All posts by Trần Đình Hoành

I am an attorney in the Washington DC area, with a Doctor of Law in the US, attended the master program at the National School of Administration of Việt Nam, and graduated from Sài Gòn University Law School. I aso studied philosophy at the School of Letters in Sài Gòn. . I have worked as an anti-trust attorney for Federal Trade Commission and a litigator for a fortune-100 telecom company in Washington DC. I have taught law courses for legal professionals in Việt Nam and still counsel VN government agencies on legal matters. I have founded and managed businesses for me and my family, both law and non-law. I have published many articles on national newspapers and radio stations in Việt Nam. In 1989 I was one of the founding members of US-VN Trade Council, working to re-establish US-VN relationship. Since the early 90's, I have established and managed VNFORUM and VNBIZ forum on VN-related matters; these forums are the subject of a PhD thesis by Dr. Caroline Valverde at UC-Berkeley and her book Transnationalizing Viet Nam. I translate poetry and my translation of "A Request at Đồng Lộc Cemetery" is now engraved on a stone memorial at Đồng Lộc National Shrine in VN. I study and teach the Bible and Buddhism. In 2009 I founded and still manage dotchuoinon.com on positive thinking and two other blogs on Buddhism. In 2015 a group of friends and I founded website CVD - Conversations on Vietnam Development (cvdvn.net). I study the art of leadership with many friends who are religious, business and government leaders from many countries. I have written these books, published by Phu Nu Publishing House in Hanoi: "Positive Thinking to Change Your Life", in Vietnamese (TƯ DUY TÍCH CỰC Thay Đổi Cuộc Sống) (Oct. 2011) "10 Core Values for Success" (10 Giá trị cốt lõi của thành công) (Dec. 2013) "Live a Life Worth Living" (Sống Một Cuộc Đời Đáng Sống) (Oct. 2023) I practice Jiu Jitsu and Tai Chi for health, and play guitar as a hobby, usually accompanying my wife Trần Lê Túy Phượng, aka singer Linh Phượng.

Người Mỹ trầm lặng trên đồi Buông

Chào các bạn,

Đây là một câu chuyện hiếm có và rất cảm động, trên Sài Gòn Tiếp Thị.

Mến,

Hoành

.

Người Mỹ trầm lặng trên đồi Buông


Ông Robert đặc biệt thích cho gà, vịt ăn

SGTT – Robert Poduna Vac hay ngồi bệt trước hiên nhà nhìn ra khu đồi trước mặt, nơi đó có vạt rừng keo và cau do chính ông tạo dựng nên. Dáng ngồi và khuôn mặt bình thản của Robert gợi cho người ta cảm giác ông đã thuộc về nơi này từ lâu lắm…

Lúc tôi đến, ông mặc một chiếc áo lam của người Phật tử, tay cầm tràng hạt, mắt chăm chú nhìn lên tượng Quan âm toả hào quang điện chấp choá trên tường. Ông đang đắm chìm trong một cảnh giới không thể quấy rầy.

Vì tôi yêu em

Nhà ông ở trên đỉnh đồi Buông, thuộc một xã miền núi hẻo lánh của Quảng Nam – xã Tam Lãnh (huyện Phú Ninh). Tại sao một chuyên gia phần mềm của một công ty lớn ở Washington, lại từ bỏ tất cả để đi làm nông dân ở chốn rừng núi này, thật khó giải thích. Mỗi người nói mỗi kiểu, riêng Nguyễn Bích Giang, cô gái đầu của người phụ nữ sắp là vợ Robert, giải thích hơi lạ: “Kiếp trước ổng nợ mẹ em nên kiếp này ổng phải trả”.

Giang nói: “Ổng từ bỏ quê hương, tiện nghi, tiền bạc, thậm chí bỏ cả đạo gốc (Robert đã cải đạo Thiên Chúa sang đạo Phật) để theo mẹ em, một phụ nữ đã có đời chồng, ba đứa con, nghèo xơ xác làm nghề rửa bát thuê. Ổng sống chung với mẹ ba năm rồi nhưng tối ai ngủ giường nấy, ổng ngủ một mình còn mẹ ngủ với em. Ông hy sinh tất cả vì mẹ mà không đòi hỏi điều gì cả”. Bà Lữ Hà Thy Nhơn (1969), vợ sắp cưới của Robert, cũng thú thật như vậy: “Robert bị tai nạn giao thông dẫn đến đau cột sống, không thể ân ái vợ chồng được…” Bà Nhơn cũng tiết lộ, Robert coi điều đó là một thiệt thòi cho bà, thỉnh thoảng ông đưa bà cả chục ngàn USD và khuyên bà nên đi chơi đâu đó. Nhưng bà chối từ. Bà không muốn phụ ông, một người bà coi như đấng cứu nạn của đời mình.

Robert đã biến cô lọ lem Thy Nhơn nghèo xác xơ thành một “công chúa” ở đất Tam Lãnh này. Ngày trước bà Nhơn chỉ có một túp lều dưới chân đồi, trong đó ngoài cái giường tre không còn gì nữa cả. Robert đã sắm cho gia đình bà từ… cuộn giấy vệ sinh sắm lên. Ông bỏ tiền đổ đất nền lên cao và dựng lên đó một ngôi nhà khang trang thuộc loại nhất nhì của Tam Lãnh bây giờ. Ông chuộc lại toàn bộ đất đai (3ha) mà ngày trước vì túng thiếu mẹ bà đã bán, và dựng lên đó một trang trại với rừng keo, cau xanh ngát, với hàng trăm con gà, vịt, bồ câu… Ba đứa con bà được ông sắm sửa từ cái áo, cái quần, ông đi hỏi vợ cho cậu con trai giữa và chuẩn bị làm đám cưới cho cô con gái đầu của vợ, Nguyễn Bích Giang. Ông làm tất cả những điều đó, với số tiền chi ra bằng gia tài một người giàu có ở Quảng Nam để được gì? “Nhiều khi tôi cũng thắc mắc như vậy, nhưng ông chỉ nói đơn giản, vì tôi yêu em”, bà Nhơn kể.

Âm thanh của sự trầm lặng

Robert về quả đồi này được bốn năm. Cả xã hầu như không ai nói được tiếng Anh (trừ vợ ông), ông không biết tiếng Việt. Vì vậy Robert có lẽ là người ít nói nhất của Tam Lãnh. Mỗi khi khách đến nhà, vợ ông huyên thuyên, còn ông theo thói quen ra ngồi bệt trước hiên nhà, hút thuốc và nhìn ra rừng. Bà Nhơn nói, Robert không thích ồn ào, mỗi khi đi đâu, ông đều khuyên nên chọn chỗ yên tĩnh.

Robert ít nói nhưng không hề lãnh đạm với mọi người. Do nhà có chăn nuôi nên hay thuê phụ nữ chung quanh đến thái chuối cây để làm thức ăn cho chúng. Những ngày đầu thấy bà con ngồi bệt xuống đất làm việc, ông lẳng lặng lấy xe máy chạy 30km đường núi xuống Tam Kỳ (tỉnh lỵ của Quảng Nam) mua một lô ghế nhựa nhỏ đem về cho bà con ngồi. Những nông dân đến làm thuê cho ông, ông không nói chuyện với ai nhưng không hề quên ai. Có lần một người đang làm bị ốm phải nghỉ. Thấy anh ta không đến, ông hỏi vợ rồi vào lấy mấy trăm ngàn đồng đưa vợ bảo đem đến cho anh ta uống thuốc. Qua trường mẫu giáo thôn thấy bàn ghế các em xập xệ, ông làm thinh về lấy mấy triệu đồng qua cho trường để sửa chữa. Một lần nghe bà con định tu sửa lại cái miếu thôn, ông đưa tiền cho bà con mua vật liệu và đích thân đi mua sơn về bỏ hai ngày lụi cụi sơn lại miếu. Các cụ bô lão trong thôn sững sờ.

Chốn về của kẻ độc hành

“Chúng ta về quê em sinh sống đi”, ông đề nghị bà Nhơn khi hai người đang ở Sài Gòn.
“Thế còn công việc của anh, về đó chúng ta lấy gì mà sống?”
“Tôi xin nghỉ việc công ty. Em đừng lo, tôi có điều kiện để em sống một đời không lo lắng”.
“Nhưng anh thích điều gì ở đó?”
“Tôi thích sự tĩnh lặng của nó”.

Ông về hôm trước, hôm sau bà con đã thấy ông ra đồng. Nhà bà Nhơn có mấy sào lúa, từ cày cấy, đổ nước, gặt hái…ông tham gia hết. Với tiền bạc của mình ông dễ dàng trở thành một đại điền chủ của Quảng Nam. Nhưng không, ông chắt chiu từng hạt lúa trên đám ruộng của mình. Những trưa nắng như đổ lửa, bà con thấy ông đầu trần, vận mỗi cái quần đùi, lết bàn chân đi tới đi lui trên sân để đảo lúa cho khô. Ông phơi phóng, gìn giữ từng hạt lúa không phải cho mình vì ông chưa… ăn cơm được. Ngày ngày, khi gà trong thôn vừa gáy, ông đã dậy, vác cuốc ra đồi chăm lo rừng keo, rừng cau, dựng cây này lên, bón gốc cho cây kia. Đang làm, sực nhớ điều gì, ông tất tả chạy về. Ông lấy cái ô lúa mà vợ đong sẵn hú gọi gà, vịt, bồ câu đến để cho ăn. Có lần chuyên gia phần mềm Robert cho gà, vịt ăn đến suýt chết vì quá nhiều, con nào con nấy diều phồng lên cứng ngắc, đi không nổi. Từ đó, bà Nhơn phải đong khẩu phần gà, vịt cho Robert…

Trang trại cho thu nhập bao nhiêu, Robert không cần biết. Điều Robert cần là được làm công việc của một nông dân. Robert ước ao được chết như một… nông dân, nghĩa là có cái mộ. Bà Nhơn biết điều này qua một lần Robert tâm sự: “Ở bên Mỹ khi chết thiêu xác mang tro rải biển, thấy lạt lẽo cuộc đời quá. Tôi muốn được như người dân quê em, có một ngôi mộ, nhỏ cũng được, nhưng là cái còn lại của mình sau cuộc đời này”.

Một lần Robert về Mỹ, bà Nhơn im lặng kêu người xây một ngôi mộ cho ông bên cạnh cái trang trại với rừng cây, gà vịt mà ông tạo dựng nên. Khi trở lại biết chuyện này ông khóc nức nở vì cảm động: “Em đã toại nguyện một mong muốn lớn nhất của đời tôi. Cả đời này tôi mang ơn em”. Bên ngôi mộ mình, ông tâm sự đã từng có một người vợ, từng tha thiết mong những đứa con. Nhưng vợ ông ba lần mang thai ba lần hỏng vì cô nghiện rượu. Ông ly dị vợ và sau đó bị tai nạn giao thông, chuyện có con coi như khép lại vĩnh viễn. Vì công việc ông sống nhiều nước, nhưng đi đâu ông cũng cô đơn, cũng thấy thiếu vắng. Chỉ có ở đây, ở đồi Buông này, mà ông hiểu theo tinh thần đạo Phật là buông xả tất cả, ông mới thấy lòng mình yên tĩnh.

Đêm đêm theo lời khuyên của bà Nhơn, Robert đem máy cassette ra mộ mình mở băng kinh Phật “cho ấm ngôi nhà mai sau”. Ông rất hay đi chùa. Đến đâu ông cũng cúi đầu lạy Phật thành kính. Mỗi ngày hai thời, ông mặc áo lam, cầm xâu chuỗi đứng niệm Phật. “A di đà Phật” là bốn tiếng Việt duy nhất mà ông thuộc và sử dụng hàng ngày.

Robert Poduna Vac vừa xin được Giấy chứng nhận độc thân từ đại sứ quán Mỹ tại Việt Nam. Ông cần thủ tục này để làm hôn lễ với bà Nhơn. Một đám cưới có phần kỳ lạ, đám cưới mẹ lại diễn ra sau đám cưới con (Bích Giang), chú rể 73 tuổi, cô dâu 41 tuổi, đám cưới thì có, động phòng thì không.

Đoàn Nguyễn

Daily English Discussion–Tuesday 7/21/09–Kim Lien Tunnel flooded again

englishchallenge

Hi everyone,

Kim Lien tunnel is flooded again. Both the Japanese contractor and the Vietnamese project manager keep saying that it is natural for water to be in the tunnel and that the construction job is of high quality. Sorry, it is only natural for the worst construction quality of the world. It is not natural for the basement of my house to be flooded with water.

Sorry, guys. If you have a tunnel and it is flooded every time it rains, you must be absolutely insane to believe these guys that the job is of good quality. What kind of good quality is that?

And why no one raises serious issue with them? They’ve been giving out all kinds of excuses. Isn’t that simple enough to say “We want a tunnel that works”? Isn’t that simple enough for the world to understand?

I think the government should hire an international auditor, one of those international accounting firms, and ask it to audit both the financial transactions and the engineering works of this project. These international firms will know what good engineering firms to hire.

Have a great day!

Hoanh

Dạ khúc

serenade2
Chào các bạn,

Bài thơ Dạ Khúc của anh Hoàng Phủ Ngọc Tường rất đẹp và lãng mạn. Mình đã dịch ra tiếng Anh vài năm về trước. Hôm nay post ở đây để chia sẻ với các bạn. Và trong khi đọc, mời các bạn nghe Andre Rieu trình tấu violin với piano phụ họa, bản Dạ Khúc của Erico Tocelli (mà chị Loan Subaru đã giới thiệu trước đây).

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành.

.

Serenade

serenade3
Was there an evening like that evening
On hot sands I dragged back
Long way, thirsty lips blistered
You came gently as the rain

Was there an evening like that evening
Love filled the heart
You came bringing your whole Spring
As bright and warm as flowering

Was there an evening you stopped playing
And gave me the burning kiss
The pain started since
As sweet as fresh grapes

Was there a dream-besieged evening
Your brows curved pouting
On the pillow you loosed sadness
Tangled like blue silk strands

Was there an evening now still living
The moon shone eternity
You vowed an offering
Of your whole life to me

Is there an evening like this evening
My room drowned in darkness
Silent am I a shadow
The flower withers, and you don’t know.

    Translated by TDH

.


.


Dạ khúc

Serenity
Có buổi chiều nào như chiều xưa
Anh về trên cát nóng
Đường dài vành môi khát bỏng
Em đến dịu dàng như một cơn mưa

Có buổi chiều nào như chiều qua
Lòng tràn đầy thương mến
Mang cả xuân thì em đến
Thăm nồng như một bông hoa

Có buổi chiều nào người bỏ vui chơi
Cho tôi chiếc hôn nồng cháy
Nỗi đau bắt đầu từ đấy
Ngọt ngào như trái nho tươi

Có buổi chiều nao mộng mị vây quanh
Nửa vành mi cong hờn dỗi
Em xõa muộn sầu trên gối
Rối bời như mớ tơ xanh

Có buổi chiều nào hình như chưa nguôi
Vầng trăng sáng màu vĩnh viễn
Em có lời thề dâng hiến
Cho anh trọn một đời ngựời

Có buổi chiều nào như chiều nay
Căn phòng anh bóng tối giăng đầy
Anh lặng thầm như là cái bóng
Hoa tàn một mình em không hay

    Hoàng Phủ Ngọc Tường
    100 Bài Thơ Tình Chọn Lọc, tr. 175
    Nhà XBGD, Hà Nội, 1994

© copyright TDH, 2009
www.dotchuoinnon.com
Permission for non-commercial use

Yanni và kỷ nguyên nhạc New Age

Chào các bạn,

Sau thế chiến thứ hai, các chiến binh về nhà, và… sinh con, tạo ra một thế hệ trẻ em gọi là baby boomers. Thế hệ này là phần chính của đời sống nước Mỹ, và có lẽ là của thế giới, từ đó đến nay. Mới ra đời là nhu cầu của baby boomers đã tạo ra những phát minh mới về thực phẩm và vật dụng trẻ em cùng những đại công ty trong ngành, như công ty thực phẩm trẻ em Gerber và kem dánh răng Crest.
woodstock
Vừa mới qua, hoặc chưa kịp qua tuổi teen, baby boomers đã thành phong trào nỗi loạn văn hóa trên thế giới. Đây là thế hệ hiện sinh của Jean Paul Sartre, Albert Camus… của hippi, Woodstock, the Bealtes, Bob Dylan, Joan Baez… của cần sa… và biểu tình chống chiến tranh tại Việt Nam.

Đến giữa thập niên 1970’s, từ sau chiến tranh Việt Mỹ, và cả thập niên 1980’s, đây là thế hệ của những kẻ “nghiện làm” (workaholic), của “cá tính A” (type A personality), của thành công kinh tế và khởi đầu của cuôc cách mạng thông tin. Đây là thời của Bee Gees, Diana Ross…

Nghệ thuật New Age
Nghệ thuật New Age

Đến đầu thập niên 1990’s baby boomers bắt đầu chậm lại, và bắt đầu nghe nhạc nhẹ, âm hưởng dịu dàng tự nhiên (consonant sounds) như âm hưởng nhạc cổ điển, nhưng với các khí cụ điện tử mới, nhất là synthersizer, và những nguồn nhạc từ các nền văn hóa khác—như văn hóa người da đỏ, Á châu, Phi Châu.. cùng những khí cụ cổ truyền của các nền văn hóa này. Đó là nhạc New Age. Cùng lúc, tính khám phá của Baby Boomers chuyển sang khám phá văn hóa tâm linh của các nền văn hóa khác, bên cạnh Thiên chúa giáo—Phật giáo, Ấn độ giáo, tín ngưỡng người da đỏ… Đó là văn hóa New Age đang sống mạnh ngày nay tại Mỹ và Âu châu cũng như ảnh hưởng rộng đến toàn thế giới.
yanni
Khoảng đầu thập niên 1990’s trong làng nhạc New Age xuất hiện một thiên tài: YANNI. Yanni, tên thật là Yiannis Hrysomallis, sinh năm 1954 tại thành phố Kalamata, Hy Lạp. Tự học piano, keyboard và soạn nhạc. Anh có cử nhân tâm l‎‎ý học và chưa bao giờ học nhạc trong một lớp nhạc nào.

Album Dare to Dream năm 1992 và In My Time năm 1993 được dự tranh giải Grammy. Anh bắt đầu nỗi bật 1994 với video Yanni Live at the Acropolis, đây là video bán chạy thứ hai trong lịch sử âm nhạc, sau Michael Jackson’s Thriller 9 triệu đĩa.
Từ đó đến nay anh đã trình diễn trên 20 quốc gia với tổng số trên 2 triệu khán giả. Đạt được 35 đĩa bạch kim và vàng. Yanni là một trong những người thành công nhất trong việc giúp hệ thống TV công ở Mỹ thu đóng góp từ công chúng. Đại Học Minnesota của tiều bang Minnesota (Mỹ) tặng anh bằng tiến sĩ văn chương danh dự.

Yanni thường tìm các ca nhạc sĩ tại nhiều nước trên thế giới, nhất là các nước nhỏ ít người để ‎ý, cộng tác trình diễn, nên nhạc của anh thường mang âm hưởng lạ, ngôn ngữ lạ và khí cụ lạ. Nhạc có âm hưởng êm ái của các nốt nhạc êm tai và hòa âm tự nhiên (consonant notes, tonal chords), cái buồn sâu lắng của gam thứ, nhưng lại có vận tốc tuôn chảy ồ ạt triền miên của hàng hàng lớp lớp sóng biển cuộn vỗ chập chùng, như người viễn xứ hoài hương đứng trước đại dương.

Từ năm 1988 đến nay, nhạc của anh được sử dụng trong mỗi kỳ Thế Vận Hội,và dĩ nhiên là trong rất nhiều cuộc tranh tài thể thao khắp nơi.

Trong các video sau đây chúng ta sẽ thưởng thức, bên cạnh các nhạc cụ tân thời, âm nhạc của một số nhạc cụ dân tộc của các nước:

DUduk
DUduk

Didgeridoo
Didgeridoo

Nghệ sĩ Didgeridoo
Nghệ sĩ Didgeridoo

Hammered Dulcimer
Hammered Dulcimer

Harp
Harp

Conga và bongo
Conga và bongo

Didgeridoo: Nhạc cụ của thổ dân miền bắc Australia, bằng gỗ, thường là gỗ bạch đàn (khuynh diệp), dài khoảng 1,3m, thổi bằng miệng và tạo ra âm thanh rền rĩ rất lạ lùng.

Duduk: Sáo cổ truyền từ 3 ngàn năm trước của nước Armenia (Chị Loan Subaru đã viết bài về Duduk trước đây).

Hammered Dulcimer: Theo truyền thuyết, có nguồn gốc từ Iran 2 ngàn năm về trước. Gồm các dây đàn căng ngang thùng đàn, chơi bằng cách dùng hai “búa” nhỏ gõ vào dây đàn.

Harp: Đàn cho nhiều dây căng thẳng góc với thùng đàn. Harp đã thành hình từ thời cổ đại tại nhiều nơi trên thế giới. Người ta đoán là harp thành hình từ âm thanh tạo ra của sợi dây cung căng ngang cái cung. Bên Âu châu, truyền thuyết là harp thành hình từ Ai Cập 4 nghìn năm trước công nguyên và vùng Iran-Iraq 3 ngàn năm trước công nguyên. Sau đó người Moors đưa vào Âu châu thời trung cổ. Đến thế kỷ 18, nữ hoàng Marie Antoinette vợ vua Louis 16 của Pháp, cổ vũ harp như là cây đàn cho phái nữ. (Marie Antoinnette và Louis bị cách mạng dân quyền của Pháp xử tử). Cũng vì vậy mà các nhạc sư từ đó đến nay không soạn nhạc harp, vì chê là đàn của phái nữ 😦

Trống bongo và conga: Bongo và conga đến từ Cuba, do người nô lệ da đen mang từ Phi châu sang khi bị bắt sang Cuba làm nô lệ. Người nô lệ làm trống bằng các thân cây rỗng, nhưng sang Cuba thì trống làm bằng gỗ và một mặt căng da, mặt dưới để rỗng. Bongo và Conga luôn luôn đi cặp đôi, một lớn một nhỏ, và chơi bằng hai bàn tay. Trống ngắn chừng hai tấc là trống Bongo; conga cao khoảng hơn 1m. Bongo và conga khởi đầu được dùng theo nhịp Rumba, sau đó là salsa, changui và son khi các loại nhạc này phát triển ở miền đông Cuba vào thế kỷ 19.

Năm Video đầu tiên dưới đây đều trích từ DVD Yanni Live! The Concert Event và gồm có các nhạc sĩ chính sau đây:

Yanni: Keyboard, s‎ynthesizer.
David Hudson [Australia]: Didgeridoo
Samvel Yervinyan [Armenia]: Violin
Sayaka Katsuki [Japan]: Violin
Victor Espinola [Paraguay]: Harp
Ramon Flores [Mexico]: Trumpet
Michelle Amato [USA]: Vocal (giọng hát)
Victor Espinola [Paraguay]: Vocal và harp

Video thứ sáu là một Aria, tức là một đoạn nhạc cho giọng người, dùng như là một khí cụ âm nhạc hơn là hát, tại buổi trình diễn ‘Yanni Live at the Acropolis’ năm 1993 tại Hy Lạp.

Video thứ bảy là Yanni trình tấu piano bản Reflection of Passion (Ảnh hình đam mê)

Mời các bạn thưởng thức
.

1. Yanni – Rainmaker

Didgeridoo: David Hudson [Australia]; Violin: Samvel Yervinyan [Armenia]; Vocal: Michelle Amato [USA]; Vocal/ Harp: Victor Espinola [Paraguay] Yanni Live! The Concert Event


.

2. Yanni – The Storm

Violin: Samvel Yervinyan [Armenia]; Violin: Sayaka Katsuki [Japan]; Harp: Victor Espinola [Paraguay]; Trumpet: Ramon Flores [Mexico] Yanni Live! The Concert Event.


.

3. Yanni – Prelude & Nostalgia

Duduk: Pedro Eustache [Venezuela]; Violin: Samvel Yervinyan [Armenia]; Violin: Sayaka Katsuki [Japan]; Violin: Armen Movsessian [Armenia] Yanni Live! The Concert Event


.

4. Yanni — For All Seasons

Vocal: Michelle Amato [USA]; Trumpet: Ramon Flores [Mexico]; Flutes: Pedro Eustache [Venezuela]; Hammer Dulcimer: Dan Violin: Samvel Yervinyan [Armenia]; Harp: Victor Espinola [Paraguay], Yanni Live! The Concert Event.


.

5. Yanni — World Dance

From DVD album Yanni Live! The Concert Event performed by Dan Landrum, Pedro Eustache, Samvel Yervinyan, Sayaka Katski, Victor Espinola, Armen Movsessian, Zachary Carrettin, Walter Rodrigues.

6. Yanni — Aria

“Yanni Live at the Acropolis” 1993.


.

7. Reflection of Passion (Yanni on the piano)

Daily English Discussion–Monday 7/19/09–Teen smoking and drinking bans

Hi everyone,
englishchallenge
In this new piece, Milan of Italy is enforcing a ban on teenagers’ drinking. If a teen under 16 years of age is caught drinking alcohol, his/her parents will be fined up to 500 USD. In a country that has produced and exported wines for centuries, that kind of ban is unthinkable.

In the US, the legal cigarette-smoking age is 18 and drinking age is 21. A retail store may lose business license if it doesn’t check customers’ IDs and keeps selling cigarettes or wines to under-aged folks.

Viet Nam doesn’t have any rule prohibiting teens’ smoking or drinking, does it?

What do you say to that?

Viết giản dị và sâu sắc

Chào các bạn,

Bài này là để trả lời câu hỏi, Làm thế nào để viết giản dị và sâu sắc?

Giản dị và sâu sắc liên hệ rất mật thiết với nhau. Những gì sâu sắc thường rất giản dị. Ví dụ: Chàng nói với nàng, “Anh yêu em”—tất cả những bó hồng nhung của thế giới, tất cả thi ca của thế giới, tất cả âm nhạc của thế giới vẫn không làm đầy được ba chữ “Anh yêu em.”

Nhưng, sâu sắc và giản dị là hai kỹ năng khác nhau. Sâu sắc là suy tư. Giản dị là giải bày, hoặc bằng lời nói hoặc bằng lời viết. Trong phần sau đây, chúng ta sẽ nói đến sâu sắc trước, rồi sẽ nói đến viết giản dị sau.

I. Làm thế nào để suy tư sâu sắc?

Thực ra từ “sâu sắc” rất tương đối—sâu sắc với người này, vẫn có thể là nông cạn với người kia. Nhưng tại đây ta không cần quan tâm đến chuyện đó; chỉ cần biết là hôm nay ta sâu sắc hơn ta hôm qua là đủ rổi.

Muốn suy tư sâu sắc ta chỉ cần nắm vững 3 điều thôi:

Suy tư
Suy tư

1. Càng suy nghĩ và kinh nghiệm về một việc gì, ta càng sâu sắc về việc ấy. Sâu sắc đến từ suy tư và kinh nghiệm. Nhưng, kinh nghiệm không phải là một cái gì nằm ngoài tiến trình suy tư, kinh nghiệm là 50% của suy tư, vận dụng não bộ để suy tư là 50% còn lại. Có những điều mình đọc năm 18 tuổi, đến 40 tuổi mới “ngộ” được nó, không phải là vì IQ của mình cao hơn ở 40, nhưng vì kinh nghiệm sống cao hơn.

Nhưng nói đến kinh nghiệm thì các bạn trẻ cảm thấy hơi thiệt thòi rồi. 😦 Nhưng không sao. Người lớn tuổi hơn thì đã phải “trả nợ đời” (pay their dues) nhiều lắm rồi, biết hơn một tí cũng là công bình thôi. Hơn nữa, mình trẻ hơn thì mình lại có sức mạnh khai phá của người tiền phong cầm rìu rựa phá rừng thành rẫy. Nếu mình làm việc với người lớn tuổi hơn, lấy kiến thức của họ về con đường cũ làm kiến thức tạm của mình, và mình dấn thân vào khai phá con đường mới, thì mình có thể nắm được cả quá khứ đến tương lai.

Dù sao đi nữa thì suy tư là suy tư và sống. Cho nên đọc sách, nghiên cứu, thảo luận là một chuyện; nhưng cũng cần phải “đi ra ngoài và làm gì đó” (Go out and do something!).
flighttofreedom
2. Phải vượt thoát các “công thức suy tư”

Chúng ta không tự nhiên mà biết suy tư. Từ bé ta đã được học hàng nghìn công thức suy tư cho hàng nghìn vấn đề. Ví dụ: Đi thưa về trình—không làm như thế là vô lễ. Con gái thì phải thùy mị, không chơi trò bắn súng đánh nhau. Chửi thề là quyền ưu tiên cho đám con trai. 😦 Đó là tiến trình “văn minh hóa” của một con người. Nếu không học được những công thức suy tư như thế thì chúng ta có lẽ là không khác gì chú khỉ trên rừng.

Nhưng những công thức suy tư cần thiết cho sự phát triển nhân cách, cũng có tiềm năng biến chúng ta thành những người máy robot khi lớn lên nếu chúng ta không biết cách “vượt lên tầng cao hơn” để suy tư thực sự tự do. “Vượt lên tầng cao hơn” không có nghĩa là phá bỏ mọi công thức, mà là biết khi nào dùng công thức, khi nào không, khi nào chính mình tạo ta công thức mới cho mình. Đó là mức sáng tạo của tất cả mọi loại nghệ thuật.

Ví dụ: Hoc vẽ thì lúc đầu là phải theo công thức màu gì trộn với màu gì ra màu gì, màu gì dùng để diễn tả tình cảm gì, cách nhìn và đo lường phối cảnh, luật quân bằng… Học viết thì văn phạm, chấm câu, bố cục… Học đàn thì ngồi thế nào, tay bấm thế nào, lúc nào mạnh yếu nhanh chậm ra sao… Học võ thì bước nào trước bước nào sau, một hai ba bốn thế nào… Một lúc nào đó người học trò đã thành thuộc các công thức và đã bắt đầu lên hàng thầy, thì hầu như là quên mất công thức, vì công thức đã vào máu mình rồi. Và bậc thầy thực sự là nguời có thể bỏ công thức và sáng tạo công thức mới khi thấy cần. Đây là mức sâu sắc của nghệ thuật.

Suy tư cũng thế thôi. Một lúc nào đó, ta cần có cái nhìn của một trẻ thơ để hỏi “tại sao?” trước những công thức suy tư đã giúp ta trưởng thành, để ta không bị ngục tù tư tuởng và có thể biến hóa sáng tạo. Ví dụ: Đi thưa về trình. Lúc còn nhỏ đó là công thức văn hóa. Nhưng bây giờ lớn một tí rồi thì “tại sao?” Lớn rồi có còn cần nó như hồi còn con nit hay không? À, có lẽ nó không còn mấy cần thiết như là một vấn đề lễ nghĩa, nhưng vẫn có thể cần đối với người trong nhà như là vấn đề an ninh. Thời đại này, đủ thứ bất an xảy ra ngoài đường, đi đâu nên nói cho ai đó trong nhà biết mình đang đi đâu và khi nào sẽ về, lỡ có chuyện gì người nhà còn biết đường mà mò. Về trễ thì gọi điện về báo tin để người nhà khỏi lo. Đó là suy tư sáng tạo. Hỏi “tại sao?” để thay đổi cái cũ thành cái mới, hoặc đôi khi xóa cái cũ nếu thấy nó thực sự chẳng cần thiết. (Các cô thư ký của mình luôn luôn biết mình ở đâu và khi nào về, kể cả khi mình đi restroom. Để nếu có thân chủ gọi đến, cô không phải trả lời: “Ông ấy ở đâu tôi cũng không biết và chẳng biết khi nào ông ấy về.” Thân chủ sẽ có cảm tưởng là văn phòng này chỉ lo du hí và chẳng ai biết “what is going on” hết).

Đừng bị đóng khung vào các công thức suy tư và ứng xử. Như vậy mới thực sự tự do sáng tạo. “Muốn vào nước thiên đàng thì hãy như trẻ thơ.” Muốn đến đỉnh cao thì hãy vượt khỏi khung công thức người lớn. Nhưng… nhưng… nhưng… một bậc thầy đã nhuần nhuyễn công thức nói là phải vuợt thoát công thức thì khác với một người học trò nhập môn chưa rành công thức nào. Chúng ta chỉ có thể vượt thoát công thức để sáng tạo khi đã nhuần nhuyễn công thức. Không học công thức nào và không rành công thức nào, mà đòi gạt bỏ công thức, thì chưa làm học trò được, đừng nói là sẽ thành thầy sáng tạo.

cherry-heart
3. Chú tâm vào quả tim con người

Tất cả mọi vấn đề lớn nhỏ trên đời, ngoại trừ toán học và khoa học thiên nhiên, đều qui vào qủa tim con người và liên hệ giữa các con người—xã hội học, chính trị học, kinh tế học, thương mãi, nhân chủng học, khảo cổ học, đạo đức học, luận l‎ý học, tôn giáo học, triết học v.v… Tất cả những sinh hoạt gì liên hệ đến con người đều có gốc rễ trong quả tim con người. Ví dụ: Chính trị cho người Việt. Nếu cứ lấy các thống kê và các công thức chính trị của Mỹ rồi giải thích chính trị Việt nam thì hỏng bét. Các thống kê đó phải được hiểu với hiểu biết tâm lý người Việt. Tượng tự như thế, các công thức mô hình chính trị các nước có thể là chẳng mấy liên hệ với khung cảnh và tâm lý người Việt. Kinh tế cũng thế, có thể có một tin chiến tranh ở đâu đó và giá vàng ở vài nơi trên thế giới xuống, nhưng giá vàng ở Việt Nam có thể lại lên, vì dân Việt có máu thích trữ vàng làm an ninh—cứ rục rịch là mua vàng.

Chú tâm vào quả tim con người là chú ‎ý quan sát quả tim của chính mình thường xuyên. Nếu biết quả tim mình thì mình biết được 90% quả tim của mọi người trên thế giới, vì sự khác biệt thực sự giữa mọi người rất ít. Mà quan sát thì cần một tí tĩnh lặng và nhìn.

Ví dụ: Nhìn trời mưa và đang muốn làm thơ, tự động là một công thức suy tư nhảy ra: “Mưa rơi mang mang buồn.” Nếu viết công thức này xuống, thì bài thơ có thể nghe chán phèo vì mấy triệu người đã víết công thức này cả trăm năm rồi. Thay vì thế, quan sát tâm mình một tí, có thể là mình đang nhớ đến ngày mưa năm đó hẹn nàng ở quán Hoài, nhìn mưa đợi nàng, như thường lệ, trễ hẹn 😦 Vậy thì bắt đầu bằng, “Nước bay trước mặt quán Hoài, hàng xe lầm lũi bên ngoài phố mưa…” Hay hay dở thì chưa biết, nhưng chắc chắn là sáng tạo hơn công thức đã bị lạm dụng “Mưa rơi mang mang buồn.” Mà sáng tạo thì có tiềm năng sâu sắc. Ít ra là sâu sắc hơn công thức có sẵn.

Tất cả các vấn đề triết l‎y’ xã hội chính trị kinh tế cũng thế thôi. Dùng cái tâm mình làm thước đo trước, sau đó mang ra cho mọi người, không chính xác 100% vì người và ta khác nhau, nhưng ít ra cũng được 90%.

Tóm lại, muốn suy tư sâu sắc, ta nên chú trọng vào 3 điều: 1. Suy tư và sống. 2. Vượt thoát các công thức. và 3. Quán sát tâm mình.

II. Làm thế nào để viết giản dị

Trong các dịp huấn luyện các luật sư mới ra trường viết lách, mình luôn luôn nhắc đến 3 qui luật viết: 1. Giản dị. 2. Giản dị. Và 3. Giản dị.

Giản dị, vì viết là để chia sẻ với người khác, nếu không giản dị người đọc sẽ không hiểu mình viết gì, và như thế là mình đã thất bại trong việc chia sẻ. (Nếu viết chỉ để cho mình đọc, như là làm thơ chẳng hạn, thì không cần ai hiểu. Nhưng nếu đã đăng ra ngoài mà còn nói là tôi viết để chỉ cho tôi đọc, thì đó là không thành thật. Chỉ cho tôi đọc sao lại đăng ra ngoài?)

Nguyên tắc viết giản dị đòi hỏi ta chú tâm đến các điểm sau:
khán giả
1. Biết người đọc mình nhắm đến là ai: Giản dị với các vị cử nhân thì khác với giản dị với các vị mới chỉ học xong lớp năm. Cho nên, nghĩ đến đọc giả mình nhắm đến, trong khi viết.

Nếu đọc giả có thể có đủ mọi trình độ, ví dụ từ lớp 10 đến tiến sĩ (như ĐCN chẳng hạn), thì ta phải viết đủ giản dị để người học lớp 10 cảm thấy mình hiểu hết bài viết, và người tiến sĩ cũng hiểu hết bài viết nhưng sâu hơn vài tầng. Điều này cũng không khó mấy, chỉ cần thêm vào bài cho người lớp 10 vài từ có vẻ vô thưởng vô phạt cho lớp 10, nhưng mang l‎y’ lẽ sâu xa cho người cấp tiến sĩ. Ví dụ: “Yêu người thì thường được người yêu lại.” Câu này thì lớp 10 hiểu được ngay, nhưng người mức tiến sĩ thì thấy sự quan trọng của chữ “thường”—À chị này nói thế có y’ là lâu lâu cũng có ngoại lệ, yêu người thì được nguời đâm sau lưng. 😦

Ngay cả khi viết cho người có trình độ cao, ta vẫn phải tưởng tượng là họ chẳng biết gì mấy, viết như viết cho người có trình độ thấp hơn một tí vì: (a) Người bận việc đọc rất nhanh và không muốn đọc lại. Viết càng giản dị càng giúp họ trong việc đọc. (b) Trong các việc ta đã suy nghĩ và nghiên cứu nhiều, người đọc không rành việc ấy bằng ta, cứ xem như là ta đang giải thích cho học trò là chắc ăn nhất. Ví dụ: Viết một về vụ án gửi lên thẩm phán, bạn đã tốn mấy tháng liền, mỗi ngày 12 tiếng, nghiên cứu vụ này. Trong vụ này bạn là thầy ông thẩm phán, ông ta chẳng biết ất giáp gì hết, vậy thì khi viết cho thẩm phán cứ viết thật giản dị như viết cho học trò của bạn.

simplicity
2. “Nếu tôi viết, bạn đọc mà không hiểu, thì đó là do tôi viết tồi, chứ không phải vì bạn đọc tồi.” Luật này là luật viết quan trọng số 1.

3. Chỉ viết về một điểm chính cho một bài. Hai điểm chính, như bài này–suy tư sâu sắc và viết giản dị–là đã hơi quá nhiều. Ba điểm là giới hạn tối đa. Bốn điểm là no-no.

4. Dùng từ giản dị. Đừng dùng từ phức tạp, trừu tượng và chuyên môn.

Từ giản dị là từ dùng thường ngày. Ví dụ: “Đừng xả rác ngoài đường” thì dễ hiểu và mạnh mẽ hơn là “Phải đề cao ‎y’ thức y tế cộng đồng.” (Nói gì vậy??). “Anh yêu em” thì rõ ràng hơn là “Anh xúc cảm tràn dâng trong tâm tưởng với ảnh hình dấu ái tuyệt vời của em.” (What is that?? Muốn gì thì nói thẳng ra đi cha nội :-))

Từ cụ thể thì dễ hiểu và mạnh mẽ hơn từ trừu tượng. Ví dụ: “Hãy vun trồng nước non sông núi này; hãy tưới nước cho hoa nở trên mọi cánh đồng” thì mạnh mẽ và dễ hiểu hơn là “hãy nâng cao lòng ái quốc và tình yêu xứ sở.”

Từ chuyên môn chỉ nên dùng với người cùng ngành chuyên môn. Ví dụ, thay vì “Độc quyền kinh tế làm tăng giá, giảm cầu và giảm hiệu năng kinh tế quốc gia” thì nên viết “nhà độc quyền có quyền bán ít hàng để có thể tăng giá đến mức cắt cổ, làm người tiêu thụ rất bị thiệt thòi.”

5. Viết câu ngắn. Ví dụ:

    “Ai cũng bảo xòe bàn tay ra, trong ấy có cả quá khứ vị lai. Tôi thì không tin rằng chỉ cần ngồi lẩm nhẩm với mình mà đọc được cái gì chưa đến. Còn quá khứ thì đâu chỉ nằm trong lòng bàn tay. Tôi vay ngân hàng ba mươi triệu, quá khứ của tôi nằm ở ngân hàng. Tôi vay của người hàng xóm đôi lời chì chiết. Quá khứ giờ đang nằm ở nhà hàng xóm. Tôi vay em một thời yêu thương. Chuyện này thì cầu mong quá khứ còn náu mình đâu đó nơi em.” Kể Chuyện Tôi, Tấn Ái.

6. Dùng các dấu chấm câu để giảm vận tốc đọc của người đọc. Ví dụ:

    “Nếu bạn hỏi tôi thích làm gì nhất, câu trả lời chắc chắn sẽ là: ‘Tôi thích chăn bò!’. Có thể bạn không tin, nhưng thật tình, tôi thích chăn bò lắm! Tôi rất thích nhìn vào đôi mắt to trong veo của con bò nhà tôi, đen láy và ướt át, chúng luôn khẽ khàng nấp dưới hàng mi dài cụp xuống. Trong đời, tôi chưa bao giờ nhìn thấy một đôi mắt nào buồn đến thế. Nó toát lên vẻ ẩn nhẫn, cam chịu, và hiền lành khiến cho tâm hồn trẻ thơ ngập tràn thương cảm. Một tình bạn thầm lặng bắt đầu từ đó!” Hãy đến tìm tôi giữa một cánh đồng, Đông Vy.

link

7. Dùng các từ nối kết—nhưng, và, vì thế, do đó, vậy thì, thế thì…– để nối kết những chuỗi lý luận với nhau. Ví dụ:

“Tư duy là bên trong và hành động là bên ngoài. Tư duy chi phối hành động. NHƯNG cuộc đời đưa ta đến bao tình huống khác nhau mỗi ngày, đòi hỏi những hành động khác nhau cho từng tình huống. Hành động thì khi nhanh khi chậm, khi như sâu lắng suy tư, khi như ánh chớp như thể không kịp suy tư, khi thì dịu dàng, khi thì dũng mãnh… VẬY THÌ tâm tư ta thế nào trong những tình huống như vậy? Tâm tư ta cũng biến chuyển vô thường như hành động theo từng tình huống hay sao?” Liên hệ giữa tư duy và hành động.

8. Đặt mỗi “đơn vị ý tưởng” (thought unit) trong một đoạn (paragraph) riêng. Nhưng nếu đoạn này quá dài thì cắt ra thành hai ba đoạn cho đỡ rậm mắt và nhức đầu người đọc.

Hoặc, nếu một câu nào đó mà ta muốn nhấn mạnh, thì tách câu đó ra thành một đoạn. Ví dụ:

    “Tâm tính của mỗi người là một bộ máy tâm sinh lý đặc biệt, cứ như thế mà vui buồn yêu ghét. Không phải muốn đổi tâm tính là có thể làm xong trong một ngày, một tuần. Nếu cơ thể cần được tập luyện mỗi ngày, khá lên mỗi ngày một tí, vài ba năm mới được như vận động viên, thì tâm tính cũng thế, cũng phải được rèn luyện mỗi ngày, không, mỗi phút giây ta sống. Và phải kiên nhẫn một thời gian thì mới có được kết quả ‘trông thấy’.

    Nhưng tại sao ta phải suy tư tích cực? Trời sinh sao để vậy không được sao?

    Trước hết, tâm tính của ta không phải do trời sinh. Các yếu tố di truyền có dự phần một tí, như là sinh ra thì có hai tay hai chân, nhưng có đai đen Judo hay một cơ thể èo ọt bệnh hoạn là do ta. Trí lực và tâm lực cũng thế, trời sinh ra có tâm trí, tích cực hay tiêu cực là do ta.” Tư duy tích cực là gì?

9. Nếu được thì nên đánh số 1,2,3, a,b,c như dàn bài cho các đơn vị ý tưởng (như bài này đây).

10. Bất kỳ bài nào, dù là viết kiểu gì, đều có 3 phần: Mờ đầu, thân bài và kết luận. Có khác nhau là chỉ về hình thức một tí thôi. Mở đầu là để giới thiệu mình muốn nói về việc gì. Thân bài là phân tích, l‎ý luận, giải bày. Kết luận là để mình muốn đọc giả nghĩ gì, cảm xúc gì, làm gì, chia sẻ gì. Ví dụ:

    Mở đầu: “Nếu bạn hỏi tôi thích làm gì nhất, câu trả lời chắc chắn sẽ là: “Tôi thích chăn bò!”. Có thể bạn không tin, nhưng thật tình, tôi thích chăn bò lắm! …”

    Kết luận: “Để bây giờ, rất nhiều khi thấy chán chường những con đường chen chúc người xe và khói bụi, mệt mỏi với cuộc sống vội vã đua tranh, tôi lại thèm quá những ngày huy hoàng cũ, khi tôi còn là một cô bé chăn bò. Bởi thế, nếu một ngày nào đó không tìm thấy tôi trong chốn đô thị bon chen, bạn hãy đến tìm tôi giữa một cánh đồng …” Hãy đến tìm tôi giữa một cánh đồng, Đông Vy.

proofreading

11. Duyệt lại. Nếu bạn là chuyên gia về kinh tế viết một bài về kinh tế cho đọc giả không phải là dân kinh tế, thì sau khi viết xong, đưa bài cho một người bạn chưa biết đánh vần chữ “tiền” đọc lại. Nếu bạn này nói chỗ nào không hiểu thì viết lại chỗ đó, cho đến khi bạn đó nói là thực sự hiểu toàn bài.

Viết là một nghệ thuật. Càng viết nhiều thì nghệ thuật càng nâng cao và càng có nhiều kỹ năng để nghiên cứu thêm. Nhưng hy vọng các qui luật căn bản trên đây cũng có thể giúp các bạn đi được một đoạn khá dài.

Điều cuối cùng mình muốn nhấn mạnh trong liên hệ giữa suy tư sâu sắc và viết giản dị là: Chỉ khi bạn hiểu được một vấn đề rất sâu sắc bạn mới đủ khả năng để trình bày vấn đề đó rẩt giản dị. Nếu bị lúng túng quá trong việc giản dị hóa một vấn đề, có thể là bạn phải nghiên cứu và suy nghĩ thêm về vấn đề đó, cho đến lúc nắm vững đủ để trình bày đựợc cho cả các em bé tiểu học, nếu cần.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến.

Hoành

© copyright TDH, 2009
www.dotchuoinnon.com
Permission for non-commercial use

Daily English Discussion–Saturday, July 18, 2009–Vegetarian diet

Hi everyone,

Giac Ngo online is opening a writing competition on “scientific fasting” (ăn chay khoa học). I have the feeling that they mean vegetarian diet. (Not sure what “scientific” really means 🙂 ) This is a very interesting issue for me too.

This year I started to eat brown rice, sesame seed and sea weed for several months. I felt very good. But then I lost so much weight and muscle strength after several months, more than I wanted, so I stopped and switched to tofu.

Right now I eat tofu as the main food, which is much better for physical strength.

I just boil the tofu and dip it in soy sauce. Sometimes I fry (using sesame oil or olive oil or other vegetable oil). It feel good. I feel my muscles have much more strength than brown rice.

I would suggest tofu as the main food if you are going for a long time. Several martial artists I know eat mainly tofu.

Anyone has some thing interesting to share?

Have a great day!

Hoanh

Liên hệ giữa tư duy và hành động

Chào các bạn,

Tư duy là bên trong và hành động là bên ngoài. Tư duy chi phối hành động. Nhưng cuộc đời đưa ta đến bao tình huống khác nhau mỗi ngày, đòi hỏi những hành động khác nhau cho từng tình huống. Hành động thì khi nhanh khi chậm, khi như sâu lắng suy tư, khi như ánh chớp như thể không kịp suy tư, khi thì dịu dàng, khi thì dũng mãnh… Vậy thì tâm tư ta thế nào trong những tình huống như vậy? Tâm tư ta cũng biến chuyển vô thường như hành động theo từng tình huống hay sao?
shaolinmonks
Một trong những điều làm mình suy nghĩ rất nhiều năm là trong tất cả mọi tôn giáo của thế giới, đạo Phật là hòa ái nhất. Điều này thì không cần phải nghiên cứu lịch sử tôn giáo; chỉ cần nhìn quanh thế giới hiện tại một vòng ta cũng thấy ra ngay. Nhưng mà cái nôi và kho tàng của võ học Trung quốc lại nằm trong Thiếu lâm tự. Tương tự như thế, đạo Lão là đạo rất vô vi và hòa ái, thì cũng có phái Võ Đang là đĩnh cao võ học về nhu quyền. Tại sao lại như vậy?

Dĩ nhiên là một tinh thần minh mẫn trong một cơ thể tráng kiện. Nhưng cuốc đất cũng tráng kiện, không nhất thiết phải là cao thủ võ lâm. Và đã đi tu thì cũng chẳng cần phải phòng thân, vì như trong truyện đời Phật Thích Ca cũng như nhiều vị bồ tát khác, thí thân mình là chuyện thường tình. Chỉ còn cách ly’ giải duy nhất là võ học thì giúp được người cô thế nhiều hơn, nhất là ngày xưa khi vũ thuật tự chính nó là môn vũ khí lợi hại.

Nghĩa là, ngay trong gốc rễ của các truyền thống đạo học lấy tĩnh lặng làm gốc, thì vẫn xem cái động bên ngoài như là một phần chính của cuộc sống thế gian, vì thực tế cuộc đời đòi hỏi hành động khi thì nhún nhường khi thì dũng mãnh.

Điều này thì chẳng có gì mới mẻ hay khó hiểu cả. Nhưng câu hỏi vẫn là: Thế thì tâm ta thế nào? Nó có xung động theo hành động bên ngoài không? Làm sao một cái tâm tĩnh lặng, điều khiển một vị cao tăng xuất chiểu đấm đá? Làm sao để ly’ giải hiện tượng xem ra là xung khắc này?
mecon1
Những câu hỏi này đưa mình đến một liên hệ thâm sâu và chặt chẻ nhất trong tất cả các liên hệ con người—liên hệ mẹ con. Mẹ thì thương con thâm sâu, vô điều kiện, vô giới hạn thời gian và không gian, vô giới hạn l‎y’ lẽ, vô giới hạn đạo đức đúng sai. Mẹ luôn thưong con. Đơn giản thế thôi.

Nhưng mẹ hành xử với con đủ kiểu—khi thì ôm ấp vỗ về, khi thì ngăn cấm, khi thì nghiêm phạt, khi thì dịu dàng, khi thì cứng rắn. Nhưng dù hành động thế nào đi nữa, thì trong từng giây phút đó mẹ vẫn thương con.

Thế thì giữa những gì xem ra là xung động của hành động bên ngoài và cái hòa ái của tĩnh lặng bên trong vẫn có hòa hợp và vẫn có thể l‎y’ giải được. Như cây cổ thụ đầu làng, lá cành luôn xôn xao dao động với bao ngọn gió, nhưng thân và rễ vẫn luôn chắc chắn tĩnh lặng.
treeinthewwind
Và phải chăng chính cái tĩnh lặng chắn chắn của gốc rễ cho phép lá cành được xôn xao mà cây không vì đó mà ngã nghiêng tróc gốc?

Thế thì, những tình huống khác nhau trong ngày đòi hỏi ta có những hành động khác nhau. Làm thế nào ta biết được nên hành động thế nào?

Rất dễ để cho chúng ta có những quy luật rõ ràng và chắc chắn, như là “Nếu kẻ thù tát má này thì đưa thêm má kia.” Điều này thì cũng không khó, nếu kẻ thù tát mình thì nhịn một tí cũng chẳng có gì là khó khăn mấy.

Nhưng nếu kẻ thù tát người khác và tạo ra bất công xã hội thì sao? Đây không phải là tát mình, mà là tát vào cả xã hội?

Những người trộm cắp hà hiếp người khác thì sao?

Chắc chắn đó là những tình huống đòi hỏi ta phải làm gì đó, với con tim yêu ái, yêu người và yêu đời.
waves
Đây là khi con tim tĩnh lặng và hòa ái của ta giúp ta quyết định phải làm gì trong tình huống này khi tình huống này đang xảy ra. Đó là là quyết định ta không thể tính trước được mà chỉ có thể quyết định ngay khi nó xảy ra. Vào lúc một tình huống đang xảy ra với những sự kiện đặc thù của nó–ai đang làm gì với ai, tại chỗ nào, trong không khí nào, cái hại cái lợi của hành động của họ thế nào, những điều gì mình nên làm để can thiệp, những điều gì mình có thể làm, những gì mình không nên làm… hàng chục câu hỏi như thế vận hành có thể chỉ trong vài tích tắc, và computer trong đầu của ta phải duyệt qua tất cả thông tin lúc đó và quyết định ngay lập tức ta phải làm gì.

Những lúc đó ta không có thời giờ để triết lý. Nhưng nếu con tim ta đã có sẵn tĩnh lặng và hòa ái, thì dù chỉ trong vài giây suy nghĩ, năng lượng tĩnh lặng và hòa ái vẫn là năng lượng mạnh nhất ảnh hưởng vào quyết định của não bộ.

Và cuối cùng, dù ta quyết định thế nào đi nữa, ta cũng có thể an tâm là quyết định của ta đã được đặt trên nền móng của một con tim thật sự tĩnh lặng và hòa ái.

Và dù là sóng có thiên hình vạn trạng, nhanh hay chậm, dịu dàng hay bão tố vì những ngọn cuồng phong bên ngoài, ta vẫn biết được bản chất của nước là trong suốt và tĩnh lặng thế nào.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

© copyright TDH, 2009
www.dotchuoinnon.com
Permission for non-commercial use

Nghệ sĩ dương cầm Yundi Li

Chào các bạn,

Li Yundi (李云迪) (sinhngày October 7, 1982) tại thành phố Trùng Khánh, Tứ Xuyên, Trung Quốc là một nhạc sĩ piano cổ điển, nổi tiếng nhờ là nhạc sĩ dương cầm trẻ tuổi nhất thắng International Frederick Chopin Piano Competition lúc 18 tuổi vào năm 2000. Hiện nay Yundi Li sống ở Hồng Kông và trình diễn dương cầm cùng dàn đại hòa tấu Hong Kong Philharmonic Orchestra.

Yundi Li có tiếng đàn rất sống động, nhún nhẩy, nhiều thay đổi cường độ và, do đó, mang theo nhiều cảm xúc. Người ta có thể nghe được cảm xúc tuôn ra từ mỗi nốt đàn. Sở trường của Yundi Li nhạc Chopin, người ta có thể cảm nhận được sự khác biệt khi Yundi trình tấu Chopin, so với trình tấu Prokofiev chẳng hạn.

Sau đây mời các bạn thưởng thức vài vidéo của Yundi Li

1. Chopin’s “Fantasie” Impromptu, C thăng thứ, Op. 66 No. 4
2. Chopin Dạ Khúc (Nocturne Op. 9 No. 2).
3. Ba bản cùng lúc: Verdi’s “Rigoletto” Opera Fantasy, bản nhạc đông phương “Hoa Hướng Dương” (Sun Flower), và “La Campanella” của Liszt.
4. Traumerei của Schumann
6. Và hai ngày liền thi đấu lúc 18 tuổi tại International Frederick Chopin Piano Competition, năm 2000.

Chúc các bạn một ngày tươi hồng !!

Hoành

.

Chopin’s “Fantasie” Impromptu in C-sharp minor, Op. 66 No. 4

.

Yundi Li plays Chopin Nocturne Op. 9 No. 2

.

“La Campanella” in B minor S. 141. Composed 1838, revised 1851. Liszt was 27 when he composed this piece.

.

Pianist Yundi Li plays Liszt’s piano reduction of Verdi’s “Rigoletto” Opera Fantasy, an Oriental piece by composer Wang titled “Sunflower” and finally another Liszt, the 3rd Etude based on a variation of a theme of Paganini, “La Campanella” in B minor S. 141.

.

Traumerei (Shumann)

.

Yundi Li – 14th International Chopin Competition (2000). This is an 18 year old Yundi Li’s performance at the 14th International Chopin Competition in 2000. Uncut, plays straight through two days worth of amazing performances

Nhà thơ Tế Hanh qua đời

Chào các bạn,

Nhà thờ Tế Hanh đã qua đời.  Một thiên tài thi ca đã ra đi.

Trong kho tàng thi ca Việt Nam, bài thơ mình thích nhất là Bão của Tế Hanh.  Mình đã dịch bài này ra tiếng Anh và đã đăng trên tạp chí thơ đại học Illumination vài năm về trước.  Lúc đó mình có gửi tập thơ về Hội Nghệ Sĩ Việt Nam ở Hà Nội nhờ chuyển đến Tế Hanh, nhưng có lẽ không đến. Hai năm trước đây mình có gửi bài dịch về cho chị Phương, con gái Tế Hanh.

Tehanh
Ngoài bài thơ Bão, Tế Hanh còn để lại cho mình một dấu ấn khác.  Năm 1989, lúc đó mình làm việc với một số bạn ở Washington thành lập US-Vietnam Trade Council, và Council bảo trợ anh Nguyễn Ngọc Trường của Bộ Ngoại Giao, tổng biên tập tạp chí Quan Hệ Quốc Tế, qua Mỹ ba tháng tìm hiểu hệ thống Mỹ.  Council sắp một cuộc gặp mặt riêng giữa mình và anh Trường.  Hai người gặp nhau ăn trưa trong một quán ăn gần Quốc Hội.  Đó là người Cộng Sản đầu tiên mình gặp.  Nói với nhau đủ thứ chuyện.   Dĩ nhiên là mình nói nhiều về nhu cầu đổi mới kinh tế chính trị Việt Nam.  Một lúc sau nói đến điều gì đó mà anh Trường đọc “Bài thơ tình ở Hàng Châu” của Tế Hanh:

Anh xa nước nên yêu thêm nước
Anh xa em càng nhớ thêm em

Hai câu đầu này đúng tâm sự mình quá, mình nhờ anh Trường chép lại cả bài.  Và mình nghĩ, Hóa ra người Cộng Sản cũng đầy thi ca mộng mơ như mình chứ đâu chỉ biết đánh nhau như mình tưởng.

Bài thơ này, chị Kiều Tố Uyên vừa đăng gần đây trong bài Hàng Châu và bài thơ tình của Tế Hanh.

Dưới đây là bài báo trên VnExpress nói về cuộc đời Tế Hanh.  Và bài thơ Bão mà mình đã dịch ra Anh ngữ, gọi là một chút để cùng tưởng niệm một vì sao rơi.

    Bão

    Cơn bão nghiêng đêm
    Cây gãy cành bay lá
    Ta nắm tay em
    Cùng qua đường cho khỏi ngã

    Cơn bão tạnh lâu rồi
    Hàng cây xanh thắm lại
    Nhưng em đã xa xôi
    Và cơn bão lòng ta thổi mãi
    .

      Tế Hanh (1957)
      Tình Bạn Tình Yêu Thơ
      (Nhà Xuất Bản Giáo Dục, VN 1987)

    .

    Storm

    The storm tilted the night
    Branches broke, leaves flew
    I clutched at your hand
    Crossing the street together so we wouldn’t fall

    The storm has left long ago
    The trees have turned green again
    But you’re now away
    And the storm in my heart will always stay
    .

      Translated by TDH
      April 5, 1998 (March 9, 2000)

Nhà thơ Tế Hanh qua đời

12h ngày 16/7, nhà thơ Tế Hanh trút hơi thở cuối cùng để về với “sông nước của quê hương”, sau hơn 10 năm nằm liệt giường vì căn bệnh xuất huyết não. Ông hưởng thọ 89 tuổi.

Nhà thơ Tế Hanh. Ảnh tư liệu.
Nhà thơ Tế Hanh. Ảnh tư liệu.

Tế Hanh tên thật là Trần Tế Hanh, sinh ngày 20/6/1921 trong một gia đình nhà Nho nghèo ở thôn Đông Yên, xã Bình Dương, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Ông học ở trường làng, trường huyện. Đến tuổi 15, nhà thơ tương lai ra Huế học trung học. Chính nơi đây, ông bắt đầu gặp gỡ, giao lưu với các tác giả của phong trào Thơ Mới và dần dà trở thành một trong những cây bút từng làm nên một thời đại hoàng kim cho thi ca Việt Nam.

Được biết đến với bài thơ đầu tiên Những ngày nghỉ học từ năm 17 tuổi (1938), Tế Hanh ghi dấu ấn trên thi đàn bằng những cảm xúc trong sáng, vẩn vơ, buồn buồn của tuổi học trò. Những sáng tác đầu tay của ông sau đó được tập hợp trong tập Hoa niên – tập thơ được Tự lực văn đoàn khen tặng (dưới tên Nghẹn ngào).

Thời kỳ Cách mạng tháng Tám, Tế Hanh tham gia cách mạng ở Huế. Hòa bình lập lại, ông tập kết ra Bắc, làm việc ở Hội Văn nghệ, sau đó là Hội Nhà văn Việt Nam.

Những năm cuối đời, nhà thơ ốm nặng. Ảnh: ANTG.
Những năm cuối đời, nhà thơ ốm nặng. Ảnh: ANTG.

Sau 1954, vượt qua những thành công đầu tiên của mình, Tế Hanh khẳng định sức bền của ngòi bút qua một loạt tập thơ như Lòng miền Nam (1956), Gửi miền Bắc (1958), Tiếng sóng (1960), Hai nửa yêu thương (1963), Con đường và dòng sông (1980), Em chờ anh (1994)… Chủ đề quen thuộc thời kỳ này của ông là tình cảm với miền Nam quê hương, ý chí đấu tranh, khát vọng thống nhất Tổ quốc. Tác giả có những vần thơ thiết tha về quê hương đã đi vào lòng người với những sáng tác tiêu biểu như Quê hương, Nhớ con sông quê hương, Mặt quê hương... Với những đóng góp nổi bật đó, ông được nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I năm 1996.

Vào những năm 80, Tế Hanh bị đau mắt, rồi ông mù dần. Hơn 10 năm trước, nhà thơ ngã bệnh nặng và nằm liệt giường, lúc mê lúc tỉnh. Những lúc tỉnh táo, ông vẫn nghe thơ, đón bạn bè đến thăm. Nhưng mấy năm gần đây, nhà thơ gần như sống thực vật.

Nhà văn Đào Thắng, chánh văn phòng Hội Nhà văn cho biết, hiện tại, Hội Nhà văn đang bàn bạc với gia đình nhà thơ để tổ chức chu đáo cho ông về nơi yên nghỉ cuối cùng.

Hà Linh

Một số bài thơ tiêu biểu của Tế Hanh:

Quê hương

Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới
Nước bao vây cách biển nửa ngày sông
Khi trời trong, gió nhẹ sớm mai hồng
Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá

Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã
Phăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang
Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng
Rướn thân trắng bao la thân góp gió

Ngày hôm sau ồn ào trên bến đỗ
Khắp dân làng lũ lượt kéo ghe về
Nhờ ơn trời biển lặng cá đầy ghe
Những con cá tươi ngon thân bạc trắng

Dân chài lưới lần da ngăm rám nắng
Tỏa thân hình nồng thở vị xa xăm
Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm
Nghe chất muối thấm dần trong thớ vó.

Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớ
Mầu nước xanh, cá bạc, cánh buồm vôi
Thoáng con thuyền rẽ sóng chạy ra khơi
Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá!

Mặt quê hương

Mặt em như tấm gương
Anh nhìn thấy quê hương

Kìa đôi mắt, đôi mắt
Dòng sông yêu trong vắt

Kìa vừng trán thanh thanh
Khoảng trời xa yên lành

Miệng em cười tươi thắm
Như vườn xanh nắng ấm

Hơi thở em chan hòa
Như hơi thở quê ta

Hôm qua ai thù giặc
Mà môi em mím chặt?

Hôm nay ai xót thương
Mà mi em mờ sương?

Ôi miền Nam yêu dấu
Trên mặt em yêu dấu

Ôi tháng năm nhớ thương
Mặt em là quê hương

Chia buồn với gia đình nhà thơ và chia sẻ cảm xúc về những vần thơ của Tế Hanh.

Tehanh

Daily English Discussion–Friday, July 16, 2009–Boating accident in East Sea

englishchallenge
Hi everyone,

About an unidentified boat hitting one of our fishing boat off the coast of Quảng Ngãi, I wouldn’t mind venture a guess that it is likely to be a Chinese boat. I think the Vietnamese government should at least ask China to do an investigation for this. Even if China will do nothing, ask anyway.

How do you feel about this?

Hoanh

Tàu lạ đâm ngư dân chạy trốn, không cứu hộ người bị thương

Các ngư dân đang nghỉ ngơi ở cabin thì nghe tiếng “đùng” va mạnh vào đuôi tàu, thuyền lật nghiêng rồi chìm dần. Một số người rơi xuống biển, những người còn lại va mạnh vào thân tàu và bị thương.
> Tàu lạ tấn công ngư dân Việt Nam, 7 người bị thương

Các ngư dân bị nạn nhìn thấy một chiếc tàu lớn đang lướt qua với vận tốc cực nhanh mà không quay lại để cứu hộ.

Sáng nay hàng trăm người dân cùng các cơ quan chức năng, y tế, biên phòng… tỉnh Quảng Ngãi có mặt tại bến cá Nghĩa An để chờ đón chiếc tàu đánh cá của ông Huỳnh Thỏ đưa 9 ngư dân, trong đó có 7 người bị thương trong vụ bị tàu lạ đâm chìm, về đất liền. Những cái nhìn đau đáu của người thân ngư dân gặp nạn chợt sáng lên khi chiếc tàu xuất hiện từ phía đường chân trời, rồi hiện rõ dần.

Những tiếng kêu, gọi vang rân cả bến tàu khi bóng những thuyền viên xuất hiện. Bác sĩ đã phải lên tận boong tàu chăm sóc cho những ngư dân bị thương nặng. Họ nằm dài mệt mỏi, quần áo vẫn còn bê bết máu. Vài người bị thương nhẹ được đưa xuống đất nằm dài trên mặt cát.

Sáu sai lầm thường gặp trong lãnh đạo nhóm

Chào các bạn,

Bài viết này đã đăng vài năm trước trong báo Nhà Quản Lý. Hôm nay đăng lại đây để chia sẻ với các bạn. Hình như bản này là bản đã được Nhà Quản Lý biên tập, vì đọc nghe khô khan, không thân thiện theo kiểu của mình 😦

Mến,

Hoành
_________

Lãnh đạo ở mọi cấp quản trị thường mắc một số sai lầm chung làm suy yếu tập thể của họ. Thực tiễn hoạt động trong các tập đoàn đa quốc gia cũng như những doanh nghiệp vừa và nhỏ cho thấy, các trưởng nhóm, các nhà quản lý thường mắc 6 lỗi phổ biến sau đây làm giảm hiệu quả hoạt động của nhóm và công ty
Quality_not_quantity
1. Chú tâm vào số lượng

Phần lớn các nhà quản lý thường mắc ảo tưởng rằng càng có nhiều nhân sự trong nhóm thì nhóm càng trở nên mạnh. Ảo tưởng này có mối liên hệ với cái tôi của nhà quản lý – dưới quyền tôi có nhiều người, chứng tỏ tôi quản lý tốt. Đây là một trong những sai lầm đầu tiên trong việc xây dựng và tổ chức hoạt động nhóm.

Chất lượng nên là yếu tố quan tâm hàng đầu. Trong công việc hàng ngày, tôi hay sử dụng “Nguyên tắc quản lý của The Beatles”. Có rất nhiều dàn nhạc giao hưởng với số lượng đông hàng trăm nghệ sĩ và đủ các loại dụng cụ âm nhạc. The Beatles chỉ có 4 thành viên. Tuy nhiên, mức ảnh hưởng của họ trong thế giới âm nhạc lớn hơn bất kỳ dàn nhạc khổng lồ nào khác, thậm chí còn hơn tất cả các dàn nhạc này cộng lại. Điều này chứng tỏ là một nhóm nhỏ với các thành viên hạng nhất vẫn hiệu quả hơn so với một nhóm đông những người trung bình. Do vậy, chất lượng chứ không phải số lượng là điều quan trọng.

onebadapple
2. Đếm đầu người

Một vài nhà quản trị có xu hướng định giá khả năng của nhóm thông qua việc đếm đầu người một cách đơn giản. Họ thường nói: “Nhóm tôi có 12 nhân viên, 8 nguời trong số này tốt, 2 trung bình, và 2 tồi. Nhóm của tôi nhìn chung là tốt vì số lượng người tốt chiếm đa số”.

Tuy nhiên, chúng ta hãy xem xét đội hình của một đội bóng. Cần bao nhiêu cầu thủ tồi để có thể hủy hoại thành quả của cả đội? Một là quá đủ. Nếu một cầu thủ không chơi theo lối chơi của đội, không phối hợp tốt với các cầu thủ khác, chơi ẩu, ích kỷ, không chịu chuyền bóng cho đồng đội lúc cần thiết… cả đội sẽ thua. Thực chất, để có một đội hình mạnh, tất cả các thành viên đều phải chơi tốt và giữ vững kỷ luật. Đó là mô hình của Real, Juve, AC, hay Chelsea, là các câu lạc bộ hàng đầu hiện nay. Một điều đơn giản, một quả táo thối có thể làm hỏng cả giỏ táo, vì vậy quả táo thối phải bị loại bỏ ngay.

cub-scouts
3. Sử dụng “dân chủ” không phù hợp

Nhiều người nghĩ rằng để nhóm mạnh thì phải có dân chủ, tức là mọi người đều có tiếng nói và sức mạnh ngang nhau và việc ra quyết định sẽ theo phương thức biểu quyết. Điều này là sai lầm.

Hiệu quả hoạt động của nhóm chủ yếu phụ thuộc vào người đứng đầu. Trưởng nhóm là người ra quyết định và chịu trách nhiệm trước cấp lãnh đạo cao hơn về hiệu quả hoạt động của nhóm. Trưởng nhóm có thể dẫn dắt nhóm thảo luận một cách dân chủ, song anh ta phải là người ra quyết định cuối cùng. Trưởng nhóm có thể sử dụng biếu quyết để quyết định một vấn đề thay vì tự mình ra quyết định, nhưng anh ta vẫn là người chịu trách nhiệm cuối cùng về quyết định đó. Một người lãnh đạo không ra được quyết định hoặc tránh trách nhiệm ra quyết định là lãnh đạo tồi và tập thể do anh ta lãnh đạo sẽ không thể mạnh được.
mother-scolding-bad-boy
4. Không phải lúc nào cũng nhẹ nhàng và ngọt ngào

Như là huấn luyện viên một đội bóng, trưởng nhóm luôn hỗ trợ các thành viên, song tùy từng thời điểm, đôi khi phải cứng rắn, đặc biệt với một số loại thành viên. Nhà quản lý không phải lúc nào cũng ngọt ngào và dịu êm.

Làm trưởng nhóm đòi hỏi năng lực và sức mạnh để có thể chỉ ra được các điểm yếu, điểm mạnh, các sai lầm mà các thành viên mắc phải. Đây là công việc khó và cần cứng rắn trong hành động. Ra quyết định là nhiệm vụ của nhà quản lý và quyết định cần khắc nghiệt trong những giai đoạn khó khăn. Tuy nhiên, cứng rắn thế nào để mọi người vẫn yêu quý mình, đó là một nghệ thuật.

yoyoma
5. Ngần ngại trong đòi hỏi chất lượng

Nhiều nhà lãnh đạo thường e dè khi nói với nhân viên về hiệu quả hoạt động kém của họ. Việc này thường được giải thích với nhiều lý do: “Tôi không muốn làm mếch lòng nhân viên, hoặc “Chúng ta trả lương họ chưa xứng đáng, vì vậy chúng ta không thể đòi hỏi chất lượng cao hơn” v.v…

Bào chữa như vậy là không có cơ sở. Khi một nhà quản lý ngần ngại đòi hỏi chất lượng cao, nhóm của anh ta sẽ trở nên xoàng xĩnh, chí khí của nhóm sẽ suy giảm, và cuối cùng nhiều thành viên sẽ ra đi. Ngược lại, khi nhà quản lý yêu cầu chất lượng cao, các nhân viên sẽ cảm thấy công việc của họ là có giá trị. Họ thấy hãnh diện về nghề nghiệp của mình, tôn trọng người quản lý và trở nên trung thành hơn với tổ chức.

champions_league

6. Lo sợ đặt mục tiêu cao

Nhiều nhà quản lý cũng lo sợ khi đặt mục tiêu cao cho nhóm. Họ e dè khi nói những câu: “chúng ta là những người tốt nhất” hay “chúng ta sẽ trở nên tốt nhất”. Có người nói đây là sự nghiêm tốn và nhún nhường cần thiết. Tôi thì cho rằng đây là biểu hiện của sự thiếu tự tin.

Một nhà lãnh đạo tự tin sẽ nói với nhân viên để tiến lên vị trí số 1. Cách đặt mục tiêu này sẽ khuyến khích nhân viên luôn tự hoàn thiện mình, cảm thấy thử thách, vui vẻ, hãnh diện, và cảm thấy rằng họ là lực lượng để chiến thắng.

Trên đây là một số những sai lầm thường gặp ở những người lãnh đạo, với mục đích để phân biệt những nhà lãnh đạo xoàng xĩnh với những nhà lãnh đạo giỏi, những nhóm thành đạt với những nhóm thất bại… Hy vọng những kinh nghiệm này sẽ giúp ích phần nào cho các nhà quản lý của chúng ta trong công tác điều hành hiện nay.

LS Trần Đình Hoành, Tiến Sĩ Luật

William Tell Overture

Chào các bạn,

Bản nhạc mở màn vở nhạc kịch William Tell, gọi là William Tell Overture, là một bản nhạc cổ điển của Gioachino Rosini rất phổ thông, nhất là đọan cuối.

Gioachino Antonio Rossini
Gioachino Antonio Rossini

Gioachino Antonio Rossini (February 29, 1792 – November 13, 1868) người Ý, là một trong những soạn giả rất phong phú và sống động. Ông soạn nhạc cho 30 vở nhạc kịch, cùng một loạt thánh ca và nhạc thính phòng. Nhạc của Rossini thường mang âm hưởng “bài hát”, lên xuống trầm bổng thường xuyên, (khác với các bản nhạc cho khí cụ, hoặc có thể không lên xuống nhiều, hoặc lên xuống quá tầm giọng hát). Vì đặc tính này mà Rossini được gọi là Mozart của nước Ý. Vào thời ông, Rossini được xem là nhà soạn nhạc kịch lớn nhất trong lịch sử âm nhạc.

Các tác phẩm nỗi tiếng nhất của Rossini gồm Il barbiere di Siviglia (The Barber of Seville), La Cenerentola, La gazza ladra (The Thieving Magpie) and Guillaume Tell (William Tell).

Overture là một đoạn nhạc mở đầu một nhạc kịch. William Tell Overture có tất cả 4 đoạn:

— Prelude (mở đầu): Nhạc chậm và thấp, thường dùng cello (trung hồ cầm) và bass (đại hồ cầm).
— Storm (bão): Rất sống động, toàn dàn hòa tấu.
— Ranz des Vaches (gọi bò sữa): dùng English horn (còi Anh).
— Finale: Đoạn cuối, rất mạnh mẽ như đoàn kỵ binh tấn công trên chiến mã, nên thường gọi là đoạn galloping (ngựa phi), kèn trumpet đi đầu và toàn dàn hòa tấu theo sau.

Đoạn Galloping này được dùng rất nhiều trong văn hóa phổ thông: Nó là nhạc nền chính của series Lone Ranger, rất nổi tiếng, gồm một radio series kéo dài từ 1933 đến 1954 (21 năm), một TV series từ 1949 đến 1957, và một loạt các phim lẻ. Trong rất nhiều phim ảnh, nhạc kịch, đoạn Galloping được dùng như chính nó, hay là nhái lại hài hước, hầu như không thể kể hết được.

Năm 1838, nhạc sĩ Franz Liszt biên soạn William Tell Overture cho piano. Và ngày nay người ta chơi William Tell Overture với mọi khí cụ, đủ kiểu.

Sau đây chúng ta sẽ nếm một tí mùi vị phong phú của William Tell Overture qua các video sau đây:

(1) Dàn đại hòa tấu quốc tế Berliner Philharmoniker với nhạc trưởng khét tiếng Herbert Von Karajan.
(2) Hảo thủ số một thế giới về mandolin, Even Marshall, độc tấu
(3) Hai anh em Johnathan và Tom Scott song tấu trên một piano.
(4) Hảo thủ trống với một dàn trống rock vĩ đại.
(5) Gerry Phillips chơi William Tell Overture với chỉ hai bàn tay !!
(6) Lời mẹ nói, nhái William Tell Overture với giọng opera nữ (có phụ đề lời Anh ngữ).

Mời các bạn thưởng thức.

.

Đại Hòa Tấu: Gioachino Rossini (1792-1868) WILLIAM TELL OVERTURE (1829) Berliner Philharmoniker HERBERT VON KARAJAN (1908-1989) New Year’s Eve Concert, Berliner Philharmonie Dec 31, 1983

.

Mandolin: Mandolinist Evan Marshall performing the William Tell Overture

.

Piano: Scott Brothers Duo (Jonathan & Tom Scott) perform the Gallop from The William Tell Overture arranged for piano duet by Gottschalk.

.

Trống: Vadrum Meets William Tell (Drum Video)

.

Hai bàn tay: My name is Gerry (Jerry) Phillips and I have been playing songs on my hands for 38 years!

.

Lời Mẹ Nói: The Mom Song Sung to William Tell Overture

Nguyễn Thị Tiến: Tìm về những linh hồn đồng đội

Chào các bạn,

Vào dịp giỗ tổ Hùng Vương năm 2008 tại Đại Sứ Quán Việt Nam ở Washington DC, qua sự giới thiệu của chi Lê Phượng của Thông Tấn Xã Việt Nam, mình gặp chị Tiến.  Hình ảnh đầu tiên đến với mình  là một người phụ nữ rất vui vẻ bình thường, nhưng một lúc sau, biết được là chị đã có quân hàm trung tá và đang theo đuổi công việc tìm hài cốt các chiến sĩ đã hy sinh trong chiến tranh để mang họ trở về nguyên quán, thì mình rất đỗi ngạc nhiên và xúc động–ngạc nhiên vì đó là công việc rất bất thường, tiêu thụ rất nhiều năng lượng của con tim và chắc chắn là đôi khi rất nhiều stress, trong một phụ nữ nói chuyện thật là vui; xúc động vì việc thì nặng cảm xúc đến thế mà nói chuyện thì thanh thản đến thế, là người mình rất phục.
trungtanguyenthitien2
Dịp đó chị Tiến sang Mỹ để liên hệ với các tổ chức cựu chiến binh Mỹ, để mong tìm thêm được các kỷ vật các chiến binh Mỹ thu lượm được trong thời chiến, hầu có thể giúp thêm chị trong việc tìm và xác định hài cốt đồng đội.

Hôm nay mình giới thiệu chị Tiến và công việc của chị đến các bạn.  Mong là bài này giúp chị một tí niềm vui sau nhiều năm tháng đối diện với bao nhiêu xúc cảm nặng nề.   Mình cũng mong các bạn hỗ trợ chị Tiến trong những cách thức có thể, như là báo cho bạn bè Mỹ của mình biết về công việc của chị và nhu cầu thu lượm tin tức cùng kỷ vật, hoặc các bạn có nhu cầu tìm thân nhân đã mất trong thời chiến tranh.

Mình đang đợi chị Tiến viết một vài bài về công việc của chị cho ĐCN.  Lúc đó chúng ta có thể có thêm thông tin về chị.

Dưới đây là ba bài báo về công việc của chị:   (1) “Liệt sĩ Hoàng Ngọc Đảm trở về đất mẹ”, 7/2008, trên baovietnam.vn, về chuyến đi Mỹ của chị năm 2008.  Bài này cũng có câu chuyện rất cảm động về kỷ vật và thông tin của một cựu binh Mỹ, và công sức của anh và thân nhân trong việc bay về tận bãi chiến trường cũ tại Việt Nam, để giúp tìm ra hài cốt của liệt sĩ Hoàng Ngọc Đảm và mang anh trở về quê.

(2) “Người tìm về những linh hồn đồng đội” trên vietbao.vnngày 25.7.2007

(3)  “60 năm ngày thương binh liệt sĩ–Những câu chuyện tìm lại tên anh” ngày 27.7.2007 trên báo Tuổi Trẻ.

Chúc chị Tiến luôn có được niềm vui trong công việc.  Chúc các bạn một ngày vui.

Hoành

.

TP- Khi gặp lại Tiến tại quê nhà, câu chuyện như kéo dài thêm về những ngày ở Washington lẫn Maryland của Tiến.

Homer đi đầu (bên phải) khiêng quan tài LS Hoàng Ngọc Đảm trong buổi lễ truy điệu ngày 19/5/2008 tại xã Thái Giang, Thái Thụy, Thái Bình (ảnh của trung tá Nguyễn Thị  Tiến)

Vị cựu binh thủy quân Lục chiến, Wayne nay là GS sử học Đại học Maryland đã mời Tiến nói chuyện với sinh viên đại học Maryland. Người dịch cho Tiến và vị GS nọ là Sedgwick D. Tourison, Jr. nguyên là Sĩ quan Quân báo Lục quân.

Ông đã có nhiều năm tham chiến trên chiến trường Việt Nam và rất giỏi tiếng Việt. (được phép của Tiến, có lẽ một dịp thích hợp toàn bộ bức email khá xúc động mà ông mới vừa gửi cho Tiến sẽ được công bố. Sau đây là trích một đoạn:

Ngày 27/7 là ngày đặc biệt của toàn dân Việt Nam đặc biệt là quân nhân và gia đình của liệt sĩ Việt Nam đã nằm xuống vì Tổ Quốc. Hàng vạn hài cốt liệt sĩ vẫn chưa mang về…

Mỗi ngày tôi như nghe thấy tiếng gọi của liệt sĩ Việt Nam nói nho nhỏ, cho tôi về nhà đi… Cho tôi về nhà đi… Nếu trong khả năng của tôi thì tôi sẽ hết sức cố gắng thi hành nhiệm vụ của một con người giúp họ về càng sớm càng tốt…

Trở lại với buổi nói chuyện của Tiến ở ĐH Maryland. Hơn một giờ đồng hồ, Tiến đã nói về nỗi đau dằng dặc hàng bao năm của những bà mẹ Việt Nam có con đi chiến đấu ở chiến trường xa. Rồi sau chiến tranh, có hàng trăm ngàn bà mẹ người thân của họ lại gánh thêm nỗi đau không tìm thấy hài cốt của con em mình.

Tiến kể về công việc khiêm tốn của mình trong nhiều năm qua đã góp sức cùng nhiều người và nhiều cơ quan khác có trách nhiệm ở Việt Nam như một sự chung tay làm dịu đi nỗi đau ấy.

GS Wayne rất xúc động và gần như có cuộc phát động ngay sau đó rằng các cựu binh Hoa Kỳ có mặt ở đây và các sinh viên có mối quan hệ với các cựu binh nên thông tin cho họ rằng nếu tìm thấy hoặc đang cất giữ những kỷ vật của bộ đội Việt Nam thì hãy trao trả cho Việt Nam hoặc trực tiếp liên lạc với  bà Nguyễn Thị Tiến có địa chỉ ở Việt Nam và email đây!

Xin trở lại với lời dặn dò nhắc nhở của bà mẹ Homer rằng phải tìm cách trả lại cuốn sổ cùng địa chỉ vị trí nơi chôn cất liệt sỹ Hoàng Ngọc Đảm.  Xúc động lẫn trăn trở về những tâm sự của người bạn thân Homer, năm 2005, GS Wayne đã tìm được cơ hội.

Trong một chuyến công tác sang Việt Nam, cũng là dịp trở lại chiến trường xưa, ông đã liên hệ với nhiều cơ quan có trách nhiệm và đáng nói nhất là đã liên lạc được với gia đình liệt sỹ Hoàng Ngọc Đảm.

Trở về Mỹ, vị GS nọ luôn ám ảnh bởi buổi được chứng kiến khung cảnh cực kỳ cảm động khi gia đình liệt sỹ Hoàng Ngọc Đảm cùng địa phương đã tổ chức đón cuốn sổ nhật ký của Hoàng Ngọc Đảm như thế nào.
nghiatranglietsi1
Được tận mắt chứng kiến nỗi khát khao của gia đình nếu như tìm thấy hài cốt của liệt sỹ qua vị trí chôn cất mà Homer có hướng dẫn tỷ mỉ trong thư. Và điều GS kể lại cho ông bạn thân Homer khiến bạn sửng sốt rằng, dẫu biết mười mươi người đã giết con mình là bạn thân của ông người Mỹ đang có mặt tại nhà họ, nhưng âm hưởng chủ đạo của cuộc gặp lẫn buổi đón nhận cuốn nhật ký lại là không khí cảm động chứ những người thân của liệt sỹ Đảm tuyệt nhiên không có ai nhắc tới hận thù này khác!

Đó là một trong những duyên do khiến bà mẹ Homer hối giục con mình nên mau mau một lần trở lại chiến trường cũ!

Có một việc Homer và ngay cả GS Wayne cũng không thể ngờ được rằng, theo hướng dẫn của Homer trong thư, gia đình liệt sỹ Hoàng Ngọc Đảm đã vào tận đèo Măng Giang, Kon Tum…

Cứ như vị trí mà Homer khẳng định, thì trước đó từ lâu, địa phương đã phát hiện ra ngôi mộ liệt sĩ ở vị trí của Homer từng xác định sau này và đã làm cái việc cất bốc, quy tập mộ Liệt sĩ Hoàng Ngọc Đảm về nghĩa trang liệt sỹ của địa phương.

Tất nhiên phần hài cốt của liệt sỹ Đảm ấy khi vào nghĩa trang cũng là vô danh như phần nhiều ngôi mộ liệt sỹ khác. Thật may mắn là trong những lần quy tập ấy, người ta đã kịp đánh số vẽ sơ đồ cho mộ liệt sỹ.

Sau chuyến đi Mỹ trở về, đầu tháng 5/2008, Nguyễn Thị Tiến được GS Wayne báo tin sẽ cùng với ông bạn thân Homer sang Việt Nam. Và họ sẽ có chuyến vào Măng Giang, Kon Tum đến tận nơi Hoàng Ngọc Đảm đã nằm xuống.

Nhưng phải cuối tháng 5, hai cựu binh Thủy quân lục chiến ấy mới có mặt tại Việt Nam. Được phép của cơ quan có trách nhiệm cũng như gia đình liệt sỹ Hoàng Ngọc Đảm, một chuyến đi vào Kom Tum đã được thực hiện.

Chuyến đi đó ngoài hai người cựu binh Thủy quân lục chiến còn có mấy người anh em ruột của liệt sỹ Hoàng Ngọc Đảm là Hoàng Đình Lượng, Hoàng Đình Cát, Hoàng thị Tươi.

Nhà văn nhà báo Minh Chuyên, một người cũng có nhiều duyên nợ âm phần, từng thực hiện nhiều bộ phim về đề tài này cùng kíp làm phim 3 người của Đài Truyền hình Việt Nam.

Đặc biệt tham gia chuyến đi còn có một người cháu gái của cựu binh Homer. Và còn có một nhà ngoại cảm đi theo theo yêu cầu của gia đình liệt sỹ. Một trận cảm bất ngờ đã khiến trung tá Nguyễn Thị Tiến không có mặt trong đoàn.

Trong thời gian không lâu nữa, có thể trong dịp 27/7 sắp tới, bộ phim do nhà văn Minh Chuyên đạo diễn và kíp làm phim thực hiện về cuộc đi hy hữu này sẽ được trình chiếu nhưng những gì người viết bài này được kể lại một phần trong chuyến đi đó vẫn khá ấn tượng.

Quá nửa ngày, cựu binh Homer đã quày quả đi đi lại lại, săm soi chỉ một khúc đèo ngắn của Măng Giang. Gần 40 năm qua mọi vật cảnh quan có lẽ đã đổi thay nhiều.
nghiatranglietsi
Cây cối xứ nhiệt đới đã nhổng nhao nhanh chóng ở những khoảng ngày xưa là đồi trọc. Và vô khối khoảnh rừng già đã biến mất. Nhưng cuối cùng, trường đoạn của cảnh quay cũng đã kết thúc khi Homer qua quá trình khoanh vùng đã loại bỏ dần và xác định được tọa độ.

Địa điểm mà liệt sỹ Hoàng Đình Đảm nằm xuống mà Homer khẳng định cũng trùng với khu vực mà trước đây nhiều năm đội quy tập liệt sỹ đã cất bốc mộ của liệt sỹ Hoàng Ngọc Đảm đưa vào nghĩa trang địa phương.

Trời trưa Tây Nguyên bốc nắng dữ dội, nhìn vị cựu binh Thủy quân lục chiến cao gầy, tóc bạc râu bạc ở cái tuổi 62, nén hương trong tay run rẩy, người như đổ sụp xuống ngôi mộ Hoàng Ngọc Đảm và cất tiếng khóc ồ ồ thảm thiết khiến những người có mặt không khỏi bùi ngùi.

Chao ôi nếu như không có động thái xiết cò khẩu AR15  máy móc bản năng và vô thức ấy của người lính Thủy quân lục chiến Homer bắn vào anh chiến sĩ y tá trong đội phẫu thuật tỉnh đội Gia Lai (trong cuốn nhật ký mà Homer giữ hàng chục năm nay, bây giờ những người thân của anh Đảm mới được coi những tấm hình anh vẽ về bộ phận cơ thể người.

Y tá Hoàng Ngọc Đảm, theo như trung tá Nguyễn Thị Tiến kể lại khi Tiến được tiếp xúc với cuốn nhật ký đó, thì những hình vẽ của anh Đảm rất đẹp, cứ như là chuyên nghiệp.

Nếu không mệnh hệ gì, lành lặn trở về, thì biết đâu bây giờ anh Đảm đã là một họa sĩ tên tuổi)  vào mùa xuân năm 1969 thì làm gì hôm nay bao người đã phải nhọc nhằn? Mà đâu chỉ riêng cuộc đi này, hành trình của dân tộc mình trong lộ trình nâng niu trân trọng quá khứ, trả lại tên cho các liệt sỹ vô danh sẽ còn vô khối những chặng như cuộc đi như thế này nữa…

Phần mộ của liệt sỹ Hoàng Ngọc Đảm đã được cất bốc để đưa về quê anh ở xã Thái Giang, Thái Thụy, Thái Bình. Đó là ngày 24/5/2008. Sinh ngày 1/4/1944 (nhờ trí nhớ của Homer mà gia đình anh Đảm từ nay cúng đúng giỗ theo lịch âm tức ngày Mồng Một tháng hai Âm lịch) đã 39 năm anh Đảm nằm lại đất Kon Tum.

Homer kém anh Đảm 2 tuổi. Một thuở một thời khác chiến tuyến. Nhưng hôm nay, cùng một lứa bên trời lận đận? Người nằm trong chiếc tiểu sành kia với kẻ lênh khênh, đầu tóc xác xơ, bờm xờm, toã tượi từng đã dằn vặt sám hối bao năm đến nỗi vướng phải thể trạng tâm thần nhẹ, chẳng biết ai thanh thản hơn ai?

Tiến kể lại rằng (chắc cũng trùng với những thước phim của Minh Chuyên cũng có những đoạn những “xen” tương tự)  trời hôm đó nắng nóng khác thường cựu binh thủy quân lục chiến Homer mồ hôi ướt sũng quần áo, cũng dáng thiểu não toã tượi như thế đã đứng vái lạy trước di cốt cũng như tự nguyện đứng hàng đầu để khênh chiếc tiểu sành đựng hài cốt anh Hoàng Ngọc Đảm trong lễ truy điệu. Chỉ có tiếng khóc tiếc thương đủ mọi cung bậc của người thân. Nhưng tuyệt nhiên không một lời oán thán này khác.

Homer và người cháu gái lẫn GS Wayne đều không biết tiếng Việt nhưng họ hiểu thứ ngôn ngữ ấy, thông điệp ấy qua cái nhìn, ánh mắt của những người thân anh Đảm và những người dự lễ truy điệu cũng như  khi đưa anh Đảm vào lòng đất Mẹ ở nghĩa trang liệt sỹ xã nhà Thái Giang, Thái Thụy, Thái Bình!

Chặng đưa hài cốt anh Đảm ra Bắc đến thành phố Vinh thì trung tá Nguyễn Thị Tiến mới nhập cuộc được. Trận cảm bất ngờ chưa dứt nhưng Tiến đã quyết nhập chặng hành trình từ Vinh đưa tiếp anh Đảm về Thái Bình. Và Tiến cũng đã kịp bày biện ra một bất ngờ khác.

Xin bạn đọc trở lại những thứ mà Homer móc trong túi LS Hoàng Ngọc Đảm và cất giữ mấy chục năm nay, ngoài cuốn nhật ký của anh Đảm còn có một tấm bằng lái xe loại trung xa  mang tên Nguyễn Văn Hai cấp ngày 28/7/1964 do trung tá Nguyễn Văn Đôn, Cục Quản Lý Xe máy, Tổng Cục Kỹ thuật ký.

Mãi trong chuyến đi Mỹ vừa rồi, khi nghe GS Wayne kể lại, Tiến giật mình bởi cô thường xuyên nhận được những tin nhắn về kỷ vật liệt sỹ, cuối tháng 12 năm ngoái cũng có tin đến cô cái bằng lái xe nào đó của Nguyễn Văn Hai. Vừa về nước, cô phát tiếp tin nhắn tìm trên một số phương tiện thông tin đại chúng.

Liệt sĩ chưa rõ tên
Liệt sĩ chưa rõ tên

Một ngày cũng mới đây thôi, có một ông lão gầy gò tìm đến nhà Tiến và xưng là… Nguyễn Văn Hai! Sau khi kiểm tra kỹ càng CMT và nghe ông lão tên Hai kể chuyện, Tiến vui mừng nhận ra ông Nguyễn Văn Hai may mắn còn sống sót và ông chính là chủ nhân của cái bằng lái xe nọ.

Quê ông lại cách thành phố Vinh cũng chả xa mấy. Đó là xã Công Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Để đợi đoàn rước mộ anh Đảm, ông Hai đã ở hai ngày trong nhà gia đình Tiến để đợi Homer.

Nhân chuyến đi của Homer và gia đình anh Hoàng Ngọc Đảm vào Kon Tum đưa mộ liệt sỹ Đảm về Thái Bình, Tiến đã liên lạc gấp với ông Nguyễn Văn Hai về Vinh để gặp lại người từng giữ chiếc bằng lái xe của ông mấy chục năm trời.

Và trước khi đưa anh Hoàng Ngọc Đảm về lại Thái Bình, tại thành phố Vinh đã có một cuộc kỳ ngộ thú vị giữa cựu chiến binh Nguyễn Văn Hai và cựu binh thủy quân lục chiến Homer cùng các thành viên trong đoàn.

Còn tại sao cái bằng lái xe trung xa của ông Nguyễn Văn Hai lại ở trong túi của anh y tá Hoàng Ngọc Đảm rồi lọt vào tay Homer là cả một câu chuyện dài xin khất bạn đọc vào một dịp khác.

Người viết xin được khép lại ghi chép nhiều kỳ “Lại kể tiếp chuyện đi Mỹ” này bằng dòng tin nhắn theo yêu cầu của trung tá Nguyễn Thị Tiến.

Ông Phạm Thanh Siếu bây giờ đang ở đâu? Ai là thân nhân của Phạm Thanh Siếu? Thông tin cụ thể hơn xin gặp gia đình ông Hoàng Đình Lượng (em trai liệt sĩ Hoàng Ngọc Đảm) xã Thái Giang, Thái Thụy, Thái Bình. Hiện nay cuốn sổ tay của ông Phạm Thanh Siếu, ông Lượng vẫn chịu trách nhiệm bảo quản tại nhà riêng.

(Trong những kỷ vật mà Homer trao lại ngoài cuốn nhật ký của anh Đảm, bằng lái xe của ông Hai còn có một cuốn sổ cá nhân mang tên Phạm Thanh Siếu. Nhưng tiếc rằng, có thể vì lý do để giữ bí mật chăng mà anh Phạm Thanh Siếu đã không ghi tên địa chỉ quê quán, đơn vị trong cuốn sổ?)

Tháng 7 năm 2008
X.B

.

Người tìm về những linh hồn đồng đội

.

Nguoi tim ve nhung linh hon dong doi
Trung tá Nguyễn Thị Tiến – Phó Giám đốc Bảo tàng Quân khu IV. Ảnh: Trọng Hiếu

Chiến tranh đã lùi xa, trong số hàng triệu người con ngã xuống vì độc lập tự do của dân tộc còn hàng vạn người phải nằm lại nơi lưng đèo, cuối dốc. Ngày trở về quê hương, hành trang của họ thật đơn giản, chị Tiến đã lưu lại những di vật tưởng chừng như vô tri vô giác chôn cùng những liệt sĩ để rồi âm thầm xác minh danh tính.

Đi tìm những “khoảng không nhức nhối”

Thành Vinh một chiều mưa rả rích, buồn đến nao lòng. Trung tá Nguyễn Thị Tiến (Phó Giám đốc Bảo tàng Quân khu IV) cứ tẩn mẩn cầm từng di vật của liệt sĩ là chiếc bút, chiếc kính gãy gọng, chiếc khăn tay khẽ khàng nói với tôi: “Rồi thời gian vụt qua đi, những di vật này ngày lại lặng im nằm đó, cũng như biết bao di vật đang âm thầm cô đơn nơi hoang vắng. Để rồi bao nấm mộ mãi mãi bị đè nặng bởi tấm bia đá lạnh lùng trong tên gọi: Vô danh!”. Tôi thấy đôi mắt chị long lanh một cách lạ kỳ, chứa trong đó bao tình cảm về những đồng đội…

Nhìn những di vật được xếp trang trọng trong bảo tàng, mấy ai cầm được nước mắt. Hòn đá núi khắc tên, hòn đá cuội khắc tên, mảnh cây khắc tên, cây bút khắc tên và đương nhiên cả tấm bia nữa… đó là những hàng chữ, những cái tên ấm áp nhưng cũng lạnh lùng một cách tàn nhẫn: Đ-H-Lượng; Trần Văn Lợi; Nguyễn Văn Sông… Nhưng họ quê ở đâu? thuộc đơn vị nào? Không ai biết. Thấy những cái tên, ai cũng thèm khát, nhưng ai dám chắc đó là con, em mình. Tấm bia, cái tên kia bỗng trở thành khoảng không nhức nhối.

Chị Tiến nghẹn ngào: “Tôi còn nợ liệt sĩ Bùi Ngọc Thuần một lời hứa trước khi chuyển hòn đá có khắc tên anh về bảo tàng. Một dòng tên khắc vào hòn đá núi: TK.B4. Bùi Ngọc Thuần. 12/12/66, phần mộ của anh đã được đưa về nghĩa trang đường 9, mộ số 300. Nhưng quê anh ở đâu? Ai là thân nhân? TK.B4 là đơn vị nào? Bốn năm rồi tôi hỏi khắp nơi mà chưa thấy có hồi âm”. Chị bảo: “Tôi ước chi tìm được mẹ cho anh để đưa anh về với mẹ”.

Những cuộc hành trình đầy nghĩa tình

Chuyến đi tìm di vật đầu tiên của chị là ngày 13/1/2000, khi ấy, nhận được tin đoàn quy tập Bộ chỉ huy Quân sự Quảng Bình chuyển hài cốt quân tình nguyện Việt Nam từ Khăm Muộn (Lào) về nghĩa trang Ba Dốc. Chị lập tức xin nghỉ bắt xe theo.

Chị cho tôi xem tấm ảnh được thấy trong hài cốt chỉ có tên là Hương, đó là một chiếc gương soi cỡ 5×8, mặt sau gương là một tấm kính cả hai ép vào nhau, ở giữa có một chiếc ảnh đen trắng cỡ 3×4 chụp một bà mẹ già khoảng 50 tuổi, đầu chít khăn vấn tròn. Không nhìn rõ mặt vì vết máu khô loang lổ.

Chị Tiến nhớ lại: Khi thấy tấm ảnh trong hài cốt, tất cả đều đoán người trong ảnh là mẹ liệt sĩ. Biết tôi có ý muốn giữ lại, một anh lính trẻ thủ thỉ: “Cô ơi, hành trang của anh ấy chỉ có thế thôi. Mẹ đã theo anh khắp chiến trường thì cứ để mẹ nằm với anh trong mộ, cô đừng lấy đi kẻo tôi anh ấy lắm!. Tôi phải thuyết phục mãi, rằng biết đâu tấm ảnh này sẽ đưa anh về với mẹ”.

Sau khi tấm ảnh được đăng trên một số báo thì phải đến 10 tháng sau, nhận được tin của người nhà liệt sĩ Hương rằng mẹ Diệp, người trong ảnh là mẫu thân liệt sĩ Hương (về sau xác định là Bùi Danh Hương) vẫn còn sống tại xã Thanh Long, Hưng Yên.

Chuyến đưa hài cốt liệt sĩ Hương về với mẹ là một kỷ niệm suốt đời tôi không bao giờ quên. Mẹ Diệp đã 94 tuổi, tai điếc nhưng linh cảm về đứa con trai bé bỏng thì còn vẫn còn nguyên. Mẹ cứ ôm bức ảnh của mình lấm lem cùng máu khô của con trai mà khắc khoải: “Nó đâu rồi, nó đâu rồi!” Khiến mọi người trong đoàn không ai cầm được nước mắt.

Ảnh minh họa


Chị Tiến với di vật của các liệt sỹ. ảnh Trọng Hiếu

Chị Tiến nói như lạc giọng: “Có những lần tìm được nhiều mộ quá. Tôi hoang mang đi trên mảnh đất quê mình mà thấy đau… Tôi không dám bước mạnh chân, còn biết bao đồng đội đang nằm cô lạnh trong lòng đất”.

Tôi không muốn ly kỳ hoá công việc tìm kiếm hài cốt, trả lại tên cho các liệt sĩ nhưng trong quá trình đi tìm của chị cũng có những sự ngẫu nhiên đến lạ lùng. Đôi mắt chị chợt xa xăm. Và dường như bên cạnh chị còn có chính các… liệt sĩ.

Chị kể: “Từ ngày 14/1 đến 26/1/2000 tôi phải đi sáu tỉnh, sang cả nước bạn Lào để theo từng đội quy tập đưa hài cốt liệt sĩ về. Khi trở về nhà trời đã gần sáng, tôi lăn ra ngủ để chuẩn bị đi tiếp vào Hà Tĩnh đón đoàn qui tập từ BuLiKhămXây (Lào) về. Định bụng chợp mắt một lúc cho lại sức nhưng quá mệt nên thiếp đi. Chính trong lúc thiếp đi đó, tôi thấy một anh bộ đội về trong giấc mơ, anh bảo “này O, O mà ngủ bây giờ là ốm đấy. O vào đón em về đi. Lần này nhiều di vật lắm”. Tôi giật mình tỉnh giấc và nhớ rằng còn phải đi Hà Tĩnh, thế là lại lên đường. Và trong 42 bộ hài cốt lần đó, tôi tìm được một lọ đựng mảnh giấy đã mờ, sau khi dùng kính lúp thì luận ra được tên anh: Trương Xuân Đình, E271, quê ở Bản Ngọc, Quỳ Hợp, Nghệ An. Tôi tin đó chính là anh bộ đội đã gặp trong giấc chiêm bao”.

Chị bảo, đến giờ chị vẫn nhớ như in khuôn mặt của anh bộ đội với chiếc răng khểnh trông rất duyên đó, chị ước giá mà đến được quê anh, có được tấm hình để xem có giống người trong mơ hay không.

Về sau này, bà giám đốc bỗng trở thành khách mời thường xuyên của chương trình “Người đương thời”. Tranh thủ những cơ hội “hiếm có” như vậy chị đưa lên những di vật mà mình đã sưu tầm. Và không ít trong số đó đã có người thân đến nhận.

Chị bảo: “Mệt lắm, nhưng cứ chứng kiến có bà con ở tận vùng cao, mãi 30 năm mới gom góp đủ tiền đi tìm mộ con, mà vẫn không thấy. Nhìn ông bố, bà mẹ, người vợ vẫn đỏ mắt trông chờ tin con mà se sắt lòng…”. Chị nổi tiếng đến nỗi 1080 của Hà Nội đã hỏi số điện thoại của chị để cung cấp cho thân nhân liệt sĩ.

Giọng chị chợt buồn: “Vậy mà cũng có người phao tin là thân nhân liệt sĩ trả tiền cho tôi nhiều, “trúng” lắm. Tôi buồn quá”. Thôi thì thiên hạ cũng lắm kẻ này, người nọ, họ bàn ra tán vào thế nào là tuỳ, mình làm việc tâm đức hơi đâu mà để ý. Tôi chắc là anh cũng nghĩ thế!”

****

Chiều, tôi vẫn lang thang giữa dòng bia mộ trắng xoá, khói hương bảng lảng, gió chiều vi vu. Chợt nhận ra còn quá nhiều nấm mồ không có tên. Lại vu vơ một niềm hy vọng, bởi trong vô vàn số không tên đó thể nào cũng có người được về với người thân bởi công việc thầm lặng của chị Tiến.

Người đi tìm tên đồng đội

Trung tá Nguyễn Thị Tiến – sinh năm 1955 trên mảnh đất nắng gió miền Trung (Nghi Lộc – Nghệ An). Tốt nghiệp Đại học Sư phạm Hà Nội, chị về giảng dạy tại Cao đẳng Sư phạm Đà Lạt, Đồng Tháp. Năm 1984, chị chuyển về làm cán bộ thuyết minh của Bảo tàng Quân khu IV.

Đồng cảm trước nỗi đau của thân nhân những liệt sĩ chưa tìm được hài cốt của con em mình, chị Tiến xin phép cơ quan đi theo các đội quy tập hài cốt liệt sĩ, sưu tập những di vật, vừa để giáo dục truyền thống, vừa hy vọng qua các di vật còn lại của liệt sĩ có thể tìm lại tên tuổi, quê hương của họ. Chị lặn lội khắp các chiến trường xưa. Mỗi lần như vậy, tranh thủ lúc anh em trong đội nghỉ giải lao, chị lụi cụi thắp hương, lần tìm và xin cất giữ các di vật, để đem về xác minh.

Chị đã tìm thấy hàng trăm di vật, từ cái cối giã trầu bằng vỏ đạn, chiếc lược nhôm, cặp tóc, vòng tay đến những tấm ảnh, bút mực Hồng Hà… Những di vật, những linh hồn tưởng như đã vĩnh viễn chôn chặt dưới lòng đất cùng phần mộ liệt sĩ vô danh, nay được chị Tiến nâng niu, cất giữ. Đối với chị, mỗi di vật là một câu chuyện cảm động, một nỗi đau riêng. Tất cả được chị tập trung nghiên cứu trong đề tài khoa học mang tên “Góp phần xác định liệt sĩ chưa biết tên và công tác bảo tồn trưng bày di vật”, được giải A cấp quân khu. Cho đến nay, chị đã góp phần trả lại tên cho hàng trăm liệt sĩ

.

Thứ Năm, 26/07/2007, 04:14 (GMT+7)

60 Năm ngày thương binh liệt sĩ

Những câu chuyện tìm lại tên anh

Trung tá Nguyễn Thị Tiến và những di vật tìm được từ mộ các liệt sĩ. Từ đây, chị tìm manh mối để đưa các anh về với gia đình – Ảnh: M.L.

TT – Đó là những câu chuyện về con tìm cha, em tìm anh, núm ruột tìm kiếm núm ruột. 32 năm sau cuộc chiến, những cuộc tìm kiếm vẫn chưa ngưng nghỉ. Làm việc ở Bảo tàng Quân khu 4, trung tá Nguyễn Thị Tiến chứng kiến những câu chuyện xúc động.

Nghe đọc nội dung toàn bài:

“…Con sẽ ôm ba mãi mãi”

Một buổi sáng, người thanh niên tên Trần Văn Sơn đến tìm trung tá Nguyễn Thị Tiến, phó giám đốc Bảo tàng Quân khu 4 (Vinh, Nghệ An). Đó là con trai liệt sĩ Trần Văn Bàn (thị trấn Sông Cầu, Phú Yên). Vừa đặt bó huệ lên đài tưởng niệm (phòng trưng bày di vật liệt sĩ), Sơn quì sụp, đập đầu rất mạnh xuống nền đá. Và khóc. Lần đầu tiên chị Tiến thấy một người con trai khóc như thế!

Cha Sơn tập kết ra Bắc và cưới mẹ. Ở với nhau được một năm thì cha vào Nam chiến đấu. Rồi hi sinh. Mẹ cũng về với cha khi Sơn mới một tuổi… Đứa con côi cút lớn lên với hình ảnh cha và mẹ qua lời kể của dì… Trái tim của người con khiến không thể giữ nổi đôi chân. Sơn quyết tâm đi tìm mộ cha. Khắp miền Nam, ở đâu có nghĩa trang liệt sĩ, ở đó có dấu chân Sơn. Bạn đồng hành của Sơn khắp nẻo đường gian nan là quyển sổ sinh hoạt Đảng đã ố vàng của cha – di vật duy nhất để lại.

Nhưng sổ ghi rất hạn chế. Gần thất vọng, chị Tiến lần giở trang cuối cùng, ở góc trên trang giấy bị nếp gấp, vuốt ra cho thẳng thì nhìn thấy ba chữ số viết bằng mực màu xanh lá cây: 812. Đó có thể là trung đoàn 812 của sư đoàn 324 thuộc Quân khu 4. Nếu đúng như thế thì có thể tìm ra manh mối rồi!

Sơn xúc động: “Nếu chuyến đi này con tìm được ba, con sẽ cởi chiếc áo đang mặc, đang có mùi mồ hôi của con, trải rộng ra, con xếp xương cốt ba vào, lấy hai cánh tay áo quàng ôm chặt ba con lại, coi như con ôm ba mãi mãi…”. Chứng kiến cảnh đó, vị nữ trung tá xúc động.

Chị liên lạc ngay với thiếu tướng Nguyễn Minh Long ở TP.HCM (nguyên trung đoàn trưởng trung đoàn 812). Biết ông đang thăm đồng đội tại Hà Nội, kế hoạch đi Hà Nội được vạch ra ngay.

Trong đêm đó, khi Sơn đang trên tàu thì ở Hà Nội, các cựu chiến binh trung đoàn 812 đã gọi nhau đến. Họ lần về quá khứ, hồi tưởng những trận đánh, bàn bạc để khoanh vùng khu vực hi sinh của liệt sĩ Trần Văn Bàn. Những thông tin được khớp nối… chắp ghép… Cuối cùng, một địa danh được khẳng định: huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị!

3g sáng. Tàu đến Hà Nội. Nhưng Sơn không dám đánh thức chủ nhà. Sớm mai. Vừa mở cửa, ông Long đã thấy một thanh niên đang bó gối, thiếp đi. Khuôn mặt nó sao mà giống Bàn quá! Người tướng già ôm lấy đứa con của đồng đội. Một già một trẻ nhìn nhau nghẹn ngào… Chỉ còn những giọt nước mắt.

Sơn lập tức trở vào Quảng Trị. Hơn 15 năm ròng rã, người con có tấm lòng hiếm có ấy mới tìm được cha, dù chỉ là hình hài trong nấm mộ…

“Hay là cho tôi một nửa…”

Trung tá Nguyễn Thị Tiến là người bảo vệ thành công đề tài khoa học “Xác minh lý lịch liệt sĩ chưa biết tên qua di vật nằm cùng phần mộ”. Bằng phương pháp đối chiếu, so sánh tổng hợp, điều tra, xác minh, tìm nhân chứng, giải mã ký hiệu đơn vị, thời gian hoạt động, địa bàn và thông qua hệ thống thông tin đại chúng (có trường hợp phải sử dụng công nghệ giám định gen), lý lịch của hơn 100 liệt sĩ chưa biết tên, quê quán có di vật nằm cùng đã được xác minh.

Chị Tiến bảo trường hợp một hài cốt liệt sĩ nhưng có nhiều thân nhân đến nhận không phải ít. Nhưng câu chuyện về liệt sĩ Ngô Khổng Minh (hi sinh tại bản Bua La Pha, Khăm Muộn, Lào) là một kỷ niệm đầy xúc cảm. Mấu chốt của câu chuyện bắt nguồn từ chữ viết trên di vật liệt sĩ là Hzo.K Muhx, viết theo phiên âm tiếng Nga, dịch ra tiếng Việt là Ngô K.Minh.

Khi mới công bố, một cựu chiến binh tên Ngô Văn Thưởng (Diễn Hoa, Diễn Châu, Nghệ An) đến xin nhận. Ông là cháu ruột của liệt sĩ Ngô Khắc Minh. Nhưng ông Thưởng chỉ giữ được có mỗi chiếc Huân chương chống Mỹ nên không có căn cứ để tìm đơn vị. Cùng lúc đó, một gia đình ở Thanh Chương (Nghệ An) tìm liệt sĩ Ngô Khổng Minh. Họ có đầy đủ giấy tờ liên quan. Nhất là giấy báo tử có tên đơn vị: sư đoàn 968. Chị Tiến vào ngay sư đoàn 968 (Quảng Trị) để xác minh. Đúng là có liệt sĩ Ngô Khổng Minh, hi sinh tại bản Bua La Pha!

Vậy là bí mật của chữ K. đã được giải mã.

Trong lúc mọi người chưa biết xử lý như thế nào thì ông Thưởng quệt nước mắt, miệng méo xệch, muốn nói mà môi cứ dính lại. Mãi ông mới thổn thức từng tiếng một: “Hay là các ông các bà cho tôi một nửa…”. Người lính già nấc nghẹn, hai tay ôm lấy mặt. Ông nơm nớp sợ nghe một lời từ chối. Trái tim ông sẽ vỡ vụn mất thôi!

Không ai cầm lòng được trước lời đề nghị quá đột ngột, bất ngờ này. “Tim tôi bị bóp nghẹt! Tôi khóc như một đứa trẻ có lỗi. Trời ơi, giá mà tôi tìm thấy cả hai liệt sĩ… Tôi hiểu ông Thưởng muốn xin một nửa, không phải là chia một nửa hài cốt mang về quê hương. Mà ông muốn trên bia mộ chỉ khắc chữ “Liệt sĩ Ngô K.Minh”. Để đến ngày giỗ liệt sĩ Ngô Khắc Minh thì ông ra mộ này thắp hương. Đến ngày giỗ liệt sĩ Ngô Khổng Minh thì gia đình ở Thanh Chương ra mộ này thăm viếng”, chị Tiến kể lại trong xúc động.

Gia đình liệt sĩ Ngô Khổng Minh hội ý. Và bất ngờ, cứ ngỡ là giấc mơ: họ đồng ý với đề nghị của ông Thưởng.

Từ đó, ngôi mộ ở nghĩa trang Ba Dốc (Quảng Bình) vẫn để nguyên chữ khắc trên bia: Ngô K.Minh.

MY LĂNG

Daily English Discussion–Thursday, 7/16/09–Amo Ergo Sum

englishchallenge

Hi everyone,

Today brother Hiển translated a beautiful poem by Kathleen Raine, Amo Ergo Sum–I love, therefore I exist. I love this title, and I love Descartes’ famous quote “Cogito ergo sum”–I think, therefore I exist.

What do you say about “Amo Ergo Sum”?

Have a great day!

Hoanh

.

Amo Ergo Sum

Because I love
The sun pours out its rays of living gold
Pours out its gold and silver on the sea.

Because I love
The earth upon her astral spindle winds
Her ecstasy-producing dance.

Because I love
Clouds travel on the winds through wide skies,
Skies wide and beautiful, blue and deep.

Because I love
Wind blows white sails,
The wind blows over flowers, the sweet wind blows.

Because I love
The ferns grow green, and green the grass, and green
The transparent sunlit trees.

Because I love
Larks rise up from the grass
And all the leaves are full of singing birds.

Because I love
The summer air quivers with a thousand wings,
Myriads of jewelled eyes burn in the light.

Because I love
The iridescent shells upon the sand
Takes forms as fine and intricate as thought.

Because I love
There is an invisible way across the sky,
Birds travel by that way, the sun and moon
And all the stars travel that path by night.

Because I love
There is a river flowing all night long.

Because I love
All night the river flows into my sleep,
Ten thousand living things are sleeping in my arms,
And sleeping wake, and flowing are at rest.

— Kathleen Raine (1908-2003)