Tag Archives: Văn Hóa

Vui hay lo? – Một dụ ngôn

Phật nói một dụ ngôn trong kinh:

Một người đàn ông đi ngang cánh đồng và gặp con cọp. Anh ta chạy, cọp đuổi theo. Chạy đến một vực sâu, anh nắm rễ của một dây leo và nhảy xuống vực. Con cọp đứng trên vực đợi anh. Run rẩy, anh ta nhìn xuống đáy vực, một con cọp khác đang đợi dưới đáy để ăn anh. Chỉ có sợi dây leo đang giữ anh lại.

Hai con chuột, một trắng một đen, đang gặm sợi dây leo. Anh thấy một quả dâu chín mọng gần anh. Một tay nắm sợi dây leo, tay kia anh hái trái dâu. Ngọt ơi là ngọt!

Bình:

• Truyện này có nhiều phiên bản hơi khác nhau chút đỉnh, và nhiều người có những cách giải thích khác nhau. Chúng ta sẽ giải thích chuyện này theo tinh thần Thiền tông.

• Cọp trên vực và cọp ở dưới vực, tượng trưng cho điều không tránh được—đó là sự chết. Và cũng tượng trưng cho hai giới hạn của đời người: Cọp sau lưng (trên vực) là quá khứ, cọp trước mặt (dưới vực) là tương lai.

Đời người nằm giữa quá khứ và tương lai. Sơi dây leo tượng trưng cho đời người.

Chuột trắng chuột đen là biểu tượng của ngày và đêm, đưa con người dần đến sự chết.

Cuộc sống chỉ tạm thời, và ta nhất định sẽ có ngày chết.

• Thế trái dâu là tượng trưng cho điều gì?

Khoái lạc tạm thời làm cho ta si mê mà quên mất cái nguy đang gặp (như một số người giải thích)?

Nhưng nếu không ăn dâu cho thỏa thích, thì làm gì bây giờ?

• Tâm thiền là tâm rỗng lặng, không lo lắng về sự chết, không gánh nặng quá khứ và không lo sợ cho tương lai.

Sống thật là sống “ở đây lúc này.” Đừng lo chuyện không lo được. Trước cọp sau cọp, nếu đến lúc phải chết là ta sẽ phải chết, không cưỡng được, không thể chọn lựa được.

Nhưng trái dâu trước mặt, ta có cơ hội chọn lựa. Một là hưởng mật ngọt của nó, hai là để sợ hãi làm ta không thấy được trái dâu, không hưởng được nó.

Thiền là không lo sợ. An lạc vui sướng với “lúc này ở đây”.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

.

A Parable

Buddha told a parable in a sutra:

A man traveling across a field encountered a tiger. He fled, the tiger after him. Coming to a precipice, he caught hold of the root of a wild vine and swung himself down over the edge. The tiger sniffed at him from above. Trembling, the man looked down to where, far below, another tiger was waiting to eat him. Only the vine sustained him.

Two mice, one white and one black, little by little started to gnaw away the vine. The man saw a luscious strawberry near him. Grasping the vine with one hand, he plucked the strawberry with the other. How sweet it tasted!

#18

Giới thiệu bài hát Santa Lucia

Santa Lucia là một trong những bài hát nổi tiếng của dòng nhạc Neapolitan, là thể loại nhạc hát bằng ngôn ngữ của vùng Naples nước Ý, thường do một giọng nam hát solo. Đây là bài hát ca ngợi thành phố Naples và vùng Santa Lucia ở vịnh Naples.

Lời bài hát là những lời mô tả người lái thuyền về phong cảnh của vùng Santa Lucia khi màn đêm buông xuống và ánh trăng phản chiếu trên mặt biển. Người lái thuyền kể với chúng ta về sự kì diệu khó diễn tả khi nhìn những con thuyền dong khơi thật nhẹ nhàng và lướt đi bởi những làn gió. Người lái thuyền mời chào mọi người lên thuyền và không ngớt lời ca ngợi cảnh đẹp của biển và thành phố Naples.

Bài hát này cũng được dùng phổ biến trong ngày lễ thánh Lucy vào 13 tháng 12 hàng năm tại các nước Bắc Âu như Thụy Điển, Phần Lan, Đan Mạch, Ai-xơ-len, Latvia, Estonia, Phần Lan, Ý…Trong ngày lễ này một cô gái sẽ được chọn để làm biểu tượng của thánh Lucy. Cô mặc váy trắng dài với dải băng màu đỏ và đội vương miện bằng nến. Đi sau cô là những người phụ nữ, mỗi người cầm một cây nến, thể hiện ngọn lửa đã khước từ lấy đi sự sống của thánh Lucy khi bà bị trừng phạt và buộc phải chết thiêu. Họ cất vang bài Santa Lucia khi bước vào làm lễ nhà thờ.

Mời các bạn nghe giai điệu của Santa Lucia qua các giọng ca của Elvis Presley và Mario Lanza

1. Elvis Presley

.

2. Mario Lanza
.

Sul mare luccica l’astro d’argento.
Placida è l’onda, prospero è il vento.
Sul mare luccica l’astro d’argento.
Placida è l’onda, prospero è il vento.
Venite all’agile barchetta mia,
Santa Lucia! Santa Lucia!
Venite all’agile barchetta mia,
Santa Lucia! Santa Lucia!

Con questo zeffiro, così soave,
Oh, com’è bello star sulla nave!
Con questo zeffiro, così soave,
Oh, com’è bello star sulla nave!
Su passegieri, venite via!
Santa Lucia! Santa Lucia!
Su passegieri, venite via!
Santa Lucia! Santa Lucia!

In fra le tende, bandir la cena
In una sera così serena,
In fra le tende, bandir la cena
In una sera così serena,
Chi non dimanda, chi non desia.
Santa Lucia! Santa Lucia!
Chi non dimanda, chi non desia.
Santa Lucia! Santa Lucia!

Mare sì placida, vento sì caro,
Scordar fa i triboli al marinaro,
Mare sì placida, vento sì caro,
Scordar fa i triboli al marinaro,
E va gridando con allegria,
Santa Lucia! Santa Lucia!
E va gridando con allegria,
Santa Lucia! Santa Lucia!

O dolce Napoli, o suol beato,
Ove sorridere volle il creato,
O dolce Napoli, o suol beato,
Ove sorridere volle il creato,
Tu sei l’impero dell’armonia,
Santa Lucia! Santa Lucia!
Tu sei l’impero dell’armonia,
Santa Lucia! Santa Lucia!

Or che tardate? Bella è la sera.
Spira un’auretta fresca e leggiera.
Or che tardate? Bella è la sera.
Spira un’auretta fresca e leggiera.
Venite all’agile barchetta mia,
Santa Lucia! Santa Lucia!
Venite all’agile barchetta mia,
Santa Lucia! Santa Lucia!

CHÀO NĂM 2010

CHÀO NĂM 2010

Ngày đầu năm mới là lúc chúng ta tạm ngưng công việc trong một khoảng thời gian nào đó để chào đón năm mới, lắng đọng tâm hồn mình và làm mới những hồi ức đẹp đẽ và hướng đến những hi vọng và niềm vui mới.

Thân ái chúc các bạn của Đọt Chuối Non một năm mới 2010 an lạc, tràn đầy sức sống, với những hi vọng tươi xanh, những tin yêu trong trái tim luôn hồng để chúng ta trân quý và tận hưởng niềm vui của từng ngày trong 365 ngày sắp đến.

Chúc Đọt Chuối Non của chúng ta phát triển như những đọt chuối xanh lan tỏa sắc màu của tư duy tích cực thêm dài rộng và sâu gốc rễ trong lòng nhiều người con Việt gần xa

Mình chờ được đọc những lời chúc năm mới từ các bạn mà khởi đầu là của một bạn nào dịch từ video CHÚC MỪNG NĂM MỚI GỬI TẶNG TẤT CẢ CÁC BẠN dưới đây

Mời các bạn thưởng thức một số hình ảnh về Topiary: nghệ thuật cắt tỉa cây cảnh, nghệ thuật tạo hình cây cảnh rất đẹp. Topiary, nghệ thuật tạo hình cây cảnh ở một tầm cao đã góp phần làm đẹp không gian sống và bảo vệ môi trường xanh cho bao thế hệ con người.
Xin cám ơn bạn Hồng Phúc đã gửi link này cho mình. Mình đã để dành cho hôm nay chia sẻ cùng các bạn.

Các bạn click vào hình bên dưới để xem 42 slides Topiary rất xanh tươi

Và nếu bạn có hứng thú muốn tìm hiểu thêm vể Topiary, các bạn đọc và xem ở link sau :

http://shnpost.com/d%C6%A1%CC%80i-so%CC%81ng/khong-gian-s%E1%BB%91ng/tao-hinh-cay-canh-cho-logo-va-khong-gian-song-17363/

CHÀO NĂM 2010 THỊNH VƯỢNG VÀ HẠNH PHÚC HƠN NĂM 2009 CHO TẤT CẢ CHÚNG TA

Happy 2010

Chúc cả Vườn Chuối–admins, tác giả, commentors, fans, đọc giả, bạn bè–một năm mới dồi dào sức khỏe, ít stress, nhiều tình (loại tình không stress 🙂 ), nhiều niềm vui, nhiều hạnh phúc…

Cách chắc ăn nhất để gặp nhiều may mắn là sờ bụng ông Phật Béo, cho nên ta có một ông đây, để các bạn sờ bụng lấy hên.

Happy 2010 !!
.

Nguyên Lý Đầu Tiên

Nếu đến chùa Obaku ở Kyoto ta sẽ thấy một dòng chữ khắc “Nguyên Lý Đầu Tiên”. Các chữ này lớn lạ thường, và những người rành thư pháp luôn luôn thán phục chúng như là những tác phẩm hàng đầu. Các chữ này do Kosen viết hai trăm năm về trước.

Lúc viết, thiền sư viết trên giấy, sau đó các nghệ nhân làm bản khắc lớn hơn bằng gỗ. Trong khi thiền sư viết, có một người đệ tử bạo gan ở bên cạnh, vị này đã hòa nhiều lít mực cho thiền sư để viết mấy chữ này và luôn luôn phê bình thư pháp của thiền sư.

“Chưa được,” vị đệ tử nói với Kosen sau lần viết đầu.

“Cái này thì sao?”

“Nghèo nàn. Dở hơn cái trước,” vị đệ tử nói.

Kosen kiên nhẫn viết hết tờ này đến tờ khác cho đến khi 84 chữ “Nguyên Lý Đầu Tiên” đã được viết, mà vị đệ tử vẫn chưa đồng ý.

Rồi, khi vị đệ tử bước ra ngoài một lúc, Kosen nghĩ: “Đây là cơ hội để mình thoát được con mắt sắc bén của hắn,” và thiền sư viết vội vã, với tâm trống rỗng mọi tạp niệm. “Nguyên Lý Đầu Tiên.”

“Một tác phẩm tuyệt vời,” vị đệ tử tuyên bố.

Bình:

• Ta không thể làm gì tốt nếu ta bị phân tâm. Lý‎ do phân tâm có thể là lý do rất tầm thường như là có học trò đứng phê phán. Ta có thể lo lắng và phân tâm rất phi lý‎, như là thầy sợ trò chê, chuyên gia sợ người không biết gì chê…

• Rộng hơn, trong đời sống hàng ngày, ta có thể bị phân tâm bởi đủ thứ tạp niệm: Sợ mọi người chê cười, sợ mất uy tín, sợ có người giận, sợ không ai khen… Các tạp niệm này làm ta phân tâm hàng ngày và chẳng làm được gì tốt.

• “Tâm trống rỗng mọi tạp niệm”—còn gọi là Vô Tâm–là Nguyên Lý đầu tiên của Thiền.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.

The First Principle

When one goes to Obaku temple in Kyoto he sees carved over the gate the words “The First Principle.” The letters are unusually large, and those who appreciate calligraphy always admire them as being a masterpiece. They were drawn by Kosen two hundred years ago.

When the master drew them he did so on paper, from which workmen made the larger carving in wood. As Kosen sketched the letters a bold pupil was with him who had made several gallons of ink for the calligraphy and who never failed to criticize his master’s work.

“That is not good,” he told Kosen after the first effort.

“How is that one?”

“Poor. Worse than before,” pronounced the pupil.

Kosen patiently wrote one sheet after another until eighty-four First Principles had been accumulated, still without the approval of the pupil.

Then, when the young man stepped outside for a few moments, Kosen thought: “Now is my chance to escape his keen eye,” and he wrote hurriedly, with a mind free from disctraction. “The First Principle.”

“A masterpiece,” pronounced the pupil.

# 19

Auld lang syne – Những ngày đã xa – Bản nhạc giao thừa


Chào các bạn,

Auld lang syne là một bản nhạc ai trên thế giới cũng biết, và đương nhiên là người Việt Nam nào cũng biết. Tuy nhiên lời chính thức thì có lẽ là đại đa số người đều chỉ biết có một lời chính thức: Ò e Rô-be đánh đu, Tặc-dăng nhảy dù, Zô-rô bắn súng, chết cha con ma nào đây, thằng Tây hết hồn, thằn lằn cụt đuôi. 🙂 Và tên Việt Nam chính thức của bản nhạc là “Ò E” 🙂

Auld lang sine là môt bài thơ phổ thành nhạc theo âm điệu dân ca truyền thống của Tô Cách Lan (Scotland), do Robert Burns viết năm 1788. Burns gởi bản nhạc vào Viện Bảo Tàng Âm Nhạc Tô-Cách-Lan với dòng chữ: “Bản nhạc sau đây là một bản nhạc cổ xưa, chưa bao giờ được in ra, chưa bao giờ được viết xuống, cho đến khi tôi ghi lại từ một ông cụ.”

Auld lang sine là tiếng Tô Cách Lan cũ, có nghĩa là “old long since”, hay “long long ago” and “in the days gone by”–lâu lắm rồi, ngày xửa ngày xưa…

Auld Lang Syne

Should old acquaintance be forgot,
and never brought to mind ?
Should old acquaintance be forgot,
and old lang syne ?

CHORUS:
For auld lang syne, my dear,
for auld lang syne,
we’ll take a cup of kindness yet,
for auld lang syne.

And surely you’ll buy your pint cup !
and surely I’ll buy mine !
And we’ll take a cup o’ kindness yet,
for auld lang syne.

CHORUS

We two have run about the slopes,
and picked the daisies fine ;
But we’ve wandered many a weary foot,
since auld lang syne.

CHORUS

We two have paddled in the stream,
from morning sun till dine† ;
But seas between us broad have roared
since auld lang syne.

CHORUS

And there’s a hand my trusty friend !
And give us a hand o’ thine !
And we’ll take a right good-will draught,
for auld lang syne.

CHORUS

Những ngày đã xa

Nên quên đi thân thuộc cũ
Và không bao giờ nhớ lại?
Nên quên đi thân thuộc cũ
Và những ngày đã xa?

ĐIỆP KHÚC:
Cho những ngày đã xa, bạn quý
Cho những ngày đã xa
Chúng ta sẽ nâng chén ân cần
Cho những ngày đã xa.

Và chắc chắn là bạn sẽ mua cho bạn một ly
Và chắc chắn là tôi sẽ mua cho tôi!
Và chúng ta sẽ nâng ly ân cần,
Cho những ngày đã xa.

ĐIỆP KHÚC

Hai đứa tôi đã chạy trên những triền đồi
Hái hoa cúc dại
Nhưng chúng tôi đã lang thang những đôi chân mệt mõi
Từ những ngày đã xa

ĐIỆP KHÚC

Hai đứa tôi đã chèo trong suối
Từ sáng đến giờ cơm tối
Nhưng những con biển rộng giữa chúng tôi đã gào thét
Từ những ngày đã xa

ĐIỆP KHÚC

Và có một bàn tay, người bạn tin cẩn ơi!
Và giúp chúng tôi một tay!
Và chúng ta sẽ uống một ly tốt bụng
(Hay: Và chúng ta sẽ chèo đúng và tốt bụng)
Cho những ngày đã xa.

ĐIỆP KHÚC

(TĐH dịch)

Khỏi cần phải nói ta cũng biết là bản này được chơi khắp thế giới khi chuông giao thừa điểm 12 giờ đêm.

Sau đây mời các bạn đón giao thừa với vài video clips về Auld Lang Syne.

1. Auld Lang Syne, nhạc nền chính trong phim “Waterloo Bridge”.

2. Auld Lang Syne, do Dougie McLean hát bằng tiếng Tô-cách-lan.

3. Andre Rieu, trình tấu violin với các nhạc sĩ bag pipes của Tô-Cách-Lan.

Happy New Year! Chúc Mừng Năm Mới!
.

Auld Lang Syne – Theme of the film “Waterloo Bridge”


.

Robert Burns – Auld Lang Syne As sung by Dougie MacLean in Scottish, on the album Tribute

.

Andre Rieu – Auld lang syne 2006 (with Scottish bagpipes)

Tìm về bến nước

Bình minh âu yếm nâng nhẹ tấm khăn sương che chiếc gương bạc của nàng tiên H’Lung dắt ngang đỉnh trời tròn, từ từ hiện ra hàng ngàn đóa sen trắng, sen hồng đung đưa trên mặt nước biêng biếc. Đang giữa mùa sen, gió đẫm hương mát ngọt. Thuyền độc mộc đi đánh cá, rời bến từ lúc bóng đêm còn loãng, đang đua nhau tung lưới. Trong ánh hồng e thẹn của bình minh, nhìn từ xa, các vàng lưới tung lên như những tấm mạng nhện khổng lồ. Bóng người chống thuyền, thả lưới rung rinh uốn lượn trong sương như điệu múa mời rượu pah kngan rông yang của các nàng sơn nữ. Phía tây hồ, đỉnh Cư Yang Sin hiện dần như vóc dáng chàng Lăk cường tráng đang trìu mến ấp ủ, chở che gương mặt xinh đẹp của người tình.

Đứng trên hiên nhà sàn, Y Tlang hít một hơi thật dài khoan khoái. Bao nhiêu mệt nhọc của một ngày đi bộ hôm qua, gió thơm dừơng như mang đi hết. Chào amí chủ nhà, vịn lên đôi bầu vú căng mẩy chạm đầu thang xuống sàn, Pie Y Tlang và H’Zen quả quyết rảo bước về phía buôn Phơi. Lại đi. Lại hỏi. Nữ thần lúa Yang Hri có bảy người con gái, mỗi nàng là một loại giống. Trong một cơn giận dữ của cha rừng, bảy người con lạc mẹ. Việc H’Zen phải tìm cho ra bảy giống lúa, bảy người con gái thất lạc đã khó, nhưng tìm cho ra gốc rễ của Pie Y Tlang còn khó hơn. Đức Cha Phrancis đã đưa anh về Pháp từ bốn mươi bảy năm trước đây, lúc còn đỏ hỏn như con chuột nhắt mới sanh. Trước lúc đi về cõi vĩnh hằng, Đức Cha mới tiết lộ và khuyên Y Tlang nên đi tìm lại nguồn cội của mình. Sáu tháng trời về tới thành phố Hồ Chí Minh, nhờ mục nhắn tin của báo Tuổi Xanh, cả sự nhiệt tình của Ban bạn đọc, Y Tlang mới gặp được kỹ sư nông nghiệp H’Zen, tìm được người bảo lãnh để về đến cái hồ trên đỉnh cao nguyên, cao hơn mặt biển tới hơn bảy trăm mét này.

Cũng may, H’Zen lại đang được giao đề tài “ Giống lúa rẫy truyền thống của đồng bào Tây Nguyên”, chị mới có dịp đưa Y Tlang đi tìm bến nước gốc cội của anh, kết hợp với việc truy tìm các giống lúa cũ. Hai người đã đến nhiều bến nước Êđê, gặp hàng chục người già không còn đếm được số mùa rẫy đã qua, mà vẫn chưa tìm ra manh mối gì. Tất cả vẫn còn phủ một tấm màn bí ẩn. Hôm nay, H’Zen khuyên Y Tlang chuyển hướng sang tìm ở các bon Mnông.

H’Zen đã lần lượt mở toang ra từng cánh cửa mà đôi chân Pie Y Tlang run rẩy mỗi lần bước qua. Đây là cội nguồn của anh ư? Quê hương của anh đó ư? Mông muội? Hoang dã? Hay chính là những gì trong suốt nhất, hơn cả giọt sương, hơn cả nắng trời, vượt lên trên tất cả? Anh sẽ phải tiếp nhận hay chối bỏ “ nó” đây? Những câu hỏi cứ nhay đi nhay lại trong tâm trí Y Tlang như một lưỡi cưa cùn. Có lúc anh đã muốn bỏ chạy, vứt lại sau lưng tất cả. Thế là đủ rồi, không cần biết điều gì hơn nữa.Nhưng rồi anh cũng lại thấy cần phải đi cho đến tận cùng của sự tìm kiếm. Bởi thật là ngỡ ngàng trước những gì nhìn thấy, nghe thấy và gặp gỡ. Nó chẳng có chút nào chung với cuộc đời bốn mươi bảy năm ở nơi “ kinh đô ánh sáng” mà Y Tlang đã sống. Nhưng lại như giúp anh lần giở từng trang một cuốn sách đầy những điều hấp dẫn. Này nhé, người Êđê ở những nhà sàn mang hình dáng con thuyền, dài đến “ một hơi ngựa chạy ”. Cả buôn dựng nhà theo hướng Bắc –Nam, san sát nhau như các con thuyền độc mộc chiều về neo lại nơi bến nước. Bon làng Mnông lại là những căn nhà trệt nằm kề nhau, mái tranh lợp rủ dài sát đất, tròn như những chiếc nấm mối. Khách muốn vào nhà Êđê phải leo cầu thang đằng trước, vịn tay lên bầu vú gỗ để đến được với không gian mẫu hệ. Nhà Mnông lại có hai cửa hình vòng cung cùng mở về hướng đông, thấp lè tè. Bước qua cửa nào cũng gặp bếp lửa cháy quanh năm. Giữ gìn lửa là việc sống còn của con người giữa rừng đại ngàn. Lửa soi sáng mọi việc làm trong nhà. Lửa nấu chín thức ăn. Lửa xua cái lạnh giá những tháng mưa rừng. Lửa phừng phừng da thịt gái trai thương nhau…Nhà dài Êđê mỗi bếp lửa, mỗi ngăn là một cặp vợ chồng con cái. Người Mnông chỉ có hai bếp lửa chung. Một sạp nứa dài suốt chiều ngang nhà, kêu răng rắc mỗi khi có người bước lên bước xuống. Đây là chỗ ngủ chung của cả đại gia đình lẫn khách. Mọi đôi chân đều hướng ra bếp lửa. Ấm chân sẽ ngủ yên cả đêm, dù chỉ đắp một tấm chăn thổ cẩm mỏng.

H’Zen đang lúi húi bên bếp với mẹ chủ nhà. Y Tlang nằm tựa đầu lên chiếc gối gỗ, đối diện với cửa bên trái, chỗ nằm của khách. Từ đây có thể nhìn xa sang tận bên kia hồ, tới chỗ cánh đồng lớn mênh mang viền quanh bờ Nam. Cánh đồng như một tấm lụa xanh, Mẹ Đất âu yếm choàng cho cô con gái yêu. Hoang sơ, tĩnh lặng, tưởng như đang ở vào thời khắc của chàng dũng sỹ Dam San và nàng H’Nhi thuở trước. Đầu Y Tlang đau như có ai đem búa nên vào…

– Tha lỗi cho Cha, từng ấy năm đã giấu con sự thật. Cha đã từng nghĩ phải để cho con xa hẳn, quên hẳn nguồn gốc man rợ của mình. Nhưng về trước Chúa, Cha không có quyền đem đi bí mật của đời một con người. ..Có Chúa chứng giám…Chắc cha mẹ con trên thiên đàng cũng sẽ hài lòng….Cha…đã…làm hết sức mình để con nên người….Ai cũng có nguồn cội con ạ. Phải trở về thôi….rất tiếc, đã từ rất lâu…Cha không có liên hệ gì với bên ấy….Nhưng con cứ…đến giáo xứ Lạc Thiện…cái hồ…..núi Yang Sin…hỏi…ông…

Tiếng cười đắc thắng của Thần Chết cắt ngang câu nói hổn hển khó nhọc của vị linh mục già. Đồng loạt các quả chuông lớn nhỏ trong mái của nhà thờ xứ rung lên não nề. Bóng áo choàng đen cao lênh khênh, tay lưỡi hái, tay dắt linh hồn vượt qua vòm trần cao thăm thẳm, bay về vô định. Bàn tay Đức Cha Phrancis tuột khỏi đầu Pie Y Tlang, biến thành chiếc cánh vẫy vẫy. Y Tlang cuống cuồng ngẩng lên, đuổi theo

– Đừng bỏ con Cha ơi! Cha! Tìm ông gì Cha ơi…

Đuôi chiếc áo choàng đen quật vào ngực anh đau điếng. Y Tlang mở mắt nấc nghẹn. Chao ôi! Cái hồ hơn năm trăm héc ta mặt nước. Họ đã đi nửa số buôn bản địa quanh nó. Mấy lần trăng? Mấy mùa rẫy Y Tlang mới đi giáp vòng? Mới tìm được cái nơi mẹ đã cắt nhúm nhau, cha đã chôn cuống rốn cho anh? Mà người ta có ở mãi một chỗ đâu. Tìm đến chỗ này là buôn mới, buôn cũ đã dời đi từ hồi bệnh dịch thổ tả hoành hành. Đến chỗ nọ, rẫy cũ đã hết màu, bon làng phải dắt díu nhau đi tìm vùng rẫy khác. Thời chiến tranh còn chạy giặc, dồn dân gom về các ấp chiến lược. Từ ngày thống nhất hai miền, cũng đã vài đợt quy hoạch định canh định cư rồi. Mà Y Tlang đâu có biết mình vốn gốc Êđê hay Mnông đâu để tìm chứ?

– Cha đặt tên con là Y Tlang. Con chim Tlang pút vẫn hót bên cửa số nhà thờ của Cha ở bên cạnh hồ, mỗi sáng sớm…

Cứ đi, cứ hỏi. Mà hỏi ở đâu? Tìm ở đâu? Hỏi ai? Mẹ ơi, cha ơi! Con lại phải tiếp tục sống trong mù mờ thế này bao lâu nữa?

Chiều đang mờ dần trên mặt hồ. Bóng tối trong nhà đã đặc như cắt được. Chợt có tiếng thoang thoảng :

– Về đi con! Những người Mẹ mang con đằng trước, mang gùi đằng sau, không khi nào chối bỏ con cái của mình đâu…

Y Tlang bật dây, thoáng như thấy một phụ nữ tóc dài chấm gót, váy quấn ngang cặp vú, đôi vai trần loang loáng nước, uyển chuyển lướt qua cửa. Bà tan biến trong sương đêm đang mỗi lúc một dày lên.

*

Mệt mỏi. H’Zen và Y Tlang leo lên chiếc xe đò đầy bụi về thành phố Buôn Ma Thuột. Nóc xe chất cao nghệu những sọt hàng chở đầy ốc, cá , lươn…Họ phải về vì đã đi gần trọn tháng. H’Zen thiu thiu ngủ. Y Tlang không dứt khỏi được những ý nghĩ triền miên, lặng lẽ ngó mông ra ngoài cửa xe. Vùng đất này đến lạ, vượt qua những qủa đồi cao với những dãy núi đá thấp chen đất đỏ bạc phếch, những rừng cây lưa thưa, là gặp những cánh đồng rộng đến khó tin.Lúa xanh mơn mởn trải dài đến tít tận chân núi xa. Chơ vơ giữa đồng, một thân cây với đầy những cụm hoa lớn trắng xóa. Đứa trẻ chăn trâu chạy vụt qua, những cụm hoa lay động, biến thành cả trăm con cò trắng táo tác bay lên trong nắng. Bầy cò hợp thành đàn lớn, giang cánh bay về phía núi xa, như một dải lụa trắng phơi ngang nền trời xanh trong vắt. Cái màu xanh ngăn ngắt của bầu trời cao nguyên sao diệu kỳ đến vậy. Dường như không giống với màu xanh của bất cứ một vùng trời nào Y Tlang đã từng thấy, ngay cả bầu trời ở vùng ngoại ô Paris đầy cây xanh mà anh đã lớn lên. Màu xanh ở đây cứ trong vắt, thăm thẳm, nó hợp với chàng gió phóng khoáng tạo nên sự bao la đến vô tận. Giá không có những người phụ nữ váy kéo ngang đầu gối, đang lom khom cấy lúa, làm cỏ, chắc người ta ngỡ đang ở một vùng đồng bằng hay trung du nào đó. Chợt Y Tlang há hốc miệng, chồm lên thành xe, thò hẳn đầu ra ngoài : một người đàn ông mặc độc chiếc quần cộc, phơi tấm lưng trần loáng mồ hôi nâu bóng, vạm vỡ, đang đuổi…voi cày ruộng. Con voi thủng thẳng nhấc từng chiếc chân to như cột nhà, lội bì bõm trong đám bùn. Đuôi ngoe nguẩy như làm nũng với ông bố đang cầm cày phía sau, nhưng vòi lại hít đầy nước ruộng phun lên thằng bé đang nhảy chồm chộp bắt dế trên bờ ruộng. Người đàn ông nhẫn nại đẩy chiếc cày, lật lên những tảng đất bùn đen bóng.

Ôi ! Có biết bao nhiêu điều bí ẩn kỳ lạ mà ta chưa từng được thấy. Có phải quê hương ta thực đó không? Giá mà được sục chân trong đám bùn mát rượi kia. Giá mà được nằm lăn trên đám cỏ mịn dưới gốc cây knia đơn độc giữa đồng ấy. Giá mà được lắc lư trên bành voi đi trong bóng râm mát của rừng đại ngàn? Mẹ ơi! Mẹ chối bỏ con ư ?

Con đường làm từ thời Pháp đến nay, chưa được tu sửa lớn lần nào, xóc dữ dội.Chả trách người ta gọi là Lắc. Đường hẹp chỉ đủ hai xe tránh nhau. Một cái xóc nảy người, quăng cả H’Zen lẫn Y Tlang chúi về phía trước. Từ lúc lên xe, quá mệt mỏi và mải suy nghĩ, bây giờ họ mới chợt nhận thấy : ngồi thu lu trên chiếc ghế đẩu đặt thêm cạnh thùng máy, ngay trước mặt hai người là một ông già dáng nhỏ thó.Tóc ông loăn xoăn trắng như bông blang, xòa xuống tận cổ, viền quanh khuôn mặt đen cháy, đầy nếp nhăn xếp nếp như thân cây bằng lăng cỗi. Hai bàn chân khô đét đầy bụi đường, ngón cái xòe ra tách hẳn với những ngón chân kia, kẹp chặt chiếc dép bằng da bò, co hết lên trên chiếc ghế nhỏ. Tẩu thuốc đen bóng dính chặt trên môi. Đôi mắt ông đã sùm sụp nhưng vẫn ánh lên vẻ tinh anh của người già được coi là thông thái trong buôn. Một chiếc áo không tay dày cộm, cứng queo, luốc luốc màu đà khoác trên vai. H’Zen nhận ra chiếc áo bằng vỏ cây đập dập rất kỹ. Ông lão lạc lõng với xung quanh như vừa bước ra từ câu chuyện cổ về con lươn thần của hai chàng Lăk, Liêng. Một tia sáng lóe lên trong đầu, H’Zen tỉnh ngủ hẳn :

– Ti ih nao ? ( Ông đi đâu vậy?)

Mắt nheo nheo, hai lỗ mũi nở bung, phì ra một đám khói đặc, khét lẹt mùi lá thuốc gốc, thủng thẳng ông nói từng tiếng :

– Đi Buôn Thuật! Cho đứa cháu chứng dùm lại cái giấy cách mạng ghi cho mình đóng góp voi từ hồi chống Pháp.

– Ông mấy lần rẫy rồi?

– Cái bầu khô từ hồi Âe Tăng mình bỏ vô, mấy con cháu đếm được tám mươi sáu hòn đá suối đấy.

– Ti anôk buôn ih? ( Ông ở buôn nào?)

– Buôn Du đó chớ đâu.

Y Tlang chồm tới vồ lấy hai bàn tay như hai chiếc lá đa úa khô, lắc lắc:

– Ông ơi, buôn Du hồi xưa có ai đưa con nít mới sinh cho Đức Cha người Pháp nuôi không ông?

– Để coi coi…Ôi Yang ạ. Cái đầu mình khô như hạt giống trong bầu rồi đấy…

Cặp mắt lại nheo nheo, lại một đám khói đặc khét lẹt che mờ cả khuôn mặt ông lão. Ánh mắt ông bỗng lờ đờ, lờ đờ như đang lạc vào cõi hư vô nào xa lắc…

*

Tiếng ching báo có người chết rầm rập nổi lên từ cuối buổi chiều, các bà í ới xôn xao gọi nhau suốt các nhà dài, từ cây blang đầu buôn, tới bến nước cuối buôn :

– Con H’Liang nó tắt hơi rồi đấy. Nghe tiếng ching báo không?

– Amí Tin ơi, bà sang đó giúp thay váy áo cho nó với.

– Ơ amí Son. Mày ghé bà Chàm lấy mấy cuộc chỉ màu tết sợi dây cúng hồn nhé.

– H’ Yên ! Ở đâu rồi? Con xúc cho amí một nồi ba gạo mang sang nhà cô H’Liang nhé…

Nhà H’Liang không lúc nào ngớt người lên xuống. Sàn nứa rung rinh kêu ràm rạp. Vịn đôi bầu vú gỗ đến nơi cầu thang đằng trước là đàn ông, người mang cột gơng cúng thần, kẻ vác ché rượu, anh khiêng nồi nước, thoăn thoắt nối bước chân nhau. Thang đằng cuối nhà, cô cõng gùi gạo, chị xách con gà, bà nọ hấp tấp chạy sai bọn trai trẻ bổ thêm củi, mấy cô gái gùi thêm bầu nước. Khói đặc sệt từ các bếp lửa dưới sân nhà rung rinh theo nhịp ching, nhịp chân. Các ông oang oang cắt cử người đào huyệt, kẻ tạc tượng, bác làm hòm, cháu bẻ lá nhét vô ghè rượu. Xì xào là tiếng các bà bàn tán sự đẻ khó của H’Liang, tính toán số gạo phải giã, đồ ăn phải đủ cho ba ngày cúng đám. Vượt lên trên những tiếng nhộn nhạo ấy, như một cánh chim chấp chới hốt hoảng, là tiếng khóc của thằng bé mới sinh. Nhăn nhúm như một trái cà dái dê để héo, nó ngoác cái miệng đói sữa mà gào lên từng chặp. Bà đỡ bồng nó đung đưa, vỗ về, kể lể. Mặc ! Nó cứ gào bằng cái giọng đến là chói tai. Đôi lúc bà lão đút ngón tay út vô miệng cho nó mút. Không nhận được chút gì, nó lại nhả ra la chói lói. Dường như thằng bé linh cảm thấy số phận của nó chẳng khác gì rừng đêm không trăng. Pap mnai – tội nghiệp cái thằng ! Cha nó cách nay ba lần con trăng treo vì bắn hụt con hổ thọt, bị nó xé xác trong một đêm săn. Một mình mẹ nó, cái bụng khệ nệ như chiếc trống h’gơr, hết lên rẫy cuốc cỏ, lại xuống suối xúc cá, mò ốc. Chắc không muốn mẹ mang nặng, nên chưa tới ngày tháng đủ, thằng nhỏ đã quẫy đạp đòi ra, khiến amí nó ngã dụi, bao nhiêu máu trong người ào ra cả bờ suối như nước trong bầu dội xuống. Lúc bà đỡ phát vô cái mông bé teo cho nó khóc, cũng là lúc mẹ nó tắt làn hơi cuối cùng, không kịp mở mắt nhìn thấy mặt con. Nó khóc ngằn ngặt từ lúc đó. Ác cái là mẹ nó mồ côi, là người cuối cùng của dòng họ H’Druê ở buôn này. Còn cha nó, lưu lạc từ đâu tới, cả buôn không ai biết rõ, ở làm nô lệ nhà người ta, tới lúc thương nhau, mẹ nó mang tất cả những vật dụng quý còn lại của gia đình, sang nộp cho Âe Tăng làm lễ hỏi và cưới cha nó. Cả dàn ching Lao quý giá pha đồng đen, lẫn bộ ché Tuk, ché Tang ba đời, lớn nhỏ mười cái, mới chuộc được cha. Lúc cha mẹ nó về ở chung, chỉ còn cái nhà trống lổng. Gió đuổi nhau chạy từ cửa phía Bắc sang cửa đằng Nam, không gặp cái gì ngăn lại. Còn bây giờ á, không có người đặt tên cho nó. Càng không có ai để mang tên nó, mẹ nó cứ mãi là H’ Liang với hai mươi mùa rẫy. Cha nó cũng vẫn cứ là Y Rit. Chẳng ai được buôn làng gọi ama thằng nọ, amí thằng kia theo tập tục nữa. Thằng bé vẫn cứ khóc không lặng.

– Tội nghiệp thằng nhỏ quá đi. Buôn mình sao lúc này không có ai đang nuôi con bú hè?

– Con H’Liang có còn bà con nào ở buôn gần, buôn xa không? Đem thằng nhỏ tới đó gửi.

– Đâu có còn ai ! Chắc phải chôn nó theo mẹ thôi. Lời luật tục ông bà ta là thế đó.

– Bếp mình nhận nuôi nó được không amí?

– Đâu có được. Mình không phải bà con, cũng không có người đang còn sữa, làm sao làng cho nhận. Nuôi không nổi nó còn khổ hơn. Phải làm cái hòm rộng cho mẹ nó mang đi theo thôi. Sau này về nhà ai cũng có mẹ có con. Luật tục khít như vậy rồi.

– Ama ! Cái ông áo đen, tóc vàng như râu bắp đó, là ai vậy ?

– A! Đó là người Cha ở nhà thờ buôn Tâng Jú. Con trai buôn mình có người học cái chữ với ông đó mà…

Từng hồi chiêng tang lễ vẫn dồn dập, dai dẳng.

*

Pie Y Tlang ngồi lặng nơi đầu sàn, ngó ra mặt hồ. Chiều, như cô gái tắm, hờ hững buông rơi tấm choàng hoàng hôn. Hàng đàn chim kiú quáo gọi nhau về tổ, cánh chấp chới chao nghiêng in trên nền trời đỏ. Xa xa, những cành thủy tùng khô khỏng, tạc vào chiều như bao nhiêu cánh tay níu kéo, kêu gọi.

Tiếng ching đón khách rộn rã trong nhà ông Ama Nhen, cháu ba đời của Âe Tâng. Không biết có yang nào phù trợ vượt được mọi đổi thay, mà ngôi nhà sàn dài này đã chứng kiến gần cả trăm lần sen tàn, sen nở trên hồ Lăk rồi. Những cây cột một vòng tay ôm, chiếc ghế kpan độc mộc dàn chiêng đang ngồi, dài hàng sải tay; cả chiếc jhưng nơi ông chủ nhà nằm ngủ mỗi đêm bên bếp lửa, đều đã đen bóng như thoa nhọ nồi.

Y Tlang gục đầu. Tay phải vô tình cứ xoay xoay chiếc vòng đồng mà thày cúng sau khi khấn khứa các vị thần linh thiêng, đã lồng vào cổ tay trái cho anh. Tiếng chiêng dội trong ngực anh đau nhói.

– Thế rồi cuối cùng con cũng tìm được bến nước của mình, mẹ ơi.

– Con ơi! Mấy chục mùa gió nổi nay, cha mẹ cứ bay vật vờ như con mối, vì không có người bỏ mả, không thoát được bến nước này, làm sao theo phù trợ cho con được. Nhưng con đã về đây rồi, núi này, rừng nọ, bến nước đây sẽ không bỏ rơi con đâu. Ơ con của mẹ….

Lời khấn của Pô riu yang âm âm trên mặt hồ lãng đãng phủ kín hơi sương :

– Tôi gọi ông Du, ông Diê. Tôi gọi ông Gỗn trên làng trời. Tôi gọi bà Dung bà Dai dưới đất. Tôi gọi hồn mẹ hồn cha phơ phất. Hãy nhận lấy con mình lạc nơi bến nước lạ, nay đã về được với bến nước mẹ cha. Xin các yang cho cái tay nó khỏe như hùm beo, cái chân nó mạnh như heo rừng. Cho của cải của nó tầng tầng như lá cây, tình anh em tràn đầy như nước suối.Ơ Yang !

– Nhưng mẹ ơi, nơi này con đâu còn có ai?

– Còn chớ con ! Bến nước đầu buôn nơi mẹ đổ máu sanh con. Rừng xanh ở đây máu cha con đã đỏ gốc. Cái rốn con chôn chỗ này. Nước sương nơi đây con đã uống. Đó chính là sức mạnh của rừng, đất đã cho con. Bà con đó sẽ là anh em. Buôn làng đó sẽ là nhà con.

– Mẹ! Mẹ ơi!

– Cha mẹ luôn ở mãi với con đây con à.

Y Tlang se sẽ rùng mình. Bàn tay nào vừa vuốt nhẹ từ trên đầu xuống mặt anh.

Vẫn là tiếng chiêng ấy, bây giờ ngân nga ca hát. Tiếng ching dội vang trên mặt hồ, chạy theo những con sóng lăn tăn, gọi vầng trăng mười sáu to như chiếc nong phơi lúa, nhô lên khỏi mặt nước. Những con ruà, con chim, kỳ đà trên xà nhà như được ánh trăng đánh thức, động đậy, động đậy. Y Tlang vươn người đứng dậy hít căng lồng ngực hơi nước mát lành. Anh như mỗi lúc một lớn bổng lên, tràn đầy sinh lực.. Quay lại, H’Zen đã đứng bên cạnh từ lúc nào. Tiếng ching rộ lên đón chào, vây bọc lấy hai người, ấm áp. Lung linh, lung linh, mặt nước bạc xôn xao, chở tiếng ching vui về bao bến nước….

Linh Nga Niê Kdăm

Chuyện đời Shunkai

Gian nhân tuyệt sắc Shunkai, còn có tên là Suzu, bị bắt phải lấy chồng khi còn rất trẻ. Sau đó, khi cuộc hôn nhân chấm dứt, nàng đi học đại học, và học triết.

Thấy Shunkai là phải yêu nàng. Hơn nữa, đi đâu nàng cũng yêu. Tình yêu đến với nàng ở đại học, sau đó, khi triết lý không thỏa mãn nàng, nàng vào thăm một ngôi chùa để học Thiền, và thiền sinh si mê nàng. Cả đời nàng thấm ướt tình yêu.

Cuối cùng, ở Kyoto nàng trở thành một thiền sinh thật sự. Các bạn thiền sinh nam ở chùa Kennin đều ca ngợi sự thành tâm của nàng. Một người trong số thiền sinh nam có tâm ‎ý tốt và giúp nàng trong việc thực tập thiền.

Vị thầy trụ trì chùa Kennin là Mokurai, có nghĩa là Sấm Lặng, rất khó khăn. Thầy giữ gìn lề luật nghiêm nghặt và muốn các học trò cũng như thế. Trong nước Nhật của thời đại mới, nhiệt tâm nào các vị sư đã mất về Phật học các vị hình như tìm lại được về các bà vợ. Thầy Mokurai phải lấy chổi đuổi các bà đi khi thấy bà nào trong chùa. Nhưng thầy đuổi nhiều chừng nào, các bà ùa vào lại nhiều chừng nấy.

Trong chùa này, bà vợ của sư trưởng tràng ghen với cố gắng và sắc đẹp của Shunkai. Nghe các học trò ca ngợi sự tập Thiền nghiêm chỉnh của Shunkai, bà khó chịu không yên. Cuối cùng bà phao tin đồn về Shunkai và người thiền sinh đang giúp đở cô. Hậu quả là anh ta và Shunkai bị đuổi ra khỏi chùa.

“Tôi có thể là đã lầm lỗi trong tình yêu,” Shunkai nghĩ, “nhưng bà này cũng không thể ở trong chùa nếu bạn của tôi bị đối xử bất công.”

Đêm đó, Shunkai mang một thùng dầu lửa, đốt rụi ngôi chùa 500 tuổi. Sáng ra cảnh sát bắt nàng.

Một luật sư trẻ thích nàng và cố để giảm án cho nàng. “Đừng giúp tôi,” nàng bảo anh ta. “Có thể là tôi sẽ quyết định làm cái gì đó, lại mang tôi vào tù nữa.”

Cuối cùng, sau khi ở đầy đủ bản án 7 năm , Shunkai được thả khỏi nhà tù, nơi một vị quản giáo 60 tuổi đã yêu cô.

Nhưng bây giờ mọi người nhìn nàng là “tội phạm”. Chẳng ai muốn liên hệ với nàng. Ngay cả các thiền nhân, những người đáng lý ra là tin vào sự giác ngộ ở đời này với thân thể này, cũng tránh xa nàng. Thiền, Shunkai khám phá ra, là một chuyện nhưng các thiền nhân lại là một chuyện khác. Thân nhân nàng cũng không dính dấp với nàng. Nàng lâm bệnh, nghèo, và yếu.

Nàng gặp một vị sư vị sư Tịnh độ tông dạy nàng hồng danh Đức Quán Thế Âm, và nhờ đó nàng tìm được an ủi và bình an trong tâm. Nàng qua đời khi còn rất đẹp và chưa đến 30 tuổi.

Nàng viết câu chuyện về đời nàng trong một nỗ lực hoài công để kiếm sống, và kể lại một phần cho một nhà văn nữ. Vì vậy câu chuyện đời nàng đến với độc giả Nhật. Những người đã xua đuổi nàng, mạ lị nàng, ghét bỏ nàng, giờ đây đọc về cuộc đời nàng với những dòng nước mắt ăn năn.
.

Bình:

• Hồng nhan đa truân.

Nghiệp duyên…
Hay luật công bằng? “Càng nhiều sắc đẹp càng nhiều gian truân. Chữ tài liền với chữ tai một vần”?

• Nhưng…

Chuyện này nói về Shunkai, hay thực ra là nói về chúng ta, những người đang sống?

Chúng ta hay ghen ghét với người có sắc, có tài, có cái gì đó hơn ta. Cho nên người đẹp, người tài, người hấp dẫn, thì đi đâu cũng thường có kẻ thù… Và những người này khi gặp hoạn nạn, dù là oan ức, thì cũng không ai muốn đở cho họ, vì tính ghen ghét nói “Cho đáng đời!”

kỳ thị, cư xử với nhau bằng nhãn hiệu. Thấy người đã có tiền án thì lánh xa, ruồng bỏ (dù họ đã trả hết tội trong tù rồi).

đạo đức giả. Người sống thì ruồng bỏ, người đã chết thì mới nhỏ nước mắt. Tại sao? Vì người đã chết thì không còn gì đề ghen, cho nên bây giờ mới khóc được.

Vậy thì…

Yêu người thì hãy yêu người sống. Yêu bằng hành động thật sự, nhất là khi người ta gặp hoạn nạn. Và yêu không lệ thuộc vào nhãn hiệu.

• “Buddha of love” ở đây là Quán Thế Âm Bồ tát. Nhưng nhiều người ở Nhật còn dùng “Buddha of Love” như là một trong những tên và diện mạo của Phật Di Lặc (Maitreya hay Metteyya). Tên này có từ maitrī (Sanskrit) hay mettā (Pāli), có nghĩa là “loving-kindness” (từ bi), là các chữ đến từ chữ mitra (Sanskrit) hay mitta (Pāli) và có nghĩa là “bạn”.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

.

The Story of Shunkai

The exquisite Shunkai whose other name was Suzu was compelled to marry against her wishes when she was quite young. Later, after this marriage had ended, she attended the university, where she studied philosophy.

To see Shunkai was to fall in love with her. Moreover, wherever she went, she herself fell in love with others. Love was with her at the university, and afterwards, when philosophy did not satisfy her and she visited a temple to learn about Zen, the Zen students fell in love with her. Shunkai’s whole life was saturated with love.

At last in Kyoto she became a real student of Zen. Her brothers in the sub-temple of Kennin praised her sincerity. One of them proved to be a congenial spirit and assisted her in the mastery of Zen.

The abbot of Kennin, Mokurai, Silent Thunder, was severe. He kept the precepts himself and expected his priests to do so. In modern Japan whatever zeal these priests have lost of Buddhism they seem to have gained for their wives. Mokurai used to take a broom and chase the women away when he found them in any of his temples, but the more wives he swept out, the more seemed to come back.

In this particular temple the wife of the head priest became jealous of Shunkai’s earnestness and beauty. Hearing the students praise her serious Zen made this wife squirm and itch. Finally she spread a rumor about Shunkai and the young man who was her friend. As a consequence he was expelled and Shunkai was removed from the temple.

“I may have made the mistake of love,” thought Shunkai, “but the priest’s wife shall not remain in the temple either if my friend is to be treated so unjustly.”

Shunkai the same night with a can of kerosene set fire to the five-hundred-year-old temple and burned it to the ground. In the morning she found herself in the hands of the police.

A young lawyer became interested in her and endeavored to make her sentence lighter. “Do not help me,” she told him. “I might decide to do something else which would only imprison me again.”

At last a sentence of seven years was completed, and Shunkai was released from the prison, where the sixty-year-old warden had become enamored of her.

But now everyone looked upon her as a “jailbird.” No one would associate with her. Even the Zen people, who are supposed to believe in enlightenment in this life and with this body, shunned her. Zen, Shunkai found, was one thing and the followers of Zen quite another. Her relatives would have nothing to do with her. She grew sick, poor, and weak.

She met a Shinshu priest who taught her the name of the Buddha of Love, and in this Shunkai found some solace and peace of mind. She passed away when she was still exquisitely beautiful and hardly thirty years old.

She wrote her own story in a futile endeavor to support herself and some of it she told to a woman writer. So it reached the Japanese people. Those who rejected Shunkai, those who slandered and hated her, now read of her live with tears of remorse.

Annotation:

  • Beauty and suffering.

Karma…

Or the rule of compensation? “More beauty, more suffering. Gain rhymes well with pain”?

  • But…

This story is about Shunkai, or is it indeed about us, the living?

We are jealous of people with talents, beauty, or something better than ours. Hence, beautiful people, talented people and attractive people have enemies every where they go. When these people are met with misfortune, even unfairly, no one wants to help them. Jealousy likes to say: “They deserve it!”

And we discriminate, treating each other with labelism. Seeing an ex-convict, we stay away from her, even denying her (though she already paid her dues in jail).

And our hypocracy! We have shooed away the living and now she is dead, we shed tears for her. Why? Because, the dead has nothing to be jealous of?

So…

If we love people, then let’s love the living. Let’s love by action, especially when they are in distress. And let’s love without depending on the labelism.

(Trần Đình Hoành annotated)

Giao thừa Thiên Niên Kỷ 1999-2000 New York Times Square

Chào các bạn,

10 năm trước đây cả thế giới tưng bừng đón không chỉ là năm mới, và thế kỷ mới, mà là thiên niên kỷ mới. Chúng ta rất may mắn được đón một sự kiện chỉ xảy ra 1000 năm một lần.

Time Square New York, nơi Trái Cầu Năm Mới rơi hàng năm vào nửa đêm để điểm giao thừa, đã có đến con số kỷ lục 2 triệu người tham dự lễ hội. Có lẽ phải rất nhiều năm nữa Times Square mới phá được kỷ lục đó.

Thiên Niên Kỷ mới đã được chào đón với hy vọng tràn trề cho một thế giới đầy hòa bình và tình yêu. Nhưng chỉ hơn một năm sau 11.9.2001 thay đổi mọi sự.

Giao thừa này, 31.12.2009 sẽ là kỷ niệm 10 năm giao thừa thiên niên kỷ. Hãy xem lại giao thừa lịch sử đó tại Time Square New York. 🙂

.

New Year’s Eve, 1999 Into 2000, ABC


.

Quê Hương trường ca – Đoạn 2

Đêm xa quê hương đầu tiên đêm lạnh trắng phận người
Hơn cả đêm xa xưa em rời lòng mẹ
Đêm xám hoang tương lai, đục mờ quá khứ
Đêm phập phềnh trong nhịp đập con tim
Đêm bập bềnh giữa biên giới trắng – đen
Đêm xô bước người lạc miền hoang tưởng
Em như con ma hỏng chân – chập chờn, nhẹ bổng
Trôi dần khỏi quê hương như bước giữa đất mê
Rồi đi
rồi đi
rồi đi
Xa con mương xanh, bỏ cuộc tình xanh – đi biệt
Mất hút sau lưng ngả đường mòn quen thuộc
Mái tranh ngầu, cánh diều nắng, bụi ớt khan
Mẹ già coi như em đi hoang
Cha già coi như em đã chết
Bạn bè bên khung cửi hững hờ nhắc tên em rồi tiếp tục công việc
Lúc
Trên xa lạ bước đường
Em đi và đi mãi trong cô đơn
Không một lần ngoái nhìn lại xóm thôn
Riêng mang nỗi nhớ lớn lao nơi đáy mắt
Một miền đất giấu mình nơi thẳm sâu kí ức
Tự xưa.
Trong rừng già nhiệt đới Campuchia em gọi quê hương
Giữa xôn xao phố xá
Trên ngọn đồi xứ lạ
Dưới mưa tầm tã miền Pnông-Pênh hay tuyết trắng xứ Laval
Trong bao la dọa nạt của đại dương
Giữa đồng không bát ngát
Dưới mái tranh tồi tàn hay trên cao sang lầu các
Trong đám đông và trong cô đơn
Khi giữa cuộc đi mất hướng hay tìm lại con đường
Khi còn tiếng nói hay cả không còn tiếng nói
Em vẫn gọi
– Quê hương.
Ôi quê hương
Quê hương xa xôi nhưng quê hương rất gần
Quê hương mãi sống trong em dù đêm nay tối mò thời vận
Dù lạc lối giữa rừng hoang không còn hạt cơm, củ sắn
Dù đất phương Tây gió ôn đới lạnh lùng
Dù trong hất hủi chua xanh hay săn đón chín hồng
Dù khi cái chết lù lù trước mặt
Cái chết đến và đi, đứng nhìn trừng em rồi đi khuất
Ôi cái chết nhiệm mầu!
Cái chết đắng cay, cái chết ngọt ngào
Cái chết thoắt đánh mất em, cái chết chợt đưa em vào cuộc tình huyền diệu
Đưa em đến đỉnh cao tuyệt diệu
Của con đường
Đưa em về gần gũi quê hương.
Quê hương
Quê hương xa nhưng quê hương gần hơn bao giờ
Quê hương có mẹ, có cha, có hàng xóm, bạn bè
Quê hương có những vú đồi khô khốc
Quê hương không có cụm mây che mát trẻ em đầu húi trọc
Không có giọt mưa cho khát lũ trâu gầy
Quê hương ôm sầu to lớn khôn khuây
Quê hương đợi em về mang theo niềm vui nho nhỏ
Ôi ! Phải chăng chỉ kẻ bỏ xa quê hương quê hương mới ban cho nỗi nhớ
Nỗi nhớ quê hương?

Inrasara

Đường bùn

Tanzan và Ekido đi chung với nhau trên con đường bùn lầy. Mưa đang rơi nặng hạt.

Đến một khúc quanh, họ gặp một cô gái xinh xắn mặc Kimono và mang đai lưng, không vượt qua ngã tư được.

“Đi, cô em,” Tanzan nói ngay. Bế cô gái trên đôi tay, thiền sư mang cô qua vũng bùn.

Ekido chẳng hề nói một lời nào nữa, cho đến tối khi họ sắp đến chùa tạm nghỉ. Ekido không còn nhịn được. “Người tu hành chúng ta không kề cận phụ nữ,” Ekido nói với Tanzan, “nhất là các cô gái trẻ và đẹp. Nguy hiểm. Sao thầy làm vậy?”

“Thầy bỏ cô ấy xuống đằng đó rồi,” Tanzan nói. “Con còn bế cô ấy sao?”
.

Bình:

• Tanzan là vị giáo sư triết tại Đại Học Hoàng Gia (Nhật), mà ta vừa biết đến trong truyện Một Vị Phật.

• Tâm tỉnh thức, tâm Phật, là tâm không vướng mắc, tâm vô chấp.
Không vướng mắc với lề luật “nam nữ thọ thọ bất thân.”
Không vướng mắc với hình ảnh người đẹp và ái dục trong lòng.
Việc phải làm thì làm. Nên giúp cô ấy qua đường là giúp. Lề luật không quan trọng bằng giúp người.
Làm xong là quên, chẳng còn vướng gì trong tâm—không vướng bận về người đẹp, không vướng bận về chuyện phá luật, không vướng bận về chuyện người đó có nhớ ơn mình không…
Không gì cả. Tâm “Không.”

• Đằng khác, tâm chưa giác ngộ, như Ekido, dễ bị hoảng loạn và vướng bận đủ điều—lề luật, hình ảnh người đẹp, sợ hãi nguy hiểm, nghi ngờ thầy của mình…

• Sống là hành động giúp người khi người cần giúp. Tâm không vướng mắc thì hành động dễ. Tâm vướng mắc thì trói tư tưởng và trói cả tay chân, chẳng làm gì được, chẳng giúp ai được.

• Đầu đề của bài này là “Đường bùn.” Con đường có gì là quan trọng mà phải lấy nó làm đầu đề?

Chúng ta là những khách lữ hành trên con đường bùn của cõi ta bà. Nếu chúng ta tự mình lấm bùn, để bế những người khác qua đường cho khỏi lấm bùn, mà không nệ hà vướng bận gì cả, thì đó là Tâm Bồ Tát.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

.

Muddy Road

Tanzan and Ekido were once travelling together down a muddy road. A heavy rain was still falling.

Coming around a bend, they met a lovely girl in a silk kimono and sash, unable to cross the intersection.

“Come on, girl,” said Tanzan at once. Lifting her in his arms, he carried her over the mud.

Ekido did not speak again until that night when they reached a lodging temple. Then he no longer could restrain himself. “We monks don’t do near females,” he told Tanzan, “especially not young and lovely ones. It is dangerous. Why did you do that?”

“I left the girl there,” said Tanzan. “Are you still carrying her?”

#14

Maurice André với tiếng trumpet cổ điển vinh quang

Tiếng trumpet là tiếng kèn vinh quang. Tiếng kèn thúc trận.

Maurice André (sinh 21.5.1933) là một nghệ sĩ kèn trumpet của Pháp, trong lãnh vực nhạc cổ điển. Maurice sinh ở Alès, trên rặng Cévennes miền nam nước Pháp, trong một gia đình làm nghề thợ mỏ. Bố của Maurice là một nhạc sĩ nghiệp dư.

Maurice học nhạc từ một người bạn của bố, người này khuyên là Maurice nên được cho vào trường nhạc. Để có thể học nhạc miễn phí, Maurice gia nhập một đoàn quân nhạc. Chỉ sáu tháng sau khi vào trường nhạc, Maurice thắng giải nhất.

Tai trường nhạc, có một vị thầy bực mình, đánh đòn chàng và bảo chàng chỉ nên trở lại sau khi đã chơi khá. Vài tuần sau, chàng chơi cả 14 bài tập ở cuối quyển sách nhạc của Arban, không sai một nốt.

Maurice thắng Geneva International Competition năm 1955 và Internationalen Wettbewerb ở Munich năm 1963.

Chàng nổi tiếng thế giới trong thập niên 1960 và 1970 với một loạt đĩa thu nhạc Baroque với kèn trumpet piccolo—loại nhỏ nhất trong các trumpet. Ngoài nhạc Baroque, Maurice còn dùng trumpet cho các bản nhạc viết cho các loại nhạc cụ khác như oboe, sáo, giọng người, và các loại đàn dây.

Các bản nhạc của Maurice thổi một luồng sinh khí mới vào nhạc Baroque và các nhạc cổ điển khác, và làm nhiều người say mê kèn triumpet, cũng như tạo hứng khởi cho rất nhiều nhạc sĩ trumpet trẻ trên thế giới, như Wynton Masalis.

Maurrice đã ghi âm khỏang hơn 300 bản nhạc lớn nhỏ.

Sau đây mời các bạn nghe một số bài trình tấu của Maurice André:

1. Gloria in Excelsis Deo của Handel (trong tập the Messiah)
2. Ave Maria của Schubert
3. Ave Maria của Bach/Gounod
4. Brandenburg Concerto Nº 2, gam F trưởng, của Bach.
5. Trumpet Tune của Henry Purcell.
6. Carnival of Venice của Arban.

.

Maurice André – Händel: Gloria in Excelsis Deo

.

Maurice Andre – Ave Maria (Schubert)

.

Maurice André – Ave Maria của Bach/Gounod

.

Maurice André – J. S. Bach – Brandenburg Concerto Nº 2 em Fá M (3º Andamento) Budapester Frülingsfestival (1989)

.

Maurice André – Trumpet Tune, Henry Purcell

.

Maurice André – Carnaval of Venice (Arban)

Bài thơ cuối cùng của Hoshin

Thiền sư Hoshin sống ở Trung quốc nhiều năm. Sau đó thiền sư trở về vùng tây bắc Nhật, dạy học trò. Khi thiền sư đã rất già, ông kể một câu chuyện ông đã nghe ở Trung quốc. Câu chuyện thế này:

Vào ngày 25 tháng 12 năm nọ, Tokufu, rất già, nói với đệ tử: “Thầy không sống tới sang năm, vậy các con nên tử tế với thầy năm nay.”

Các đệ tử nghĩ là thiền sư nói đùa, nhưng vì thiền sư là vị thầy tốt bụng nên các đệ tử luân phiên chăm sóc cho thầy mỗi ngày như ngày lễ.

Đến ngày cuối năm, Tokufu nói: “Các con đã tốt với thầy. Thầy sẽ rời các con chiều mai, khi tuyết đã ngừng.”

Các đệ tử cười, và cho rằng thầy đã già nên nói năng lẩm cẩm, bởi vì đêm rất trong và chẳng có tí tuyết nào. Nhưng vào nửa đêm, tuyết bắt đầu rơi, và sáng hôm sau các đệ tử chẳng thấy thầy đâu cả. Họ vào phòng thiền. Thầy đã qua đời ở đó.

Hoshin kể chuyện này và nói với các đệ tử: “Thiền sư không cần phải đoán trước việc ra đi, nhưng thiền sư nào thực sự muốn tiên đoán, ông ta có thể làm được.”

“Thầy làm được không?” ai đó hỏi.

“Được,” thầy sẽ cho các con thấy thầy làm được gì 7 ngày sau.

Chẳng đệ tử nào tin thiền sư, và đa số quên đã luôn cuộc trò chuyện khi thiền sư họp họ lại lần sau đó.

“Bảy ngày trước,” thiền sư nói, “Thầy nói là thầy sẽ rời các con. Theo lệ thường là nên viết một bài thơ từ biệt, nhưng thầy không phải là thi sĩ cũng không giỏi thư pháp. Một trò nào có có thể ghi lại những lời cuối cùng của thầy.”

Các đệ tử cho là thiền sư nói đùa, nhưng một người cũng bắt đầu viết.

“Sẵn sàng chưa?” thiền sư hỏi.

“Dạ, thầy,” người viết trả lời.

Rồi Hoshin đọc:

Tôi đến từ sự sáng
Và về lại sự sáng
Gì đây?

Bài thơ thiếu một câu như lệ thường thơ bốn câu, vì vậy người học trò hỏi: “Thầy, mình còn thiếu một câu.”

Hoshin, với tiếng rống của một sư tử chiến thắng, hét “Kaa!” và từ trần.

Bình:

• Như đã nói trong bài Thông báo về chuyến đi cuối đời của thiền sư Tanzan, tự quyết định về cái chết của mình là một điểm đặc biệt của Phật gia, đánh dấu tự do của con người.

Nhưng trong các truyền thống tâm linh khác thì đây là điều cấm kỵ.

• Tuy nhiên, trong bài có nói cả Tokufu và Hoshin đều rất già, có nghĩa là hai vị đã sống và cống hiến nhiều cho đời. Lại dùng chữ, “tiên đoán” việc chết, có nghĩa là họ không cố tình đi khi chưa đến lúc. Chỉ là, họ biết được khi sinh lực của mình sẽ hết mà thôi.

Nói rõ ra, đây không phải là “tự tử.”

• Phần chính của bài này là bài thơ từ biệt của Hoshin. Các bài thơ từ biệt này là lời dạy cuối cùng của thầy chuyển đến các trò, cho nên nó là tinh túy của thầy.

Và bài thơ này, không thiếu một câu như trong bài có nói. Nó đủ bốn câu. Trong bài, tác giả chỉ dùng kỹ thuật viết, để ta để ý đên câu cuối cùng, mà tác giả cho là rất quan trọng. Đây là bài thơ bốn câu đầy đủ:

Tôi đến từ sự sáng
Và về lại sự sáng
Gì đây?
Kaa!

Hai câu đầu rất rõ là “từ Không tôi đến, trở lại Không tôi đi”–từ Chân Lý Tuyệt Đối tôi đến, trở lại Chân Lý Tuyệt Đối tôi đi.

Nếu nói theo vật lý thì “Từ cát bụi tôi đến, về lại với cát bụi tôi đi.”

Nếu nói theo các tôn giáo thần quyền thì “Từ Thượng đế tôi đến, về lại với Thượng đế tôi đi.”

Câu thứ ba là câu hỏi: Cuộc đời ngay đây, ở giữa đến và đi, là gì?

Câu thứ tư trả lời: Chỉ là một tiếng “Kaa” ngắn ngủi, vang lên và biến mất. Một cái chấm nhỏ xíu trong dòng thời gian vô lượng vô biên, chẳng nghĩa lý gì hết, ngoại trừ là một bằng chứng ngắn ngủi của sự hiện diện của một năng lượng trong một sátna của vũ trụ.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.

The Last Poem of Hoshin

The Zen master Hoshin lived in China many years. Then he returned to the northeastern part of Japan, where he taught his disciples. When he was getting very old, he told them a story he had heard in China. This is the story:

One year on the twenty-fifth of December, Tokufu, who was very old, said to his disciples: “I am not going to be alive next year so you fellows should treat me well this year.”

The pupils thought he was joking, but since he was a great-hearted teacher each of them in turn treated him to a feast on succeeding days of the departing year.

On the eve of the new year, Tokufu concluded: “You have been good to me. I shall leave you tomorrow afternoon when the snow has stopped.”

The disciples laughed, thinking he was aging and talking nonsense since the night was clear and without snow. But at midnight snow began to fall, and the next day they did not find their teacher about. They went to the meditation hall. There he had passed on.

Hoshin, who related this story, told his disciples: “It is not necessary for a Zen master to predict his passing, but if he really wishes to do so, he can.”

“Can you?” someone asked.

“Yes,” answered Hoshin. “I will show you what I can do seven days from now.”

None of the disciples believed him, and most of them had even forgotten the conversation when Hoshin next called them together.

“Seven days ago,” he remarked, “I said I was going to leave you. It is customary to write a farewell poem, but I am neither poet nor calligrapher. Let one of you inscribe my last words.”

His followers thought he was joking, but one of them started to write.

“Are you ready?” Hoshin asked.

“Yes, sir,” replied the writer.

Then Hoshin dictated:

I came from brilliancy.
And return to brilliancy.
What is this?

The poem was one line short of the customary four, so the disciple said: “Master, we are one line short.”

Hoshin, with the roar of a conquoring lion, shouted “Kaa!” and was gone.

#10

Happy New Year – Pháo hoa mừng năm mới trên thế giới

Chào các bạn,

Còn vài ngày nữa là đến năm 2010. Thế giới chúng ta sẽ tưng bừng chào đón năm mới với ca nhạc, diễn hành, hoa, confetti, và những tràng pháo bông rực rở.

Trong thời gian chờ đợi, mời các bạn thưởng thức PPS mình vừa thực hiện xong, về những màn pháo bông tuyệt đẹp mừng năm mới tại nhiều nơi trên thế giới, với nhạc nền Happy New Year của ABBA.

Và 12 ước nguyện cho 12 tháng, gởi đến bạn.

Chúc mọi người một năm mới an bình, thịnh vượng, hạnh phúc. 🙂

Bình an và Sức khỏe,

Túy-Phượng
.

Xin các bạn click vào ảnh dưới đây:

Dương Thụ: Sự nổi tiếng ở ta hão huyền lắm

    TP – Trong sân vườn Cà phê Thứ Bảy, dưới bóng mát của tàu lá chuối xanh hiếm hoi giữa lòng thành phố Hồ Chí Minh những ngày cuối cùng của năm 2009, nhạc sĩ kiệm lời và kỹ tính Dương Thụ đã trải lòng về công việc, tình yêu, và cuộc sống.

Lúc chờ nhạc sĩ đến, tôi được một nữ nhân viên dặn nên cẩn trọng vì anh rất khó tính?

Dương Thụ (cười mỉm): Tôi từng phải rút kinh nghiệm tiếp xúc vì bị một số nhà báo ca tụng vô lối. Tưởng mát tai nhưng đọc vào thấy rất xấu hổ.

Có nhà báo phỏng vấn xong gọi anh ơi, báo ra rồi mời anh đọc. Cô ấy gán cho tôi những câu trả lời rất văn chương hoa mỹ, nào làm nhạc hiến dâng cho đời, nào viết cho tuổi trẻ! Trời ơi, ai cần mình viết cho họ đâu. Kinh khủng quá. Sao lại đại ngôn như vậy chứ.

Anh thích gặp gỡ với kiểu nhà báo nào?

Chưa bao giờ tôi thích gặp nhà báo cả, nhất là gặp vì cá nhân tôi. Báo chí quan trọng với những ai cần phải luôn luôn có mặt trên báo, hoặc có điều cần được nói lên mặt báo.

Tôi không thuộc cả hai nhóm đó. Trước hết vì mình chả là cái gì. Còn tên tuổi ư ? Cái sự nổi tiếng từng làm cho tôi rất khổ sở. Tôi không muốn.

Đến nông nỗi đó thật sao?

Hiện nay cái sự nổi tiếng ở ta nó hão huyền lắm. Nhiều khi nổi tiếng chỉ nhờ dư luận lặp đi lặp lại ba cái chuyện giật gân phù phiếm, chứ chẳng phải tài năng hay cống hiến đặc biệt gì.

Có người thấy tôi trên ti vi hay trả lời một vài bài báo, bèn nghĩ chắc ông này hay lắm, bèn kéo thêm nhiều người khác đòi phỏng vấn. Nếu tôi từ chối sẽ bị cho là tự kiêu tự đại.

Nhưng phần lớn người ta có hiểu đúng mình đâu. Thậm chí có người ái mộ, gọi điện thoại rối rít nhưng rốt cục té ra họ nhầm tôi với những bậc tài danh khác, chẳng hạn như Phú Quang hay Thanh Tùng.

Thực chất tôi không phải là người của công chúng, mà chỉ là một người rất bình thường. Tôi không có nhiều điều để chia sẻ với số đông…

Thích những việc không ra tiền lại còn bị chửi

… Một con người đúng nghĩa luôn sống rộng hơn phạm vi nghề nghiệp của họ. Nhạc sĩ hoàn toàn có thể quan tâm đến nhiều vấn đề khác ngoài nhạc, ví dụ quan tâm tới người nghèo, bóng đá hay chính trị. Tôi không phải là chuyên gia chỉ biết đến cái nghề của mình.

Trong mỗi cá nhân luôn có nhiều tư cách người. Phần người rất quan trọng trong tôi là người chồng, người cha vì gia đình, trách nhiệm che chở giữ gìn gia đình chứ không phải chỉ biết có sáng tác. Sau đó mới đến phần người làm nghề sản xuất âm nhạc, làm chương trình, băng đĩa, tổ chức sự kiện cho chỗ này chỗ nọ, vân vân.

Nếu không làm những việc đó thì sao tôi đủ sống? Liệu bán thơ nhạc đi có đủ tiền đổ xăng xe và trả cước điện thoại không ?

Anh luôn nặng gánh chèo chống gia đình vậy ư ?

Còn có một phần người nữa quan trọng hơn, phần hoạt động xã hội. Nếu chỉ sống cho mình, vì mình, thì quá nhỏ nhoi. Đức Phật nói người tốt là người sống cho bên ngoài mình.

Có người sống chỉ thu vén cho họ. Cũng có người luôn chia sẻ với những người xung quanh. Tôi không cao cả như những nhà sư, linh mục, nhà hoạt động xã hội. Nhưng tôi cũng có những ưu tư bẩm sinh và nhu cầu làm điều gì đó cho người khác.

Tôi từng giúp những ca sĩ trẻ, nhạc sĩ trẻ từ lúc họ vô danh, đâu có lấy tiền. Nhiều việc tôi làm chẳng đem lại lợi ích vật chất gì, như chương trình Nửa thế kỷ bài hát, hay Bài hát Việt. Đã không có tiền lại còn bị chửi. Tuy nhiên nó khiến tôi vui, cho tôi thêm động lực sống khi thấy mình đem lại được chút gì cho ai đó.

Hạnh phúc là khi…

Điều gì khiến anh rung động, khi nghe ca sĩ trình bày những ca khúc gan ruột của mình?

Đó là khi phát hiện mình không nói gì mà sao họ hiểu mình đến thế. Như Mỹ Linh, có những bài cô ấy vào phòng thu hát khó khăn như đánh vật, phải thu rất nhiều lần. Nhưng rồi cô ấy hát cũng ra chất và hát rất hay những ca khúc như Mong về Hà Nội, Hát cho anh nghe, tôi không nhớ đã viết năm nào.

Vấn đề không phải là kỹ thuật. Ví dụ lẽ ra phải hát nhẹ thì lại chệch thành hát nhỏ, hoặc giọng hát chưa đủ độ nẩy. Kỹ thuật chỉ có thể khiến mình hài lòng hay không hài lòng chứ chưa đủ để khơi gợi cảm xúc.

Cái thuộc về thần thái, cảm xúc thường rất trừu tượng. Cô ấy đã đụng chạm đến chỗ nào đó rất sâu, có lẽ là dây thần kinh của mình. Tôi mong về Hà Nội để nghe gió sông Hồng thổi, để thương áo len cài vội, một chiều đông rét mướt… Cũng lời ấy có người hát dở ẹc à.

Ngoài Mỹ Linh, còn những ai đạt tới điều đó?

Ví dụ khi được nghe Thanh Lam hát Gọi anh, Hồng Nhung Vẫn hát lời tình yêu, Nguyên Thảo hát Nghe mưa, Khánh Linh hát Tháng tư về, Lệ Quyên cũ chứ không phải Lệ Quyên nhạc thị trường với Họa mi hót trong mưa. Vân vân.

Đó có phải là cảm giác hạnh phúc về nghề nghiệp?

Tôi không bao giờ băn khoăn hỏi mình có hạnh phúc hay không. Hạnh phúc là khi mình được nói, được bộc lộ, sống với tất cả các giác quan giữa những gì thân thiết.

Như khi mở cửa thấy nắng trong vườn, thấy hoa cỏ, được chăm chú theo dõi nắng tắt trên từng chiếc lá. Hay nghe nhạc không còn là nhạc nữa mà chỉ ngập tràn cảm xúc đưa mình về cõi nào. Thậm chí khi cầm cái máy hút bụi, quét dọn, cắm hoa, dọn dẹp lại căn nhà bẩn thỉu sau một chuyến đi xa về.

Đôi khi mù quáng vì yêu

Trong những việc anh đã làm, phần việc nào giúp anh sống mạnh mẽ nhất với mọi cảm quan của mình?

Âm nhạc. Nghệ thuật là tiếng nói đi tìm bạn. Vì tìm bạn nên mới hát cho người ta nghe, không thì hát làm gì. Con người ai cũng khao khát thương yêu, chia sẻ.

Khi viết, khi sáng tác, là lúc mình được sống sâu nhất trong niềm xúc động nội tâm. Âm nhạc tôi là nội tâm tôi, là những gì tôi quan sát chiêm nghiệm.

Anh tâm đắc tác phẩm nào nhất trong số đã viết ?

Tôi chẳng có ca khúc nào gọi là tâm đắc. Hỏi thế có khác nào hỏi Anh yêu tay, chân hay tóc của anh? Yêu hay không thì nó vẫn là một bộ phận của con người mình đấy chứ.

Tôi chưa từng được nghe ca khúc nào của anh mang tính tuyên truyền cổ vũ. Anh không phù hợp, không thích hay không sáng tác nổi dòng nhạc ấy?

Quả thực trong âm nhạc, tôi không khuyên ai sống thế nào, chỉ nói tại sao mình yêu, tại sao mình đau khổ, tức là mình quan sát chính mình thôi.

Do cái tạng của tôi nó thế ! Tôi rất kính trọng Hoàng Vân với Bài ca xây dựng: “Cho ngày nay, cho ngày mai, cho muôn đời sau”. Toàn khẩu hiệu! Hay Tôi là người thợ lò, mặc dù ông ấy có là thợ lò bao giờ đâu. Các ca khúc ấy đều dạt dào cảm xúc rất thật, cả phần nhạc và ca từ đều hay.

Hoặc như Đỗ Nhuận, hầu hết ca khúc của ông cũng đều vì cái chung, cho cái chung. Những nhạc sĩ tài hoa đó đã từ bỏ cái riêng của mình, hoặc hòa cái riêng vào cái chung một cách nhuần nhuyễn. Tôi không làm được như vậy.

Điều đó có phải bắt nguồn từ chỗ do quá yêu bản thân mình không ?

Con người ta biết yêu mình sẽ biết yêu người khác. Yêu cho đúng nghĩa bao giờ cũng tốt đẹp. Tuy nhiên đôi khi cũng vì yêu mà mù quáng. Nhất là trong tình yêu giới tính, vì nó có yếu tố sex.

Vào vai giám đốc dự án

Nhạc sĩ Dương Thụ trong không gian Cà phê Thứ Bảy. Ảnh: Hữu Trịnh

Ít nhiều đã đủ đầy mọi thứ, anh vẫn không ngồi yên sáng tác, lại chịu mất nhiều thời gian ra đây vun vén cho một dự án cà phê?

À, đấy lại là cả một câu chuyện dài. Cà phê Thứ Bảy là một dự án văn hóa mà tôi hợp tác với Trung Nguyên. Tôi làm việc này không nhằm để người ta biết tôi như một người nổi tiếng. Tôi muốn có một không gian văn hóa cho bạn bè gặp gỡ, gây cảm hứng cho nhau.

Và vì tôi thích Vũ (Đặng Lê Nguyên Vũ – TGĐ Cty CP Trung Nguyên – PV), muốn làm cho Vũ điều gì đó, dù tôi chẳng là gì cả.

Vũ là người có tầm, có tâm, có thể hiểu được những việc mình muốn làm, có cái nhìn sâu sắc về văn hóa. Vũ luôn phải lo nghĩ về hiệu quả kinh doanh vì anh ấy là doanh nhân, cuộc sống anh ấy gắn liền với thương hiệu Trung Nguyên. Còn tôi thì không.

Tôi không đến đây ngồi chờ người ta hóng chuyện, hay tào tao. Tôi muốn điều gì đó thuần khiết hơn.

Liệu một nhạc sĩ mang tâm hồn thơ mộng, lãng mạn như anh có thích hợp gắn bó với chức danh rất ngoại đạo, giám đốc điều hành dự án?

Không phải tôi gắn bó mà chính tôi đẻ ra, nghĩ ra dự án này và đem nó đến cho Vũ. Năm ngoái Vũ mời tôi, Nguyễn Cường, Nguyễn Xuân Khánh, Lưu Trọng Ninh và nhiều người khác nữa lên thiên đường cà phê của anh ấy để viết nhạc, viết tiểu thuyết, để làm phim về cà phê.

Tôi nói thẳng đừng tốn tiền cho tôi vì mục đích này. Tôi chỉ viết từ tôi, cho tôi, vì những điều tôi hiểu chứ không viết cho những điều không hiểu hoặc chưa cảm được.

Nhưng tôi có cái này đã nghiền ngẫm để đưa cho Vũ. Đó là dự án Cà phê Thứ Bảy với nhiều mảng hoạt động văn hóa tinh túy. Vũ xem, đồng ý đầu tư tài chính.

Tôi cùng mọi người chuẩn bị từ việc tìm địa điểm vốn là quán cà phê Niết Bàn cũ, cải tạo nó cho phù hợp hơn và chuẩn bị nội dung giao lưu định kỳ hàng tuần cho nó.

Dường như tổng thể còn dang dở, kén người?

Tôi không làm thuê cho doanh nghiệp, không ký hợp đồng mà chỉ ký thỏa thuận hợp tác. Linh hồn của quán là Bùi Văn Nam Sơn. Nguyên Ngọc thì giúp mảng Cà phê Sách.

Mảng Cà phê Văn học có Ý Nhi và nhà phê bình Thanh Sơn. Cà phê Điện ảnh có Lê Hoàng, Bá Vũ; Cà phê Đối thoại có Lê Ngọc Trà, Đặng Lê Nguyên Vũ; Cà phê Hội họa có Nguyễn Quân, v.v…

Trên đời chẳng có gì từ trong đầu bước ra mà suôn sẻ dễ dàng hết được. Sắp tới sẽ khai trương thêm một số hạng mục mới, và bổ sung nhiều bộ sưu tập không thể thiếu. Mọi thứ còn dở dang, nhưng sẽ hoàn chỉnh dần.

Hoàng Thiên Nga
Thực hiện