Cuốn ” Khát vọng Tây Nguyên” do nữ nhà báo Diệu Ân ghi, Nhà xuất bản VHDT phát hành năm 1994, không được ông ưng ý lắm. nên Mẹ tôi, bà Bùi Thị Tân đã một lần nữa ghi lại. Đó chính là bản này , chân thật hơn.

      (Linh Nga Niê Kdăm)

.

Nguyên bản của Y NGÔNG NIÊ KDĂM

    “ Bạn ơi lắng nghe, nghe tiếng núi rừng
    Dòng suối xanh trong đất nước anh hùng
    Bền vững như non cao như dòng sông Ba”

Đó là câu mở đầu của một bài hát về Tây nguyên do nhạc sĩ Trần Quý sáng tác, nó có vẻ hư cấu, nhưng là một bài hát nổi tiếng ca ngợi quê hương Tây Nguyên tươi đẹp. Với những người Tây Nguyên như chúng tôi, khi nghe lời ca đó đều có một tình cảm rạo rực, xúc động trong lòng.Tôi rất thích và thường hay cất lên lời ca này, mỗi khi nhớ về Tây Nguyên.
BMT6
Tây nguyên bao la hồi xưa với rừng già còn lút mắt, thú rừng chim đẹp, nhiều vô kể. Ngay ven những con đường là rừng cây to hằng mấy người ôm. Rừng cây đã nuôi sống, che chở và bảo vệ cho các tộc người sống rải rác trên cao nguyên đất đỏ bazan mênh mông.

Thực dân Pháp sau khi bình định các tỉnh miền xuôi đã len lỏi tới rừng núi cao nguyên này. Chúng đã bị một số tù trưởng người dân tộc, như Săm Brăm, N’Trang Lơng, N’Trang Gưh, Ama Djao….liên kết chống trả ác liệt.Dù với đủ chính sách, cả cứng rắn, mềm dẻo đều có, nhưng hầu như chúng không thể nào khuất phục nổi lòng người Tây nguyên.

Mặc dầu họ rất nghèo vì còn hoàn toàn phụ thuộc vào đời sống tự nhiên, kỹ thuật canh tác quá thô sơ, hàng năm phải vài tháng đào củ rừng bổ xung cho bữa ăn, nhưng người Tây Nguyên vẫn sống rất thoải mái giữa núi rừng bao la hùng vĩ, đất rộng người thưa.

Mẹ đã sinh ra tôi trong bối cảnh đó, vào lúc gà gáy sáng ban mai ngày 13 – 08 – 1922 tại buôn Ea Sup, xã Kma Rang Prong – nay thuộc thị trấn Ea Pok, huyện Cư Mgar, tỉnh Đăk lăk. Thật ra người Êđê chỉ biết tính tuổi theo mùa rẫy, nhưng sau này đi học theo trường Pháp, họ gọi bố mẹ hỏi cặn kẽ, rồi tính ngược lại để lập giấy khai sinh cho chúng tôi.

Người Êđê chúng tôi ở Đăk lăk có 2 dòng họ lớn Niê và Mlô.Từ 2 dòng tộc chính này toả ra 24 nhánh họ. Niê kdăm đứng đầu dòng họ Niê, Mlô Duôn Du đứng đầu dòng họ Mlô. Mẹ tôi thuộc dòng họ Niê kdăm, một dòng họ từ xa xưa có nhiều tù trưởng giàu có, hùng mạnh( vì theo truyền thuyết thì khi lên khỏi mặt đất, các dòng tộc khác đã chia chác, lựa chọn hết những vật có sẵn, người trưởng họ Niê kdam giận dỗi đạp mạnh chân lên mặt đất, nói “ tất cả đất này là của Niê kdam”). Nhưng tới thời thuộc Pháp người Êđê nghèo dần. Sau Cách mạng Tháng 8, chế độ tù trưởng cũng đã không còn nữa. Tôi mang họ Niê kdăm của mẹ theo đúng luật tục mẫu hệ Êđê.

Mẹ đã sinh tôi trong cảnh đói nghèo, chỉ có 2 anh em trai: tôi và Y Wung . Bố đẻ tôi đã ốm chết ở buôn Dhăh sau chuyến đi phu ở đồn điền cafe Cư H”lâm của chủ Tây. Lúc đó tôi chưa biết gì. Sau này mẹ tôi đi bước nữa, sinh thêm được 4 em nhưng chết 2, chỉ còn 2 cô em gái là H’Reo và H’Droh ( hiện đang ở buôn Ea Sut, thị trấn Ea Pok, huyện Cư M”gar, tỉnh ĐL).Bố dượng tôi rất tốt, ông đã nuôi và dạy dỗ chúng tôi như người cha đẻ. Những năm hai anh em tôi đi học ở trường tiểu học Pháp- Đê , ngày nghỉ, dượng thường lên đón chúng tôi về buôn Sut.Y Wung nhỏ tuổi hơn, luôn được dượng cõng trên lưng.Còn tôi ỷ mình lớn, tự hào được chạy theo chân cha suốt dọc đường gần 20km từ trường về buôn. Có cả cha và em luôn bên cạnh, tôi đâu có sợ.

Gia đình tôi thường xuyên đói, năm nào cũng ăn củ rừng thay cơm. Có một lần khi mới 5 tuổi, mẹ đã cho tôi đi theo cùng với em trai địu sau lưng, vào rừng đào củ mài. Rễ củ ăn quá sâu, mẹ cứ đào mãi, đào mãi, mồ hôi vã ra như tắm. Vừa mệt vừa đói, mẹ tôi ngã chúi xuống hố.Hai anh em tôi cùng kêu khóc gọi mãi nhưng chẳng thấy mẹ nói gì. Tôi vô cùng sợ hãi, sức nhỏ yếu không kéo được mẹ lên, chỉ biết ôm chân mẹ mà khóc. Mãi sau có dân làng cũng đi rừng về nghe tiếng khóc mới chạy đến dìu mẹ lên và dắt chúng tôi về.

Những năm tháng đó thật khủng khiếp (1927), bọn Pháp vây ráp, dân đói khát, bệnh tật, không gạo, không muối, không có quần áo. Vì tù trưởng Ama Djao bất hợp tác với Pháp, nên bọn chúng chặn luôn cả đường buôn bán từ miền xuôi lên, nên càng thiếu muối ăn. Nhiều người già, trẻ em chết gục ngoài rừng. Tình hình Tây nguyên hết sức rối ren, cảnh đói cơm lạt muối, chết chóc thảm thương càng khắc sâu mối thù của người Tây nguyên với giặc Pháp.

Không chịu ngồi im để nhìn đồng bào chết dần chết mòn, một số tù trưởng đã tổ chức nhân dân nổi dậy chống lại chế độ hà khắc của giặc Pháp. Bọn Pháp truy quét gắt gao các tù trưởng để ngăn chặn làn sóng đấu tranh của nhân dân. Có thể nói năm 1929 là năm đói nhất. Thực dân Pháp càng tổ chức bắt bớ, nhân dân càng thấy rõ bộ mặt dã man của chúng, lại càng căm thù và cương quyết không chịu theo. Pháp đến, dân bỏ đi, chỉ cần trên vai có cái gùi, con dao và ít muối. Đối lại, thực dân Pháp dùng chính sách vừa đàn áp, vừa dụ dỗ. Để phô trương chính sách khai hoá văn minh của nhà nước bảo hộ, chúng mở ra tại Buôn Ma Thuột một trường nội trú dân tộc với tên là : “Groupe Scolaire Franco – Rhadé” – Trường tiểu học Pháp – Đê, do Legale làm hiệu trưởng. Học sinh do lính đi càn ở các buôn làng bắt về.

Khi đó tôi mới 7 tuổi, hôm ấy đang say sưa nô đùa với các bạn trong làng vào ngày lễ cúng Yang bến nước. Bên bờ suối mọi người đang đánh chiêng, uống rượu cần thì một trung đội lính khố xanh người dân tộc thiểu số do một tên Pháp dẫn đầu kéo tới. Chúng bảo chủ làng : Theo lệnh quan công sứ phải bắt trẻ con từ 6 – 7 tuổi về Buôn Ma Thuột đi học.

Nghe thấy vậy chúng tôi chạy toán loạn vào rừng, trèo lên các cây to, cây nhỏ trốn. Tôi và một số bạn trèo lên một cây cam to. Bọn lính ngồi uống rượu, bắt chủ làng khai tên bọn trẻ con 7 tuổi trong buôn và doạ :

– Ai không gọi con về thì cha mẹ sẽ bị bắt, khi nào nộp con mới được về.

Qua một đêm một ngày. Bọn lính lùng sục không tìm được ai, nhưng chúng tôi đói quá phải rủ nhau về nên bị bắt một loạt. Bố mẹ chúng tôi phải mang quần áo đưa con về Buôn Ma Thuột.Tôi và em trai Y Wung cũng ở trong số này.Suốt một năm đầu bố dượng tôi phải theo lên khu nội trú dắt chúng tôi đi học, vì chúng tôi bé quá, đi ăn cơm cũng chưa biết chỗ.Những năm sau tôi học được loại khá, nhưng do nhớ nhà nên hay trốn về. Chính quyền tỉnh bắt gíam dượng tôi 3 tháng, sau đó anh em tôi thương dượng quá mà không dám trốn về nữa. Học được mấy năm, lên lớp 4, 5 tôi luôn là học sinh giỏi.Vào các ngày chủ nhật được ra phố chơi, chúng tôi thường gặp các đoàn tù ở nhà đày Buôn Ma Thuột đi lao động quét đường, cắt cỏ. Họ mặc áo xanh có số đeo sau lưng, có lính khố xanh canh gác. Bọn chúng tôi thắc mắc lắm, về trường hỏi thầy giáo :

– Thầy ơi ! Các ông kia quét đường lại có lính gác, họ có tội gì đấy ?

Thầy giáo nói nhỏ :

– Đó là Cộng sản bị Pháp bắt tù đấy

– Vì sao họ bị tù ?

– Đó là những người yêu dân, yêu nước, chống lại bọn Pháp. Vì chúng nó bắt dân ta làm nô lệ, bắt đi xâu, làm cu li đồn điền trồng cao su, cafe cho chúng.

Tôi nghĩ trong đầu : “Bố mình cũng phải đi phu đồn điền, không mang gì về cho gia đình mà mẹ còn phải tiếp tế cho bố. Nó chơi ác cả với bố mình và gia đình mình rồi”

Dần dần thầy giáo bí mật giảng giải cho chúng tôi biết như thế nào là yêu nước. Tôi còn nhớ đó là các thầy Đào Tử Chí, thầy Phú…Năm tôi 15 tuổi, cả trường có chừng 600 học sinh, chúng cho học thì ít, bắt lao động thì nhiều. Sáng học, chiều nuôi bò, nuôi heo, chủ nhật đi vào rừng lấy củi. Thấy cuộc sống gò bó, căng thẳng, có một số học sinh rủ nhau trốn học nhưng bị bắt lại. Tôi rủ một số bạn học sinh lớn tuổi lên gặp thầy hiệu trưởng Legale xin ông cho giảm giờ lao động, tăng giờ học. Hiệu trưởng đồng ý, nhưng từ đó tôi bị nhà trường theo dõi.
BMT7
Khi học hết cấp I, tôi tốt nghiệp loại giỏi và được chọn đi học nội trú cấp II ở trường trung học Quy Nhơn cùng một số anh em khác như Y Nuê (sau này là giáo sư bác sỹ Ái Phương ), Y Tlam (sau này cũng là giáo sư y khoa ), Nay Phin ( sau là đại biểu quốc hội tỉnh Gia Lai ).Từ năm 1937 – 1940 tôi học ở đây cùng các bạn Tây nguyên và người Kinh. Vì còn ít tuổi lại cùng ở xa nhà nên chúng tôi rất dễ quen nhau, thương nhau không kể người Kinh, người dân tộc. Bạn thân của tôi lúc đó là anh Võ Đông Giang, người Kinh, ngồi cùng bàn ( sau này anh giữ chức bộ trưởng Bộ Ngoại giao trong chính phủ ). Bọn Pháp không cho chúng tôi nói tiếng Kinh, không được mặc trang phục và học cách giao tiếp của người Kinh, không được yêu người Kinh. Không được học lịch sử dân tộc Việt Nam, chỉ được học lịch sử nước mẹ mẫu quốc. Tôi rất thắc mắc, tôi thấy người Kinh có nhiều cái hay cần phải học hỏi. Sao lại phải cấm ? Bọn học sinh chúng tôi vẫn bí mật học nói, học viết tiếng Kinh.

Lúc đó trong trường có một số thầy giáo và học sinh có tinh thần yêu nước. Các thầy thường giảng giải cho chúng tôi về lòng yêu nước, yêu đồng bào, yêu quê hương, căm thù bọn Phâp cướp nước. Nhờ đó tôi đã dần dần hiểu và biết mình chỉ là người dân nô lệ bị khinh miệt mà thôi. Tôi thấy thương đồng bào mình hơn. Nhưng cũng vì sự hiểu biết này mà tôi đã bị liệt vào loại học sinh bị theo dõi. Do đó tôi không được thi tốt nghiệp.Công sứ Pháp đã nói với tôi, giọng đe doạ :

– Mày học đòi người Kinh và tham gia chính trị, không được học nữa.

Continue reading Hồi Ký của Y Ngông Niê Kdăm

Chợ Phiên Cán Cấu

Những ai đã từng có cơ hội đặt chân lên mảnh đất Lào Cai, đã từng có cơ hội được tham dự những phiên chợ vùng cao, đều đọng lại trong tâm trí những kỷ niệm không thể quên về những phiên chợ họp trên núi.
cancau1
Chợ Cán Cấu là một trong những phiên chợ như thế, mới nghe cái tên thôi cũng đã hứa hẹn cho chúng ta nhiều điều thú vị. Cái tên thật lạ. Hỏi vì sao lại có tên gọi là Cán Cấu thì có người giải thích rằng : “Cán Cấu có nghĩa là vừa cắn vừa cấu”

Chợ phiên Cán Cấu thuộc địa phận xã Cán Cấu, huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai. Cách thành phố Lào Cai gần 100km, cách thị trấn Bắc Hà, huyện Bắc Hà gần 30km. Từ thành phố Lào Cai, xuôi theo quốc lộ 4D, du khách sẽ đến xã Phong Niên, huyện Bảo Thắng.Tiếp tục xuôi theo tỉnh lộ 153, qua trị trấn Bắc Hà, du khách sẽ đến được với phiên chợ đặc biệt, phiên chợ Cán Cấu.

Khi những làn sương đêm vẫn còn đọng lại trên sườn núi, khi nhưng tia nắng đầu tiên vừa le lói, thì người dân tộc từ các buôn làng đã rủ nhau cùng tới chợ.
cancau2
Con đường lên núi thơ mộng trong vạt nắng vàng rực rỡ, ẩn hiện trong màn mây trắng, hôm nay dường như lại càng đẹp hơn, rộn rã hơn bởi sắc mầu của muôn vàn chiếc váy xòe hoa dập dìu.

Bạn có thể đi bộ, leo núi như những người dân bản xứ để lên chợ, hoặc đôi chân bạn chưa đủ dẻo dai để vượt dốc, thì lúc này xe ôm là phương tiện hữu hiệu nhất. Với tốc độ như bay, chỉ trong vòng 20 phút, bạn sẽ được các “xế ôm” đưa tới chợ Cán Cấu. Chợ họp vào mỗi thứ bảy hàng tuần. Chợ họp trên ngọn đồi thoai thoải cạnh đường xe. Lán trại sơ sài mang tính hoang dã của núi rừng.

Một phiên chợ hoàn toàn của người dân tộc, mang nhiều nét văn hóa của các dân tộc Mông Đen, Mông Đỏ, Mông Hoa, Giao, Tày…Người bản xứ thường đi bộ hoặc thồ hàng bằng ngựa. Họ mang tới chợ những đặc sản của dân tộc mình, hàng dệt thổ cẩm, nông sản, gia súc…Chợ phiên là nơi mọi người có thể mua và bán đủ các thứ mà không cần phải xếp loại hay theo khuôn mẫu nào. cac cau 3Bạn sẽ dễ dàng tìm được những món quà lưu niệm nhỏ xinh bằng chất liệu thổ cẩm được làm thủ công. Nếu bạn thích, bạn có thể sắm sanh cho mình một vài chiếc váy rực rỡ sắc màu, mang về xuôi làm điệu cùng bạn bè, rất độc đáo.

Chợ không chỉ là nơi bày bán hàng hóa, đó còn là nơi hẹn hò của các đôi nam thanh nữ tú. Là nơi những cô thiếu nữ dân tộc xinh xắn tìm cho mình người thương. Những cô gái miền sơn cước mang một nép đẹp rất riêng, rất lạ. Nắng hanh hanh làm ửng hồng đôi mà càng tăng thêm phần duyên dáng của họ.
cancau4
Mỗi cô đều mang một vẻ đặc trưng của dân tộc mình, tạo nên những sắc màu của phiên chợ vùng cao.

Bạn có biết đây là gì không? Đó là xôi tím, món ăn đặc sản của chợ phiên Cán Cấu. Xôi được nấu từ một loại gạo đặc biệt của người dân tộc nên có màu tím. Ăn rất ngon và thơm. Nếu đã đi chợ Cán Cấu mà không ăn xôi tím thì bạn mới chỉ được thưởng thức một nửa hương vị Cán Cấu mà thôi.
xoitim

Đến với chợ phiên Cán Cấu, ngoài việc mua bán, trao đổi hàng hóa, người Mông nơi đây và du khách phương xa còn có mục đích giao lưu văn hóa, gặp gỡ, tâm tình. Những chàng trai cô gái gương mặt hồ hởi, tạo nên không khí vưi tươi như ngày hội. Phiên chợ kết thúc, mọi người cùng ra về trong sự tiếc nuối, sự ước mong cho thời gian qua mau để lại được gặp nhau ở phiên chợ lần sau.

Đứng dưới chân núi và phóng tầm nhìn lên cao, chợ Cán Cấu giống như những bậc thang rực rỡ bởi váy áo và hàng hóa của bà con dân tộc. Nhìn từ trên cao xuống, lại thấy chợ như những bông hoa ngũ sắc, nằm lọt giữa những ngọn núi hùng vĩ của xứ Si Ma Cai. Khung cảnh ở Cán Cấu từ bao năm nay vẫn giữ nguyên được dáng vẻ hoang sơ trong trẻo vốn có. Nét hoang sơ đó cũng chính là sức hấp dẫn khó cưỡng đối với ai yêu thích vẻ đẹp thiên nhiên của núi rừng Tây Bắc Việt Nam.

Nguyễn Thanh Mai ( Leo_pretty)
11 -2009

Di sản Thế giới – Thánh Địa Mỹ Sơn

Chào các bạn,

Champa đã từng là một vương quốc hùng tráng, với bao đền đài lăng tẩm đẹp đẽ nguy nga của một thời hoàng kim tráng lệ, ngày nay còn để lại vết tích, dù chỉ là những vết tích phế hoang đã mai một cùng năm tháng. Thánh Địa Mỹ Sơn đã là niềm hãnh diện của Chiêm quốc, và hẳn vẫn là niềm hãnh diện của những người gốc Champa.

Ngày nay Thánh Địa Mỹ Sơn, được UNESCO ghi nhận là Di sản Thế giới năm 1999, là niềm hãnh diện cho mọi người Việt, và là một bảo vật của mọi dân tộc trên thế giới.

Mình vừa say mê các kiến trúc cổ kỳ thú, vừa thấm thía cái buồn vong quốc của người dân Chăm khi làm slideshow này.

Bản nhạc nền là bài Hận Đồ Bàn của Xuân Tiên, do Thế Sơn trình bày.

Xin các bạn click vào ảnh dưới đây để xem slideshow và download.

Mời các bạn thưởng thức.

Bình an & Sức khoẻ,

Tuý-Phượng
.

myson80

Chợt Nhớ Bình Định

À ơi Bình Định à ơi,
Quy Hòa liễu rũ, rộn ràng chim ca
Gò Găng nón lá đẩy đà
Tam Quan mát rượi dừa nghiêng nắng chiều

Thành Chiêm bóng ngã cô liêu
Đồ Bàn ôm hận, Đỗ Quyên lệ nhoà.
Trèo lên Bà Hỏa ngó qua
Ngàn thu biển gọi, vạn sầu đẩy đưa

Ai qua Thị Nại, xin thưa:
Nhớ thăm Mặc Tử bán Trăng bên ghềnh
Hòn Ngang, bải Xếp chênh vênh
Vọng Phu trong gío, Lao Xanh giữa trời

“Em về Bình Định cùng anh
Được ăn bí đỏ nấu canh nước dừa”

Phạm Lưu Đạt

Di Sản Thế Giới — Cổ thành Huế

Chào các bạn,

Cổ thành Huế là Di sản Thế giới trong danh sách UNESCO. Và là chứng tích phong phú nhất của lịch sử cận đại, khi dân tộc ta đối diện với những thế lực quốc tế hùng mạnh bước vào quê hương.

Huế đẹp, cổ kính, trang nghiêm và thơ mộng.

Đây là file PPS mình tốn nhiều thời gian và công phu nhất từ trước đến nay.

Nhạc nền là Phụng Vũ Khúc của đội Nhã Nhạc Cung Đình Huế.

Mình post đây để chia sẻ với các bạn, đặc biệt là những người con của Huế trên khắp nẻo đường đời.

Xin các bạn click vào ảnh dưới đây để xem slideshow và download.

Chúc các bạn một ngày tim tím.

Bình an & Sức khỏe,

Túy-Phượng
.

lầu ngũ phụng

Một Nét Ban Mê

Nga6banme

Lạnh vừa đủ cho tuổi hồng làm dáng
Áo phong phanh trong sương sớm đến trường
Mặt trời hiền thả muôn ngàn sợi nắng
Sắc lá màu hoa tuơi thắm hơn

Rồi chói gắt đất thắp dần lửa hạ
Nắng như đông thành khối sáng lòa
Cái nóng điên cuồng chà xát
Xui ai ai gấp trở về nhà

Chiều thấp thoáng
Cây mơ màng ngả bóng
Kẻ tha hương lòng bỗng dưng chùng
Hỏi mây trời trôi vào xa rộng
Phải heo may quê nhà đó không

Quangtruongbuonmathuot

Chậm lại giòng trôi đầy ắp lo toan
Đêm buông sương cho người gần gụi
Đôi khi gió như từ hoang sơ lại
Chiếu chăn nào đủ ấm nỗi cô đơn

Ban Mê đôi khi như thế đó em
Bốn mùa gom trong một ngày ngắn ngủi
Vừa dễ ghét vừa dễ thương quá đỗi
Ai đến rồi
Đi hẳn thấy bâng khuâng

Tôn Nử Ngọc Hoa

Bảo tồn di sản văn hóa – Thổ cẩm tây nguyên

Trang phục thổ cẩm là nét đẹp văn hóa vật thể ở mỗi vùng, mỗi dân tộc. Trong cộng đồng các dân tộc Việt nam thổ cẩm không chỉ có mặt trong đời sống hàng ngày, trong sản xuất, làm vật mua bán đổi chác của phương thức sản xuất tự cung, tự cấp, mà bao giờ cũng có mặt trong các lễ cưới hỏi, lễ hội.
ThocamTN1
Không chỉ làm đẹp, mà còn chứng tỏ bàn tay tài hoa, chăm chỉ của những người phụ nữ. Thổ cẩm phía Bắc rực rỡ sắc màu, tạo nên sự ấm áp trong cái lạnh khắc nghiệt của vùng núi cao. Thổ cẩm Tây Nguyên lấy màu nền đen, chàm, trắng làm chủ đạo nhưng dựng mảng hoa văn nhàn nhạt hơn, có lẽ để cho phù hợp với cái nắng gay gắt của cao nguyên miền Tây Trường Sơn chăng?

Lâu nay xem trên phim ảnh, truyện tranh chúng ta thường thấy bà con các dân tộc phía Bắc cho đến nay vẫn giữ được bộ trang phục thổ cẩm trong cuộc sống hàng ngày. Điều này khiến tôi khâm phục lắm, và rất muốn tìm hiểu xem làm sao họ làm được điều ấy. Tôi quyết tâm đi Sa Pa xem chợ tình, cũng để mong giải đáp được điều mình thắc mắc bấy lâu nay. Rồi thì cũng hiểu, cũng biết, nhưng sự nhận ra này không khỏi mang chút ngậm ngùi. Nét độc đáo của thổ cẩm phía Bắc xin không nói nữa, mà chỉ để cập tới việc vì sao nó vẫn tồn tại được trong cộng đồng mà thôi.

Tôi có hỏi chuyện những người phụ nữ HMông Lềnh bàn tay đậm màu chàm thoăn thoắt không thôi se những sợi lanh, hỏi các bà mẹ vắt trên tay những bộ váy áo, mũ thổ cẩm chào mời bán cho khách du lịch. Hỏi những người đàn ông Dao gùi chiếc quẩy tấu to gần bằng người, cõng hơn 10kg gạo nếp, đi một ngày đường xuống chợ bán, chỉ để mua một nửa gùi muối, rẻ hơn ở trên bản chừng 3.000đ. Cũng đã lân la trò chuyện cùng các chàng trai ôm catssett tìm bạn trong đêm chợ tình, cả những cô gái Xá Phó đi chợ chỉ để xem người ta hát karaoke…vv… và ngộ ra rằng : Việc mặc trang phục dân tộc, ngoài thói quen của cả cộng đồng, còn chỉ là vì nghèo quá đấy thôi.

Vâng, đó là sự thật mà! Bởi tôi đã đứng khá lâu xem một chàng trai Mông mặc cả chiếc áo vải kate khá mỏng, chỉ 25.000 đ, mà nhấc lên, hạ xuống mãi không dám mua. Đồng tiền kiếm ra đâu có dễ ở một vùng cạn kiệt cả tài nguyên lẫn tiềm năng của đất ấy. Trong Khi trang phục thổ cẩm không phải mất tiền mua, chỉ nhờ vào sự cần cù, khéo léo quanh năm suốt tháng của bàn tay những người phụ nữ mà thôi.

Xin trở lại với thổ cẩm Tây Nguyên.Tuy không rực rỡ sắc màu như hoa văn thổ cẩm của các dân tộc phía Bắc, nhưng thổ cẩm Tây Nguyên cũng gây ấn tượng không kém. Với những đường nét hoa văn đan cài rất cũng đa dạng. Ở nhiều vùng sâu, vùng xa như tại các huyện miền núi của tỉnh Bình Định, nhiều vùng ở Kon Tum… phụ nữ vẫn mặc chiếc váy làm từ bông tự trồng, tự se và dệt. Tôi còn gặp các em gái Sê đăng ở huyện Ngọc Hồi, Kon Tum, mặc váy vải kate dệt theo kiểu hoa văn Tây Nguyên, rất mỏng mát, rất đẹp.
thocamTN2
Nhưng thực chất thổ cẩm truyền thống Tây Nguyên đang mất dần chỗ đứng trong chính cộng đồng các dân tộc Tây Nguyên. May ra chỉ còn trong các dịp lễ hội (mà cũng rất ít được tổ chức ở chính buôn làng), hoặc còn chăng nữa là tấm vải cõng con của những người phụ nữ mà thôi. Mà tấm vải này cũng chẳng còn dạng hoa văn nào nữa, chỉ còn là những đường chỉ dọc màu khác mà thôi. Nguyên nhân? Dệt một tấm vải bằng khung cổ truyền chỉ tạo ra được vải khổ nhỏ (0,80cm), đủ may thành váy áo rất công phu và mất rất nhiều thời gian, mà vải nội địa ở phía Nam lại rất rẻ, mỏng và mát. Trong khi khí hậu ngày một nóng hơn, trang phục dân tộc, dù bằng bông tự se hay bằng chỉ mua ở chợ về, thì cũng rất dày, không còn phù hợpvới điều kiện lao động sản xuất và sinh hoạt hiện tại. Thổ cẩm trong đời thường lại còn phải phù hợp với thị hiếu và túi tiền của người dân… vv…và… vv… Còn hàng ngàn lý do rất chính đáng để bóng dáng những tấm vải mang hoa văn hình mặt trời, cánh chim…lùi dần vào cổ tích.

Việc truyền dạy nghề dệt cho thế hệ trẻ Tây Nguyên là điều cần thiết, bởi nó không chỉ làm sống lại một trong những nghề thủ công truyền thống phổ biến trên khắp khu vực, mà còn góp phần bảo tồn một trong những di sản văn hoá vật thể độc đáo của cộng đồng các dân tộc thiểu số vùng Trường Sơn – Tây Nguyên, một nét đặc trưng không thể thiếu của không gian văn hoá cồng chiêng, nay đã trở nên “ di sản văn hoá của nhân loại”. Nhưng để nghề dệt thủ công thực sự tồn tại và phát triển, lại là điều cần bàn. Nếu không chúng ta sẽ chỉ tốn kém kinh phí dạy, mà vẫn không duy trì được sự sống thật sự của nghề.

Muốn duy trì và phát triển nghề dệt truyền thống, nên chăng không chỉ chú trọng việc dạy nghề bằng phương pháp thủ công, mà còn phải kết hợp song song giữa thủ công và công nghiệp, chú trọng tới việc tìm ra nguồn nguyên liệu mới, cải tiến mẫu mã, cải tiến khung dệt thủ công cho khổ vải rộng hơn, tốc độ dệt nhanh hơn, xử dụng chỉ nguyên liệu mỏng, cho thành phẩm mềm, mịn hơn… thì mới mong thổ cẩm trở lại được với đời sống buôn làng… Việc kết hợp nghề dệt truyền thống với nghề may sẽ tạo ra những mặt hàng mỹ nghệ, vật lưu niệm dùng chất liệu thổ cẩm cũng quan trọng không kém, sẽ có thể trở thành hàng hoá, tham gia vào thị trường, đặc biệt là thị trường du lịch đang ngày một mở rộng ở Tây Nguyên…

Để thổ cẩm Tây Nguyên thực sự trở lại được đời sống buôn làng, trước tiên, như đã nói ở trên, giá cả cần phải phù hợp với túi tiền của bà con người dân tộc có thể có. Nguyên liệu cũng phải thay đổi để tạo độ mềm, mỏng, phù hợp với cuộc sống đời thường. Chúng ta thử tìm hiểu qua một số “ hiện tượng” tương tự :

Gần nhất :
thocamTN3
– Hiện ở một số buôn làng, bà con còn lưu giữ được một số bộ trang phục cổ truyền, dệt từ thời Pháp, bằng chỉ tốt, có độ mỏng, mềm và mặt vải rất mịn

– Trong một số cuộc thi Hoa hậu, Người đẹp Tây Nguyên mấy năm gần đây,nhiều cô gái đã lọt được vào vòng trong bởi rất đẹp trong cả trang phục nguyên gốc lẫn cải tiến trên chất liệu vải thổ cẩm, đặc biệt là những bộ cải tiến, mẫu mã rất đa dạng, phù hợp với thời trang hiện đại.

– Xa hơn một chút :

Thổ cẩm Chăm với cả khung dệt thủ công và công nghiệp, bằng các nguyên liệu chỉ cao cấp, đã có tới 36 mặt hàng bán đi khắp thế giới và trong nước. Giới trẻ các thành phố lớn cũng rất ưa chuộng một số vật dụng từ thổ cẩm ( balô, ví cầm tay, móc chìa khóa, áo…).

Tháng 10/09, tôi có một cuộc “ dạo chơi ” với văn hóa K’Ho, để có thêm chuyện kể với các bạn . Rằng nghề dệt truyền thống của người Chil, người K’Ho ở đây, vẫn có bốn buôn ở xã Đạ Đờn (Huyện Lâm hà, tỉnh Lâm Đồng) “ túc tắc” giữ nghề, bởi đến mùa cưới, người K’Ho cả tỉnh đổ về đây mua thổ cẩm (mỗi đám cưới nhà gái phải nộp cho nhà trai từ 20-30 tấm thổ cẩm). Tuyệt thật đấy! Đó còn là hai địa chỉ sản xuất và kinh doanh nghề dệt huyện Lâm Hà và huyện Lăk (Đăk Lăk).

Công ty Vân Nguyễn ở xã Đạ Đờn (Lâm Hà , Lâm Đồng) có một cách làm “không giống ai” : các chị em người Chil, K’Ho được học lại nghề dệt truyền thống, rồi trên nền những tấm thổ cẩm được cải tiến nhiều sắc màu ấy, chị Vy Vân đã bổ sung thành những bức tranh sơn mài, tranh thêu, đồng hồ treo tường mang tính nghệ thuật cao. Tôi rất thích những bức tranh thổ cẩm ở cơ sở Vân Nguyễn, nhưng chắc chắn sẽ không bao giờ dám mua vì toàn tranh lớn và quá đắt. Tất nhiên, nghệ thuật “ thứ thiệt” thì phải vậy thôi.

Làng dệt thổ cẩm ở xã Krông Nô, huyện Lăk là một cơ sở rất bề thế, có nhà trưng bày và bán sản phẩm, có xưởng chết tác, có khu nội trú cho nữ công nhân người Mnông, chủ là một doanh nhân Việt Kiều Mỹ. Chắc chắn thổ cẩm làm ra không chỉ bán ở đây, ở cái nơi tận cùng của tỉnh Đăk lakk này, vì giữa rừng núi, cận kề các bon làng, người ta không dại gì đầu tư mà không có lãi. Điều khiến tôi băn khoăn là ở chỗ khác : các thiếu nữ Mnông tại đây, đã được đưa sang tận Di Linh học nghề dệt. Nhưng là học nghề dệt truyền thống của…người Chăm. Sản phẩm thổ cẩm Chăm hàng ngày các em làm ra rất đẹp, kể cả chất liệu vải lẫn màu sắc. Nhưng sản phẩm thổ cẩm truyền thống Mnông thì dẫu hoa văn có rất độc đáo và khác lạ, nhưng nguyên liệu lẫn màu sắc sản phẩm thì không “ bắt mắt ” chút nào. Du khách nếu có ghé lại, chắc chắn sẽ mua các sản phẩm từ thổ cẩm Chăm chứ không phải thổ cẩm Mnông.
thocamTN4
– Xa hơn nữa :

Công nghiệp dệt của Ấn độ đã góp phần duy trì bộ Sari truyền thống của phụ nữ, bởi chất lượng, các màu sắc đa dạng của loại vải dùng cho loại trang phục này. Ở Lào và Thái Lan cũng vậy.Chính ngành dệt may công nghiệp đã góp phần gìn giữ đặc trưng văn hoá mặc ở các nước này.( Bà con các dân tộc Tây Nguyên lâu nay vẫn rất thích sắm cho con gái chiếc váy Thái Lan hoặc vát Lào. Bản thân tôi thuở nhỏ cũng có được nhận một chiếc váy Lào, là vật kỷ niệm của bà nội dành cho đứa cháu gái đầu tiên ).

Như thế có nghĩa là : nếu muốn duy trì và phát triển nghề dệt thủ công truyền thống, thì không nên chỉ chú trọng đến việc dạy nghề bằng phương pháp dệt thủ công, mà phải kết hợp song song giữa thủ công với công nghiệp, chú trọng tới việc tìm và tạo ra những nguồn nguyên liệu mới, cải tiến mẫu mã… Việc tạo ra những mặt hàng từ nguyên liệu thổ cẩm cũng quan trọng không kém, để có thể trở thành những mặt hàng có giá trị kinh tế cao, tham gia vào thị trường, đặc biệt là thị trường du lịch đang mỗi ngày một đa dạng hơn, như cách làm của Vân Nguyễn.

Thổ cẩm nguyên gốc chỉ kén khách du lịch ưa tìm của lạ, không còn hợp với điều kiện lao động sản xuất và sinh hoạt hiện tại, lại còn rất cần vừa với tuí tiền và thị hiếu của lớp trẻ trong cộng đồng dân cư. Điều cuối cùng là nghề dệt phaỉ đi đôi với nghề may, nếu không cũng lại tốn tiền vô ích.

Sao cho những tấm váy, áo thổ cẩm rực rỡ sắc màu lễ hội, còn đó trong hiện tại, góp phần không nhỏ cho việc gìn giữ bản sắc văn hóa vật thể và không gian văn hoá cồng chiêng của đồng bào các dân tộc Tây nguyên.

Nhìn từ trang phục trong các liên hoan nghệ thuật dân gian

Đã từ lâu, thổ cẩm và trang phục các dân tộc thiểu số miền núi là một trong những nét đặc trưng của văn hoá của mỗi tộc người. Đến chợ Sa Pa, hay chợ Bắc Hà ở phía Bắc, người ta dễ nhận ra những cô gái Dao với chiếc mũ đỏ chói làm hồng thêm gương mặt, bước chân xúng sính của những thiếu nữ H’Mông trong chiếc váy xếp hàng mấy chục nếp gấp.Chị em người Thái óng ả trong tấm áo chẽn, hàng cúc bạc & chiếc váy đen kín gót. Bàn tay khéo léo của các nàng Xá Phó thêu hàng trăm ngôi sao trắng trên tấm váy áo đen xen chỉ đỏ… Đi về phương Nam các cô gái Chăm, Khơ mer lại phô vẻ duyên dáng qua đủ kiểu những tấm khăn choàng vai mềm mại.

Lấy nền đen, bằng tất cả những nguyên vật liệu của rừng đại ngàn Trường Sơn, phụ nữ Tây nguyên cũng tạo nên cho mình những bộ trang phục mang vẻ đẹp rất riêng của núi rừng. Hình tượng cuộc sống và môi trường xung quanh được dệt hết lên những tấm váy áo. Đơn sơ như trang phục nữ Jrai, lại khoe tài trên mảnh hoa văn nơi cặp mông đánh đưa uyển chuyển trong mỗi bước đi hay dáng múa. Những cô gái Bâhnar thả cho hai tay áo hững hỡ đính trên vai để khoe bắp tay trần tròn lẳn. Hay bộ váy ngắn ngang bắp chân, áo cộc tay khoẻ khoắn của những thiếu nữ Mnông, Bih chẳng khác gì thời trang hiện đại. Phụ nữ Êđê dường như kín đáo hơn trong áo cổ thuyền dài tay,váy trùm kín gót chân nhưng lại chỉ khép hờ nơi vạt trước, khiến mỗi bước đi rất cần khép nép. Tấm váy chỉ đủ cao che ngang bầu ngực của các thiếu nữ Ca Tu thật quyến rũ. Đặc biệt chiếc áo nam của tù trưởng Êđê với hai màu đỏ đen và những chiếc nút vàng thật rực rõ và oai vệ… Chỉ những bộ váy áo nguyên gốc đó thôi, cũng đủ là những mẫu thời trang lạ và không kém phần độc đáo, tôn vẻ khoẻ đẹp và duyên dáng của người miền núi.
thocamTN7
Chợt nhớ :

– Một vài năm sau ngày đất nước thống nhất, phụ nữ các dân tộc thiểu số Tây nguyên vẫn giữ cách mặc váy đen dài cùng với áo thường phục các loại (kể cả nơi công sở & trường học). Phụ nữ Thái- H’Mông vẫn mặc thường ngày những bộ váy áo của dân tộc mình

– Trong “Liên hoan Văn hoá cồng chiêng & đua voi Tây Nguyên lần thứ I-1993” tại Buôn Ma Thuột Ban tổ chức quy định : các dân tộc phải mặc đúng trang phục truyền thống nguyên gốc của mình. Đa số nghệ nhân các tỉnh đều thực hiện nghiêm túc.Chỉ có hai đoàn phải có lời “trần tình”, đó là đoàn các nghệ nhân tộc người Rak glây (Khánh Hoà), vì cho đến cả những người già nhất của các làng, cũng không nhớ nổi trang phục nguyên gốc của mình là gì? Và đoàn nghệ nhân dân tộc Brâu ( Kon Tum), trang phục là những chiếc bao tải đựng gạo loại 50kg, khoét cổ & hai tay cộc, bởi trước khi lên đường “lửa ăn” hết cả buôn.

– Liên hoan cồng chiêng tỉnh Gia Lai năm 1996, hơn 500 nghệ nhân là hơn 500 bộ trang phục gần như nguyên gốc (kể cả những dân tộc phía Bắc có mặt trong liên hoan). Như một rừng hoa đẹp sáng bừng phố núi Plei ku.

Vậy mà tiếc thay, vài năm gần đây, mặc dù nghề dệt thổ cẩm ở Tây nguyên chưa bị mất hẳn, thậm chí ở một số vùng còn có thể phát triển (đặc biệt là thổ cẩm Chăm) qua những HTX dệt thổ cẩm, nhưng càng ngày những bộ trang phục nguyên gốc càng bị biến dạng và mất dần vẻ đẹp độc đáo của chính “ nó”. Như:
thocamTN6
– Trong liên hoan “Dân ca –Dân vũ lần thứ II- 2004,Buôn ma Thuột”, đoàn nghệ nhân Đăk Nông hầu như không còn bộ trang phục nguyên gốc nào. Đoàn Đăk lăk cũng chỉ đạt tỷ lệ một nửa .

– Trong “Liên hoan Văn hoá cồng chiêng các dân tộc Trường Sơn – Tây nguyên” ở Lâm Đồng 7- 2002 và Đăk Lăk 12-2004, tỷ lệ các trang phục nguyên gốc cũng chỉ chiếm 30%. Thậm chí đoàn nghệ nhân của huyện Lâm Hà ( Lâm Đồng) xử dụng hoà toàn trang phục “ cải biên” như diễn viên đoàn ca múa chuyên nghiệp.

– Liên hoan nghệ thuật dân tộc & dệt thổ cẩm tỉnh Đak lăk, giao lưu các thôn buôn văn hoá thành phố BMT (trong khuôn khổ những hoạt động mừng kỷ niệm BMT 100 năm hình thành – phát triển & 30 năm ngày giải phóng), tình hình trang phục dân tộc “ cải tiến” cũng chiếm đa số.

Điều này thật làm buồn lòng không chỉ các ama, ami cao tuổi của buôn làng, mà còn cả trong tâm trạng những người yêu quý & thực tâm mong muốn gìn giữ văn hoá truyền thống của Tây nguyên.

Có ba trạng thái biến dạng của trang phục cổ truyền các dân tộc Tây nguyên :

– Một là: may đại trà (nhất là cho học sinh các trường nội trú dân tộc) theo kiểu trang phục của các đoàn nghệ thuật – Nghĩa là vải đen và một số đường kẻ ngang, phổ biến là vàng & đỏ. Váy áo cho nữ và áo ghile cho nam. Một số các đội văn nghệ quần chúng ở các buôn làng cũng may theo hình thức này, có khác chăng là đính thêm những hạt kim sa tạo sự lóng lánh cho trang phục biểu diễn. (Thậm chí chiếc áo dài đen của các cô gái Tày cũng viền kim sa quanh kín vạt).

– Hai là : váy thổ cẩm nhưng mặc áo thường. Nam thì ngược lại, áo thổ cẩm nhưng quần âu phục (đây hình như là cách mặc phổ biến nhất trong những ngày lễ hội)

– Ba là : vẫn là tấm vải thổ cẩm dệt từ tay các phụ nữ của buôn làng, hoặc thổ cẩm dệt máy công nghiệp, nhưng không còn hoa văn chỉ có những đường kẻ ngang và được may theo thời trang hiện đại ( cúp, đầm dây, xường sám, ghile…) váy áo nữ đính kèm đủ kiểu những đăng ten, ren các màu. Đây cũng chính là trang phục của đa số các nghệ nhân từ già đến trẻ tham dự những liên hoan nghệ thuật dân gian Tây nguyên gần đây.

thocamTN8 Chúng tôi không có ý định phản đối lớp trẻ hiện nay cải tiến trang phục thổ cẩm. Nếu xử dụng trong sinh hoạt ngày thường, hoặc một ngày lễ chung nào đó, thì thổ cẩm được may theo thời trang mới sẽ là một hình ảnh rất đẹp. Cải tiến để có thể mặc được, mặc đẹp trong đời thường bằng thổ cẩm, càng là việc nên làm. Ví dụ như Á hậu Người đẹp Tây nguyên 2004 H’Wion Knul đã xuất hiện rất ấn tượng ở Tuần Châu trong vòng chung kết Hoa hậu Việt nam, với chiếc đầm dây may từ vải thổ cẩm do chính cô tự thiết kế. Hay vẻ đẹp trong trang phục thổ cẩm của cô gái Êđê Á hậu cuộc thi “Người đẹp dân tộc” ở Đà Lạt 2006. Hoặc kiểu áo ghile dành cho nam giới, rất tiện và lịch sự. Chỉ tiếc rằng chưa có ai quan tâm thật sự đến việc này, để các chị em tự cải biên một cách rất thiếu thẩm mỹ . Đã chẳng “ mốt” hơn ,lại còn dường như làm mất đi vẻ đẹp vốn có của trang phục truyền thống đích thực.

Trang phục truyền thống là vẻ đẹp riêng của mỗi một tộc người, không nên để bị mai một, hoặc bị cải biên một cách sai lệch, mà chẳng hề làm cho nó đẹp lên hơn. Cách bảo tồn và phát triển nghề dệt truyền thống tốt nhất là làm sao để nó tồn tại thực sự trong chính cộng đồng của mình. Làm sao để từ những chiếc khăn cõng con, tấm chăn đắp hàng ngày, nhất là bộ trang phục nguyên gốc, mỗi thành viên trong một gia đình đều nên có. Chỉ cần tìm kiếm một loại chỉ làm cho mặt vải mỏng hơn, may cách nào cho dễ mặc hơn. Sau nữa mới là những bộ cải tiến cho dễ mặc và hợp thời trang hơn của giới trẻ.

Với công tác văn hoá ở các vùng dân tộc, nên chăng cần có các quy định rõ ràng trong các cuộc liên hoan nghệ thuật dân gian, về trang phục nguyên gốc. Nếu có cải tiến chỉ xuất hiện trong những liên hoan nghệ thuật quần chúng & thi trang phục, có phần trình diễn trang phục tự chọn & cải tiến . Cũng nên có giải thưởng đặc biệt cho những bộ trang phục đẹp, hợp thời trang, cải tiến từ chất liệu thổ cẩm Tây nguyên.

Mong sao cho như tà áo dài của phụ nữ Việt Nam, cải tiến theo Đông, Tây thế nào, cũng vẫn giữ được dáng vẻ thuần Việt. Trang phục dân tộc nguyên gốc chắc chắn là những bông hoa làm đẹp thêm cho vườn văn hóa Việt nói chung và Tây Nguyên nói riêng.

Linh Nga Niê Kdăm