All posts by Trần Đình Hoành

I am an attorney in the Washington DC area, with a Doctor of Law in the US, attended the master program at the National School of Administration of Việt Nam, and graduated from Sài Gòn University Law School. I aso studied philosophy at the School of Letters in Sài Gòn. . I have worked as an anti-trust attorney for Federal Trade Commission and a litigator for a fortune-100 telecom company in Washington DC. I have taught law courses for legal professionals in Việt Nam and still counsel VN government agencies on legal matters. I have founded and managed businesses for me and my family, both law and non-law. I have published many articles on national newspapers and radio stations in Việt Nam. In 1989 I was one of the founding members of US-VN Trade Council, working to re-establish US-VN relationship. Since the early 90's, I have established and managed VNFORUM and VNBIZ forum on VN-related matters; these forums are the subject of a PhD thesis by Dr. Caroline Valverde at UC-Berkeley and her book Transnationalizing Viet Nam. I translate poetry and my translation of "A Request at Đồng Lộc Cemetery" is now engraved on a stone memorial at Đồng Lộc National Shrine in VN. I study and teach the Bible and Buddhism. In 2009 I founded and still manage dotchuoinon.com on positive thinking and two other blogs on Buddhism. In 2015 a group of friends and I founded website CVD - Conversations on Vietnam Development (cvdvn.net). I study the art of leadership with many friends who are religious, business and government leaders from many countries. I have written these books, published by Phu Nu Publishing House in Hanoi: "Positive Thinking to Change Your Life", in Vietnamese (TƯ DUY TÍCH CỰC Thay Đổi Cuộc Sống) (Oct. 2011) "10 Core Values for Success" (10 Giá trị cốt lõi của thành công) (Dec. 2013) "Live a Life Worth Living" (Sống Một Cuộc Đời Đáng Sống) (Oct. 2023) I practice Jiu Jitsu and Tai Chi for health, and play guitar as a hobby, usually accompanying my wife Trần Lê Túy Phượng, aka singer Linh Phượng.

Thử thách Anh ngữ hàng ngày — 12.5.2009

englishchallenge

Chào các bạn,

Hôm nay chúng ta sẽ làm một bài tập quan trọng đến công ăn việc làm của các bạn. Hôm nay các bạn sẽ viết một cover letter, đến một công ty nước ngoài tại Việt Nam để tìm việc. Cover letter là lá thơ bạn gửi để chuyển resume (hay CV) đến công ty. (Và đừng nói: “Vậy hả? Từ trước đến nay em chỉ gởi CV, chớ có biết cover letter là cái gì đâu. 🙂 ).

Cover letter rất quan trọng, vì nó là bước đầu tiên quyết định bạn có việc làm hay không. Và nó phải ngắn, không bao giờ quá một trang (kể cả ngày tháng, địa chỉ người nhận, everything, không quá một trang giấy). Cho nên không có nhiều chữ để viết. Nhưng làm thế nào để lá thơ của mình đứng trội lên, trong số 500 lá thơ Giám Đốc Nhân Viên của công ty nhận được, đó mới là vấn đề, và nó đòi hỏi suy nghĩ và sáng tạo.

Hồi trước, mình phải tuyển luật sư cho chính phủ, vì có nhiều thư tìm việc quá, việc đầu tiên của toán tuyển người là đọc rất nhanh các cover letters. Cái nào không hay thì dẹp qua, cái nào hay mới để đó, rồi sẽ đọc tiếp resume (CV). Mình có thể nói, trong vòng loại đầu, cover letter quyết định 50%, résumé quyết định 50%.

Từ từ chúng ta sẽ nghiên cứu thêm về cover letter cũng như cách viết một lá thơ business. Nhiều chuyện để nói, dài ngày. Hôm nay ta chỉ chú trọng đến việc viết chữ cho hay thôi.

Sau đây là một quảng cáo của một công ty nước ngoài tại Việt Nam tên là “World Travel” trên Vietnam Economic Times.

“World Travel is an international company with 80 offices in 30 countries around the world. Our Vietnam office is looking for an entry-level accountant. Applicant should have a bachelor degree in accounting, good academic grades, high people skills, good work ethics, good computer skills. English fluency is a must. Prior experience may be helpful but not required. We will train you. If you want a supportive environment to utilize all your talents to take on the world, we are the right place for you. We will help you grow with us. Please send your resume to Ms. Jane Cassini, Personnel Director, 500 Le Duan, HCMC. World Travel is an equal opportunity employer.”

Bây giờ bạn sẽ đóng vai một sinh viên mới ra trường, hoặc sắp sửa ra trường, với bằng cử nhân kế toán. Bạn viết một cover letter đến Jane Cassini để chuyển resume. (Bài tập này không có resume, chỉ cover letter thôi). Và ta cũng chưa cần các mục hình thức về tên họ địa chỉ. Bắt đầu bằng dòng chữ “Dear ….”

Nếu bạn chưa biết cover letter viết thế nào, Google “cover letter” là bạn sẽ có khối thông tin. Mình khuyên là các bạn đều nên viết bài này, dù bạn có post bài hay không. Đây là kỹ năng sẽ giúp ta cả đời. Đừng copy lá thơ khác dùng lại, kể cả lá thơ cũ của bạn. Mỗi công ty, mỗi công việc, cần một lá thơ. Đọc quảng cáo của công ty kỹ càng, nghiên cứu về công ty (cứ tưởng tượng ra cho bài tập này), và viết một lá thơ mà người đọc mới đọc được một hàng là muốn đọc hết, và đọc hết rồi là muốn gặp người viết (cả trước khi kịp đọc resume).

Cố gắng nhé !!

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

Thầy Cô và Tình Yêu

heart
Chào các bạn,

Mây hôm trước trong mục Thử thách Anh ngữ hàng ngày mọi người có dịch một câu trích dẫn về tình yêu nổi tiếng và quan trọng trong văn hóa Âu Mỹ. Đó là một đoạn trong Corinthians của Thánh kinh. Hôm nay anh Nguyễn Minh Hiển giới thiệu đến chúng ta một bài viết của các thầy cô, lập theo tinh thần của câu trích Corinthians. Mình gửi “trọn bộ” đến đây để chia sẻ với các thầy cô.

Dưới đây là “trọn bộ” gồm 3 phần: Phần 1, bài dịch tiếng Việt của chị Kiêm Yến. Phần 2, câu trích Corinthians nguyên thủy tiếng Anh. Phần 3, bài dựa theo Corinthians cho các thầy cô (tiếng Anh và tiếng Việt, anh Hiển dịch).

Chúc các bạn, nhất là các thầy các cô, một ngày vui.

Mến,

Hoành
.

Nếu tôi nói bằng ngôn ngữ của loài người và của thiên thần, nhưng không có yêu thương, tôi chỉ là một cái chiêng rền vang hoặc một cái chũm choẹ lanh lảnh. Nếu tôi có tài tiên tri và có thể thấu hiểu mọi điều bí ẩn và mọi tri thức, và nếu tôi có niềm tin đủ để dời non, nhưng không có yêu thương, tôi chẳng là gì cả. Nếu tôi cho người nghèo mọi thứ tôi có và hiến thân tôi trong lửa đỏ, nhưng không có yêu thương, tôi chẳng đạt được điều gì hết.

Yêu thương là nhẫn nại, yêu thương là ân cần. Yêu thương không đố kỵ, không khoe khoang, không tự đắc. Yêu thương không thô lỗ, không vụ lợi, không tức giận dễ dàng, không lưu giữ lầm lỗi. Yêu thương không say mê điều xấu mà hân hoan cùng sự thật. Yêu thương luôn chở che, luôn tin cậy, luôn hi vọng, luôn kiên trì.

Yêu thương không bao giờ thất bại.

Phạm Kiêm Yến dịch

.

If I speak in the tongues of men and of angels, but have not love, I am only a resounding gong or a clanging cymbal. If I have the gift of prophecy and can fathom all mysteries and all knowledge, and if I have a faith that can move mountains, but have not love, I am nothing. If I give all I possess to the poor and surrender my body to the flames, but have not love, I gain nothing.

Love is patient, love is kind. It does not envy, it does not boast, it is not proud. It is not rude, it is not self-seeking, it is not easily angered, it keeps no record of wrongs. Love does not delight in evil but rejoices with the truth. It always protects, always trusts, always hopes, always perseveres.

Love never fails.

1 Corinthians 13

.

snowflake1
Diễn giải Corinthians của một thầy giáo
A Teacher’s Paraphrase

Nếu tôi có thể giải thích mọi điều một cách hoàn hảo cho các học trò, nhưng không yêu quý từng em, thì thà là tôi giảng bài cho cái phòng trống còn hơn. Nếu tôi có thể tìm thấy mọi câu trả lời cho các vấn đề giáo dục, mà không yêu, thì mọi cố gắng của tôi chỉ là phù phiếm. Nếu tôi có thể mua mọi thiết bị trợ giảng và hy sinh để mua, nhưng không có tình yêu cho học trò, chuyện mua sắm đó sẽ là lãng phí.

If I could explain everything perfectly to my students, but did not love each one of them, I might as well be talking to an empty room. If I could find all the answers to educational problems and did not love, my efforts would be futile. If I could buy every kind of educational aid and sacrificed to do so, but did not have love for my students, it would be a complete waste.

.

Tình yêu là kiên nhẫn, khi cần phải nhắc đi nhắc lại một khái niệm cho một học trò gặp khó khăn. Tình yêu là tử tế, khi một cha me nóng tính buộc tội và la lối tôi hay các thầy cô khác. Tình yêu là không ghen tị, khi một thầy cô khác có một lớp học có toàn các trẻ em hiền ngoan và siêu thông minh, trong khi lớp tôi không tốt lắm.

Love is patient when it is necessary to repeat a concept over and over to a student who is having difficulty. Love is kind when an irate parent accuses and berates other teachers or me. Love is not jealous when the other teacher has an entire class of well-behaved and extremely intelligent children while mine are not so great.

.

Tình yêu là không kiêu ngạo hay khoe khoang, khi học trò của tôi tiến bộ thật nhiều và thật muốn vào lớp với tôi. Tình yêu là sẵn sàng điều chỉnh thời khóa biểu và kế hoạch của tôi để phù hợp với nhu cầu của những bạn khác. Tình yêu không la ó với lớp học khi học sinh cư xử sai, mà giúp học trò hiểu sự quan trọng của tự kỷ luật.

Love is not proud or boastful when my students improve greatly and really want to come to my class. Love is willing to yield my schedule and plans to fit in with the needs of others. Love does not scream at my class when they misbehave, but seeks to help them understand the importance of self-discipline.

.

Tình yêu không phổ biến các vấn đề và lỗi lầm của học trò cho những người trong phòng giải khát. Tình yêu tiếp tục cố gắng ngay cả khi một học trò sẽ không bao giờ hiểu được bài toán chia dài hay sự khác nhau giữa trạng từ và tĩnh từ.

Love does not broadcast all of my students’ problems and misdeeds to those in the lounge. Love keeps trying even when it seems a student will never understand long division or the difference between an adverb and an adjective.

.

Phương pháp giảng dạy, bảng thông tin, sách giáo khoa, vâng, ngay cả máy tính, cuối cùng cũng sẽ vứt đi, nhưng tình yêu sống mãi. Ba điều này tôi đã học được trong giảng dạy: kiên trì, kiên nhẫn và tình yêu. Và điều lớn lao nhât của ba điều này là tình yêu.

Teaching methods, bulletin boards, textbooks, yes, even computers, will eventually be discarded, but love is everlasting. These three things I have learned through teaching: endurance, patience and love. And the greatest of these is love.

Fr. Ron Nuzzi
Nguyễn Minh Hiển dịch

Thử thách Anh ngữ hàng ngày — 11.5.2009

englishchallenge

Chào các bạn,

Hôm nay chúng ta đặt link thường trực đến VOA Special English, là chương trình thông tin bằng tiếng Anh đọc chậm và dùng các từ đơn giản (trong khoảng 1,500 từ chính) cùa đài Voice of America (ở Washington DC). Những bài này vừa có chữ viết vừa đọc, nên rất tiện cho các bạn học tiếng Anh.

Để tiện nghi cho các bạn, Link này đặt nằm ngay dưới link “Thử thách Anh ngữ”.

Cho thử thách hôm nay, chúng ta có một đoạn văn chị Huỳnh Huệ gửi đến để dịch sang Anh ngữ. Đây là một đọan văn xuôi, tuy nhiên nó có nhịp điệu rất hay và, cũng như đa số bài văn hay, nó có ngôn ngữ rất đơn giản. Vậy khi dịch các bạn nên cố gắng đạt được hai điều đó, bên cạnh ý nghĩa.

Về bài thử thách hôm thứ bảy, các bạn vẫn cứ nên tiếp tục, rồi mình sẽ xem lại và phân tích thêm, nếu cần.

Mấy hôm nay phấn hoa ở Washington có rất nhiều trong không khí, làm mình bị dị ứng dữ quá, nên không hoạt động được như bình thường. Hơi chậm. Nhưng các bạn cứ tấn công các thử thách này, và mình sẽ thêm ý kiến trong những điểm quan trọng.

Chúc các bạn một tuần vui.

Mến,

Hoành
__________

Để các bạn cảm nhận sức mạnh của ngôn từ  từ   chính  các bản dịch của các bạn, hôm nay xin các bạnthử  sức với  một đoạn từ  bài viết rất hay về chính chủ đề này của tác giả Chuck Gallozzi có tựa đề Wise Words.  Phần mở đầu  này độ dài  230 từ.

“The difference between a mean word and a kind word is the difference between lightning and a lightning bug

The Roman Statesman, Cato The Elder (BC 234-149), taught “Speech is the gift of all, but the thought of few.” When was the last time you thought about the power of speech? When speaking, are you always aware that we use speech to inspire, strike fear, dissuade, persuade, console, hurt, disappoint, encourage, educate, censure, exchange ideas, vent feelings, pontificate, argue, thank, threaten, ridicule, criticize, cheer, sadden, curse, brag, comfort, insult, provoke, incite, or apologize.? Before you speak, do you remind yourself our words can express understanding, hate, love, praise, appreciation, resentment, kindness, respect, rudeness, or wisdom? How do you apply the gift of speech? Do you use it to tell jokes, spread rumors, wrench tears, recite poetry, or instill hope?

Have you ever been hurt by the remarks of others? Many have. That’s why Pontianus, who was crowned Pope on July 21, 230 and reigned until 235, wrote in his Second Epistle, “The stroke of the whip maketh marks in the flesh: but the stroke of the tongue breaketh the bones. Many have fallen by the edge of the sword: but not so many as have fallen by the tongue.” That’s a strong commentary about the pain words can cause. But words don’t have to hurt. They can soothe, uplift, and give support.”

Tạo sức đề kháng cho giới trẻ VN

yoga

Nguồn: Tuổi Trẻ

Với quá trình toàn cầu hóa, thế giới đang trở thành một ngôi làng nhỏ không chỉ về mặt kinh tế mà cả về mặt văn hóa nữa. Việt Nam không là một ngoại lệ với sự xâm nhập của phim ảnh lai căng, bạo lực, đồi trụy đến tận thôn ấp.

Cho nên vấn đề chính yếu là làm sao giúp cho thanh niên tăng sức đề kháng hay sự miễn nhiễm.

Là một phụ nữ, tôi hay quan sát các phong trào thời trang trong giới trẻ. Và một điều đã rõ là những người chạy theo mốt, những người bắt chước đám đông là những người thiếu bản lĩnh, thiếu tự tin. “Ai làm sao tôi phải làm vậy”. Họ tự khẳng định mình bằng một bề ngoài “sành điệu”. Những bạn trẻ đang học hành tốt, thành đạt trong sự nghiệp, thích hoạt động xã hội (vì có một lý tưởng sống) dù cũng quan tâm đến cái đẹp, sự lịch sự nhưng thời trang không phải là nỗi ám ảnh của họ. Họ tự tin đối với những gì mình đang có vì đó là những chân giá trị.

Tôi cũng thích quan sát phụ nữ ở Việt Nam và trong vùng với chuyện trang phục. Những năm 1970, tiếp viên hàng không Thái Lan phát âm tiếng Anh rất kém, nhưng phụ nữ Thái trên đường phố Bangkok thì ăn mặc khá cầu kỳ. Những năm 1990 khi tôi trở lại thì tiếp viên phát âm rất chuẩn và phụ nữ trên đường phố ăn mặc giản dị hơn nhiều. Hồi tôi học đại học ở Philippines những năm 1970 thì cả cô giáo lẫn nữ sinh đều rất diện, luôn ăn mặc đúng mốt và chải chuốt. Những năm 1990 tôi trở qua họ cũng giản dị hơn. Phụ nữ Nhật trên các chuyến du lịch ăn mặc trang nhã, không lòe loẹt cầu kỳ, không hở hang. Đặc biệt, nữ công nhân viên chức Singapore đẹp trong các trang phục vừa giản dị vừa thẩm mỹ. Từ lâu tôi đã tự kết luận đây là những cá nhân tự tin đối với bản thân và tự hào vì là công dân của những nước không còn là “nhược tiểu’. Dường như những cá nhân này và xã hội của họ phải trải qua một quá trình để đạt tới một trình độ phát triển nào đó và một phong cách mà tôi xin tạm gọi là văn minh. Vì sự giản dị là đỉnh cao của cái đẹp.

Xã hội Việt Nam đang bước vào quá trình hiện đại hóa, thanh niên Việt Nam cũng đang đi tìm mình và cách tự khẳng định. Để làm việc này họ không có cách nào hơn là góp nhặt những mẫu hình (môđen mà xã hội đem lại cho họ qua phim ảnh quảng cáo và gương của người lớn. Tiếc rằng phim ảnh không thật sự phản ánh đời thường ở các nước tiên tiến. Ví dụ như cách ăn mặc, lối sống của các nhân vật trong phim Hàn Quốc không phản ánh cuộc sống thường ngày của đất nước họ. Cũng vậy, nếu người nước ngoài biết Việt Nam qua cách ăn mặc và diễn xuất của ca sĩ trẻ Việt Nam thì chắc chắn họ sẽ kinh hồn. Còn quảng cáo thì đang góp phần cổ vũ cho nếp sống “sành điệu”, xa hoa, những giá trị vật chất, thực dụng. Ngôn ngữ lai căng không chỉ tuổi trẻ bày ra mà chính báo chí đang khuếch trương nó mạnh mẽ.

tuoitreplay
Tuổi trẻ rất cần thần tượng mà khoa học gọi là “mẫu hình về vai trò “ (role model) để tham khảo trong quá trình hình thành nhân cách. Trong khi ở Trung Quốc, các thần tượng được mến chuộng nhiều nhất là các nhà du hành vũ trụ, các nhà khoa học rồi mới đến ca sĩ, nghệ sĩ… thì ở Việt Nam, tuổi trẻ chỉ mới biết yêu chuộng ca sĩ, nghệ sĩ. Đó cũng là do cách mà các phương tiện truyền thông phổ biến thông tin đến với họ.

Thanh niên xem phim Hàn, thiếu nhi xem truyện tranh Nhật vì xã hội không cung ứng cho chúng những sản phẩm hấp dẫn hơn.

Tạo sức đề kháng cho tuổi trẻ VN bằng cách nào?

Không có cách nào khác hơn là giáo dục sự tự tin, khơi dậy sự tự hào là cung cấp cho họ những thức ăn tinh thần bổ dưỡng. Đến nay ta chưa làm được điều này vì thật ra rất khó. Giáo dục gia đình còn tạo sự thụ động, phụ thuộc nơi con em thay vì giáo dục sự tự tin. Cũng vì cách giáo dục này mà đa số bạn trẻ rất thiếu tự tin và dễ bắt chước đám đông, còn một số khác thì nổi loạn bằng cách sống lập dị, chạy theo những phong trào tiêu cực. Ta muốn cho đa số thanh niên ăn học đến nơi đến chốn, có nghề nghiệp ổn định, thành đạt trong sự nghiệp, sống một cuộc sống có ý nghĩa để tự tin. Với tình trạng hiện nay của ngành giáo dục, e rằng đây là một mục đích còn phải có thời gian mới đạt được.

Để xây dựng niềm tự hào dân tộc, một quá khứ vẻ vang chưa đủ, phải có cái gì đó là thành tích của ngày hôm nay mới mang tính thuyết phục. Việt Nam được khen ngợi vì kinh tế đang lên nhưng cũng đang ngổn ngang với đạo đức xuống cấp và tiêu cực đủ loại. ở một số mặt, Việt Nam còn đứng cuối trong danh sách các nước. Điều này ít nhiều làm suy giảm niềm tin nơi giới trẻ.

Có lẽ cũng do tình hình chung mà tư tưởng lớn, ấn phẩm hay chưa xuất hiện và hoạt động văn hóa tinh thần chưa dồi dào khiến tuổi trẻ của chúng ta đang đói. Dù nỗ lực nhiều, Việt Nam cũng còn là một nước nhược tiểu, kém phát triển là giải quyết vấn đề lối sống của tuổi trẻ không nằm ngoài một cuộc chấn hưng đạo đức mạnh mẽ và nỗ lực phát triển toàn diện từ kinh tế kỹ thuật tới văn hóa xã hội. Trên hết phải trả lời cho bằng được câu hỏi tại sao tư tưởng lớn, sản phẩm văn học hay lại tắt tịt?

tuoitre

Mấy đề nghị cụ thể

Trên đây là những vấn đề lớn mà việc tìm câu trả lời không thuộc phạm vi bài này dù nhất định chúng phải được trả lời thì mới tìm được lối ra. Trong khi chờ đợi chúng tôi có mấy đề nghị nhỏ sau:
– Giáo dục gia đình và học đường phải thay đổi để xây dựng lòng tin nơi tuổi trẻ, để họ tự khẳng định mà không sống theo đuôi.

– Tuổi trẻ rất say mê cái hiện đại, cái mới. Làm sao cho họ tiếp cận được những khía cạnh tích cực của xã hội hiện đại trong và ngoài nước như tác phong công nghiệp, tính năng động sáng tạo, tính trung thực và thẳng thắn, tính phóng khoáng, tổ chức lao động một cách khoa học, giải quyết vấn đề có hiệu quả… mà phim ảnh nước ngoài không thể cung cấp cho họ. Ví dụ như tham gia các chương trình hợp tác giáo dục, tham quan các doanh nghiệp lớn, tiếp xúc với những khách mời đặc biệt trong và ngoài nước…

– Tiếp xúc ít nhiều với tuổi trẻ thành phố, tôi thấy rõ là họ rất hâm mộ những gương tốt trong các nhà khoa học, các nhà giáo dục. các nhà hoạt động xã hội, các nhà doanh nghiệp giỏi… có tinh thần yêu nước và tự cống hiến vì lợi ích chung. Nhu cầu “mẫu hình về vai trò” (role model) mà ta gọi là thần tượng để hình thành nhân cách là một nét tâm lý tự nhiên. Có lẽ xã hội chưa tạo điều kiện đủ để đôi bên gặp gỡ nhau. Trong khi đó thì đêm đêm họ tiếp xúc với ca sĩ, nghệ sĩ trong và ngoài nước trên các phương tiện truyền thông và các tụ điểm ca nhạc.

– Phim ảnh, quảng cáo tập trung cổ vũ cho nếp sống tiêu xài, cho cái đẹp bên ngoài, cho những mẫu thời trang hết sức xa lạ với người nghèo. Tóm lại là những giá trị sống không đóng góp gì cho sự đi lên của dân tộc. Tôi còn nhớ trước giải phóng, một nhà xã hội học Bỉ đi ngang chợ bán đồ Mỹ ở đường Nguyễn Thông, so với ngày nay thì ngôi chợ này chẳng có nghĩa lý gì, vậy mà bà tỏ vẻ lo ngại và nói: “Chính việc phơi bày của cải vật chất ê hề như thế này tạo sự thèm muốn mà khi không có tiền để mua thì người ta trộm cướp. Tội phạm sản sinh ra từ đó”. Quảng cáo sẽ luôn là quảng cáo, nhưng trên thế giới có những tổ chức dân sự cảnh báo khi nội dung quảng cáo sai lệch. Các chức này được gọi là “media watch” (canh gác các phương tiện truyền thông).

– Thị trường là thị trường và mục đích của nó là lợi nhuận. Nhà nước không thể kiểm soát tất cả, không thể bao quát mọi vấn đề nảy sinh. Do đó trên thế giới xuất hiện một lực lượng thứ ba gọi là “xã hội dân sự” xuất phát từ những lợi ích của nhân dân mà hai lực lượng trên không kham nổi. Ví dụ các tổ chức bảo vệ quyền phụ nữ và trẻ em, các tổ chức chấn hưng đạo đức, bảo vệ văn hóa dân tộc trước làn sóng toàn cầu hóa… “Media watch” là một ví dụ. Ở nước ta bắt đầu xuất hiện các tổ chức hoạt động xã hội từ thiện có hiệu quả như Hội Bảo trợ bệnh nhân nghèo và một số hội khác. Bất cứ xã hội nào cũng không thiếu những nhà hoạt động bất vụ lợi, am hiểu một lĩnh vực nào đó và sẵn sàng đứng ra bảo vệ một lý tưởng, một nhóm xã hội thiệt thòi… Cùng với Nhà nước trong một khung pháp lý phù hợp, họ sẽ góp phần vào việc lành mạnh hóa xã hội một cách đáng kể.

NGUYỄN THỊ OANH

Chào mừng ngày Phật Đản PL 2553

Buddha
Chào các bạn,

Hôm nay, Thứ bảy 9.5.2005, rằm tháng tư âm lịch, là Lễ Phật Đản PL. 2553, tức là Đức phật sinh ra 2553 năm về trước. Đọt Chuôi Non cầu chúc tất cả các bạn một Lễ Phật Đản nhiều tình yêu và an lạc.

Trong post này chúng ta có các thông tin sau đây:

1. Toàn văn thông điệp Phật Đản PL 2553, của Hoà thượng Thích Phổ Tuệ, Pháp Chủ Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam.

2. Link đến Giác Ngộ online:

    . Tòa Tổng Giám Mục TP HCM chúc mừng Phật đản PL. 2553

    . Chủ tịch UBTƯMTTQVN gửi thư chúc mừng Phật tử nhân Đại lễ Phật đản PL. 2553

    . Thông tin và hình ảnh Phật Đản 2009 khắp nơi

3. Hình ảnh về Ngày Phật Đản Liên Hợp Quốc 2008 tại Việt Nam, một ngày quan trọng cho Phật giáo Việt Nam.

4. Lời chào mừng của Hội Đồng Giáo Hoàng về Đối Thoại Liên Tôn gửi đến các Phật tử toàn thế giới, do mình dịch sang Việt ngữ.

Chúc các bạn cuối tuần nhiều Phật lộc.

Mến,

Hoành
.

Thông điệp Phật Đản PL.2553-2009 của Đức Pháp chủ GHPGVN
.

Hoà thượng Thích Phổ Tuệ
Hoà thượng Thích Phổ Tuệ

Nam mô Bản Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Hòa chung không khí đại hoan hỷ và hòa hợp của Tăng Ni, Phật tử trên khắp hành tinh, hôm nay các cấp Giáo hội Phật giáo Việt Nam, cũng như mỗi cơ sở tự viện trong toàn quốc, Tăng Ni, Phật tử cả nước long trọng tổ chức Đại lễ Kỷ niệm ngày Đản sinh của Đức Từ Phụ giáo chủ Bản Sư Thích Ca Mâu Ni Phật – Phật lịch 2553, dương lịch 2009. Thay mặt Ban Thường trực HĐCM và nhân danh cá nhân, tôi có lời cầu chúc đến chư tôn đức giáo phẩm, cùng toàn thể quý vị Đại đức Tăng Ni, cư sĩ Phật tử ở trong nước và ở nước ngoài thân tâm thường an lạc, Phật sự thành tựu.

Kỷ niệm ngày Đản sinh của Đức Bản Sư là sự kiện quan trọng của mỗi người Phật tử, đó cũng là cơ duyên để mỗi chúng ta khẳng định sự trong sáng của giáo lý Đức Phật và sự đóng góp của Phật giáo trong suốt chiều dài hơn 2.500 năm qua đối với nhân loại. Tư tưởng giáo lý về hòa bình, từ bi, hỷ xả, vô ngã, vị tha và tự giác ngộ đối với chính bản thân mỗi người vẫn luôn là kim chỉ nam đối với người con Phật trên con đường tu tập và phụng sự đạo pháp, dân tộc, đó cũng là tư tưởng phù hợp với sự tiến bộ xã hội. Đây chính là cốt lõi mà chúng ta cần phải nhận thức đúng đắn và trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp thích hợp trong việc giải quyết những vấn đề của thời đại như nghèo đói, chiến tranh, xung đột tôn giáo, sắc tộc và công bằng xã hội.

vesak1
Hai nghìn năm hiện diện, đồng hành với dân tộc và trở thành tôn giáo của dân tộc, Phật giáo Việt Nam phát huy những giá trị tích cực của giáo lý Đức Phật, góp phần tích cực đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Nhiều hoạt động Phật sự ích đạo lợi đời được các cấp Giáo hội Phật giáo Việt Nam và cá nhân mỗi Tăng Ni, Phật tử quan tâm chú trọng, triển khai toàn diện không chỉ ở trong nước mà còn đối với cộng đồng quốc tế và cộng đồng Phật tử Việt Nam đang sinh sống ở nước ngoài. Thay mặt Ban Thường trực Hội đồng Chứng minh, tôi có lời tán thán công đức đến các cấp Giáo hội Phật giáo Việt Nam cũng như cá nhân mỗi chư tôn giáo phẩm và Tăng Ni, Phật tử đã không ngừng tinh tấn, phụng sự Đạo pháp và Dân tộc để Phật pháp được xương minh, thế giới hòa bình, chúng sinh an lạc.

Nhân dịp ngày Đản sinh của Đức Bản Sư, tôi kêu gọi các cấp Giáo hội Phật giáo Việt Nam và mỗi Tăng Ni, Phật tử Việt Nam ở trong nước và ở nước ngoài, với vai trò trách nhiệm của mình, hoàn thành tốt mọi Phật sự để thiết thực chào mừng Đại lễ 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội và Hội nghị Thượng đỉnh Phật giáo Thế giới lần thứ VI được tổ chức tại Việt Nam vào trung tuần tháng 11 năm 2010.

Nam mô Bản Sư Thích Ca Mâu Ni Phật tác đại chứng minh.

TM. Ban Thường trực
Hội đồng Chứng minh GHPGVN
Pháp chủ

Hòa thượng THÍCH PHỔ TUỆ
.

vesak

Tòa tổng Giám mục chúc mừng Phật đản PL. 2553 – DL. 2009

Chủ tịch UBTƯMTTQVN gửi thư chúc mừng Phật tử nhân Đại lễ Phật đản PL. 2553

Thông tin và hình ảnh Phật Đản 2009 khắp nơi
.

Lễ Phật Đản Liên Hợp Quốc (United Nations Vesak) 2008
: Ngày Phật Đản 2008 là một dấu mốc lớn cho Phật giáo Việt Nam. Đó là Lễ Phật Đản Liên Hợp Quốc đầu tiên tại Việt Nam. Hơn 10 nghìn ngọn nến đã được thắp sáng trong Sân Vận Động Quốc Gia Mỹ Đình cho hoà bình, thịnh vượng và hạnh phúc của thế giới.

Năm 1999 Đại Hội Đồng Liên Hợp Quốc đồng ý mừng Lễ Phật Đản hằng năm tại Liên Hiệp Quốc, và từ năm 2000 đến nay, các quốc gia (mà đa số là) Phật giáo đã thay phiên tổ chức Ngày Phật Đản Liên Hợp Quốc tại nước mình. Năm 2008 là năm cho Việt Nam.

Các bạn có thể click vào ảnh dưới đây để xem một số hình ảnh về Ngày Phật Đản Liên Hợp Quốc 2008.

Phật Đản Liên Hợp Quốc 2008, Hà Nội
Phật Đản Liên Hợp Quốc 2008, Hà Nội

.

Làm chứng cho một Tinh Thần Nghèo Khó: Tín hữu Thiên Chúa Giáo và Phật tử đối thoại

peace
Các bạn Phật tử thân mến,

1. Lễ Phật Đản là một cơ hội tốt để chúng tôi gửi đến các bạn, với tư cách đại diện Hội Đồng Giáo Hoàng về Đối Thoại Liên Tôn, lời chúc mừng thành thật và cầu mong thân thiết: Cầu chúc lễ Phật Đản một lần nữa mang hân hoan và tĩnh lặng đến quả tim của mọi Phật tử trên thế giới. Ngày lễ thường niên này cho tín hữu Công giáo một cơ hội để chào mừng bạn bè và láng giềng Phật tử, và nhờ đó làm các thân tình bằng hữu thêm khắng khít cũng như tạo thêm thân tình mới. Các ràng buộc thân thiết này cho phép chúng ta chia sẻ với nhau những niềm vui, những hy vọng và những kho tàng tâm linh.

2. Trong khi làm mới lại cảm giác gần gũi với các bạn Phật tử trong thời đại này, càng ngày ta càng thấy rõ là cùng nhau chúng ta có thể đóng góp, trong cung cách trung thành với truyền thống tâm linh riêng của mình, vào phúc lợi của cộng đồng của chúng ta, cũng như cộng đồng nhân loại trên thế giới. Chúng tôi cảm nhận sâu xa thử thách trước mắt chúng ta đến từ, môt bên là hiện tượng nghèo đói càng ngày càng lan rộng trong nhiều hình thức, một bên là sự theo đuổi sở hữu vật chất không ngừng và bóng tối tràn ngập của chủ nghĩa tiêu thụ.

3. Như Đức Giáo Hoàng Benedict XVI mới nói đây, có hai loại nghèo rất khác nhau, đó là nghèo “tự nguyện” và nghèo “phải chống” (bài giảng ngày 1 tháng 1 năm 2009). Cho tín hữu Thiên chúa giáo, nghèo tự nguyện là cái nghèo cho phép chúng ta theo chân chúa Giêsu Kitô. Khi tự nguyện như thế, nguời Thiên chúa giáo sắn sàng để đón nhận ân huệ của chúa Giêsu, người đã vì chúng ta mà thành nghèo khổ dù người rất giàu có, để nhờ sự nghèo khổ của ngài mà chúng ra trở thành giàu có (2 Corinthians 8, 9). Chúng tôi hiểu rằng nỗi nghèo khổ này có ý nghĩa cao nhất là làm cái tôi trở thành trống rỗng, nhưng chúng tôi cũng hiểu một ý nghĩa nữa là chúng ta chấp nhận chính mình, với mọi tài năng và giới hạn của mình. Nghèo khó như vậy làm cho chúng ta sẵn lòng để nghe Thượng đế và nghe các anh chị em của chúng ta, cởi mở với các anh chị em, và kính trọng các anh chị em như là những cá nhân đáng kính. Chúng ta trân trọng mọi sáng tạo, kể cả các thành quả của con người, nhưng chúng ta được dạy là phải làm như vậy với tự do và tri ân, ân cần và kính trọng, với một tinh thần vô chấp cho phép chúng ta sử dụng mọi sản phẩm của thế giới như là chúng ta không sở hữu đìều gì nhưng lại nắm giữ mọi điều. (2 Corinthians 6, 10).

Nhà Thờ Phát Diệm VN
Nhà Thờ Phát Diệm VN

4. Đồng thời, như Giáo Hoàng Benedict nói, “có một loại nghèo khổ, một loại tước đoạt, mà Thượng đế không muốn và cần phải chống; loại nghèo khổ ngăn cản các cá nhân và gia đình sống với đầy đủ nhân phẩm; loại nghèo khổ xúc phạm công lý và bình đẳng và, do đó, đe doạ sự sống chung hoà bình.” Hơn nữa, “trong các xã hội giàu có tiền tiến, có bằng chứng về sự đi ra ngoài lề, cũng như nghèo khổ về tình cảm, đạo đức và tâm linh, trong những nguời có nội tâm lạc hướng với đủ mọi chứng bệnh dù là họ rất sung túc về kinh tế.” (Thông điệp cho Ngày Hoà Bình Thế Giới 2009, chú thích 2).

5. Khi người Công giáo suy gẫm như thế này về ý nghĩa của nghèo khổ, chúng tôi cũng chú tâm đến kinh nghiệm tâm linh của các bạn, các bạn Phật tử thân ái. Chúng tôi xin cám ơn các bạn về việc làm chứng đầy hứng khởi của các bạn về vô chấp và tri túc thường lạc. Các sư thầy, sư cô, và nhiều Phật tử trong các bạn sống cuộc sống nghèo khổ “tự nguyện”, sự nghèo khổ nuôi dưỡng quả tim con người, làm giàu rất nhiều cho đời sống với trí tuệ sâu xa soi chiếu ý nghĩa của hiện hữu, và quyết tâm bền vững trong việc thăng tiến thiện tâm của toàn thể cộng đồng nhân loại. Một lần nữa, xin cho phép chúng tôi được nói lời chào mừng tận đáy lòng và chúc tất cả các bạn một Lễ Phật Đản nhiều hạnh phúc.

Hội Đồng Giáo Hoàng về Đối Thoại Liên Tôn
Hồng Y Jean-Louis Tauran
Giám Đốc

Tổng Giám Mục Pier Luigi Celata
Tổng Thư Ký

Trần Đình Hoành dịch

Thử thách Anh ngữ hàng ngày — 9.5.2009

englishchallenge

Chào các bạn,

Trong cuối tuần, mình sẽ từ từ phân tích thử thách hôm qua và các câu trả lời của các bạn. Cám ơn các bạn đã hăng hái vui vẻ tham dự trò chơi không tốn tiền này 🙂

Vì cuối tuần nhiều người có thể có thời gian hơn một tí, cho nên mình có 3 mục hôm nay để các bạn giải quyết từ từ.

1. Sáu câu tục ngữ Việt để dịch sang tiếng Anh.

2. Sáu câu danh ngôn Anh để dịch sang tiếng Việt.

3. Một bài viết của bình lụân gia Fareed Zakaria trên Newseek về cuộc chiến chống khủng bố ở Pakistan. Fareed Zakaria là bình luận gia có uy tín lớn trên thế giới. Bài này hơi dài, các bạn không cần phải dịch hết. Mình post cả bài ở đây để bạn nào thích đọc cả bài thì đọc, vì đây là một bình luận thời sự hay.

Chúc các bạn cuối tuần vui vẻ. Và nhiều hứng thú tấn công các thử thách này.

Mến,

Hoành
_________

Sáu câu tục ngữ Việt để dịch sang Anh ngữ

1. Lười biếng chẳng ai thiết,
Siêng việc ai cũng chào mời.

2. Quý kẻ xốc vác,
Chuộng kẻ ham làm.

3. Kết gạo hết mọi thứ;
Có lúa, có mọi đường.

4. Ngồi dưng ăn hoang,
Mỏ vàng cũng cạn;
Học thầy học bạn,
Vô vạn phong lưu

5. Bạc đeo đầy mình,
Không bằng thông minh sáng suốt.

6. Bố mẹ dạy không bằng thầy dạy;
Thầy dạy không bằng biết suy.

(Vũ ngọc Phan: Tục ngữ, Ca dao, Dân ca Việt Nam)
.

Sáu câu danh ngôn Anh ngữ để dich sang Việt ngữ

1. “There is one quality that one must possess to win, and that is definiteness of purpose, the knowledge of what one wants, and a burning desire to possess it.”

– Napoleon Hill

2. “Your circumstances may be uncongenial, but they shall not remain so if you only perceive an ideal and strive to reach it. You cannot travel within and stand still without.”

– James Allen

3. “Begin doing what you want to do now. We are not living in eternity. We have only this moment, sparkling like a star in our hand-and melting like a snowflake…”

– Marie Beyon Ray

4. “Somehow I can’t believe that there are any heights that can’t be scaled by a man who knows the secrets of making dreams come true. This special secret – curiosity, confidence, courage, and constancy, and the greatest of all is confidence. When you believe in a thing, believe in it all the way, implicitly and unquestionable.”

– Walt Disney

5. The art of acceptance is the art of making someone who has just done you a small favor wish that he might have done you a greater one.

-Russell Lynes

6. “Man often becomes what he believes himself to be. If I keep on saying to myself that I cannot do a certain thing, it is possible that I may end by really becoming incapable of doing it. On the contrary, if I have the belief that I can do it, I shall surely acquire the capacity to do it even if I may not have it at the beginning.”
– Mahatma Gandhi

.

Change We Can’t Believe In
Pakistan’s military has lost every conventional war. It’s far better at guerrilla wars.

    By: Fareed Zakaria

Fareed-thumb7

Finally, we are told, the Pakistani military has gotten serious about the threat that militants pose to its country. The Army is now fighting back for real, sending troops to dislodge the jihadists who had spread out of the Swat Valley. We hear this from Pakistani commanders, of course, but also from civilian leaders as well as from U.S. officials, including the secretary of defense, Robert Gates. In an interview with me for CNN, Gates said, “I think the movement of the Taliban so close to Islamabad was a real wake-up call for them.”

Maybe. It was only a few years ago that Husain Haqqani, a former Pakistani diplomat who recently became ambassador to Washington, wrote a brilliant book arguing that the Pakistani government—despite public and private claims to the contrary—continued “to make a distinction between ‘terrorists’ … and ‘freedom fighters’ (the officially preferred label … for Kashmiri militants).” He added: “The Musharraf government also remains tolerant of remnants of Afghanistan’s Taliban regime, hoping to use them in resuscitating Pakistan’s influence in Afghanistan.” The Pakistani military’s world view—that it is surrounded by dangers and needs to be active in destabilizing its neighbors— remains central to Pakistan’s basic strategy.

While President Musharraf broke with the overt and large-scale support that the military provides to the militant groups, and there have continued to be some moves against some jihadists, there is no evidence of a campaign to rid Pakistan of these groups. The leaders of the Afghan Taliban, headed up by Mullah Mohammed Omar, still work actively out of Quetta. The Army has never launched serious campaigns against the main Taliban-allied groups led by Gulbuddin Hekmatyar or Jalaluddin Haqqani, both of whose networks are active in Pakistan. The group responsible for the Mumbai attacks, Lashkar-e-Taiba, has evaded any punishment, morphing in name and form but still operating in plain sight in Lahore. Even now, after allowing the Taliban to get within 60 miles of the capital, the Pakistani military has deployed only a few thousand troops to confront them, leaving the bulk of its million-man Army in the east, presumably in case India suddenly invades. And when the Army does attack the Taliban, as it did a couple of years ago in the same Swat Valley, it bombs, declares victory and withdraws—and the jihadists return.

The rise of Islamic militants in Pakistan is not, Ambassador Haqqani writes, “the inadvertent outcome of some governments.” It is “rooted in history and [is] a consistent policy of the Pakistani state.” The author describes how, from its early years, the Pakistani military developed “a strategic commitment to jihadi ideology.” It used Islam to mobilize the country and Army in every conflict with India. A textbook case was the 1965 war, when Pakistan’s state-controlled media “generated a frenzy of jihad,” complete with stories of heroic suicide missions, martyrdom and divine help.

Pakistan was created as an Islamic state, with a population that shared little geographically, ethnically and linguistically. The country’s rulers have maintained power using religion as an ideology. And then the region’s geopolitics—the tensions with India and the battle against the Soviet Union in Afghanistan—helped create deep links between the Pakistani military and Islamic militant groups. The Pakistani military has lost the wars it has fought via traditional means. But running guerrilla operations—against the Soviets, the Indians and the Afghans—has proved an extremely cost-effective way to keep its neighbors off balance.

Has this all changed? The ambassador’s book, “Pakistan: Between Mosque and Military,” marshals strong evidence that, at least until recently, the Pakistani military made the pretense of arresting militants in order to get funds from Washington. But it never shut down the networks. “From the point of view of Pakistan’s Islamists and their backers in the ISI [Pakistan’s military intelligence],” Haqqani writes, “jihad is on hold but not yet over. Pakistan still has an unfinished agenda in Afghanistan and Kashmir.”

The book concludes by telling how Pakistan’s military has used the threat from these militant groups to maintain power, delegitimize the civilian government and—most crucial of all—keep aid flowing from the United States. And the book’s author has now joined in this great game. Last week Ambassador Haqqani wrote an op-ed claiming that Pakistan was fighting these militant groups vigorously. The only problem, he explained, was that Washington was reluctant to provide the weapons, training and funds Pakistan needs. He has become a character out of the pages of his own book.

In truth, Haqqani is a smart and honorable man with an impossible job. In its first months, Pakistan’s democratic government has been overruled by the generals every time it has asserted its authority. If Washington hopes to change Pakistan’s world view, it will have to take a much tougher line with the military while supporting the country’s civilian leaders, whose vision of Pakistan’s national interests is broader and less paranoid, and envisions more cooperation with its neighbors. The $15 billion Biden-Lugar bill, designed to help develop Pakistan’s civil society, is a big step in that direction.

Perhaps, as Haqqani’s op-ed implies, the strategy of the past six decades has suddenly changed. But I recall what Warren Buffett once called the four most dangerous words in investing: “This time it’s different.”

© 2009

Thử thách Anh ngữ hàng ngày — 8.5.2009

englishchallenge

Chào các bạn,

Hôm nay chúng ta có 2 thử thách.

1. 10 câu danh ngôn chị Huỳnh Huệ gửi.

Khi dịch danh ngôn các bạn để ý các điều này. Danh ngôn chỉ có vài chữ, cho nên mỗi chữ đều quý. Để ý nghĩa lý của từng chữ rất kỹ. Cách hành văn trong danh ngôn thường cũng rất tế nhị. Tác giả đã hành văn cách đó, mà không phải như cách bình thường, đương nhiên là có lý do. Đa số danh ngôn chẳng có ý gì mới, chỉ có cách nói là hay. Cho nên khi dịch, bạn phải tìm cách “nói” cho hay.

Mình sẽ dùng các câu dịch hay của các bạn, để post trong mục danh ngôn hàng ngày của Đọt Chuối Non.

2. Thử thách số 2 là một câu trích vê Tình Yêu mà mình thích nhất. Nó nằm trong Thánh Kinh. Mình đưa ra đây vì các lý do sau đây:

* Để ngoại giao giỏi với Tây Phương, các bạn không thể không biết Thánh kinh. Đó cũng như ngoại giao với dân Việt mà không biết Lạc Long Quân và Âu Cơ.

* Đây là câu quote vể tình yêu nổi tiếng nhất ở trời Tây. Không đám cưới nào mà không đọc. Đó là chưa kể nhiều dịp khác, như Valentines, Mother’s Day, v.v…

* Thánh Kinh là quyển sách được tôn trọng nhất ở Tây Phương. Mỗi từ mỗi chữ đều được tôn trọng hết sức. Cho nên khi dịch mình phải dịch từng chữ rất kỹ. Dịch Thánh kinh đòi hỏi kỹ luật cao nhất trên tất cả mọi loại dịch (cũng như dịch Bát Nhã Tâm Kinh của mình vậy). Không có chỗ cho mình thêm thắt.

* Bản mình dùng là International Version, bản Anh ngữ hiện đại hay nhất. Anh ngữ bản này rất chuẩn, rất hiện đại, và rất International, tức là không quá Mỹ, không quá Anh, không quá Úc…

* Dĩ nhiên la đoạn này đã được dịch ra trong các Thánh Kinh tiếng Việt, nhưng các vị ấy dịch kiểu không còn một tí nào tình tứ của bản chính. Các bạn đừng theo đường dịch đó.

Sau đây là hai bài thử thách. Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành
.

I. Ten quotes for you to face today’s challenge

1. Fall seven times, stand up eight
The work praises the man.
Do not kick against the pricks.
– Aeschylus

2. We live by encouragement and die without it – slowly, sadly, angrily.
– Celeste Holm

3. The glow of inspiration warms us; it is a holy rapture.
– Publius Ovidius Naso Ovid

4. You beat your Pate, and fancy Wit will come: Knock as you please, there’s no body at home.
– Alexander Pope

5. Courage is not the towering oak that sees storms come and go; it is the fragile blossom that opens in the snow.
– Alice Mackenzie Swaim

6. In the long run men hit only what they aim at.
– Henry David Thoreau

7. The miracle is this — the more we share, the more we have.
– Leonard Nimoy

8. Winning doesn’t always mean being first, winning means you’re doing better than you’ve done before.
– Bonnie Blair

9. Ships in harbor are safe, but that’s not what ships are built for.
– John Shedd

10. There is no telling how many miles you will have to run while chasing a dream
– Unknown author

.

1 Corinthian 13 (Đây là Chương 13 của quyển Corinthian 1, trong Bible. Nhớ trong đầu để làm ngoại giao).

If I speak in the tongues of men and of angels, but have not love, I am only a resounding gong or a clanging cymbal. If I have the gift of prophecy and can fathom all mysteries and all knowledge, and if I have a faith that can move mountains, but have not love, I am nothing. If I give all I possess to the poor and surrender my body to the flames, but have not love, I gain nothing.

Love is patient, love is kind. It does not envy, it does not boast, it is not proud. It is not rude, it is not self-seeking, it is not easily angered, it keeps no record of wrongs. Love does not delight in evil but rejoices with the truth. It always protects, always trusts, always hopes, always perseveres.

Love never fails.

“Tôi” và “chúng ta”

team work

Một thanh niên chạy xe bạt mạng bất kể người xung quanh, một thị dân xả rác bừa bãi, một bạn trẻ ngồi ung dung trong khi một cụ già đứng mỏi chân trên xe buýt… Làm gì để nét đẹp của lối sống không vị kỷ, vì mọi người, hành xử văn hóa nơi công cộng được phát huy?

Người lớn “vì chúng ta”

Một lần nọ, tôi đi Tiệp Khắc (cũ) với một chị bạn. Chúng tôi vừa bước lên xe điện thì năm sáu thanh niên đứng bật dậy để nhường chỗ. Bước xuống xe đi bộ một lát, chị bạn tôi bỏ miếng giấy gói kẹo vào giỏ rác treo ở thân cây, bất ngờ gió thổi bay miếng giấy, khi chúng tôi quay lại để lượm nó thì một bé gái chừng bảy tám tuổi đã lượm và bỏ vào giỏ.

Người nước ngoài khen người VN thông minh, cần cù, hiếu khách, nhưng các chuyên gia quốc tế nhận xét rằng người VN không biết làm việc chung, thiếu tinh thần êkip.

Giữa một thanh niên chạy xe bạt mạng bất kể người xung quanh, một thị dân xả rác bừa bãi và một ông cán bộ tham ô, tôi thấy có một điểm giống nhau, đó là họ chỉ biết đến bản thân mình và không có một ý thức nào về trách nhiệm của họ đối với tập thể.
congdong

Có lần tôi được mời tham gia một diễn đàn hợp tác phát triển về VN tại Đan Mạch. Một phụ nữ Đan Mạch mời tôi về nhà của chị vì “tôi thường nói cho con tôi về trẻ em VN mà các cháu chưa bao giờ gặp một người VN”. Cuộc gặp gỡ với các cháu thật là vui.

Sáng hôm sau, tôi ngạc nhiên về bữa điểm tâm đạm bạc chỉ với bánh mì bơ và cà phê, không có các món patê, giămbông mà tôi thích. Chị chủ nhà giải thích: “Chúng tôi có chương trình chia sẻ góp tiền gửi các nước đang phát triển, trong đó có VN. Để tập cho trẻ em ý thức chia sẻ, cả gia đình chúng tôi đồng lòng nhịn ăn thịt nguội, mứt… cho bữa điểm tâm suốt 40 ngày”.

Tôi còn nhớ những năm 1950, khi đang du học ở Mỹ, tôi được nhà trường gửi đi dự một cuộc tranh luận liên trường về chủ đề cá nhân và cộng đồng.

Không chỉ có nói mà trường còn đưa chúng tôi tham gia các dịch vụ cộng đồng, sau đó chúng tôi thảo luận về việc làm sao nâng cao tinh thần trách nhiệm hơn nữa. Không chỉ hành động mà còn phải suy nghĩ về hành động của mình. Không có những người lớn hoàn toàn “vì chúng ta” thì bọn trẻ chúng tôi không bao giờ biết dung hòa “cái tôi và cái chúng ta” trong cuộc sống.

teamwork
Lý thuyết suông khó hiệu quả

Theo các nhà nghiên cứu, hiện tượng “dính chùm” hay thiếu “ranh giới” giữa các thành viên gia đình VN (cá nhân không có đời sống riêng và quyền tự quyết) là các nhân tố góp phần tạo ra mâu thuẫn khi con cái thời nay ngày càng muốn sự tự lập và cha mẹ lại càng siết chặt sự kiểm soát của mình. Khi cha mẹ không từ từ đổi mới tư duy và con cái ngày càng muốn tự do, nhiều thanh thiếu niên có thể bứt phá để đi tới một chủ nghĩa cá nhân cực đoan. Có em bỏ nhà ra đi, rơi vào tuyệt vọng hay sa vào tệ nạn xã hội.

Trong thời gian dài, do ngần ngại nói lên suy nghĩ thật của mình, nhất là tuổi trẻ sống khép kín, từ đó nhiều người chỉ sống cho mình, vì mình và ít mở lòng quan tâm đến chuyện xã hội. Không phải chúng ta không có chủ trương giáo dục con người VN có tinh thần vì tập thể hơn, nhưng sự kêu gọi đây đó bằng khẩu hiệu, bằng những bài học lý thuyết suông sẽ khó mang lại hiệu quả.

Ở nhiều nước phát triển, người ta sớm dạy cho trẻ em về tinh thần trách nhiệm. Trẻ em, dù trai hay gái, phải tham gia làm việc nhà, phải giữ gìn giờ giấc và vệ sinh chung, phải công bằng với anh em trong nhà như bạn bè trong lớp học. Trẻ phải học cách đi đường, tôn trọng luật lệ giao thông, kính trên nhường dưới trong tập thể… Những cử chỉ như vậy không thể được học từ một lớp giáo dục công dân mang tính lý thuyết, mà trẻ em từ lúc còn nhỏ phải có cơ hội thực hành với cha mẹ và sau đó với cô thầy giáo qua các bài tập cụ thể. Trên hết, trẻ em phải thấy tấm gương trong đời sống hằng ngày.

NGUYỄN THỊ OANH (giảng viên công tác xã hội và phát triển cộng đồng)

Thử thách Anh ngữ hàng ngày — 7.5.2009

englishchallenge

Chào các bạn,

Hôm nay chúng ta có 2 thử thách. Môt là dịch một lời nhạc của Trịnh Công Sơn sang tiếng Anh, do chi Huỳnh Huệ gửi. Và một bản tin kinh tế của Asociated Press (trên Newsweek) để dịch sang tiếng Việt.

1. Về bản dich TCS, vì TCS viết rất vắn tắt và hiểu ngầm nhiều từ, mình nghĩ là các bạn phải biến mỗi dòng của TCS thành một câu văn xuôi tiếng Việt rõ ràng thì mới có thể dịch được, nếu không thì không ai hiểu được câu tiếng Anh.

(Về thơ văn, có một số thơ văn chỉ hay trong ngôn ngữ của nó, như đa số thơ Nguyễn Bính, dịch ra tiếng Anh nó không còn nghe hay nữa. Nhiều nét đẹp trong lời ca của TCS cũng như thế, rất Việt Nam, nhưng không international. Tuy nhiên các bạn cố thử xem trong đoạn này mình có thể mang cái đẹp vượt biên giới quốc gia không).

2. Bản tin Newweek thì có đây vì mình nghĩ là các bạn nên tiếp tục làm quen với tiêu chuẩn Anh ngữ quốc tế, và các từ trong nhiều lãnh vực học thuật khác nhau.

Hai bài thử thách đặt ở cuối bài này. Bây giờ để mình giải thích một tí về bài thơ Grammar hôm qua. Mình chỉ nói về qui luật grammar, các bạn tự thấy qui luật sống.

Live in active voice, not the passive.

Active voice là cách nói chủ động (thể chủ động) như là I love her.

Passive voice là cách nói bị động như she is loved (by my best friend :-))

Qui luật văn pham là chỉ dùng active voice để viết vì vừa mạnh mẽ, vừa rõ ràng. Không nên dùng passive voice, trừ khi mình bị bắt buộc vì lý do nào đó. Ví dụ: I love her thì rất rõ. Nhưng she is loved thì rất mù mờ. Who loves her? Cứ khắc khoải với câu hỏi đó trong đầu mỗi đêm có phải là đau khổ không? 🙂

Active voice cũng có ảnh hưởng rât mạnh về tâm lý. Các bạn đọc các bài tư duy tích cực của mình đều thấy mình đã lập đi lập lại điều này rất nhiều lần.

happydog
Live in the indicative mood rather than subjective.

Indicative mood, hay declarative mood, hay common mood, hay fact mood, and plain mood, là cách nói bình thường nhất để diễn tả một sự kiện, như “it’s windy” hay “she is riding a bicycle.” Dịch ra là “cách diễn tả” là đúng nhất, mặc dù người ta hay dùng từ “chỉ định” hay một từ nào đó.

Đối với người viết chuyên nghiệp (professional writer), thì indicative mood còn có nghĩa là diễn tả một cách khách quan (objective), không chủ quan (subjective), có nghĩa là sự vật thế nào thì diễn tả thế ấy đừng mang cái chủ quan của mình vào.

Ví dụ: She pedaled the bike, very slowly, back bent, head lowered, looking down straight at the front wheel, her long hair blown slightly by the evening wind.

Đây là diễn tả objectively, mục đích là để người đọc thấy đến hình ảnh, và từ đó người đọc có thể đoán được là cô ấy đang buồn hay suy tư dữ lắm.

Nó mạnh mẽ hơn là “She pedaled the bike sadly.”

Tại sao? Tại vì khi mình mang tư tưởng chủ quan (sadly) của mình vào, nhiều độc giả sẽ bực mình (trong tiềm thức) vì “ông này nhiều ý kiến độc đoán quá.”

Live in the present tense facing the duty at hand.

Thì hiện tại mạnh mẽ và năng động nhất. Nhiều nhà văn viết chuyện dĩ vãng nhưng chỉ dùng thì hiện tại. Họ có thể bắt đầu một chương bằng “Paris 1945”, sau đó là vô thì hiện tại từ đầu đến cuối chương.

Về cách sống thì đó là cách sống “Ở đây,lúc này” mà chị Kiêm Yến mới comment trong bài viết của mình hôm qua. Đây là cách sống chánh niệm của nhà Phật, là và hiên sinh (cách tốt, không phải hiện sinh ma túy) trong triết lý Tây Phương.

Live in the first person.

Đây là một qui luật viết. Nếu viết về điều gì chính mình thấy, chính mình nghe, chính mình trải nghiệm, thì có sức mạnh và đáng tin hơn là kể lại chuyện của người khác.

Live in singular number.

Đây là qui luật đừng nói về số đông theo kiểu vơ đũa cả nắm. Mình mới nói đến vấn đề này trong mấy thử thách English vừa qua, khi nói về chữ some. Nói về một phần, đừng bao giờ nói tất cả. Ví dụ Students today are reckless. Sinh viên ngày nay rất bất cẩn. Đương nhiên sẽ có bạn phản đối, “Ê, tui sinh viên nhưng tui có bất cẩn đâu.” Nếu nói some students are reckless thì không ai phàn nàn được.

Và nếu nói về một người nào đó mà mình biết rõ, thì bài viết của mình còn mạnh mẽ hơn rất nhiều.

Mình đề nghị là các bạn cần nhắc các qui luật ngữ pháp này trong bài dịch, để vừa nhớ ngữ pháp, vừa nhớ cách sống.

Và sau đây là hai thử thách hôm nay.

Chúc các bạn một ngày vui. 🙂

Hoành
.

cho-meo
1. Hôm nay xin mời các bạn dịch một phần bài hát của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, cố nhạc sĩ được yêu mến của nhiều, rất nhiều người Việt Nam ( và cả nước ngoài nữa )

Đảm bảo các bạn chỉ đọc 4 khổ nhạc ( như thơ ) lên đã thấy yêu đời .

Người gửi source này mong các bạn tiếp tục chọn trong nhiều niềm vui mỗi ngày, hãy chọn niềm vui đến với Đọt Chuối Non và tư duy tích cực yêu đời nhé.

Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui
Chọn những bông hoa và những nụ cười
Tôi nhặt gió trời mời em giữ lấy
Để mắt em cười tựa lá bay

Mỗi ngày tôi chọn đường mình đi
Đường đến anh em đường đến bạn bè
Tôi đợi em về bàn chân quen quá
Thảm lá me vàng lại bước qua

Và như thế tôi sống vui từng ngày
Và như thế tôi đến trong cuộc đời
Đã yêu cuộc đời này bằng trái tim của tôi

Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui
Cùng với anh em tìm đến mọi người
Tôi chọn nơi này cùng nhau ca hát
Để thấy tiếng cười rộn rã bay
.

2. Xin các bạn dich cả đầu đề nhé.

China’s premier says stimulus working, Chinese economy is better than expected
By GILLIAN WONG Associated Press Writer

(BEIJING) Chinese Premier Wen Jiabao said Saturday the country’s stimulus package is working and the economy is “better than expected,” but he cautioned that complete recovery will take much more time because the global financial crisis continues to spread.

Wen, also China’s top economic official, pledged to pull the country out of its slump by expanding domestic demand, building major infrastructure projects, finding jobs for college students and improving the social safety net.

Wen spoke at the Boao Forum, an annual gathering of government and business leaders on the tropical southern island province of Hainan. The theme of this year’s conference, which organizers said drew 800 executives, was “Asia: Managing Beyond the Crisis.”

The premier, the country’s No. 3 ranking leader, said he was confident China could overcome the crisis but warned that global economic recovery will be a “long and torturous process.”

“We should not lose sight of the fact that the international financial crisis is still spreading, the basic trend of world economic recession is not reversed,” he said, adding that problems in the world’s financial system were still unsolved.

But Wen said China was in relatively good shape because the country has sufficient capital, a solid banking industry, rich labor resources that will help it overcome the crisis.

END

Một lối sống văn minh

simplelife
Nguồn: Tuổi Trẻ

Hội chứng “xài đồ xịn” không chỉ phổ biến trong giới trẻ VN với xe và điện thoại di động đời mới mà còn lan rộng ra nhiều giới. Báo chí nước ngoài đã đề cập tới chuyện xài sang của tầng lớp giàu có mới ở VN.

Hiện tượng này có thể được giải thích bằng nhiều cách. Trước tiên là để “lấy le” với thiên hạ khi ta chưa tự tin lắm về giá trị thật của mình. Kế đó là một hội chứng được gọi là “tâm lý nhà giàu mới”. Khi có tiền và tiếp cận với hàng hóa thì những “nhà giàu mới” không thể nào cưỡng lại nổi. Họ cần phô trương của cải vật chất để tạo cho mình một vị trí mới trong xã hội. “Nhà giàu cũ” lâu đời không cần chuyện đó.

Thế giới hay nhắc đến các nhà hoạt động nổi tiếng, các tỉ phú đôla như là những người sống vô cùng giản dị. Thật vậy “người xịn” không cần “đồ xịn” như một vỏ bọc bên ngoài. Những bậc “siêu xịn” như Bác Hồ hay ông Gandhi thì chỉ bộ bà ba nâu hay bộ áo vải thô năm này qua năm khác cũng được toàn thế giới nể phục.

Các nước giàu phương Tây bắt đầu sự phát triển kinh tế bằng sự tiết kiệm. Tính cách này ăn sâu trong nền văn minh của họ đến độ ngày nay phần lớn các gia đình dù giàu có vẫn tiêu pha rất hợp lý. Trong khi một “bệnh lý” thường thấy ở các nước nghèo lại là xài phung phí. Đáng ngạc nhiên là ở nước ta, một nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đặt nặng lý tưởng công bằng xã hội, với một người thầy tầm cỡ thế giới về cần kiệm là Bác Hồ mà hiện nay tình trạng phung phí, xa hoa lại đang rất phổ biến cho dù ta còn đứng trong “top” về nghèo đói.

simplelife1
Một dạo người ta nhấn mạnh tiêu xài để kích cầu nhưng rõ ràng “phong trào” đã đi quá đà. Và rõ ràng là phải có một phong trào lành mạnh đi ngược lại mà không ai khác hơn các bạn trẻ phải gánh lấy trách nhiệm này. Ước gì song song với những phong trào như Mùa hè xanh, tổ chức Đoàn sẽ phát động một phong trào sống cần kiệm với những chương trình hành động cụ thể. Ví dụ ngoài việc bật đèn pha rọi thẳng vào các điểm đen tiêu xài phung phí, suy nghĩ về chuyện xài đồ xịn trong giới trẻ, có thể trở lại phong trào kế hoạch nhỏ, thậm chí phân loại rác… mà chúng ta nói nhưng chưa làm được. Chúng ta có thể làm giàu từ rác đấy. Và còn nhiều chuyện khác có thể làm nữa.

Năm 1974 tôi được mời tham gia một diễn đàn hợp tác phát triển ở Bắc Âu để nói về VN. Một gia đình mời tôi về nhà họ nghỉ một đêm để nói cho con họ về trẻ em VN. Sáng hôm sau tôi vô cùng ngạc nhiên về bữa điểm tâm quá đạm bạc chỉ với bánh mì, bơ và cà phê. Bà chủ nhà giải thích: đó là để tập cho bọn trẻ tiết kiệm; và số tiền thay vì mua thịt nguội, phômai, mứt trong 40 ngày của mùa chay sẽ là phần đóng góp của bọn trẻ vào quĩ “Mùa chay chia sẻ” để hỗ trợ các nước nghèo, trong đó có VN. Thế đấy, bạn trẻ cũng có thể tiết kiệm để chia sẻ như đã thấy trong xã hội ta. Nếu nó thành một phong trào, hẳn sẽ có tác dụng nhắc nhở những người lớn đã quên lời dạy “Cần, kiệm, liêm, chính” của Bác Hồ mà không biết mắc cỡ.

Tôi mong sao từ hàng ngũ của các bạn xuất hiện các cán bộ thật giỏi, hết lòng vì dân mà ăn mặc xuề xòa, đi xe cà tàng để quần chúng mê tít và theo gương.

NGUYỄN THỊ OANH

Stand by Me (Phiên bản quốc tế)

Ben E. King, Summerfest 2006
Ben E. King, Summerfest 2006

Chào các bạn,

Stand by Me là bản nhạc rất nổi tiếng của Ben. E. King, ca sĩ nhạc soul và R&B (Rythm & Blues — thuộc dòng nhạc Jazz). Ông sinh năm 1938 ở New York. Hiên thời ở bang New jersey, kế New York, và hoạt động cho quỹ từ thiện Stand by Me do ông sáng lập. John Lennon cũng đã hát bài này.

Phiên bản chúng ta có đây là phiên bản quốc tế, do nhiều người trên khắp thế giới hát, phần nhiều là trên đường phố. Post lên đây để các bạn dùng vài phút mở đầu ngày. Mình cũng đã dịch lời sang tiếng Việt dưới đây.

Mến,

Hoành
.

Stand by me

When the night has come
And the land is dark
And the moon is the only light we’ll see
No I won’t be afraid, no I won’t be afraid
Just as long as you stand, stand by me
And darlin’, darlin’, stand by me,
Oh now now stand by me
Stand by me, stand by me
If the sky that we look upon
Should tumble and fall
And the mountains should crumble to the sea
I won’t cry, I won’t cry, no I won’t shed a tear
Just as long as you stand, stand by me
And darlin’, darlin’, stand by me, oh stand by me
Stand by me, stand by me, stand by me-e, yeah
Whenever you’re in trouble won’t you stand by me,
Oh now now stand by me
Oh stand by me, stand by me, stand by me
Darlin’, darlin’, stand by me-e, stand by me
Oh stand by me, stand by me, stand by me

Ben E. King
.

Đứng bên em

Khi đêm về
Và mặt đất tối tăm
và mặt trăng là ánh sáng duy nhất ta thấy
Không, em sẽ không sợ hãi, không, em sẽ không sợ hãi
Nếu anh đứng bên em, đứng bên em.

Và anh ơi, anh ơi, đứng bên em,
Ô, ngay bây giờ, đứng bên em
Đứng bên em, đứng bên em

Nếu bầu trời ta đang ngắm
Sụp đổ
Và núi ngã vào biển
Em sẽ không khóc, em sẽ không khóc,
Em sẽ không đổ giọt nước mắt nào
Nếu anh đứng bên em, đứng bên em,

Và anh ơi, anh ơi, đứng bên em, Ô đứng bên em
Đứng bên em, đứng bên em, đứng bên em, vâng,

Khi anh gặp khó khăn,
Anh sẽ đứng bên em không?
Ô ngay bây giờ, đứng bên em
Ô đứng bên em, đứng bên em, đứng bên em

Trần Đình Hoành dịch

Thử thánh Anh ngữ hàng ngày — 6.5.2009

englishchallenge

Chào các bạn,

Cám ơn các bạn đã hưởng ứng nhiệt liệt việc dịch bài thơ Dreams hôm qua. Bài thơ đó rất giản dị, không có nhiều điều phải mang qua bản dịch–chỉ có hai hình ảnh đơn giản và một ít nhịp điệu. Như các bạn đã thấy, thử thách trong một bài như vậy thường là làm thế nào để bài dịch của mình có nhịp điệu hay mà không phải thêm thắt gì mấy. Nếu thêm thắt vài từ vô thưởng vô phạt để lấy nhịp điệu thì chẳng ai phàn nàn. Và, như chị Huệ nói, việc chính là đọc lên nghe êm ái như thơ.

Hôm nay chúng ta có 2 thử thách (thay vì một 🙂 )

* Thử thách 1 dễ hơn, nhưng vui hơn (Luật đời là vậy, uống cà phê và chơi game thi vui hơn là giải toán 🙂 ). Đây là một bài từ chị Huỳnh Huệ gọi là Grammar for Life. Gồm các câu nói đến các qui luật grammar Anh ngữ, nhưng áp dụng cho đời sống, để các bạn dịch ra Việt ngữ.

* Thử thách thứ hai là một đoạn ngắn trong một bài báo của Newsweek để các bạn dịch qua Việt ngữ. Sở dĩ mình chọn Newsweek vì Newsweek là tuần báo hàng đầu của Mỹ, và được các thầy cô dạy Anh văn dùng trong lớp nhiều nhất cho học sinh. Newsweek viết bài cũng với mục đích được dùng để dạy Anh văn.

Mình nghĩ là các bạn nên đọc báo nước ngoài thường xuyên để từ từ ngấm “giọng Anh văn mẹ đẻ.”

Chúc các bạn một ngày vui. Hai thử thách này ở dưới đây. Nhào vô chiến đấu nhé.

Mến,

Hoành
_____________

I. Grammar For Life

Live in active voice, not the passive.
Think more about what you make happen than what happens to you.

Live in the indicative mood rather than subjective.
Be concerned with things as they are rather than as they might be.

Live in the present tense facing the duty at hand.
Without regret for the past or worry for the future.

Live in the first person,
criticising yourself rather than finding fault with others.

Live in singular number,
caring more for the approval of your own conscience than for the applause of the crowd.

And if you want a verb to conjugate,
you cannot do better than to take a verb “to love”.

II. Prisoners of the White House

Smart decisions don’t grow in a vacuum. The most successful presidents recognize the fact and encourage debate—and even rivalry—between their advisers. They do their best to consider the options fully. All the same, it’s harder than many people might imagine for our national leaders to keep the field of opinions from turning into a monoculture.

It’s the curse of the modern presidency. Our chief executives need to make an active, aggressive effort to reach beyond their immediate circle of advisers, to demand fresh thinking and avoid the sycophancy that comes with the Oval Office. Otherwise, they’ll only hear what they want to hear—or what their aides tell them. To judge from “War of Necessity, War of Choice,” Richard N. Haass’s new book on presidential decision-making with regard to Iraq, George W. Bush lived in a bubble, partly of his own making, that walled off creative dissent or even, in some cases, common sense.

Mindful of his predecessor, Barack Obama seems to be trying harder to make sure he hears all sides. On the night of April 27, for instance, the president invited to the White House some of his administration’s sharpest critics on the economy, including New York Times columnist Paul Krugman and Columbia University economist Joseph Stiglitz. Over a roast-beef dinner, Obama listened and questioned while Krugman and Stiglitz, both Nobel Prize winners, pushed for more aggressive government intervention in the banking system.

END

Bắt đầu từ người thầy

thay
Nguồn: Tuổi Trẻ

Nhắc đến vấn đề đổi mới phương pháp giảng dạy, người ta thường nhắc đến trang thiết bị hiện đại như phòng thí nghiệm, phương tiện nghe nhìn, học cụ… và thường lại quên điều chính yếu nhất. Đó là sự đổi mới trong tư duy và cách dạy của người thầy cùng sự chủ động hưởng ứng của người học. Từ ngàn xưa Lão Tử đã nói: “Cái gì ta nghe ta quên, cái gì ta thấy ta nhớ, cái gì ta làm ta biết”. Phải tự mình làm mới biết.

Gần đây hơn các nhà tâm lý giáo dục đã đúc kết:

Chúng ta nhớ…………….. Những gì ta

10% …………………………..đọc
20% …………………………..nghe
30% …………………………..thấy
50% …………………………..nghe và thấy (các phương tiện nghe nhìn)
80% …………………………..nói (đối thoại với thầy, thảo luận nhóm…)
90% …………………………..nói và làm điều chúng ta suy nghĩ (đóng kịch, sắm vai thực tập trong phòng thí nghiệm hay hiện trường để áp dụng điều đã học…)

Như thế với phương tiện nghe nhìn, người học nhớ được 50% nội dung trình bày, thế cũng đã tốt. Nhưng nếu chính người học chủ động hành động như nói hay làm thì hiệu quả còn cao hơn. Ví dụ phương pháp sắm vai có thể chỉ chiếm 15 phút mà gây được sự “thức tỉnh” nhớ đời.

Thảo luận nhóm, mô phỏng sắm vai… có thể được thực hiện mà không cần máy móc. Dự một lớp học ở Philippines cách đây vài năm, tôi ngạc nhiên thấy ở một lớp cao học người ta ghi kết quả thảo luận trên những tờ giấy dầu vàng khè. Hỏi ra mới biết có sự cố tình dùng các phương tiện rẻ tiền để người học có thể ứng dụng khi trở về các địa phương nghèo mà không viện cớ thiếu phương tiện.

Các nhà giáo dục nhắc rằng các phương tiện máy móc chỉ là trợ cụ. Người học vẫn thụ động tiếp thu nội dung từ trên xuống, từ bên ngoài vào. Vẫn thiếu điều chính yếu là sự tự học bằng cách tham gia vào quá trình học tập. Do đó vấn đề cốt lõi của thay đổi phương pháp giáo dục là con người chứ không phải cái máy.

thay1
Những khó khăn gặp phải từ phía người thầy

Nếu chỉ cần nhập ồ ạt các trang thiết bị thì chỉ cần tiền. Cái khó xuất phát từ sự thay đổi của người thầy. Nếu thầy là sản phẩm của giáo dục từ chương thì khó biến kiến thức thu nhận được thành “của riêng mình”, một thứ kiến thức được thử thách từ thực tế cuộc sống mà mình có thể “xào qua nấu lại” để ứng dụng trong những hoàn cảnh khác nhau.

Kiến thức ấy vừa sâu vừa rộng để có thể theo dõi những tranh luận của người học mà không sợ họ kéo mình ra ngoài đề, lại tự tin đủ để tổng hợp, tóm lược được những gì được phát biểu một cách lộn xộn trong lớp học. Kiến thức ấy vững chắc đủ để ta có thể sáng tạo trong phương pháp truyền đạt từ tình hình cụ thể của lớp học. Ví dụ thay vì giảng bài có thể đặt ra một số câu hỏi thảo luận nhóm. (Theo kinh nghiệm bản thân thì các nhóm nêu lên được hầu hết các khía cạnh của nội dung. Người thầy chỉ cần thêm những gì còn thiếu, nối kết các ý kiến thành một tổng thể logic).

Tuy nhiên, kiểu dạy này rất mệt, đòi hỏi người thầy nhiều sáng tạo để tùy cơ ứng biến. Và nếu dựa vào trình độ và đặc điểm của người học thì không lớp nào giống lớp nào. Người thầy phải tập trung tư tưởng rất cao để theo dõi diễn biến của lớp học và nắm vững phản hồi từ người học. Chính sự tiếp thu phản hồi này khiến người học thích thú vì ý kiến của họ được coi trọng, từ đó họ phấn khởi tham gia hơn nữa.

Cản ngại từ người học coi vậy mà không khó khắc phục

Đối với trẻ cấp I, II dễ đưa vào phương pháp giáo dục chủ động. Đối với sinh viên và nhất là đối với người lớn tuổi thì khó hơn nhiều. Sinh viên quen thói thụ động và nhút nhát. Họ bám vào “cái chữ” như cái phao an toàn. Bước vào lớp là mọi người lấy tập chép. Họ rất bỡ ngỡ khi được yêu cầu đừng ghi chép và phải suy nghĩ. Điều này rất khó vì họ chỉ quen tiếp thu như cái máy nhớ. Họ càng sợ phát biểu vì e bị chê cười, đánh giá, qui kết. Mối lo dai dẳng là điểm thi. Học theo kiểu “lang bang” này biết viết gì trong bài thi? Các buổi họp nhóm chưa hấp dẫn vì thực hiện chưa đúng qui cách.

Nhưng rồi với tuổi trẻ họ cũng khám phá được sự thu hút của tính sáng tạo, của các mối tương tác của những khám phá nhờ cách học vui vui học. Và trên hết sự gần gũi giữa người dạy và người học. Và từ từ họ khám phá là kiến thức thu nhận được là của chính họ. Và họ không còn nói vẹt nữa.

Trở lại người thầy

Nắm vững nội dung không đủ, người thầy cần một số kiến thức và kỹ năng tâm lý xã hội, đặc biệt là “năng động nhóm” để hướng dẫn sinh viên về tâm lý nhóm nhỏ, về cách tổ chức và điều hành thế nào cho mọi người cùng tham gia, về cách tóm lược và trình bày nội dung thảo luận. Người thầy cũng cần một số kỹ năng trong học vui vui học như sắm vai, mô phỏng, thu thập và dạy bằng tình huống.

Quan trọng nhất là cách cho bài thi để đánh giá một cách cụ thể nhất những gì sinh viên đã thu hoạch được. Nghĩa là ngoài việc kiểm tra kiến thức, người thầy còn đánh giá được cách sinh viên liên hệ chúng với thực tế và với bản thân. Một bài thi mà sinh viên không chép ở người khác được vì họ phải nói về chính họ, nhưng họ rất thỏa mãn vì chính sinh viên sẽ đánh giá được sự tiến bộ của bản thân.

Thầy còn phải nắm vững sự tiến bộ của sinh viên bằng những bài tập nhỏ để kiểm tra kết quả học tập ở từng giai đoạn, những lỗ hổng cần khỏa lấp nếu có bằng các bài tập nhỏ, nhật ký buổi học, những thu hoạch bất chợt. Thái độ tiếp nhận ý kiến khác lạ từ sinh viên của thầy rất quan trọng, bởi lẽ nếu thầy vội vã chê bai hay bất đồng ý kiến thì người học mất hứng và không dám phát biểu nữa.

Tài liệu học tập

Nhiều trường bàn về mở rộng thư viện… nhưng chưa chắc gì sinh viên chịu đọc nếu tiếp tục học theo lối cũ vì họ chỉ cần học thuộc lòng bài giảng của thầy để thi đậu. Điều lý thú trong giáo dục chủ động là khi thảo luận và tranh cãi trong nhóm và khi có sự tranh luận giữa các nhóm họ sẽ đi tìm tài liệu để đọc thêm. Nhiều bạn thú nhận là họ chịu khó đọc sách từ khi học theo phương pháp mới. Muốn sinh viên tự học thì phải có đầy đủ tài liệu tham khảo. Tiếc rằng trong một số ngành như các ngành khoa học xã hội hiện đại như tâm lý học, xã hội học thì tài liệu quá cũ, quá thiếu. Đây không phải là cản ngại nhỏ.

NGUYỄN THỊ OANH