Tag Archives: Văn

Một đêm trừ tịch

Chung cư ở sâu trong con đường nhỏ của thành phố Midway (*) , là lãnh địa của các lão niên đã gần đất xa trời. Những con người gần đất xa trời ấy, gồm cả nam lẫn nữ, sống hết sức đơn độc, thầm lặng, khép kín trong chung cư dành cho họ. Chung cư này có tên gọi hẳn hoi, được đặt dưới sự bảo trợ của một nhà thờ. Nhưng để tránh sự dòm ngó của những kẻ hiếu kỳ. Và cũng vì dáng vẻ cổ xưa của nó, ta tạm gọi đó là bộ lạc Ráng Chiều của các tộc trưởng đã về hưu, một bộ lạc không có trẻ con, nhiều lề thói.

Như đã giới thiệu ở trên: Bộ lạc Ráng Chiều là nơi qui tụ những người gần như đã rũ sạch bụi trần. Họ là đôi vợ chồng già không con cháu. Hoặc con cháu không còn muốn biết đến họ. Họ cũng có thể chỉ là cụ ông hoặc cụ bà cô độc, một mình một bóng thơ thẩn trước buổi chiều tà của tuổi thọ. Họ sống bằng tiền hưu trí, được xã hội và các đoàn thể tôn giáo chăm sóc. Họ dường như không còn thuộc về cõi sống. Thế giới của họ là đáy sâu nội ngã, là hố thẳm nội tâm, là suy tư quán tưởng. Họ có vẻ nghễng ngãng, hay nghe sai những câu nói đời thường. Nhưng lại nhạy bén với các tiếng động, dù thật khẽ. Sự nhạy bén ấy, không phải để cưu mang sức sống mãnh liệt của loài người. Mà chỉ để biểu lộ sự khó chịu, sự cáu kỉnh khi phải nghe những tạp âm nhố nhăng, nhốn nháo ấy. Ta gọi đó là hiện tượng dị ứng với tiếng động.

Hiện tượng này được các cư dân sống trong vùng lân cận biết đến. Người nọ rỉ tai người kia. Nên bất kỳ ai đi ngang vùng cấm địa của tiếng động, đều phải nhón chân nhẹ bước. Đi bộ thì nhón chân. Còn đi xe thì sao ? Xe cộ cồng kềnh, bốn bánh to đùng làm sao nhón…?! Nghĩ đến đây, ta đặc biệt biết ơn các kỹ sư tiên khởi của ngành ô tô. Các vị ấy có lẽ cũng tri giác được việc gì đó…Nên đã đặt hệ thống hãm thanh cho máy móc. Tóm lại : Không cần biết xe mới toanh hay cũ kỹ. Hễ cứ đi qua bộ lạc Ráng Chiều, người ta có thói quen giảm ga, gài số chậm.

Sự có mặt của những người khách lạ, đã làm đảo lộn thể chế quen thuộc của bộ lạc. Một sớm mờ sương, khi các cụ còn nằm yên trong nệm ấm. Bỗng giật thót người vì một tiếng két thật to, tiếp theo một tiếng rít thật dài, và hàng loạt tiếng gầm rú đáng sợ của con quái vật chết tiệt nào đó.

Đồng loạt cửa sổ của các phòng ngủ mở toang, một hiện tượng thật bất thường ! Qua từng khung cửa vuông vắn, ta có thể thấy những mái tóc bạch kim lúc lắc, để gọng kính trên mũi liên tục dáo dác dò tìm, xem con quái vật từ hành tinh nào rơi xuống, mà to mồm đến thế. Các cụ chỉ thấy bốn con người đang đứng quanh hai chiếc xe mù mịt khói ! Toàn bộ những cái miệng móm mém, không hẹn đều kêu “Lạy Chúa tôi” cùng một lúc. Dăm ba cụ sau khi kêu, vẫn còn cẩn thận lấy tay dí lấy dí để vào cái kính trên mũi, cho sát sàn sạt con mắt, để xem có đúng là hai chiếc xe đã gầm rú như điên không? Tạ ơn Chúa! Quả thực là xe, chứ không có con quái vật nào rách trời rơi xuống.

Thoắt một cái các cửa sổ đều khép. Liền tức thì như có phép đi xuyên tường, các cụ thùng thình trong bộ quần áo ngủ, đứng dàn hàng ngang trước cửa nhà, nhăn nhó dò xét khách lạ. Cùng với các cụ, ta nhìn xem: Họ là ai?

Ba cô gái, một chàng trai, thế hệ thứ hai của nước Việt lưu vong. Họ, những kẻ đương xuân, còn rất trẻ so với các lão niên đã thất thập cổ lai hy, đang lúng túng trước cái nhìn thiếu thiện cảm của bậc trưởng thượng không cùng nòi giống. Các cô gái gần như muốn khóc. Chàng trai chốc chốc lại đưa tay vuốt tóc.

May thay, giữa lúc phần thắng chưa biết thuộc về ai, có bóng người đi vội đến. Cả khách lạ lẫn các lão niên đều thở ra nhẹ nhõm. Thì ra đấy là ông linh mục. Ông ra dấu bảo khách lạ hãy bình tâm. Xong ông đến gần các cụ nhỏ to điều gì không biết. Chỉ thấy các khuôn mặt đang nhăn nhó, tự nhiên thư giãn. Các cặp kính thôi không di động. Ai nấy lặng lẽ vào nhà. Buổi sáng lại yên tĩnh, như bao buổi sáng đã từng yên tĩnh trong bộ lạc Ráng Chiều.

Còn lại ông linh mục và khách lạ. Thoạt đầu ta cứ ngỡ bốn người khách cùng quen biết, cùng đến từ một nơi. Không phải thế đâu. Ba cô gái là một nhóm. Chàng trai đi đơn lẻ. Qua câu chuyện họ trao đổi với nhau, trong lúc mang hành lý vào nơi ông linh mục qui định là chỗ ở cho họ. Ta được biết : Ba cô gái học ngành điều dưỡng. Họ được giới thiệu đến nơi này làm việc, để thực hành phần lý thuyết đã học. Còn chàng trai..? Anh là bạn của ông linh mục. Hình như đi lãng du để viết thiên ký sự nào đó… Hay là tìm ý thơ phổ nhạc thì phải… Cây đàn guitar trên tay. Túi hành lý trên vai có quyển sách dày cộm, cho phép ta suy diễn về anh như vậy.

Kể từ buổi sáng mờ sương hôm ấy, căn phòng nhỏ vẫn bỏ trống ở cuối hành lang bên trái, là thư phòng của chàng trai. Còn căn hộ xinh xắn có rèm xanh buông rủ, vốn là nhà khách của bộ lạc, trở thành nơi cư ngụ của ba cô sinh viên. Họ sẽ ở đây hết mùa đông. Gần cuối mùa xuân, họ lại trở về chốn cũ.

Họ sống trong bộ lạc, tuân thủ lề luật sẵn có, tịnh không biểu hiện một sai phạm nào, dù rất nhỏ. Sáng sáng chàng trai đi đâu rất sớm, sẩm tối mới về. Ba cô gái đi trễ hơn một chút. Họ đến phòng ăn, phòng đọc sách, phòng sinh hoạt, phòng dưỡng bệnh của bộ lạc, giúp đỡ các cụ đúng bổn phận của một nữ điều dưỡng tương lai.

Cứ thế, các tộc trưởng của bộ lạc dần quen với bốn người trẻ tuổi. Tuy vẫn không nói thêm gì ngoài nụ cười, lời chào ban sáng, ban tối. Nhưng chỉ cần nhìn ánh mắt trìu mến của các cụ mỗi khi gặp bốn con người trẻ trung ấy, ta biết các cụ yêu quí họ.

Hình như dáng dấp nho nhã của chàng trai, làm sống dậy thuở thư sinh tay trắng mộng đầy của các cụ ông. Hình như đường nét thanh tú của ba cô gái, gợi nhớ thuở trâm cài lược giắt của các cụ bà. Không nói ra, nhưng cụ ông nào cũng tự nhủ: “Thằng bé hệt như tôi thời trai trẻ”. Không nói ra, nhưng cụ bà nào cũng ngầm so sánh: ” Ba con bé dễ thương quá. Tôi bằng tuổi chúng cũng thế đấy!”

Và đã xảy ra một điều kỳ diệu trong đêm trời tối đen như mực. Đêm ấy, nếu như ở quê nhà, bốn người trẻ sẽ đón giao thừa theo lễ nghi cổ truyền của dân tộc. Nhưng ở đây, xứ lạ quê người, một ngày như mọi ngày, đêm trừ tịch có gì là thiêng liêng…?!

Ba cô gái từ lúc về phòng cứ loay hoay, tíu tít làm điều gì đó…Họ lấy thứ nọ, nhặt thứ kia bỏ vào ba cái túi, mỗi người cầm một túi. Rồi cô tắt đèn. Cô mở cửa. Cô bấm khóa. Người trước kẻ sau lặng lẽ đi qua dãy hành lang bên trái. Họ dừng lại, gõ cửa thư phòng của chàng trai. Chàng trai đang ngồi tư lự, bỗng giật mình. Và càng giật mình hơn, khi cánh cửa rộng mở cho thấy ba cô gái…! Cũng cần biết thêm một điều: Từ buổi sơ giao, khi tình cờ đến bộ lạc Ráng Chiều trong cùng một thời điểm, cả bốn người chỉ cười chào nhau lúc chạm mặt, chứ chưa hề chuyện vãn bao giờ.

Không để chàng trai hỏi, một cô lên tiếng:

– Anh cho phép chúng em vào chơi chứ…?

Chàng trai ngỡ ngàng:

– Ơ…Vâng…! Xin mời các cô

Phòng chỉ có một bàn một ghế. Chàng trai chưa biết xử trí cách nào, các cô đã cho ý kiến:

– Ta cứ ngồi cả xuống thảm, anh ạ

Chàng trai mỉm cười. Anh không biết mình phải làm chủ, hay nên làm khách trong tình huống bất ngờ này. Phụ nữ thật nhạy cảm. Các cô cấu tay nhau. Một cô vừa xuýt xoa vừa bảo:

– Chúng em quả có hơi đường đột. Nhưng không định tước quyền gia chủ của anh đâu. Xin anh tự nhiên cho.

Chàng trai nói trong tiếng cười:

– Vâng! Xin mời chúng ta cùng ngồi xuống.

Bốn người vừa ngồi xuống. Ba cô gái đã làm ảo thuật. Chàng trai tròn mắt nhìn bánh, mứt, hạt dưa, kẹo, ấm trà, tách nước…tuần tự đi ra từ ba cái túi. Anh thấy mình lúng túng:

– Ơ…,tôi thật không ngờ…!

Một cô nói thay các bạn:

– Chẳng việc gì phải ngờ, anh ạ. Đêm nay chờ đón giao thừa, chúng em xin mời anh cùng uống trà, ăn mứt để nhớ quê nhà.

Cả bốn người cùng nâng tách. Trà nóng có vị ngọt đắng của tâm sen, có vị nồng ấm của gừng già. Hình như giao thừa sắp điểm. Hình như năm mới sắp về. Khi hương trà thấm đậm vào tận tâm hồn của họ.

Chàng trai ân cần nhìn ba cô gái, lời thật như lòng:

– Cảm ơn các cô đã cho uống trà, ăn mứt. Nhưng hình như chúng ta chưa biết tên nhau…?

Các cô tươi cười giới thiệu:

– Em là Lang Bian.

– Em là Đam Ri.

– Còn em là Bến Nghé.

Chàng trai cười như chưa bao giờ cười:

– Sao không là Huế, Sài Gòn, Hà Nội cho đủ cả ba miền?

Ba cô gái cười khanh khách:

– Cũng muốn vậy, nhưng chúng em không thể ôm cả núi sông. Thế anh đại diện cho đồng bằng sông Cưủ Long, hay vùng châu thổ sông Hồng, hay là người hoàng phái của sông Hương núi Ngự…?

Chữ nghĩa quá! Ví von quá! Chàng trai thấy mình cũng bắt đầu văn vẻ:

– Tôi sinh ở ải Nam Quan. Mới vừa hai tuổi mẹ đã gánh vào tận mũi Cà Mau.

Đam Ri trầm trồ:

– Giang hồ dọc ngang sớm quá, hèn chi tướng mạo trông phi thường.

Chàng trai cứ thế mà cười. Anh chợt nhớ câu ca dao: “ Ba cô đội gạo lên chùa…”. Ba cô này phải chăng cũng muốn học sách người xưa…?!

Lang Bian nhìn anh không chớp mắt:

– Anh định gán cho chúng em hình tượng gì vậy…? Gọi anh là Đất Mũi nhé ?

Chàng trai kêu to:

– Ấy chớ, tôi tuy có đi qua đất Mũi, nhưng không hề cắm câu làm nhà ở đó.

Bến Nghé dí dỏm:

– Thế mẹ gánh anh từ ải Nam Quan vào tận mũi Cà Mau, xong hạ thúng ở chỗ nào ?

Chàng trai phì cười:

– Ở Hà Tiên.

Ba cô gái dài giọng:

– HàTiên cơ à…! Khéo chọn nơi ăn chốn ở nhỉ!

Tưởng cũng nên mở ngoặc ở đây. Bốn người trẻ đều có tên gọi hẳn hoi. Nhưng chả hiểu sao, đêm nay họ bỗng dưng lấy địa danh nơi sinh trưởng để giới thiệu về mình. Có lẽ hồn thiêng sông núi. Có lẽ nỗi nhớ gia đình. Đã khiến xui họ làm như vậy. Và ta, chẳng nên xét nét. Cứ việc gọi họ là Lang Bian, là Đam Ri, là Bến Nghé, là Hà Tiên cho hợp với lòng họ.

Chàng trai Hà Tiên đứng lên lấy cây đàn trên vách. Anh búng nhẹ vào dây phím. Những âm thanh trầm bổng, theo từng ngón tay tài hoa phát ra thành suối nhạc. Và đất trời bỗng nghe:

“Xuân trong tôi đã khơi trong một đêm vui
Một đêm là đêm gối chăn phòng the đón cha mẹ về.
Xuân âm u lắt leo trong nguồn suối mơ
Mừng reo rồi theo nắng lên từ cha chói chan lòng mẹ”
(1)

Cứ thế họ: Những Lang Bian, Đam Ri, Bến Nghé, Hà Tiên của vùng trời quê hương say sưa hát. Cung đàn giọng hát hòa quyện vào nhau, âm vang sao mà tha thiết. Cô Bến Nghé thì thầm:

– Ở nhà, giờ này mẹ và các em của em chắc đang sửa soạn cúng giao thừa. Trên bàn thờ cha thế nào cũng có hoa huệ, trà sen. Khi còn sống, ngày tết cha thích uống trà sen, thích cắm hoa huệ, thích chưng chậu quất trong nhà. …

Sàigòn vào xuân đẹp lắm. Thời gian nhịp nhàng trôi. Mọi tất bật đời thường biến mất. Trung tâm thành phố với những con đường được bao phủ bởi hàng cây dầu cao vút. Trái dầu nhẹ rơi quay tròn trước gió, lá sẽ đong đưa… Người ta thấy lòng tịnh yên, nhất là khi đi giữa chiều hôm, nghe chuông nhà thờ vang trong không gian xám. Từng tiếng bing boong dặt dìu, nhặt khoan như muốn nâng hồn người lên cõi trời cao. Cả thành phố đắm chìm trong tiếng ngân nga, sâu lắng của chuông nhạc đạo….

Cô Bến Nghé mỉm cười. Nụ cười rạng rỡ. Cơ hồ cô đang đứng trước Vương Cung Thánh Đường SàiGòn, nghe chuông chiều rơi trên thành đô quen thuộc. Tiếng chuông diệu kỳ, nhặt khoan tận đáy lòng cô, làm rung động tâm hồn ba người bạn.

Cô Đam Ri bùi ngùi:

– Chị làm em nhớ nhà quá. Nhà em ở Bảo Lộc, ngay đường vào thác Đam Ri. Đêm giao thừa lạnh lắm. Cha đốt lửa ngoài vườn, vừa để canh nồi bánh chưng, vừa để hong người cho ấm. Ngồi giữa ánh lửa bập bùng, nhìn trời đen thẩm, nghe âm vang thác đổ, lòng em không quên cũng chẳng nhớ điều gì.

Sáng mùng một, sau khi chúc tuổi cha mẹ, sau khi nhận phong bao lì xì, mấy anh chị em rủ nhau du xuân. Thác Đam Ri là điểm đến. Lạ lắm. Cũng thác ấy, nước ấy…Mà sao ngồi chiêm ngắm sự kỳ vĩ, bí ẩn, hoang vu của giòng thác giữa màn sương mỏng đầu xuân, lòng em phát sinh những cảm quan rất dị thường. Giòng khói bốc lên, do nguồn nước từ trên cao đổ xuống, tạo cho cảnh quang một vẻ thanh thoát huyền diệu, hệt như chốn bồng lai tiên cảnh. Còn vực sâu thăm thẳm của thác, lại gợi nhớ một cõi đi không về…!

Cô Đam Ri mắt nhòa lệ. Ba người bạn đều thấy nước mắt chảy ngược vào hồn, khi nhìn thấu giòng thác Đam Ri đang ầm ầm tuôn đổ trong lòng cô gái trẻ. Lang Bian nói rất khẽ:

– Đam Ri này, chúng mình cùng đi trên từng cây số quê hương đấy. Muốn đến cao nguyên Lang Bian phải đi qua Bảo Lộc. Cao nguyên Langbian được vinh danh nhờ thành phố ĐaLạt. ĐaLạt khói tỏa, sương lồng, cây xanh, lá biếc. Nhà mình ở trên đồi Mai Anh. Đứng trên đồi Mai Anh, thấy toàn cảnh ĐaLạt. Xuân về, ĐaLạt mặc áo hoa muôn sắc, “ cỏ non xanh tận chân trời..”. Câu thơ này của Nguyễn Du, nên tặng riêng ĐaLạt lúc vào xuân…

Vườn nhà mình có hoa hồng, ngọc lan, nguyệt quế, hoàng lan… Đầu năm, cha hái ngọc lan mừng tuổi mẹ. Mẹ kết vòng nguyệt quế chúc tuổi cha. Anh em mình kết hoa hồng biếu cha mẹ, lấy lan vàng tặng nhau. Xuân sang rất diệu kỳ! Một ngày nào đó trở về cố hương, mình xin mời các bạn lên chơi ĐaLạt.

Ba cô gái thẫn thờ….Hồn họ có chuông chiều ngân vang, có thác nguồn tuôn đổ, có hoa nở bốn mùa, có mẹ cha để thương nhớ. Anh Hà Tiên buông đàn trầm tư. Anh thấy bao lớp sóng xô trong tâm thức…Và anh kể rất dịu dàng:

– Tôi lớn lên ở Hà Tiên, quen thấy cuộc đời cư dân ở đó được bao bọc bởi những chuyện truyền kỳ có từ thời Mạc Cửu. Lịch sử đất nước đã đi qua bao nhiêu truông dài hưng phế, từ triều đại này sang chính kiến khác. Điều đó dường như không là gì cả, đối với lòng người đất Đông Đô.

Cha mẹ tôi một đời lao khổ. Tết đến, vẫn chắt chiu những đồng tiền mới mừng tuổi cho con. Những đồng tiền mới ấy, sau lại được chắt chiu cho con vượt biển.

Tôi ra đi khi biển Đông dậy sóng. Bao nhiêu người đã vùi xác dưới trùng dương. Mẹ tôi khóc trong chùa Tam Bảo (2) , nguyện xin Quán Thế Âm Bồ Tát giúp tôi vượt biển an bình. Cha đưa tôi xuống thuyền, ánh sao mờ nhạt nhòa hòn Phụ Tử. Sóng nước âm vang huyền thoại: Ngày xưa, hai cha con người ngư phủ hiền lương, đã chết thảm sau cuộc chiến kiêu hùng với ba mươi bảy con thuồng luồng, khiến tôi thương cha bịn rịn trước phút lên đường.

Cha tôi chết không được gặp con! Ngày tôi có thể về cố hương, mẹ đã ra người thiên cổ! Các em tôi, mỗi đứa một cảnh đời nổi trôi! Tôi thật không vui khi trở về! Những ngày ở quê nhà, tôi hay lên thạch động. Hòn đá treo lửng lơ trên vách gợi nhớ truyền thuyết Thạch Sanh, gợi nhớ lời ru của mẹ thuở ấu thời :

“ Đàn kêu tích tịch tình tang
Ai đem công chúa lên hang mà ngồi…!”

Bây giờ ba cô gái đều khóc… Chàng trai im lặng sầu ! Căn phòng nhạt nhòa nước mắt. Đêm giao thừa ở đất khách quê người sao mà buồn thế…! Cây đàn lại ngân vang. Chàng trai hát với cả tâm tình:

“Trên đường về nhớ đầy
Chiều chậm đưa chân ngày
Tiếng buồn vang trong mây…”
(3)

Ba cô gái cùng phụ họa:

“Tôi là người lữ khách
Màu chiều khó làm khuây
Ngỡ lòng mình là rừng
Ngỡ hồn mình là mây
Nhớ nhà châm điếu thuốc
Khói huyền bay lên cây…!”
(3)

Bỗng nhiên có tiếng gõ cửa dồn dập. Cung đàn giọng hát im bặt. Cả bốn người cùng đứng dậy. Cửa mở ra…Ba cô gái điếng người, núp vội sau lưng chàng trai. Thật đáng sợ! Trước mặt họ là tất cả tộc trưởng của bộ lạc Ráng Chiều.

Thôi nguy to rồi! Mải tâm sự ngắn dài, họ quên mất mình đang sống giữa vùng cấm địa của âm thanh! Giờ này đúng giao thừa! Năm mới đến trong hoàn cảnh không thuận lợi chút nào. Ba cô gái rùng mình, nhớ lại những cái nhìn thiếu thiện cảm của các cụ, lúc họ mới bước vào bộ lạc. Hôm ấy, may mà có ông linh mục. Đêm nay thì cứ gọi là…tận cùng bằng số…!


Chàng trai hình như không cùng chia sẻ nỗi lo sợ với ba cô gái. Anh vẫn nhẹ buông tiếng đàn, vẫn khe khẽ hát, vẫn như đang thấy Hà Tiên và thạch động trong khói huyền ! Anh mỉm cười với các tộc trưởng, đang mặt đối mặt với anh. Lạ thay, toàn bộ những cái miệng móm mém đều cười đáp lễ. Trước sự kiện đặc biệt này, ba cô gái cũng vội góp nụ cười.

Cụ ông và cụ bà Smith, đôi vợ chồng già nhất trong bộ lạc, dìu nhau bước lên một bước, cho gần chàng trai và ba cô gái. Họ nói “ Happy New Year”, ôm hôn thắm thiết, đặt vào tay từng người phong bao mừng tuổi đỏ tươi. Tiếp theo vợ chồng cụ Smith, các thành viên của bộ lạc Ráng Chiều, cũng đều biểu lộ với bốn người trẻ tuổi ấy, những cử chỉ thân thương như vậy.

Ba cô gái khóc òa. Chàng trai để giòng nước mắt chảy. Họ như đang đón giao thừa ở quê nhà, nơi có mẹ nhân từ, nơi có cha độ lượng, nơi có anh chị em hiền lành. Gia tộc muôn đời hệ trọng. Hôm nay, những cụ ông cụ bà mắt xanh da trắng, đã làm sống dậy tình gia tộc hệ trọng ấy. Cung đàn giọng hát lại vang lên:

“Xuân trong tôi đã khơi trong một đêm vui
Một đêm là đêm gối chăn phòng the đón cha mẹ về…”
(1)

Những con người đã gần đất xa trời. Những con người tưởng như không còn thuộc về cõi thế. Những con người luôn dị ứng với tiếng động, đã mở lòng ra yêu thương bốn tâm hồn trẻ âm thầm đón xuân sang, trong nỗi nhớ quê hương ngút ngàn. Và phải chăng: Cõi lòng của những con người gần đất xa trời ấy, chính thật là quê hương, cho bốn tâm hồn trẻ được an bình!

Đêm trừ tịch đó, đêm duy nhất, bộ lạc Ráng Chiều không phải là vùng cấm địa của tiếng động.

Vivian
Tháng Hai, 2010

*********

* Chú thích:

(1) “Xuân Ca” của Phạm Duy
(3) “Chiều”. Thơ Hồ Dzếnh. Nhạc Dương Thiệu Tước
(2) Chùa Tam Bảo do Quốc Công Mạc Cửu xây cất. Nơi còn lưu giữ Tro Xương Thân Mẫu của ông
(*) Midway City, California

Văn và Hoa

Trong một buổi hội thảo về văn xuôi, nhà văn Cao Duy Thảo có phát biểu rằng văn chương không thể có phế phẩm, vì phế phẩm văn chương không thể dùng làm bất cứ thứ gì, việc gì. Một mớ gạch vỡ, ngói bể… còn đem làm nền, lót đường được. Miếng gỗ cưa hỏng, đục hỏng… còn đun bếp được. Nhả bánh “hư bột hư đường” hạ giá thành thức ăn gia súc. Văn chương mà hỏng chỉ vứt đi, vứt đi.

Vâng. Làm văn chương hỏng, bị vứt đi, thật tội nghiệp cho tác giả. Mất biết bao nhiêu tâm trí và công sức. Có thể tác giả đầy nhiệt tình nhưng thiếu khả năng, hoặc do một điều kiện khách quan tác động. Hóa ra cơ sự…

Cái đáng sợ trong văn chương đối với quần chúng là loại văn chương giả. Sự kiện éo le, hấp dẫn, từ ngữ bóng bẩy, cú pháp điêu luyện… tác giả tài tình như một phù thủy điều khiển âm binh, sai khiến những điều không thật này múa may, khoa trương làm lóa mắt người đọc và không ít người đọc bị mắc lừa, xúc động thật sự, có khi đi đến mê muội tin theo các điều giả ấy.

Ngược lại không phải không có trường hợp chính phẩm văn chương bị chê là khô khan, đơn giản, không khơi gợi được tình cảm nơi người đọc. Ở đây có thể ví như món ăn bổ mà không ngon, không khoái khẩu người thưởng thức nên không được ưa chuộng. Cũng có thể nói rằng như thế chưa phải là văn chương, bởi vì hai tiếng văn chương đã có ẩn ý là phải hay, mà đã là hay thì nội dung và hình thức song toàn.

Kinh nghiệm cuộc đời cho thấy cái gì là giả không thể tồn tại lâu dài, cũng như cái gì là thật không thể chìm khuất mãi. Một lúc nào đó, người đọc nhận ra ngay những éo le, hấp dẫn, bóng bẩy kia chỉ là lớp sơn hào nhoáng bên ngoài và người đọc hối hận: Tại sao lúc ấy ta lại tin như vậy, lại xúc động đến thế? Một khi đã “ngộ” những người đọc này càng khinh bỉ loại văn chương giả. Kẻ bi quan không còn chút niềm tin gì đối với văn chương, kẻ lạc quan gia công đi tìm điều thật.

Nói chuyện văn chương lại liên tưởng đến hoa.

Từ lâu có nhiều loại hoa giả. Lúc đầu còn thô thiển, càng ngày với kỹ thuật tinh vi nhiều loại hoa giả còn đẹp hơn hoa thật. Cùng với hoa thật, hoa giả đóng một vai trò quan trọng trong việc trang trí, khánh tiết. Có người chê hoa giả, cho là đồ giả thì không đáng quý, chẳng cần khen chê.

Cha tôi có bài thơ vịnh hoa giả:

Mượn tên đẹp đẽ cũng như ai
Cũng trúc, cũng lan, cũng thược, mai
Tết tới đua chen cùng chúng bạn
Xuân về hớn hở khắp trong ngoài
Nữ công chị hỡi trau tria với
Thưởng khách chàng ơi chớ phụ tài
Đành phận không hương nhưng có sắc
Đã từng lên án lại lên đài

Thật tình tôi không hiểu rõ ngụ ý của bài thơ là khen hay chê hoa giả, giả sử chê thì chê một cách khéo léo. Chỉ thấy rõ là khen tài người làm ra hoa, với quan niệm xưa đây là việc thủ công của nữ giới.

Nghĩ lại thì hoa giả đâu phải là hoa giả mà là sự phối hợp giữa mỹ thuật và kỹ xảo, người ta dùng một số nguyên liệu nào đó tạo ra một vật giả làm hoa, giống như hoa. Tác giả những hoa này nói thật nó là hoa giả, không đánh lừa người mua, vậy nó là “hoa giả thật”, nó không phải là hàng mị, hàng giả, hàng thứ phẩm, phế phẩm, hàng hỏng. Thích hay không thích là tùy ý từng người.

Hoa giả, nói cụ thể là hoa vải, hoa giấy, hoa ni-lông gì đó… là kết quả của sự bắt chước, mô phỏng, con người bắt chước trời đất, mô phỏng thiên nhiên mà tạo ra. Nó có cái nhược là không phải hoa thật hái từ cành cây, nó có cái ưu là là dùng được lâu, giữ cái đẹp được bền, không tàn, nên đỡ phải thay đổi, chứ theo giá cả bây giờ chưa chắc đã đỡ tốn.

Nhưng sở thích con người thường nhanh chóng thay đổi. Người sành điệu chơi hoa thật phải thay hoa luôn thì chơi hoa giả cũng phải thay luôn, nếu không sẽ bị “quê”, bị lạc hậu.

Hạng nghèo như tôi, không có tiền mua hoa thật và hoa giả, hai loại đều đắt cả. Thôi thì hái hoa dại trời cho, mọc ở bờ suối, vệ đường, sáng cắm, chiều bỏ… Cũng có màu sắc như ai và tự nghĩ rằng mình đây cũng biết yêu hoa, thưởng hoa như thiên hạ.

Trần Huiền Ân

Nợ Nần

Ôi cha là mỏi cái lưng, tôi dừng cuốc nhìn ánh chiều đang nhạt, chắc cũng hơn năm giờ rồi, thôi nghỉ, còn đi cho gà cho cá ăn nữa là vừa. Vừa lau mồ hôi, tôi vừa rẽ cỏ đi về phía căn nhà gỗ nho nhỏ bên rìa vườn. Khu vườn của tôi không lớn là mấy, chỉ hơn sáu nghìn mét vuông với vài trăm cây ăn trái. Sự chăm sóc sẽ không là nặng nhọc nếu có thêm một người phụ nữa. Có điều, không đơn giản khi tính đến chuyện ấy. Một người giúp việc đàng hòang, thật thà và nhiệt tình thì quả là một sự đánh đố khắc nghiệt trong thời buổi nhập nhòa đen trắng này. Tôi thường không quá xét nét người, nhất là những người vì sự khó khăn mà phải đem thân chịu sự sai bảo, phải gánh những phần việc nặng nhọc, nguy hiểm, đôi khi còn phải bưng tai bịt mắt mà chịu đựng những lời khó nghe từ những người đang nắm giữ phần sống của mình. Tôi lại dễ động lòng trắc ẩn, dễ cả tin vào những lời than thở, nỉ non, dễ nhắm mắt cho qua những thiếu sót nhỏ nhặt, dễ chấp nhận những yêu cầu, chỉ cần là không quá đáng của cái vế thường được gọi là “kẻ dưới”. Nói một cách chân thật nhất, tôi là một kẻ biết thương người, một kẻ luôn lấy hai chữ nhân tâm làm đầu, một kẻ thường không cho phép đem những ưu thế của mình đòi hỏi sự phục dịch đầy nhẫn nhục của người khác, và thật tình tôi không muốn làm phiền hay làm khổ bất kỳ ai trong mọi tình thế.

Nếu có thể cho đó là những ưu diểm thì không phải là không đáng. Có điều những ưu điểm đó lại biến thành những yếu điểm cho những người biết cách lợi dụng. Biết rõ nhược điểm của mình, nhưng tôi chẳng làm sao thay đổi được, đành vậy, trời sinh mỗi người mỗi tâm mỗi tính, hay nhờ dở chịu thôi. Cũng chính vì thế mà tuy công việc có phần vất vả, nhưng tôi chẳng dám mượn người giúp. E chuyện khó lòng về sau, tâm lý của người đi làm công thường chẳng mấy ai hết lòng với chủ. Họ cho rằng làm nhiều làm ít cũng bấy nhiêu lương, hết công hết sức làm chi cho uổng. Đã vậy họ luôn thừa cơ để tận dụng những cái lợi cho mình, chưa kể đến một lúc nào đó máu tham bốc mờ nhân trí, họ sẽ trực tiếp gây hại cho chủ. Thực tế đã quá nhiều những bài học thảm thương, nghĩ mà buồn cho thế thái, nhân cách, lương tri đôi khi chẳng đáng mấy đồng lẻ. Thôi thì đành chịu khó thêm chút nữa vậy, việc hôm nay làm không xong thì mai làm tiếp, sức mình đến đâu thì cày sâu đến đó vậy. Đa mang cho lắm chỉ tổ vác họa vào thân. Ấy thế mà rồi cũng xong khối việc, lâu lâu nhìn những gì đã qua đôi tay của mình, lại mỉm cười tự thưởng cho mình một câu “Được đấy”. Thì có mỗi một mình, không tự khen thì đợi ai khen nữa.
_ Chị ơi…
Tiếng gọi rụt rè khiến tôi ngỏanh ra cổng, một hình dáng lạ, ai thế nhỉ ? ai mà còn đến vào giờ này ?
_ Có việc gì đó em ?
Trong thời gian của câu hỏi, tôi đã lướt nhanh qua người đứng ngòai cổng. Một cô gái độ ngòai ba mươi, tay xách một túi hành lý như có vẻ ở xa tới, bộ quần áo cũ kỹ, hơi nhàu, gương mặt hốc hác, tái ngắt, lộ rõ vẻ mỏi mệt.
_ Chị…chị có cần người làm không ạ ?
_ Không em.
Nét thất vọng kèm theo chút gì như hỏang hốt.
_ Chị không cần thật ạ ?
Tôi gật đầu, cố như vớt vát, cô gái nói thêm :
_ Em hỏi mấy nhà gần đây, họ bảo chị ở một mình, lại vườn rộng , chắc sẽ cần người.
_ Thì cũng đúng thế đấy, nhưng chị tự lo liệu được, nên…
Tôi bỏ dở câu nói, nhìn nét mặt thẫn thờ của cô gái lạ, tôi chạnh lòng. Ánh mắt cô gái nhìn mông lung trong không gian tai tái giấc cuối ngày, ánh mắt bơ vơ, cô độc, ngơ ngác, lo âu và tuyệt vọng. Cô gái chợt khẽ nhăn mặt, đưa tay ôm bụng, tôi thóang thấy tấm áo gồ lên khỏang giữa, nhưng cô quay lại khẽ gật đầu chào tôi :
_ Cảm ơn chị, em đi.
Bước chân rã rời, không khó khăn gì mà không nhận thấy đó đang là một tình cảnh đáng lưu tâm. Tôi buộc miệng :
_ Em này…
Cô gái quay ngoắt lại, trong mắt như sáng lên :
_ Chị…
Tôi mở khóa cổng, bước hẳn ra ngòai, quét tia nhìn qua bụng cô gái, đúng là cô gái đang có mang, tôi nhẹ giọng :
_ Em ở xa đến đây à ?
_ Dạ , vâng.
_ Thế bây giờ em đi đâu ?
Cô gái cúi đầu, giọng hơi ướt :
_ Dạ…em không biết đi đầu nữa.
Tôi im lặng vài giây cân nhắc, rồi thở ra bảo :
_ Thôi, em vào đây đã.
Có vẻ bất ngờ, nhưng cô gái im lặng theo tôi.Vào đến nhà, tôi đưa một cái ghế tựa cho cô :
_ Em ngồi đây nghỉ tí cho dỡ mệt đi đã, chị làm xong mấy việc vặt rồi chị vào.
_ Chị có việc gì, em làm phụ với.
_ Thôi, em cứ nghỉ đi, chị làm xong ngay ấy mà.
Cô gái nghe lời, ngồi xuống ghế, tôi nhanh tay với những công việc cần thiết. Trong đầu ngồn ngộn những câu hỏi “Làm sao mà phải đi tìm việc làm trong lúc bụng dạ như thế ? Có uẩn khúc gì chăng ? Có chồng hay không có ? Chắc là không, chứ nếu có thì sao lại ra nông nỗi thế ? Mình cho người ta vào nhà như vậy có mạo hiểm quá không ? Mình có biết gì về người ta đâu ? Lỡ bị gài bẫy thì làm thế nào ? Nhưng chắc không phải thế đâu, nhìn mặt thấy có vẻ hiền lành lắm mà. Nếu không cho người như vậy vào nhà, chí ít là cũng nghỉ tạm qua một đêm thì mình lại không đang tâm. Chắc không sao đâu, hẳn là người ta gặp chuyện gì quá đáng nên mới như vậy. Thôi thì cứ giúp người ta qua lúc này đã, cũng chẳng dễ gì mà hại được mình. Đừng tự nhát mình thế chứ. “Nghĩ thế, tôi thấy yên tâm hơn. Xong hết việc, tôi bảo cô gái đi tắm rửa rồi ăn cơm. Sau bữa cơm, trông cô gái có vẻ khá hơn. Cô mở túi xách, lấy ra cái chứng minh thư đưa cho tôi :
_ Chị cầm đi ạ, chứng minh của em đấy.
Tôi cầm coi qua rồi trả lại, nói :
_ Thế này Sương ạ. Thực tình thì chị không có khả năng nhờ người giúp việc đâu. Lúc nãy thấy tròi sắp tối rồi, em lại bụng dạ thế này, nên chị bảo em vào nghỉ tạm qua đêm nay đã rồi mai tính.
_ Em cảm ơn chị. Bây giờ em mới dám nói, nếu chị không cho em vào thì chắc em cũng không biết mình có đi nổi mấy bước nữa không.
_ Thế nhà em ở đâu ?
Sương cúi mặt một lúc, rồi đưa tay lên chùi mắt, tôi im lặng, đóan biết cô sẽ nói gì đó cho tôi nghe. Đúng vậy, giây lát cô ngẩng lên nhìn tôi, mắt đỏ hoe :
_ Em xin lỗi chị, chuyện của em buồn lắm, nếu…
Hiểu cô nghĩ gì, tôi nói ngay :
_ Tuy không rõ cụ thể là em gặp chuyện gì, nhưng nhìn qua chị cũng đóan hiểu phần nào. Chị em mình gặp nhau hôm nay, cũng là có một chút duyên, nếu em có gì không vui, nói chị nghe xem chị có giúp được gì cho em không ?
_ Chị tốt quá, đúng là trời còn thương em, cho em được gặp chị thế này.
Ngưng một chút, Sương bắt đầu kể :
_ Nhà bố mẹ em ở ngòai Bắc cơ chị ạ. Em lấy chồng rồi theo chồng vào đây, cũng được hơn sáu năm rồi. Em có thai đứa này là đứa thứ hai, đứa đầu là con trai, đã gần bốn tuổi, nhưng phải gửi ông bà nội cũng ở ngòai Bắc, vì vợ chồng em vào đây còn khổ lắm, lo không nổi cho cháu. Em cũng đâu có định sinh nữa, nhưng bị lỡ nên phải đành để. Có điều, khổ vì làm ăn vất vả mấy em cũng cố chịu đựng được, nhưng cái khổ của em …(Sương ngừng lại và nấc lên, tôi khẽ thở dài, trông cô đau khổ quá)..Em khổ vì chồng em là nhiều nhất. Hầu như không ngày nào là anh ta không đánh em chị ạ …
_ Đánh ?
Sương khe khẽ gật đầu, lại đưa tay chùi mắt.
_ Em bầm mặt tím mày như cơm bữa, lúc đầu còn khóc lóc van xin, nhưng chẳng ăn thua gì, anh ta đánh chán tay thì thôi, không ai can được. Chính quyền thôn xã, bà con láng giềng can thiệp, anh ta bảo vọ tao thì tao dạy, đứa nào chõ mõm vào tao đánh luôn đứa đó. Anh ta còn đặt điều, vu cho em bao nhiêu là thói xấu để có cớ đánh đập, mà khổ nỗi, em thì đầu tát mặt tối suốt từ sáng sớm đến nửa khuya, có thò đi đâu được mà bảo là chơi bời, lê lết. Việc nhà lớn nhỏ chớ hề anh ta đụng tay, đi làm công cho người ta được đồng nào giữ riêng đi uống rượu hết, say rồi về nhè em đánh, tức bực ai ngòai đường cũng về nhè em đánh, không có tiền ăn nhậu về hành em.Vốn liếng được mấy sào đất trồng tỉa vặt vãnh chỉ gọi là đủ đắp đổi, em phải đi làm thuê cho người ta mới gọi là có tí tiền dành lo cho con.
Nhìn xuống bụng mình, Sương thở hắt :
_ Độ ba tháng nữa là em sinh, trong tay không có một đồng tiền nào, có cái nhà ọp ẹp anh ta cũng đốt mất rồi ..
_ Cái gì ? Đốt cả nhà á ?
_ Vâng. Hôm rồi say sỉn nổi khùng lên vác dao rượt em chạy khắp xóm, may mà cái thai không làm sao, đòi giết em không được thế là về đốt nhà. Chị bảo em còn khổ đến thế nào nữa. Còn được mấy cái quần áo phơi ngòai dây, khuya em lẻn về lấy rồi trốn đi đây. Nói thật với chị, hai ngày qua em chỉ có mỗi gói mì vào bụng. Không gặp được chị thì không biết…
_ Trời ơi trời !
Nếu nói là bịa thì người phụ nữ này không đủ tài để bịa được một câu chuyện như thế, mà thật thì…trời ơi, kinh khủng quá. Hốt nhiên tôi nghĩ về mình, may quá, tôi không bị gặp phải lọai đàn ông ấy. Cứ bảo đẹp xấu gì cũng lấy cho có tấm chồng mà nương tựa, nhưng chồng kiểu này thì chắp cả guốc lên mà vái.
_ Vậy anh em gia đình hai bên có biết không ?
_ Dạ biết cả đấy, nhưng cả hai gia đình đều ở xa, có vào cũng chỉ được dăm ngày là về, đâu lại đóng đó.
_ Chẳng lẽ em không làm cách nào để thóat khỏi cảnh ấy sao ?
_ Em biết làm cách nào bây giờ hả chị ? Con thì sắp hai đứa rồi, dù thế nào cũng phải có cha, mà em có đi đâu cũng chẳng thóat khỏi anh ta được, bỏ thì không cho bỏ, nhiều lúc em cũng mong anh ta bỏ em đi cho em đỡ khổ, một mình em làm nuôi con còn tốt gấp mấy lần. Nhưng mà rồi …
_ Vậy lúc trước thương nhau mà lấy hay bị ép gả ?
_ Dạ, do thương mà lấy, chứ mà bị ép nữa chắc em tự tử lâu rồi. Mà ngày chưa lấy nhau anh ta hiền lành tử tế lắm cơ, em nào ngờ.
Tôi thừ người, cái khổ của người đàn bà biết nói sao cho hết nhỉ ? Không chồng không con thì bảo là cô quả cô độc, lấy chồng rồi thì phải sống chết cả đời vì chồng vì con, gặp được người chồng tốt thì còn coi như có phước, gặp cái thứ trời đánh thánh đâm như vầy cũng phải cắn răng mà chịu. Cho dù cũng đã có không ít những người phụ nữ tìm cách bức thóat, có thóat được cũng đã mang đầy thương tích, cũng chẳng dễ dàng gì tìm lại được một hạnh phúc êm dềm.
Sương đã ngủ say, có lẽ cô đã quá mệt rồi, tôi còn trăn trở mãi không ngủ được. Câu chuyện của một người xa lạ giờ ở ngay bên tôi làm tôi bứt rứt. Tôi phải làm thế nào trong tình cảnh này đây ? Vốn tâm tính tôi ưa lo chuyện bao đồng, lại gặp một vấn đề nan giải này bảo sao tôi coi như không nghe được. Chuyện giữa đường cứ như đặt để vào tay, có lẽ giữa tôi và cô gái này có một chút duyên phận, bởi sự dẫn dắt ngẫu nhiên nhưng lại rõ ràng là có cơ sở. Nếu như cô ây gặp tôi vào một thời khắc khác, không phải là khi sâm sẩm tối, không phải trong bộ dạng quá thiểu não đến tội nghiệp như thế, và nếu tôi là một người lạnh lùng, vô cảm, thì chưa chắc đã có lúc này. Một mảnh đời vất vưởng đang trông vào chút lòng nhân đức của tôi, dù muốn dù không tôi cũng không thể nào đẩy con người khốn khổ này ra đường. Thôi thì…
Tờ mờ sáng Sương đã nhỏm dậy, tôi cũng đã thức giấc trước một lúc, thấy cô rón rén bước xuống giường, tôi lên tiếng :
_ Em dậy sớm thế ?
_ Dạ , em quen dậy vào giờ này, chị cũng dậy sớm thế ạ ?
_ Ừ , chị cũng quen rồi, việc nhà nông mà, có ai trễ muộn được đâu.
Cả hai loay hoay một lúc thì xong phần việc buổi sớm. Tôi đun nước nấu hai gói mì và ấm trà. ăn xong, tôi bảo Sương :
_ Sương này, chị nói thế này nhá.
Sương như nín thở nhìn tôi.
_ Nghe qua chuyện của em, chị thấy rất bức xúc, nhưng chưa biết rồi có giúp gì được cho em không. Trước mắt, em cứ ở lại đây, chị em rau mắm cũng xong thôi, rồi từ từ xem tình hình ra sao mới tính được.
Cô gái xúc động ứa nước mắt :
_ Em mang ơn chị quá, em không biết nói sao bây giờ nữa.
_ Không cần phải nói gì đâu, ai thì cũng làm như chị thôi. Còn công xá thì…
_ Không, không, chị dừng nói đến công xá, em được chị giúp cho thế này là quý lắm rồi, em không dám đòi hỏi gì hơn đâu, chị đừng nghĩ ngợi gì cả.
Tôi im lặng ngẫm nghĩ một chút rồi gật đầu :
_ Ừ thôi, để cho em thỏai mái tự nhiên, chị không nói chuyện ấy nữa, nhưng lúc nào mệt mỏi, em cứ việc nghỉ ngơi, không phải cố đâu nhé. Công việc chị thì cũng không nhiều, chị vẫn quen làm một mình cả đấy, nên em đừng có nghĩ ngợi lung tung mà cố quá, lỡ ảnh hưởng cháu thì chị không đền được đâu.
_ Dạ, chị cứ yên tâm, em tự biết sức mình mà.
Nói vậy thì nói chứ tâm trạng của người chịu ơn nó nặng lắm, tôi rất hiểu điều đó, nên mỗi lúc thấy Sương vã mồ hôi vì cố sức trong công việc thì tôi thấy mình rất khó chịu, tuy vẫn luôn nhắc chừng cô, nhưng đôi khi cũng vờ làm ngơ cho cô có được cảm giác đền đáp để có thể thỏai mái hơn trong sinh họat. Thấm thóat Sương đã ở cùng tôi hai tháng, nhìn bụng Sương mỗi ngày một to ra mà tôi thầm lo. Không biết sắp tới sẽ tính sao đây ? Chẳng lẽ để cô sinh nở ở nhà tôi luôn sao ? Thứ nhất là sự nguy hiểm khi sinh, vì khá xa cơ sở y tế, nhỡ đêm hôm chuyển bụng thì biết làm thế nào. Lại tôi cũng chẳng dư dả gì mà cưu mang cô mãi được, dù lòng có tốt đến đâu thì cũng phải có điều kiện hỗ trợ mới có thể tốt được. Tôi chưa từng vào cuộc, nhưng cũng thừa hiểu những gì cần phải có cho người phụ nữ vào lúc ấy. Biết làm sao đây ? Đi vay mượn để lo chuyện bao đồng chăng ? Chắc thiên hạ sẽ cười cho dữ lắm, nhưng nếu cùng quá cũng phải vậy thôi, ai cười thì cười, không lẽ kéo người ta lên nửa chừng rồi thả cho người ta rớt cái ịch xuống. Hóa ra không chỉ mình tôi nghĩ ngợi, mà nhân vật chính còn nghĩ ngợi hơn tôi nhiều.
_ Chị ơi, chị có đi phố chị gửi giùm em bức thư này nhé.
_ Gửi cho mẹ em à ?
_ Dạ vâng. Bữa giờ em không dám liên lạc, sợ chồng em biết chỗ đến tìm, gây phiền hà cho chị. Nhưng giờ thì phải vậy thôi, còn gần tháng nữa em sinh rồi, làm sao ở đây mà vạ chị mãi được. Em liên hệ với mẹ em, đê mẹ em vào đón em.
_ Thế thì chồng em cũng sẽ biết.
Sương thở dài :
_ Đành vậy thôi, em chỉ cố tránh để con em bình yên ra đời lúc này thôi, chứ làm sao tránh được anh ta cả đời này hở chị ?
Tôi im lặng, biết nói gì bây giờ. Một lúc Sương lại tiếp :
_ Cái số kiếp em nó thế thì phải chịu thế, chẳng làm sao khác được.
Số với kiếp. Cũng chẳng có cách lý giải nào khác hơn, không phải là số thì sao lại gặp người như thế. Người đàn bà lấy chồng là buộc mảnh đời mình vào một sợi chỉ, mặc giông gió đẩy đưa theo từng cơn nóng lạnh. Vui buồn, sướng khổ tùy thuộc vào tâm thái của người đàn ông. Có ra sao thì cha mẹ, anh em cũng không có quyền tham dự.Bảo rằng tạo hóa thì phải thế, trời sinh rà đàn ông đàn bà là để kết hợp lại với nhau, nhưng sao lại có những cuộc kết hợp đọa đày đến thế.
Thân cá nước đục, thân cò ăn đêm. Nhìn ánh mắt thất thần và gương mặt mét xanh của Sương khi nhìn thấy người đàn ông đi cùng mẹ cô cũng đủ hiểu đấy là ai. Anh ta ném một cái nhìn sáng quắc về phía vợ trước khi mở lời với tôi. Cái nhìn mà tôi là người ngòai cũng lạnh cả sống lưng. Một nỗi căm giận bùng lên trong tôi, nhưng tôi phải cố nén, nếu không, hẳn cô gái tội nghiệp kia sẽ phải gánh một hậu quả khủng khiếp .
_ Thì ra vợ tôi lâu nay ở nhà chị, thế chị và cô ấy quen biết thế nào?
Rõ là một câu nói gây hấn.
_ Chẳng thế nào cả, tôi cần người giúp việc, cô ta đến xin việc thì tôi cho vào làm, thế thôi.
Không cố tình chăng nữa, thì tôi cũng không đủ bình tĩnh để làm một chủ nhà lịch sự. Gã đàn ông nhìn tôi soi mói, sỗ sàng :
_ Sao lại đi thuê một người bầu bì nặng nhọc thế kia vào làm việc?
Tôi quắc mắc nhìn thẳng vào anh ta :
_ Thế thì tại sao vợ anh trong lúc bụng mang dạ chửa thế kia mà phải đi xin việc làm để kiếm miếng sống ?
Nếu tôi không phải là chủ nhà mà anh ta đang đứng, có lẽ tôi không tránh khỏi một động tác nào đấy từ gương mặt đỏ bự hầm hầm kia. Mẹ Sương len vào giữa tôi và anh con rể, ôn tồn :
_ Thôi chị thông cảm, vì vợ chồng chúng nó có chút chuyện không vui nên nó mới nóng thế. Chị cho tôi xin lỗi, cảm ơn chị đã giúp đỡ em nó lâu nay. Xin phép chị hôm nay cho chúng tôi đón em nó về.
_ Bác ạ, cháu không biết gì về chuyện riêng của hai người, nhưng quả thực là cháu rất lo cho Sương, tuy không quan hệ thân thiết gì, chị em cũng mới biết nhau đây thôi, nhưng cháu thấy gia đình nên quan tâm đến em nó nhiều hơn. Cháu là người ngòai mà còn không nỡ…
Người mẹ thở dài, trong đôi mắt bà một nỗi buồn dâng kín.
_ Vâng, cảm ơn chị. Chúng tôi ở xa quá nên đôi khi cũng không giúp em nó được nhiều. Thuyền theo lái, biết làm sao được.
Câu nói buông xuôi, phó mặc. Tôi nhìn về phía Sương, em hướng về tôi tia mắt khẩn cầu và khẽ lắc đầu. Tôi thở dài. Chỉ là một người dưng, tôi có quyền gì để thay đổi được số phận em. Đi đến trước mặt Sương, tôi kìm lắm để không ôm lấy em bởi hành động ấy lại không tốt cho em một chút nào, tôi móc túi lấy món tiền đã chuẩn bị sẵn, nhét vào tay Sương :
_ Em hãy cầm một chút này về lo cho cháu nhé.
_ Thôi , thôi chị …
_ Cầm đi cho chị vui, coi như chị cho cháu vậy. Mong sao em mẹ tròn con vuông. Nếu có nhớ đến chị hãy đặt tên con là Yên Yên nhé. Chị rất muốn mẹ con em sẽ được bình yên.
_ Chị…
Nước mắt Sương chảy tràn trên má, tôi nắm chặt tay em. Người mẹ đã đến bên cạnh, bà nhìn tôi, đôi mắt cũng rưng rưng.
_ Cảm ơn chị, cảm ơn chị nhiều lắm.
_ Thôi. mọi người đi đi không trễ xe.
Gã đàn ông khốn kiếp kia đã ra cổng từ lúc nào. Hai mẹ con Sương dìu nhau đi ra. Tôi tiễn đến cổng thì dừng lại. Họ còn phải đi bộ một quãng nữa mới đến trạm xe búyt. Gã kia cắm mặt đi trước, không cả một lời chào xã giao, hẳn gã còn căm tôi lắm vì câu hỏi móc ban nãy. Tôi nhìn theo dáng đi ì ạch của Sương mà thương quá. Chỉ cái tên cũng đã nói lên sự mỏng manh của một kiếp phận rồi. Có chút duyên nào đâu, chẳng qua chỉ là một thứ nợ nần mà thôi.

Đàm Lan

Người Xưa và Hoa Mai

Trong một bức tranh ta tưởng tượng, có lẽ nên tưởng tượng là phấn tiên trên giấy nhung, cụ Tiên Điền vẽ cảnh cuối xuân bên Tàu:

    Cỏ non xanh tận chân trời
    Cành lê trắng điểm một vài bông hoa

Một bức tranh khác, ta tưởng tượng là tranh thủy mặc, bác Vũ Đình Liên vẽ cảnh đầu xuân ngoài Bắc:

    Mỗi năm hoa đào nở
    Lại thấy ông đồ già
    . . .
    Năm nay đào lại nở
    Không thấy ông đồ xưa

Còn Phương Nam? Mùa xuân có hoa mai. Nhưng không phải riêng Phương Nam, trong văn học nghệ thuật Á Đông với bộ tứ bình “mai – lan – cúc – trúc”, hoa mai là tượng trưng mùa xuân.

Ngày xưa, không ai đem cây mai trồng trong chậu, như thế là giam hãm cái khí tiết thanh cao của mai. Cây mai là của trời đất, ủ sương, phơi nắng, dãi dầu cùng thảo mộc sơn khê. Chợt gặp người lính trạm bên đường, ta bẻ vội một cành mai, thay lá thư gởi thăm bạn cố tri. Hoa mai còn tượng trưng cho phái đẹp nên những bức tranh vẽ hoa mai bao giờ cũng có cành giao nhau thành chữ “nữ”.

Có những tác phẩm lấy hoa mai làm rường cột cho câu chuyện như Nhị độ mai, Mai đình mộng ký… Ngoài ra từ văn chương bác học của các đại danh đến văn chương bình dân, hoa mai được nhắc đến rất nhiều, trong nhiều sự hòa hợp, hơn hẳn các loài hoa khác.

Mai đi với trúc:


    – Mai khai phú quý, trúc báo bình an
    – Thờ ơ gió trúc mưa mai
    – Chắc rằng mai trúc lại vầy
    – Một nhà sum họp trúc mai
    – Ai đi đường ấy hỡi ai
    Hay là trúc đã nhớ mai đi tìm

Mai đi với hạc:


    – Nghêu ngao vui thú yên hà
    Mai là bạn cũ hạc là người quen

    – Hỡi người mình hạc xương mai
    Ở miền thị tứ tìm ai chốn này?


Mai đi với tuyết:


    – Mai cốt cách tuyết tinh thần

Mai đi với liễu:


    – Gió đưa liễu yếu mai oằn
    Liễu yếu mặc liễu mai oằn mặc mai

Mai đi với cúc:


    – Nét buồn như cúc điệu gầy như mai

Mai đi với điểu:


    – Xem thơ biết ý gần xa
    Mai hòa vận điểu điểu hòa vận mai

Vân vân… Còn nhiều nữa.

Đi tìm một nhành mai, ai đã võ vẽ đọc thơ đều cúi đầu khi gặp Mãn Giác thiền sư:

    Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
    Đình tiền tạc dạ nhất chi mai
    (Đừng tưởng xuân tàn hoa rụng hết
    Đêm qua, sân trước, một nhành mai)

Ngải Tuấn Mỹ, đời nhà Thanh có câu đối tặng Phó sứ Việt Nam Nguyễn Tư Giản đã được truyền tụng rộng rãi:


    Thập tải luân giao cầu cổ kiếm
    Nhất sinh đê thủ bái mai hoa

Ca ngợi hoa mai, nhưng cái thần tình của câu đối nằm ở vế trên, chuyện thập tải luân giao. Ông Viên Linh đã dùng vế ấy ghi nơi hộp thư tạp chí Thời Tập xuất bản trước năm 1975 tại Sài Gòn. Hộp thư không chỉ ghi những bài đã nhận mà là nơi giao lưu giữa người chủ trương, tòa soạn với bạn viết, bạn đọc. Ông Viên Linh là người có tài làm hộp thư, nhiều câu trả lời dí dỏm, rất hay. Mở tờ Thời Tập tôi cũng như nhiều người trước hết đọc mục hộp thư.

Trong Vang bóng một thời, truyện viết về thú chơi thả thơ, ông Nguyễn Tuân dẫn câu:

    Mộ thượng mai khai xuân hựu lão
    Đình biên hạc khứ khách không hoàn

Vẫn là mai đi với hạc. Vế dưới khiến ta nghĩ đến Hoàng Hạc lâu: Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản. Vế trên cho ta hình dung ra cảnh không phải sầm uất cũng không phải hoang sơ, một cảnh xuân thật độc đáo. Hoa mai nở trên mộ, nét xuân càng già dặn.

Lúc nhỏ, mỗi khi trời tạnh mưa, nhìn dấu chân mèo chân gà đi trên sân ướt, cha tôi hay đọc câu đối, tôi không biết của người hay của ai:


    Võ hậu đình tiền, miêu túc mai hoa, kê túc trúc
    Dạ thanh thiên thượng, tinh hình đạn tử, nguyệt hình cung

Vế dưới bình thường: Đêm thanh, trên trời, những vì sao giống như viên đạn, mặt trăng giống như chiếc cung.

Vế trên thật hay: Sau cơn mưa, trước sân, dấu chân mèo in hình hoa mai, dấu chân gà in hình lá trúc.
Cái nhìn của tác giả thật sắc sảo, kết hợp giữa hình ảnh thực tế gần gũi ngay trước mắt là dấu chân mèo, dấu chân gà với ước lệ của thi và họa: hoa mai và lá trúc.

Tái bút: Ở trên tôi có nhận xét về câu đối này: “Vế dưới bình thường”. Nay thấy không phải là bình thường. Mờ sáng ngày 17-9-2009 (29 tháng 7 năm Kỷ Sửu âm lịch) tôi đi bộ dọc bờ sông Chùa (một phụ lưu của sông Đà Rằng trong phạm vi thành phố Tuy Hòa) chợt nhìn lên bầu trời, thấy còn vầng trăng mỏng, thật mỏng, chỉ là một đường cong, và chỉ duy nhất một ngôi sao cạnh đó, rõ ràng là tinh hình đạn tử nguyệt hình cung. Vế này tuy không xuất sắc như vế trên nêu lên hình ảnh dấu chân mèo và dấu chân gà, cũng chứng tỏ khả năng quan sát của tác giả thật độc đáo.

Trần Huiền Ân

Hoa mai sáu cánh

Trước đây hầu như nhà nào ở Huế cũng trồng mai trước sân- một hoặc nhiều cây tùy theo sở thích chủ nhân và diện tích đất. Nhà tôi cũng có hai cây. Và hai cây mai nầy đã chứng kiến bao buồn vui của gia đình tôi suốt mấy chục năm nay.

Hai cây mai được Ba tôi trồng trước khi có tôi hay ai trồng trước đó nữa thì tôi không rõ và cũng chưa lần hỏi, chỉ biết khi quan sát được đã thấy trước sân nhà, một bên phải và một bên trái. Cây bên trái có vẻ bị lấn át bởi cây bên trái về chiều cao, số nhánh và hoa nhưng cả hai đều có dáng đẹp với cành vươn cao, cành nghiêng nghiêng , cả cành ngang bướng bỉnh và cho hoa đẹp. Hoa năm cánh vàng rực với nhụy vàng lộng lẫy kết vòng tròn tròn như vương miện, tỏa hương dìu dịu trong nắng sớm ngày xuân. Ba tôi rất quí hai cây mai. Không kể mùa, ngày nào ông cũng để mắt tới. Khi thì vừa thức dậy; khi thì đi làm về; khi thì đang bế em tôi, ông đều nhìn hai cây mai với vẻ trìu mến.

Hai cây mai hình như cũng hiểu được tình cảm ông nên xanh tốt suốt mùa hè dể rồi đến hết mùa thu thì dần rụng lá và phô vẻ phong sương trụi trần cho đến quá giữa tháng chạp thì nhu nhú nụ xanh, cần mẫn đợi chờ và nở đúng vào dịp tết. Cũng đôi khi do thời tiết thế nào đó lá không rụng đúng chu kỳ, ông lại tự tay trảy bỏ. Chị em tôi thắc mắc thì được giải thích là làm vậy để cây ra hoa đúng tết. Tôi cũng phụ ông trảy những cành thấp với niềm hân hoan tỏ lộ. Ông hướng dẫn tỉ mỉ từ cách cầm cành đến cách trảy lá . Tay trái cầm từng nhánh nhỏ, tay phải cầm lá đưa ngược về sau để không làm trầy lớp vỏ ở mắc lá. Ông bảo đó là nơi chồi sẽ nứt ra với hoa và lá. Chồi hoa tròn, mọc hai bên. Chồi lá nhọn, mọc đầu nhánh. Ông dạy chúng tôi cách phân biệt như vậy Tôi và em trai lớn phụ giúp ông trong khi các em khác của tôi thi nhau nhặt lá làm tiền chơi mua bán. Mặt đứa nào đứa nấy hí hửng vì tiền có nhiều mà không phải hái ( Để chơi trò mua bán trẻ con như chúng tôi thường hái lá giả làm tiền). Tôi thường được ba khen vì không làm gãy nhánh trong khi thằng em thỉnh thoảng bị nhắc ( chả là cậu ta chưa cao bằng tôi nhưng lại ưa với cành cao nên mới vậy).

Trong tiết lạnh của mùa đông Huế nhìn cây mai trơ trụi thấy thương lắm. Những ngày mưa dầm trông càng thương hơn với vẻ cam chịu nhưng không ẻo lả khuất phục như các loại cây khác. Em tôi thường hỏi “ Cây lạnh không Ba” thì được nghe trả lời là “ Cây mai giỏi lắm, lạnh nhưng không kêu ca, còn lo tích nhựa để cho hoa đúng tết” khiến chị em tôi vừa phục Ba vừa phục cây mai. Tôi và em trai cũng bắc chước ông, ngày ngày săm soi ngó nghiêng và vui vẻ thông báo về tiến triển đâm chồi nẩy lộc cho Ba thường xuyên cứ như là ông không biết vậy .

Hai cây mai này có vẻ rất muốn làm vui lòng ba tôi nên lúc nào cũng nén lại chờ đúng sáng mồng một Tết mới xòe cánh, không phải đồng loạt mà rón rén trên từng chùm từng chùm nhỏ trong khi mai hàng xóm đã bung đầy từ nhiều ngày trước.Sỡ dĩ nói vậy vì ba tôi thích trò bói hoa mai với các con. Thành lệ từ bao giờ, sáng sớm mồng một là ông kêu chị em tôi ra sân bảo “ đố đứa mô tìm được hoa sáu cánh ba sẽ lì xì nhiều hơn” vì ông cho rằng mai sáu cánh báo hiệu sự may mắn cho cả nhà trong năm mới.Cả mấy đứa thi nhau ùa ra, thi nhau săm soi mong mình là người thấy. Mấy đứa em sau còn thấp bé nên ra sức nhón chân nhón gót tranh giành chỉ trỏ, chỉ tôi thường hay thấy trước vì có lợi thế chiều cao. Qua mồng hai hoa nở nhiều, hoa sáu cánh vì thế cũng dễ có nhưng ba tôi bảo chỉ linh nghiệm trong ngày mồng một. Mấy đứa em tôi không chịu, theo bắt đền ba cho bằng được. Trò bói hoa thật vui, đem lại bao nhiêu tiếng cười trong căn nhà đơn sơ.

Có một năm chúng tôi không bói mai được.

Từ giao thừa tiếng súng rộ khắp nơi. Sáng mồng một mẹ tôi líu ríu hớt hải đắt chúng tôi đến một nhà khác trong xóm kiên cố hơn để tránh đạn, không ai kịp thấy có hoa nào sáu cánh không. Chuyến đi đó không ngờ thành dài ngày với nhiều địa điểm khác nhau đến khi trở về mai đã rụng đầy sân , vàng xuộm một màu trên đất dưới mưa phùn ảm đạm. Chúng tôi mất ba từ những ngày đó, ngẩn ngơ mồ côi.

Mẹ tôi một mình chống chèo nuôi chúng tôi. Hai cây mai vẫn nở tàn nở tàn trước sân. Nhớ ba mấy chị em tôi lại ngắt lá, chờ hoa, tìm hoa sáu cánh với niềm hy vọng ba sẽ về đem theo tiếng cười và ánh nhìn ấm áp. Nhiều năm mai đơm nụ nhiều vô kể. Bao nhiêu người đi dạo tìm mua mai đã trả giá cao mong mẹ tôi bán nhưng bà đều từ chối. Bà giữ mai như giữ vật lưu niệm của ba tôi để tưởng nhớ ông.

Theo thời gian hai cây mai cao dần, muốn hái lá phải bắt thang nên chúng tôi chỉ trông chờ
vào trời đất và sân nhà lại vàng tươi khi tết đến xuân về.Rồi chị em lần lượt có vợ có chồng, lận đận mưu sinh, bận bịu con cái. Trò bói mai trở thành kỷ niệm.

Năm 1993, gia đình nhỏ của tôi chuyển đến Buôn Ma Thuột sinh sống. Tết đến dạo chợ hoa hoặc đến thăm nhà ai toàn thấy mai không phải năm mà là sáu, tám, hoặc mười hai cánh, chi chit chen nhau . Cây trồng trong sân thì tỏa nhánh tròn đều, vươn cả lên,dáng na ná đào, ít có cành ngang như mai nhà tôi xưa nên không có ý trồng dù công nhận rằng chúng đẹp.

Vài năm sau có người đem từ Huế vào tặng tôi một cây mai nhỏ. Hóa ra người nầy cũng như tôi, chỉ thích mai năm cánh nên đã nâng niu suốt hai ngày trời trên xe khách ( trước đây xe cộ không như bây giờ) để có mai Huế trên đất bazan.

Chính tay tôi trồng cây mai này ở mé sân trái, hồi hộp theo dõi mấy năm để rồi mừng vui khôn xiết khi lứa đầu tiên rụt rè khoe những hoa năm cánh tươi vàng.

Từ đó mẹ con tôi có thêm niềm vui chờ mai nở. Cũng thường đúng vào sáng mùng một tết hoa mới bung cánh dịu dàng. Nhớ ngày xưa lại săm soi tìm hoa sáu cánh như một hy vọng về sự may mắn có từ bé thơ bởi ba tôi. Kể lại với các con để cười để nhớ để rưng rưng…

Đất Ban Mê rất tốt, mưa nắng khác Huế nên mai thường ít rung lá đúng thời điểm. Các con tôi, đăc biệt là cô con gái lại cùng mẹ trảy lá. Có khi mẹ bân lại lụi hụi bắt ghế trảy một mình. Không có ai giành lá làm tiền như ngày tôi thơ bé bởi trẻ con không còn chơi trò mua bán như thế hệ chúng tôi thưở nào. Năm nay, thằng út lo việc thay mẹ và chị. Khi nụ hoa đầu tiên he hé chút vàng, cu cậu í ới gọi mẹ chỉ trỏ , hí hửng khoe thành tích. Đáng tiếc là hoa nở không đợi tết do năm nhuận – từ 20 tháng chạp – trước cả ngày ông Táo về trời. Sáng sáng tôi tranh thủ nghiêng ngó trước khi đến lớp, thong thả tí chút thì tìm góc đẹp đợi nắng đẹp chụp hình, loay hoay cành thấp cành cao ngắm ngắm tìm tìm bấm bấm. Vậy mà cũng đành chịu lọt mất vài thế hoa đẹp vì giờ giấc không cho phép.

Tết là mùa khô ở cao nguyên. Hiếm khi mưa, mưa phùn càng không có. Mai vườn nở trong ngọn nắng chói chang trông thật lạc lõng. Lại nhớ ngày xưa ở Huế, dưới màn xám nhạt mưa phùn màu vàng của mai thành ngọn lửa ấm áp, cháy trong tĩnh lặng.

Tiếc cái đẹp bị chìm lấp. Dù là chìm lấp dưới nắng trời.

Tôn Nữ Ngọc Hoa
Xuân con cọp.

Vệt vằn của cọp

VT VN CA CP

Trần thị LaiHồng

dịch The Tiger’s Stripes của Võ Đình*

Ngày xửa ngày xưa, bộ lông là niềm hãnh diện của cọp.  Trong bóng cây rừng, dưới ánh trăng, toàn thân cọp là một khối vàng uy nghi uyển chuyển uốn lượn.

Nhưng ngày nay, cọp khoác những vệt đen vằn vện làm hỏng cả bộ mã óng mượt toàn hảo ngày nào.  Với cọp, những vệt vằn vện đẹp đẽ đó ngó chẳng ra chi mà là dấu vết một trận đòn chí mạng.  Tuy nhiên, rồi cọp cũng quen sống với những vệt vằn vện này.  Và mỉa mai thay, những vệt vằn vện đó lại giúp cọp thêm dễ dàng trốn lẩn.  Ẩn mình trong đám cỏ tranh hay náu thân sau lùm cây chằng chịt, cọp lẫn vào cây cỏ, chẳng thể nào thấy được.

Tuy nhiên, khoan vội nghĩ là hồi còn nguyên bộ lông thẫm vàng óng mà cọp lại ít đáng khiếp sợ hơn. Cọp nổi danh nhanh nhẹn, uy vũ, tàn bạo, và tham lam.  Ai cũng biết sư tử no mồi chẳng buồn giết nữa.  Nhưng cọp thì khi nào cũng sẵn sàng tấn công.

*

Chính con thú đó đe dọa cư dân một làng vùng núi nọ.  Lâu nay dân làng sống yên ổn trong công việc hàng ngày, cho đến lúc nỗi hãi hùng bùng nổ như núi lửa.  Chưa đầy một tuần, cọp về làng ba lần.  Một con nghé, một con nghé nữa, rồi một con heo bự lần lượt biến.  Dân làng sợ hãi, hoang mang.  Con mãnh thú – dấu chân rất lớn rành rành để lại – hẳn là một con thú vô cùng xảo trá quỷ quyệt, nhanh nhẹn, và dũng mãnh.  Tấn công lặng lẽ không gây tiếng động, vì lũ chó mọi khi vẫn canh gác cẩn mật thế, lại im hơi lặng tiếng khác thường.  Những vòng rào tre bao quanh mấy căn nhà chẳng hề xiêu vẹo chút nào.

Một người dân làng lo mất gia súc, giận dữ đích thân canh thức cùng hai chàng trai khác đợi suốt đêm rình tên cọp sát thủ. Đối đầu ba tráng đinh giáo mác sắc nhọn, cọp rút chạy về rừng sau khi lẹ làng tàn bạo vồ một người.  Nạn nhân vỡ sọ chết tức tưởi tại trận.

Từ đó, Vua Cọp –  Chúa Sơn Lâm, Ông Hổ, Ông Ba Mươi, Ông Khái với vóc dạng gồ ghề – được cả làng nhắc nhở trong hãi hùng, khiếp sợ và căm hận.  Và cọp tung hoành hùng cứ toàn vùng thung lũng.

Lâu nay Vua Cọp để mắt đến một con trâu mộng đen mập hàng ngày cày ruộng dưới sự điều khiển của một bác nông dân.  Từ sau đám cỏ và bụi rậm trên đồi cao, Vua Cọp quan sát.  Cọp chưa muốn vội tấn công.  Cọp nghĩ:  “ Nếu con trâu mộng to mập dường ấy có bộ sừng nhọn hoắc dường ấy coi bộ mạnh vậy để tui phải đắn đo suy đi tính lại trước khi vồ nó, thì tên lực điền dũng mãnh kia hẳn phải nguy hiểm lắm mới làm chủ sai bảo được con trâu chứ !”

Ngày lại ngày, Vua Cọp càng nôn nóng.  Nhưng thay vì xuống núi tuôn vào cánh đồng liều một trân đẫm máu, cọp quỷ quyệt đủ khôn để vẫn ẩn mình chờ cơ hội.

Một buổi sáng, bác nông dân ra đồng như thường lệ, nhưng coi bộ bỏ quên vật gì ở nhà, để con trâu ở lại một mình trên ruộng.  Từ xa, cọp chăm chú theo dõi.  Một ý tưởng nẩy lóe trong đầu.  “Ta sẽ xuống lân la thân thiện với con trâu, và sẽ bất thần chộp khi nó chẳng ngờ.  Rồi ta sẽ dấu trâu trong bụi rậm.”  Vừa nhẹ nhàng bước, cọp vừa nghĩ tiếp: “Và khi tên lực điền trở lại, ta sẽ “xử lý” hắn khi không còn con trâu để trông cậy !”

Uyển chuyển nhanh nhẹn, Vua Cọp đến gần trâu, cố làm ra vẻ tử tế dịu ngọt: “Bậu trâu ơi !  Nghe nè !  Tui đến với bậu không có ý làm hại bậu đâu.  Tui chỉ muốn hỏi bậu mấy điều lâu nay cứ bận tâm hoài …”

Dầu khiếp đảm, con trâu hiền lành giữ bình tâm.  “Ồ, ông bạn đó à !  Ông bạn Chúa Sơn lâm !  Thiệt tử tế hết sức !  Có chuyện chi tui làm được nào ?”

“Ơ bậu ơi !”  Cọp nói, trong khi tiến thủ trong vị thế sẵn sàng thình lình nhảy vồ trâu, “Lâu nay tui ngưỡng mộ bậu lắm.  Khỏe quá !  Siêng quá !”  Cọp ngước mắt lên trời.  “Thiệt tui không thể tưởng nổi làm sao bậu kéo cái cày nặng nề này được.  Rồi cách bậu làm việc nữa !  Từ sáng sớm tửng bưng đến tối mịt chỉ nghỉ chút xíu vào trưa !  Tui nghĩ bậu thiệt tuyệt, tuyệt, bái phục bậu …”

Dầu khiếp hãi, trâu cũng khoái lắm.  Đấy, chính Vua Cọp đứng trong bùn ruộng đích thân ca ngợi trâu, con vật kéo cày hèn mọn !  Nhưng trâu không quên cảnh giác.  Hễ cọp nhích chân là trâu cũng nhích chân.  Vua Cọp luôn luôn đối đầu với cặp sừng lớn cong vút, nhọn lễu, chĩa thẳng vào mặt.

Cọp lập lại: “Tui nghĩ bậu thiệt dễ nể.  Có điều chẳng phải vì chủ của bậu, bác nông dân …”

Trâu lùi lại : “Chủ tui làm sao, hở ông bạn Vua Cọp?”

“Ờ … họ khoan họ rị, bậu ơi !  Tui nghĩ là bậu để ông ấy khai thác bậu cạn tàu ráo máng.  Tui chẳng biết ông ta sẽ làm thế nào mà kéo cái cày nặng nề này nếu không có bậu giúp.  Nhưng ông ta xử tệ với bậu, quá tệ.  Hò tắt hò rì túi bụi !  Cứ ra lệnh riết !  Rồi cái roi tre trong tay ông ta nữa … Ông ta quất cố mạng vào mông bậu từng ba bước một !  Tàn nhẫn !  Hung bạo quá là ông chủ của bậu.  Nếu tui là bậu thì …”

Nhưng cọp bị trâu ngắt lời.  Trâu chẳng muốn nghe ai nói xấu ông chủ mình.  Trâu ôn tồn:  “Ông bạn lầm rồi.  Ông ấy là một người tốt.  Ông phải ra lệnh để tui biết mà đi chứ.  Còn cái roi ông ấy dùng chẳng phải để đánh tui đau !  Da tui dày cộp nên cái roi ấy nhằm nhò chi !  Ngoài ra, ông ấy chăm sóc tui tử tế, cho tui rơm ăn và chuồng ở.  Cố nhiên ông ấy là chủ tui vì ông có trí khôn.”

“Trí khôn ?”  Vua Cọp nhảy nhổm lên, xích lại gần.  “Trí khôn là cái chi chi vậy cà?   Tui chưa hề nghe.  Trí khôn ngó ra làm sao?”

Trâu ngúc ngoắc đầu, chĩa sừng ngay mặt cọp.  “Tui không biết.  Tui cũng chưa hề tận mắt thấy cái trí khôn ra làm sao cả.  Nhưng tui biết ông ấy có trí khôn vì ai cũng nói thế.  Họ nói vì vậy mà ông ấy rất có uy thế và minh mẫn.  Nhân tiện lát nữa ông ấy trở lại đây, ông bạn có thể hỏi ông ấy về cái trí khôn.”

Tính tò mò của cọp nổi dậy.  Lần này cọp không cẩn thận như mọi khi. Cọp quyết định đợi bác nông dân trở lại.

Vừa ló dạng từ khúc quanh đường làng, bác nông dân chạm mặt cọp.  Nhưng từng được chỉ bảo cách ứng phó với tình hình như vậy, bác biết là không nên bỏ chạy.

Trâu cất tiếng gọi:  “Ông chủ ơi !  Bạn tui đây là Ông Vua Cọp nè.  Anh ta đòi coi cái trí khôn của ông !  Xin ông vui lòng cho anh ta coi cái trí khôn của ông đi !”

Cọp phụ họa theo: “Bác cho tui coi với nào !  Tui muốn coi cái trí khôn của bác, xin coi một lần thôi !  Có phải cái trí khôn giúp bác thông minh và có uy quyền không ?  Sao tui chẳng có cái trí khôn đó ???”

Hoàn hồn sau cơn khiếp hoảng, bác nông dân giang hai tay lên: “Được !  Được !  Chào ông cọp !  Sao ông không tới sớm một tí trước khi tui chạy về nhà lấy mo cơm trưa ?  Để tui biết mà đem cái trí khôn trở lại cho ông coi.  Nó bự lắm nặng lắm không phải lúc nào cũng kè kè vác theo bên mình.  Tui luôn luôn để trí khôn ở nhà.”

Cọp tiu nghỉu.  Nhưng nỗi thất vọng của cọp không làm hắn quên mục đích xuống núi là làm thịt cả con trâu mộng mập ú và bác nông dân kia.  Bây giờ cọp đứng gần chẳng thấy trâu mập người mạnh và nguy hiểm như nhìn từ xa.  “Ta có thể vồ chúng ngay bây giờ, ngay trên thửa ruộng này!”  Vừa nghĩ vậy, cọp vừa quật đuôi, sửa thế vồ mồi.

Bác nông dân nhanh nhẹn:  “Ồ!  Được rồi !  Được rồi !  Đừng ra bộ khổ sở vậy ông ơi !  Ông đã mất công từ rừng ra đây, tui không để ông về tay không chẳng thấy được cái trí khôn.  Tui sẽ trở lại ngay tức thì !”  Bác dợm chân, nhưng chưa được mươi bước, vội quay lại:  “Chiều ý Ngài Chúa Sơn Lâm, tui sẽ về nhà lấy cái trí khôn.  Nhưng tui không muốn để Ngài một mình với con trâu của tui.  Ai phụ tui cày ruộng nếu Ngài ăn thịt con trâu của tui?”

Cọp gầm gừ phản đối chẳng có ý làm thịt trâu, nhưng bác nông dân quyết không rời bước.  Bỗng bác hả hê vỗ đùi đen dét:  “Được rồi!  Nếu Ngài quyết tâm thấy cái trí khôn của tui cho kỳ được, thì Ngài hãy chịu khó để tui buộc Ngài vào gốc cây kia nhé?  Có vậy tui mới chẳng lo chi về con trâu của tui.”

Vua Cọp đảo mắt nhìn bác nông dân rồi nhìn con trâu, rồi lại nhìn bác nông dân rồi lại nhìn con trâu.  Coi chúng thiệt yếu hèn đối với cọp.  Bây giờ có ông chủ, trâu trở lại hiền lành thuần thục.  Trâu đứng đó, đầu hơi cúi xuống, mắt trầm tư đượm buồn.  Cọp nghĩ: “Và cái anh chàng nông dân kia !  Cái anh chàng yếu đuối kia !  Ta phải thấy cái trí khôn của hắn mới được.  Ta sẽ cướp cái trí khôn của hắn, rồi ăn tươi nuốt sống cả hai.”  Quyết tâm xong, Vua Cọp bằng lòng nghe lời bác nông dân.

Bác nông dân bắt cọp đứng thẳng trên hai chân sau, úp bụng ôm sát thân cây gần đó, lấy giây thừng lớn trói vòng con vật vào thân cây.  Vừa buộc chặt nút thắt cuối, bác tháo ngay cái cày khỏi lưng trâu, lấy hết sức lực thẳng cánh nện lên mình cọp.  Cọp đau đớn giận dữ gầm thét vang làng chuyển xóm.

Cuối cùng, cọp vùng vẫy thoát được một chân sau, chống lên thân cây, gồng mình ráng sức bứt đứt giây trói.  Nhưng thay vì quay lại vồ mồi, cọp cúp đuôi dông tuốt một mạch về rừng.

Kể từ đó cọp không còn như trước.  Vì cố ráng vùng thoát, cọp đã làm những vòng giây trói siết chặt phát nhiệt nóng đốt xém bộ lông vàng thành những vệt vằn vện quanh mình.

Bây giờ cọp mới hiểu cái trí khôn của con người là gì, nên thêm quỷ quyệt và là kẻ thủ không đội trời chung với loài người, trở thành con vật chuyên giết người ăn thịt.

Chẳng bao giờ cọp rời hang núi lúc ban ngày để mầy mò quấy nhiễu đám gia súc và chủ của chúng.  Bộ lông trên mình với những vết vằn vện luôn nhắc cọp nhớ đến mưu trí của loài người.

Xin bổ túc thêm phần cuối chuyện liên hệ đến con trâu, không có trong nguyên bản tiếng Anh.

Thấy chủ xử sự dùng trí khôn dạy một bài học để đời cho Vua Cọp, trâu khoái quá hả họng cười lăn cười bò, ngã bổ chửng vào gốc cây, va bập mõm vào tảng đá, gãy trọn cả hàm răng trên.  Và từ đó, trâu không có hàm răng trên nữa.  Cũng từ đó, ta có câu tục ngữ “chởm hởm như trâu mất hàm côi”**, ý chế nhạo chẳng có gì mất cả, vì vốn đã không có rồi.

*  Nguyên bản tiếng AnhThe Tiger’s Stripes của Võ Đình, trong tập chuyện kể dân gian Việt Nam có minh họa The Toad is The Emperor’s Uncle/Con Cóc là Cậu Ông Trời, nhà xuất bản Doubleday & Company, Inc, Garden City, New York, 1970

**  Côi có nghĩa là trên, tiếng Việt xưa, còn dùng tại vùng Thanh- Nghệ- Tĩnh và Quảng Bình/Quảng Trị/Thừa Thiên

A long time ago, the tiger’s coat was a source of great pride to him.  In the shadows of the forest, under the moonlight, the great feline’s body was an undulating and powerful mass of glittering gold.

But today, he loathes the irregular black stripes which mar his once perfect fur.  To him, these beautiful stripes look like nothing but the marks of a cruel slashing whip.  Nevertheless, he has learned to live with them.  And ironically, these very marks have made him even more elusive.  Lurking in the elephant grass or crouching behind a thicket, the tiger, blending into his surroundings, is all but invisible.

Let no one think for a moment, however, that when the tiger’s coat was of a uniform golden brown he was any less fearsome.  His reputation for swiftness and power, cruelty and greed was already established.  It is well known that a lion which has just eaten never kill.  The tiger, though, has always been ready for attack.

*

It was such an animal which had been terrorizing the population of a whole mountain village.  The people had been living peacefully in their day-to-day routine when suddenly fear erupted like a volcano.  In less than a week the tiger had visited their hamlet three times.  A calf, another calf, then a prize pig disappeared.  The villagers were afraid and puzzled. The large beast – his footprints were enormous – was a particularly cunning, swift, and strong one.  The raids had taken place noiselessly, because the dogs, usually vigilant, had kept quiet.  The bamboo fences surrounding the houses had remained undisturbed.

Afraid of losing any of his cattle, one man angrily mounted guard himself and, with two other men, waited all night for the killer.  Confronted by three men armed with spears and swords, the tiger beat a quick retreat, but not before he had swiftly and savagely struck one of the men.  The victim died of a fractured skull.  By now, the Tiger King, so name for his huge size, had become the most feared and hated creature in the whole valley. There, he reigned supreme.

For quite some time, the Tiger King had had his eyes on a big black buffalo he saw almost every day, pulling the plow in the field for its master.  From behind the grass and bushes of the hill, high above the village, the Tiger King often gazed down at the working team.  But as yet, the Tiger wanted no battle with them.  He thought, “If the big buffalo with his sharp horns seems so strong that I think twice before attacking it, how dangerous and powerful the man must be to remain its master!”

As the days passed the Tiger King became more and more impatient.  Still, instead of going to the field and risking a bloody fight, he was cunning enough to remain hidden and wait for the right moment.

One morning the farmer came to his rice field as usual, but apparently having forgotten something, he disappeared after a moment, leaving his buffalo behind.  From afar, the tiger watched all this.  “I will go and try to make friends with the buffalo,” the Tiger King thought suddenly, “and strike him when he least suspects it.  Then I’ll hide him in the bush,” he thought again, on the way down to the field, “and when the man returns, I will handle him without his buffalo’s help!”

Swiftly, the Tiger King approached the buffalo, trying to look as gentle as he could.  “Listen, friend, I have come with no harmful intentions.  I only want to ask you something which has been bothering me for some rime.”

Although frightened, the good buffalo remained calm.  “Oh, it’s you, friend Tiger!  How nice to see you!  What is this that I can do for you?”

“Well, friend buffalo.” The tiger said, maneuvering himself all the while into a good place from which to leap at the unsuspecting buffalo. “I have been admiring you for a long, long time now.  Your strength!  Your industry!”  The tiger raised his eyes toward heaven.  “How you can ever pull this heavy plow is beyond me.  And the way you work!  From dawn to dusk with but a short, short break at noon!  I think you are wonderful, friend buffalo, wonderful, admirable …”

Despite his fear, the buffalo was pleased.  Here was the Tiger King himself, standing in the mud of the field, praised him, the lowly plow-piller!  But he did not relax his guard.  Every time the tiger moved, he, too, moved.  The Tiger King always found the huge, curved, sharp horns facing him.

“I think you are admirable,” the Tiger King repeated.  “If it were not for your master, the farmer –”

“What of my master, friend Tiger?”  The buffalo inquired, somewhat taken aback.

“Well, now, don’t take offense, friend buffalo. I think you have been letting yourself be injustly exploited by that man.  I don’t know what he would do to pull this heavy plow without your help.  But he treats you badly, very badly.  Go!  Stop!  Left!  Right!  All those orders!  And that bamboo cane in his hand … He whips you every three steps you take!  What a cruel, hard man!  If I were in your place, I would …”

But the Tiger King was interrupted. The buffalo did not like to hear his beloved master abused.

“You are wrong, my dear friend,” he said to the Tiger King.  “The man is as good as he can be.  He has to give orders so I will know where to go.  And his whip is not meant to hurt me!  My skin is too thick for that wisp of bamboo!  Besides, he is kind and gives me food and ahelter.  And, of course, he is my macter because he has intelligence.

“Intelligence!”  interjected the Tiger King, edging closer.  “What’s that?  I have never herad of it before.  What does an intelligence look like?”

Shaking his head, the buffalo faced the tiger with hic horns.  “I don’t know.  I really don’t!  I have never seen it myself.  But I know he has it because people talk about it.  They say that that’s why he is so powerful and clever.  By the way, he will be back any moment now, and you could ask him about it yourself.”

The Tiger King’s curiosity was aflame.  For once he was not as cautions as he should be.  He decided to wait for the man’s return.

As soon as the farmer rounded the corner of the path, he came face to face with the tiger.  But having taught what to do in such a situation, the man knew better than to turn on his heels and run.

“Master!” the buffalo called to him, “Here is my friend, Tiger.  He asks to see your intelligence!  Won’t you please show it ti him?”

The Tiger King chimed in: “Show it to me, Farmer!  I want to see it, just for once. Is it true that it helps you to be clever and powerful? Why then haven’t I got it?”

Completely recoved now from the initial shock, the farmer threw his hands up:  “Well, well, good morning Mister Tiger, sir!  Why in heaven didn’t you come a bit earlier, before I went home to fetch my lunch?  I certainly would have brought my intelligence back to show you.  It’s too big and too heavy to carry around you know!  I always leave it at home.”

The tiger was thoroughly disappointed.  But his disappointment did not make him forget the the real reason he was there was to assault both buffalo and man.  Now that he was seeing them at close quarters, they didn’t look as big and dangerous as they had from afar.  “Perhaps I could try to take them on right here and now,” the Tiger King thought, and his tail began to quiver as it always did before an attack. … But quickly the farmer said to the tiger:   “Oh, all right, all right!  Don’t look so miserable, sir!  Since you came here all the way from the jungle, I don’t want you to go back without having seen it.  I’ll return in a moment.”  Thereupon the farmer turned on his heel and started home.  But before going to a dozen feet, he retraced his steps hurriedly and said to the tiger. “But look here!  To oblige you I’m willing to go all the way home to get my intelligence. But I don’t want to leave you alone here with my buffalo.  Who would help me plow my fields if you ate up my buffalo?”  The tiger protested vigorously that he had no intention of doing so, but the farmer was adamant and refuse to leave.

Suddenly the man slapped his thigh triumphantly.  “Well, if you want to see my intelligence so much, why don’t you let me tie you up to this tree here?  Then I wouldn’t worry about my buffalo.”

The Tiger King looked at the man, then at the buffalo, then back at the man, then back at his buffalo.  More than ever, they seemed so mild, so humble to him.  Now that his master was back, the buffalo was behaving in his usual docile, gentle way.  He was standing there with his head slightly bent down, his eyes thoughtful and sad.  “And the farmer!  That puny man!” thought the Tiger King.  “I have to see this fellow’s intelligence.  I will take it from him and then I will kill and eat them both.”  Having made up his mind, the Tiger King agreed to the farmer’s proposal.

Making the tiger stand upright against the trunk of a nearby tree, the man began to encircle the animal with yards of strong rope.  No sooner was the final knot tied than the farmer quickly unfastened the heavy plow from his buffalo, and with all his strength started to beat the captive tiger who roared in pain and fury.

Finally, maddened to the extraordinary strength, the Tiger King managed to get one of his hind feet against the tree and in one incredible push broke the strong binding rope.  But instead of turning upon his intended victims, he ran desperately for his life.

*

The tiger has never looked the same.  Having struggled so hard to free himself, he forced the rope to sear his fur, burning dark lines all over his body.

Because he knows now what man’s intelligence is, the tiger has become an even more treacherous and bitter enemy, an eternal “man-eater.”  Never again will he dare come down from his mountain lair in daylight to molest the domestic beasts or their masters.  His marred fur is always there to remind him of man’s cunning.

Nghĩ về mưa nắng trời xuân

Đọc tập hồi ký viết tay thấy cha tôi kể chuyện hồi những năm đầu thập niên 30 của thế kỉ trước song thân tôi “lưu lạc” vào Nam Kỳ. Sáu bảy năm trời xa quê, nhìn “thiên hạ” đón xuân ông cảm khái ngâm rằng:

Xuân mãn nam thiên phong thủy cựu
Nhơn tồn khách địa tuế thời tân


Hồi đó Tây chia nước ta thành ba kỳ, ba chế độ cai trị khác nhau. Dân Trung Kỳ vào Nam Kỳ coi đây là đất khách. Xuân về tết đến… đem lại thời gian mới nhưng người vẫn còn nơi đất khách nhớ về quê cũ. (Tương tự, Nguyễn Bính từ Bắc Kỳ vào đến Huế đã làm thơ rằng Chén rượu ly hương, trời, đắng lắm, rồi trong Hành phương nam cũng từng cảm khái với Đêm mưa đất khách). Thế nhưng, nghiệm trong câu trước thì dẫu phương nam hiện tại (lúc ấy) có là đất khách, cha tôi vẫn hiểu mình đang sống dưới trời nam, không riêng cho một kỳ nào. Khắp cả trời nam mọi người cùng đón xuân với phong tục tập quán tự ngàn xưa. Vậy là cha tôi không cô đơn nơi khách địa, ông đã bắt gặp cả phong thủy cựu bàng bạc khắp nơi giữa buổi tuế thời tân, bởi vì xuân mãn nam thiên, bởi vì mùa xuân không bao giờ lỗi hẹn.

Rồi khi tôi vừa chào đời song thân tôi trở về quê cũ. Tôi đã sống những ngày thơ ấu trong không khí vùng cao nguyên mùa dông lạnh buốt gió bấc mưa dầm. Dần dần mưa tạnh, run run chút nắng mong manh, lớp đất đóng rong trên mặt sân bóc lên những miếng bằng miệng chén, vỡ ra giòn vụn dưới bàn chân cho tôi sự thích thú nhẹ nhàng. Vài ba buổi chiều rồi năm bảy buổi chiều. Cái nắng như người bệnh yếu ớt ẻo lả ấy dần dần bình phục, mỗi hôm đậm thêm một chút, dần dần không biết tự lúc nào vẻ chói chang rực rỡ hiện rõ, trong màu sắc còn có hương thơm và hình như có cả vị ngọt. Chúng tôi ngớ ra y như con thú rừng ngẩng đầu vươn cao tầm nhìn để đánh hơi trong gió và thấy được: tết sắp tới rồi. Tuổi nhỏ chúng tôi chỉ biết có tết, sau này lớn lên, hồi tưởng mới nói: mùa xuân đang đến.

Tháng chạp hết mưa, buổi sáng đầy sương là báo hiệu buổi trưa nắng tốt mà giữa khuya càng thấm lạnh. Đến cuối tháng chạp thì nắng đẹp lắm, màu vàng tươi rói. Thế mà sang tháng giêng thì cái nắng ấy biến đâu mất. Nắng tháng giêng đã nghiêng sang màu hồng, hơi nặng, không vàng, không nhẹ như nắng tháng chạp. Và tháng giêng trời lại chuyển mùa, hay có những cơn mưa: mưa xuân.

Có thể nói thời tiết từ đông sang xuân thật rắc rối:

Cơ mầu tạo hóa bốn mùa vần
Đông: cuối ba mươi – mồng một: xuân
(Thơ Hồng Đức quốc âm)

Nhiều lần chiều hăm chín chiều ba mươi vẫn là nắng vàng tháng chạp, nhưng giữa khuya hoặc mờ sáng rắc xuống cơn mưa. Đôi lúc là cơn mưa khá lớn, nhưng mưa không lâu. Thông thường mưa nhỏ lay bay, mưa phùn lất phất. Đọc thơ Trung Hoa thấy ông thi sĩ Mạnh Hạo Nhiên nhàn nhã đến mức ngày xuân mà ngủ quên không biết trời trăng mây nước gì, đến khi nghe tiếng chim kêu rộn ràng thức dậy tự hỏi: Đêm qua trời mưa gió hoa rụng ít nhiều?

Dạ lai phong vũ thanh
Hoa lạc tri đa thiểu?
(Xuân Hiểu)


Khi chúng tôi trưởng thành mà chưa phải nhận trách nhiệm gia đình thì ngày tết cũng thật thoải mái, tưởng như đất trời trong gang tấc để vẽ vời cái gọi là giấc mộng sông hồ. Tết là dịp để rộng bước giao lưu, đi chơi đây đó. Thanh niên Miền Trung năm mươi năm trước phần đông hiền khô như cục đất, bước đầu tập uống la-ve, đọc cổ văn cố bắt chước theo cái buồn của người xưa nhưng chẳng thấy đâu mối sầu vạn cổ mà càng có điều vui để nói với nhau, nhìn bạn gái qua lăng kính Tự lực văn đoàn, thấy người nào cũng đẹp, cũng thánh thiện. Mưa xuân làm đôi má bạn trắng hơn, nắng xuân làm má bạn hồng hơn. Tết được đồng hóa với mùa xuân và mùa xuân đồng hóa với tuổi xuân, cho nên khi tết không chịu nán lâu hơn thời ta còn niên thiếu, Kiều Thệ Thủy viết:

Ai đem tâm sự mà thương nhớ
Cồn tóc mây xa ở cuối trời
Bạn cũ sông hồ năm bảy đứa
Biết còn trinh bạch những đôi môi?

Đời tôi trải nhiều buổi nguyên đán nắng hồng hơn những buổi nguyên đán mưa nhạt. Nhưng những buổi nguyên đán mưa nhạt còn đọng lại trong ký ức lâu hơn. Năm ấy tôi về ăn tết tại nhà bà cô ở làng Bình Chánh trong vùng châu thổ sông Cái Tuy An, sáng mồng một theo ông dượng lên chùa Đá Trắng. Đá Trắng là tên nôm, tên chính thức của chùa là A Lan Nhã sắc tứ Từ Quang tự. Trời mưa bụi lay bay, thoáng nhìn ta không biết ướt, nhưng vuốt tay lên đâu thì thấy nước ở đó. Tâm hồn tôi như lâng lâng khi dạo trong vườn tháp rêu phong, cứ nghĩ hoài đây là nơi gắn bó với những việc quan trọng của gia tộc. Trong cuộc khởi nghĩa Cần vương tại Phú Yên năm 1885 do Lê Thành Phương lãnh đạo, ông nội tôi lúc ấy hăm sáu tuổi là Quân thứ từ hàn, lo về văn thư bút lục, thường lãnh nhiệm vụ ra chùa Đá Trắng làm một khách vãn cảnh để gặp gỡ liên hệ với các bạn đồng tâm trong văn thân tỉnh Bình Định. Một buổi trưa nắng gắt tại dốc Đá Trắng ông đã gặp người phụ nữ gánh nước độ đường. Người phụ nữ ấy sau là bà nội tôi. Cuộc khởi nghĩa thất bại, ông nội tôi đưa bà lên Vân Hòa trú ẩn, về già lui xuống Phong Thái, căn dặn con cháu khi ông lâm chung chôn sâu trong hang đá. Cha tôi thì an táng ở Tuy Hòa. Thành ra cả họ Trần nhà chúng tôi chỉ có hai người dâu là bà nội tôi và mẹ tôi ngàn năm yên nghỉ tại Vân Hòa. Bởi lẽ ấy tôi dành trọn tình cảm sâu nặng cho làng quê.

Có một nguyên đán từ huyện lị tôi khăn gói lên đường làm chuyến đi xa. Đi xa là nói theo chữ nghĩa cho vui và nói theo giao thông cách trở thời tôi hai mươi tuổi chứ ba bốn trăm cây số thì giờ đây có xa gì. Từ quán trọ nhìn ra con đường vừa tu bổ, những hàng dương mới trồng xanh nhạt dưới màn mưa nhỏ. Chưa biết nhiệm sở sắp đến thế nào, bằng hữu sẽ gặp ra sao, tưởng tượng cũng có phần thích thú nhưng không khỏi phảng phất bâng khuâng xa cách cố nhân, sẽ không còn những lần lang thang từ phố huyện ra nhịp cầu xưa đến chân đồi Lá đôi mắt bạn nhìn xa xôi tận điểm cuối cùng.

Tôi mạn phép sửa một chữ trong thơ Vương Duy:

Huyện thành triêu vũ ấp khinh trần
Khách xá thanh thanh liễu sắc tân

Và thoát dịch theo ý mình: Mưa mai rắc bụi huyện thành. Hàng dương quán trọ xanh xanh nhạt nhòa.

Tháng giêng bao gồm hai tiết lập xuân và vũ thủy. Từ lập xuân đến vũ thủy mưa xuân chỉ rơi rắc như bụi nhẹ. Mưa vũ thủy mới đáng mặt là mưa, mưa cho cây cối núi rừng, hoa đồng cỏ nội, ruộng đồng đất thổ, cho lúa bắp sắn khoai, mưa thật lớn, ào ào tuôn đổ, ép dẽ mái tranh, băng bờ tạo trổ, thật tươi trẻ, mạnh mẽ, dứt khoát từng cơn rồi tạnh ráo, tầng cao trở lại trong xanh, nõn nà mây trắng, mưa không dai dẳng lê thê, trời không âm u trì trệ. Nếu coi những cơn mưa bụi buổi nguyên đán khai xuân là mưa sơ sinh, mưa thơ ấu, thì mưa trong tiết vũ thủy là mưa tuổi hai mươi, bước vào giai đoạn trưởng thành, tràn trề mộng ước. Tiết vũ thủy năm ấy cha tôi làm thơ nôm vịnh cảnh ruộng đồng, có những câu:

Lúa nứt ngạnh trê thêm bộn gié
Đỗ ra trái đỉa lại nhiều hoa
Con chàng bắp nọ không lo háp
Mấy đám khoai kia chẳng sợ hà…


Thi sĩ Mạnh Hạo Nhiên mới ngày nào đó nhàn hạ vô tư, sau giấc ngủ mùa xuân trễ tràng nghe tiếng chim kêu nghĩ chuyện hoa rụng ít nhiều thì tới lúc nào đó cuối năm trở về Nam Sơn không khỏi chạnh lòng thấy tóc bạc giục tuổi, mỗi năm một già, ngày xuân đưa năm cũ trôi đi hết:

Bạch phát thôi niên lão
Thanh dương bức tuế trừ…

Câu thơ ấy đang ứng với thế hệ chúng tôi. Có thể nhìn xuôi chiều thời gian từ ấu thời đến lão niên, cũng có thể nhìn ngược lại để điểm dừng ở tuổi ấu thời. Ba bữa tết, bảy ngày xuân, nắng mưa, mưa nắng… trong mỗi đời người đâu phải ít lần trải qua, cứ đến chu kỳ quay lại đúng hẹn, luôn luôn bao trùm lên tất cả, sông núi cỏ cây hoa lá và quan trọng hơn hết là trong lòng người. Cũng con đường ấy sáng mồng một mới hơn chiều ba mươi, cũng con người ấy hôm nay chỉnh tề mực thước hơn hôm qua. Cái mới của mùa xuân khiến cho mỗi tâm hồn trẻ trung vì biết phân định quá khứ đồng thời dự phóng tương lai.

Cho nên khi một cành mai phương nam, một cành đào đất bắc hay một khóm hoa núi, một tiếng chim rừng chợt báo tin xuân, con người ở chặng nào của cuộc đời đều sẵn sàng dọn lòng chuẩn bị hoan nghênh. Dù vui hay buồn, mưa hay nắng, ai ai cũng trải mở phong thủy cựu để đón tiếp tuế thời tân.

Trần Huiền Ân

Chỉ vì…

Thuyên Lam ngồi thừ trước thau quần áo đầy ngộn. Không khí ngột ngạt, oi bức khiến cô cảm thấy khó thở và mệt mỏi. Lam ngước lên hít vài hơi thở sâu rồi lại cúi xuống với công việc của mình. Tiếng con Bi Sắc sủa vang làm cô giật mình. Chống tay vào đầu gối lấy đà, Lam đứng dậy đi ra mở cửa. Cánh cửa vừa bật ra, Vi Hạ như một cơn gió ùa ào nhà, cùng lúc cái loa thường nhật của cô họat động tích cực :

_ Thuyên Lam, đóan thử xem, tao mua cho mày cái gì đây ? Có cả quà cho tụi nhỏ nữa nè, à mà tụi nó đâu hết rồi ?

Lam vừa cười vừa lắc đầu :

_ Mày thiệt. cái tánh chắc đến chết vẫn còn nguyên, mở miệng là ào ào, không kịp trả lời mày cho dủ nữa đó.

Vi Hạ cười :

_ Thì cái bản tính của tao là vậy rồi, khó bỏ lắm mày ơi ! Mày không nghe người ta nói “ Người chết cái nết vẫn còn “ à ? Mày đang làm gì đó ? Làm gì thì cũng bỏ đó đã, ngồi chơi với tao, có đến hai năm rồi tụi mình mới gặp lại nhau, phải không Lam ?

Lam kéo ghế ngồi xuống đối diện với Vi Hạ.Với tay lấy bình nước trà cô rót mời bạn. Vẫn Vi Hạ với một trường âm sắc của mình :

_ Sao ? Tụi nhóc vẫn khỏe hả ? Tố Nga có thi đậu đại hoc không ?

Thuyên Lam thóang buồn khẽ nói :

_ Cháu nó nghỉ học rồi.
_ Cái gì ? Cháu nó học giỏi lắm mà, sao dể nó nghỉ học, uổng vậy ?

Lam nhìn bạn không giấu vẻ u uẩn :

_ Tao không đủ khả năng cho nó học tiếp, mày thấy đó, nó còn bốn đứa em vẫn còn di học cả, tao chạy ăn cho chúng còn vất vả, làm sao lo đủ chi phí các khỏan. Con bé có hiếu lắm, nó thấy tao cực quá nên đòi nghỉ học ở nhà phụ má.

Vi Hạ thở dài đánh sượt :

_ Hồi đó tao nói mà không nghe, đẻ cho cố vào.

Thuyên Lam khổ sở :

_ Mày đừng trách tao chứ Hạ. Tao có muốn đâu, tại ổng cứ muốn tao sanh cho được một thằng con trai, thế mà tòan thị mẹt.
_ Lão muốn thì bảo lão đẻ. Sao ông trời không đày các lão làm đàn bà thử xem, có còn lên giọng được không ? Chỉ biết cho thỏa cái lòng mình, vợ khổ mặc vợ, đàn ông thật là quá ích kỷ.
_ Mày chưa phải làm vợ, mày nói cứng được, chứ vào lồng rồi không nói cứng được thế đâu, không thuận tình thí sớm tan cửa nát nhà thôi

Vi Hạ bỗng nhìn Lam chăm chú rồi gặng hỏi :

_ Nói vậy có nghĩa là mày đang hạnh phúc ?

Thuyên Lam chợt bối rối, cô vội quay đi, giọng lấp liếm :

_ Ừ thì tao vẫn hạnh phúc đấy thôi.
_ Đừng giấu tao Lam à, mày nên nhớ cái nghề của tao là giỏi bắt mạch tâm lý lắm đó nha.
_ Ưm…ừ thì cuộc sống mà, có ai được cái gì là tòan vẹn đâu, cũng phải có lúc này lúc khác chứ. Mà thôi, mày đừng có tra gạn tao nữa, ở lại ăn cơm luôn nhé ?
_ Thôi thôi, tao ăn rồi. Suy cho cùng chỉ sống độc thân như tao là khỏe, chẳng phải chiều lụy ai, chẳng phải lo nghĩ gì, muốn đi đâu thì đi, muốn làm gì thì làm, không ai điều hành được mình hết.
_ Bây giờ còn trẻ thì thế, chứ mai mốt về già, không có con cái nó chăm sóc lúc đau lúc ốm, khi đó mới biết khổ đó nương à.

Vi Hạ xua tay , bật mấy câu thơ ứng khẩu :

    Chồng là nợ con là nần
    Rước vạ về làm khổ cái thân
    Quẩn quanh cứ hết cơm lại áo
    Xó bếp vùi lâu cũng thành đần

Đọc xong Vi Hạ nói :

_ Mỗi người có môt quan niệm riêng về cuộc sống, Chưa chắc mày đúng, không hẳn tao sai, quan trọng là có tìm được cho mình sự dễ chịu ha không. Con cái ư ? có thì cũng tốt, nhưng thử hỏi, khổ sở mấy chục năm ròng, mong nhờ chúng vài năm về già chắc đã được. Mà cũng chẳng có ai trên đời này sinh con để mong chuyện nhờ con cả. Nuôi chúng lớn khôn, chúng tự lo đựoc cho bản thân chúng đã là phước đức lắm rồi. Chuyện tạo hoá thì cứ đời nọ tiếp đời kia vậy thôi. Còn tao, tao tính rồi, thời đại bây giờ ngày càng dịch vụ hoá, cứ vào khoảng sáu mươi tuổi, đóng một cục vào một Trại dưỡng lão hay một dịch vụ y tế nào đó, khoẻ thì đi chơi, ốm về đấy nằm họ có nhiệm vụ phải chăm sóc, lại là chăm sóc tốt nữa, rồi làm luôn một cái giấy hiến xác, khi đến lúc có người đến dọn. Thế là khoẻ, chẳng phải cậy nhờ, phiền hà ai.
– Nếu thế được thì quá tốt, chắc tao cũng làm vậy cho khoẻ thân.
– Giờ mày gông trên xiềng dưới vầy rồi, làm sao được mà làm.

Thôi, mỗi người mỗi cảnh mỗi suy nghĩ. Có điều, làm gì thì làm, mày cũng phải chú ý đến sức khỏe một chút. Dạo này mày ốm đi nhiều đấy, lão Nhất Tiêu không bồi bổ gì cho vợ sao ?

Thuyên Lam né tránh đôi mắt bạn :

_ Tao vẫn khỏe re việc gì phải bồi bổ.
_ Ủa mà lão đâu ? Buổi trưa không về nhà ăn cơm à ?
_ Chắc hôm nay có cuộc nào đó vói anh em, chứ mọi ngày vẫn về nhà ăn cơm mà.
_ Mày mà không chỉnh đốn lại tòan diện coi chừng mất chồng đó nha. Đàn ông vốn mắt to hơn lòng mà, Nhất Tiêu lại đang rất phong độ nữa Thôi, ghé thăm mày một chút, giờ tao di đây, hôm nào rảnh rỗi rủ mày đi sắm ít đồ nhé.

Vi Hạ nói xong thì vội vã đứng dậy, cô không để ý thấy mặt bạn vừa tái đi. Lam tiễn bạn ra cửa, nhìn theo dáng đi nhanh nhẹn của bạn mà thở dài “ Ngày xưa mình vẫn tự hào là hơn nó, bây giờ thì…”

Gửi xe xong, khóac cái túi thổ cẩm lên vai, Vi Hạ thong dong bước vào khu chợ. Dãy hàng quần áo ngày chủ nhật đông tấp nập, sắp đến Giáng sinh rồi mà. Vi Hạ muốn mua cho mẹ con Thuyên Lam ít bộ đồ mới, tội nghiệp những dứa trẻ, quần áo cứ chuyền từ đứa này đến đứa khác. Tiêu chuẩn hàng năm mỗi đứa chỉ có hai bộ đồ mới mà Lam còn không dám mua lọai vải tốt, ngay cả bản thân Lam cũng chỉ quanh quẩn vài cái somi đã bạc, Hạ thấy thương cho bạn quá. Ngày xưa Lam là một khối nam châm của các chàng, một trong những hoa khôi của trường Tổng hợp, Hạ cũng đã ngầm ghen tị, thế mà giờ…Đã vốn ngại chuyện hôn nhân, thấy cuộc sống của Lam, Hạ càng sợ. Len trong dòng người một lúc, Vi Hạ chọn được một số vừa ý, đang đứng chờ người bán hàng gói lại, chợt Hạ nghe mọt giọng nói quen quen :

_ Em thích cái áo này không ? Anh thấy có vẻ hợp với em đó.
_ Nhưng màu này trông già quá anh ạ .

Nhìn về phía phát ra tiếng nói ấy, Vi Hạ sửng sốt :

_ Anh Nhất Tiêu …

Cặp mắt cô mở to hơn khi thấy người phụ nữ đi cùng Nhất Tiêu không phải là Thuyên Lam. Nhất Tiêu giật nảy người khi nhìn thấy Vi Hạ, mặt anh ta tái đi, lắp bắp :

_ Ủa…Vi Hạ đi chợ hả ?

Hạ không trả lời mà nhìn chằm chằm vào mặt Nhất Tiêu, làm anh ta càng lộ rõ vẻ luống cuống bất an. Nhìn thấy gói hàng mà người bán đang trao vào tay Vi Hạ, Nhất Tiêu hỏi cho có chuyện :

_ Hạ mua đồ cho ai mà nhiều thế ?

Đã hiểu ra vấn đề nên Hạ xẵng giọng :

_ Tôi mua để tặng vợ con anh đấy, tội nghiệp những đứa bé, chúng không có diễm phúc được chăm sóc.

Biết tính Vi Hạ, Nhất Tiêu cố nén :

_ Cảm ơn cô, thôi tôi đi trước nhé .
_ Khoan, anh chưa được đi, khi chưa giới thiệu cho tôi biết người bạn mới của anh là ai, để tôi được hân hạnh làm quen chứ ?

Cô gái đi cùng Nhất Tiêu có ý ngượng, vội kéo tay anh ta :

_ Thôi, mình về đi anh, em mệt lắm rồi.

Sẵn bản tánh cương trực, thẳng thắn, lại tức thay cho Thuyên Lam, Vi Hạ đâu dễ dàng dể hai người đi một cách êm thấm như vậy được, cô đứng sấn đến trước mặt cả hai, giọng giận dữ :

_ Nhất Tiêu. Anh là một thằng đàn ông khốn nạn. Ngày xưa anh khó khăn lắm mới lấy được Thuyên Lam, bây giờ hoa héo nhụy tàn, anh đi tìm cái mới. Anh còn có lương tâm trách nhiệm của một thằng đàn ông không ? Còn cô nữa, hẳn cô cũng biết rõ anh ta đã có vợ, vậy sao cô còn ngang nhiên xông vào phá hạnh phúc gia đình người khác, không lẽ cô không tìm nổi một người đàn ông cho riêng mình sao ?

Nhất Tiêu thẹn quá hóa giận, anh ta to tiếng :

_ Cô im đi, cô không có quyền chen vào chuyện của tôi. Nể cô là bạn vợ tôi, tôi bỏ qua đó, nếu cô còn nhiều chuyện thì đừng trách..
_ Thì anh làm gì tôi chứ ? Cũng chính vì tôi là bạn vợ anh nên tôi mới phải tốn hơi nhọc sức, nếu không, có các vàng tôi cũng không thèm xía vào chuyện tồi tệ thế này đâu. Anh đừng tưởng anh ngon lành mà hăm dọa tôi. Cái lọai đàn ông như anh khác gì lòai ong, khi còn mật thì rúc đầu vào hút, khi hết mật rồi thì quay ra đốt, anh…

Biết không lại nổi cái miệng Vi Hạ, lại thêm xung quanh những người hiếu kỳ đang đông dần. Nhất Tiêu kéo vội cô gái đi, không nói lời nào nữa. Vi Hạ cũng quày qủa đi ra chỗ gửi xe.

Thuyên Lam nước mắt giàn giụa, đôi vai rung lên từng hồi. Vi Hạ vẫn chưa nguôi cơn giận :

_ Không việc gì mà Lam phải khóc vì hắn, cho hắn một trận để hắn biết thế nào là lễ độ, đừng có hiền quá mà để người ta ăn hiếp.

Lam nghẹn ngào qua dòng lệ :

_ Vô ích thôi Hạ à, để làm gì cơ chứ, mình không đáp ứng được điều anh ta mong muốn thì đành chịu thôi…
_ Anh ta mong muốn điều gì ?
_ Một đứa con trai…Thuyên Lam lại khóc nấc lên.

Vi Hạ la lên :

_ Hắn đang ở thời đại nào đây chứ ? Đến giờ phút này mà vẫn còn ra giọng trọng nam khinh nữ à ? Như vậy, hắn không hề xem vợ là một người bạn đời, một người đồng cam cộng khổ vói hắn, mà chỉ là một cái máy đẻ, một thứ dụng cụ để thực thi ý muốn của hắn, một khi không đạt dược ý muốn thì có quyền thẳng tay vứt bỏ sao ? Không được, phải yêu cầu pháp luật can thiệp, không thể để cho những lọai dàn ông đó lộng hành, muốn chà đạp, dày xéo ai cũng được.

Thuyên Lam vội níu ta Hạ nài nỉ :

_ Vi Hạ à ! Tao biết mày vì tao mà tức giận, nhưng tao xin mày đừng làm gì hết, đừng Hạ à…

Hạ trố mắt nhìn Lam :

_ Mày chấp nhận chuyện đó dễ dàng vậy sao ?
_ Tao tin có một ngày anh ấy sẽ trở về. Mày hiểu cho tao, những đứa con tao cần có cha , cho dù chúng nó là con gái nhưng cũng là con của anh ấy , anh ấy sẽ quay về mà …

Nhìn vẻ mặt đau khổ tội nghiệp của bạn, Vi Hạ thừ người ra, ngồi phịch xuống cái ghế gần đó. Cô chợt hiểu chuyện gia đình thật quan trọng với một người phụ nữ, và vì sao người đàn bà lại có thể dễ dàng tha thứ cho chồng, dù họ có phải chịu đựng nhièu thiệt thòi và đau khổ đến đâu. Và Hạ biết, không thể đem tâm trạng và hòan cảnh của mình ra ứng dụng vào người khác được. Cơn giân đã trôi đi, còn lại trong Vi Hạ lúc này là tâm trạng thương cảm và nể phục người bạn gái yếu đuối của mình. Ôm lấy bờ vai gầy guộc của bạn, Hạ buồn buồn nói :

_ Lam đã nói vậy thì thôi, Hạ không ý kiến gì nữa, Lam hãy cố gắng chờ đợi điều Lam muốn, chỉ hy vọng anh ta còn sót lại một chút lương tâm.

Thuyên Lam gạt nước mắt gật đầu :

_ Lam sẽ cố gắng, tin rắng sẽ có ngày anh ấy hiểu ra. Chỉ vì anh ấy là con trai một…

Nhìn Thuyên Lam, Vi Hạ thấy cám cảnh cho cái thân phận đàn bà, không biết đến bao giờ xã hội mới thay đổi được cái định kiến ấy.

Thiên Kiều vừa bước vào nhà liền quẳng cái ví rồi lăn ra giường khóc ngất, Nhất Tiêu cuống quýt dỗ dành :

_ Thiên Kiều, anh xin lỗi, anh xin lỗi mà, tại anh…

Thiên Kiều vùng tay Nhất Tiêu ra hét lên :

_ Anh đi đi, đi ngay đi …tôi nhục nhã quá rồi…
_ Đừng vậy mà em, anh yêu em thật lòng mà, anh chỉ có em thôi, em đừng xua đuổi anh tội nghiệp, nín đi em, nín đi mà…

Thấy dỗ bằng miệng không ăn thua, Nhất Tiêu ôm chòang qua người Thiên Kiều, và mặc cho Kiều vùng vẫy cào cấu đến xước mặt. Nhất Tiêu vẫn cố gắng chiu đựng, lát sau đuối sức, Kiều dừng lại thở hổn hển, Nhất Tiêu hôn nhẹ vào môi cô thì thầm :

_ Thiên Kiều, anh yêu em, anh yêu em sốt đời…

Lòng tự ái của đàn bà được ve vuốt, Thiên Kiêu nằm im, hơn nữa cô vừa nghe cái bào thai trong bụng mình quẫy nhẹ. Thấy Kiều đã chịu yên, Nhất Tiêu mừng rơn, quên cả cái đau bị cào, anh ta âu yếm hỏi :

_ Cưng của anh, hết giận anh rồi phải không ?

Kiều còn giả nư quay mặt đi không nói. Nhất Tiêu tìm môi cô và lần tay vào trong áo cô, buộc cô phải mở mắt ra. Nhìn thấy những vết xước trên mắt Nhất Tiêu, Kiều hốt hỏang:

_ Trời … Anh có đau không ?
_ Không, không đau, chỉ cần em không giận, không đuổi anh là được rồi.

Thiên Kiều lườm dài một cái :

_ Ông thì khéo miệng lắm. Nhưng mà em không chịu nhục như vậy một lần nữa đâu nha, anh làm sao thì làm đó.
_ Yên tâm đi, sẽ không có chuyện đó lần thứ hai đâu.

Kiều chợt lo lắng :

_ Nhưng mà vợ anh…
_ Cô ta không dám động đên một cái lông chân em đâu, anh không ly dị là may lắm rồi, biết điều còn tốt, chứ làm ẩu thì…
_ Sao nghe nói ngày xưa khó khăn lắm anh mới lấy được chị ấy.
_ Chuyện ngày xưa thì nghĩa lý gì chứ. Có thế nào đi nữa mà không sinh cho anh được thằng con trai thì cũng vứt đi.
_ À, vậy ra chỉ vì thằng con trai mà anh mới đến với em, nếu em cũng sinh con gái thì sao ?
_ Bậy nào, em khác chứ. Em trẻ trung đáng yêu, lại có trình độ, học thức, chứ đâu có nhếch nhác như cô ta. Nưng anh chắc chắn em sẽ sinh con trai mà. Đừng lo.
_ Người ta đã phải sinh nở và lo toan cho năm đứa con, thì làm sao bì với em được. Em mà thế thì cũng có khác gì đâu.
_ Thôi không nói chuyện đó nữa, mệt óc. Giờ tới chuyện mình nè ..
_ Á …anh từ từ thôi…

Nhất Tiêu tái mặt khi nghe trưởng phòng hành chính kêu lên kiểm tra ngân quỹ. Một lỗ hổng khá lớn đủ để Nhất Tiêu đếm lịch vài năm. Lổ hổng đó lâu nay biến dần thành những thứ vật dụng đắt tiền trong nhà Thiên Kiều Mồ hôi nhỏ giọt Khi Nhất Tiêu đến gần cánh cửa trưởng phòng, đôi chân như muốn trì lại. Trong ba mươi sáu chước chỉ có một chước hay. Anh ta bỗng quay người bỏ chạy thật nhanh. Tông cửa đánh rầm, Nhất Tiêu lao vào nhà gọi váng :

_ Thiên Kiều…Thiên Kiều…nguy rồi…

Chợt Nhất Tiêu đứng sững nơi phòng ngủ, Thiên Kiều đang nhìn anh ta bằng đôi mắt đờ đẫn, trong tay cô là một tờ giấy. Không có thời gian đẻ hỏi, Nhất Tiêu giật mảnh giấy đưa lên mắt. Đó là tờ giấy siêu âm, hai chữ “Con gái” đập vào đầu anh ta như một nhát búa tạ. Nhất Tiêu từ từ khụy xuống, hai tay ôm đầu bất động …

Thiên Kiều chưa kịp định thần thì ngòai cửa có tiếng bước chân nhiều người, tòan thân cô như tê liệt khi những người mặc cảnh phục đọc lệnh bắt và xốc Nhất Tiêu lên lôi đi.

_ Nguyễn Vũ Thuyên Lam.

Nghe đến tên, Thuyên Lam vội bảo các con :

_ Đến phiên mẹ con mình vào thăm ba rồi kìa.

Nhất Tiêu bàng hòang khi nhìn thấy vợ và năm đứa con gái tay xách nách mang vào thăm nuôi. Cổ họng anh ta nghẹn cứng lại, cố gắng lắm anh ta mới có thể giữ được bình tĩnh, nhưng vẫn không thể mở miệng nói được lời nào. Thuyên Lam nhỏ nhẹ :

_ Anh đừng lo lắng nhiều, yên tâm cải tạo tốt , thời gian sẽ qua mau thôi.

Nhất Tiêu cúi đầu, những giọt nước mắt đàn ông rơi xuống. Lam lại nói :

_ Em và các con luôn chờ anh trở về.

Tố Nga , cô con gái lớn gọi anh :

_ Ba ơi ! Tui con nhớ ba lắm, ba mau về với tụi con nha ba.

Ngước mắt nhìn những đứa con vô tội, Nhất Tiêu nghẹn ngào :

_ Ba xin lỗi các con…chỉ vì…

Đàm Lan

Bài Đồng Dao Gọi Nắng

Chào các ban,

Hôm nay Ngọc Hoa hân hạnh giới thiệu đến các bạn nhà văn Trần Huiền Ân ở Phú Yên, với Bài Đồng Dao Gọi Nắng, trích từ cuốn tạp bút MÂY TRẮNG DINH PHOAN do nhà xuất bản VĂN HỌC ấn hành.

Trần Huyền Ân có thơ in riêng từ 1967 (ông sinh năm 1937) và đến nay có cả thảy 11 tác phẩm gồm thơ, truyện, biên khảo…

Hân hạnh chào đón nhà văn Trần Huiền Ân vào Vườn Chuối vui chơi cùng các Chuối.

Chúc mọi người một ngày tươi vui!

Tôn Nữ Ngọc Hoa

.

BÀI ĐỒNG DAO GỌI NẮNG

Trần Huiền Ân

Thật ra không một bài đồng dao nào có tên. Nhưng chẳng lẽ khi sưu tập gọi là “Bài không tên số 1, số 2 v.v…”, như vậy e mang tội “đạo đề” các nhạc sĩ, nên tôi tạm đặt cho mỗi bài một tên.

Bài này tạm mang tên Gọi nắng. Lúc nhỏ chúng tôi thường đọc nghêu ngao vào mùa đông, những ngày mưa dầm vừa dứt, trời bắt đầu hanh nắng, cái nắng rất nhẹ, màu vàng nhạt yếu ớt và như sẵn sàng tắt ngay khi gió đến. Đọc như là để khuyến khích thúc giục ông Trời nắng lên, hứa hẹn đem lại cho ông Trời một số điều lợi.

Nắng ông nắng, nắng ông nắng
Bắt cá trắng con ông ăn
Cất nhà con ông ở
Chừa cửa sổ con ông chun
Trải chiếu bông con ông ngồi.

Tìm hiểu nghĩa theo câu chữ thì:

– Nắng ông nắng: có tính cách một lời khuyến khích “Hãy nắng lên, ông Trời, nắng lên”.

– Bắt cá trắng con ông ăn: Cá trắng là món cá đồng ở thôn quê. Về màu sắc có phân biệt: cá trắng rằn vảy màu rằn và cá trắng chỉ có một đường đậm giữa thân. Cá trắng kho với nghệ, lá gừng, là món ăn mặn mà ngon miệng trong tiết đông. Ông Trời cũng như người đời, cưng con, nên những lời hứa hẹn này đều nhắm vào con ông Trời. Bắt cá trắng cho con ông Trời ăn chớ không phải để mời ông Trời. Ai bảo trẻ con thôn quê khờ dại? Rõ ràng là sành tâm lý quá đi chứ!

– Cất nhà con ông ở: Ông Trời là bao trùm thiên hạ, có cõi trời, nhà trời, cổng trời, cửa trời, đèn trời, màn trời… đủ hết, nhưng không nghe con ông có gì cả. Đâu thấy ai chỉ nhà của con ông Trời ở chỗ nào? Mấy anh uống rượu khi say huênh hoang nói dóc:
Hiu hiu gió thổi đầu non.

Mấy thằng uống rượu là con ông Trời.

Nhưng mấy thằng đó làm sao là con ông Trời được? Dân gian nào biết vua là “thiên tử”! Phải chăng dân gian không hề có ý niệm con ông Trời là đấng uy nghi đường bệ, chỉ tưởng tượng con ông Trời là ông Trời con, phá gia chi tử, chẳng biết chuyện nhà cửa thế nào? Vậy thì hứa hẹn cất nhà cho con ông Trời ở là đúng.

– Trải chiếu bông con ông ngồi: Thông thường người dân thôn quê chỉ dùng chiếu trơn, không có in chữ nghĩa hoa văn gì. Chiếu bông (chiếu hoa) để dành khi có đám giỗ, trải lên phản bày mâm cỗ dâng cúng và khi có khách quý đến nhà. Được ngồi trên chiếu bông là người đem đến niềm vinh dự cho gia chủ, được đón tiếp trang trọng. Trải chiếu bông mời con ông Trời là hợp lý.

Thế còn chuyện: Chừa cửa sổ con ông chun? Tại sao con ông Trời không đi cửa chính mà thích chun cửa sổ? Bởi vì con ông Trời là Tia Nắng. Những ngày trời động ta thường đóng chặt cửa sổ, khi mưa tạnh gió tan rồi cửa sổ được mở toang cho ánh nắng ấm áp tràn vào nhà, đem lại niềm vui cho mọi người. Như vậy trong những điều hứa hẹn, có điều là dựa theo sở thích của con người (ăn có món cá trắng, ở có nhà đàng hoàng, ngồi chơi trên chiếu bông), chỉ riêng điều này mới thật sự dành riêng cho con ông Trời: chừa cửa sổ để Tia Nắng chiếu rọi vào nhà. Có thể tia nắng ấy chiếu rọi lên mặt chiếc chiếu bông lâu nay hơi ẩm mốc vì xếp lại vừa được trải ra.

Nắng cuối mùa đông là nắng chuyển sang xuân. Ánh nắng ba tháng mùa xuân như công ơn ông bà cha mẹ rọi xuống nuôi xanh từng ngọn cỏ. Thơ Mạnh Giao bên Tàu:

Thùy ngôn thốn thảo tâm
Báo đáp tam xuân huy?

Và truyện Kiều:

Hạt mưa sá nghĩ phận hèn
Liệu đem tấc cỏ quyết đền ba xuân.

Từ bài đồng dao ngô nghê liên hệ đến văn chương bác học của các đại gia, ta hiểu được giá trị của Tia Nắng mùa đông. Đây mới thật đúng là con ông Trời, gần gũi, thân mật đem lại cho chúng ta sự ấm áp. Chúng ta hãy cùng mở rộng những khung cửa sổ tâm hồn để đón chào những Tia Nắng.

Cái thâm thúy bình dân phải chăng ở đó?

Lộc Xuân

Rời nhà cô Lan Mai ba chân bốn cẳng chạy. Không phải vì sợ đêm như đang nuốt chửng vóc hình nhỏ nhắn của em bằng bóng tối đêm ba mươi kỳ bí càng kỳ bí hơn với những đốm nhang lấp lóe ở cổng nhiều nhà. Không phải vì ngọn gió cứ chực ném ngược em về phía vừa ra đi. Em nôn nóng về mau với mẹ để còn kịp đi chợ hoa tết trước khi người ta thu dọn và cũng vì một lý do khác nữa.

Đây không phải là lần đầu Mai đi một mình trên đoạn đường này khi mọi người quây quần trong nhà . Mỗi chiều sau giờ tan học,Mai đều ghé lại hiệu tạp phẩm của cô Lan để trông nhóc Bi chừng ba tiếng đồng hồ. Bi lên ba, là đứa con hiếm muộn nên vợ chồng cô hết sức cưng chiều. Cô không cho Bi đi nhà trẻ như mọi gia đình. Cô cũng không nhờ bà nội hay bà ngoại ở quê lên trông nom mà tự chăm sóc Bi. Cửa hàng cô khá đắt khách nên có hai chị sinh viên thay nhau phụ bán hàng nhưng không ai nhận làm việc buổi tối. Một lần đến mua xà phòng cho mẹ,thấy cô Lan vừa lui tới lấy hàng vừa bón cơm cho Bi. Bị thu hút bởi gương mặt kháu khỉnh của thằng nhóc Mai đã giành việc. Thật bất ngờ. Bi mến Mai lạ lùng. Chú bé cười ngặt nghẽo khi Mai trêu đùa, há miệng ăn liên tục. Khi Mai ra về Bi khóc đòi theo

Từ đó mỗi chiều trên đường đi học về Mai đều ghé lại chơi với Bi một lúc. Việc này khiến cô Lan nảy ý nhờ Mai trông Bi từ năm rưỡi đến tám rưỡi là lúc chú Hùng chồng cô trở về từ phòng mạch nha khoa của chú, cũng là lúc cô phải đóng cửa tiệm lo cơm nước cho cả nhà. Cô chịu các khoản đóng góp ở trường nơi Mai đang học lớp bảy.

Được mẹ đồng ý Mai trở thành bán thành viên trong gia đình cô Lan. Tối nay khách mua tấp nập. Cô Lan không ngớt tay. Khi nhìn lại đồng hồ thì đã chín giờ. Bi vừa thiếp ngủ trong chiếc nôi xinh xắn. Kéo Mai lại gần, cô khoác lên vai em chiếc áo ấm kiểu mới đỏ thắm cười bảo “ Của cháu đây. Quà thưởng học sinh giỏi học kỳ một và cả thành tích chăm em Bi nữa nhé.”

Không giấu nỗi niềm vui Mai sung sướng cảm ơn cô Lan rồi vù chạy về với chiếc áo em hằng ao ước. Món quà của tin cậy, quí mến. Món quà khiến chân Mai như khoẻ hơn, chạy không biết mệt.

* * *

Nhưng mẹ vẫn chưa về. Mai lo lắng. Em hết lau chùi tấm ảnh ba trên bàn thờ,thắp nhang thì thầm khấn vái lại quay ra lau dọn cái bàn gỗ đã sạch, rửa mấy cái cốc đã trong vắt rồi vuốt mãi tấm giấy khen mới nhất trên tường. Sao mẹ lâu vậy nhỉ?

Thường ngày mẹ về sau Mai chừng non tiếng đồng hồ. Hôm nay Mai về trễ hơn do cô Lan chiều khách muộn mua hàng tết.Cô bảo “Chắc vì ít tiền, phải cân nhắc lắm họ mới mua giờ này. Mình chịu khó để người ta được có tết”. Mai thấy tính thương người của cô giống mẹ nên em chẳng nài hà gì. Hay mẹ đã xong việc và đang đi mua hoa vạn thọ. Vậy là không cho Mai cùng đi như đã hứa. Thế thì phải giận mẹ mới được. Ồ. Không. Giận mẹ sao đành. Mẹ thương Mai lắm mà. Mỗi sáng mẹ dậy sớm, khảo bài cho Mai, đôi khi giảng giải thêm nhất là môn văn học. Có mẹ gợi ý Mai làm bài tập làm văn dễ và hay hơn. Lúc nào phát bài cô Thảo đều đem bài của Mai đọc cho cả lớp nghe. Bạn bè thầm ước được như Mai. Mai phục mẹ lắm. Làm lụng vất vả như vậy mấy khi được đọc sách báo mà mẹ sửa lỗi chính tả cho Mai chính xác không kém gì cô giáo. Mẹ còn thuộc cả một số bài thơ Mai đang học.

Có lần Mai hỏi thì mẹ bảo ngày xưa ông ngoại muốn mẹ học thật giỏi, thi đậu vào trường sư phạm và chính mẹ cũng mong vậy nhưng do ông ngoại buồn phiền vì cậu Tường ham chơi bỏ nhà đi biệt đã lâm bệnh nặng mẹ phải nghỉ học chăm sóc ông ngoại. Khi ông mất thì kinh tế sa sút hẳn, mẹ đành làm thợ thủ công kiếm sống. Mơ ước của cả mẹ và ông ngoại đă không thể thành sự thực được. Rồi ba mẹ thành vợ thành chồng khi tuổi đã nhiều. Sinh Mai xong họ đưa nhau đến một vùng heo hút của Tây nguyên lập nghiệp với mong ước đổi đời. Ai ngờ Ba lâm bệnh mất đột ngột khi Mai mới lên bốn khiến hai mẹ con chơ vơ. May có người bà con xa tình cờ gặp đã đưa hai mẹ con đến thành phố bán hàng quà rong rồi quay sang phục vụ nước non cho hàng cá hàng rau trong chợ. Tổ phụ nữ nơi hai mẹ con thuê căn phòng tạm trú thấy mẹ là người cần cù chịu khó lại neo đơn nên đã thu xếp hợp đồng làm ở công ty vệ sinh thành phố.

“ Mẹ khổ thật” Mai nói thầm. Càng nghĩ Mai càng thương mẹ, thấy mẹ thật tuyệt. Mai được tới trường, được thầy khen bạn quí là do có mẹ. Sống bên mẹ Mai cũng nhu mì chăm chỉ, lễ phép và hay đỡ đần các bạn chẳng khác mẹ mấy. Mai cũng yêu thiên nhiên cây cỏ như mẹ.

A! Phải rồi. Tối nay mẹ chỉ một mình trên đường Cây bàng . Cô Nên đã nhờ mẹ đỡ tay cho cô vì cô mới làm đám cưới với chú Đắc, cần tỏ bổn phận làm dâu trong dịp tết nhất. Vậy mà chẳng nhớ ra sớm lại còn trách mẹ nữa. Chết thật. Gió thế này lá rụng phải biết. Mẹ ơi ! Mẹ đừng giận, đừng lo. Con sẽ ra giúp mẹ ngay đây mà, rồi mẹ con mình đi mua hoa vạn thọ mẹ nhé.

Đốt thêm nén nhang trên bàn thờ, khép vội cửa Mai lao vụt ra hướng đường Cây bàng không kịp để ý hai người đang lặng lẽ dắt xe đến gần lối nhà mình.

* * *

Tiếng cười nói lao xao làm chị Lý ngừng tay. Dưới ánh sáng hắt từ bóng đèn ở cổng tu viện, chị thấy Seour Tĩnh đang đi ra cùng một tốp người ăn mặc lịch sự. Soeur đang tiễn họ. Khi bóng khách đã khuất, quay sang chị Seour dịu dàng pha chút ngạc nhiên hỏi sao bây giờ chị còn ở đây.

Chị Lý rất quí Seour. Những khi làm ca sáng, xong việc ngoài đường chị tranh thủ thời gian còn lại giúp nhổ cỏ bắt sâu ở các bồn hoa phần sân trước tu viện. Có khi chị xin phép đưa Mai vào để Mai biết thêm một cuộc sống khác, nhất là cây cỏ ở đây. Seour thì mến tính chân chất, nhu hoà, chịu thương chịu khó của chị. Tuy nhiên gặp nhau lúc này là điều không ai nghĩ tới.. Đứng gần cô hơn Soeur hỏi thêm về kết quả học tập của Mai và việc chuẩn bị Tết của hai mẹ con. Chị nhỏ nhẻ thổ lộ nỗi phấp phỏng trong lòng về chậu hoa ngày tết của mình. Với nụ cười bí mật, seour kéo hẳn chị vào trong, băng qua khoảng sân tràn hương hoa đến cuối vườn. “ Con thích chậu nào cứ chọn. Coi như quà muộn cho hai mẹ con. ”Chỉ về hướng trái,seour vui vẻ nói: “ Năm nay có thêm người phụ, tu viện trồng được nhiều hoa hơn. Con cứ tự nhiên. Đừng ngại.”

Vừa nói như khuyến khích, Seour vừa chọn giúp chị chậu cúc vạn thọ vàng tươi, hoa đều như xếp. Chị ngỡ ngàng. Không ngờ niềm vui lại đến trong giờ cuối năm tất bật này. Vậy là ước mơ nhỏ nhoi đã là hiện thực trước mắt. Giấu giọt nước mắt chực trào, chị lúng túng cảm ơn rồi chào tạm biệt. Chị biết Seour cần thời gian để chuẩn bị chầu lễ đón năm mới.

Ôm chậu hoa trong tay chị muốn hét thật to như hồi còn nhỏ được bà nội cho miếng đường phèn nhỏ xíu dành riêng để ông nội uống trà mà cô vẫn thèm thuồng nhưng không dám mè nheo. Cánh hoa cọ vào má êm êm.Mùi hăng hắc quen thuộc của lá bị giập gãy ùa vào khứu giác khiến chị thấy dễ chịu hẳn. Chị kêu thầm “ Mai ơi ! Mẹ con mình có hoa rồi. Không phải đi mua hoa vét nữa. Mẹ sẽ gắng nhanh tay về với con ngay.”

Gió có vẻ bớt. Hàng cây như đang mơ mộng, đang vẫy tay chia vui với chị

Cầm lấy chổi cô hăng hái gom nốt đám lá còn lại rồi thu dọn đồ đạc. Thận trọng đặt chậu vạn thọ lên xe đẩy, chị hăm hở quay xe sau khi đứng nhìn lại với vẻ hài lòng con đường mình vừa chăm chút . Sáng mai đi trên con đường tinh tươm này có lẽ không ai hay rằng một cổ tích nho nhỏ vừa đươc ghi tại đây.

Làn gió nhẹ ùa tới xua nỗi mệt nhọc. Mở khẩu trang vệ sinh, hít thật sâu chị nghĩ thầm “Ngày xưa …”

Đang bồi hồi chị bừng tỉnh với tiếng reo thân thuột “ Mẹ ơi ! ” cũng vừa lúc Mai hào hển lao đến “ Biết mẹ một mình,con đến giúp để còn đi mua hoa nữa mẹ nhé ”,

Tiếng Mai ríu rít. Ánh mắt em rạng rỡ khi bắt gặp màu vàng lộng lẫy của chậu hoa rồi bất ngờ xụ xuống như lá mướp gặp nắng “Con đền mẹ đó. Không cho con ra chợ hoa với. Mới đó mẹ đã quên.”

Vuốt tóc Mai thay lời dỗ dành, chị âu yếm nhìn con và nhận thấy nét vui ngập tràn ánh mắt dù Mai đang dỗi. Chắc con bé sắp giành một ngạc nhiên thú vị nào đó. Kéo kín cổ áo ấm của Mai cô mắng yêu con rồi vừa đi vừa rủ rỉ về gốc tích chậu hoa. Mai sung sướng cười vang cũng để thầm xin lỗi mẹ luôn. Và không nén nỗi niềm vui em khoe mẹ món quà như ý mà em định đến nhà mới “ bật mí ”. Niềm xúc động khiến chị chậm bước lại. Mai ngạc nhiên. Tưởng mẹ không hài lòng vì mình đã nhận quà khi mẹ chưa cho phép, em bối rối hẳn. Hiểu ý con, chị mĩm cười. Mai mừng thầm, đẩy nhanh xe cho mẹ. Mãi chuỵện hai mẹ con rẽ sang lối nhỏ vào nhà lúc nào không hay.

* * *

Từ ngoài ngõ họ hoảng hốt khi phát hiện có hai bóng đen vụt nhô lên từ ánh sáng lờ mờ. Mai thét lên sợ hãi: “Mẹ ơi. Có ma” vừa ôm cứng lấy mẹ.

Trời đang lạnh mà hai mẹ con túa mồ hôi. Thu hết can đảm chị Lý siết chặt Mai như một sự bảo vệ, nhìn trân trân. Ma thì không tin nhưng kẻ gian thì có thể. Cô run rẩy gần như muốn quị xuống.

“ Nên đây Lý ơi, cả anh Đắc nữa.”

Một trong hai “ con ma ” lên tiếng giải thoát nỗi sợ hãi đang thít lấy hai mẹ con.

“ Chao ôi !Suýt nữa chết khiếp. Sao không ở nhà cúng giao thừa mà tới đây. Lại đi cả hai người, cụ ở nhà một mình sao được ”.Thở phào sung sướng, chị Lý xởi lởi chào bạn như khoả lấp nỗi ngượng vì sự yếu bóng vía của mình vừa mở cửa. Giúp đẩy xe vào mé hiên trái,cô Nên hồ hởi “Xong hết rồi. Bà cụ còn giục nữa đó. Ui chao ! Hoa đâu đây ? Cũng kịp ra chợ hoa nữa à ? Mà sao giống nhau thế này. Anh Đắc ơi đến mà xem ” .

Kịp mặc chiếc áo ấm đỏ thắm mới tinh Mai ùa ra và hớn hở reo lên khi chú Đắc nghiêng người để lộ chậu vạn thọ “ Mẹ ơi ! Đẹp quá. Giống nhau quá, như anh em sinh đôi. Chắc do một người trồng thôi”.

“ Mai ơi! Để mẹ cháu nghỉ ngơi tí. Áo mới đẹp quá. Cô chú có cả quà cho cháu nữa đấy. Lại đây nào. ” Chú Đắc âu yếm gọi Mai.

* * *

Thì ra hai chậu hoa do cùng một người trồng thật.

Tu viện đường Cây bàng là nơi chú Đắc nhận chăm sóc cây cảnh. Sẵn đất còn trống chú xin phép Seour Tĩnh trồng thêm ít hoa vạn thọ. Không ngờ được thời tiết ủng hộ, góc sau của tu viện trở thành thảm hoa vàng lộng lẫy. Seour cho chú quyền được sử dụng một nửa. Chú đem tặng xóm giềng và người thân. Hôm qua nghe vợ trầm trồ về sở thích và ý định của mẹ con Mai, chú đã chọn chậu nhiều hoa nhất giành lại. Bây giờ hai chậu vạn thọ đầm ấm đứng bên nhau khác nào tình cảm của họ. Rốt cuộc mỗi người đều được hưởng niềm vui, niềm hạnh phúc. Càng thú vị hơn khi niềm vui toả từ những gì mình dành cho người khác. Được thấu hiểu, được sẻ chia thì dù một biểu hiện nho nhỏ cũng làm ấm lòng, càng quí hơn giữa lúc năm cùng tháng tận. Không ai bảo ai, ba người lớn miên man …

Mai phá tan không khí đột nhiên chùng lại bằng giọng sôi nỗi khiến họ cười vang “ Mẹ ơi ! Chừng nào cô Nên với chú Đắc có em bé mẹ cho con sang bế nhé.” “Còn cô chú sẽ là ba mẹ thứ hai của Mai được không?” Chú Đắc trìu mến kéo Mai vào lòng, nhìn sang vợ chờ ánh mắt đồng thuận. “Vậy con sẽ gọi chú là ba Đắc và cô là má Nên, phải không mẹ?” Mai liếng thoắng.

Tiếng cười của họ quyện trong không khí ấm cúng tạo nên mối giao cảm tốt lành giữa trời đất và con người khiến khoảnh khắc giữa năm cũ và năm mới trong căn phòng nhỏ bé tuềnh toàng trở nên lung linh.

“ Sau giao thừa cả bốn người mình cùng đi hái lộc xuân nhé.”

Cô Nên cao giọng đề nghị.

“Ấy ! Đừng cô ơi. Cô giáo con bảo ai cũng đua nhau hái lộc đầu năm như vậy thì sẽ không còn vẻ đẹp và sự sống cho cây trong phố nữa.” Mai giẫy nẫy. “Phải đó” chị Lý hưởng ứng con gái. “Vả lại hai chậu hoa và cả chiếc áo đẹp này chính là lộc rồi còn gì ” Vẫy Mai sang đứng giữa sắc vàng chị tiếp lời. “Cả Mai nữa chứ. Mai là cành lộc đẹp nhất của mẹ Lý, mẹ Nên và ba Đắc. Mình sẽ chăm cho chồi lộc này vươn thành muôn cành xanh tươi. Mọi người đồng ý với tôi không?” Chỉ vào Mai chú Đắc nói giọng hân hoan.

Tiếng pháo tay hưởng ứng giòn giã nỗ cùng lúc chuông các chùa và nhà thờ trong
phố vang lên.

Năm mới đã sang .

Tôn Nữ Ngọc Hoa

Hai Đứa Trẻ

Thằng bé đội một cái mũ ngược vành ra đằng sau, vai đeo một cái bao, tay cầm một cái móc dài đang lui cui bới trong thùng rác cạnh hông nhà con bé. Con bé đang ngồi hý hóay hộp con số đồ chơi, bất chợt quay nhìn thấy, nó vội chạy ra hét tóang :

_ Mày làm cái gì đấy ?

Thằng bé giật mình, nhưng khi nhìn thấy người vừa quát chỉ trạc tuổi thì nó không sợ hẵi mà khinh khỉnh :

_ Tao lượm đồ.

Con bé ngạc nhiên :

_ Tòan là rác vứt đi, có gì mà mày lượm ?
_ Có chứ , như cái này này…

Vừa nói nó vừa giơ lên lon sữa không mà mẹ con bé vừa vứt vào khi sáng. Con bé nhíu mày :

_ Thế mày nhặt cái ấy để làm gì ?
_ Để bán lấy tiền, cả cái này nữa này. Nó lại giơ lên một cái vỏ lon bia.
_ Những cái ấy có bán được nhiều tiền không ?
_ Cũng được mấy trăm.
_ Hay nhỉ ! Tòan là đồ vứt đi thế mà cũng bán dược tiền. Thế còn những cái gì bán được nữa ?
_ Vỏ chai bia, những cái túi lylon cả những thứ bằng nhựa nữa, nhiều lắm thấy mới nói được.

Con bé như chợt nhớ ra thứ gì, nó chạy vù vào nhà, một lúc chạy ra, tay cầm cái bô
nhựa đã cũ, chìa vào mặt thằng bé :

_ Mày có lấy cái này không ?

Thàng bé tóet miệng cười :

_ Lấy chứ, của mày ngồi ị hả ?
_ Ừ , nhưng mà tao lớn rồi, tao không ngồi nữa. Con bé cũng cười
_ Thôi tao đi nha.
_ Mai mày lại đến nhé, tao xem có cái gì, tao cho mày.
_ Ừ

Con bé tần ngần nhìn theo thằng bé vừa đi vừa bỏ cái bô vào cái bao cũng bẩn thỉu như bộ quần áo nó đang mặc trên người.

Thằng bé vừa lấp ló bên trụ cổng, con bé đã hớn hở chạy ra, nó đưa cho thằng bé cá một túi lylon lớn đựng đầy những thứ đồ chơi bằng nhựa, cùng những chiếc vỏ chai mà mẹ nó vứt trong góc bếp từ lâu. Thằng bé vui mừng hỏi :

_ Sao mày có nhiều thế ?
_ Tao tìm được hôm từ qua cơ. Mày vào đây chơi với tao đi.
_ Cổng khóa thế này làm sao tao vào được ?

Con bé nhìn quanh rồi reo lên :

_ A, có một chỗ này, mày chui vào dược không ?

Thằng bé gật đầu, nhưng vừa vạch chỗ chân rào ra, nó chợt dừng lại :

_ Thôi tao không vào đâu.
_ Sao thế ?
_ Sợ bố mẹ mày lắm.
_ Bố mẹ tao đi làm hết rồi, đến trưa mới về cơ.

Thăng bé nghe vậy thì chui tót ngay vào. Nó bỏ cái bao xuống, ngơ ngác nhìn quanh vẻ thèm muốn, nó chép miệng :

_ Nhà mày đẹp quá !
_ Thế nhà mày không đẹp à ?
_ Tao đâu có nhà.
_Thế mày ở đâu ?
_ Ở cửa rạp chiếu phim ấy. Nhưng mà tới chừng người ta hết chiếu phim mới có chỗ ngủ – Giọng thằng bé bỗng vui hơn – Nhưng mà tối nào tao cũng được xem phim không mất tiền.
_ Không mua vé làm sao vào được ?
_ Chú bảo vệ dắt tao vào.
_ Sao bố mà không mua nhà cho mày ?
_ Tao không có bố, tao chỉ có mẹ thôi.
_ Thế mẹ mày có đi làm không ?
_ Không, mẹ tao đi bán vé số đến tối mới về. Thôi tao đi đây.
_ Mai mày lại đến chơi với tao nhá.
_ Ừ, mai tao lại đến.

Con bé bẻ đôi chiếc bánh mì đưa cho thằng bé một nửa, nói :

_ Mày ăn đi, mẹ tao cho tao, tao để dành chờ mày đó.

Thằng bé cầm ngay nửa bánh cắn một miếng to, nhai nhồm nhòam rồi tấm tắc :

_ Bánh ngon quá, sao mày không ăn đi ?
_ Tao uống sữa rồi nên không đói, mày ăn nữa không ?

Thằng bé đã nhanh chóng ngốn hết phần bánh của mình, nghe bạn hỏi, nó gãi đầu ậm ự …

_ Tao…tao…
_ Mày còn đói chừ gì, mày ăn hết đi này.
_ Nhưng tao ăn hết, mày đói thì sao ?
_ Tao còn cả hộp bánh quy trong nhà kia.

Thằng bé chặc lưỡi :

_ Mày sướng quá.

Bỗng có tiếng xe máy rù đến, con bé hốt hoảng :

_ Chết ! Bố tao về…

Thằng bé tái mặt chạy vội ra chỗ chân rào, nhưng không kịp, tiếng xe đã dừng trước cổng cùng tiếng quát :

_ Đứa nào đấy ?

Hai đứa trẻ run lên vì sợ. Người đàn ông xô cổng đánh rầm đi vào, túm lấy cổ áo thằng bé gằn giọng :

_ Mày vào đây làm gì ? Muốn ăn cắp hả ?

Thằng bé líu cả lưỡi :

_ Cháu…cháu không…
_ Đi ngay, không được bén mảng vào đây nữa nghe chưa ?

Ông ta buông tay, thằng bé chúi nhủi, vội gượng dậy chạy ù ra cổng. Ông bố quay sang nhìn con gái đang nước mắt lưng tròng, hét :

_ Ai cho mày đem những đứa đấy vào nhà hả ? Nó ăn cắp hết thì sao ? Không được chơi với tụi “ khố rách áo ôm “ đó nghe chưa ?

Con bé bị bố nó kéo vào nhà mà nó cứ ngóai mặt về hướng thằng bé vừa chạy. Nó chợt òa khóc không phải vì bị bố mắng.

Con bé ngồi bên cửa sổ, mắt cứ đăm đăm dõi ra đường. Đã nhiều ngày rồi không thấy thằng bé đến, con bé buồn hẳn đi. Nó không hiểu sao bố nó lại gọi thằng bé là khô rách áo ôm? Nó mong thằng bé đến để hỏi. Nhưng chờ mãi, chắc thằng bé sợ bố nó lắm rồi nên không dám đến nữa. Bỗng con bé nhổm dậy, ai như thằng bé thì phải. Đúng rồi, cái dáng loắt choắt với cái bao kia thì nó không lầm được. Con bé giơ tay vẫy rồi rít :

_ Mày ơi …lượm đồ ơi !

Thằng bé đã nghe thấy tiếng gọi, nhưng nó đứng xa xa khẽ lắc đầu. Con bé cuống quýt :

_ Mày đừng sợ, bố tao đi rồi. Mày vào đây với tao đi.
_ Thôi tao không vào nữa đâu, nhỡ bố mày về bố mày đánh chết tao.
_ Thế tao chui ra với mày nhá ?
_ Mày chui ra bẩn quần áo đấy.
_ Bẩn, chốc thay bộ khác.

Dứt câu thì con bé đã chui ra đến ngòai. Nó kéo bạn đến dưới gốc cây phượng, ngồi xuống trong bóng mát rồi hỏi :

_ Mày tên là “ khố rách áo ôm “ à ?
_ Không. Tao tên Lượm mà. Sao mày lại hỏi thế ?
_ Tao nghe bố tao nói thế thì tao hỏi mày vậy thôi.
_ Chắc bố mày thấy áo tao rách thì gọi là “ áo rách “ chứ gì. Còn mày tên gì ?
_ Tao tên là Thúy Hoa . Thôi, tụi mình chơi cái gì đi.
_ Mày biết chơi bắn bi không ?
_ Không. À , chơi dạy học đi. Tao làm cô giáo, mày làm học trò, chịu không ?

Thằng bé cười thật tươi, gật đầu lia lịa :

_ Ừ tao thích học lắm đó. Nhưng mà có giấy có bút đâu ?
_ Viết ra đất cũng được.
_ Ừ, để tao di kiếm cái que đã nha.

Giây lát, hai đứa trẻ như nằm bò ra đất. Con bé lanh chanh :

_ Chữ a mày viết sai rồi, viết thế này cơ …thế …thế…
_ Tao viết được rồi, mày dạy chữ khác đi.
_ Đây là chữ b nhé, viết thế này này…đó…đó , thấy chưa ?
_ Vầy…vầy…đúng không ?
_ Đúng rồi đó, học thêm chữ nữa nhá ?…Ừ , nữa…

Thằng bé đến với vài vết xước trên mặt, con bé lo lắng :

_ Mày bị làm sao vậy ?
_ Hôm qua tao đánh nhau với thằng Còm, bị nó cào đó.
_ Mày đừng đi đánh nhau nữa, nhỡ nó đánh chết mày thì sao ?
_ Phải bon chen mới lượm dược đồ chứ.
_ “ Bon chen “ là sao ?
_ Tao không biết, chỉ nghe mẹ tao nói muốn sống thì phải bon chen. Mà không có tiền thì làm sao sống, nên tao phải đánh nhau thôi.
_ Thế đánh nhau là bon chen à ?

Thằng bé không biết trả lời sao bèn ừ đại. Con bé không nói gì, nghĩ ngợi một chút rồi chui qua chân rào vào nhà. Một lúc sau chui ra với một bình hoa bằng đồng rất đẹp, nhưng bám đầy bụi. Nó đưa cho bạn, nói :

_ Thôi hôm nay mày đừng đi bon chen nữa, đem bán cái này là có tiền rồi.

Thằng bé nhìn cái bình rồi lắc đầu :

_ Thôi, bố mẹ mày biết thì đánh tao chết.
_ Không biết đâu mà, tao thấy cái bình này bỏ trên nóc tủ lâu rồi, đâu có làm gì đến đâu. Mày cứ lấy đi mà.

Rồi không đợi thằng bé ưng thuận, con bé kéo cái bao ra bỏ chiếc bình vào.

Con bé run bần bật khi bố nó la ầm ĩ :

_ Mày đem đi đâu…cho ai…nói mau…Trời ơi trời ! Cái bình cổ của tôi, bao nhiêu là tiền. Có phải mày lại cho thằng ăn cắp ấy vào nhà không hả ? Hừ …tao phải đi tìm nó ngay…
_ Không…không mà bố….

Con bé thét lạc cả giọng, mẹ nó dỗ dành :

_ Con nói đi, có phải con cho nó không ? Hay nó vào nhà ăn cắp ?
_ Không, bạn ấy không ăn cắp mà…

Bố nó lại hét tóang lên :

_ Không ăn cắp à ? Bạn bè à ? Con tao không có bạn bè cái thứ ấy. Được rồi, mày không nói, tao cũng di tìm cho bằng được nó, nếu không tao sẽ cho mày một trận nên thân…

Thằng bé chợt hiện ra giữa cửa, giọng nó đầy nước mắt nhưng rắn rỏi

_ Bác không phải đi tìm cháu, cháu đem trả bác đây, nhưng mà cháu không có ăn cắp…

Nói xong, nó đặt cái bình xuống đất bỏ chạy một mạch. Bố con bé vồ lấy cái bình, quay ra tát con :

_ Mày thấy chưa ? Còn chối nữa thôi.

Mẹ con bé khẽ gắt :

_ Anh này, sao còn đánh con chứ ?

Con bé ngây người nhìn theo thằng bé quên cả khóc.

_ Sao mày lại đem trả lại cái bình ấy ?
_ Mẹ tao nói không được lợi dụng bạn bè, tao mà không đem trả thì mày ăn no đòn rồi.

Con bé im lặng một chốc, rồi như chợt nhớ ra chuyện gì đó, nó kêu lên

_ A, chủ nhật này lớp tao có liên hoan, mày đến trường với tao đi. Hôm đó có nhiều bánh kẹo lắm, tao lấy cho mày ăn, chịu không ?

Thằng bé lắc đầu quầy quậy :

_ Thôi thôi, tao không đến đâu.
_ Sao vậy ? Hôm đó tao cũng có múa nữa, mày đến xem tao múa.
_ Nhưng mà tao không có đồ đẹp để mặc, cô giáo không cho tao vào đâu.
_ Không sao đâu. Cô giáo tao hiền lắm. tao sẽ xin phép cô cho mày vào.
_ Lỡ xin không được thì sao ?

Con bé nghĩ ngợi một chút rồi quả quyết :

_ Được mà, nếu không được thì mày đứng ngòai cửa sổ, tao đưa bánh kẹo ra cho mày ăn, mày đi nhé.

Con bé xúng xính trong chiếc váy đầm màu hồng, hai cái nơ đỏ trên đầu làm nó xinh hẳn lên. Nó hết nhìn cái bàn dầy bánh kẹo lại ngóng ra ngoài cửa lớp. Cô giáo nó gõ cái thước lên bảng :

_ Các con trật tự đẻ cô còn bắt đầu chương trình văn nghệ chứ.

Con bé bỗng tươi nét mặt, nó chạy ra cửa ríu rít :

_ Tao chờ mày nãy giờ, cứ sợ mày không đến. Mày vào đây đi.

Thằng bé đứng nép vào bên cửa lớp lắc đầu :

_ Thôi, tao đứng đâ được rồi, tao không vào đâu.
_ Vào đi mà, tao sắp múa rồi…
_ Thì tao đứng đây xem cũng được mà…
_ Có chuyện gì đó hả Thúy Hoa ?

Nghe cô giáo hỏi, con bé vội khoanh tay :

_ Thưa cô, con xin phép cô cho bạn con vào lớp ạ.
_ Bạn con ?
_ Dạ , bạn con hay đi lượm đồ đó cô.

Cô giáo bỗng hiểu ra, cô khẽ gật dầu. Con bé mừng quýnh nắm tay thằng bé lôi vào. Thằng bé ngượng ngịu di theo. Những đứa trẻ khác òa lên cười . Con bé đanh đá :

_ Chúng mày không được chọc nó, nó là bạn tao.

Cô giáo mỉm cười nói với cả lớp :

_ Các con im lặng, hôm nay lớp ta có thêm một bạn mới, các con vỗ tay chúc mừng nào.

Tiếng vỗ tay rào rào vang lên, con bé sung sướng kéo thằng bé vào ngồi cùng bàn với mình.

Đàm Lan

Giấc Mộng

Vườn lan của ông Trần mấy hôm nay không hiểu tại sao lá cứ rũ xuống. Ông lo lắng vô cùng, nhất là gần đến ngày giao hàng cho khách chơi xuân.

Buồn bực, ông Trần lên phản nằm vắt tay lên trán suy nghĩ rồi thiếp đi lúc nào không biết. Bỗng một làn gió nhẹ thổi tới, hương thơm dịu dàng cùng một thiếu nữ xinh đẹp y phục mầu hồng phấn mỉm cười cúi chào rồi vòng tay thưa:

– Tiểu nữ là sứ giả Phi Điệp, xin chuyển lời chào của Tứ Đại mỹ nhân trong vương quốc Hoa Lan và xin kính mời ông tới hội kiến.

Ông Trần vội vàng sửa sang y phục, vừa mừng, vừa lo, vừa hiếu kỳ theo chân Phi Điệp sứ giả. Nàng dìu ông lướt đi, chẳng mấy chốc đã tới một khu vườn như chốn địa đàng, khắp nơi đủ các loại lan quí khoe sắc đua hương. Chính giữa khu vườn là một đài cao kết bằng muôn vàn các loại hoa thơm cỏ quí. Bốn nàng tiên, mặt hoa da phấn đã chờ ông từ bao giờ. Sứ giả Phi Điệp cúi chào rồi giới thiệu với ông Trần:

– Nàng tiên y phục vàng mơ, quí phái, dáng điệu như vừa từ vũ hội quần tiên bước ra là Hòang Vũ. Nàng tiên xiêm y xanh ngọc kiêu xa là Thanh Lan. Nàng tiên trang phục tím đen, sang trọng thầm kín kia là Mặc Lan. Nàng thứ tư xiêm y vàng đậm, cao sang là Cẩm Tố.
Bốn nàng tiên mời ông Trần ngồi trên đôn cỏ. Sau khi mời ông cạn chén nước thơm vốn là những giọt sương mai đậu trên những cánh hoa lan, nàng Hoàng Vũ nhẹ nhàng nói:

– Từ lâu chị em chúng tôi đã biết tiếng ông Trần là người sành hoa, hoa lan do ông chăm sóc như được thổi hồn, thêm hương, thêm sắc.

Bốn nàng tiên nhìn nhau mỉm cười ý nhị, nàng Thanh Lan tiếp lời:

– Hôm nay chị em chúng tôi mạn phép mời ông tới đây, trước hết để tỏ lòng biết ơn của họ nhà lan và cũng xin được mạo muội giãi bầy đôi điều gan ruột: Hình như lâu nay do mải mê việc kinh doanh hoa lan, nên ông Trần có đôi chút lơi lỏng trong việc chăm chút cho chị em nhà lan dưới đó..?

Ông Trần nhột nhạt cả người, mồ hôi ướt đầm lưng áo. Đúng là lúc đầu bán đi những dò lan ông từng phải bỏ biết bao công sức và cả cái tâm vào đó, ông cứ ngơ ngẩn như đánh mất một kỷ vật vô cùng quí báu. Lâu nay khi thị trường hoa lan mở rộng, nhu cầu của giới chơi lan ngày càng nhiều, ông làm hàng loạt kiếm lời. Càng bán được nhiều, lợi tức càng lắm, ông coi hoa lan như phương tiện làm giàu, chứ không coi như những tác phẩm nghệ thuật như tiêu chí ông đề ra lúc mới vào nghề. Đôi khi ông không giấu được nụ cười mãn nguyện trước chồng tiền ngày một dầy lên. Đặc biệt là lâu nay khi phong trào chơi lan rừng rộ lên, ông tổ chức hẳn một đường dây khai thác. Khi nghe cánh sơn tràng nói đến việc để lấy được một dò lan quí, họ phải chặt hạ cả một cây cổ thụ mấy người ôm. Ông biết một cây cổ thụ đổ xuống đã là một điều xót xa, nhưng đau xót hơn là cả mấy chục cây khác cũng bị gẫy gục. Xong ông chặc lưỡi hít hà nuối tiếc đôi chút rồi lại bị những dò lan tuyệt mỹ và nguồn lợi khổng lồ mê hoặc nên quên đi tất cả…

Tiếng nàng Mặc Lan như gió thoảng:

– Chúng tôi vẫn biết ông Trần là người có tâm, mong ông đối xử với họ nhà Lan chúng tôi bằng cái tài cái tâm của một nghệ nhân chân chính. Mỗi dò lan khi đưa ra thị trường phải như một tác phẩm nghệ thuật làm đẹp cho đời, góp phần hướng con người tới những giá trị đích thực của Chân – Thiện – Mỹ, nâng đỡ con người vượt lên những vướng bụi của cõi tục.

Nàng Cẩm Tố thâm trầm:

– Chị em chúng tôi xin tặng ông Trần cánh lan này, gọi là chút kỷ niệm của lần tri ngộ.
Rồi nàng nhẹ nhàng đặt vào tay ông Trần một cánh hoa lạ, mong manh và trong suốt như pha lê, hương thơm ngào ngạt. Ông Trần vừa đón lấy, cánh hoa chợt tan biến trên tay, bàn tay chợt ấm nóng lên như có dòng điện nhẹ lan tới từng tế bào cơ thể…

Ông Trần giật mình tỉnh giấc, hồ nghi sờ nắn đôi tay, đâu đây vẫn vương mùi hương thoát tục. Ông rảo bước ra vườn. Trăng sáng vằng vặc. Ông Trần nhẹ tay vuốt những chiếc lá lan đã ngả vàng, lạ chưa, những chiếc lá bỗng trở nên xanh biếc.

Ông Trần nghe như có tiếng phập phồng thỏang hơi thở nhẹ, có tiếng lách tách của những chồi non đang khẽ cựa mình, có tiếng thầm thì rạo rực của những nụ lan hé nở… những âm thanh quen thuộc thuở nào đã từng làm xao động trái tim ông.

Ông khoan khoái mỉm cười hít một hơi căng đầy lồng ngực. Cả vườn lan lá động rì rào, những chiếc lá rung rinh sáng ngời ánh bạc, hương thơm nhẹ nhàng tinh khiết lan tỏa khắp khu vườn.

Một mùa xuân mới đã về!


Trần Vân Hạc

Hãy kiêu hãnh và tự do, như những chú gà rừng

    Tôi là chúa tể của chính tôi…
    (Benjamin Franklin)

Anh bạn 18 tuổi mấy hôm nay đang lên tiếng đòi tự do: được mua xe mới để tự lái đi học thay vì để ba đưa đón hoặc đón xe bus, được đóng cửa phòng khi tiếp bạn thay vì mở cửa như mẹ quy định, được thỉnh thoảng ngủ đêm lại nhà trọ của bạn cùng lớp khi có liên hoan thay vì phải về nhà trước mười rưỡi tối…

Bạn nói với tôi rằng thật quá “oải” với sự bảo bọc của cha mẹ. Thậm chí, mỗi lần cắt tóc bạn đều phải theo ba đến tiệm quen. Trong câu chuyện, bạn thú nhận rằng, cho đến tận hôm nay, bạn chưa bao giờ tự xúc cơm vào chén của mình. Đó là việc của mẹ, bà, hoặc cô giúp việc. Bạn chỉ việc bưng tô cơm đã xúc sẵn lên ngồi trước ti vi và ăn.

Đến năm mười bốn tuổi tôi vẫn chưa tự xếp quần áo cho mình. Tất cả đều là việc của mẹ. Giặt, phơi, xếp, ủi, treo lên móc. Mỗi sáng, tôi chỉ việc mặc những chiếc áo rất thẳng thớm tinh tươm để đến trường. Cho đến một ngày nọ mẹ đi vắng, và trời trưa đang nắng bỗng lắc rắc vài hạt mưa. Không cách nào khác, tôi phải làm. Lấy quần áo từ sào phơi, ôm vào phòng. Tôi chợt nhận ra quần áo vừa lấy từ sào xuống thật là thơm, một mùi hương mới mẻ, lạ lẫm, thanh sạch, “nóng giòn”. Mùi của nắng. Và lần đầu tiên trong đời, tôi ngồi xuống bên đống quần áo, lóng ngóng, bắt đầu xếp từng cái một.

Tôi chỉ muốn nói rằng …những ví dụ đó không hoàn toàn là những việc nhỏ nhặt.

Khi không tự làm điều gì đó cho bản thân – chẳng hạn như việc xúc cơm, với bạn, hay việc xếp quần áo, với tôi – ta có thể tận hưởng cảm giác thoải mái của sự bảo bọc (hay lười biếng), nhưng đồng thời, chúng ta cũng đang đánh mất dần – từng chút – một điều rất có ý nghĩa với đời mình: bản năng độc lập.

Bản năng mạnh mẽ nhất của con người là học lấy những kỹ năng sống nhằm tự tồn tại. Vừa lọt lòng mẹ, chúng ta khóc oe oe đòi sữa, vì “con khóc mẹ mới cho bú”. Không có ai dạy cả, Rồi ba tháng biết lẫy, bảy tháng biết bò, chín tháng lò dò biết đi…Rồi nhảy cú nhảy đầu tiên. Ngã cú ngã đầu tiên…Cha mẹ đứng quanh vỗ tay cổ vũ, khen ngợi. Nhưng chính chúng ta, dù bé nhỏ, mong manh như vậy, khi mới vài tháng tuổi đã tự mình làm nên những kỳ tích.

Hãy nhớ lại lúc bé thơ. Khi nào mẹ cho bạn cầm kéo cắt hình chiếc lá: đó là khi mẹ tin rằng bạn có thể cầm kéo mà không tự cắt vào tay mình. Ba mẹ không bế ẵm ta nữa, nếu ta đã biết đi, muốn tự đi một mình và quan trọng nhất là khiến ba mẹ tin rằng ta có thể tự đi một mình, biết vịn vào ghế, biết tự đứng dậy được khi vấp ngã. Có bao giờ bạn tự hỏi: tại sao cha mẹ có thể thả tay ra cho bạn đứng chựng khi bạn mới mười tháng tuổi, mà vẫn xúc cơm cho bạn khi đã mười tám tuổi. Nếu mẹ có thể xúc cơm cho bạn thì có gì lạ đâu nếu ba không yên tâm để bạn lái xe một mình…

Nếu chúng ta không chứng tỏ được rằng mình có thể tự làm, người khác sẽ tin rằng chúng ta không thể tự làm. Nếu bạn không tự làm được điều dễ dàng, cớ sao tôi phải tin rằng bạn có đủ trách nhiệm và nhận thức để làm điều khó hơn?

Trang Tử nói: “Gà rừng trong đầm cỏ đi mười bước mới nhặt được một hạt thức ăn, đi trăm bước mới uống được một ngụm nước. Nhưng chúng không mong cầu được sống trong lồng” Chúng ta có giống được những con gà rừng không? Nếu chúng ta vì ưa thích thóc gạo bày sẵn mà chịu chui vào chiếc lồng. Rồi từ sau những song tre đó, chúng ta đòi trả tự do?

Từ xúc cơm, xếp quần áo, sách vở, đến chọn trường, chọn nghề, tìm việc, kiếm sống, chọn chồng chọn vợ, chọn tương lai… Chúng ta sẽ quá quen với việc được sắp sẵn. Chúng ta ưa làm việc đã được người khác lên kế hoạch hơn là tự mình vạch ra kế hoạch. Chúng ta chuộng thói quen hơn sáng tạo. Chúng ta chỉ vui khi có người tâng bốc, chỉ hết buồn nếu có người an ủi vuốt ve. Chúng ta thậm chí không muốn tự phân biệt sai đúng trừ khi có người làm thay. Chúng ta không thể làm chủ đời mình. Cứ như vậy, chúng ta đánh mất bản năng của gà rừng và biến thành con chim trong lồng lúc nào không biết nữa. Thậm chí, một con chim trong rất nhiều lớp lồng.

Như vậy đó, anh bạn! Không ai lấy mất tự do của chúng ta, chỉ có chúng ta tự nguyện đánh mất nó, thay vì cố gắng giữ lấy nó. Chúng ta, ở tuổi mười tám, thỉnh thoảng kêu gào rằng tại sao cha mẹ lấy hết tự do của con, mà quên rằng chính mình đã đánh mất tự do – từng chút một – từ lâu lắm. Khi được ai đó làm thay một việc nhỏ, và chúng ta chấp nhận việc ấy như điều hiển nhiên, nghĩa là chúng ta đã tự đan thêm một song tre cho chiếc lồng đời mình.

Tác giả Robert Fulghum từng trở thành best seller với một cuốn sách có tựa đề thú vị “Tất cả những gì tôi cần phải biết tôi đều được học ở nhà trẻ”. Đó là những nguyên tắc sống: chia sẻ, chơi công bằng, không đánh bạn, để đồ đạc vào chỗ cũ, không lấy những gì không phải của mình, dọn dẹp những gì bạn bày ra, nói xin lỗi khi làm tổn thương ai đó, rửa tay trước khi ăn, học một ít, suy nghĩ một ít, vẽ và hát và nhảy múa và chơi và làm việc một ít mỗi ngày, ngủ trưa, có ý thức về những điều kỳ diệu, cây cối và các con vật đều chết – và chúng ta cũng vậy, từ đầu tiên và quan trọng nhất cần phải học: quan sát.

Hãy đếm xem: 100 chữ. Những gì cần phải học chỉ như vậy. Chúng ta được học ở nhà trẻ nhưng đã đánh rơi dần trong quá trình lớn lên. Cũng như khi sinh ra, ta đã có sẵn bản năng độc lập nhưng lại đánh mất nó trong quá trình sống. Không có bản năng độc lập, chúng ta không thể nắm giữ được tự do. Nghĩa là trước khi đòi tự do, bạn phải tìm lại bản năng độc lập của mình.

Mọi thứ đơn giản hơn chúng ta tưởng. Thậm chí có thể nói rằng cuộc đời này rất giống một nụ hôn, nó có thể tệ hơn, hay tuyệt hơn nụ hôn trước đó, nó có thể khiến bạn hạnh phúc, cũng có thể làm bạn vỡ mộng, nó có thể khiến bạn nhận ra mình yêu, hay nhận ra mình hoàn toàn không yêu. Nó chứa đựng những bí mật mà bạn chỉ khám phá được sau khi đã hoàn thành.

Hãy tự mình hoàn thành, và bạn có thể nói bạn là chúa tể của chính mình. Như những chú gà rừng.

Hãy luôn luôn kiêu hãnh và tự do như những chú gà rừng.

Đông Vy và Phạm Công Luận

Chiếc bánh chưng

Mùng bốn tết, cả nhà đang ngồi quanh chiếc bàn ăn. Bà mẹ gắp ào chén con gái một miếng bánh chưng, cô bé vùng vằng :

_ Con đã ớn quá rồi mà mẹ cứ bắt con ăn mãi.
_ Này, lớn thêm một tuổi nữa rồi đấy nhá, nhõng nhẽo không sợ người ta cười cho à ?

Nhìn miếng bánh với vẻ chán chường, cô bé còn đang lưỡng lự thì ngòai cửa chợt xuất hiện một bà già ăn xin, tay dắt theo một đứa bé khỏang 4, 5 tuổi lò dò bước vào, cất giọng van xin :

_ Xin các ông các bà làm phúc cho bà cháu tôi đồng lẻ sống qua ngày …xin các ông các bà…
_ Thôi đi đi, gớm, mới đầu năm đã vào quấy rồi.

Ông chủ nhà xua tay nói. Đứa con trai ngồi gần đấy, thấy đứa trẻ tội nghiệp thì móc túi lấy ra tờ tiền lẻ bỏ vào cái nón rách của bà già. Bà già cúi đầu cảm ơn, nhưng đáng lẽ bà đi ra ngay thì bà lại đứng lại nhìn sựng lên bàn ăn. Miếng bánh chưng đập vào mắt bà. Đôi mắt hấp hem lộ rõ vẻ thèm muốn. Bà già ngập ngừng, do dự, nhìn lại đứa cháu đang bấu vào gấu áo, bà thu hết can đảm nói :

_ Cho tôi …xin một miếng bánh chưng, có được không ạ ?

Bà mẹ gắt tóang lên :

_ Cái bà này hay quá nhỉ, đã cho tiền rồi còn lải nhải gì nữa.

Bà già cúi mặt, lủi thủi bước đi, nắm tay đứa cháu đang cố ngoái lại nhìn miếng bánh chưng với vẻ thèm thuồng, nó nhệu nhạo :

_ Bà ơi ! Cháu đói…

Bà nó đưa tay quệt nước mắt, khẽ nói :

_ Ráng đi con, xin thêm được vài đồng nữa rồi bà mua bánh cho con ăn nhá.

Thằng bé lẽo đẽo di theo, tay vẫn bíu lấy cái gấu áo vá víu của bà nó.

Trong bàn ăn, cô bé buông đôi đũa xuống đứng dậy. Bà mẹ sửng sốt :

_ Sao chưa ăn đã đứng dậy rồi ?

Cô bé trả lời gọn lỏn :

_ Con không muốn ăn nữa.

Bà mẹ bực tức :

_ Người ta còn không có mà ăn, đây thừa mứa thế này thì không ăn

Cô bé nhìn vào mắt mẹ, hỏi gặng :

_ Mình thừa mứa thế sao mẹ không cho người ta được một miếng ?
_ Mày….

Cô bé cầm chiếc bánh chưng đi vòng hết phố nọ qua phố kia, đôi mắt dõi vào từng ngóc ngách các vỉa hè, cố tìm cho ra bà cụ già bà đứa trẻ hôm qua. Mồ hôi tuôn dài trên gương mặt ửng hồng vì nắng. Lần đầu tiên trong đời, cô bé mới thấy hết được ý nghĩa của chiếc bánh chưng trong ngày tết. Trước đây cô bé từng nghe người lớn nói :

Thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ
Cây nêu tràng pháo bánh chưng xanh

Và năm nào mẹ cũng gói bánh chưng, vừa gói vừa nói với các con đang quây quần chung quanh :

_ Tết mà không có cái bánh chưng thì không ra ngày tết.

Vậy mà có những người không có thịt mỡ, cũng chẳng dưa hành. Cây nêu tràng pháo lại càng xa vời hơn nữa, và không có cả đến một miếng bánh chưng, thế thì còn đâu là ngày tết. Hình ảnh còm cõi, nhẫn nhục và thiểu não của hai bà cháu ăn mày, khiến cô bé cảm thấy như chính mình có tội. Cái tội bất công của cộng đồng nhân lọai. Và chính điều đó đã thôi thúc cô bé, buộc mình phải tìm cho được họ, để được đặt vào tay bà lão ấy chiếc bánh chưng với một lời xin lỗi. Nhưng chân thì đã mỏi rã ra rồi, sức nóng của trời nắng chang chang khiến cô bé cảm thấy rất mệt và khát khô cổ. Nhưng cô bé vẫn đi, cô vẫn hy vọng là sẽ tìm thấy. Đến một ngã tư, vừa quẹo qua đầu phố, cô bé thấy ngay một đám đông vây quanh sự việc gì đó. Tò mò, cô bé cũng ghé vào xem. Bỗng cô bé kêu lên một tiếng :

_ Trời…

Trên nền đất, trước hiên của một ngôi nhà đóng kín cửa, bà lão ăn mày nằm co quắp, hai tay ôm bụng trong tư thế gập người. Bên cạnh bà là đứa trẻ đang lê lết với tiếng khóc kêu khàn đục :

_ Bà ơi…ch..áu…đ…ói…

Như vô thức, cô bé quỳ xuống trước mặt bà lão đã lìa cõi thế ấy, đặt trước bà cái bánh chưng, và vẫn như vô thức, cô cầm một nén nhang đốt sẵn ở đó cắm vào chiếc bánh, đôi môi run rẩy mấp máy, cô bé bỗng bật khóc và vụt bỏ chạy như bị ma đuổi. Nén nhang trên chiếc bánh vẫn đều đều nhả từng sợi khói mỏng…

Đàm Lan

Hương sắc rừng xuân Tây Bắc

Núi ngàn Tây Bắc mỗi mùa có một vẻ đẹp riêng, đầy bí ẩn và đam mê, quyến rũ. Song mùa xuân có một vẻ đẹp không mùa nào có được. Trên nền xanh non mướt mát căng đầy nhựa sống, là những sắc mầu tinh khôi, hài hòa đến tuyệt đỉnh của các loại hoa rừng, mà mỗi sắc mầu, mỗi hương thơm như thấm đẫm, tan hòa trong thiên nhiên, trong mỗi bản mường, trên muôn sắc mầu thổ cẩm tay búp măng rừng thêu dệt, trên sắc má đào thơm thơm thiếu nữ và trong ánh mắt cười lung linh của người già, trẻ nhỏ, đơn sơ mộc mạc thế thôi nhưng say đắm lạ kỳ.

Tây Bắc núi non trùng điệp. Khi nàng xuân khoác tấm áo choàng như sương như khói nương ánh bình minh lướt trên đỉnh núi, lòng thung, bàn tay dịu hiền, ấm áp như bàn tay thân thương của bà, của mẹ, của em chạm vào vạn vật. Đất bỗng chuyển mình trong cồn cào sinh nở, những rừng cây thu mình lại tránh cái giá rét của mùa đông giá như thoáng ngỡ ngàng rồi bừng tỉnh e ấp những chồi xanh, những dòng suối đang nhẹ nhàng róc rách thì thầm bản tình ca mùa đông, bỗng reo vui ngời muôn ánh bạc, trên những cành cây xù xì thô ráp chợt hé muôn nụ xuân, ngơ ngác trước sự hoàn sinh diệu kỳ của vạn vật, rồi đua nhau bừng nở những bông hoa đầy hương sắc chào xuân mới.

Xuân Tây Bắc ngàn thứ hoa rừng, những hoa lê, hoa mận, hoa đào, hoa ban, hoa chuối, hoa dó, các loại lan rừng… những loài hoa có tên và không tên. Khắp núi ngàn như được dát bằng một tấm thảm nhung gấm ngồn ngộn sắc mầu, ngây ngất hương thơm, hôi hổi một sức sống diệu kỳ bất tận. Mỗi làn gió xuân nhẹ thổi, muôn sắc mầu lại hân hoan, nao nức trong những đợt sóng xanh reo vui đuổi nhau xa tít tắp. Những bông hoa dập dờn, thấp thoáng như muôn ngọn lửa ấm áp. Nếu hoa lê, hoa mận, hoa ban, hoa dó… trắng đến nao lòng, thì hoa đào phớt hồng lại như gợi bao nỗi niềm về một mùa hò hẹn. Mùa hoa mận đến sớm nhưng thật là độc đáo, vừa mới chiều qua đấy thôi, những nụ hoa còn e ấp, chúm chím nét cười duyên trên cao nguyên Mộc Châu (Sơn La), Bắc Hà (Lào Cai)… cho lòng người cứ thấp thỏm đợi chờ, vậy mà sáng xuân nay đã mênh mông một mầu trắng đến nghiêng cả đất trời.

Cái khoảng khắc diệu kỳ đến nao lòng ấy để lại trong ta một ấn tượng khó phai. Chỉ một bước chân mà cái khoảng cách của hai mùa Đông – Xuân bỗng trở thành gần gũi. Còn sắc hồng phơn phớt của hoa đào Tây Bắc lại như một thông điệp của mùa xuân. Đào Tây Bắc không rực rỡ kiêu sa, nhưng lại đi vào chiều sâu của không gian và thời gian và tình người đằm lắng. Những cánh hoa đơn hồng nhạt, dung dị, mà không kém phần thanh cao ấy chuyên chở cả mối tình bất tử. Người xưa đã dùng dòng máu từ trái tim yêu nhuộm thắm những bông hoa trên tấm thổ cẩm dệt bằng khát vọng một tình yêu trắng trong chung thủy mãi hồng trên khắp non ngàn và trái tim của người Tây Bắc.

Người Mông Tây Bắc còn gọi hoa này là “Tớ Dảy”, người Mông có câu:“Làm mùa xem hoa tớ dảy /Xây lứa đôi xem bàn tay”. Hội chơi núi đầu xuân – “Sài sán”, từng đôi trai gái Mông ô hồng nghiêng chao, đôi mắt huyền tình tứ, sắc hoa đào hồng trên má thắm, tiếng khèn, đàn môi, kèn lá thổn thức cả rừng xuân. Du khách chỉ một lần được chiêm ngưỡng hoa đào Tây Bắc chắc sẽ không khỏi trầm trồ thán phục vẻ đẹp dung dị nhưng thánh thiện ấy, để rồi ký ức cứ ùa về rộn rã trong nhịp vó ngựa của Vua Quang Trung Nguyễn Huệ gửi nhành đào báo tiệp tới Ngọc Hân công chúa và cứ tự hỏi: Có phải tự ngàn xưa hồn thiêng dân tộc đã hòa trong sắc hoa đào, nên những cánh hoa đào rơi như những giọt nước mắt hồng, khi quân giặc treo và bắn người anh hùng nhỏ tuổi Vừ A Dính vì không chịu chỉ nơi ở của du kích, cùng những hạt mầm của cây đào Tô Hiệu xanh biếc trên đá xám nhà giam đã bừng nở những mùa xuân bất diệt cho dân tộc?

Nếu hoa đào được coi là hoàng hậu của mùa xuân, thì hoa ban lại được coi là hoa của tình yêu, của lòng hiếu thảo. Người Thái Tây Bắc có bao nhiêu câu chuyện tình về hoa ban, câu chuyện nào cũng thấm đẫm một khát vọng về tự do hôn nhân và tình yêu đôi lứa. “Hoa ban nở thành người con gái Thái” – (Dân ca Thái), mỗi bông hoa năm cánh trắng ngần tỏa hương thơm dịu như búp tay em, trên nền lá xanh trung trinh hình tim hai nửa. Có phải vậy không mà từ bàn tay em gọi lúa lên xanh, gọi ngô mẩy hạt, bông ngời sắc trắng, hóa thân trong muôn sắc mầu thổ cẩm, đến những dòng suối già nua trầm tư kia mỗi khi tay em hồn nhiên khỏa nước, bỗng thổn thức một trái tim yêu trẻ trung cháy bỏng một ước mơ hạnh phúc vẹn tròn.

Trong Hội hái hoa ban, những đôi người yêu nhau gửi gắm bao ước nguyện trong mỗi nhành hoa trao nhau: “Hoa ban nở, hoa ban tàn/ Tình ta đẹp như hoa ban/ Còn dài lâu thì như hoa nào /Hỡi người ta yêu…”. “Đôi ta yêu nhau không tính mùa ban nở/ Không thấy ngày ban tàn/ Mãi mãi như mùa ban bắt đầu, ngày ta yêu nhau”, “Trăm năm ngắm ban nở vẫn còn ngắm mãi. Mỗi mùa ban lại thêm trẻ, không già” (tình ca Thái). Cũng vì vậy người Mông Tây Bắc gọi hoa ban là: ‘Pà lầu”, pà là hoa, lầu là già, xuân về, ngắm hoa ban người già thấy lòng trẻ lại. Giữa mênh mông rạo rực chồi non lộc biếc của đại ngàn ngút ngát, từng chùm hoa ban trắng bồng bềnh như áng mây trên đầu núi, bâng khuâng trong không trung rồi ùa xuống các lòng thung và ngời trên tận những đỉnh núi chọc trời, sáng bừng từng nếp nhà, bản nhỏ. Hoa ban từ lâu gắn bó với đất và người Tây Bắc và được xem là biểu tượng của Tây Bắc.

Tây Bắc còn bao nhiêu loại hoa rừng: Hoa dó mang một hương sắc riêng như một cung bậc tinh tế trong bản hòa tấu sắc mầu, dịu dàng trong câu si, câu lượn: “Hoa dó giục đàn ông vào rừng lấy củi/ Giục đàn bà vào rừng lấy lá dong/ Giục mọi nhà khẩn trương cày, bừa, cấy lúa/ Khắp nơi nhộn nhịp tưng bừng”. “Bên suối, bên nương hoa dó thả từng chùm/ Như những bàn tay trắng xinh vẫy gọi/ Hoa khoác vai nhau soi mình bên suối/ Hương ngọt ngào dưới trăng/ Có chiều xuân gió khẽ đu cành/ Cả rừng dó lao xao ca hát”. Chính vì vậy, tết đến xuân về, trên mâm cúng tổ tiên của người Tày không thể thiếu đĩa hoa dó. Rồi một bông hoa chuối đỏ rực trong đại ngàn xanh, mỗi con gió dập dờn, bông hoa lửa lập lòe, bập bùng như trái tim đỏ thắm, hoa gạo thắp lửa đỏ trời, hoa dã quỳ vàng rực ven đường, hoa cải trắng làm duyên bên triền nương và còn bao loại lan rừng kiêu sa, tiên cách… tất cả như được một bàn tay tuyệt vời vẽ vờn trên lụa, thực mà sao cứ như mơ.

Mùa xuân trên mọi nẻo đường Tây Bắc, du khách được thỏa thích ngắm những bông hoa rừng đủ loại, gợi nhớ, gợi thương. Hương hoa thấm đẫm trong từng ngọn gió, thơm trong tiếng khèn thanh thoát vút cao, ngọt ngào trong tiếng hát ai thiết tha, nồng cháy trong tiếng đàn môi thầm thì gọi bạn, ngây ngất đam mê trong làn tóc ai náo nức hội xòe. Những đàn bướm hàng ngàn con dập dờn trong vũ điệu giao duyên, những chú ong say hương mùa mật ngọt, những tiếng chim gọi bạn cặp đôi xanh trong vòm lá…

Hương sắc rừng xuân Tây Bắc ấy chân thật, tự nhiên, đồng hành và tự lúc nào đã ăn sâu vào tiềm thức người dân Tây Bắc, trở thành một phần không thể thiếu, mỗi độ xuân về lại náo nức hồi hộp đợi chờ như lời hẹn hò với một mối tình thuở hoa niên. Còn với những người con xa xứ, tình yêu, nỗi nhớ với hương sắc rừng xuân Tây Bắc thật khó mà đặt tên, cứ dư ba, đau đáu day dứt khôn cùng trong ký ức và khát khao một cuộc hành hương về cội.

Xuân 2010
Trần Vân Hạc