Sông Cái Mỉm Cười

 

Lan man với “Sông Cái mỉm cười”
của nhà thơ Nguyễn Nguyên bảy

 

SÔNG CÁI MỈM CƯỜI
Sông mở lòng trang nghiêm
Nước không trôi đỏ vắt
Anh thả tro bụi cha vào sông
Xin mát mẻ hồn
Hồn cười trong nước
Anh hái những lá cỏ mật
Thả xuống sông làm thuyền
Hồn ngồi lên thuyền
Mắt níu bờ da diết
Đê kè thổ đất
Thương nhớ lòa tròng
Thương nhớ không bật khóc
Làm sao nước mắt xuống thuyền
Tiễn cha về cực lạc
Anh nghe thoáng một triền gió ngát
Sông Cái mỉm cười
Từng đàn cỏ mật chèo khua…

Như chỉ mới tối hôm qua
Áp thấp gió mây cờ xí
Quân hồn ngợp trời nước lửa
Chiến thuyền phủ kín sông trăng
Cha thiêm thiếp nằm nghe bão nổi
Qua lời kể của thằng cháu nội
Truyện Tam Quốc tranh hùng
Giọng bi bô sang sảng giống hệt ông
Tích quá quan trảm lục tướng
Anh như thấy nụ môi cha nở mỏng
Hoa từng cánh se khô
Bay sang môi con anh đỏ chót mơ hố
Thành ròn cười khanh khách
Anh linh cảm trời đang gần gang tấc
Trong bước chân cha
Và đất trong mắt cha
Thăm thẳm hun hút
Anh như nghe âm thanh gọi nấc
Con anh quì áp mặt ông
Hai ông cháu thì thầm
Điều sau này anh mới biết
Ông cho cháu nốt nụ cười
Trước khi ra bến đò sông Cái
Du sông tan bão nắng hoa…

Như chỉ mới trưa hôm qua
Vợ anh đun nước lá thơm mời cha tắm nhọc
Lần đầu tiên trong đời anh thấy cha khóc
Vợ anh quýnh quáng van nài
Mặt cha mưa cười
Mưa tan vào nước lá thơm
Khói sương một nhà hơi ấm
Anh giúp vợ lau khô mình cha
Bồng gió lên giường
Giọng cha hoan lạc lạ thường
Lúc cha sinh ra đỏ hỏn
Mẹ của cha tắm rửa cho cha
Mấy ai được hưởng tuổi già
Nước thơm con dâu tắm mát
Anh nắm tay cha hít hà hương nước
Lửa hồng dưới bếp hoan ca

Như chỉ mới sáng hôm qua
Mẹ anh đi nuôi con dâu ở cữ mới về
Ông ngồi bên cửa sổ
Giỗi già hờn vợ
Bà men ngồi xuống bên ông
Cong mềm lưng nhớ
Hai bàn tay tìm nhau
Một tay gầy
Một tay khô
Mộc mạc lời năm mươi năm trước
Tình ngỏ vụng về
Tôi đi xa ai hát ông nghe
Cháu nội thì chưa vỡ giọng
Con dâu công việc bộn bề?
Sáng nào tôi chẳng nghe bà hát
Ngàn cây số có gì xa với gió
Có gì xa với lòng
Năm mươi năm tiếng hát thức bình minh
Nhưng chiều chiều làm sao khuây nhớ?
Nhớ thùng nước tắm cho tôi
Tay gầy tay khô cười ra nước mắt
Anh nghe trộm những lời quy tước
Biết tình không có tuổi già?

Vẫn là mới tối hôm qua
Anh ngồi hiu hiu đắng chát
Buồn mình chẳng chút công danh
Để mẹ cha mát mặt
Chợt cha hỏi anh điếu thuốc
Tự mình lóng ngóng quẹt diêm
Xanh leo ngọn lửa
Suốt đời cha không hút thuốc
Ôm ngực rúc một cơn ho
Lại hỏi nhà mình có rượu
Ngơ ngác anh rót Nàng Vân
Cha nhấp môi mặt lửa
Ho ra tiếng cười
Mát mặt tuổi già ơi
Con tôi muốn công danh bổng lộc
Để xây lấu Đồng Tước
Cho cha hưởng sướng Nhị Kiều
Rồi cha hát Kiều
Tiền Đường ngộ thành sông Cái
Sông luân hồi miệt mải
Cho phù sa muôn đời
Chẳng chút chi đòi lại
Chỉ đòi còn mãi dòng sông
Cha nhìn anh mắt xuất thần hồn
Ngâm nga bài thơ anh viết về sông Cái
Sóng lòng phụ tử ngân nga…

Vẫn là mới sáng hôm qua
Cha thức kể giấc mơ vể làng
Vợ chồng người nhà đò chở cha qua sông
Cô vợ chèo đò
Người chồng ngồi bên cha vì lo cha té ngã
Ôi tuổi già thật tệ
Cha từng lội qua sông như một con kình
Cha về gặp lại đồng xanh
Gặp lại những thằng Cu cái Gái
Khoanh tay chào hỏi như chim
Cỗ bàn rạp tiệc liên hoan
Sao cha chỉ thèm củ khoai năm Dậu
Củ khoai thờ ngoài đình làng
Cha thắp nhang tạ củ khoai thần
Trước một lễ hội rước dâu
Áo đỏ áo xanh trăm sắc ngàn mầu
Rồng rắn lên đê
Sông Cái nước to
Xuôi về xuôi rất vội
Xuôi theo cả sắc mầu chói lói
Bóng đoàn người rồng rắn trên đê
Cha bỗng nghe tiếng bà nội hát
Tiếng hát mía ngọt
Cha chạy theo tiếng hát của bà
Gọi mẹ
Giật mình mới biết chiêm mơ
Vài ngày nữa là Rằm Tháng Bảy
Sông cái nước đang to
Nhưng làng mình không còn lo lụt nữa
Cha ngồi tưởng bóng sông quê
Triền cỏ bờ đê say nắng

Vẫn là mới tối hôm qua
Trăng xanh cành bưởi
Đôi bạn tình không tuổi
Uống trà thoại yêu
Lần đầu tiên thấy mình lòng tôi chiêng trống
Trống chiêng một đống núi ngồi
Lạc mắt nhìn công nhìn phụng
Phô khoe ngũ sắc vây mình
Công phụng làm sao bằng núi
Tôi hằng ao ước tựa lưng
Ngày mình sinh cho tôi thằng cả
Tôi nhìn thấy trên dòng sông Cái
Bao nhiêu là cầu lụa
Trên cầu xoan ghẹo giao duyên
Còn tôi thấy toàn lửa Ngọ
Chàng lực điền mồ hôi mật ứa
Tưới mát cánh đồng xanh
Ngày mình theo tôi buôn bè
Vào chợ tiền đầy tay nải
Lại phụng lại công múa vái
Mắt mòn nhìn gái một con
Đồng tiền gieo họa
Đồng tiền gieo buồn
Ai bảo mình ham cờ bạc
Ai bảo mình say rượu chè
Mình mê cô đằu trống phách
Cắt sợi tình ra
May mà đôi mình tỉnh ra
Quẳng tiền xuống ghềnh sông Cái
Mình lại là mình lực điền
Tôi lại là tôi trồng dâu,ươm kén
Tiếng hát ban mai mình liệng
Tôi nghe mát cả đồng xanh
Tôi muốn đêm nay được nghe mình hát
Tôi đã hát mình nghe cả đời
Mà mình vẫn cứ tình trai
Vẫn cứ đòi nghe tôi hát
Mình uống chén trà này tôi rót
Như hồi mình mới đôi mươi
Tay cha run chén đợi lời
Chén tình mẹ đón nâng môi
Lời tình lầm thầm như hát
Say lịm cha đong đứa vai
Hoa vườn nhà bên thơm ngát
Một vùng sông gió thiên thai

Vẫn là mới thức ban mai
Cha đưa anh bức thư gửi người con trưởng
Lần đầu tiên cha viết dối các con
Về sức khỏe mình
Chữ nghĩa từng dòng núi lở
Giấy trắng vãi tung đất đá
Đất nước dài bao nhiêu đường sá
Tiền đâu ra vào thăm thỏa nhớ thương
Cha gửi những cái hôn
Cho khắp lượt cháu con nội ngoại
Cha bảo cha còn sống mãi
Đọc thư đừng đứa nào buồn
Anh không dám buồn
Gửi lá thư đi
Anh linh cảm thấy bao nhiêu lửa nắng
Trút xuống đời cha
Sông hồn bắt đầu sôi
Khí hồn bắt đầu thăng

Vẫn là mới sáng hôm qua
Cha gọi thân yêu quây lại bên giường
Dặn những lời đỏ thắm
Với anh
Bà nội sinh cha nơi bến sông
Bà đang đến đón cha về
Hãy để thân xác cha về với Mẹ
Đừng cỗ bàn nhạc hoa cờ xí
Với mẹ anh
Mình đừng khóc tiễn chân tôi
Tôi đi trước đào cho mình cái giếng
Hoa chanh mình tắm thơm chiều
Với vợ anh
Nước non còn bởi còn người
Bể mặn bởi nước mắt đời yêu nhau
Với con anh
Ngực ấm không lời
Cháu nội ôm ông vỡ khóc
Cha nhìn thân yêu khắp lượt
Thiêm thiếp mặt mơ

Cửa mả mở
Với anh ba ngày như mới hôm qua
Một đời như mới hôm qua
Cha anh còn sống hôm qua
Mà hôm nay đã âm dương hai cõi
Cha ơi Anh hơ hải gọi
Chỉ nghe tiếng cha đáp phía hôm qua
Hôm qua không thể nào sống lại
Để anh nâng giấc ngủ cha
Để anh dâng cha tờ báo mới
Để anh rót hầu cha chén trà
Để anh gục đầu vai cha những ngày đen tối
Rằng đích anh tời
Vườn đời đầy hoa
Mà chân ahh đã tới cổng vườn
Anh sẽ hái nụ cười thương
Trả lại môi cha tạ tội
Ngoảnh lại sau lưng toàn là ngày hôm qua
Tiếc thương chót lưỡi
Hối hận đầu môi
Tại sao anh không là thế này
Tại sao anh không là thế khác
Cho đời cha hoan hỉ những hôm qua
Để những hôm qua bớt buồn bớt cực
Cha cũng là người bằng xương bằng thịt
Nào phải thánh thần chi
Mà anh để cha ăn mây uống gió
Nuôi anh một đời vô tích sự
Anh bật khóc thành tiếng
Nước mắt tràn đê
Chảy xuống sông
Lạ kỳ chưa
Sông Cái mỉm cười
Trôi đi những thuyền cỏ mật.Cha đứng trên thuyền
Thuyền cười trên sóng nhấp nhô
Cha chầm chậm hóa thân vào sông Cái…

Ai bảo nước đi nước không trở lại
Nước trôi rồi nước thăng mây
Mây chín lại rụng về làm nước
Sông chảy qua làng
Thuyền cỏ mật đậu xanh mặt bến
Cha hỏi thăm đoàn người gồng gánh phù sa
Có ai là con cháu
Nghe cha hỏi choáng choàng anh gọi
Chỉ thấy môi sông Cái hồng cười
Đón gạo thơm và muối trắng
Con trai anh rắc xuống như hoa
Và dòng sông nắng trồi qua
Hai cha con lững thững về làng
Mỗi người mang theo theo một dòng sông Cái
Trong anh sông Cái mỉm cười
Và anh tin lòng con anh Sông Cái cũng mỉm cười…

Nguyễn Nguyên Bảy
NXB Văn Học 2010

Nếu nói thơ của Nguyễn Nguyên Bảy không mới về bút pháp, không mới về cách nhìn cũng đúng và chính ông cũng chưa hề phản bác lại ý kiến này. Song cái mới, cái hay lại ẩn chưa trong những điều tưởng chừng không mới đó. Ông có biệt tài vận dụng những biểu tượng, nhạc điệu và những hình tượng thơ để nói lên những tâm trạng, cảm xúc của tâm hồn, kết hợp hài hòa giữa trực giác với cảm xúc và sự thông minh mang phẩm cấp của một thi sĩ. Hay nói một cách khác trong thơ ông có âm hưởng của thơ tượng trưng, thơ lãng mạn và thơ cổ điển. Ngay trong khúc tráng ca: “Sông Cái mỉm cười” mà ông trang trọng đặt tên là “Trường ca Lễ Tạ Cha Ông trước thềm Năm Mới” đã hội tụ những yếu tố nghệ thuật ấy.

Sông Cái, con sông của quê hương yêu dấu, con sông thơm thoảng hương cỏ mật ngày đêm cần mẫn chuyên chở những phù sa, bồi đắp nên cánh đồng mầu mỡ và bồi mãi bao kỷ niệm của đời người, hóa thân thành Sông Mẹ, nơi sinh ra và nuôi dưỡng cả phần xác và phần hồn mỗi con người. Sông Cái thiêng liêng và vĩnh hằng trong tâm tưởng con cháu, bởi có người cha, người ông đã “hóa thân vào Sông Cái”, hòa trong phù sa, hiện sinh trong những mùa vàng, hoàn sinh và vĩnh hằng và ngày một đẹp hơn trong kiếp luân hồi đời người.

Hình ảnh nghệ thuật “Sông Cái” chảy suốt khúc tráng ca, đầy những khuôn mặt người thân yêu của ông với nhiều cảnh ngộ. Dẫu ông có xử dụng nhiều chi tiết nghệ thuật như: “Lá cỏ mật”, “hồn”, “nắng”, “gió”… và rất nhiều nữa trên con sông trăng, sông đời, với cha, với mẹ, vợ, con… thì mỗi chi tiết nghệ thuật lại nâng bài thơ lên một tầm cao mới. Cái thực và cái ảo đan xen làm cho chất thơ, chất tráng ca mang một phẩm cấp của thi sĩ. Đọc câu thơ: “Con anh quì áp mặt ông/ Ông cho cháu nốt nụ cười”, người đọc vẫn nhận ra thủ pháp nghệ thuật ấy, vì có gì cao siêu đâu nhưng sự tinh tế đến chân thực của tình người, của đạo làm người, hướng người ta tới tấm lòng thương yêu, hy sinh vô bờ bến của người sắp đi vào miền cực lạc dành cho đứa cháu yêu, cho thế hệ kế tiếp, không dành lại chút nào cho riêng mình. Ngay chi tiết: “Lần đầu tiên cha viết dối các con/ Về sức khỏe mình” rất thật đấy chứ nhưng lại được đặt đúng chỗ tạo nên một chi tiết nghệ thuật chuyên chở đức trọng của cha, không muốn những người con phải buồn phiền lo nghĩ đớn đau nhiều bởi cuộc “ra đi” ấy theo qui luật của tạo hóa : “Bà nội sinh cha nơi bến sông/ Bà đang đến đón cha về/ Hãy để thân xác cha về với Mẹ”, về với cội nguồn, cát bụi lại trở về cát bụi.

Người cha thanh thản “ra đi” không chỉ vì hiểu qui luật sinh tồn, mà hơn thế ông yên lòng đã có người con chí hiếu chắc chắn sẽ làm rạng rỡ giống nòi. Sông Cái trở thành bất tử: “Sông luân hồi miệt mải/ Cho phù sa muôn đời/ Chẳng chút chi đòi lại/ Chỉ đòi còn mãi dòng sông/ Sóng lòng phụ tử ngân nga…”. Và hình ảnh: “Cha chầm chậm hóa thân vào sông Cái” đã trở thành vĩnh hằng. Triết lý nhân sinh được thể hiện thật dễ hiểu và dung dị

Thơ Nguyễn Nguyên Bảy luôn da diết một tình yêu với quê hương, đất nước. Tình yêu cụ thể mang truyền thống của cha ông, ngấm vào xương tủy, thấm đẫm hơi thở trong suốt cuộc hành trình đời người. Đó là nơi cha từng: “chỉ thèm củ khoai năm Dậu”, khi cả dân tộc quay quắt, thóp thoi trong tận cùng cái đói. Đó là nơi: “Đôi bạn tình không tuổi/ Uống trà thoại yêu”. Đó là nơi: “Tôi lại là tôi trồng dâu, ươm kén/ Tiếng hát ban mai mình liệng/ Say lịm cha đong đưa vai”. Đó là nơi ông tìm ra chân lý: “Nước non còn bởi còn người/ Bể mặn bởi nước mắt đời yêu nhau”. Đó cũng là nơi khi những bậc tiền nhân nhận được tình yêu trong sáng, sâu sắc của những người con: “Tiếc thương cắn lưỡi/ Nước mắt tràn đê/ Chảy xuống sông” để rồi yên tâm thanh thản: “Sông Cái mỉm cười”. Nụ cười mãn nguyện, bao dung thấm được tình người. Yêu như thế, tuy không có tiếng gào thét nhưng sao mà sâu sắc, thấm mát hồn người, nâng mỗi con người vượt qua bể khổ. Sông Cái, con sông mỗi phù sa là xương cốt và máu, là bao khổ đau và khát vọng của bao thế hệ, từng ngày nuôi dưỡng, tạo dựng nên nhân cách và chắp cánh cho thơ ông chăng! Và cuộc sống sẽ ngày tươi đẹp hơn vì người con của quê hương biết yêu và biết sống! Cánh đồng tâm đức ông gieo chắc chắn sẽ đơm hoa kết trái cho muôn đời!

“Sông Cái mỉm cười” như nén hương lòng ngát thơm ba cõi, có khác nào tiếng của thần thánh, đất trời và con người trong khúc hòa ca về tình yêu cuộc sống. Vợ chồng ông có lúc tưởng đã bị “thác thơ” nhấn chìm như rồi bằng bản lĩnh con người và bản lĩnh người thơ đã vượt qua “Thác thơ” mà không hề trách cứ ai: “Mọi hệ lụy xô đẩy chúng tôi đến bần hàn và cơ cực không liên quan đến bất kỳ cá nhân nào, quyền lực nào. Mọi ảo thực, tốt xấu tôi tự mình chịu trách nhiệm, không than oán bất kỳ ai, về bất cứ điều gì”. Đó phải chăng là bản lĩnh của những con người đã hiểu được qui luật của cuộc sống. Và nhân quả chăng, khi ông viết: “Trong anh sông Cái mỉm cười. Và anh tin lòng con anh Sông Cái cũng mỉm cười…” Niềm tin ấy bây giờ đã thành hiện thực. Thơ ông chở cái đạo làm người, bởi vậy cuộc đời và sự nghiệp thơ văn của ông sống mãi trong lòng bè bạn. Con cháu của vợ chồng ông đã được hưởng hạnh phúc mà hai vợ chồng ông lặng thầm chiến thắng số phận gom góp, gieo trồng cây đức cho đời sau.

Hà Nội mồng 9 tết Nhâm Thìn
Trần Vân Hạc