I am an attorney in the Washington DC area, with a Doctor of Law in the US, attended the master program at the National School of Administration of Việt Nam, and graduated from Sài Gòn University Law School. I aso studied philosophy at the School of Letters in Sài Gòn.
.
I have worked as an anti-trust attorney for Federal Trade Commission and a litigator for a fortune-100 telecom company in Washington DC.
I have taught law courses for legal professionals in Việt Nam and still counsel VN government agencies on legal matters.
I have founded and managed businesses for me and my family, both law and non-law.
I have published many articles on national newspapers and radio stations in Việt Nam.
In 1989 I was one of the founding members of US-VN Trade Council, working to re-establish US-VN relationship.
Since the early 90's, I have established and managed VNFORUM and VNBIZ forum on VN-related matters; these forums are the subject of a PhD thesis by Dr. Caroline Valverde at UC-Berkeley and her book Transnationalizing Viet Nam.
I translate poetry and my translation of "A Request at Đồng Lộc Cemetery" is now engraved on a stone memorial at Đồng Lộc National Shrine in VN.
I study and teach the Bible and Buddhism. In 2009 I founded and still manage dotchuoinon.com on positive thinking and two other blogs on Buddhism.
In 2015 a group of friends and I founded website CVD - Conversations on Vietnam Development (cvdvn.net).
I study the art of leadership with many friends who are religious, business and government leaders from many countries.
I have written these books, published by Phu Nu Publishing House in Hanoi:
"Positive Thinking to Change Your Life", in Vietnamese (TƯ DUY TÍCH CỰC Thay Đổi Cuộc Sống) (Oct. 2011)
"10 Core Values for Success" (10 Giá trị cốt lõi của thành công) (Dec. 2013)
"Live a Life Worth Living" (Sống Một Cuộc Đời Đáng Sống) (Oct. 2023)
I practice Jiu Jitsu and Tai Chi for health, and play guitar as a hobby, usually accompanying my wife Trần Lê Túy Phượng, aka singer Linh Phượng.
Nếu đọc về các kỹ năng sống, kỹ năng làm cho mình vui vẻ hạnh phúc, kỹ năng đắc nhân tâm, kỹ năng tăng hiệu năng công việc, kỹ năng ngoại giao, rồi đến các kỹ năng làm việc quản ly’ dự án, quản lý nhân viên, … thì có lẽ chúng ta sẽ ngợp thở hầu như có quá nhiều điều để học, và hầu như không nhớ hết để học. Đó là chưa kể mỗi thầy nói một đường. Rốt cuộc học trò như lạc vào mê hồn trận, không biết đường nào mà mò.
Cuộc sống như thế là quá khó khăn và phức tạp. Phải có cách nào giản dị hóa cuộc đời. Hơn nữa, học cả một đám rừng như thế thì cơ hội đi lạc cao hơn là cơ hội hiểu biết. Nguyên cả một rừng nhạc thì cũng chỉ 7 nốt chính, cộng 5 nốt thăng giáng, là 12 nốt. Người học nhạc là học 12 nốt rồi tự biến hóa chúng thành nhạc, chứ không ai phải học cả rừng nhạc của nhân loại. Học vẽ cũng thế, tổng cộng là 3 mầu chính, vàng xanh đỏ và 2 màu trắng đen, vài quy luật về quân bằng, và bối cảnh, vậy thôi. Từ đó mà biến hóa ra hình ảnh gì là do sức sáng tạo của người nghệ sĩ.
Khi chúng ta học chỉ một vài điều căn bản, rồi từ đó tập biến hóa, đó là học đúng đường. Khi chúng ta phải học hàng trăm công thức ứng xử cho cả hàng chục trường hợp khác nhau, là chúng ta đã bắt đầu học như vẹt. Học vẹt thì không thể hiểu được, và có áp dụng thì cũng không thể áp dụng nó như hạng thầy.
Thế thì, về cuộc sống, đâu là vài nguyên lý, từ đó chúng ta có thể biến hóa sáng tạo?
Tất cả những điều quan trọng nhất cho đời sống đều được dạy ở cấp tiểu học và ta đã học hết hồi tiểu học. Ví dụ: Toán thì cộng trừ nhân chia, phân số, căn bản hình học, căn bản toán đố. Bao nhiêu đó là đủ sống cả đời cho 98 phần trăm dân số, kể cả luật sư, nhà văn, nhà báo… Chỉ hai phần trăm còn lại có nghề chuyên môn đòi hỏi biết nhiều hơn thế. Viết văn cũng thế, học xong tiểu học là biết viết đúng chính tả, viết câu rõ ràng, làm luận có 3 phần một bài. Cao hơn thì cũng chỉ như thế mà thành thạo hơn mà thôi.
Căn bản kỹ năng sống ta cũng đã học hết thời tiểu học: Khiêm tốn, lễ độ, biết ơn, yêu người nghèo khổ, đoàn kết, đùm bọc lẫn nhau, thờ cha kính mẹ, yêu anh em, yêu bạn bè, thành thật, không trộm cắp gian tham, không giết người, không hút sách … Có cần gì để học thêm nữa? Ta tìm đọc hết sách này đến sách kia, chẳng qua là vì ta không chịu thuần thục các căn bản này, rồi cứ nghĩ là mình cần thêm.
Và nếu nghiên cứu kỹ hơn một tí, tất cả các nguyên ly’ căn bản tiểu học kể trên lại có thể thu vào một nguyên ly’ duy nhất—khiêm tốn. Nếu ta khiêm tốn thực sự, khiêm tốn sẽ đẻ ra mọi đức hạnh và kỹ năng khác.
* Nếu bạn khiêm tốn, bạn vào bất cứ nơi nào trên thế giới và chào hỏi bất cứ cách nào người ta cũng thương bạn, dù là bạn chào không đúng kiểu của dân vùng đó, và cách chào của bạn có thể làm người ta buồn cười. Nhưng người ta có thể thấy được bạn là người khiêm tốn dịu dàng, vì người thực sự khiêm tốn ai gặp cũng biết. Bạn không cần học đù kiểu bắt tay và chào hỏi, bạn vẫn thành công trong ngoại giao. Và nếu bạn học thêm đủ cách bắt tay và chào hỏi, thì bạn sẽ biến chúng thành kỹ năng tự nhiên thành thục của riêng bạn, mà không cần phải tốn công nhiều.
* Nếu bạn khiêm tốn, đương nhiên là bạn biết lắng nghe.
* Nếu bạn khiêm tốn, đương nhiên là bạn biết nhỏ nhẹ khi nói chuyện hoặc tranh luận.
* Nếu bạn khiêm tốn, đương nhiên là bạn chiến đấu tốt, vì bạn không khinh địch, và cũng không khinh thường giám khảo hay bồi thẩm đoàn.
* Nếu bạn khiêm tốn, đương nhiên là bạn phân tích giỏi và học giỏi, vì bạn sẽ không ngần ngại hỏi bất kỳ người nào, bất kỳ nơi nào, để học hỏi thêm bất kỳ điều gì mình chưa biết.
* Nếu bạn khiêm tốn, bạn sẽ rất giỏi, vì bạn luôn luôn biết được điều gì mình chưa biết, và không lừa thiên hạ và tự lừa mình là mình đã biết.
* Nếu bạn khiêm tốn, đương nhiên là bạn kính trọng suy nghĩ của người khác, cho nên bạn ít thành kiến và ít tranh cãi, và hòa giải tốt với mọi người.
* Nếu bạn khiêm tốn, đương nhiên bạn sẽ thành thật, vì chẳng có lý do nào để nói dối để làm tốt cho mình.
* Nếu bạn khiêm tốn, đương nhiên là bạn biết tri ân và biết cách tỏ lòng tri ân, và vì vậy là rất giỏi ngoại giao.
* Nếu bạn khiêm tốn, đương nhiên là bạn can đảm, vì chẳng sợ mất gì, từ danh tiếng, địa vị, đến quyền lợi.
* Nếu bạn khiêm tốn, đương nhiên là bạn lãnh đạo giỏi, vì mọi người dưới trướng đều yêu bạn, và bạn nghe được lời nói của tất cả mọi người để biến sự thông thái của tất cả mọi người thành thông thái của mình.
* Nếu bạn khiêm tốn, đương nhiên là ngọai giao giỏi, vì đi đâu ai cũng yêu.
* Nếu bạn khiêm tốn, thì bạn sẽ có ít stress và vui vẻ nhiều, vì chẳng có ai và điều gì có thể làm bạn bị đụng chạm căng thẳng.
Chúng ta có thể kể ra rất nhiều. Chỉ một tính “khiêm tốn” nếu ta thực sự thuần thục nó thì ta có đủ mọi đức tính và kỹ năng sống khác. Và khi học các kỹ năng khác, ta cũng tiếp thụ tự nhiên rất nhanh mà không lẫn lộn.
Cũng chính vì thế mà các trường phái tâm linh lớn của thế giới đều lấy khiêm tốn làm gốc—đó chính là “vô ngã” (không có cái tôi) của nhà Phật, hay “giao phó tất cả đời mình vào tay Thượng đế” (total submission) trong truyền thống Moses (Do thái giáo, Thiên chúa giáo, và Hồi giáo).
Đó cũng chính là ly’ do tại sao khi nói đến tư duy tích cực ở đây, chúng ta không muốn nói nhiều đến hàng trăm công thức, mà chỉ muốn nhấn mạnh vào một vài điểm—khiêm tốn, thành thật, yêu đời, yêu người, yêu mình.
Thực ra nếu ta khiêm tốn thực sự, đương nhiên ta sẽ đạt được những thứ còn lại: Thành thật, yêu mình, yêu người, yêu đời. Nhưng nếu bạn hơi lo lắng rằng chỉ có một điều thì quá ít, bạn có thể nhớ 5 kỹ năng căn bản này: “Khiêm tốn, thành thật, yêu mình, yêu người, yêu đời.” Các kỹ năng căn bản này sẽ đẻ ra tất cả các kỹ năng sống khác, ngoại trừ một vài kỹ năng về kỹ thuật nghề nghiệp, trong đời.
Năm 1995 mình và bà xã lên thăm Buôn Ma Thuột và đuợc chị Linh Nga Niêk Dam, lúc đó là đang dạy âm nhạc và làm việc tại đài phát thanh Buôn Ma Thuột, đưa đi chơi, ca hát với một nhóm bạn của chị. Và chị Linh Nga giới thiệu cho mình và Phượng nhạc Êđê và giọng ca Ymoan.
Phản ứng đầu tiên của mình với nhạc Êđê là sức mạnh và mức văn minh của nó. Dĩ nhiên là chị Linh Nga đã nói trước với mình, “Anh sẽ ngạc nhiên khi nghe nhạc Êđê. Như là nhạc rock.” Nghe xong một vài bản trong máy cassette của chị mình thấy quá hứng khởi. Mình nói với chị Linh Nga, “Nhạc này mà sang Mỹ trình diễn như nhạc rock tân thời, thì dân Mỹ phải mê.” Mình còn đề nghị với chị Linh Nga là viết lời tiếng Anh cho các ca sĩ Êđê hát, để xuất cảng văn hóa sang Mỹ. Nhạc Êđê mạnh và rất chỏi nhịp. Đó là đặc điểm của nhạc rock tân thời, khác với nhạc cổ điển vào nhịp rất đều đặn.
Chỉ qua âm nhạc là mình đã rất khâm phục các anh chị em Êđê. Âm nhạc như vậy thì sức sống rất mạnh. Mấy năm trước khi có tin UNESCO công nhận nhạc chiêng Tây Nguyên là di sản văn hóa thế giới mình rất vui. Nhạc chiêng của người Êđê rất sophisticated.
Giong ca của Ymoan là giọng ca của núi rừng hùng dũng hoang vu. Đó không phải là giọng ca cho phòng trà, cho dancing trong phòng. Đó là giọng ca với gió ngàn, mây trắng, đồi thấp núi cao, và mang núi đồi hoang dã vào quả tim con người. Nếu người ta vũ theo giọng ca Ymoan, thì nhất định đó phải là những vũ điệu của rừng núi, bên cạnh ánh lửa bập bùng, với nhịp vỗ của gồng chiêng.
Mình đang tính research để viết một bài giới thiệu về Ymoan thì thấy có bài trên VnExpress rất hay. Dùng bài đó giới thiêu thay vì viết một bài dở hơn. Có lẽ đa số các bạn trong nước đã biết rõ về Ymoan, nhưng các bạn nước ngoài có thể được thêm thông tin tốt từ bài báo này.
Sau đó mình mời các bạn xem 4 videos của Ymoan và một video phỏng vấn Ymoan và Nguyễn Cường, người nhạc sĩ viết nhạc Tây Nguyên.
Bài này dành riêng cho The Daklak Gang (chị Huệ et al). Và dành chung cho các bạn khắp thế giới chưa để ý văn hóa Êđê.
Chỉ khi Y Moan hát như… phát rồ, người ta mới thấy được trong lời hát ấy cái lồng lộng của đất trời Tây Nguyên, cái mưa dầm dề, cái nắng thiêu đốt cùng vẻ tươi xanh hào phóng của cao nguyên.
Y Moan và nhạc sĩ Nguyễn Cường trên cao nguyên M’drak 10 năm trước.
Trước Y Moan không có ai và sau Y Moan có lẽ khó tìm được một giọng hát như vậy. Nhưng Y Moan hát hay nhất là khi anh đi về các buôn làng.
Anh bảo chỉ ở làng, nhìn thấy đồng bào đứng chung quanh, lố nhố, bề bộn như thế hát mới “đã”, giọng mới tròn, to, vang hết mức. Dù đồng bào không có thói quen vỗ tay tán thưởng, khen ngợi mỗi khi Y Moan (hay bất cứ ca sĩ nào) hát xong, thế mà vẫn thấy ấm lòng.
Bà con chỉ nói: “Moan, hát đi”, thế là Y Moan hát. Mà khi Moan đã hát thì không biết đến khi nào ngừng; chỉ khi nào trưởng đoàn vì sợ “bể” chương trình, bảo “stop” Moan mới thôi. Vì thế người ta không còn lạ khi Y Moan hát một hơi 13 bài, gần như độc diễn (trong những kỳ đi diễn của Đoàn Ca múa nhạc dân tộc Đăk Lăk), hát đến độ máu miệng trào ra, nhổ bãi máu rồi hát tiếp.
Có chứng kiến Y Moan ôm đàn một mình lững thững giữa thảo nguyên M’drak cỏ xanh trải thảm ngút mắt trên đèo Phượng Hoàng – từ Khánh Hòa lên Đăk Lăk – miệng hát vang mới biết đó là lúc anh đang xuất thần.
Ở đó, giữa núi đồi nghe “một mình qua sông, qua núi đồi” (Chim phí bay về cội nguồn – tác giả Y Phôn Ksor) mà vẫn cứ thấy nhớ núi đồi.
Ở đó, nghe “ai yêu tự do thì lên núi nghe đàn” (Cây đàn Chapi – tác giả Trần Tiến) mới thấy đúng là một phát hiện! Giọng ca bị đóng đinh vào đại ngàn này đâu thể hát ở phòng trà, sân khấu giữa thị thành. Phải trả giọng hát ấy về với núi rừng, về với cao nguyên, với cái nắng, cái gió, cả cái nghèo…
15 năm trước cũng đã có lúc Y Moan định về “lập nghiệp” ca hát ở Sài Gòn. Về đôi ngày hát cho một số chương trình, các phòng trà nhưng rồi quá nhớ rừng, nhớ cái nắng cao nguyên lại nhảy xe về với Đăk Lăk.
Cho đến bây giờ, Y Moan vẫn cảm nhận mồn một nỗi nhớ cao nguyên tha thiết ấy khi lần đầu tiên trong đời rời quê nhà để được thấy đồng bằng, để thấy được sự bao la của biển, thấy được đất nước muôn màu, đa dạng…
Đó là chuyến xuống núi tham gia Hội diễn ca múa nhạc toàn quốc ở Quy Nhơn năm 1979. Rồi có nhiều lần làm “sứ giả văn hóa cao nguyên” trong những chuyến xuất ngoại sang diễn ở châu Âu, châu Mỹ, Australia, Nhật… nhưng chỉ càng cho anh thấy mình không thuộc về thế giới phồn hoa đô hội.
Và Moan quyết định gắn đời mình ở cao nguyên, với Đoàn Ca múa nhạc dân tộc Đăk Lăk, cho dù mỗi đêm đi hát (và hát bao nhiêu bài đi nữa) tiền bồi dưỡng chỉ 70.000 đồng.
Chỉ hát ở cao nguyên, Y Moan mới được gần gũi với “gái trai quê tôi, da nâu mắt sáng, vóc dáng hiền hòa” (Ơi M’drak – tác giả Nguyễn Cường).
Bây giờ ở tuổi 52 với 35 năm theo nghề ca hát, Y Moan vẫn là một “ca sĩ tỉnh lẻ” dù cả nước biết đến tên anh. Nơi anh ở là một cái gara vài chục mét vuông trong khuôn viên của Đoàn Ca múa nhạc dân tộc Đăk Lăk ở thành phố Buôn Ma Thuột. Hằng ngày đoàn di chuyển đến buôn làng nào cũng có Y Moan theo.
Có thể nói Y Moan là “linh hồn” của đoàn từ mấy chục năm. Vắng anh sức hấp dẫn của đoàn mất đi nhiều. Moan đi hát và vẫn đi làm rẫy. Rẫy cà phê 3 ha cách Buôn Ma Thuột chừng 45 km, ở huyện Cư M’gar, là thế giới kết nối một Y Moan nông dân với một Y Moan nghệ sĩ, Y Moan phóng khoáng với Y Moan sâu sắc, Y Moan của núi rừng với Y Moan của phố thị, Y Moan của công chúng với Y Moan của gia đình, và nó nuôi dưỡng tâm hồn của anh. Cuộc sống của gia đình anh 5 người phụ thuộc rẫy cà phê đó.
52 năm trước, có một đứa bé được sinh ra trên rẫy rồi được gói lại gùi về nhà. Về chuyện ca hát, Y Moan nhớ lại lúc còn nhỏ, lần đầu tiên xin đi theo ông Ama Nô đi hát “cho vui”.
Ama Nô là một chiến sĩ cách mạng, cũng là nhạc sĩ, người J’Rai ở Phú Bổn nhưng hoạt động ở chiến trường Đăk Lăk, người phụ trách đầu tiên của Đoàn văn công B3 của tỉnh Đăk Lăk trước năm 1975 – tiền thân của Đoàn Ca múa nhạc dân tộc Đăk Lăk ngày nay.
Anh vẫn nhớ lời mẹ cản ngăn, vì ca hát là nghề xa lạ với buôn làng; nhớ đôi dép cao su đầu tiên mà thầy Ama Nô cắt từ lốp xe cho anh bước vào con đường nghệ thuật (đi dép để ra hát trước đám đông); nhớ màu áo xanh bộ đội văn công được mặc; nhớ đi hát mà vẫn phải mang theo súng AK (vì sợ Fulro phục kích vào những năm đầu giải phóng); nhớ cục lương khô được phát sau mỗi lần hát; nhớ cả lúc đang học nửa chừng ở Nhạc viện Hà Nội phải quay về chỉ vì đoàn không có người… hát, rồi không bao giờ quay lại.
Âm nhạc đã dắt thằng bé chân trần của gió núi mây ngàn đi mãi cho đến ngày hôm nay, quên mất lời hứa với mẹ “đi thử với Ama Nô một thời gian rồi về thôi”.
Nhờ cuộc đi “hát thử” kéo dài cả đời người đó, hình ảnh và giọng hát Y Moan giờ đây đã lưu lại đâu đó trong các ca sĩ cao nguyên như Y Zắc (Đăk Lăk), Siu Black (Kontum), Y Yang Tuyn (Gia Lai), Cil Trinh (Bonner Trinh – Lâm Đồng), Karazan Dik, Krazan Blin (Lâm Đồng), cả Kasim Hoàng Vũ và Y Garia (đang học Cao đẳng Văn hóa nghệ thuật quân đội)…
Thật không quá lời khi nói rằng trong những tác phẩm viết về cao nguyên của nhạc sĩ Nguyễn Cường cũng có bóng dáng tiếng ca hoang dại của kẻ hát rong Y Moan, người không chỉ “truyền bá” âm nhạc Nguyễn Cường mà còn thổi vào đó cái hồn Tây Nguyên.
Trong căn nhà bề bộn nhạc cụ, sách, đĩa nhạc, huy chương, giấy khen, kể cả bằng chứng nhận nghệ sĩ ưu tú của Y Moan, có một đĩa nhạc được “sản xuất” rất không chuyên nghiệp, mang tựa Đứa con của núi rừng có in chân dung và tên Y Moan Ê Nuôl.
“Có phải album cá nhân đầu tiên của Y Moan?”. Anh chậm rãi trả lời: “Mình và thằng con trai Y Wol vừa mới làm xong (cha đàn hát, con hòa âm, phối khí). Chị Nguyễn Thị Minh Ngẫu, vợ của Y Moan, tên Êđê là Amí Wol, cho biết: “Phải làm gấp một cái để lưu lại vì căn bệnh lao phổi mãn tính đang đe dọa giọng hát anh ấy”.
Chị Minh Ngẫu nói bác sĩ Buôn Ma Thuột, TP HCM đều không cho đi hát nữa nhưng Y Moan cứ bước qua lời can ngăn, chỉ vì “Em ơi, không được hát anh chịu không nổi”.
Có một lá đơn Y Moan gửi đến Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Đăk Lăk, bày tỏ rằng những ca khúc đầy “linh hồn” Tây Nguyên của các nhạc sĩ đã mất hay đang sống: Ama Nô, Ama Nui, Rơ Chăm Dơn, Y Sơn Nie, Kpa Ylang, Y Phôn Ksor, Y Kô, Linh Nga Nie Kdam…, những di sản âm nhạc hiện đại của người Tây Nguyên cần được ghi âm, và anh sẽ tình nguyện hát không cần “nhuận ca”. “Nếu không ai làm thì mình tình nguyện, chỉ cần đầu tư cho việc ghi âm, in sang vào đĩa CD hoặc VCD, DVD”.
Trong không gian lặng im như cánh rừng buổi chiều về, bất chợt Y Moan với lấy cây đàn dựng bên góc nhà, rồi những âm thanh quen thuộc vang lên: “Tôi như con chim lạc bay trên đồi cao/ Tôi như con thú lang thang trong rừng sâu/ Tôi như giọt mưa khao khát lời”.
Cái con chim phí của đất trời Tây Nguyên, cái giọng hát đang bị bệnh tật đe dọa ấy lại vang lên say sưa, mê đắm…
(Theo Tuổi Trẻ)
.
Ơi Madrak (Nguyễn Cường)
.
Ơi M’drak – Ymoan (Nguyễn Cường) (biểu diễn trên TV)
Archbishop Vincent Nichols said MySpace and Facebook led young people to seek “transient” friendships, with quantity becoming more important than quality.
He said society was losing some of its ability to build communities through inter-personal communication, as the result of excessive use of texts and e-mails rather than face-to-face meetings or telephone conversations.
He said skills such as reading a person’s mood and body language were in decline, and that exclusive use of electronic information had a “dehumanising” effect on community life.
“Chính sách mở cửa (open door policy)” hàm y’ chính sách lãnh đạo trong đó người lãnh đạo để cửa văn phòng của mình mở, để tất cả mọi nhân viên lớn bé đều có thể gặp mình bất kỳ lúc nào một cách dễ dàng. Dĩ nhiên, là trên thực tế lãnh đạo rất bận rộn, không phải lúc nào bước vào phòng là có thể nói chuyện ngay được. Nhưng hàm y’ của chính sách rất rõ: Anh gặp tôi lúc nào cũng được, cũng như là vào phòng bạn của anh thôi.
Đó là chính sách dựa trên căn bản tình bạn và bình đẳng. Chính sách này có cũng đã lâu nhưng chỉ thực sự phát triển mạnh khoảng hai thập niên nay, với sự bùng nổ của cuộc cách mạng thông tin. Email cho phép các đại công ty rút gọn sơ đồ tổ chức (organization chart) thực sự thành hai hàng: Hàng đầu là tổng giám đốc, hàng thứ hai là tất cả mọi người còn lại. Tổng giám đốc ngày nay có thể nói chuyện trực tiếp với toàn thể nhân viên qua emai mà không cần phải rải lời nói từ trên đỉnh kim tự tháp, xuống nhiều bậc cấp, trước khi xuống đến hàng nhân viên cuối cùng như khi xưa. Điều này làm gia tăng khả năng truyển thông và hiểu biết giữa mọi người trong công ty, và tránh hiểu lầm gây ra do truyền thông qua quá nhiều cấp trung gian.
Đây là chiều hướng phát triển kỹ năng lãnh đạo, quản ly’, và tổ chức, của thế giới, đã bắt đầu từ cuộc chiến dành độc lập và hiến pháp Mỹ 1776, rồi cách mạng dân quyền của Pháp năm 1789, trong đó y’ niệm bình đẳng và dân chủ là nền tảng triết lý sâu xa, và là kim chỉ nam cho tất cả các ly’ thuyết quản ly’—từ chính trị, đến kinh tế, thương mãi, phát triển công đồng– từ đó đến nay. Và với phát triển tin học, mà ta thể chưa mường tượng hết được, thì ta có thể tin rằng tiện nghi về truyền thông sẽ giúp thế giới khám phá thêm nhiều hình thức quản ly’ bình đẳng và dân chủ hơn cả những gì ta có thể thấy ngày nay.
Điều này đặt Việt Nam chúng ta trong một vị thế phải tự điều chỉnh rất khó khăn. Chúng ta có hai trở ngại rất căn bản trong thực hành y’ niệm bình đẳng.
1. Trên cơ cấu xã hội, chúng ta là một xã hội rất giai cấp trong tư tưởng: Ông versus thằng, quan v. dân, nhà nước v. dân, ông chủ v. cu li… Người Việt chúng ta khi nói đến các từ này là hiểu ngay ta muốn nói gì, Nhưng so với người Mỹ chẳng hạn, Mỹ không có cách để dịch “ông v. thằng”. Ta có thể dùng hai từ nào đó để dịch, ví dụ, Mister v. Boy, nhưng chẳng ai có thể hiểu được hai từ đó là gì cả, trừ phi ta tốn mấy phút giải thích lòng vòng cho thiên hạ hiểu ta muốn ám chỉ hai giai cấp được kính trọng và bị khinh rẻ trong xã hội Việt Nam, mà ở Mỹ thì hoàn toàn không có y’ niệm đó để hiểu.
Nhà nước v. dân cũng vậy. Dịch ra tiếng Anh là government v. citizens thì chẳng ai có thể nghĩ ra nó có hệ cấp như bố với con ở Việt Nam ta. Còn nếu nói “đảng ta v. ta” thì hệ cấp đó còn nhân thêm vài mươi lần. Các bạn cứ tự nhiên tìm từ để điền vào chỗ trống. Open door policy 🙂
2. Tuy nhiên đó vẫn là chuyện nhỏ, vì vấn đề cơ cấu xã hội còn có gốc rễ sâu xa từ trong văn hóa—cách xưng hô cùa người Việt. Trong ngôn ngữ Việt chẳng có từ nào thực sự thay thế trọn vẹn I và you trong tiếng Anh, je and tu/vous trong tiếng Pháp, và ngộ và lị trong tiếng Hoa cả.
* Cách xưng hô chính của người Việt là hệ cấp gia đình: chú cháu, cô cháu, em anh v.v… Thực sự đây là cách xưng hô rất hay và mình rất thích, vì làm cho người cả nước xưng hô với nhau như người cùng một nhà. Đúng là một mẹ trăm con, và tình thân của người cùng nòi giống thật là khắng khít.
Nhưng cũng cách xưng hô hệ cấp đó gây ra nhiều hệ cấp xã hội và khó khăn trong giao tiếp, nhất là trong các tranh luận chính trị kinh tế cần bình đẳng. Trước hết, người Việt khi mới quen chưa biết tuổi tác nhau, thường rất lọng cọng khó khăn khi nói chuyện. Kiểu nói trống không, không có chủ từ trong câu văn như, “À, sẽ đêm cái đó đên ngày mai” nghe rất tức cười.
Và trong các tranh luận, người nhỏ hơn, trong cách xưng hô truyền thống, không thể nào có tranh luận bình đẳng với người lớn tuổi hơn một tí, trừ phi anh chàng trẻ tuổi muốn mọi nguời gọi là “hỗn.”
Tất cả mọi sinh viên du học mình đã gặp (và mình chưa được hân hạnh gặp người ngoại lệ) đều nói với mình là các bạn thoải mái khi tranh luận bằng tiếng Anh hơn tiếng Việt, dĩ nhiên là vì I với you thì rất bình dẳng.
• Ngoài cách xưng hô gia đình, trong một số các ngành nghề, sự xưng hô được đặt ra để xây dựng một hệ cấp rất rõ ràng.
Ví dụ: Trong nhà thờ, người ta gọi linh mục là cha xưng con, kể cả khi vị linh mục dưới 30 tuổi và người “con” 65 tuổi. Điều này nghe không được. Ở các nước Âu Mỹ, từ “Father” coi như là một chức danh, khi nói chuyện thì người ta dùng I và you, chứ không như ở nước ta chỉ thuần túy cha/con, kể cả khi “cha” đáng tuổi con cháu của “con.” Đây là vấn đề lớn cho sự phát triển dân chủ trong giáo hội (và dĩ nhiên là trong quốc gia, vì giáo hội là một phần của quốc gia). Đó là chưa kể nó có vẻ không phù hợp với văn hóa Việt Nam—người nhỏ tuổi thì phải tự xưng là con/cháu và gọi người lớn tuổi hơn là cô/dì/chú/bác.
Trong các tôn giáo khác thì cũng thế, “thầy và con” tạo ra một hệ cấp xuyên tuổi tác và không bình đẳng, và không phù hợp văn hóa Việt.
(Trong học đường, thầy/cô và em thì được vì trong đa số trường hợp, thầy/cô lớn tuổi hơn các em rất nhiều).
* Thực sự là chúng ta khó có giải pháp cho vấn đề này, vì nó là văn hóa. Nhưng chúng ta cần phải quan tâm đến các vấn đề này vì hệ cấp là đương nhiên không bình đẳng, mà không bình đẳng là phản dân chủ, mà phản dân chủ là sẽ làm cho nước ta phát triển dân chủ chậm chạp và khó khăn.
Theo mình nghĩ chúng ta, nhất là những người ở “cấp” cao, cần xung phong tìm những cách xưng hô càng giảm hệ cấp càng tốt, để mang đến bình đẳng càng nhiều càng tốt trong cách giao tiếp của ta. Thực sự là nhiều người ở “cấp” cao chỉ muốn bảo vệ “cấp” như vậy, vì quyền lợi riêng của mình.
• Ngôn ngữ hệ cấp gia đình làm cho chúng ta đoàn kết, dù là đôi khi gặp lúng túng. Và thay đổi ngôn ngữ thì không phải dễ dàng, gần như là không thể. Vậy thì, trong quản ly’ chúng ta phải biết thông minh để mang văn hoá của mình vào quản ly’.
Trở lại, vấn đề quản ly’ với chính sách mở cửa. Ở Âu Mỹ, mở cửa là bình đẳng. Ở nước ta, chính sách mở cửa dĩ nhiên là đem thêm rất nhiều bình đẳng. Nhưng, đây là điểm quan trọng, dù là có mở cửa thì chúng ta vẫn còn hệ cấp trong cách xưng hô gia đình. Vậy thì hãy mang khái niệm gia đình đó vào quản ly’.
Nghĩa là, cấp trên phải tự động hiểu vấn đề của người cấp dưới, không cần phải đợi người ta bước vào phòng mình. Người Âu Mỹ hay nói, “Bạn phải cho tôi biết bạn muốn gì, nếu không tôi không biết.” Ở nước ta, người là chú, là cô, là anh, thì PHẢI biết cháu/em muốn gì mà không cần cháu/em phải nói. Nguời nhỏ rất ngại gặp người lớn để tranh luận hay đòi hỏi điều gì. Nghĩa là nhiệm vụ phải nhậy cảm, phải tự tìm hiểu, phải tự hỏi chuyện, nằm trong tay của cấp lãnh đạo. Không thể cứ mở cửa để đó rồi đợi nhân viên bước vào là xem như xong. Người lớn thì phải lo cho người nhỏ, mà không cần người nhỏ phải hỏi. Anh lo cho em mà không đợi em phải hỏi. Đây là đặc điềm của cư xử và xưng hô gia đình trong văn hóa Việt, khác với quản ly’ kiểu mỗi người phải tự tranh đấu cho quyền lợi của mình trong văn hóa Âu Mỹ.
Bình đẳng của người Việt, trong thực tế quản ly’, phải là bình đẳng kiểu này: “Anh và em bình đẳng như anh và em.”
Rất nhiều ly’ thuyết chính trị, kinh tế, thương mãi của Âu Mỹ rất hay. Nhưng khi muốn áp dụng vào xã hội ta, ta phải hiểu rõ đủ để làm một vài điều chỉnh chỗ này chỗ kia cho phù hợp.
Nhạc Flamenco của Tây Ban Nha có một sắc thái rất đặc biệt, từ âm thanh đến phong cách trình diễn. Nói đến Flamenco là nói đến guitar, hát và vũ. Nó có vẻ như là một loại nhạc để người ta đàn, hát và vũ quanh khóm lửa, như là nhạc của những người Gypsy lang thang.
Nhạc Flamenco, về melodie thường đi từ cao xuống thấp và xuống từ từ từng nốt một, la sol fa mi…, có âm hưởng nhac Ả Rập. Trên thực tế, vũ Flamenco có một phần nào múa bụng của người Ả Rập. Cách đánh đàn guitar cũng thoải mái hơn nhạc cổ điển, hòa âm giản dị, dùng vận tốc, và nhịp điệu rõ ràng để vũ.
Ngoài cây guitar, người ta dùng tay hay chân để tạo nhịp, hầu như chẳng cần nhạc cụ nào khác. Đây đúng là nhạc cho những cách đồng hay những đường phố.
Dưới đây chúng ta có một số video vũ Flamenco.
_ Video đầu tiên do Ramon Ruiz chơi guitar và Anita la Maltesa vũ. Cả hai dạy Flamenco ở Luân Đôn.
_ Video 2, Maria Pages trình diễn Fire Dance. Đây là vũ Flamenco, nhưng trình diễn trong chương trình Riverdance, là vũ đoàn Ireland nỗi tiếng. Và Fire Dance là tên Riverdance đặt cho màn vũ này, chứ không phải tên của một vũ điệu.
— Video 3, Joaquín Cortés, nam vũ công nỗi tiếng nhất của Tây Ban Nha ngày nay.
— Video 4, Joanquín Cortés và nữ tài tử Jennifer Lopez.
Mời các bạn thưởng thức cuối tuần. 🙂
Flamenco song, dance and guitar. Guitar by Ramon Ruiz, dance by Anita la Maltesa. London based artists and teachers.
Dưới đây là bài bài báo nhà thơ Vương Trọng vừa viết về bài thơ Lời Thỉnh Cầu ở Nghĩa Trang Đồng Lộc, mà anh viết năm 1995, khắc lên bia xi-măng năm 2002, mình dịch ra Anh ngữ năm 2005 (biên tập lại năm 2008), và khắc song ngữ lên bia đá tại Nghĩa Trang Đồng Lộc tháng 1 năm 2009.
Mình thăm Đồng Lộc tháng 5 năm 1995, trên một chuyến về thăm quê hương cụ Hồ tại Nghệ An, với một số Việt Kiều khác, do anh Nguyễn Ngọc Trân, trưởng Ban Việt Kiều Trung Ương tổ chức. Trên đường anh Trân cho xe ghé vào Đồng Lộc. Lúc đó mình hoàn toàn chẳng biết Đồng Lộc là gì cả.
Ấn tượng đầu tiên của mình là, đó là một vùng rất nghèo khổ, xác xơ, nóng đổ lửa… và nó làm cho mình có cảm giác buồn buồn vì cái nghèo của quê hương và cái khổ của dân quê. Mình vẫn luôn luôn như thế từ hồi 16, 17 tuổi.
Vào đến nơi, thấy mười ngôi mộ xi măng khiêm tốn nằm trên một ngọn đồi với vài bóng cây lưa thưa, giữa một vùng đồng khô cỏ cháy. Rồi từ từ hiểu chuyện, nhìn hố bom nơi các cô hy sinh, nhận biết rằmg các cô này cở tuổi mình hay có người chỉ sinh trước một hai năm, nhưng cuộc đời có quá nhiều khác biệt… làm cho mình thật là nhức nhối. Lúc đó mình “try to be connected” với các cô bằng cách nhờ anh Trân chụp một tấm ảnh mình ngồi bên cạnh một ngôi mộ. Tấm ảnh này có đăng trong báo Quê Hương (của Ban VKTW) sau chuyến đi đó.
Vì các cô trẻ mãi không già, cho nên mình luôn luôn có cảm tưởng các cô này là những người em gái bất hạnh của mình. Vì vậy, mình không quên các cô được những tháng năm sau đó. Hơn 10 năm sau, khi đọc nhật ký Đặng Thùy Trâm lần đầu, ý tưởng đầu tiên đến trong đầu mình là 10 cô gái Đồng Lộc.
Đến năm 2005, 10 năm sau khi anh Vương Trọng viết bài thơ và 3 năm sau khi nó được khắc vào bia xi măng, chị Diệu Ánh (admin của VNBIZ forum) trong một chuyến du hành trên quốc lộ Trường Sơn, ghé qua Đồng Lộc, thấy bài thơ, chụp và gởi cho mình. Mình dịch ngay ra tiếng Anh và post trên VNBIZ. Đây là bài thơ duy nhất mà mình ứa nước mắt rất nhiều lần trong khi dịch.
Đến đầu năm 2008 chị Diệu Ánh gặp chị Minh Lý, phóng viên Hà Tĩnh nhưng hiện sống ở Vũng Tàu, chị Minh Lý biết anh Vương Trọng. Thế là mình chỉnh sửa lại bài thơ một tí nữa rồi nhờ chị Diệu Ánh và Minh Lý chuyển đến anh Vương Trọng. Anh Vương Trọng nói chuyện với anh Thế Ban, sở Văn Hóa Thể Thao Hà Tĩnh. Sở quyết định khắc cả bài nguyên thủy lẫn bài dịch vào bia đá, thay bia xi măng đã hao mòn quá nhiều. Tháng giêng 2009, bia đá hoàn thành.
Mình đã viết một bài hồi tháng ba năm nay (2009) về bài thơ này để chia sẻ với các bạn. Hôm nay chúng ta nghe câu chuyện từ phía anh Vương Trọng. Bài này của anh Vương Trọng đã đăng trên Văn Nghệ Công An ngày 20 tháng 7 năm 2009.
Cám ơn anh Vương Trọng. Chúc các bạn một ngày vui.
Mến,
Hoành
.
Bài thơ song ngữ ở Nghĩa Trang Đồng Lộc
Vương Trọng
Vương Trọng
Từ khi Ngã ba Đồng Lộc trở thành khu di tích lịch sử của Thanh niên xung phong cả nước, khách tìm đến nơi này mỗi ngày một đông, đặc biệt là tầng lớp thanh niên, học sinh, sinh viên. Có người nói rằng, chỉ cần đến nơi này một lần, bài học về giáo dục truyền thống tự nhiên thấm vào người, và lớp trẻ có điều kiện để nhận thức được cái giá của độc lập, tự do.
Gần đây có nhiều bạn trẻ sau khi viếng thăm Ngã ba Đồng Lộc, ra Hà Nội có tìm gặp tôi để trò chuyện. Có người tôi quen biết từ trước, nhưng cũng có kẻ tôi mới được gặp lần đầu. Nguyên nhân là vì một bài thơ của tôi đã được khắc đá và dựng lên ở nghĩa trang này. Hơn nữa, bài thơ đó lại được dịch ra tiếng Anh, khắc trên tấm bia đá cao 2,5 mét, rộng 1 mét, mặt này là bài thơ Lời thỉnh cầu ở nghĩa trang Đồng Lộc của tôi, mặt kia là bản dịch của ông Trần Đình Hoành, một Việt kiều ở Mỹ. Bởi vậy tôi muốn có đôi lời tâm sự với bạn đọc về chuyện này. Đài tưởng niệm Đồng Lộc
Mùa hè năm 1995, lần đầu tôi đến thăm nghĩa trang Mười cô gái Ngã ba Đồng Lộc. Mặc dù mười cô gái đã hy sinh trước đó 27 năm trời, thế nhưng khi đứng lặng trước hố bom đã giết các cô, khi thắp hương lần lượt cắm lên mười nấm mộ, cũng như khi chứng kiến những kỷ vật các cô để lại…, tôi tự nhủ phải viết một cái gì đấy để giải tỏa nỗi xúc động. Bút ký, tuỳ bút cũng có thể chuyển tải được cảm xúc này, nhưng vì trong đoàn còn có nhà văn Xuân Thiều, nhà văn Nam Hà, nên tôi nghĩ nên “nhường” văn xuôi cho hai vị cao niên này. Bởi thế trước mắt tôi chỉ còn một cửa hẹp là thơ.
Nhưng thơ về Đồng Lộc cũng không phải dễ, vì trước đó đã có nhiều người viết rồi, có bài khá nổi tiếng như của nhà thơ Huy Cận. Thế thì mình phải viết thế nào để không bị chìm lấp bởi những bài đã có. Sự hy sinh cùng một lúc của mười cô gái trẻ khi đang san lấp hố bom làm mọi người cảm động, nên khi nào trên mười ngôi mộ cũng có thật nhiều hương khói. Khi cắm những nén hương đang cháy lên mộ các cô, tôi tự hỏi, nếu mười cô gái hiển linh, họ sẽ nghĩ thế nào? Bức ảnh cuối cùng của 10 cô gái Ngã ba Đồng Lộc (Nhiếp ảnh gia Văn Sắc)
Qua tài liệu thu thập được, tôi biết số người hy sinh ở ngã ba này thật nhiều, riêng Trung đoàn phòng không 210 đã có 112 liệt sĩ đã hy sinh khi bảo vệ mảnh đất này. Thế mà họ không có bia mộ để thắp hương, bởi thịt xương họ đã hoà trộn vào đất. Thế là cái ý tưởng dùng lời mười cô gái trò chuyện với các đoàn khách thăm viếng được nẩy sinh, và tôi thấy thuận lợi khi muốn chở ý tưởng: mọi chính sách, chế độ đối với những người đã hy sinh, nghĩ cho cùng là vì những người đang sống. Bởi vậy, xây dựng cho cuộc sống ấm no, hạnh phúc cũng là một cách thể hiện sự biết ơn đối với các liệt sỹ đã hy sinh.
Bài thơ có bốn khổ thì ba khổ đầu là lời mười liệt sĩ nhắc người đến nghĩa trang nên nhớ thắp hương cho những liệt sĩ mà thân xác đã tan trong đất, khuyên các em nhỏ nên trồng cây, các bạn cùng trang lứa cố gắng sản xuất. Còn các cô chỉ ước có vài cây bồ kết…
Bài thơ tôi viết và in lần đầu vào năm 1995, đến năm 1998 lại xuất hiện trong tuyển tập thơ về Đồng Lộc. Điều đáng nói là tập thơ này đã đến tay anh Nguyễn Tiến Tuẫn, là một trong ba anh hùng ở Đồng Lộc, thời mà mười cô gái hy sinh, anh đang phụ trách đơn vị Cảnh sát giao thông ở trọng điểm ác liệt này. Anh bảo rằng, anh bị bài thơ ám ảnh, và tự đặt cho mình phải làm một việc gì đó để giải toả sự ám ảnh này. Việc anh làm là lên huyện Hương Sơn tìm hai cây bồ kết con để đáp ứng lời thỉnh cầu của mười cô gái: ” Thỉnh cầu đất cằn cỗi nghĩa trang/ Cho mọc dậy vài cây bồ kết/ Hương chia đều trong hư ảo khói nhang”. Hai cây bồ kết anh trồng rất cẩn thận, hố đào to, phân tro nhiều nên tốt rất nhanh.
Bốn năm sau, năm 2002 thì hai cây bồ kết đã cao tới ba, bốn thước; cây lớn vào mùa thu đã nở hoa. Một lần trở lại thăm nghĩa trang đúng lúc gặp một đoàn khách, biết anh là người đã trồng hai cây bồ kết này, mọi người rất cảm phục và hỏi anh từ ý nghĩ nào mà làm được việc hết sức độc đáo và tuyệt vời này? Anh trả lời là từ cảm xúc một bài thơ, thế là họ hỏi anh có nhớ bài thơ đó không. Anh nói rằng bài thơ đó anh đã thuộc, nhưng không quen đọc thơ trước đám đông, anh hứa với họ là nếu lần sau quay lại thì thế nào cũng được đọc bài thơ đó ở đây. Mọi người nghe, kể cả người giới thiệu khu di tích, ai cũng nghĩ anh nói thế cho qua chuyện, ai ngờ anh bắt đầu ý định khắc bài thơ ấy lên đá. Điều trước tiên là phải liên hệ với Tỉnh đoàn Hà Tĩnh, đơn vị phụ trách khu di tích này. Nghe anh trình bày ý định khắc đá bài thơ đó, mọi người tán thành và coi đây là một việc làm văn hoá. Thế là chiều ngày 14 tháng 8 năm 2002, bia đá cỡ 80cm . 40cm với bài thơ 25 câu chia thành bốn khổ, được khắc sâu và tô màu sơn vàng rất dễ đọc đã dựng lên cạnh hai cây bồ kết bên nghĩa trang Mười cô gái Ngã ba Đồng Lộc. 10 Mộ
Mấy năm năm nay, nhiều tờ báo đã đăng bài về chuyện này, và có nhiều bài đã gây xúc động người đọc. Ông Trịnh Xuân Tòng là cán bộ giảng dạy trường đại học Cần Thơ, đã nghỉ hưu; sau khi đọc bài báo của Ngô Vĩnh Bình nói về chuyện bài thơ và hai cây bồ kết, ông đã bỏ công mấy tuần liền để vẽ một bức tranh cỡ lớn với nhan đề : Múa dưới trăng, nỗi vui mừng khi có cây bồ kết . Trong bức tranh, ông đã vẽ mười cô gái liệt sĩ ở ngã ba Đồng Lộc, khi trăng lên đã cùng nhau nhảy múa, năm cô leo lên cây, năm cô múa trên đất. Trong bức tranh lớn đó, ông trích bốn câu thơ làm đề từ:
Ngày bom vùi, tóc tai bết đất
Nằm xuống mộ rồi, mái đầu chưa gội được
Thỉnh cầu đất cằn cỗi nghĩa trang
Cho mọc dậy vài cây bồ kết…
Đặc biệt hơn, ông còn viết một bức thư cảm động Gửi mười em gái ngã ba Đồng Lộc. Bức tranh và bức thư này, báo QĐND đã giới thiệu trong số đặc biệt ra ngày 22- 12- 2002.
Gần đây tôi có dịp trở lại Đồng Lộc. Khác hẳn với quang cảnh tôi đã chứng kiến năm 1995, bây giờ ở khu di tích Đồng Lộc, đường sá rộng rãi, nhà cửa xây dựng khang trang, và đặc biệt cây cối quanh vùng tươi xanh như một vùng du lịch sinh thái. Không còn những vạt “cỏ may khâu nặng ống quần” khách đến thăm, không còn đồi Trọ Voi trọc lóc, lở lói. Nhiều cảnh tôi nhắc đến trong bài thơ đã lạc hậu so với bây giờ. 10 Cô
Đồng chí giới thiệu khu di tích hướng dẫn đoàn chúng tôi đi thắp hương trên từng nấm mộ và đốt những quả bồ kết khô. Mấy năm nay, nhiều đoàn khách đến thăm khu di tích này thường đem theo những chùm quả bồ kết khô để đốt sau khi thắp nhang. Người đầu tiên đốt bồ kết ở đây là nhà văn Nguyễn Thế Tường, quê Quảng Bình, công tác tại Tuần báo Văn nghệ. Tháng 10 năm 2002, anh Tường gặp tôi ở Tuần báo Văn nghệ, khi anh sắp vào nghĩa trang Đồng Lộc, anh hỏi tôi có nhắn gì không. Tôi nói rằng, hai cây bồ kết mới ra hoa nhưng chưa có quả, tôi muốn nhờ anh mua hộ tôi một chùm bồ kết, vào đó đốt để viếng mười cô gái. Anh đã làm thế, và ngạc nhiên, khi vừa đốt mấy quả bồ kết thì bát hương lớn bỗng hoá, cháy bùng lên, làm mọi người ngạc nhiên và anh gọi điện cho tôi ngay. Ngẫu nhiên hay tâm linh? Anh bảo rằng mọi người có mặt hôm đó, kể cả những người quản lý khu di tích, không ai nghĩ là ngẫu nhiên.
Tôi tới bia đá khắc bài thơ của mình thì thấy có nhiều em sinh viên đang xúm xuýt mở sổ chép thơ. Biết tôi là tác giả, nhiều em xin chụp ảnh lưu niệm và hỏi chuyện quanh bài thơ. Bằng vi tính, nét chữ khắc đẹp, chỉ tiếc cắt khổ phần đầu không thật chính xác, vì bài thơ của tôi gồm bốn khổ, khổ đầu sáu câu chứ không phải bốn câu như đã khắc. Tương đài Đồng Lộc, khi còn hoang vu, tháng 5 năm 1995, khi TĐH đến thăm
Sau đó không lâu, trong đoàn Việt kiều Mỹ về nước đến viếng nghĩa trang Đồng Lộc, có ông Trần Đình Hoành, một luật sư nhưng ham mê văn học, người đã từng dịch nhiều bài thơ của các nhà thơ Việt Nam ra tiếng Anh, xuất bản ở Mỹ. Ông xúc động khi đọc bài thơ “Lời thỉnh cầu ở nghĩa trang Đồng Lộc” và muốn truyền sự xúc động đó cho du khách nước ngoài nên đã dịch bài thơ này. Giám đốc sở Văn hoá và Du lịch Hà Tĩnh là nhà văn Đức Ban, người rất hiểu tác dụng của thơ văn vào cuộc sống, đã cho bài thơ và bản dịch đó hiển hiện lên bia đá như các bạn đã thấy vào sáng 17 tháng giêng năm 2009.
Nhân đây tôi chép lại bản tiếng Việt và tiếng Anh đã khắc trên hai mặt bia đó.
Ô. Trương Tấn Sang, Bộ Chính Trị, trong lễ khánh thành bia đá
Lời thỉnh cầu ở nghĩa trang Đồng Lộc
– Mười bát nhang, hương cắm thế đủ rồi
Còn hương nữa hãy dành phần cho đất
Ngã xuống nơi này đâu chỉ có chúng tôi
Bao xương máu mới làm nên Đồng Lộc
Lòng tưởng nhớ xin chia đều khắp
Như cỏ trong thung, như nắng trên đồi.
– Hoa cỏ may khâu nặng ống quần, kìa
Ơi các em tuổi quàng khăn đỏ
Bên bia mộ xếp hàng nghiêm trang quá
Thương các chị lắm phải không, thì hãy quay về
Tìm cây non trồng lên đồi Trọ Voi và bao vùng đất trống
Các chị nằm còn khát bóng cây che.
– Hai mươi bảy năm qua, chúng tôi không thêm một tuổi nào
Ba lần chuyển chỗ nằm, lại trở về Đồng Lộc
Thương chúng tôi, các bạn ơi, đừng khóc
Về bón chăm cho lúa được mùa hơn
Bữa ăn cuối cùng, mười chị em không có gạo
Nắm mì luộc chia nhau rồi vác cuốc ra đường.
– Cần gì ư ? Lời ai hỏi trong chiều
Tất cả chưa có chồng và chưa ngỏ lời yêu
Ngày bom vùi tóc tai bết đất
Nằm xuống mộ rồi, mái đầu chưa gội được
Thỉnh cầu đất cằn cỗi nghĩa trang
Cho mọc dậy vài cây bồ kết
Hương chia đều trong hư ảo khói nhang.
Đồng Lộc, 5 – 7- 1995
Vương Trọng
.
Học sinh trường THCS Đồng Lộc A Request at Dong Loc Cemetery
That’s enough for ten bowls
The rest of incense, let’s save for others
We’re not the sole fallen ones
So much blood and bone was spent for Dong Loc
Memories, let’s spread evenly
Like grass in the valley, sunlight on the hill.
Look! Tongue-grass buds cling to the pants!
O you red-scarfed children standing straight by the tombs
You love us so much, don’t you?
Then, go home, find little plants
Plant them on Tro Voi Hill and on these bare lands
We’re so thirsty longing for some tree shades!
Twenty-seven years have passed, we haven’t grown a day
Three times changing bed, we’re now back in Dong Loc
Friends, if you love us, don’t cry!
Go back and tend the rice for better harvest
The last meal we ten had no rice
Just a handful of cassava, then out with hoes we went.
Our needs? One afternoon someone has asked
We’re not yet married and haven’t got a chance to love
When the bomb buried us all, our hair was enmeshed in dust
Lying here in these tombs, we haven’t got a chance to wash our hair
We ask that on the parched ground of this cemetery
Someone would grow some carob trees
That spread fragrance evenly in the ethereal incense smoke…
Dong Loc July 5, 1995
VUONG TRONG
Translated by TRAN DINH HOANH
( A Vietnamese Resident in The USA)
Hanoi and Saigon are on high alert about H1N1 flu. Is your routine disrupted? Are you wearing a mask at work or school? Is there some story, some thought, to share about all this?
Mỗi khi mình cùng đường, xuống tinh thần đến độ tuyệt vọng, không còn biết phải làm gì, thì mình hay lấy đoạn văn ngắn này ra đọc. Và khi một người bạn nào của mình có chuyện không vui, mình gởi đoạn văn này đến bạn.
Mount of Beatitude, Đồi cùa (bài giảng) Hạnh Phúc Thật, Capernaum và Biển Galilee (Do Thái)
Đoạn văn này, lúc bình thường thì đọc nghe rất tầm thường, chẳng có gì là đặc sắc cả. Nhưng khi mình rất buồn , khi mình tuyệt vọng, khi mình không còn biết phải làm gì cả, mang nó ra đọc, thì nó sống dậy như một hơi thở ấm, luồn qua được những kẻ hở li ti trên vách núi, vào tận đáy hang sâu, vào tận đáy quả tim lạc lõng trống vắng của mình. Thật là lạ lùng.
Trong Thánh kinh, Chúa Giêsu có một bài giảng dài rất nổi tiếng, giảng cho mấy ngàn người nghe trên đồi cao, gọi là Bài giảng trên đồi cao (The sermon on the mount). Đoạn văn ngắn này là đoạn mở đầu của Bài giảng trên đồi cao, và có tên là Beatitudes (Hạnh Phúc Thật).
Hôm nay mình dịch và post bài Beatitudes ở đây, đặc biệt cho Sesame và Leo Pretty, và các bạn đang nhiều đau khổ trong lòng. Bởi vì mình không biết có gì hay hơn để gởi gấm.
Chúc các bạn môt ngày an bình.
Mến,
Hoành
. Hạnh Phúc Thật
Phúc cho người nghèo khổ trong tâm linh
vì nước thiên đàng là của họ.
Phúc cho người than khóc,
vì họ sẽ được an ủi.
Phúc cho người khiêm nhu
vì họ sẽ thừa hưởng trái đất.
Phúc cho người đói khát sự công chính
vì họ sẽ no đủ.
Phúc cho người nhiều thương xót
vì họ sẽ được xót thương.
Phúc cho người có trái tim tinh khiết
vì họ sẽ thấy Thượng đế.
Phúc cho người xây dựng hòa bình
vì họ sẽ được gọi là con Thượng đế.
Phúc cho người bị bách hại khi làm điều công chính
vì nước thiên đàng là của họ.
. Beatitudes
Blessed are the poor in spirit,
for theirs is the kingdom of heaven.
Blessed are those who mourn,
for they will be comforted.
Blessed are the meek,
for they will inherit the earth.
Blessed are those who hunger and thirst for righteousness,
for they will be filled.
Blessed are the merciful,
for they will be shown mercy.
Blessed are the pure in heart,
for they will see God.
Blessed are the peacemakers,
for they will be called sons of God.
Blessed are those who are persecuted because of righteousness,
for theirs is the kingdom of heaven.
Khmer rock là một phối hợp hấp dẫn giữa âm thanh và nhạc cụ truyền thống của Khmer với âm thanh, nhịp điệu, và khí cụ tân thời. Theo Saraj Cuddon của BBC thì Khmer rock là phối hợp giữa nhạc rock Mỹ và nhạc cụ Khmer thời thập niên 1960’s khi quân đội Mỹ có mặt ở Kampuchia trong thời chiến tranh. Loại nhạc này phát triển được 10 năm, đến thời Khmer đỏ (1975-1979) thì nó bị tận diệt cùng với các nhạc sĩ và ca sĩ thời đó. Ngày nay có sống lại với đầy đủ sắc thái riêng.
Bên cạnh các ban nhạc rock ở Kampuchia, tại Los Angeles (California, Mỹ) có ban nhạc Dengue Fever mang Khmer Rock đến khán giả quốc tế.
Tháng 11 năm 2006, trong vòng đi Á châu của mình, mình có ghé qua Kampuchia (và Sài Gòn & Hà Nội). Thăm bảo tàng viện diệt chủng Pol Pot, thực sự là buồn. Các bạn à, cái tâm con người mong manh lắm, từ thiên thần ta thành ác quỉ chỉ một bước, và có thể là chỉ trong phút giây. Cho nên ta phải canh giữ tâm mình kỹ lưỡng, như người chăn trâu trong thập nhị ngưu đồ.
Xem các videos Khmer rock ngày nay, chúng ta có thể cảm nhận được lòng tự hào của các anh em Khmer của chúng ta. Dưới đây, hai videos đầu là của Dengue Fever ở Los Angeles, hai video sau là của hai nhóm rock ở Kampuchia.
Mời các bạn thưởng thức.
Hoành
.
Dengue Fever — Seeing hands
.
Dengue Fever — Sleeping Walking Through The Mekong
This problem has been here a month. 400 monks in tu viện Bát Nhã are living without electricity and water, and they have to rely on the villagers’ supplies.
Briefly, Zen master Thích Nhất Hạnh’s group in France spent their own money to build monastery Bat Nha in Bao Loc and put 400 young monks there, under the leadership of abbot Thich Duc Nghi. Now Thich Duc Nghi said he cannot sponsor the young monks anymore, and they have to leave Vietnam. The police is saying that this is an internal problem between Thich Duc Nghi group and Thich Nhat Hanh group.
If you read a bit about this case, you must have a very low IQ level to believe that this is strictly an internal private affair, and that the government has nothing to do with it.
My sense is that Thich Nhat Hanh wants to do things the way it is done in France or other places outside Vietnam–i.e., ordaining monks freely, without the need for government approval; running the monastery independently, without belonging to any government-approved religious organization, etc… And of course, that cannot be done in Vietnam and would put (or has put) Thich Duc Nghi in a very difficult position.
I am confident that my sense about this case is correct.
What do I say to this?
I say, Vietnam needs to be more sophisticated in managing religious organizations. It is not that hard to give them a lot more freedom while still having enough government control to keep them in line.
But someone in the government would have to have some sophistication first.
About Zen master Thich Nhat Hanh’s group, I hope they understand that when you are in a country, you follow the law of that country. If you don’t like the law, follow it anyway, and lobby to change it later.
Or don’t enter the country at all. You can’t come in and ignore the law. That is not how the world operates.
Đau khổ là đau và khổ. Nếu đau thì khổ. Nếu bỏng tay, gãy chân thì đau khổ. Nhưng đau và khổ là hai điều khác nhau. Đau là nguyên nhân và khổ là hậu quả. Trong ví dụ gãy chân, đau là hiện tượng sinh học do gãy xương, khổ là hiện tượng tâm ly’ trong đầu–cái tâm buồn rầu, gắt gỏng, phàn nàn vì đau.
Đau thì trong một số trường hợp không thể chận được—nếu bị đụng xe gãy tay là phải đau. Nhưng khổ thì có thể chận được vì ta có thể điều khiển cách suy tư của tâm mình.
Vì đau và khổ liên hệ nhân quả mật thiết với nhau, nên công thức chấm dứt, hay ít ra là giảm bớt khổ, cũng khá giản dị:
1. Tránh đau
Nếu lái xe cẩn thận, thì khó bị đụng xe, có nghĩa là cơ hội bị gãy xương và đau đớn bị giảm xuống còn rất nhỏ. Thế có nghĩa là tránh khổ bằng cách tránh đau, tránh những gì có thể mang đến nỗi đau cho mình.
– Đừng ăn trộm, thì tránh được ăn đòn khi bị bắt.
– Đừng nói dối, thì tránh được bị xỉ vả hay bị phạt khi lòi ra tội nói dối.
– Đừng giết người thì tránh được bị người tùng xẻo trả thù.
– Đừng say rượu thì tránh được đụng xe.
– Đừng nói xấu người thì tránh được bị người đánh.
– Nói chung là đừng làm những chuyện sai quấy thì cơ hội bị đau sẽ ít đi rất nhiều.
2. Tập luyện để khi bị đau thì thấy ít đau
Như là người học võ bị đấm không thấy đau, chúng ta có thể huấn luyện để gia tăng khả năng chịu đau của mình:
– Nghe người nói xấu, thì mỉm cười bỏ ngoài tai, vì đó chỉ là chuyện ăn cơm bữa, nhất là khi bạn nổi tiếng vì giỏi, vì đẹp, vì thành công. Ghen tương là điểm yếu của con người. Tha thứ cho họ.
– Bị người chơi xấu, thì bỏ qua, cho đó là chuyện yếu kém tự nhiên của con người, và tha thứ cho họ.
– Làm ăn thua lỗ, thì xem đó là chuyện thường—đã làm ăn là phải có lên có xuống.
– Bị vấp ngã trên đường đời vì bất kỳ lý do gì đó, thì coi như đó là chuyện thường. Đã có hai chân để đi thì nhất định phải có lúc vấp ngã, nhất là trên những quảng đường khó khăn.
– Không đạt được mục đích nào đó, thì coi như đó là chuyện thường, vì nếu mục đích trên đời nào mình cũng đạt được hết thì chắc đó không phải là mục đích. Đã là mục đích thì đương nhiên là phải có thử thách khó khăn và nhất định là phải có lúc không đạt được. 3. Nếu phải bị đau rất đau, thì phải biết làm quyết định khôn ngoan để không khổ, hay ít ra là bớt khổ
Đây thường là những trường hợp mình bị rất đau, hầu như không giảm đau được, như một người vợ rất yêu chồng tự nhiên bị chồng bỏ ngang vì chồng bị “người khác quyến rũ”; hay một người làm ăn khó nhọc lâu năm bỗng nhiên bị partner hất chân ra khỏi thương mãi; hay một người rất yêu quí bạn bè đột nhiên bị bạn đâm một nhát chí tử sau lưng…
Đây là những trường hợp chúng ta hoàn toàn không ngờ tới, và cảm thấy bị phản bội và tổn thương tột cùng, và chẳng cách nào giảm đau được.
Đây là những trường hợp khó khăn nhất, và cũng là nguồn gốc của những bi kịch lớn nhất của con người.
Cơn đau quá lớn và quá mãnh liệt đến nỗi nó ảnh hưởng như là một quả đấm knock out, lăn quay ra ngất xỉu ngay và chẳng còn tính toán suy nghĩ gì được. Ai đã từng bị knock out hay chứng kiến cảnh knock out mới hiểu được tác dụng đo ván trong vòng 1/10 giây đồng hồ.
Nếu so sánh với knock out, thì khi ta bị cú sốc kinh khủng, ít ra cũng phải có một thời gian toàn thân toàn tâm tê liệt không biết phản ứng thế nào. Bất tĩnh. Ai cũng thế thôi.
Câu hỏi là khi bắt đầu lai tĩnh lại một tí, thì làm gì đây?
Phản ứng tự nhiên của nhiều người là nhào vô đánh tiếp, và lúc này là đánh theo kiểu nổi điên. Nhưng, đã bị knock out rồi thì thường là càng đánh càng thua, càng bị ăn đòn.
Người võ sĩ kinh nghiệm và không tự ái biết là mình đã thua, mỉm cưòi và chịu thua. Người thiếu kinh nghiệm và nhiều tự ái thì phải đợi bị knock out thêm vài lần nữa mới bỏ cuộc. Khỗ nỗi, càng đau nhiều thì tự ái càng cao–hình như các cơn đau có năng lực thổi phồng cái tôi rất nhiều. Mà tự ái càng cao thì lại càng khó bỏ đi.
Người có con tim nhẹ nhàng thì coi thắng thua là lẽ thường, và vui vẻ ra đi. Người có tâm sân hận sẽ nuôi thù mười năm, hai mươi năm, cho đến khi rửa được hận.
Đây là lúc cái tâm của mình quyết định đời mình—hoặc là thong dong tự tại, thua thì cười ha hả, “bái phục bái phục”, và vui vẻ ngày tháng giang hồ; hoặc là bị cầm tù trong con tim sân hận, tức tối, nhiều stress của mình vài mươi năm nữa.
Đây là ngã rẽ lớn của cuộc đời, môt tích tắc quyết định có thể làm khác nhau mấy mươi năm sống.
Đây là ngã ba giữa tự do và tù ngục.
Nếu rất đau, thì có lẽ lúc này phải nhờ vào trí tuệ căn cơ. Đau nhiều thì cảm xúc mạnh, dễ làm trí óc lu mờ. Nhưng người có căn cơ trí tuệ sẽ thấy được quả tim có thể bị ngục tù như thế nào và mấy mươi năm ngục tù sẽ đau khổ như thế nào. Người không có trí tuệ không thấy được điều đó.
Rốt cuộc sự lựa chọn lúc này tùy thuộc vào cái mà nhà Phật gọi là xả bỏ–dùng sức mạnh của toàn tâm toàn trí, và trí tuệ của toàn tâm toàn trí, để chiến thắng sự cai trị của nỗi đau thế kỷ–đau thì đau, nhưng xả bỏ thì vẫn xả bỏ.
Xả bỏ cả một núi Thái Sơn sân hận, để tâm trí có thể tự do. Và hạnh phúc.
Xả bỏ, người ta thường tưởng lầm rằng đó là vì mình yêu người. Có thể như thế lắm. Nhưng trước hết, xả bỏ không phải là vì người, mà vì mình.
Xả bỏ là cái giá mình phải trả cho tự do, và hạnh phúc, của chính mình.
Cho đến năm 2007, CPDRC ở Cebu, Phi Luật Tân, là nhà tù với những tù nhân nguy hiểm nhất nước Phi. Hơn hai phần ba tù nhân ở CPDRC có án giết người, cướp, hiếp dâm hay ma túy.
Nhờ lớp vũ 4 tiếng một ngày, ngày nay các tù nhân CPDRC thành đội vũ nhà tù nỗi tiếng nhất thế giới. Và các tù nhân trở thành vui vẻ hiền từ.
Mỗi thứ bảy cuối tháng, đội vũ này biểu diễn hai lần trước sân Tòa Thống Đốc Cebu cho mọi người xem, không tính tiền 🙂
Chương trình vũ này là sáng kiến của Quản Đốc nhà tù Byron F. Garcia, được bà chị là thống đốc bang Cebu cho chức quản đốc. Nhiệm vụ của quản đốc Garcia là làm sạch sẽ nhà tù, dù là ông chẳng có tí kinh nghiệm nào với trại tù hay tù nhân cả. Việc trước tiên ông làm là tách riêng các đại gia xếp xòng các bằng đảng trong tù, không cho ở chung với đại đa số tù nhân. Sau đó ông quan sát tù nhân và cảm thấy là họ thích nhảy, thế là có lớp nhảy cho tất cả hơn 1.500 tù nhân, 4 tiếng một ngày.
Ngày nay đoàn vũ này có đến mấy mươi triệu người trên thế giới xem trên Youtube.
Mong là các nhà tù Việt Nam cũng sẽ có những sáng kiến tương tự.
Sau đây mời các bạn thưởng thức các màn vũ của Các Tù Nhân CPDRC. Video cuối cùng là phim tài liệu nói về chương trình này. 🙂
.
Thriller (Michael Jackson)
.
Do the Hustle
.
Jump
.
Black Eyed Peas
.
Soulja Boys
.
Đây là phim tài liệu nói về đoàn vũ Tù Nhân CPDRC.
.
Các links sau đây là các màn trình diễn của tù nhân CPDRC, nhưng phải xem trực tiếp trên Youtube. Mời các bạn click vào link.
Within one week, there were 3 on-the-job accidents, killing 4 persons and injuring 3 persons at Landmark Tower in Hanoi. Hanoi’s labor department is suspending the construction until July 31 for investigation.
Why only till July 31?
Why not suspend it indefinitely until Vietnam’s labor authorities say, “We think it is safe to continue building.”
How many more Vietnamese dead bodies do we need, to convince ourselves that the Landmark Tower project is unsafe for workers (and probably for any citizen nearby)?
Trao đổi với VnExpress.net, ông Đặng Minh Thuần, Phó chủ tịch Liên đoàn Lao động thành phố Hà Nội cho biết, UBND Hà Nội vừa có văn bản yêu cầu Liên đoàn lao động thành phố và các cơ quan chức năng làm rõ nguyên nhân các tai nạn tại công trình tòa nhà cao ốc Keangnam.
Ngay sau khi thi công trở lại, tai nạn lao động lại xảy ra tại tòa tháp của Keangnam. Ảnh chụp chiều 27/7: P.V.
Sở Xây dựng cũng cho biết, đã ra quyết định đình chỉ thi công tại công trình Keangnam tới hết ngày 31/7 để phục vụ cho công tác điều tra. Ông Bùi Văn Chiểu, Phó giám đốc Sở Xây dựng Hà Nội cho biết, Sở đang làm việc với chủ đầu tư điều tra nguyên nhân, chấn chỉnh công tác an toàn lao động.
Trước đó, sau 2 vụ tai nạn lao động liên tiếp làm 4 người chết, chiều 22/7, công trình xây dựng tòa nhà Landmark Tower (do tập đoàn Keang Nam làm chủ đầu tư) đã bị đình chỉ thi công. Trong báo cáo gửi lãnh đạo TP Hà Nội, ông Ha Jong Suk, Chủ tịch Keangnam Vina cam kết, sau khi việc kiểm tra thực hiện đánh giá “đảm bảo an toàn”, từng nhà thầu mới được tiếp tục thi công.
Tuy nhiên, trưa 27/7, ngay sau khi thi công trở lại, 3 công nhân và cán bộ kỹ thuật làm việc tại hầm thang máy tầng 13 tòa tháp A Hanoi Landmark Tower đã trượt chân, rơi cùng tấm cốp pha xuống phía dưới, bị thương. Tòa tháp A là nơi đã xảy ra tai nạn làm 2 công nhân chết trước đó 6 ngày.
Trong vòng một tuần, tại công trình tòa nhà cao nhất Việt Nam đã xảy ra 3 vụ tai nạn lao động làm 4 người chết và 3 người bị thương.
Trân Sa, hiện đang ở Canada, là thi sĩ mình rất ái mộ. Chị sinh ra và lớn lên ở Nha Trang, khu xóm mới, cũng cùng khu với và nhà bà thím mà mình ở trọ năm lớp 7 tại Trung Học Võ Tánh (ngày nay là Lý Tự Trọng).
Bài thơ này, mình đã phổ nhạc nhiều năm về trước (hình như khoảng 1992, và trong thập niên 90s mình hay đàn cho Phượng hát trong các sinh hoạt văn hóa cộng đồng). Mình dịch bài này ra tiếng Anh lần đầu năm 2000. Hôm nay lấy ra, mài dũa thêm một tí trước khi post.
Bài này có lẽ Trân Sa viết trong thập niên 80s hay đầu thập niên 90s, lúc liên hệ với Việt Nam còn chưa tốt, và các giấc mơ là những chuyến về thăm nhà thường xuyên cho mỗi người (dĩ nhiên là kể cả mình).
Chia sẻ cùng các bạn.
Hoành
. Rendezvous In Dream
In dream I rush back
No one is left
In the yard of the ancient vows
The moon etches my lone shadow
Not even a goodbye
Life’s too short for waiting
Turbulent times have taken all
Leaving me with a color-turning leaf
The past returns not
Autumn weighs down on the shoulders
All around is wild grass
For what is a shoe mark left?
In dream I miss the rendezvous
Waking up—sunlight has whitened the sky
On the pillow, the teardrop has just dried
Looking out… a sole piece of cloud flows
Looking out… yes, a sole piece of cloud flows
Translated by TDH
. Hẹn chiêm bao
Chiêm bao tất tả tôi về
Thấy không còn ai ở đó
Mảnh sân xưa đã hẹn thề
Trăng tôi còn in một bóng
Không cả vài lời chia biệt
Đời quá ngắn để chờ nhau
Ly loạn dành phần tất cả
Chừa tôi chiếc lá thay màu
Dĩ vãng không còn trở lại
Mùa thu nặng xuống hai vai
Bốn bề hoang tàn cỏ dại
Làm chi còn một dấu hài
Chiêm bao tôi đành lỗi hẹn
Tĩnh ra nắng trắng khung trời
Giọt lệ vừa khô trên gối
Nhìn ra một chiếc mây trôi
Nhìn ra… ừ, chiếc mây trôi
Nếu đọc các bản tin về các đại gia tham nhũng bị bắt, các bạn hẳn cũng thấy là các vị này khi trước là những sinh viên xuất sắc, cán bộ trẻ nồng nhiệt tài cao, phục vụ tốt, lên chức vù vù… Rồi một ngày nào đó trên ghế quyền lực, chàng tuổi trẻ hào kiệt năm xưa trở thành một ông trung niên mập ú, bệnh hoạn, xôi thịt, và hạm tham nhũng. Điều gì đã xảy ra?
Dĩ nhiên ta có thể hiểu ngay là những người này đã qua một tiến trình “tồi hóa” trong khi đang “trưởng thành” (nếu ta gọi đó là trưởng thành); tức là càng lớn tuổi họ càng tồi đi.
Các bạn hơi có tuổi một tí đều thấy được điều này. Có những người bạn hồi học trung học đại học thì trong sáng và ly’ tưởng. Sau khi ra trường một thời gian thì bắt đầu có tác phong chụp giật từ từ. Đến lúc lên ghế quyền lực là bắt đầu biến thể thành người ích kỷ và tham nhũng. Tiến trình trưởng thành của chúng ta luôn luôn là tiến trình nhìn thấy nhiều người trong sáng và tích cực từ từ biến thành tiêu cực, ham hố, ích kỷ, và tồi tệ.
Tại sao?
Tại sao tiến trình đó không đi theo chiều ngược lại? Tại sao nó không đi từ con người tiêu cực tồi tệ từ từ biến thành các nhà lãnh đạo trong sáng ly’ tưởng? Nếu đời sống con người tiến hóa theo chiều này có phải là thế giới thành thiên đàng hết rồi không?
Thưa câu trả lời là: Vì tuổi trẻ trong sáng và ly’ tưởng.
Một tờ giấy trắng tinh chỉ có thể bẩn thêm, chứ rất khó mà trắng đẹp hơn được nữa. Tuổi trẻ trong sáng và ly’ tưởng thì thường là chỉ có thể bị tồi đi chứ không trong sáng và ly’ tưởng hơn được. Trong đời sống tinh thần, chúng ta thường chỉ có thể “trưởng thành” theo hướng đi xuống vì không thể lên cao hơn được.
Cho nên khoảng bắt đầu lên đại học, và nhất là lúc xong đại học trở đi, là các bạn trẻ bắt đầu được huấn luyện để “trưởng thành” bằng đủ mọi chiêu thức:
* Phải biết đút lót để thành việc.
* Phải biết báo cáo láo.
* Phải biết làm cho bên ngoài thấy đẹp, còn cứ rút ruột bên trong bỏ túi.
* Phải sử dụng giấy tờ kế toán giả.
* Phải biết cách trốn thuế.
* Phải biết cách nói chuyện đổi trắng thay đen.
* Phải biết đi theo bè đảng—nhóm này, đảng này, đạo này—các nhóm khác phe khác là sai, và điều gì “phe ta” làm cũng đúng, kể cả những điều vô đạo đức.
* Phải biết nói A về sự thật B.
* Nói chung là phải biết “thức thời” và “trưởng thành.”
Các bạn à, mình đã thấy các chuyện này xảy ra với không biết bao nhiêu người đã từng trong sáng và ly’ tưởng một thời. Họ có thể có nhiều công việc khác nhau, tại những nơi khác nhau, với những hòan cảnh khác nhau. Nhưng tất cả đều có một điểm chung: Họ tin rằng muốn trưởng thành thì phải bỏ đi cái trong sáng, thành thật và ly’ tưởng của tuổi thơ.
Nếu bạn mặc một bộ đồ trắng ra phố, giữ cho nó sạch trắng thì khó, chứ làm cho nó dính bùn thì có gì là khó? Cái gọi là học cách “trưởng thành” của nhiều người thực ra chỉ là học để dính bùn. Nhưng, nếu muốn dính bùn thì bệt bùn vào là xong, có gì phải học? Học cách giữ gìn sạch sẽ mới là thử thách, mới là xây dựng nội lực, mới là công phu tu luyện chứ.
Cho nên, công phu chính của các bạn khi trưởng thành trong đường đời, không phải là các trò ma đạo đâu. Công phu chính là làm thế nào để trưởng thành mà vẫn trong sáng, thành thật, tích cực như khi còn đi học. Cho nên đừng dại dột nghe theo lời chỉ dạy của các vị thầy và quân sư hạng trộm vặt.
Và nếu bạn là người tài giỏi, bạn có thể có một công phu khác nữa là thông minh đủ để thấy ngay các đòn phép ma đạo mà những người khác đang sử dụng quanh bạn. Thấy để không bị lừa. Tức là nếu bạn có nghiên cứu các việc ma đạo thì nghiên cứu để biết phân biệt chân tà, như là cảnh sát nghiên cứu tội phạm, chứ không nghiên cứu để chính mình thành ma đầu.
Một tờ giấy trắng thì chỉ có 2 cách giữ nó đẹp thôi. Một là giữ nó trắng mãi như thế. Hai là, vẽ lên đó các bức ảnh tuyệt đẹp. Tức là, một là hoàn toàn trong sáng ly’ tưởng như lúc còn thơ. Hai là, thêm vào tâm hồn ta những đóa hoa đẹp mà cả thế giới cổ kim đông tây đều chấp nhận—khiêm tốn, thành thật, từ bi, bác ái, vị tha, hỉ xả, sáng tạo thêm cái tốt cái đẹp cho đời.