Tùy bút điện ảnh – Đạo diễn Nguyễn Anh Tuấn
Mở đầu
Đối với rất nhiều người Việt Nam ở khắp đất nước và ở khắp các phương trời xa xôi, Hà Nội là nỗi niềm đau đáu nhớ thương…Và Hà Nội cũng đã trở nên gần gũi thân quen một cách lạ lùng đối với nhiều thế hệ người VN cũng như đối với không ít vị khách nước ngoài… Điều đó có thể lý giải bằng nhiều nguyên cớ- mà nguyên cớ trực tiếp nhất, và cũng sâu xa nhất, chính là bởi Hà Nội có bốn mùa thật rõ rệt và đặc sắc, mà người ta có thể cảm nhận được qua da thịt từng sự thay đổi nhỏ bé của hoa lá, mặt sông gương hồ, con đường lối ngõ, những gương mặt người…Và chúng góp phần tạo nên cái được gọi là Hồn sâu thẳm của Hà Nội.
Hà Nội có hoa phượng đỏ của đất cảng Hải Phòng, có ban trắng vùng núi rừng Tây Bắc, có mai vàng và nắng gió của phương Nam, có nét trầm tư mơ mộng của Huế… Nhưng Hà Nội lại có những vẻ đẹp riêng đến mê đắm hồn người, một Hà Nội cổ kính trầm tư và duyên dáng, một Hà Nội bốn mùa với những nét đẹp cuốn hút của thiên nhiên mà không đâu có – chúng gia nhập vào cái tầng văn hóa chiều sâu của một đô thành có ngàn năm tuổi …
Trong những ngày bão lũ miền trung vừa qua, cứ đêm đêm, tôi ngồi trên mạng để tìm tim tức-hình ảnh về thảm cảnh của lũ cùng tấm lòng của cả nước hướng về miền trung…Đêm càng sâu, vài vùng quê Hà Tĩnh mà tôi từng được biết và thậm chí biết rõ vì nhiệm vụ công tác, lại càng hiển hiện mồn một trong tâm tưởng, giờ lại như thêm xoáy sâu bởi dòng lũ cuốn, bởi mặt nước đục ngầu mênh mông mấp mé nóc bao ngôi nhà ọp ẹp- trên đó là những thân hình co ro bám víu chờ cứu trợ, những ánh mắt người già tuyệt vọng, những bàn tay con trẻ hoảng loạn giơ ra từ các viên ngói dỡ… Giữa lúc miên man và nhức nhối với bao hình ảnh, ấn tượng, nghĩ ngợi, cảm xúc hỗn độn khó tả, đột nhiên, tôi dường như được nghe thấy một tiếng nói thâm trầm âm u từ một chốn nào xa xôi lắm… Những lời thốt ra từ gan ruột của một người đàn ông đứng tuổi, giọng vùng Nghi Xuân thuộc phủ Đức Quang, trấn Nghệ An xưa- lúc mơ hồ tựa sương khói giữa không trung, lúc như dao sắt nung đỏ đặt trong hồn… Tôi thảng thốt, không hiểu mình mơ hay tỉnh…
Bộ phim “Bi, đừng sợ” đã làm dấy lên những luồng dư luận cực kỳ đa dạng và trái chiều đến đối cực mà chưa từng thấy ở bất kỳ bộ phim Việt nào trước đó.
Là một người thơ yêu thiên nhiên, yêu hoa cỏ đến độ ” Tình có nụ cười bối rối các loài hoa”, NNB – người tự nhận là “một lãng du yêu”, trong khi nói về các loài hoa như trà mi, hoa sữa, hoa quỳnh, cả loại “hoa chân chim” – bước chân của “chim trống lặn lội đi tìm” chim cái, v.v, anh không thể không nói đến Hoa nhài. Phải chăng, “Hoa thơm ai giắt mái đầu/Mây kia bất tử một mầu nhớ thương” mà NNB ngẩn ngơ, trước hết chính là hoa nhài? Ta có thể hình dung, trong một đêm nọ, “Sân trăng tình lại ngồi kề bên nhau/ Mái đầu lại chụm mái đầu “, người thơ đã kể về một loài hoa thực đáng yêu song từng bị chịu đựng nhiều bất công hơn cả – đó là hoa nhài:
Tôi sẽ không gọi Lý Phương Liên là nhà thơ – mặc dù chị xứng đáng và cần được gọi như vậy, nhất là khi danh xưng “nhà thơ” đang bị lạm dụng. Tôi cũng sẽ không dám nói nhiều tới nội dung – nghệ thuật những sáng tác thơ ca của chị, vì “Sau biết bao chìm nổi, nương dìu nhau mà sống, 40 năm sau, tập thơ “Ca bình minh” của Lý Phương Liên và tập “Thơ Nguyễn Nguyên Bảy” ra mắt bạn đọc” (Thanh niên Oline), đã có nhiều người viết làm công việc đó một cách công tâm, sòng phẳng. Với tư cách là một người yêu thơ, và là một người bạn vong niên rất lâu của chị, nhân Hội nghị viết văn trẻ toàn quốc lần thứ VIII đang diễn ra, tôi chỉ muốn nhìn lại đôi chút về “Hiện tượng Lý Phương Liên” sau một quãng thời gian đủ hình thành dăm bảy thế hệ người viết…

Thị trấn Xuân Hòa – Vĩnh Phúc hai mươi năm trước…
Một trại giam ở Bắc Giang. Người đại úy quản giáo dẫn một tù nhân đàn ông còn trẻ đi từ phòng giam tử tù về phía cổng trại. Khi đi qua một khu phòng giam nữ, kẻ đang đi tới những khảnh khắc cuối cuộc đời chợt dừng lại, hất mặt về phía có một người đàn bà tì mặt qua chấn song đang gào khóc nức nở, và anh ta hét lên như cố biểu lộ vẻ yêng hùng: “Im ngay! Đừng có khóc! Vớ vẩn!”
Có một lời đề từ trong một cuốn sách dịch cứ đóng xích trong tâm tư tôi suốt mấy chục năm ròng, không chỉ vì nội dung độc đáo mà còn vì thân phận đặc biệt của nó: “Tôi tặng cuốn sách này cho những ai bụng nhồi đầy tiếng Hy- lạp, tiếng La- tinh, mà chết đói”- Juyn Valex (Cậu Tú, nxb Văn học, 1974). Cả bộ ba tiểu thuyết dịch Jăc Vanhtrax (trilogie) gồm: “Chú bé”, “Cậu Tú”, “Người khởi nghĩa” của nhà văn Pháp Juyn Valex tôi đã mua được trong lần đi coi thi tốt nghiệp phổ thông trung học tại huyện Sông Mã (Sơn La), ở một hiệu sách mà chỉ giáo viên cấp II, cấp III phố huyện mới là khách thường xuyên. 
Lần đầu tiên tôi được gặp nhà thơ Hoàng Xuân Họa, trong cuộc gặp mặt giữa vợ chồng nhà thơ Nguyễn Nguyên Bảy & Lý Phương Liên với những người hầu hết mới chỉ biết nhau qua mạng, tại Nhà văn hóa TN Hồ Thuyền Quang chiều mùng 3 Tết Tân Mão. Lúc được biết Hoàng Xuân Họa là người đã chép hai bài thơ của LPL để trong ba lô suốt những năm tháng chiến trường và còn giữ tới ngày hôm nay, tôi tò mò thích thú rồi lân la tới làm quen. Ông tặng tôi tập thơ “Trót một thời yêu” mới xuất bản. Trong lúc trò chuyện giao lưu cùng những người bạn mới đều yêu thơ NNB&LPL, tôi lật giở vội vài trang của tập thơ TMTY, và có một tên bài thơ (cùng một vài câu của bài thơ đó) kịp in vào ấn tượng của tôi… Nhưng phải đến hơn một tháng sau, khi tôi lục tìm tư liệu để chuẩn bị cho một phim tài liệu sắp thực hiện, giở đến cuốn sách cũ “Thiên nhiên Việt Nam”, lúc dừng lại khá lâu ở một đoạn do tôi gạch chân ba mươi năm trước và đã từng thuộc nó, thì tôi mới sực nhớ lại tên bài thơ của HXH. Tôi tìm tập thơ tặng để đọc – và trước hết là bài này:
Những đàn bồ câu hồn nhiên bay lượn và đậu yên bình cũng hồn nhiên như thế trước Hoàng cung dát vàng