Tag Archives: Văn Hóa

Châm Ngôn Sống

Chào cả nhà,

Mình mới làm xong PPS này gồm các câu châm ngôn tốt cho cuộc sống nhân ái, tích cực, khôn ngoan.

Nhạc nền là bản nhạc New Age trong sáng, As Ye Lay in the Slumber, của Lisa Lynne.

Chia sẻ với các bạn.

Chúc cả nhà một ngày tươi sáng! 🙂

Bình an và Sức Khỏe,

Túy-Phượng
.

Xin click vào ảnh

Susan Boyle – Wild Horses của Rolling Stones

Chào các bạn,

Album “I dreamed a dream” của Susan Boyle hiện đang dẫn đầu Billboard 200, albumn bán chạy nhất tuần, tính theo số thu do công ty Nielsem SoundScan thống kê. Vượt qua cả My Christmas của Andrea Bocelli (2), Fearless của Taylor Swift (3).

Wild Horses là bản nhạc của Rolling Stone viết năm 1976 và là một trong những bản Susan Boyle đã hát trong kỳ thi Britain Got Talent 2009 vừa qua, dĩ nhiên với phong cách nhạc nhẹ, khác với cách hát rock và hoang dã của Rolling Stone.

Dưới đây chúng ta có video Wild Horses của Susan Boyle lấy từ albumn “I dreamed a dream” mới ra.

Và hai video của Rolling Stones, năm 1976 và năm 2006, để so sánh với Susan Boyle.

Lời bản nhạc theo sau các videos.

Mời các bạn thưởng thức.
.

Susan Boyle – Wild Horses: Susan sings The Stones’ ‘Wild Horses’, taken from her forthcoming debut album ‘I Dreamed a Dream’. Go to http://www.susanboylemusic.com for the latest news and features on Susan’s official website.

.

ROLLING STONES – Wild Horses (1976)

http://www.youtube.com/watch?v=KQx6YJnF7t8

.

Wild Horses – Rolling Stones live at Brazil 2006

.

Lyrics: Wild Horses

Childhood living is easy to do
The things you wanted I bought them for you
Graceless lady, you know who I am,
You know I can’t let you slide through my hands

Wild Horses,
Couldn’t drag me away,
Wild, wild horses,
Couldn’t drag me away…

I watched you suffer a dull, aching pain
Now you decided to show me the same
No sweeping exits or offstage lines,
Can make me feel bitter or treat you unkind

Wild Horses,
Couldn’t drag me away,Wild, wild horses,
Couldn’t drag me away…

I know I dreamed you a sin and a lie,
I have my freedom but I don’t have much time
Faith has been broken tears must be cried,
Let’s do some living after we die

Wild Horses,
Couldn’t drag me away,
Wild, wild horses,
We’ll ride them someday

Wild Horses,
Couldn’t drag me away,
Wild, wild horses,
We’ll ride them someday

Hoạt động của các NPOs ở Mỹ

Ở Mỹ, các tổ chức phi lợi nhuận (Non-Profit Organizations, gọi tắt là NPOs) phát triển rất mạnh như là một phần không thể thiếu trong quá trình xây dựng một xã hội dân sự tiên tiến và phát triển cộng đồng bền vững.

Theo thống kê của National Center for Charitable Statistics (NCCS), từ năm 1998 đến năm 2008, tổng số NPOs ở Mỹ đã tăng từ 1.1 triệu lên 1.5 triệu tức là tính trung bình cứ 220 người Mỹ thì có một tổ chức phi lợi nhuận. Năm 2007, các tổ chức từ thiện đã báo cáo 1.4 tỉ USD tổng doanh thu và 1.3 tỉ USD tổng chi phí. Trong số 1.4 tỉ USD doanh thu, 22% là từ các đóng góp, quà, và tiền tài trợ (grant), 67% là từ doanh thu dịch vụ, bao gồm thu từ phí và hợp đồng. Trong năm 2008, các tổ chức tôn giáo nhận số tiền đóng góp nhiều nhất, chiếm tới 34.7%, các cơ quan giáo dục đứng thứ 2 với 13.3% tổng doanh thu của các NPOs (con số này không bao gồm các khoản endowment – tiền hiến tặng).

Nhiều trường đại học tư ở Mỹ hoạt động dựa chủ yếu vào số tiền hiến tặng này. Ví dụ, đại học Harvard có tổng số endowment năm 2008 lên tới 36.5 tỉ USD.

Theo luật, các NPOs được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp, nếu tổng số tiền nhận lớn hơn 25,000$ thì phải đăng kí với cơ quan thuế, nếu tổ chức nhỏ với tổng số tiền nhận dưới 5,000$ thì không phải đăng kí. Hai tổ chức phi lợi nhuận lớn nhất ở Mỹ hiện nay là Bill và Melinda Gates Foundation, với tổng số tiền tài trợ là 38 tỉ $, và Viện Y tế Howard Hughes với số tiền tài trợ khoảng 14.8 tỉ $.

Các NPOs được chia làm một số dạng chính:

Các tổ chức từ thiện (public charitities): bao gồm bệnh viện, bảo tàng, dàn nhạc, các trường tư, các tổ chức tôn giáo, trạm phát thanh và truyền hình, bếp ăn công cộng, các tổ chức cung cấp dịch vụ và giúp đỡ người dân.

Các quỹ (foundations): nhiều cá nhân, gia đình, doanh nghiệp và cộng đồng thiết lập các quỹ như là một cách để xúc tiến các chương trình có ích cho xã hội.

Phúc lợi xã hội (social welfare): tham gia chủ yếu vào các hoạt động thúc đấy ban hành luật, lobbying, và các hoạt động cổ động chính trị

Các tổ chức chuyên ngành và thương mại: bao gồm phòng thương mại, các hiệp hội thương mại, và các tổ chức khác xúc tiến thương mại hoặc các lợi ích ngành nghề của một cộng đồng, ngành hoặc nghề nào đó.

Hầu như bất cứ một ngành nghề, lĩnh vực nào ở Mỹ cũng có một vài tổ chức NPOs hoạt động, ví dụ như:

National Association of Consumer Advocates: Hiệp hội bảo vệ người tiêu dùng. Hiệp hội này là một tổ chức bao gồm hơn 1,000 luật sư trên khắp nước Mỹ, đại diện cho hàng trăm nghìn người tiêu dùng ở Mỹ là nạn nhân của các hoạt động kinh doanh lừa đảo hay độc quyền. Việc tham gia các tổ chức này cũng giúp cho các thành viên (là luật sư) tăng thêm hiểu biết về lĩnh vực hoạt động của mình, chia sẻ thông tin, tạo network vv…

America’s Soup Kitchen: tổ chức phi lợi nhuận cung cấp các bữa ăn miễn phí cho người vô gia cư.

Higher Education Associations, Các hiệp hội trong giáo dục đại học và sau đại học: có khoảng hơn 30 hiệp hội, ví dụ như Hiệp hội các trường Y tá, Hiệp hội các Giáo sư, Hiệp hội các trường Luật vv…

US Chamber of Commerce, Phòng Thương Mại Mỹ: là hiệp hội thương mại lớn nhất thế giới đại diện cho 3 triệu doanh nghiệp Mỹ, trong đó 96% là các doanh nghiệp nhỏ dưới 100 nhân viên với các hoạt động chính như phát triển thị trường vốn, luật, giáo dục, năng lượng, cơ sở hạ tầng, thương mại, công đoàn, sở hữu trí tuệ vv…Khi là thành viên của hiệp hội, ngoài đóng phí hàng năm, các doanh nghiệp sẽ có thêm nhiều lợi ích như: tham gia các cuộc hội thảo hàng kì, tiếp cận các nguồn thông tin về lĩnh vực hoạt động của mình, các khóa đào tạo, mở rộng quan hệ với các doanh nghiệp khác, hưởng chiết khấu từ một số dịch vụ do các công ty thành viên khác cung cấp vv…

Các tổ chức phi lợi nhuận không có nghĩa là không được phép hoạt động vì lợi nhuận.

Theo quy định, họ hoạt động như một tổ chức lợi nhuận khác, có thu chi và một tổ chức hoạt động hiệu quả sẽ có “lãi” (doanh thu lớn hơn chi phí) cuối năm hoạt động. Điểm khác với các tổ chức lợi nhuận là cách thức mà số lãi này được phân chia. Đối với các tổ chức lợi nhuận, lãi sẽ được tính vào cổ phần và chia cho các cổ đông. Ngược lại, các NPOs không được phép chia lãi cho các cổ đông, thành viên sáng lập mặc dù được phép trả lương, thưởng cho ban điều hành, tùy mức độ hoạt động hiệu quả của mình.

Ban điều hành (Board of Director hoặc Board of Trustees), chịu trách nhiệm đảm bảo hoạt động của tổ chức tuân thủ luật pháp và sứ mệnh hoạt động của tổ chức, quản lý tài sản, gây quỹ. Ngoài ra còn có các nhóm kiểm soát tư nhân (watchdog, cũng là NPOs) kiểm soát hoạt động của các tổ chức NPOs khác. Báo chí và truyền thông cũng đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát hoạt động của các tổ chức này.

Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của một vài cá nhân, hay một cộng đồng, các hoạt động của NPOs góp phần vào đắp những “lỗ hổng” trong đời sống kinh tế- văn hóa- xã hội mà các cơ quan nhà nước không thể kiểm soát hết. Hoạt động của NPOs cũng góp phần vào việc bảo vệ lợi ích của các nhóm thiểu số trong xã hội, chống lại các hoạt động thương mại mà các doanh nghiệp lớn áp đảo và gây ảnh hưởng tới chính quyền.

Các NPOs đại diện cho tiếng nói của công dân góp phần vào quá trình xây dựng một xã hội dân chủ và đem lại bình đẳng cho mọi người.

Hoàng Khánh Hòa

Jean-Claude Bonno beatboxing

Chào các bạn,

Hôm nay cuối tuần nghe cái gì là lạ cho vui. 🙂

Beatboxing là nghệ thuật dùng miệng để giả làm các nhạc cụ khác, bên cạnh hát đúng tiếng mình hay giả tiếng người khác. Trước đây chúng ta có post “Natually 7 beatboxes cả dàn nhac” cho ban Naturally 7. Nhưng trong video sau đây, chỉ một mình nghệ sĩ người Pháp Jean-Claude Bonno, với sự giúp đở của một cây guitar thùng, beatboxes đủ mọi loại ban nhạc, từ ban nhạc dân ca Mỹ với đàn fiddle, banjo, guitar điện và giọng hát dân ca, đến ban nhạc nhà quê Pháp với harmonia, accordion, guitar, trống, đến ban nhạc jazz với saxophone, trống…

Thiên tài beatboxing. Nhắm mắt để nghe, các bạn sẽ thấy Jean-Claude Bonno beatboxes trung thực đến mức nào.

Sau video của Jean-Claude Bonno, là video Naturally 7, xem lại để so sánh.

Chúc các bạn cuối tuần vui vẻ. 🙂

Mến,

Hoành
.

Jean-Claude Bonno beatboxing

.

Naturally 7

Tuần Lễ Văn Hóa Du Lịch Buôn Ma Thuột Daklak Năm 2009 : Huyền Thoại Voi Tây Nguyên

Tuần lễ Văn Hóa Du Lịch Buôn Ma Thuột – Daklak năm 2009 với chủ đề “Huyền Thoại Voi Tây Nguyên” được tổ chức từ ngày 16-12-2009 đến ngày 20-12-2009 tại huyện Buôn Đôn và Krông Bông, thành phố Buôn Ma Thuột. Đây là một sự kiện quan trọng kỷ niệm 105 năm hình thành và phát triển thành phố, tiến tới 35 năm chiến thắng Buôn Ma Thuột, đồng thời hưởng ứng các hoạt động chào mừng kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội.

Tuần Lễ là cơ hội tuyệt vời nhằm giới thiệu những thành tựu, tiềm năng phát triển du lịch văn hóa sinh thái của tỉnh, tôn vinh giá trị văn hóa Voi Tây Nguyên, Không Gian Văn Hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên – được tổ chức UNESCO công nhận là Di Sản Phi Vật Thể Thế Giới, và sản phẩm cà phê Buôn Ma Thuột nổi tiếng thế giới nhằm thu hút đầu tư, xúc tiến các hoạt động liên doanh thúc đẩy du lịch Daklak phát triển nhanh và bền vững, cũng như góp phần xây dựng Daklak trở thành trung tâm kinh tế – xã hội của cả vùng Tây Nguyên.

Trong suốt Tuần Lễ Văn Hóa Du Lịch sẽ có nhiều hoạt động được tổ chức như Lễ Hội Lửa, Lễ Cúng Bến Nước (là hai lễ hội mang đậm bản sắc văn hóa của người Tây Nguyên được thể hiện lại nguyên bản), Lễ Hội Đường Phố, Trại Sáng Tác Điêu Khắc Gỗ Tây Nguyên, Đêm Ca Nhạc Thời Trang, Triển Lãm Nghệ Thuật Tây Nguyên Xưa và Nay, Liên Hoan Ẩm Thực Vùng Miền giới thiệu những nét đặc sắc trong văn hóa ẩm thực Tây nguyên, Trò Chơi Dân Gian, chương trình Về Nguồn, chương trình du lịch Tây Nguyên xanh khám phá các ngọn thác kỳ vỹ nhất Tây Nguyên, du lịch Dã Ngoại kham phá rừng Namka – Buôn Triết – Hồ Lak… và một hội chợ triển lãm văn hóa – du lịch – thương mại dầu tư với hơn 300 gian hàng.

Đêm khai mạc tuần lễ văn hóa sẽ được tổ chức tại Quảng Trường Thành Phố, các nghệ sỹ vùng Tây Nguyên sẽ có 8 phút đánh chiêng nguyên bản. Hai đại diện tiêu biểu cho đồng bào Tây Nguyên là Y Moan và Siu Blck sẽ hát các bài hát về Tây Nguyên đã nổi tiếng trong thời gian qua.

THE CULTURE AND TOURISM WEEK BUON MA THUOT – DAKLAK 2009: CENTRAL HIGHLANDS ELEPHANT LEGENDS

The Culture and Tourism Buon Ma Thuot – Daklak 2009 tittled “Central Highlands Elephant Legends” is going to be held from 16th to 20th December, 2009 at Buon Don and Krong Bong Districts, and Buon Ma Thuot City. This is a significant event celebrating 105 years of Buon Ma Thuot’s establishment and development, heading towards Buon Ma Thuot 35th victory anniversary and responding to welcoming activities for Thang Long – Hanoi 1000th anniversary in the mean time.

The Week will be a wonderful opportunity to introduce the province’s achivements and potentials for cultural and eco-tourism developments; honor cultural values of Central Higlands Elephant, the Space of Gong Culture in the Central Higlands recorded as World Intangible Heritage by UNESCO, and world-famous Buon Ma Thuot coffee products with a view to luring investments and promoting cooperation activities which boost Daklak’s tourism to develop in a rapid and sustainable way, as well as contribute to build Daklak as a socio-economic center of the whole Central Highlands.

During the Culture and Tourism Week, many activities will also be celebrated, such as Fire Ceremony, Watering Place Ceremony (these two ceremonies deeply bear Central Highlanders’ cultural characters that will be originally featured), Carnaval Festival, Central Highlands Sculpturing Camp, Fashion and Music Night, Exhibition of Artistic Photographs on Past and Present Central Higlands, Regional Cuisine Festival introducing special traits in Central Highlands food cultures, Folk Games, Back to The Origin programs, and tour programs of Green Central Highlands to explore the most impressive waterfallls in the region, and Trekking to discover Namkar Reserve – Triet Village – Lak Lake…, together with an Exhibition Fair of Culture – Tourism – Trade – Investment with more than 300 stands.

The cultural week’s opening night will be celebrated at the City Square, and Central Highlands artists will have 8 minutes to play Chieng originally. Y Moan and Siu Black, two typical represetatives for their hill-tribes, will sing songs about Central Higlands that have been famous over the past time.

Translated by Quan Jun

Nguyễn Hữu Vinh – Kẻ lưu đày trên đảo xanh

Như một kẻ “ bị lưu đày trên đảo xanh”, Hữu Vinh luôn hướng về quê nhà với trái tim của chàng trai 18 tuổi- tuổi của ngày rời xa người mẹ thân yêu, xa tiếng chuông chùa Thiên Mụ, xa con đường đến trường xuôi theo giòng Hương quen thuộc đến chân trời mới lạ để rồi bằn bặt 18 năm sau mới có cuộc đoàn viên rưng rưng nước mắt trên quê xưa.

Đầy trong trái tim 18 ấy là làng Xuân Hòa hiền hòa bên giòng Hương xứ Huế với những khu vườn mướt xanh cây lá, là tuổi thơ vô tư trong trẻo với nhũng trò chơi hồn nhiên con trẻ, là tuổi mới lớn nhiều ước vọng thấp thoáng bước chân chim của cô hàng xóm trong giấc mơ. Và nhiều hơn hết, rõ hơn hết  là hình ảnh người mẹ tảo tần,  suốt ngày hết bếp lại vườn, hết chợ trên lại về chợ dưới. Tất bật vậy nhưng nụ cười không thiếu trên môi bởi đàn con khôn lớn từng ngày, học hành giỏi giang đã là nguồn vui vô hạn. Ngày tiễn Vinh sang xứ người, mạ Vinh đinh ninh trong dạ rằng đó chỉ một cuộc xa năm năm không hơn. Nào ngờ đất nước biến động. Những tưởng không còn gặp lại đứa con trai, nước mắt rơi gần  bằng mưa Huế khiến bà mỏi mòn để khi trùng phùng cứ ngỡ không phải là sự thật. Và hình ảnh mạ ấp ủ suốt 18 năm đã trở thành tượng đài trong tâm hồn  khiến Vinh bội phần thương mạ khi gặp lại người dung mạo đã khác xưa. Từ đó Vinh nguyện sẽ dành cho mạ những gì tốt đẹp nhất mình có thể. Và  hạnh phúc lớn nhất của anh là mỗi năm một lần bay về Xuân Hòa quanh quẩn bên mạ dăm bữa nửa tháng.

Cũng đầy trong trái tim mười tám tuổi ấy là thanh điệu bỗng trầm, là từ ngữ mộc mạc của tiếng Huế. Biết bao lần giữa tấp nập ngược xuôi  trên xứ người, anh ngỡ như nghe thấy tiếng reo vui “Ê! Thằng Vinh nớ! Mi đi mô rứa?” của bạn bè ngày xưa hay nhỏ nhẻ “Anh ni dị ghê, ngó người ta hoài” của cô hàng xóm. Hóa ra đấy chỉ là mộng tưởng. Anh khát tiếng mẹ, khát âm giọng quê nhà. Nỗi khát ấy đã giúp Vinh giữ mãi âm sắc Huế, tiếng Huế dù sống giữa cộng đồng nói tiếng Hoa hoặc tiếng Anh, khiến anh em bạn bè khâm phục cảm mến. Người cảm động và tự hào nhất không ai khác là mạ của Vinh. Tôi nghĩ rằng hẳn Vinh đã phải trò chuyện với mình hằng ngày bằng tiếng VIỆT HUẾ mới được như vậy, vì không ít người xa xứ vài năm đã không còn thuần giọng huống chi Vinh đã  hơn ba mươi năm không mấy khi được nghe được nói tiếng mẹ đẻ, lại là tiếng Huế trên đất người. Taiwan – nơi gia đình Vinh ở không phải là thành phố nhiều người Việt sinh sống (khác với California hay Huston bên Mỹ). Anh tâm sự rằng để được gặp đồng hương, thỉnh thoảng cuối tuần anh phải lái xe hơn hai trăm cây số đi và về. Mới biết trong muôn vàn nỗi khổ có cả nỗi thèm tiếng quê nhà.

Trong trái tim ấy,  miền trung với Huế thơ mộng; nước Việt với non sông gấm vóc luôn hiện hữu. Điều này được nói lên bằng tên hai đứa con của anh với người bạn đời Đài Loan: Nguyễn Trung Việt- Nguyễn Hoài Nam. Đặt tên con cũng là một cách vừa tự dặn mình vừa để nhắc nhở thế hệ tiếp nối đừng bao giờ quên nguồn cội. Mỗi lần cả gia đình cùng về thăm quê, anh đều đưa vợ con thăm nhà thờ họ, thăm khu mộ tổ. Không cần nhiều lời, việc làm này đã thay anh nói với con về những gì chúng cần phải biết từ quá khứ, hiện tại và cả tương lai.  Khó có thể nói trước điều gì sẽ đến với mỗi chúng ta trong cuộc đời này. Riêng với Vinh anh biết đường về quê nội của thế hệ thứ hai, thứ ba trong gia đình nhỏ của anh  gần đấy mà cũng xa thẳm bởi anh không thể để lại cho con – huống chi cho cháu – trái tim mười- tám – tuổi được kỷ niệm ấu thơ ủ lửa nhớ thương, càng không thể chặn guồng quay của cuộc sống được nạp bằng nhiên liệu tư duy hiện đại. Điều này day dứt anh không ít. Có lẽ đây là lý do chính khiến anh thấy mình như là kẻ bị lưu đày.

Và kẻ lưu đày ấy, sau nhiều lần về quê quanh quẩn bên mạ, đã ngộ ra rằng mình phải làm gì đó ở xứ đã nhận mình làm công dân  để vừa nguôi ngoai nhớ thương vừa gắn đời mình với quê hương đất nước bằng những gì mình có được từ trí lực  và ý chí bền bỉ trên xứ người.

Taiwan có thư viện lớn nơi lưu giữ một ít thư tịch cổ, sách cổ của Việt Nam; về Việt Nam. Đặc biệt là sách lịch sử, văn học, tôn giáo. Với vốn chữ Hán phong phú , từ 1994 anh  bắt tay nghiên cứu Hán Nôm. Việc đầu tiên là khảo đính Việt Sử Lược – cuốn sử biên niên viết bằng chữ Hán, được biên soạn vào thời Trần – sau đó là An Nam Chí Lược – cũng là một cuốn sử xưa cùng thời. Là một chuyên gia computer thông thạo chữ Hán, anh còn phát huy thế mạnh của mình ở cả hai phương diện bằng cách góp công sức với Taiwan Chinese  Buddhist Electronic Text Association trong việc hoàn thành bản điện tử bộ Đại Tạng Kinh (Tripitaka). Ở độ tuổi 40, với  công việc chính là nghiên cứu Opto-electronics và computer electronics đây là một việc làm đáng khâm phục.

Và như một cơ duyên, sau một lần về Việt Nam, qua nhà thơ Tôn Nữ Hỷ Khương  anh có được  bản thảo chữ Hán trọn bộ Lộc Minh Đình Thi Thảo gồm 197 bài thơ của Ưng Bình Thúc Giạ Thị, một đại quan triều Nguyễn và là  thi nhân  nổi tiếng của đất thần kinh. (Nhà thơ Tôn Nữ Hỷ Khương là con gái của thi nhân). Ở Taiwan anh đọc kỹ và xúc động với hình ảnh quê hương đất nước hiện rõ  qua mỗi địa danh quen thuộc, với cảm xúc đa chiều của tác giả bằng ngôn ngữ cô đọng. Chưa từng làm thơ, lại là thơ chữ Hán nhưng ngôn ngữ, hình ảnh và nhất là thi tứ dạt dào đầy ắp tình người phản ánh tâm hồn, trí tuệ và cả nhân sinh quan của một tao nhân quyền quý, lập tức thu hút tâm trí anh, khiến anh khó dứt ra được. Tạm gác việc khảo đính hai bộ sách quý, anh chuyên tâm vào dịch Lộc Minh Đình Thi Thảo.

Trừ khi  làm việc chuyên môn, hầu hết thời gian còn lại được anh dành cho việc khảo dịch, tra tìm các điển cố, điển tích và khó hơn hết là chuyển sang thơ Đường luật. Để thoát lẽ thường “dịch là phản” (Traduire, c’est trahir), anh đã dốc tâm tìm hiểu thêm  luật thơ (vốn không thuộc lĩnh vực hiểu biết sâu rộng của anh),  chọn lọc từ ngữ để vừa trung thành với  ý tứ vừa  gần gũi với nguyên bản mà vẫn bảo đảm  nhạc tính. Có thể nói việc dịch Lộc Minh Đình Thi Thảo trở thành niềm đam mê lạ lùng của Hữu Vinh và anh hoàn thành trọn vẹn công trình sau bốn năm miệt mài. Chưa bằng lòng với những gì mình đã làm, anh dành thêm nhiều thời gian chỉnh sửa, hiệu đính và sau đó chuyển thành bản điện từ để cuối cùng bản dịch Lộc Minh Đình Thi Thảo được Institude of Vietnamese Studies, California, USA, xuất bản cuối năm 2008.

Với phong cách làm việc của một nhà khoa học, Hữu  Vinh đã chú thích, chú giải một cách cặn kẽ các điển tích, điển cố vốn nhiều trong thơ Đường nhằm giúp người đọc hiểu rõ hơn. Để làm việc nầy anh đã nghiên cứu gần 60 tài liệu trong và ngoài nước- phần lớn là  sách xuất bản ở Taiwan. Đích thân anh trình bày  bản dịch. Mỗi bài thơ ngoài bản dịch theo lối thơ Đường và bản in chữ Hán còn có bản chụp thủ bút nguyên bản chữ Hán của tác giả, phần chữ Hán được viết lại bởi người dịch,  và bản dịch  văn xuôi. Hẳn rằng những ai có  được bản dịch Lộc Minh Đình Thi Thảo trong tay đều sẽ không thể phủ nhận đây  là công trình dịch thuật văn học quý báu với tính khoa học rất cao.  Điều thú vị khác cần nói đến  trong bản dịch này là  nhiều bài thơ nổi tiếng của  tác giả Đường thi trong nền  văn học Trung Quốc như Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị, Thôi Hiệu, Vương Duy…đều được Vinh dịch kèm  trong phần chú thích. (Người viết bài này rất tâm đắc gọi đây là công trình 2 trong 1 ( cuốn )  hoặc 7 trong 1 ( trang ). ) Như vậy ngoài việc dịch LMĐTT, dịch thơ Đường cũng  trở thành đam mê của anh; nhờ đó anh đã hoàn thành một tuyển tập nhỏ gồm 50 bài thơ Đường chọn lọc với chủ đề về tình quê và tình bạn.


Việc dịch LMĐTT đem lại hứng thú cho anh, ngoài ra còn đem đến với anh những cộng sự đắc lực và cả tri âm. Đó là người bạn đời của anh, là các con anh. Họ không những động viên khích lệ tinh thần anh mà còn góp sức với anh một cách cụ thể. Và đó là Hoài Hương, cô gái Đà Lạt trẻ tuổi nhưng giỏi giang, là tiến sĩ Thái Kim Lan – đồng hương Xuân Hòa; người rất yêu Huế và đã  góp phần giới thiệu nghệ thuật tuồng Huế đến với thế giới qua vở Đông Lộ Địch ( cũng của Ưng Bình Thúc Giạ Thị ). Họ tiếp thêm cho anh niềm hứng thú, sự hăng say trong công việc, từ đó anh tham gia nhóm biên soạn bộ Tự điển chữ Nôm trích dẫn (TĐCNTD) (gồm Nguyễn Hữu Vinh, Đặng Thế Kiệt, Nguyễn Doãn Vượng, Lê văn Đặng, Nguyễn văn Sâm, Nguyễn Ngọc Bích và Trần Uyên Thi ) nhằm mục đích giúp các thế hệ  người Việt có điều kiện nghiên cứu, chuyển sang quốc ngữ các tác phẩm văn học Việt Nam viết bằng chữ Nôm, hiện đang tản mát hoặc được xếp kỹ trong các thư viện trên thế giới. Cuốn tự điển chữ Nôm này vừa được Institute of  Vietnamese Studies xuất bản và ra mắt tại California vào đầu tháng 4, tại Paris trong tháng 5, 2009 vừa qua.

Cũng như LMĐTT, TĐCNTD được soạn thảo công phu. Ngoài phần chữ Nôm (đã từng xuất hiện trong các tác phẩm văn học viết bằng chữ Nôm như Hồng Đức quốc âm thi tâp, truyện Kiều hay Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm khúc…), phiên âm, còn  có thêm phần trích dẫn có chữ Nôm với từng từ loại khác nhau (vì vậy mà có tên TĐCNTD). Vẫn thế, suốt đêm sau giờ làm việc anh lại miệt mài. Thỉnh thoảng – cũng như trước đây với thơ Đường hoặc LMĐTT – theo đề nghị của tôi anh email giới thiệu   vài trang anh đang chịu trách nhiệm khiến tôi vô cùng cảm phục.

Ngoài các công trình lớn trên, anh còn tham gia giới thiệu chùa Huế trên tạp chí Nhớ Huế hoặc các website của Phật giáo và cùng nhiều người khác viết sách bút ký “Sông Hương ngoài biên giới”.

Có thể nói trái –  tim –  mười – tám – tuổi trong người đàn ông sinh 1955 Hữu Vinh đang đập mạnh mẽ chuyển  giòng máu văn hóa, văn học Việt, ngôn ngữ Việt đến với người Việt trong nước cũng như ở hải ngoại và hòa vào thế giới. Cầm gươm cầm súng chống lại ngoại xâm là yêu nước. Góp phần tỏa rạng  nét đẹp trí tuệ, tâm hồn Việt, văn hóa Việt cũng là yêu nước vậy.

Không ít người tự chia đời mình thành nhiều mốc tính theo tuổi tác hoặc thành bại, Hữu Vinh – không chia mà ngẫu nhiên có ba lần mười tám: xa xứ khi vừa qua tuổi mười tám, mười tám năm học tập; định danh trên đất người để rồi lần đầu tiên về thăm mạ và  đến nay là mười tám năm sau ngày sum họp ấy anh hướng về quê nhà bằng công việc của một con ong cần mẫn trong vườn hoa Hán Nôm. Có thể nói ba mốc mười tám này đối với anh tràn đầy ý nghĩa. Thời gian chất chồng lên mỗi người bao nỗi khiến nguời vui thì ít kẻ buồn lo lại nhiều, nhất là với những ai không may mắn được sống trên chính quê hương mình. Nhưng  với “kẻ lưu đày” Hữu Vinh- người đang “đốt” ngày tháng được nhân lên bằng niềm  thương mạ nhớ quê  thành nguồn năng lượng mạnh mẽ, vô hạn để đọc và biên khảo các thư tịch Việt cổ – thời gian sẽ là người ủng hộ tích cực cho các công trình đang dang dở. Hy vọng rằng anh sẽ tiếp tục với Việt Sử lược và An Nam Chí Lược để giới thiệu một cách hoàn chỉnh hai bộ sách quý giá này và nhiều nhiều bộ sách giá trị khác nữa đang tàng ẩn xứ người.

(Tặng N.H Vinh)
….
Bận lòng chi gặp gỡ chia ly
Hoa của đời hãy nâng niu gìn giữ
Băn khoăn chi muôn trùng cách trở
Trái đất luôn là một chấm tròn

Xin hãy nói thoả thuê tiếng mẹ
Kho ngôn từ giàu có vẫn ắp đầy
Bến nước hàng cau, ngõ nhà người ấy
Tiếng chuông chùa ướt đẫm ánh trăng.

Xin hãy nghe thoả thuê giọng Huế
Răng rứa mô ri ríu rít dễ thương
Đơn độc xứ người có ai thỏ thẻ
Để dịu lòng , để vươn dậy , bâng khuâng…

(BMT, 7- 2009)
Tôn Nữ Ngọc Hoa

ĐCN: Bài này đã đăng ở yahoovanhoaviet.com và tạp chí Sông Hương

Con trai của rừng Xa Nu

Con đường năm cây số từ trung tâm xã về làng Kon Riêng lúc chạy vòng theo ven hồ Đac Noa, khi lại men theo những thuở ruộng lúa nước, có chỗ lại luồn dưới bóng xanh mát của rừng xà nu. Nắng trải chiếc chiếu vàng lên mặt hồ, mặt ruộng lung linh, nhưng chỉ lọt thành những tia sáng xanh trong đám lá xà nu dày đặc. Dưới tán rừng tiếng ong bay vi vu hoà trong lời xạc xào của gió, lẫn với tiếng suối róc rách chảy. Thứ hương lá, hương nhựa, hương hoa đặc biệt của xanu nhè nhẹ lan trong không gian. Cũng lạ cho cây xanu, chỉ mọc ở những triền núi dốc đứng cằn cỗi, có khí hậu khắc nghiệt, nhưng rễ cắm sâu vào lòng đất, san sát bên nhau thân nào cũng vươn thắng, lá biếc đến tưởng như không còn cách gì xanh hơn được nữa.

Y Sao từ uỷ ban xã về, nét mặt tươi rói, bước chân đi như chạy. Mọi ngày đi dạy về cô còn lang thang chán, hết ngắt những ôm cúc dại mọc đầy ven đường, lại ngồi hàng giờ trên hòn đá hình đầu cá giữa suối, dầm chân trong nước mát mà lẩm nhẩm hát “Chim Jil tắm bên sông DakBla…” Nhưng hôm nay Y Sao muốn đi cho nhanh về đưa thư cho A Siêng. Thư của A Manh bạn anh ấy gửi từ Buôn Ma Thuột. Trong những đêm ngồi trong bếp lửa, A Siêng thường kể cho anh chị, các cháu và bạn bè nghe những chuyện hồi học trường nội trú dân tộc, trường đại học Tây Nguyên, về những người bạn cùng học ở Dak Lak. Trong đó có A Manh. Với những người chưa bao giờ đi xa như ở làng Kon Riêng này, những chuyện A Siêng kể thật hấp dẫn. Còn Y Sao biết những đêm kể chuyện như thế, A Siêng thường mất ngủ. Ký ức với anh bây giờ sao mà xa vời vợi…Không biết A Manh nói gì, nhưng có thư chắc là A Siêng vui lắm. Anh ít khi nhận được thư từ của ai, kể từ vài năm về đây ở với anh chị. Từ lúc nào không biết, Y Sao đã vui với cái vui của A Siêng, hiểu nỗi buồn của A Siêng thế nhỉ? Cô gọi to ngay từ chỗ cây xoài quẹo vô sân:

– A Siêng! A Siêng à! Có thư của anh A Manh này.

A Siêng quýnh cả hai chân, nhảy bổ từ trong nhà ra , giật lấy lá thư trong tay Y Sao:

– Đâu! Đâu! Đưa coi đi.

Nhưng đọc xong rồi A Siêng thẫn thờ ngồi thụp ngay xuống sân, nét mặt bỗng trở nên đờ đẫn xa vắng dần. Y Sao cuống lên:

– Chị Y Mải ơi, A Siêng làm sao đây?

Chị gái A Siêng chạy vội ra hối hả giục Y Sao cùng đưa A Siêng vô nhà. Cứ như người bị ma lai bắt lạc mất hồn, anh để mặc hai người dìu như kéo đi, đặt lên chiếc giường nhỏ ở góc nhà. Chị Y Mải bảo Y Sao đọc xem lá thư viết gì. Thì ra A Manh dặn A Siêng làm gấp hồ sơ gửi sang trước, rồi người từ từ qua sau để cơ quan phỏng vấn và thử việc.

– Ôi, việc mừng thế này còn gì? Không đi làm bác sĩ cũng được chứ sao. Miễn được vô nhà nước là tốt rồi. Sao A Siêng biết tin này lại buồn thế hả chị Y Mải?

Y Sao ngơ ngác, hết nhìn chị lại nhìn sang A Siêng đang nằm thiêm thiếp nhắm mắt như ngủ. Mãi mà chẳng hiểu nổi chuyện gì đang xảy ra. Chị Y Mải buồn buồn nói nhỏ:

– Y Siêng tủi cái đầu đó mà. Năm ngoái A Manh cũng đã một lần gửi thư. Nó nói hỏi thăm hoài mới biết A Siêng về đây. Lại hỏi A Siêng đi làm chưa? Có muốn làm việc ở chỗ nó không, để nó nói thử với thủ trưởng, vì bên đó đang cần người. Trúng lúc cuối mùa không còn hột gạo mà ăn. Cả ngày cả nhà đi đào củ trong rừng, nên A Siêng đâu có gửi trả lời cho A Manh. Bây giờ cũng lại giống như hồi đó thôi.

Bỗng hai chị em giật mình thấy A Siêng nhỏm dậy, đập mạnh trán vô tường mấy cái. Chạy vội đến bên, cả hai thấy A Siêng miệng cắn chặt cái chăn, hai bàn tay quắp lại, nước mắt chảy tràn xuống gối.

– A Siêng à, đừng buồn thế em! Mình không đi sang đó được thì thôi. Chắc A Manh nó cũng hiểu mà.

Chị Y Mải vỗ về em. Y Sao nhẹ nhàng vuốt lên tay A Siêng, lần lần gỡ dần những ngón tay đang co quắp cứng ngắc ra. Dưới tác động tình cảm của hai người phụ nữ, thân hình A Siêng lỏng dần, giãn dần ra rồi chợt ngủ thiếp đi. Anh rể cũng vừa về tới, chị Y Mãi vội vàng kể lại cho chồng nghe. Cả ba ngồi quanh bếp lửa, buồn cho A Siêng mà không biết nói gì. Hồi lâu Y Sao đứng dậy:

– Thôi em về đây, chào anh chị.

Nhìn theo bước chân cô gái, chị Y Mãi khẽ thở dài. Chuyện Y Sao thương thầm A Siêng mấy năm nay,ở Kon Riêng ai cũng biết.Hai bên nhà cũng ưng bụng cho hai người thành đôi. Nhưng không biết vì sao A Siêng cứ như tránh né. Mỗi lần có ai nói đến chuyện này, lại im lặng bỏ đi chỗ khác. Xem ý thì không phải thờ ơ với Y Sao đâu, nhưng im im thế miết, ai mà biết ra thế nào chớ. Anh rể mở nắp chiếc nồi trên bếp, ấn thử coi củ đã chín chưa, rồi đậy lại, bỏ thêm mấy cành củi vô bếp, thủng thỉnh nói một mình nghe:

– Tội nghiệp cho cậu quá! Từ đây đi xe ôm ra huyện, từ huyện xuống thị xã Kon Tum rồi qua Buôn Ma Thuột. Cả đi về cũng gần hai trăm nghìn đồng tiền xe. Chưa nói tiền ăn uống nữa chớ. Biết lấy đâu ra bằng đó tiền cho cậu đi.

Cả Kon Plei này đói. Cả xã đói. Trận lũ quét vừa qua đã cuốn đi tất cả lúa lẫn đậu bắp đang còn trên rẫy gần như của cả làng. Số lúa ruộng ít ỏi ngập trong nước hàng tuần cũng thối rụng hết. Y Mải nói với chồng:

– Mình thấy dạo này cậu hay đau đầu lắm. Anh có nhớ bữa hôm đào củ trong rừng, A Siêng cắm đầu xỉu dưới hốc củ không? Không có mấy người cùng đi chắc chết không ai biết rồi. ở nhà cậu cũng lúc đi ra đi vô lờ đờ, có khi lại ngồi im cả ngày không nói câu nào.

– Thì cái tánh cậu ít nói từ xưa. Không nói ra được để ở trong người nó man man là phải thôi. Học đại học ra mà không được đi làm, đi rẫy miết thế này sao chịu nổi.

Có điều, là bác sĩ nên A Siêng biết cách giữ cho thần kinh mình không vượt quá sức chịu đựng có thể. Thấy bệnh tình em như vậy anh chị cũng không dục đi rẫy, đi ruộng, cứ để A Siêng tự làm những gì mà sức khoẻ cho phép. Khi nào cảm thấy sắp lên cơn thì phải về nhà ngay.

Suốt thời gian đó, Y Sao luôn luôn ở bên cạnh A Siêng. Những buổi phải lên lớp thì thôi, rảnh việc là cô lại chạy qua nhà trò chuyện cùng cho A Siêng đỡ buồn. Có một lúc tỉnh táo, A Siêng nói với Y Sao:

– Y Sao cưới chồng đi. Tui biết tình cảm của Y Sao, nhưng đừng có chờ tui làm gì. Y Sao với tui không thành đâu.

– A Siêng nói gì như vậy? Y Sao chưa bao giờ trách anh một tiếng nào mà. Nhưng tại sao A Siêng lại nghĩ hai đứa mình không thành đôi?

– Đừng hỏi tui. Tui không muốn Y Sao bỏ phí những năm chờ đợi. Các bạn gái của Sao không chỉ lấy chồng mà còn có con hai ba đứa rồi đó.

– Nếu A Siêng nói một lời thương Y Sao sẽ chờ tới khi nào cũng được mà.

– Không! Tui không thể!

– Nhưng tại sao? Tại sao chớ?

A Siêng bỏ đi như chạy ra khỏi nhà, để lại Y Sao nước mắt đầm đìa và nỗi buồn không thể nói thành lời. Nóng như lửa. Ngột ngạt không thở được. Một bầy kiến càng cắn trong lồng ngực đau nhói.

* *

*

Nửa khuya, bà Y Vui chuyển bụng sanh, rên la ầm ĩ. Cả nhà cuống quýt. Mưa to.Trạm xá thì xa, lỡ nửa đường sanh biết làm sao? Ông A Sam quýnh lên bảo con:

– Chạy qua nhà cô Y Mải, nói chú A Siêng tới coi dùm mẹ con đi. Nó bác sĩ mà.

Thằng cậu đang lui cui cột võng vào cái đòn khiêng, quát lên:

– Cứ đưa đi trạm xá thôi, thằng A Siêng tâm thần mà, bác sĩ gì.

Bà ngoại đang ngồi cạnh giường giữ tay con gái, nhổ toẹt miếng nước trầu vô vách, ngoái cổ ra bảo:

– A Siêng bác sĩ có bằng chớ. Nó tâm thần có lúc thôi. Cứ chạy qua coi, đang lúc nó tỉnh may ra giúp được mẹ mày.

Thằng nhỏ chạy ào ào. Đêm đen như hũ mực.Gió cứ rit lên trong những tàn cây như tức giận điều gì. Mưa tạt vào mắt xót tới không mở ra được. Con đường bò đi đầy bùn trơn trượt, chốc chốc thằng bé lại ngã cái uỵch, nó tấm tức khóc, dơ cánh tay đầy bùn lên quệt nước mắt chạy tiếp. May quá trong nhà còn ánh lửa. Nó nhào tới đập cửa thình thình:

– Chú A Siêng! Chú A Siêng cứu mẹ cháu với.

A Siêng bật dậy hỏi to.

– Ai kêu gì đêm khuya vậy?

– Mẹ cháu đau đẻ, nhờ chú tới giúp.

Chị Y Mải ngồi dậy từ trong buồng nói vọng ra:

– Khiêng đi trạm xá thôi. Chú Siêng đau mà, làm sao giúp được.

A Siêng quyết định rất nhanh.

– Chị để em đi coi thử. Nếu gay go quá thì em đi cùng ra trạm xá cũng được mà. Chờ chú ra ngay!

Nói rồi A Siêng lục tìm chiếc ống nghe lâu nay vẫn cất kỹ, với lấy chiếc túi nhỏ có vài loại thuốc ít ỏi,hối hả đi theo thằng bé. Từ khi về ở với anh chị, A Siêng chỉ chữa bệnh cho người trong nhà. Đây là lần đầu tiên có người gọi anh đi giúp. Vừa đi A Siêng vừa cố nhớ nhanh những kiến thức về sinh đẻ đã học.

Hơn một tiếng đồng hồ căng thẳng, bà mẹ cũng may mắn sanh dễ, đứa bé gái đã cất tiếng khóc đầu tiên. A Siêng toát mồ hôi ngồi phịch xuống chiếc ghế nhỏ bên bếp lửa, rửa đôi tay trong chậu nước ấm, rồi anh giơ ống tay áo quệt những giọt mồ hôi đầm đìa trên trán. Đến bây giờ anh mới thấy mệt rã rời, đã ngồi xuống rồi mà hai chân vẫn run lẩy bẩy . May quá không có sự cố gì. Ông A Sam ngồi xuống bên A Siêng:

– Cám ơn bác sỹ nhiều lắm. Không có anh, phải đưa đi trạm xá chắc bả sanh rớt giữa đường rồi.

– Không có gì đâu anh, người trong làng giúp nhau thôi mà…

Bà ngoại bọc đứa nhỏ trong tấm chăn thổ cẩm đưa cho A Siêng:

– Cho chú làm cha kết nghĩa này.

Đôi tay run run ôm chiếc bọc ấm áp vô người,đột nhiên một sức mạnh ấm nóng nào từ từ dâng lên trong người A Siêng. Anh như người say ruợu ghè, lâng lâng, choáng váng, siết chặt thân hình bé nhỏ của đứa trẻ vô ngực, nước mắt chảy ròng ròng…

Kể từ buổi tối hôm đó, người trong làng ai có bệnh gì đều chạy tới tìm A Siêng. Lúc đầu anh còn từ chối, viện cớ bệnh đau đầu thường hay tái phát, hoặc không có đồ nghề lẫn thuốc chữa bệnh. Thế là tại nhà Rông có một cuộc họp của làng:

– Bây giờ A Siêng nó chịu chữa bệnh cho người Kon Plei ta, nhưng nhà bác sĩ nghèo quá, không có đồ khám chữa bệnh,không có tiền mua thuốc, ta phải làm sao?

– Già làng cứ nói một tiếng, mọi bếp đều góp tiền lại cho A Siêng làm vốn chữa bệnh có được không?

– Ai có ít nộp ít, ai có bi nhiêu nộp bi nhiêu. Lâu nay có bác sĩ trong làng mà không để chữa bệnh cho mình.

– Hay ta đề nghị xã cho bác sĩ vay vốn xóa đói giảm nghèo?

Cả nhà Rông ồn ào lên:

– Được đấy! Bác sỹ mà nghèo đói thì cũng cần phải giúp đỡ chớ.Trưởng kon plei ngày mai làm giấy đề nghị xã giúp A Siêng thôi.

– Cho vay nhiều nhiều đi, để bác sĩ mua thuốc chữa bệnh luôn…

Vậy là với số tiền hai trăm ngàn bà con cả làng đóng góp và 2 triệu đồng quỹ xoá đói giảm nghèo cho vay, A Siêng đã có thể hàng ngày làm công việc trị bệnh cứu người mà anh mong ước. Khắp mấy Kon Plei quanh vùng, trong xã, rồi người cả xã bên đến tìm anh ngày một đông. A Siêng chẳng nề hà đêm hay ngày, mưa hay bão, xa hay gần, hễ có người gọi là xách túi thuốc đi liền. Bà con tin cậy và yêu mến anh lắm. Cũng may mà hồi đi học, A Siêng ý thức được trách nhiệm của mình nên đã theo đa khoa. Cũng lạ, căn bệnh đau đầu trầm cảm của anh ngày một thưa dần rồi chấm dứt hẳn từ lúc nào không biết. Chỉ có điều, bà con nghèo nên có lúc người khỏi bệnh trả bằng gà, trứng gà, gạo, thậm chí cả bằng bắp, củ mì ,A Siêng cũng nhận. Nhưng anh chẳng có nhiều tiền phụ cho anh chị, cũng không dùng gạo, hay gà đó trả vốn ,lãi cho xã được. Tuy nhiên, được làm nghề của mình đã học là tốt rồi.

* *

*

Vừa sang chích thuốc cho bà Chen, đang chuẩn bị đi rẫy thì chị Y Mải ở ngoài chạy về, hổn hển, vội vã:

– A Siêng đừng đi nữa! ủy ban tới nhà mình bây giờ đấy. Nghe nói có người nhà nước tới tìm em đi làm. Cả A Manh nữa đó!

A Siêng đứng lặng một lúc rồi vô nhà cất cuốc và nón, cẩn thận rửa chân tay, rồi lôi đôi dép da phủ đầy bụi ra lau . Săm soi đám quần áo ít ỏi của mình, anh cố chọn bộ nào có vẻ mới nhất. Tất cả đều may từ thời còn là sinh viên, nhưng bao năm nay ít có dịp mặc đến nên có thể lỗi mốt, nhưng vẫn là những thứ tốt nhất mà anh có. A Siêng muốn xuất hiện trước những người bạn cũ bằng một hình ảnh dễ gây được cảm tình nhất.

Thế mà năm năm đã qua kể từ khi A Siêng nhận được tấm bằng tốt nghiệp Đại học Y khoa Tây Nguyên. Những tưởng mọi lo lắng vất vả của các anh chị và của A Siêng đến đây là chấm dứt. Anh, người đầu tiên của làng Kon Riêng và Kon Đào tốt nghiệp đại học, người dân tộc Sê đăng đầu tiên của cả xã học làm bác sỹ, sẽ là người đẩy lùi mọi bệnh tật trong cộng đồng của mình…

Năm ấy chiến sự diễn ra ác liệt giữa quân giải phóng và chính quyền ông Thiệu. Sau trận bom Mỹ dội xuống thị trấn Tân Cảnh và làng Kon Đào, Già A Nhiên mời hội đồng già làng về nhà rông để bàn một việc lớn. Đêm. Đống lửa giữa nhà rông đã nhóm lên. ánh bập bùng soi lúc mờ lúc rõ những con rùa, con chim khắc nổi và các hình vẽ đủ màu trên những cột kèo. Ghè rượu đã đổ đầy nước. Già A Nhiên uống hết kiang đầu tiên, chuyển tay cho già A Min. Đưa mắt nhìn quanh những khuôn mặt gầy già nua khắc khổ, nhưng vẫn ánh lên những nét tinh nhanh của trí tuệ cộng đồng cả làng,khoát tay một vòng về phía những ngôi nhà đang ngún lửa ở bên ngoài nhà rông, già A Nhiên nói:

– Kon plei mình phải đi khỏi đây thôi. Pháo giải phóng dội uỳnh uỳnh xuống ban đêm. Bom ông Thiệu đổ ầm ầm suốt ban ngày. Không sống nổi nữa đâu.

– Đã có năm bếp bị lửa ăn hết cả nhà lẫn người rồi.

– Nhưng rồi chạy đi đâu bây giờ? Không thể vô rừng được đâu. Quân Việt Cộng ở chỗ nào bom Mĩ ném xuống chỗ đó. Chạy đi chỗ khác cũng là đất của ông Thiệu. Chúa bắt chết mình chết. Chúa cho sống thì được sống. Cứ ở lại đây không được sao?

Già A Min nhả cái cần ra khỏi hàm răng cà sát xuống tận lợi:

– Không được! Phải đi thôi! Người Sê đăng Kon Đào không thể chết, cũng không thể sống mà chống chọi lại bom đạn của cả hai phía. Ta sẽ đi Buôn Ma Thuột, tìm một nơi nào đó để dựng nhà rông, lập làng mới.

Vậy là cả làng gùi cõng nhau chạy sang Đak Lak. Chuyển vài nơi rồi mới ở lại mảnh đất giữa hai con sông nước trong nước đục. Cha mẹ A Siêng đã chết cả trong trận bom Mỹ dội xuống Đak Tô để trả thù Việt Cộng ấy. Bốn anh chị em phải cõng nhau chạy theo họ hàng. Cả làng đi hết ở lại biết sống với ai.

Hơn mười tuổi, A Siêng đã thay anh dắt trâu dẫm ruộng, gánh cả sào mạ cho các chị gái cấy. Thương đứa em út vóc dáng gầy guộc, các anh chị cố gắng động viên A Siêng đi học. Thương anh chị vất vả, A Siêng biết mình phải gắng học sao cho giỏi. Suốt mười hai năm hết học trường huyện, đến trường nội trú dân tộc của tỉnh, A Siêng luôn ở trong nhóm vài người đứng đầu lớp. Việc thi vào đại học Y Khoa những năm đó, không phải là khó đối với A Siêng.

Những năm học đại học, A Siêng đã phải làm đủ mọi việc, vừa học vừa phụ giúp các anh chị nuôi các cháu. Cũng may mấy năm đó, sinh viên người dân tộc thiểu số có học bổng, có bếp ăn ở ký túc xá, nên A Siêng đủ ngày hai bữa ăn. Còn tiền làm cỏ, hái cà phê, kể cả đi quét vôi công trình xây dựng,dạy kèm…anh đều giành mua tài liệu và gửi cho các cháu. Ai chơi gì thì chơi, suốt ngày A Siêng chỉ miệt mài với sách vở và các tua trực.

Tốt nghiệp đại học, trong đầu nóng bỏng bao nhiêu ước mộng. A Siêng đã gõ cửa từ bệnh viện tỉnh cho đến trạm xá xã. ở đâu cũng nhận được câu trả lời “Đang giảm biên chế, làm gì còn định biên để nhận người mới”. Mọi cánh cửa đều đóng. Có nơi nhận hồ sơ, nhưng lần sau đến người ta bắn tin phải nộp 15 triệu mới xong việc. Chúa ôi ! Cả một năm cắm mặt xuống ruộng mới thu được vài chục bao lúa, chưa đủ ăn hết năm cho cả bảy tám người gia đình chị gái. Nhà chỉ có chiếc xe đạp là đáng tiền nhất, anh chị giao cho A Siêng đi học, để có phương tiện lúc rảnh chạy làm thuê, hay ngày nghỉ về làm rẫy giúp anh chị. Cả làng không nhà nào có nổi vài trăm ngàn đồng cất giữ trong nhà, nói gì tới 15 triệu. Hai con sông nước trong, nước đục thay nhau hàng năm dâng nước ngập cánh đồng Ea Yang, năm nào cả xã cũng gặt lúa non chạy lụt. Đến mùa khô cái nắng nơi này cũng dữ dội lắm. Mặt ruộng nứt nẻ , các con suối cạn khô chỉ còn là những dòng bùn loãng. Cá tôm cạn kiệt, hoạ may chỉ còn vài con lươn, trạch rúc sâu dưới bùn đất còn sống được. Người Ea Yang năm nào cũng phải nhận cứu trợ của huyện là thế.

Hai năm lận đận tìm việc và làm ruộng dẫu có dài rồi cũng trôi qua. A Siêng xin anh chị về Kon Tum làm rẫy với vợ chồng chị Y Mải, may ra còn có thể xin được việc chăng. Nhưng anh cũng không có cơ hội nào suốt ba năm cho đến tận bây giờ.

Cài nút chiếc áo màu xanh da trời mà anh vẫn thích, thở sâu một hơi, A Siêng bước ra nhà ngoài. Đông nghẹt. Tíu tít. Ông bí thư xã tươi cười nắm tay A Siêng nói:

A Siêng à! Đài TNVN cho người về xác minh lý lịch và muốn đón cháu về làm phát thanh viên chương trình tiếng dân tộc Sẽ đăng ở Buôn Ma Thuột. Đồng thời huyện cũng có quyết định tiếp nhận cháu làm trưởng trạm y tế của xã. Công việc nào cũng cần thiết cho dân tộc mình. Vậy cháu trao đổi với các anh chị rồi mai cho xã biết ý kiến quyết định có được không?

A Manh nhìn bạn tha thiết :

– Về bên đó lương và nhuận bút dịch ,đọc mỗi tháng cũng được hơn 1 triệu đồng đó A Siêng ạ. Có nhà tập thể ở, không phải đi thuê đâu.

Bác chủ tịch xã góp lời :

– Lương trạm trưởng được vài trăm ngàn. Nhưng cháu vẫn có thể khám bệnh thêm ở nhà mà.

Gần như cả làng tụ tập trong nhà Y Mải, khi nghe nói có cán bộ xã và đài TNVN đến tìm A Siêng. Anh chị Y Mải lúc quay bên này, lúc quay bên kia nghe ý kiến của mọi người. Góc nhà, cặp mắt khắc khoải âm thầm của Y Sao nhìn chằm chặp vô A Siêng như chờ đợi. Rộ lên những lời bàn tán, ồn ào tranh cãi. Chỉ mình A Siêng im lặng.

Cả đêm không ngủ. Anh ra khỏi nhà khi trời chưa sáng, thơ thẩn bên hồ Đak Noa. Mặt trời chưa mọc nhưng tít trên cao, một vòm xanh ngọc đang lan rộng dần, đẩy lùi những đám mây xám, hứa hẹn một ngày nắng đẹp. Đỉnh Ngok Linh thường vẫn khuất trong mây trắng, bỗng hiện rõ, dáng núi mềm mại tạc vào chân trời đang hé lên màu hồng. Quả đồi thấp như gò ngực người đàn bà nằm duỗi dài dưới chân núi ven hồ phập phồng thở trong sương sớm. Sóng vỗ óc ách, những con cá mương nép vô bờ ngủ qua đêm,quật đuôi lách tách vượt vội ra ngoài xa. Một cánh chim lẻ loi liệng mãi trên bầu trời, như muốn dấn sâu vào nỗi cô đơn nên đôi cánh nhỏ không buồn vẫy, cứ giang rộng từ trên cao sà xuống tận sát mặt nước, rồi lại lao vút lên bầu trời thăm thẳm. Như có cánh ná nào bắn vụt mặt trời lên đỉnh núi, ánh sáng chói loà thành một dải lụa vàng trải giữa mặt nước xám bạc lung linh. A Siêng quay người đi trở lại làng. Dưới tán lá xà nu xanh nơi bìa rừng, Y Sao đã đứng đấy từ lúc nào.A Siêng bước nhanh hơn, vươn thẳng người khẽ nói lên thành tiếng “Mình sẽ ở lại!” .

Linh Nga Niê Kdăm

Carlos Santana – Nghệ sĩ guitar của mọi thời đại

Chào các bạn,

Ai trong chúng ta cũng đã nghe Santana dù là ta có biết tên hay không, nhất là hai bản Black Magic Women và Oye Como Va nỗi tiếng từ thời thập niên 70s và vẫn còn thịnh hành ngày nay trên các sàn nhảy Việt Nam.

Carlos Santana, sinh ngày 7.20.1947, là nghệ sĩ guitar người Mỹ gốc Mễ Tây Cơ. Santana bắt đầu nỗi tiếng cuối thập niên 60s đầu thập niên 70s, với ban nhạc do anh lập lấy họ của mình làm tên, Santana, chơi một loại nhạc rock trộn lẫn rock, Salsa và jazz, cùng với đường guitar ngọt lịm bóng bẩy của Carlos, và các nhạc cụ Nam Mỹ như trống congas và timbales.

Trong thập niên 1990s, Santana lại bất đầu một lượt thành công với các bạn nhạc mới, trình diễn chung với các nghệ sĩ hàng con cháu.

Carlos Santana đã thắng nhiều giải Grammy, và được báo Âm Nhạc Rolling Stone đưa vào hạng thứ 15 trong danh sách “100 nghệ sĩ guitar của mọi thời đại.”

Sau đây mời các bạn xem vài videos của Santana:

1. Soul Sacrifice tại Woodstock 1969
2. Black Magic Woman
3. Oye Como Va
4. Europa
5. Santana và huyền thoại Guitar Eric CLapton, tringh bày Jingo
.

Santana – Soul Sacrifice (Woodstock 1969) (Video này có vài hình ảnh không được lịch sự mấy. Nhưng có lẽ cũng nên xem đển biết huyền thoại Woodstock thế nào 🙂 )

.

Santana: Black Magic Woman (2005)

.

Oye Como Va – Carlos Santana

.

Santana – Europa

.

Santana & Clapton – Jingo

.

Văn Thanh, thì ra “dâm vỏ tái lòng”!

Sau 18 năm dạy Trung văn ở Phú Thọ và Nghệ An, Văn Thanh bỏ nghề vào Đắk Lắk làm cán bộ văn hóa thông tin. Lý do được ông trần trụi phơi ra đầu bút :

Tôi cầm phấn lên bảng dạy học trò

Nói theo sách chúng vừa nghe vừa gật

Trang giáo án thêm đường rót mật

Ra giữa đời chát đắng chua cay …

Chất “đồ xứ Nghệ” ngang ngạnh, bộc trực thấm đẫm từ trong ra ngoài khiến Văn Thanh không ngồi yên trên bất cứ cái ghế nào. Người sao thơ vậy, ông luôn chọn được lối riêng thú vị, sắc sảo khi cần phơi bày những góc khuất của xã hội, dù trong đời hay trên trang giấy. Hoặc đùa cợt ngộ nghĩnh “Con chuồn ớt đậu trên cành ớt/ Dẫu đỏ hết mình cũng không thể nào cay”; Hoặc nghiêm khắc đe nẹt “ Thôi đừng ầm ĩ biển ơi/ Một ly nước ngọt cho đời, có chưa ?”; Và hồn nhiên như trẻ nhỏ “ Sáng ra choàng tỉnh dậy / Da trời đầy nếp nhăn/ Thì ra đêm vũ trụ/ Còn suy tư hơn mình” …

Tự làm mọi thủ tục hưu sớm để lui về lo cơm áo gia đình và lo cho … thơ. Loay hoay tập tành mãi mới phục hồi dần thể lực sau một cú tai biến mạch máu não tưởng đã “đi tong”! Thế nhưng ngay trong những năm tháng loay hoay ấy ông đã lần hồi sáng tác, gom góp được cả chục tập bản thảo thơ, tự vẽ bìa phô tô gửi tặng bạn bè đọc chơi. Tập đầu tay in ấn đàng hoàng của ông có tên là “ Quả đắng”. “ Thơ tôi quả đắng trên rừng/ Ai ham của ngọt xin đừng ghé môi !” . Dòng nào trang nào cũng đắng, kiểu “ đắng dã tật”, tốt mà … khó nuốt. Họa sĩ trường phái tả chân sau cả buổi vò đầu chả biết nên trình bày thế nào, bèn tương lên bìa hình vẽ một thứ quả tưởng tượng nhòe nhoẹt, lù xù gai nhọn, trông cứ như con Ếts (AIDS).

Có cậu con trai tài giỏi, họa sĩ Lê Hồng Thao, thành danh ngay trong giới đồ họa,  đang làm việc cho một trong những công ty hàng đầu về kỹ xảo điện ảnh và game 3D ở  Mỹ .  Nhưng con xa bạn gần, Văn Thanh không ngần ngại nhận “ tài trợ kỹ thuật” kiểu tự mày mò từ thi sĩ Nguyễn Trọng Tạo để “một bước lên đời”, trở thành tác gia tân thời nhất trong giới cầm bút ở Đắk Lắk vì là người đầu tiên ở xứ cà phê xanh mù táo bạo mở blog văn chương. Văn Thanh blog’s đủ loại sáng tác trường ca đoản ca, truyện vừa truyện ngắn, thuần chất chém to kho mặn đọc vừa tếu vừa đau khó lẫn. Trong mớ hàng bày ra chỉ để chia sẻ chứ không bán ấy dễ gặp khá nhiều ảnh tươi mát , thoạt nhìn dễ nghĩ một đằng, đọc phần chữ in kèm hóa ra một nẻo. Ví dụ “ Triết lý của điếm” :

Vẻ đẹp em như một lâu đài/         Lộng lẫy lắm. Em có quyền định giá/Em bán. Em cho. Có gì mà lạ ? Khoa học bán phát minh/ Họa sĩ bán tranh/ Công nhân bán mồ hôi mình/ Lại có kẻ bán cả quyền hành/ Tất cả vì Tiền/ Bán/ Bán…Nghe em nói mà tôi hoảng sợ/ Những người già/ Giờ biết bán chi đây ?

Dấn thêm bước nữa, mới đây ông cho ra lò thêm tập thơ nặng trịch, trên mặt bìa cứng dày cộp in lồ lộ ảnh một nàng khỏa thân, tóc rũ vú chìa, ngồi gục đầu giữa đêm tối dưới cái tên nửa nạc nửa mỡ “Người tình ngoài sổ sách”. Tập tễnh một bên chân di chứng tai biến vác thơ đi , ông oang oang kể, nửa khoe nửa than :

Lắm thằng thấy cái bìa tưởng vớ bở, cứ nằn nì “Bác tặng em với!”. Của đâu cho đủ ?! Anh em giúp phần lớn mà vẫn phải nộp vô hai mươi lăm triệu mới ra được năm trăm bản. “Mỗi câu thơ là một hạt cát/ Trong ngực người bầm tím nỗi đau” chứ đùa à ?

Tôi ghẹo :

– Chính anh viết “ Thơ không được màu mè chưng bán/ Đánh lừa nhau, ru ngủ mọi người” . Vậy mà lần này phải chơi tới ảnh truồng để tiếp thị ư ?

Ông trợn mắt :

Tác phẩm nghệ thuật đoạt huy chương vàng gì gì đó của nghệ sĩ nhiếp ảnh Dương Quốc Định, thằng Tạo nó bảo thế . Chẳng đủ tặng bạn bè, còn đâu mà tiếp thị ?

Dân cá gỗ, Ký ức về cái nghèo, Vóc dáng miền Trung, Đu đủ đực, Tái ngộ Chí Phèo, Con voi một ngà, Đất Ea Sô, Bờm đi chợ WTO, Thiện và ác, Búa và đinh, Gà công nghiệp v.v…Gần ba trăm tên bài nép sau lớp bìa khiêu khích “ dâm vỏ” nhưng “ tái lòng”, dồn nén đầy ứ buồn vui  của quá nửa đời người trung thực thăng trầm.

Không phải bài nào cũng hay, song có thể nhặt ra lắm tứ thơ bất ngờ, thú vị, hàm súc như ca dao thành ngữ. Bút pháp xù xì thô mộc, thường chỉ vài câu ngắn gọn đã bao trọn tình ý thâm sâu. Ví dụ “ Cây bonsai” :

Trăm năm kẹt giữa sứ sành/ Thân nào chẳng sẹo, chẳng thành u chai…

Hoặc “ Lá chè ” : Cứ vò/ Cứ sấy/ Cứ sao/ Cứ đem đun nóng ai nào quản đâu/ Có gì chưa hiểu lòng nhau/ Xin tan vào chén để sau thấm dần…

Hoàng Thiên Nga

Múa rối bóng Thế Giới Tuyệt Vời – A Wonderful World puppet show

Chào các bạn,

Hình như mình đã post show này trước đây rồi, nhưng show hay thì xem lại cũng không sao. Đây là show múa rối bóng (shadow puppet), tao bằng bóng đen của đôi bàn tay trên tường. Người nghệ sĩ trong show này đã thuộc hàng số một trên thê giới, tạo những hình ảnh thật dễ thưởng và nhiều cảm xúc, minh họa cho Louis Armstrong ca bản A Wonderful World.

Cám ơn anh Phan Quang đã gởi link.

Mời các bạn thưởng thức.
.

Chuyện Nàng Thuý Vân

Nguyễn Du là một danh nhân văn hóa thế giới.
Bậc danh nhân sinh hạ được một cặp sinh đôi tuyệt thế: Thúy Kiều và Thúy Vân.
Cụ cũng gật gù đắc ý:

Mai cốt cách, tuyết tinh thần
Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười.


Ấy vậy mà số phận hai nàng lại quá khác nhau.

Kiều tiền hung hậu kiết. Kể từ độ bán mình chuộc cha, tính trung bình 20 lạng vàng định giá một năm son phấn kể cũng thua thiệt cho đời hoa ghen thua thắm. Tôi cũng tội thân Kiều. Mà qua cái tao đoạn ấy, đời Kiều kể lên hương. Hai thế kỉ rưỡi trôi qua, Kiều không thôi được các thi nhân xưng tụng, dẫu đôi lúc cũng bị đời mắng mỏ, song cái roi đe nẹt dẫu đau cũng chả bù những lúc được tôn vinh, nhất là khi một nhà thơ lạm quyền chủ tịch tôn Kiều là cái tiết trinh của đời dân tộc:

Chạnh thương cô Kiều như đời dân tộc
Chữ kiên trinh vượt trăm sóng Tiền Đường!

Chế Lan Viên
Ngẫm lại thấy tội nàng Vân.
Một đời thanh xuân hơ hớ, so cô chị dẫu có tủi phấn thẹn hương đôi chút , song cũng hàng quốc sắc thiên hương, mà chẳng được đời chiều. Từ cái đêm trao duyên chẳng đặng chối từ, Vân cứ mất hút vào cõi vô danh, đến cuối hồi soát sổ, Vân mới có cơ hội trình diện một lần nữa, cũng chỉ để làm xong cái phận sự: Mang khối tình cất dùm mà nguyên chủ phát hoàn!

Nguyễn Du kể cũng hay tâm nên giành cho Vân tàng tàng chén cúc dở say ý hẳn để nàng quên đi hờn tủi!

Kể thì cũng tội, hồng nhan chẳng kịp đa truân, chẳng chịu đa tình, thành dở dang quá đỗi. Mười lăm mười sáu cập kê, chưa kịp biết yêu, đã phải vì chị mà mậu đường tình, khuân vác cái duyên hờ của chị. Mà mười lăm năm ấy, nào hạnh phúc cho cam, nuôi nấng cái đấng lang quân vừa kịp bảng vàng bia đá, ngài vội vứt ngang mà đăm đăm tìm kiếm tình xưa, thật đúng cái tình cái cảnh “ thân em bắt tép nuôi cò, cò ăn cò béo cò dò lên cây”. Nghĩ vậy mà khuyên thi nhân nay có mài bút khen cái chí tình của chàng Kim thì xin “ nhẹ bàn tay, nhẹ bàn tay” kẻo tội nàng Vân lăm lắm! Hãy ngẫm xem linh hồn Vân cười khóc thế nào khi nghe đời sau nhạo báng:

Thôi đừng nhắc khúc đàn xưa mờ tỏ
Mảnh vườn khuya em băng lối một mình
Ta không bẻ nhụy đào đêm xuân ấy
Để bây giờ buồn tiếc đến khôn nguôi!

Nguyễn Tiên Khôi

Thôi thì tập làm người nghĩa hiệp mà đi ngược lẽ đời, để chia sẻ cùng Vân đôi điều uẩn khúc.
Một lần đem nỗi băn khoăn này mà tỏ bày cùng một danh sĩ đất Hội An, danh sĩ cười ngạo mà phán bảo:
– Thương tiếc khéo là vô lí, lẽ đời đã dấn một nửa bước chân vào chốn tài hoa ai lại đi thương một cái giải nhì!
*
* *
Thôi đành vậy.

Người viết bài này chỉ là nhất thời cao hứng mà diễn xuôi ý tứ của một thi nhân, Trương Nam Hương, nên có lỗi nào trong bài luận văn vô phép rất mong quí bạn vui lòng tìm đến ông Trương Nam Hương mà cật vấn.

Sau đây là bằng chứng:

TÂM SỰ NÀNG THÚY VÂN

Trương Nam Hương

Lặng nghe lời chị dặn dò
Mười lăm năm đắm con đò xuân xanh
Chị thương lệ khóc đã đành
Chứ em nước mắt đâu dành chàng Kim.

Ơ kìa sao chị ngồi im
Máu còn biết chảy về tim để nồng
Lấy người yêu chị làm chồng
Đời em thể thắt một vòng oan khiên
Sụt sùi ướt cỏ Đạm Tiên
Chị thương kẻ mất đừng quên người còn
Mấp mô số phận vuông tròn
Đất không thể nhốt linh hồn đòi yêu!
Là em nghĩ vậy thôi Kiều
Sánh sao đời chị ba chiều bão giông
Con đò đời chị về không
Chở theo tiếng khóc đáy sông Tiền Đường.

Em chưa được thế bao giờ
Tiết trinh thương chị đánh lừa trái tim.
Em làm vợ của chàng Kim
Ngồi ru giọt máu tượng hình chị trao
Đắp đầy đêm nỗi khát khao
Kiều ơi, em đợi kiếp nào để yêu?

Ý kiến các bạn thế nào?

Nguyễn Tấn Ái

Haiku


    Gió
    thổi

    quả
    thông
    rụng

    lăn
    vào
    thung
    lũng

    Mảnh
    nắng
    mỏng

    lọt
    qua
    khe
    cửa

    sáng
    cả
    phòng

    Tuyết
    đầu
    đông

    trĩu
    cành

    hạ
    trắng
    rừng
    thông

    Tuyết
    đổ

    Trùm
    đầu
    trùm
    cổ

    Nhìn
    sóc

    đùa

Thứ bảy, 5.12.2009, tuyết đầu đông. Chụp ảnh cây thông trước nhà, chia sẻ với các bạn 🙂 TĐH

Lê Vĩnh Tài, Nhà Thơ Phố Núi Và Trường Ca Vỡ Ra Mưa Ấm

Chào các bạn,

Dưới đây là bài giới thiệu của chị Huỳnh Huệ về nhà thơ Balme Lê Vĩnh Tài, một thi sĩ dịu hiền và chân thật.  Mình và Phượng gặp Lê Vĩnh Tài năm 1996 tại đêm ca hát ờ nhà Hoàng Thiên Nga cùng chị Linh Nga Niê Kdăm và một số bạn bè khác.  Đêm đó anh em tâm sự cũng nhiều.  Nay có duyên được Huỳnh Huệ nối dây trở lại.

Trường ca Vỡ Ra Mưa Ấm là một trường thi dài hơn 6,500 chữ, về rừng núi, cây lá, con người, tình yêu và những suy tư khắc khoải của Tây Nguyên.  Đây là bản trường ca của một người con ruột rà máu thịt Tây Nguyên, với những thổn thức và nhịp đập con tim của một đứa con dành cho đất mẹ:

Tây Nguyên mênh mang tận cùng máu chảy
mẹ dạy ta nhìn thấy
một bông lúa rẫy cũng khát như người

ôi Tây Nguyên
lá vẫn xanh trong câu thơ lá đỏ
ngày nhiều nắng gió
vàng rơi

Tây Nguyên mênh mang
có những phận người…

Mời các bạn “nghe” lời giới thiệu của chị Huỳnh Huệ về anh Lê Vĩnh Tài. Sau đó, mời các bạn xem đoạn 1 của trường ca Vỡ Ra Mưa Ấm.

Mến,
Hoành
________

Chào các bạn,

Lê  Vĩnh Tài  sinh năm 1966 tại Ban Mê Thuột, Đăklăk, đã có những tháng ngày  khoác áo sinh viên, mặc blouse trắng thực tập tại các bệnh viện ở phố núi. Anh  tốt nghiệp Đại học Y Dược Tây Nguyên nhưng cuối cùng theo nghề kinh doanh và làm thơ.

Với anh, thơ chính là con đường, hành trình, nguồn năng lượng thắp sáng, tìm kiếm bản thể mình, là tình yêu tha thiết cho quê hương, thân phận,  nỗi đau trước những cánh rừng bị tàn phá… Anh đã có nhiều tập thơ được in, từng nhận nhiều giải thưởng văn học địa phương và trong nước : giải văn học nghệ thuật tỉnh Đăklăk, giải Tác phẩm Tuổi Xanh, giải Bút Mới, giải Bách Việt lần 1 tháng 1/ 2009… Trong cuộc hành trình của mình,  Lê  Vĩnh Tài đã đến nhiều nơi của  tổ quốc, từ Nam ra Bắc,  nhưng có lẽ Ban Mê và Tây Nguyên là một cõi đi về, đỉnh điểm và khát vọng của hồn thơ anh  : “Tôi yêu vùng đất đỏ bazan – khát quê nhà. Những bài thơ của tôi như loài hoa cà phê chỉ sống được và tỏa hương trên những triền đồi hoang dã”.

Các tác phẩm của anh gồm :

Tác phẩm:
Hoài niệm chiều mưa, NXB Thanh Niên 1991.
Hạt thóc và Hoa dại (in chung với Uông Ngọc Dậu), 1993.
Lục bát Phượng yêu (in chung với Phạm Doanh), 1994.
Và nỗi nhớ đã bắt đầu với gió, NXB Văn nghệ TP Hồ Chí Minh, 2004.
Vỡ ra mưa ấm, trường ca, NXB Văn nghệ TP Hồ Chí Minh, 2005.
Liên tưởng, NXB Văn nghệ TP Hồ Chí Minh, 2006, Giải thưởng của Liên hiệp các hội VHNT VN 2007.
Đêm & những khúc rời của Vũ, NXB Hội Nhà văn, 2008.
Thơ hỏi thơ, NXB Thanh Niên, 2008.

Góp mặt trong:
Thơ trẻ Việt Nam 1994-1998.
Tuyển 20 năm thơ Sông Hương, 2003.
Tuyển 50 năm thơ Văn nghệ Quân đội.
Thơ Việt Nam, Tìm tòi và cách tân 1975-2005, NXB Hội Nhà văn, 2007.
Huy chương vì sự nghiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam, 2001.

Cũng như nhiều  nhà thơ  khác của vùng  đất Tây Nguyên, tình yêu dành cho mảnh đất này, Lê Vĩnh Tài và thơ anh từ những xúc cảm ban đầu  –  nỗi buồn, nỗi nhớ nhung lặng lẽ, khó nắm bắt nhưng rất thực của anh về đất, về người, về đời, về những giấc mơ mỗi đêm “như gió về đập cửa” và “những ngày tháng đã xa như cổ tích” ( Và Nỗi Nhớ Đã Bắt Đầu Với Gió, Nhà xuất bản Văn nghệ TP Hồ Chí Minh, 3.2004) cho đến những nỗi trăn trở, nỗi đau nhức nhối khi rừng chảy máu và bị tàn phá điên cuồng.

Hãy nghe tiếng lòng  thảng thốt :

rừng thành chật chội bước chân của người…
rừng bỏ chúng ta đi

đỉnh núi không còn rừng nhô ra đỉnh vú…
trên rơm rạ đời ta rừng từ giã cõi đời

Còn nhiều để nói về những trăn trở trong thơ của Lê Vĩnh Tài, bởi thơ anh không là cõi mơ xa rời hiện thực, mà là tiếng lòng anh gần gũi  với đất, rừng núi, con người và cuộc  sống của  vùng đất Tây Nguyên huyền thọai này:

tại sao không liên tưởng
hạnh phúc dửng dưng nỗi đau phá
giá oằn vai người nuôi cá basa
mắt người nuôi gà
nỗi kinh hoàng hố chôn dịch cúm
dường như chiều nay
chúng ta quên mất cuộc đời nhiều cánh cửa
cùng đóng lại ước mơ
với một ly cà phê Highland bốn mươi ngàn
khuyến mãi máy lạnh
quên mất ở Tây Nguyên bảy năm rồi cà phê bốn ngàn một ký
khuyến mãi mồ hôi

(Đêm và những khúc rời của Vũ, NXB Hội Nhà văn, 2008)

Nhưng thực ra tác giả vẫn không mất đi niềm hi vọng về một ngày mai sáng, xanh hơn trên mảnh đất đã là máu thịt:

niềm vui Banmê chênh vênh mõm đá
thành phố dịu dàng nỗi đau ngược gió
bay lên.
(Vỡ ra mưa ấm, NXB Văn nghệ TP Hồ Chí Minh, 2005)

Đọt Chuối Non hân hạnh giới thiệu nhà thơ Lê Vĩnh Tài như một tác giả mới của Đọt Chuối Non qua trường ca Vỡ Ra Mưa Ấm mà anh vừa gửi đến cho Đọt Chuối Non với lời hứa góp mặt thường xuyên vì tình cảm anh dành cho sân chơi – mảnh đất màu của tư duy tích cực , lạc quan yêu đời, và đặc biệt cộng đồng Daklak’s gang.

Các bạn có thể biết thêm về tác giả Lê Vĩnh Tài qua những bài viết giới thiệu khác trên báo, tạp chí và các trang web như bài :  Các khuôn mặt mới 11. Lê Vĩnh Tài tại http://inrasara.com/?p=1912

Hùynh Huệ

Vỡ Ra Mưa Ấm

(đoạn 1)

Những ý nghĩ về em chưa bao giờ lắng xuống
ôi quê hương
cỏ dại bông hoa như những quả chuông màu nắng ngân vang
vùng đất lũ lụt và hạn hán
sáu tháng mùa khô
sáu tháng mặt trời
những sáu tháng mắt cay mờ bụi đỏ
sáu tháng dựng lên tất bật, âu lo
con nước lớn thành con nước nhỏ
quả bầu để khô đựng nước bên trong
lũ lượt thành dòng
nước ở trên gùi chứ không ở dưới sông
lấy được nước mồ hôi nhiều hơn nước
mẹ biết vậy nhưng cách gì khác được

cơn khát khô cong dấu hỏi trong lòng
trốn đâu rồi con suối, dòng sông
sao cóc nghiến răng mà mưa không đến
lúa trên rẫy nghẹn đòng
vỏ trấu thôi chẳng hạt gạo bên trong
nương rẫy rộng mênh mông
mà mẹ đi mót lúa không hạt nào

mặt trời mọc đàng Đông và lặn đàng Tây
đêm cuộn vào trong ngày
cái quầng lửa trở mình qua lại
lăn qua rẫy nương một vệt máu bầm
cầu vồng mơ mưa rợp xuống thân Người
gió và bụi đỡ mặt trời lên cao
như ánh sáng
trong suốt dẫn ta vào giấc mơ
theo lối thang mòn của mẹ

Lê Vĩnh Tài