
Tết trắng
Trời cuối năm tuyết đổ
Xóa trắng những đồi thông
Nơi này hoa không nở
Tết rồi em biết không?
TĐH
Virginia, Thứ năm, 11 tháng 2, 2010

Tết trắng
Trời cuối năm tuyết đổ
Xóa trắng những đồi thông
Nơi này hoa không nở
Tết rồi em biết không?
TĐH
Virginia, Thứ năm, 11 tháng 2, 2010

Cuối năm
Với tay nửa quả địa cầu
Tìm con đồi cũ tìm mầu mắt xưa
Cuối năm trời đất đổ mưa
Chạy theo ánh chớp níu bờ thời gian
TĐH
Virginia, 2 tháng 1, 2001
Tu-bồ-đề là đệ tử của Phật Thích Ca. Sư có thể hiểu được uy lực của Không, quan điểm rằng không có gì hiện hữu ngoại trừ trong liên hệ chủ quan và khách quan của nó.

Ngày nọ Tu-bồ-đề đang ngồi dưới gốc cây, trong trạng thái cực kỳ tĩnh lặng, Hoa bắt đầu rơi quanh ông.
“Chúng tôi ca ngợi ngài về đàm luận của ngài về Không,” các vị Phạm thiên thì thần với ông.
“Nhưng tôi đâu có đàm luận gì về Không,” Tu-bồ-đề nói.
“Ngài đã chẳng đàm luận gì về Không, chúng tôi đã chẳng nghe gì về Không,” các Phạm thiên trả lời. “Đó chính là Không.” Và hoa rơi trên Tu-bồ-đề như mưa.
Bình:
• Cảnh “mãn thiên hoa vũ” (mưa hoa đầy trời) nầy thường xảy ra trong kinh Phật, thông thường là khi Phật Thích Ca hay một vị Bồ Tát nào đó dạy một “pháp” rất lớn, rất vi diệu.
• Phạm thiên, lấy từ chữ Brahman trong Ấn giáo, là vua của một cõi trời.
• Chữ emptiness trong bản tiếng Anh được dịch ở đây với hai chữ khác nhau ở hai nơi: “Không”, và “tĩnh lặng” (khi Tu-bồ-đề ngồi dưới gốc cây).
“Không” là tất cả vũ trụ của ta (cả nội tâm lẫn ngoại tại).
“Tĩnh lặng” là một trạng thái nội tâm.
Trạng thái nội tâm của ta (tĩnh lặng, emptiness) cũng chính là vũ trụ của ta (Không, emptiness). Đây là một mệnh đề triết lý có thể được lý giải bằng những lý luận và từ ngữ triết lý phức tạp. Nhưng chúng ta có thể giản dị hóa vấn đề bằng quan sát rằng: “Khi tâm ta cực kỳ tĩnh lặng thì ta thấy thế giới quanh ta cực kỳ tĩnh lặng.”
Tức là, Vũ trụ ta thấy là do tâm ta thấy như vậy. Đây là quan niệm chủ quan về hiện hữu—Hiện hữu quanh ta chỉ có thể thấy được như tâm ta thấy.
Tức là, Vũ trụ mà ta thấy chỉ là lý giải của tâm ta về vũ trụ ta nhìn.
Nghĩa là, mỗi người chúng ta “thấy” một vũ trụ, và vũ trụ ta thấy thì khác với vũ trụ người khác thấy.
Và nếu tôi không hiện hữu (ví dụ, tôi chết đi) thì vũ trụ tôi thấy cũng chết theo tôi. Không có tôi thì vũ trụ của tôi không hiện hữu.
Không có những người khác, thì những vũ trụ của họ cũng không hiện hữu.
Cho nên ta nói “Vũ trụ là do tâm ta sinh ra.” Nếu ta chết, vũ trụ của ta chết theo.

• Nhưng, dù là chúng ta chỉ có được cái nhìn chủ quan về hiện hữu thì hiện hữu vẫn phải “có” đó một cách khách quan, trong một dạng nào đó, dù là không ai nắm bắt được khách quan tính của nó. (Ngay cả nói nó “có” đó một cách khách quan cũng đã là sai rồi, vì “có” là hiện hữu, mà hiện hữu nào thì cũng chỉ là cái nhìn chủ quan méo mó, không bảo đảm, của tôi).
Ta gọi tính khách quan của vũ trụ là Không, vì không diễn tả được cách nào cả, ngoài việc dùng tạm tên “Không”; nếu diễn tả bằng ngôn từ, thì ngôn từ sẽ biến Không thành “lý giải chủ quan của hiện hữu” mất rồi.
• Đó là ý nghĩa của câu: “Không có gì hiện hữu ngoại trừ trong liên hệ chủ quan và khách quan của nó.”
Không có gì hiện hữu đối với tôi ngoại trừ trong liên hệ chủ quan giữa nó với tôi—cái nhìn chủ quan của tôi về nó.
Không có gì hiện hữu với tôi ngoại trừ trong liên hệ giữa hình ảnh chủ quan của nó trong tâm trí tôi và một suy luận chủ quan của tôi là nó phải hiện hữu khách quan một cách nào đó (để tôi có thể nhìn và thấy nó một cách chủ quan).
Ngoài những cái nhìn chủ quan (méo mó) và suy luận chủ quan (méo mó) của tôi về chủ quan và khách quan, thì chẳng thể nói gì chính xác về hiện hữu cả.
Bên ngoài và bên trên những cái nhìn và suy luận này thì cùng lắm chỉ có một “cái” chính xác nhưng lại không diễn tả được–đó là Không, cái khách quan tính của hiện hữu mà vĩnh viễn tôi không thể nào mô tả hoặc nắm bắt được.
• Vì không thể mô tả và nắm bắt “Không” được, nên Tu-bồ-đề đã chẳng nói gì về Không, và chư thiên đã chẳng nghe gì về Không, và như thế Không là Không.
• Liên hệ chủ quan và khách quan là các từ triết lý tây phương. Ở Đông phương, người ta thường nói đến “tánh” (khách quan) và tướng (chủ quan), hay “thể” (khách quan) và “dụng” (chủ quan).
• Đây là vũ trụ quan của Phật giáo. Và đồng thời cũng là nhân sinh quan, khi Tu-bô-đề ở trong “subtime emptiness” (“cái Không vi diệu”, mà chúng ta đã dịch là “cực kỳ tĩnh lặng”).
(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.
Flower Shower
Subhuti was Buddha’s disciple. He was able to understand the potency of emptiness, the viewpoint that nothing exists except in its relationship of subjectivity and objectivity.
One day Subhuti, in a mood of sublime emptiness, was sitting under a tree. Flowers began to fall about him.
“We are praising you for your discourse on emptiness,” the gods whispered to him.
“But I have not spoken of emptiness,” said Subhuti.
“You have not spoken of emptiness, we have not heard emptiness,” responded the gods. “This is true emptiness.” And blossoms showered upon Subhuto as rain.
# 36
Chào các bạn,
Không là Tết nếu không có Ông Đồ Già của Vũ Đình Liên. Dù rằng ngày nay ta có nhiều ông đồ trẻ viết thư pháp.
Mỗi dịp Tết về, đọc lại Ông Đồ Già để bùi ngùi cho một thời đã qua hay đang qua. Thay đổi và tiến hóa, dù là luật tự nhiên, cũng không khỏi làm ta bồi hồi mỗi khi ký ức vọng lại.
Mình đã dịch bài Ông Đồ Già sang tiếng Anh vài năm trước, hôm nay lại biên tập thêm một tí và post lại đây chia sẻ với các bạn.
Chúc cả nhà một mùa xuân đỏ như giấy thư pháp!
Hoành
.
Each year when the plum blossoms flowered
Back here came the old master
Spreading red scrolls and Chinese ink
At this busy street corner
Buyers of calligraphies
Many whispered admiringly
“The fine hand moves the brush
Like phoenix dances and dragon flies.”
But each year the guests came fewer
Where had they gone, those old admirers?
Red paper grieved and dulled
Black ink dried up in the forlorn bowl…
The old master still sat there
But passers-by no longer cared
Dead leaves dropped on the scrolls
Over the sky a mist rain blowed
This year the plum blossoms again flower
But the old master is here no longer
All the folks of yesterdays
Where do their souls now stay?
.

Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ông đồ già
Bày mực tàu giấy đỏ
Bên phố đông người qua
Bao nhiêu người thuê viết
Tấm tắc ngợi khen tài
“Hoa tay thảo những nét
Như phượng múa rồng bay”.
Nhưng mỗi năm mỗi vắng,
Người thuê viết nay đâu ?
Giấy đỏ buồn không thấm
Mực đọng trong nghiên sầu …
Ông đồ vẫn ngồi đấy,
Qua đường không ai hay.
Lá vàng rơi trên giấy,
Ngoài giời mưa bụi bay.
Năm nay đào lại nở,
Không thấy ông đồ xưa.
Những người muôn năm cũ,
Hồn ở đâu bây giờ ?
Chào các bạn,
Còn vài ngày nữa là Tết, tức là ngày đầu tiên chính thức của mùa Xuân, mùa tái sinh. Mặt trời lên. Nụ non hé mở. Muôn hoa khoe sắc thắm. Nàng Đất vươn vai đứng dậy sau giấc ngủ đông dài. Và loài người chào đón năm mới với suối nguồn hi vọng mới.

Nhưng, năm mới chỉ là biểu tượng, vì thực sự chúng ta tái sinh trong từng sát na của cuộc sống. Chúng ta luôn thay đổi, không ngừng. Thỉnh thoảng mới có vài sự kiện lớn—hoặc là một khải ngộ lớn, hoặc một tai nạn lớn—làm ta thay đổi đột ngột, một phút sau hoàn toàn khác hẳn một phút trước. Ngoài vài sự kiện lẻ loi đó, chúng ta thay đổi tí ti nhưng thường trực trong đời, trong từng hơi thở. Mỗi sát na–một đơn vị thời gian nhỏ nhất mà ta có thể tưởng tượng được—là một cuộc tái sinh, con người cũ của ta chết đi và con người mới ra đời. Mỗi giây đồng hồ, từ 200 ngàn đến 3 triệu tế bào trong cơ thể chúng ta chết đi và được thay thế bằng tế bào mới. Sau một giây đồng hồ, ta đã là con người mới với ngần ấy tế bào mới. Đời ta là một chuỗi của vô lượng cuộc tái sinh như thế, cũng như một đường kẻ thẳng chỉ là một chuỗi các điểm chấm nẳm sát nhau.
Và cuộc đời chung của vũ trụ cũng thế. Vạn vật thay đổi không ngừng, trong từng sát-na của cuộc đời. “Không ai tắm hai lần trong một dòng sông,” triết gia Hy Lạp Heraclitus nói.
Như vậy có nghĩa là ta không cần phải đợi đến đầu xuân mới hi vọng vào tái sinh. Lửa phục sinh hằng sống trong ta trong từng hơi thở. Mầm hi vọng, mầm sống mới, vẫn luôn luôn hiện hữu trong ta.

Ta có thể điều hướng được tái sinh của cơ thể cũng như tái sinh của tinh thần. Nếu ta cứ để tinh thần tự chết tự tái sinh không kiểm soát, thì chỉ trong một thời gian ngắn, con người mới của chúng ta có thể đã đầy dẫy hoài nghi, đố kỵ, ganh tị, chua chát, cay đắng… Chỉ cần mỗi ngày nghe tin trộm cắp lừa bịp trên báo chí và nghe bạn bè giáo dục nhau “muốn sống thì phải ‘hiểu đời’ và rành đòn phép”, thì đương nhiên là ta sẽ tái sinh vào bóng tối mà chẳng cần làm gì cả.
Tuy nhiên, nếu mỗi ngày ta đều mang sự sáng đến cho tâm trí—tình yêu, lòng tin, nụ cười, lạc quan, hi vọng—thì đương nhiên là mỗi tái sinh của ta cũng đều vào trong nguồn sáng.
Đây một công thức sống rất giản dị và dễ hiểu: Nếu cứ để tâm trí ta tự thay đổi, tự tái sinh, có khả năng lớn là tâm trí ta sẽ “lớn lên” vào bóng tối. Muốn tâm trí trưởng thành trong nguồn sáng, ta phải mang ánh sáng đến cho tâm trí hàng ngày.
Điều này rất giống tập thể dục để điều hướng tái sinh của cơ thể. Nếu chẳng làm gì cả để cơ thể tự phát triển, thì có khả năng cao là ta sẽ có một cơ thể phì nộn nặng nề bệnh hoạn. Nếu muốn một cơ thể khỏe mạnh thon thả, ta phải tập thể dục hay chơi thể thao thường xuyên.
Trưởng thành trong tư duy tích cực đòi hỏi phân bón tư duy tích cực mỗi ngày cho tâm trí. Không thể không chăm bón.
“Tư duy tích cực”, và “mỗi ngày.”
Chúc các bạn một ngày vui.
Mến,
Hoành
© copyright 2010
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com
Chào người bạn đang dập vùi trong cơn bão,
Khi còn bé chúng ta thường được dạy các ảo tưởng như: khi hoàng tử đẹp trai anh hùng, chiến đấu thắng bao nguy hiểm, gặp công chúa ngủ trong rừng, hôn đánh thức nàng dậy, và, tađa…, “cả hai sống hạnh phúc vui vẻ đến trọn đời.” Hay, toàn dân đoàn kết chống rồng trăm đầu, diệt được rồng, chàng nông dân anh dũng lãnh đạo được vua gã con gái, nhân dân vui hưởng thái bình muôn đời…

Các chuyện cổ tích thế này tạo cho chúng ta một ảo tưởng là trong đời sống có một thời điểm nào đó, khi cái thiện toàn thắng cái ác, thì hạnh phúc sẽ đến vĩnh viễn. Nhưng, sự thật thì, cái thiện có thể thắng cái ác, hạnh phúc có thể đến, nhưng chẳng có gì là vĩnh viễn. Mới mưa cả tháng, hôm nay mới được thấy nắng, đâu được mấy ngày, một trận mưa khác lại từ đâu kéo đến. Đó là chuyện thường.
Bản chất của cuộc đời là thế: Đời là một dòng sông với nhiều khúc quanh khúc thẳng, khi dịu dàng khi ghềnh thác, chẳng nói trước được. Và chẳng có điều gì có thể thay đổi bản chất đó của đời sống.
Nhận xét này đưa đến hai hệ luận sau đây:
• Đời có lên có xuống, có vui có buồn, có dịu êm có bão tố. Khi gặp chuyện buồn, chuyện đau khổ, là phải buồn, phải đau khổ. Đó là lẽ đương nhiên. Chẳng phải lỗi tại mình. Cho nên đừng trách mình.
Ngay cả thánh nhân cũng stress, cũng buồn. Kinh thánh kể rất nhiều lần chúa Giêsu khóc. Có thể là thánh nhân khóc vì người khác nhiều hơn, và chúng ta khóc vì chính mình nhiều hơn. Nhưng điếm chính là mọi người đều có những phút giây buồn thảm và đau khổ. Đó là chuyện thường. Không cần phải tự trách mình là yếu công lực.
• Tư duy tích cực cũng chẳng giảm được số lượng rắc rối đau khổ bạn gặp trong đời. Nếu ta sống tốt quá và mọi người chung quanh ta đều mến ta, nên ta ít có rắc rối, có thể là ta sẽ bắt đầu quan tâm đến các vấn đề lớn của xã hội và, do đó, đụng đầu các đại gia tham nhũng hay trùm mafia bóc lột. Stress lớn hơn mà thôi.

Cho nên, muốn mạnh mẽ và yêu đời, bạn phải thấy được chân lý là chẳng ai không bị rắc rối, không bị đau khổ, không bị stress trên đời cả. Bạn chẳng phải là ngoại lệ. (Họa chăng là mỗi người có một loại rắc rối, một loại đau khổ khác nhau).
Và dù là rắc rối loại nào thì rắc rối cũng luôn luôn là một cơn bão nhồi dập thuyền ta. Việc của ta là lèo lái trong cơn bão để không bị nhấn chìm.
Người đau khổ đã nhiều sẽ có nhiều kinh nghiệm lèo lái hơn người chưa gặp nhiều đau khổ. Một lần đau khổ là một lần kinh nghiệm bão tố.
Cho nên, nếu bạn trong cơn bão thì hãy xem như là bạn đang trong một cuộc chiến chống bão, xong cuộc, bạn sẽ mạnh hơn và kinh nhiệm hơn một bậc.
Chẳng ai trong chúng ta muốn xung phong gặp bão. Nhưng nếu phải gặp, thì phải biết lèo lái chống chọi mà thôi.
Vì vậy, bạn cũng đừng ngại tỏ lộ yếu đuối của mình trong cơn bão, với bạn bè thân quen. Chẳng ai mạnh mẽ trong cơn bão. Khi gặp bão, mỗi người chúng ta chỉ mà một mảnh vụn nhỏ xíu mà cuồng phong và sóng dữ nhồi dập như bọt biển. Không có siêu nhân. Chỉ có người sống sót và người không sống sót.
Xác nhận là mình đang đau khổ, xác nhận là mình quá yếu sức đối với cơn bão, nói thẳng với mình như thế, nói với bạn bè như thế, nói với Chúa Phật như thế; đó là phương cách gia tăng sức mạnh và khả năng chống bão. Trực diện với cái yếu của mình sẽ làm cho nó mạnh thêm. Đồng cảm từ bạn bè và Chúa Phật của mình sẽ làm mình mạnh thêm.

Trong Vườn Chuối này, chúng ta thường chia sẻ với nhau các đau nhức của con tim như thế, cho nên đó không phải là chuyện lạ. Rất nhiều bạn đến với Vườn Chuối vì trong lòng không yên ổn, muốn tìm một nơi có ánh sáng bình an. Ở đây chẳng ai biết làm phép lạ, và cũng không có siêu nhân. Nhưng chúng ta có đồng cảm, có thể thấu hiểu những đớn đau của bạn và những yếu đuối của bạn, vì tất cả chúng ta ở đây đều đớn đau và yếu đuối. Và chúng ta có thể hiểu được rất sâu xa cố gắng chiến đấu của bạn vì tất cả chúng ta ở đây đều là những người thường xuyên chiến đấu với bão tố đời mình.
Và dù là bạn có lèo lái kiểu nào thì chẳng ai nói là bạn làm sai cả, vì tất cả chúng ta đều biết giữa cơn bão thì chẳng thể nói đúng hay sai, mà chỉ nói “Hãy cố gắng hết sức mình.”
Và nếu không ai trong chúng ta có thể giúp bạn được điều gì, thì ít nhất bạn cũng nhận được vài câu an ủi và một lời cầu nguyện.
Ngày mai trời lại sáng.
Chúc tất cả các bạn một ngày vui.
Mến,
Hoành
© copyright 2010
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com
Chào các bạn,

Trong Mùa Lễ Hội có lẽ các bạn nghe thường xuyên câu “Vinh danh thiên chúa trên các tầng trời”. Câu này là câu đầu tiên trong một đoạn kinh rất nền tảng và rất nổi tiếng, có từ thời thế kỷ 1, gọi là Kinh Vinh Danh (Gloria).
Gloria đã là nguồn hứng khởi của rất nhiều nhạc sĩ lớn của thế giới phương tây–Mozart, Bach, Vivaldi… và có lẽ sẽ tiếp tục là nguồn hứng khởi của nhiều nhạc sĩ trong tương lai.
Chúng ta đã quen thuộc với Antonio Vivaldi qua bài Four Seasons. Vivaldi đã viết Gloria thành một bản đại hòa tấu nhiều đoạn, mỗi đoạn là một câu kinh. Đây là một viên ngọc quý trong kho tàng âm nhạc cổ điển thế giới.
Hôm nay chúng ta có thể nghe toàn bản đại hòa tấu 12 khúc này ở đây. Sau đây là lời kinh bằng tiếng La Tinh và tiếng Việt. Sau đó chúng ta sẽ xem các video nhạc.
Gloria in excelsis deo
Et in terra pax hominibus bonae voluntatis
Laudamus te
Benedicimus te
Adoramus te
Glorificamus te
Gratias agimus tibi propter magnam gloriam tuam
Domine Deus, Rex caelestis, Deus Pater omnipotens
Domine fili unigenite, Jesu Christe
Domine Deus, Agnus Dei, Filius patris
Qui tollis peccata mundi, miserere nobis
Qui tollis peccata mundi suscipe deprecationem nostram
Qui sedes ad dexteram patris miserere nobis
Quoniam tu solus sanctus
Tu solus Dominus
Tu solus Altissimus, Jesu Christe
Cum Sancto Spiritu in gloria Dei Patris.
Amen.
Kinh Vinh Danh
Vinh danh Thiên Chúa trên các tầng trời,
và bình an dưới thế cho người thiện tâm.
Chúng con ca ngợi Chúa, chúng con chúc tụng Chúa,
chúng con thờ lạy Chúa, chúng con tôn vinh Chúa,
chúng con cảm tạ Chúa vì vinh quang cao cả Chúa.
Lạy Chúa là Thiên Chúa, là Vua trên trời,
Là Chúa Cha toàn năng.
Lạy Con Một Thiên Chúa, Chúa Giêsu Kitô,
Lạy Chúa là Thiên Chúa, là Chiên Thiên Chúa
là Con Đức Chúa Cha.
Chúa xóa tội trần gian, xin thương xót chúng con;
Chúa xóa tội trần gian, xin nhậm lời chúng con cầu khẩn.
Chúa ngự bên hữu Đức Chúa Cha, xin thương xót chúng con.
Vì, lạy Chúa Giêsu Kitô, chỉ có Chúa là Đấng Thánh,
chỉ có Chúa là Chúa, chỉ có Chúa là Đấng Tối Cao,
cùng Đức Chúa Thánh Thần trong vinh quang Đức Chúa Cha .
Amen.
.
Vivaldi – Gloria – 1 – Gloria in excelsis Deo – Vinh danh Thiến Chúa trên các tầng trời -King’s College Choir
.
Vivaldi – Gloria – 2 – in terra pax hominibus bonae voluntatis – và bình an dưới thế cho người thiện tâm (Performed by/Interpretado por: Orchestre de chambre de Lausanne).
.
Vivaldi – Gloria – 3 – Laudamus te, Benedicimus te, Adoramus te, Glorificamus te – Chúng con ca ngợi Chúa, chúng con chúc tụng Chúa, chúng con thờ lạy Chúa, chúng con tôn vinh Chúa – Orchestre de chambre de Lausanne
.
Vivaldi – Gloria – 4 – Gratias agimus tibi – chúng con cảm tạ chúa – (Sung by: Orchestre de chambre de Lausanne)
.
Vivaldi – Gloria – 5 – Propter magnam gloriam tuam – vì vinh quang cao cả chúa – (King’s College Choir)
.
Vivaldi – Gloria – 6 – Domine Deus, Rex caelestis, Deus Pater omnipotens – Lạu chúa là Thiên Chúa, là vua trên trời, là chúa cha toàn năng – (Sung by: Orchestre de chambre de Lausanne)
.
Vivaldi – Gloria 7 – Domine fili unigenite, Jesu Christe – Lạy con một Thiên Chúa, chúa Giêse Kitô – (Sung by: Orchestre de chambre de Lausanne)
.
Vivaldi – Gloria – 8 – Domine Deus, Agnus Dei, Filius patris, Qui tollis peccata mundi, miserere nobis – Lạy Chúa là Thiên Chúa, là chiên Thiên Chúa, là con Đức Chúa Cha, chúa xóa tội trần gian, xin thương xót chúng con – (Sung by: Orchestre de chambre de Lausanne)
.
Vivaldi – Gloria – 9 – Qui tollis peccata mundi suscipe deprecationem nostram – Chúa xóa tội trần gian, xin nhậm lời chúng con cầu khẩn – (Sung by: John Alldis Choir)
.
Vivaldi – Gloria 10 – Qui sedes ad dexteram patris miserere nobis – Chúa ngự bên hữu Đức Chúa Cha, xin thương xót chúng con – (Director: Rinaldo Alessandrini Concerto Italiano 1998)
.
Vivaldi – Gloria 11 – Quoniam tu solus sanctus, Tu solus Dominus, Tu solus Altissimus, Jesu Christe – Vì, lạy Chúa Giêsu Kitô, chỉ có Chúa là Đấng Thánh, chỉ có Chúa là Chúa, chỉ có Chúa là Đấng Tối Cao.
.
Vivaldi – Gloria 12 – Cum Sancto Spiritu in gloria Dei Patris, Amen – cùng Đức Chúa Thánh Thần trong vinh quang Đức Chúa Cha . Amen – (John Alldis Choir)
Chào các bạn,

Câu hỏi Nghiên Cứu Xã Hội tuần này là:
Khả năng đặt câu hỏi của sinh viên và học sinh Việt Nam thế nào?
Và 5 câu trả lời là:
Rất khá
Hơi khá
Được được
Hơi thấp
Rất thấp
Các bạn trả lời đông đủ nhé 🙂
Hoành
Chào các bạn,
Các bạn giáo chức, hay làm cha mẹ, đều có một kinh nghiệm này: Có những điều mình biết, đã tốn nhiều năm học hỏi và trải nghiệm, và đôi khi trả giá rất đắt cho bài học, và mình muốn truyền lại kinh nghiệm đó cho học trò hay con em. Nhưng hầu như là không thể. Nói gì thì nói, học trò con em vẫn hiều được từng chữ mình nói, nhưng thật ra vẫn chẳng hiểu gì. Rốt cuộc vẫn vấp vào những lầm lỗi mà mình đã mong là con em không vấp phải nhờ có mình dẫn đường. Và đôi khi mình rất ấm ức về chuyện đó.

Thật sự thì chúng ta không thể truyền kinh nghiệm cho nhau. Hoặc nếu có thể, thì chỉ là một ảnh hình rất mờ ảo của kinh nghiệm thật. Nếu một người chưa bao giờ bị phỏng trong đời, làm sao để người ấy biết phỏng thì rất rát và đau, cho đến khi chính người ấy bị phỏng. Làm sao diễn tả được tình yêu là gì cho một cậu bé chưa hề biết yêu, cho đến khi cậu ấy gặp được người yêu. Làm sao cho một người hiểu được quyền năng của tư duy tích cực, cho đến khi người ấy chăm chỉ thực hành tư duy tích cực.
Tính bất khả chuyển nhượng của trực nghiệm làm cho đường đời của mỗi cá nhân, cũng như mạch sống của xã hội. lởm chởm gai góc, như là không cần thiết. Chưa kinh nghiệm thì hay làm sai, người có kinh nghiệm truyền dạy cũng hầu như vô ích, phải chính mình trầy vi tróc vảy mới trưởng thành, khi trưởng thành dạy lại người trẻ hơn, chỉ để thấy họ cứ làm sai như mình hồi nhỏ… Dòng đời quay tròn quay tròn như thế.
Thế thì làm sao chúng ta có thể thoát ra được vòng lẫn quẩn này?
Thưa, chẳng làm sao thoát ra được cả. Vì thế mới có “khoảng cách giữa hai thế hệ.”
Tuy nhiên, chúng ta có thể làm dịu khoảng cách bằng cách làm cho khoảng cách trở thành hữu ích thay vì xung đột. Điều này có thể đạt được nếu:

• Những người lớn tuổi biết rằng tuổi trẻ là phải khai phá, phải bước những bước tiền phong đầy hiểm nguy cạm bẩy, cũng như mình thời còn trẻ. Và chính những bước khai phá hiểm nguy rình rập đó là con đường trưởng thành, như mình đã trưởng thành.
• Người lớn tuổi biết rằng tuổi trẻ trưởng thành với những thời đại mới, triết lý mới, văn hóa mới, nghệ thuật mới, tư duy mới… và do đó có thể làm thầy mình về những cái mới.
• Ngưởi lớn tuổi biết rằng người nhỏ tuổi thường hỏi mình “Tại sao cái này làm thế này?” và nếu mình không trả lời thỏa đáng được thì mình nên xét lại phương cách của mình.
Người trẻ cũng thường hỏi “Tại sao cái này không làm như thế này?” và nếu người lớn không trả lời thỏa đáng được thì cũng nên xét lại là có nên làm theo cách mới không?
• “Tam nhân đồng hành tất hữu ngã sư” Ba người đi cùng thì có một thầy. Câu này chẳng nói ai là thầy cả. Ai cũng là thầy được. Tùy chuyện. Cho nên người lớn tuổi có nhận được người trẻ hơn (như là học trò hay con cái của mình) là thầy của mình trong một chuyện nào đó không?

• Người nhỏ tuổi có đủ thông thái để thấy là người lớn tuổi hơn có thể thấy một vấn đề mà mình không thấy sâu bằng, để tự hỏi “Đâu là điều sâu sắc trong câu nói của anh ấy, mà mình chưa kịp thấy?”
• Khi cảm thấy như mình cũng có lý 50% và anh ấy (lớn tuổi hơn) cũng có 50%, người trẻ tuổi có nghĩ “Có lẽ mình nên nhường anh ấy một tí và nên nghĩ kỹ hơn về điều anh ấy nói, vì nếu hai bên ngang nhau thì có thể là anh ấy thấy đúng hơn mình, vì có thể có điều mình chưa hiểu thấu.”?
** Trên đây chúng ta nói đến khoảng cách tuổi tác, vì nó là vấn đề thường xuyên nhất trong xã hội. Nhưng chúng ta có nhiều khoảng cách khác giữa con người, mà giải pháp cũng đòi hỏi tư duy tương kính và ham học hỏi như khoảng cách tuổi tác, như là: khoảng cách giữa người Kinh và người dân tộc thiểu số, giữa các tôn giáo, giữa người có tôn giáo và người không tôn giáo, giữa người được đào tạo ngoài nước và đào tạo trong nước, giữa những người ủng hộ các chủ thuyết kinh tế xã hội chính trị khác nhau…
Cũng như khoảng cách tuổi tác, những loại khoảng cách khác đòi hỏi chúng ta biết tương kính nhau, biết nhận nhau làm thầy, và biết học hỏi điều mới.
Chỉ cần ngồi suy nghĩ chừng 5, 7 phút là ai cũng có thể thấy rất rõ là xã hội chúng ta, quốc gia của chúng ta, thế giới của chúng ta có quá nhiều khoảng cách đủ loại. Tư duy tích cực là xóa tan các khoảng cách càng nhiều càng tốt.
Tất cả mọi người trên thế giới đều là anh em, đều là con của Thượng đế.
Tất cả mọi người trên thế giới đều liên hệ với nhau chặt chẻ trong MỘT đại dương sự thật gọi là Phật tính.
Tất cả mọi người Việt đều là anh em của cha Lạc Long Quân và mẹ Âu Cơ.
Tình yêu anh em là cầu nối tất cả mọi người qua mọi khoảng cách. Nếu ta luôn nhớ đến nền tảng tình yêu này, tự nhiên ta biết làm thế nào để biến khoảng cách thành sức mạnh.
Chúc các bạn một ngày vui.
Mến,
Hoành
© copyright 2010
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com
Chào các bạn,
Ngày chúa nhật 7.2.2010 là lễ thôi nôi, sinh nhật 1 tuổi, của Đọt Chuối Non.
Năm đầu tiên luôn luôn là năm mệt mỏi nhất, và ĐCN đã lớn nhanh như nấm trong vòng một năm qua. Đương nhiên đó là do công sức của tất cả các Đọt Chuối lớn nhỏ trong vưởn, cũng như nhịêt tình ủng hộ của các fans. Chúng ta nên vỗ vai nhau tự chúc mừng mình một tiếng, và gởi lời cám ơn đến các fans của chúng ta khắp nơi.

Đọt Chuối Non là “tư duy tích cực mỗi ngày”. So với ba bài đầu tiên của posting ngày 7.2.2009 – Nửa ly nước (Trà Đàm), Cái gì làm ra mình (Danh Ngôn), và Đứng dậy đi tiếp (Tin Sáng) – với 2 admins – TĐHoành và NMHiển – ngày nay chúng ta có từ 8 đến 12 bài mỗi ngày, với một nhóm tác giả gần 40 người, và mức bạn đọc cũng đã vượt mốc 4 ngàn pageviews một ngày. Các bài viết đa dạng và phong phú hơn rất nhiều, và sẽ tiếp tục đa dạng và phong phú thêm.
Dù vậy, gốc cuả chúng ta là “Tư duy tích cực mỗi ngày”, cho nên dù đa dạng hoá và phong phú hoá đến thế nào, chúng ta cũng sẽ không quên tư duy tích cực là gốc.
Hiện tượng bất ngờ lớn nhất, hoàn toàn không có trong kế hoạch ban đầu, là Daklak Gang do Huỳnh Huệ điều động. Chị Huệ biết đến ĐCN qua admin Thuỳ Dương và gởi bài cho ĐCN. Bài đầu tiên là Khắc phục những suy nghĩ tiêu cực, đăng ngày 22.2.2009. Một thời gian sau Huệ thành admin của ĐCN, và ngay sau đó là hiện tượng xuất hiện—các học sinh của Huệ góp tay vào việc dịch và trau dồi Anh ngữ ồ ạt, rồi từ từ các văn nghệ sĩ chuyên nghiệp của Daklak tham dự đông đảo, đến nỗi Đọt Chuối Non ngày nay trông giống như Đaklak Chuối Nướng. 🙂 Một phần nào cơ duyên với Daklak cũng nhờ mình và Phượng có thân tình với chị Linh Nga, chị Hoàng Thiên Nga, và các bạn Daklak nhiều năm trước. Nhưng rõ ràng là nếu không có chị Huỳnh Huệ thì Đọt Chuối Non đã không có Daklak Gang.

Trong tương lai, ngoài việc tiếp tục cải tiến những phần việc chúng ta đang làm, chúng ta có một số vấn đề đáng suy nghĩ:
• Dùng những tài năng có sẵn của Đọt Chuối Non vào các công việc cụ thể để phát triển văn hoá nước nhà—như là, phát hành sách của tác giả ĐCN, giới thiệu văn hoá Việt Nam ra thế giới bên ngoài bằng tiếng Anh, v.v…
• Nghiên cứu cách thảo luận các vấn đề kinh tế, giáo dục, môi trường, xã hội lớn của đất nước một cách tích cực và không bị rơi vào các tiêu cực trong thảo luận, như ta thường thấy trong các thảo luận về các vấn đề xã hội trên Internet.
Dù là làm gì đi nữa, thì chúng ta cũng sẽ không quên gốc của chúng ta là “Tư Duy Tích Cực Mỗi Ngày.”
Cám ơn tất cả các Bạn Chuối lớn nhỏ cao lùn đã cùng nhau vui đùa và gắng công làm việc trong năm qua.
Hãy cùng nhau bước về hướng mặt trời. 🙂
Mến,
Hoành
Thiền sinh học với thầy tối thiểu là hai năm trước khi được cho dạy người khác. Tenno vừa xong chương trình tập sự và mới thành thầy dạy. Tenno đến thăm Nan-in. Trời mưa nên Tenno mang guốc gỗ và dù. Sau khi chào hỏi, Nan-in nói: “Chắc thầy để guốc và dù ở trong căn phòng đằng trước. Tôi muốn biết thầy để dù ở phía bên phải hay bên trái đôi guốc.”

Tenno, lúng túng, không có câu trả lời. Chàng nhân ra là chàng đã không thể hành thiền trong từng phút. Tenno trở thành học trò của Nan-in, và học thêm sáu năm nữa để đạt được Thiền từng phút.
Bình:
Thiền sư Tào Động Daizui MacPhillamy của Edmonton Buddhist Meditation Group ở Edmonton, Alberta, Canada, viết ngày 4.4.2006 về “Thiền từng phút” như sau:
Thiền không phải là điều giới hạn trong vài lần ta ngồi thiền định một ngày. Ta có thể mang tâm thiền của ta vào đời sống hàng ngày, với một cách sống ta gọi là “tập trung”, hay “thiền khi làm việc” hay “Thiền từng phút”. Các trường phái Phật giáo có nhiều cách khác nhau để thực hành. Sau đây là cách của [Tào Động] chúng tôi. Cách này cực kỳ giản dị và chẳng đòi hỏi gì ngoài quyết tâm kiên trì thực tập nó. Thiền này có thể tóm tắt trong 5 bước.
1. Chỉ làm một lúc một việc.
2. Chú tâm hoàn toàn vào việc đang làm.
3. Nếu tâm trí của bạn lang thang qua việc khác, kéo nó lại.
4. Thực tập bước số 3 khoảng vài trăm nghìn lần.
5. Và, khi tâm trí của bạn cứ lang thang đến một vấn đề hoài hoài, ngừng một tí và để ý
đến vấn đề “quấy phá” đó: Có thể là nó đang cố gắng nói điều gì đó với bạn.
(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.
Every-Minute Zen
Zen students are with their masters at least two years before they presume to teach others. Nan-in was visited by Tenno, who, having passed his apprenticeship, had become a teacher. The day happened to be rainy, so Tenno wore wooden clogs and carried an umbrella. After greeting him Nan-in remarked: “I suppose you left your wooden clogs in the vestibule. I want to know if your umbrella is on the right or left side of the clogs.”
Tenno, confused, had no instant answer. He realized that he was unable to carry his Zen every minute. He became Nan-in’s pupil, and he studied six more years to accomplish his every-minute Zen.
# 35
Chào các bạn,
Có lẽ ai trong chúng ta cũng đã nghe qua bản The Green Leaves of Summer – Những chiếc lá xanh của mùa hạ — dù là ta có thể không biết tên bản nhạc. Đây là một trong những bản nhạc nền của phim The Alamo, do John Wayne đóng vai chính, năm 1960.

The Alamo, tên cũ là Nhà Dòng Thánh An-tôn của Valero, là một nhà dòng công giáo, do Tây Ban Nha dựng nên hồi thế kỷ 18 để giáo dục người da đỏ mới theo đạo, nằm trong vùng ngày nay là thành phố San Antonia, tiểu bang Texas.
Continue reading The Green Leaves of Summer – Lá Xanh Mùa Hạ
Mokugen được xem là không bao giờ cười, cho đến ngày cuối cùng trước khi chết. Khi giờ chết đã gần kề, thiền sư nói với các đệ tử: “Các con đã học với thầy hơn 10 năm. Hãy cho thầy thấy cách các con biểu hiện Thiền. Ai trình bày được điều đó rõ ràng nhất sẽ là người kế vị thầy và nhận y bát của thầy.”

Mọi người nhìn khuôn mặt nghiêm trọng của Mokugen, nhưng không ai trả lời.
Encho, một đệ tử đã theo thầy nhiều năm, bước đến bên giường. Encho đẩy chén thuốc đến trước vài phân. Đây là câu trả lời của Encho cho câu hỏi của thầy.
Khuôn mặt của thầy càng thêm nghiêm trọng. “Con chỉ hiểu vậy thôi sao?” thầy hỏi.
Encho với tay và đẩy chén thuốc ngược lại chỗ cũ.
Một nụ cười đẹp nở trên mặt Mokugen. “Thằng nhóc này,” thầy nói với Encho. “Con ở với thầy mười năm và vẫn chưa thấy cả người của thầy. Lấy y bát của thầy đi. Nó là của con.”
Bình:
• Truyền y bát là truyền áo và bát (khất thực) lại cho người thừa kế.
• Chỉ một cử chỉ đẩy chén thuốc giản dị. Rất khó cho người ngoài cuộc biết được ý của hai người. Ta chỉ có thể đoán mà không thể chắc.
Đẩy chén thuốc đến trước, có thể có hai ý nghĩa hơi khác nhau:
1. “Đây là câu trả lời của con. Thầy uống thuốc đi.”
2. Nhưng có thể là Encho chẳng trả lời gì cả, chẳng hề quan tâm đến câu hỏi của thầy, mà chỉ đẩy thuốc cho thầy vì thầy đang bệnh: “Thầy uống thuốc đi.”
Số (1) có nghĩa là: “Câu trả lời của con là ‘sống ở đây, lúc này.’ Thầy đang bịnh thì uống thuốc.”
Số (2) có nghĩa là Encho không trả lời gì cả, không hề quan tâm đến câu hỏi một tí nào. Encho thực sự đang sống ở đây lúc này, và đang thực sự bảo thầy uống thuốc đi.
• Và thầy hỏi: “Con chỉ hiểu vậy thôi sao?”
Nếu Encho đã có ý trình bày “cái hiểu” trong trả lời Số (1), thì có lẽ là Encho đã gật đầu: “Dạ đúng rồi thầy.”
Nhưng Encho đã chẳng trả lời gì cả, đã chẳng có “ý hiểu” gì trong đầu cả. Encho chỉ đẩy thuốc cho thầy uống, và thầy không uống, cho nên Encho chỉ mang chén thuốc để lại chỗ cũ.
Tức là:
1. Encho có một tâm hoàn toàn rỗng lặng, không hề bận tâm đến chuyện đạt Thiền, hay chuyện thừa kế.
2. Encho chỉ sống “Ở đây, lúc này.” Thầy đang bệnh thì đưa thuốc cho thầy uống. Thầy không uống thì lấy lại. Vậy thôi.
Và đó là Thiền.
(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.
A Smile in His Lifetime
Mokugen was never known to smile until his last day on earth. When his time came to pass away he said to his faithful ones: “You have studied under me for more than ten years. Show me your real interpretation of Zen. Whoever expresses this most clearly shall by my successor and receive my robe and bowl.”
Everyone watched Mokugen’s severe face, but no one answered.
Encho, a disciple who had been with his teacher for a long time, moved near the bedside. He pushed forward the medicine cup a few inches. This was his answer to the command.
The teacher’s face became even more severe. “Is that all you understand?” he asked.
Encho reached out and moved the cup back again.
A beautiful smile broke over the features of Mokugen. “You rascal,” he told Encho. “You worked with me ten years and have not yet seen my whole body. Take the robe and bowl. They belong to you.”
# 34
Mokusen Hiki sống trong một ngôi chùa ở tỉnh Tamba. Một trong những thiền sinh của Mokusen phàn nàn về tính hà tiện của vợ anh ta.

Mokusen đến thăm bà vợ và đưa nắm tay ra trước mặt chị.
“Thầy có ý gì vậy?” chị ta hỏi với ngạc nhiên.
“Giả sử nắm tay tôi cứ như thế này hoài. Chị gọi nó là gì?” thiền sư hỏi.
“Tật nguyền,” chị trả lời.
Rồi thiền sư mở thẳng bàn tay trước mặt chị và hỏi: “Nếu nó cứ như thế này hoài. Thì sao?”
“Cũng tật nguyền,” chị nói.
“Nếu chị hiểu được bao nhiêu đó,” Mokusen kết thúc, “chị là một người vợ tốt.” Rồi thiền sư ra về.
Sau lần viếng thăm của thiền sư, chị vợ giúp anh chồng phân phát cũng như dành dụm.
Bình:

• Bài này không hẳn là chỉ nói đến cách dùng tiền, mà nó còn áp dụng cho mọi lĩnh vực khác của đời sống. Điều gì cực đoan cũng là tật nguyền. Điều gì cũng có chừng mực tự nhiên của nó, cứ vậy mà sống.
• Các thiền sư thường có lối giáo dục rất ấn tượng, khó quên. Thay vì giảng giải lằng nhằng cả nửa tiếng đồng hồ, chỉ một nắm đấm đưa ngay trước mặt, rồi tiếp theo là một bàn tay. Bài học không đến 1 phút, nhưng cực mạnh.
• Trong cả bài giảng, chẳng có chỗ nào chê, chỉ có kết thúc bằng câu “chị là một người vợ tốt”, nhưng bắt đầu bằng chữ “nếu” (“Nếu chị hiểu được bao nhiêu đó”).
Trần Đình Hoành dịch và bình
.
Mokusen’s Hand
Mokusen Hiki was living in a temple in the province of Tamba. One of his adherents complained of the stinginess of his wife.
Mokusen visited the adherent’s wife and showed her his clenched fist before her face.
“What do you mean by that?” asked the surprised woman.
“Suppose my fist were always like that. What would you call it?” he asked.
“Deformed,” replied the woman.
Then he opened his hand flat in her face and asked: “Suppose it were always like that. What then?”
“Another kind of deformity,” said the wife.
“If you understand that much,” finished Mokusen, “you are a good wife.” Then he left.
After his visit, this wife helped her husband to distribute as well as to save.
# 33
Chào các bạn,
Tiếng Anh có câu “Mind over matter” tạm dịch là “tâm trí chỉ huy vậy chất”, tức là tâm trí của ta có sức mạnh chuyển hóa thế giới vật chất quanh ta. Điều này thì mọi người chúng ta đều đã có kinh nghiệm không ít thì nhiều. Ta đã thấy có những người đi đến đâu thì nơi đó có an bình, có người đi đến đâu thì nơi đó có sức mạnh, có người đi đến đâu thì nơi đó có tiếng cười… Thái độ của một người luôn luôn ảnh hưởng và chuyển hóa môi trường chung quanh người đó. Mà nói đến “thái độ” là nói đến “tâm” ta, vì thái độ đi từ trong tâm biểu hiện ta ngoài.

Một anh bạn mục sư thâm niên đã có lần nói với mình: “Thật là lạ thường khi ta cầu nguyện. Khi có vấn đề ta cầu nguyện, nó chẳng ăn nhập gì đến vấn đề. Mọi sự vẫn y như là trước khi ta cầu nguyện. Nhưng sự cầu nguyện ảnh hưởng đến cái nhìn của ta, sau khi cầu nguyện xong, ta nhìn vấn đề một cách hoàn toàn khác, và vấn đề đó trở thành dễ giải quyết hơn rất nhiều.” Nói được như vậy là người đã có rất nhiều kinh nghiệm với cầu nguyện thật sự.
Thiền thì cũng tương tự. Nếu một người đang bị khủng hoảng, thiền định để định tâm bình tĩnh trở lại, thì cơn bão đang đi qua đời anh ta vài phút trước đây có thể bỗng nhiên trở thành cơn gió thoảng mùa xuân.
Đây là điều quan trọng trong khoa học lãnh đạo. Vì nếu lãnh đạo có được đức bình tĩnh mọi nơi mọi lúc, thì các khó khăn lớn cũng thành nhỏ. Lãnh đạo lính quýnh thì chuyện nhỏ thành lớn.
Người ta hay dùng từ bão tố để nói đến những khủng hoảng của con người—cá nhân hay xã hội. Sở dĩ thế vì bão tố làm cho mọi chuyện đổ vỡ, mất trật tự, hỗn loạn, đầu óc mù mờ chẳng biết điều gì đang xảy ra và sắp xảy ra, hiểm nguy rình rập… Nói chung là bão tố thì nhiều nguy hiểm và nhiều cái ta không biết được…—tức là ta đối diện với “cái sợ” và cái “u mê” của ta trong cơn bão.
Sợ và u mê làm ta không thấy đường. Cách duy nhất là ta phải hết sợ (không sợ) và có khả năng nhìn xuyên mọi hỗn loạn để thấy con đường.

Tĩnh lặng tâm trí để thấy đường trong những hỗn loạn hàng ngày, để không hề sợ hãi, đó là mind over matter.
Đa số các khóa học gọi là “giáo dục lãnh đạo” ngày nay, thật ra chỉ là các kỹ năng quản lý, như nói chuyện trước đám đông, lập chương trình làm việc v.v… Đó là quản lý.
Và các rất nhiều lãnh đạo thời nay cũng chỉ là các nhân viên cao cấp với các kỹ năng nhân viên cao cấp. Gần đây chúng ta đã nghe tin bao nhiêu “lãnh đạo” lớn, ngay cả cựu tổng thống, tổng giám đốc công ty xuyên quốc gia… gặp khủng hoảng là… tự tử. Trời! Các “ông lớn” không biểu hiện được một tí tính anh hùng vả khả năng chịu khó nào cả. Có khả năng làm tổng thống, làm tổng giám đốc, thì có khả năng chịu khó khăn, chịu nghèo đói, chịu nhục nhã, chịu chưởi bới, chịu ở tù… Làm gì mà…!
Người tĩnh lặng không biết sợ, không biết nhục, không biết hèn… người tĩnh lặng có thể chỉ nói “Vậy à” trong tất cả mọi tình huống.
Lãnh đạo là dẫn đường. Dẫn đường thì phải thấy đường.
Trong một thế giới nhiều hỗn loạn hàng ngày bởi các biến động kinh tế và chính trị thế giới, bởi các trào lưu tư tưởng xã hội đối chọi nhau tạo thành những cơn bão tư tưởng thường xuyên, bởi các vấn đề gai góc về giáo dục, tôn giáo, chủng tộc… gia tăng với vận tốc Internet, người lãnh đạo cần đủ khả năng nhìn xuyên bão mỗi ngày.

Ngày nay chúng ta không có xa xỉ phẩm dùng lãnh đạo chỉ có kỹ năng quản lý. Ngày nay chúng ta phải dùng quản lý có khả năng lãnh đạo.
Và thế hệ trẻ, thế hệ sinh viên và chuyên gia trẻ, không thể chỉ lo chúi đầu học kỹ thuật mà không chăm lo rèn luyện các kỹ năng lãnh đạo. Các đại học cũng như các lớp tu nghiệp cho chuyên gia chẳng dạy các bạn các điều này. Nếu có thì cũng chỉ là gãi ngoài da, chẳng thấm bén gì hết. Cho nên mỗi người chúng ta phải tự tìm thầy, tự tìm sách, tự luyện tập.
Và có lẽ là việc luyện tập cũng không khó mấy nếu chúng ta bắt đầu tập “Vậy à” trong mọi tình huống (ngoại trừ khi dạy hoc trò hay cấp dưới—thầy phải nói điều thầy phải nói).
Chúc các bạn một ngày vui.
Mến,
Hoành
© copyright 2010
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com