Tag Archives: Văn Hóa

Đường thật

Thiền sư Ikkyu (do họa sĩ Bokusai)

Trước khi Ninakawa qua đời thiền sư Ikkyu đến thăm ông. “Tôi dẫn độ cho anh nhé?” Ikkyu hỏi.

Ninikawa trả lời: “Tôi đến đây một mình và tôi đi một mình. Thiền sư giúp tôi được gì?”

Ikkyu nói: “Nếu anh nghĩ là anh thật có đến và đi, đó là ảo tưởng của anh. Để tôi chỉ cho anh con đường trên đó chẳng có đến, chẳng có đi.”

Với các lời giảng, Ikkyu đã chỉ ra con đường rõ ràng đến nỗi Ninakawa mỉm cười và từ trần.
.

Bình:

• Ikkyu chính là người con trai nhận di chúc của mẹ trong bài Di Chúc ta đã nói qua. Người ta nói rằng Ikkyu là con không chính thức của Thiên hoàng Go-Komatsu.

Ikkyū (一休宗純 Ikkyū Sōjun, 1394-1481) là một thiền sư và thi sĩ lập dị hàng đầu trong lịch sử Thiền tông Nhật Bản. Ikkyu học nhiều thầy, nhưng không thích chùa chiền và cái mà Ikkyu cho là đạo đức giả và sự lười biếng của các nhà sư, nên chỉ sống lang thang ngoài đường. Tuy vậy Ikkyu vẫn có nhiều bạn bè trong giới thi ca và nghệ sĩ.

Ikkyu thích ăn ngon, thi ca, âm nhạc, và công khai ca tụng tình dục (sex) như là một phần tự nhiên của đời sống con người. Ikkyu có người yêu là cô ca kỹ mù Mori và làm một số bài thơ về nàng. Người ta cho rằng Ikkyu là người đã tạo ra truyền thống Thiền Chỉ Đỏ (Red Thread Zen), một nhánh của thiền Lâm Tế chấp nhận tình dục (sex) và cho phép các sư và ni được lập gia đình.

Dù Ikkyu thích đi lang thang và không ưa chùa chiền, khi chùa Daitoku-ji, một chùa Lâm Tế lớn ở Tokyo, bị hủy hoại trong trận nội chiến Ōnin (応仁の乱 Ōnin no Ran, 1467 – 1477), Thiên hoàng Go-Tsuchimikado chỉ định Ikkyū làm sư trụ trì. Ikkyu bất đắc dĩ phải nhận lời, và có công rất lớn trong việc gầy dựng chùa này trở lại. Chức vụ này cũng đặt Ikkyu vào vị trí truyền nhân chính thức và quan trọng của dòng thiền Lâm Tế.

Ikkyu có ảnh hường rất lớn trong văn hóa phổ thông của Nhật ngày nay. Các trẻ em xem Ikkyu là một anh hùng, thường xuyên phê phán quan chức sư sãi. Có rất nhiều sách truyện và phim hoạt hoạ trẻ em nói về cuộc đời Ikkyu.

Ikkyu cũng ảnh hưởng nhiều đến thi ca và nghệ thuật Nhật và góp phần lớn trong việc đưa Thiền vào mọi lãnh vực của đời sống Nhật.

Ikkyu đã nói gì với Ninakawa?

Dĩ nhiên là ta không biết. Tuy nhiên, Ikkyu có để lại nhiều bài thiền thi, trong đó bài nổi tiếng nhất là “Các Bộ Xương” (Skeletons), tóm tắt những điều quan trọng để “để lại” như là một di chúc. Có lẽ điều gì đó Ikkyu đã nói với Ninakawa cũng không ngoài bài thơ này. Bài thơ nói sâu hơn về các điểm mà mẹ của Ikkyu đã để lại cho Ikkyu trong chúc thư ngắn ngủi của bà nhiều năm về trước, chứng tỏ là lời mẹ đã không bao giờ phai trong lòng Ikkyu.

Các Bộ Xương, một tuyệt tác văn chương, với đạo pháp sâu sắc:

Các bộ xương

Này các thiền sinh, hãy tọa thiền chăm chỉ, và các bạn sẽ nhận ra rằng tất cả mọi thứ sinh ra trên đời này rốt cuộc chỉ là không, kể cả chính ta và mặt mũi nguyên thủy của hiện hữu. Tất cả mọi thứ đều từ không mà ra. Cái không nguyên thủy là “Phật”, và tất cả các từ tương tự khác — Phật tính, Phật vị, Phật tâm, Giác Ngộ, Tổ, Thượng đế — chỉ là những cách diễn tả khác nhau của cùng một cái không. Hiểu sai điều này thì bạn sẽ rơi vào địa ngục.

Một đêm… một bộ xương thảm hại hiện ra và nói những lời này:

Một cơn gió thu buồn rầu
Thổi qua thế giới
Cỏ tranh dợn sóng,
Trong khi chúng ta trôi đến đầm lầy,
Trôi ra biển.

Làm được gì
Với tâm trí của một người
Lẽ ra thì nên sáng
Nhưng dù hắn choàng áo thầy tu
Hắn chỉ để cuộc đời vuột qua hắn?

Gần sáng tôi thiếp đi, và trong mơ tôi thấy tôi bị nhiều bộ xương bao vây… Một bộ xương đến gần tôi và nói:

Ký ức
Bỏ chạy và
Không còn hiện diện.
Tất cả đều là những giấc mơ trống rỗng
Chẳng ý nghĩa gì.

Vi phạm sự thật của vạn vật
Và lảm nhảm về
“Thượng đế” và “Phật”
Thì bạn sẽ không bao giờ tìm thấy
Đường thật.

Tôi thích bộ xương này… Hắn thấy mọi sự rất rõ, như chúng là. Tôi nằm đó với tiếng gió giữa những hàng thông thì thầm trong tai và ánh trăng thu nhảy múa trên mặt.

Cái gì không là mơ? Ai sẽ không kết thúc là một bộ xương? Chúng ta hiện diện như là những bộ xương có da bao bọc – đàn ông đàn bà – và mê đắm nhau. Nhưng khi hơi thở chấm dứt, da vỡ, sinh lý biến mất, và chẳng còn cao thấp. Bên dưới lớp da của người mà ta đang ôm ấp vuốt ve chẳng gì khác hơn là một bộ xương khô. Hãy nghĩ đến điều đó – cao và thấp, trẻ và già, đàn ông và đàn bà, tất cả đều như nhau. Hãy tỉnh thức về điều hệ trọng này và bạn sẽ lập tức hiểu ‎ý nghĩa của “không sinh và không tử”.

Nếu các mảnh đá
Có thể là vật nhắc nhở
Đến người chết,
Thì các cối giã trà
Có thể là mộ bia tốt hơn.

Con người thật sự là những sinh linh đáng sợ.

Một vầng trăng
Sáng và trong
Trên bầu trời không một gợn mây;
Vậy mà chúng ta loạng choạng
Trong bóng tối của thế giới.

Nhìn kỹ đi – ngưng thở, gỡ lớp da, và tất cả mọi người rốt cuộc nhìn như nhau. Không cần biết bạn sống bao lâu, kết quả không thay đổi (kể cả hoàng đế). Vất đi cái ý niệm là “tôi hiện hữu.” Trao thân mình cho những đám mây trôi trong gió, và đừng mong sống mãi.

Thế giới này
Chỉ là
Cơn mơ thoáng qua
Vậy sao lại run sợ
Nó biến mất?

Quãng đời của bạn đã được định sẵn và mọi cầu khẩn với thần linh để kéo dài nó ra đều vô ích. Hãy tập trung tâm trí vào một vấn đề lớn của sống và chết. Đời sống tận cùng bằng sự chết, đó là điều hiển nhiên.

Các đột biến của cuộc đời
Dù đau nhức,
Dạy chúng ta
Đừng bám chặt
Vào thế giới phù du này.

Tại sao người ta
Tốn phí trang sức
Trên bộ xương này
Khi nó đã được định phải biến mất
Chẳng lưu dấu vết?

Thân thể nguyên thủy
Phải trở về
Nơi nguyên thủy của nó:
Đừng tìm
Cái không tìm được.

Không ai thực sự biết
Bản chất của sinh
Hoặc nơi ở thật:
Chúng ta trở về nguồn
Và trở thành cát bụi.

Nhiều con đường bắt đầu
Từ chân núi
Nhưng tại đỉnh núi
Tất cả chúng ta ngắm nhìn
Một vầng trăng sáng.

Nếu tại cuối cuộc hành trình
Không có nơi
An nghỉ cuối cùng
Thì chúng ta không cần phải sợ
Lạc đường.

Không có khởi đầu,
Không có chấm dứt;
Tâm ta
Sinh ra và chết:
Cái không của không!

Lơ đểnh
Và tâm
Chạy loạn xạ;
Kiểm soát tâm
Và bạn có thể gạt nó sang một bên.

Mưa, mưa đá, tuyết và băng:
Tất cả đều rời rạc
Nhưng khi rơi xuống
Chúng trở thành một dòng nước
Của con suối trong lòng thung lũng.

Những cách hiển lộ
Chân Tâm đều khác nhau
Nhưng trong mỗi một cách
Ta có thể thấy
Cùng một sự thật thiêng liêng.

Hãy lấp kín con đường của bạn
Bằng lá thông rụng
Để không ai có thể
Biết được
Nơi ở thật của bạn.

Thật vô ích
Những tang lễ không ngừng trên núi Toribe:
Những người than khóc không nhận ra
Họ sẽ là người kế tiếp hay sao?

“Cuộc đời phù du!”
Chúng ta suy tư nhìn cảnh
Khói bay trên núi Toribe:
Nhưng khi nào chúng ta nhận ra
Rằng ta đang ở trên thuyền hỏa táng?

Tất cả chỉ là hão huyền!
Sáng nay,
Một người bạn khỏe mạnh,
Chiều nay,
Vài sợi khói hỏa táng.

Tội nghiệp!
Khói chiều trên núi Toribe
Bị thổi lồng lộn
Tới lui
Với gió.

Khi hỏa táng
Nó thành tro,
Và thành đất khi chôn.
Phải chăng chỉ có tội lỗi của ta
Là còn sót lại?

Tất cả tội lỗi
Đã phạm
Trong ba thế giới (*)
Sẽ phai mất
Cùng với tôi.

Thế giới là vậy đó. Những kẻ không nắm được lẽ vô thường của thế giới kinh ngạc và sợ thất thần vì những thay đổi đó. Rất ít người ngày nay kiếm tìm sự thật của Phật pháp, và các tu viện thì trống rỗng. Các sư ngày nay đa số là dốt nát và lãng tránh ngồi thiền như là một phiền phức; họ lười biếng thiền định, họ tập trung vào trang trí chùa chiền. Thiền tọa của họ là giả tạo, và họ chỉ mang mặt nạ các nhà sư – những chiếc áo chùng họ mang sẽ trở thành những bộ áo giáp tra tấn một ngày nào đó.

Trong vũ trụ của sinh và tử, sát sinh sẽ đưa vào địa ngục, tham lam đưa đến tái sinh thành ma đói; si mê làm người ta tái sinh thành súc vật; sân hận biến người ta thành quỷ. Tuân theo giới luật và bạn sẽ tái sinh là người. Làm việc thiện và bạn sẽ lên hàng trời. Trên sáu cõi này còn bốn cấp độ của Phật tử Trí Tuệ, tổng cộng là 10 cõi giới. Tuy nhiên, một Niệm Giác Ngộ cho thấy tất cả các cõi giới này đều là không, chẳng có gì giữa chúng, và ta chẳng nên ghê tởm, sợ hãi hay ham mê chúng. Hiện hữu chẳng là gì hơn một làn mây mỏng trên bầu trời mênh mông hay bọt bóng trên mặt nước. Không một niệm nào khởi sinh trong tâm, nên không có điều gì được tạo sinh. Tâm và vật là một, và là không, tuyệt đối chẳng nghi ngờ.

Sự sinh của con người cũng như lửa – bố là đá lửa, mẹ là hòn đá, và tia lửa tóe ra là đứa con. Lửa được khởi sinh từ các thành tố căn bản và cháy cho đến khi hết nguyên liệu. Sự ân ái giữa bố và mẹ tóe ra tia sống. Vì bố mẹ không có điểm khởi đầu, nên họ cũng chập choạng mờ ra; tất cả mọi thứ đến từ không – nguồn của mọi hình sắc. Hãy tự giải thoát mình khỏi hình sắc và trở về với nền tảng khởi thuỷ của hiện hữu. Từ nền tảng này, cuộc đời đi ra, nhưng hảy xả bỏ luôn cả ‎ý niệm này.

Chẻ toang ra
Một cây se-ri
Và chẳng có đóa hoa nào cả
Nhưng gió xuân
Mang đến hàng loạt bông hoa!

Không có cầu
Nhưng mây đi lên nhẹ nhàng
Đến tận thiên đàng;
Chẳng cần phải lệ thuộc vào điều gì cả
Phật Thích Ca dạy.

Phật Thích Ca thuyết pháp trong 50 năm, và khi đệ tử Ca Diếp hỏi ngài tinh yếu của giáo pháp, Phật nói, “Từ đầu đến cuối ta chưa hề nói lời nào,” và đưa lên một đóa hoa. Ca Diếp mỉm cười và Phật trao đóa hoa cho Ca Diếp, và nói những lời này: “Con đã nắm được Diệu Tâm của Chánh Pháp.” “Ý thầy là sao?” Ca Diếp hỏi. “Năm mươi năm thuyết giảng của thầy,” Phật nói, “hằng mời gọi con luôn luôn, như là gọi đứa trẻ vào vòng tay với lời hứa phần thưởng.”

Đóa hoa giáo pháp này không thể diễn tả được bằng vật thể, ‎ý niệm hay lời nói. Nó không phải là vật chất hay tâm linh. Nó không phải là kiến thức. Giáo Pháp của chúng ta là Đóa Hoa của Một Cổ Xe chở tất cả Phật của quá khứ, hiện tại và tương lai. Nó mang 28 tổ sư Ấn Độ và 6 tổ sư Trung quốc; nó là nền tảng nguyên thủy của hiện hữu – tất cả hiện hữu. Tất cả mọi sự đều không có điểm khởi đầu và như vậy tất cả đều gồm trong nó. Tám cảm quan (**), bốn mùa, tứ đại (đất, nước, lửa, gió), tất cả đều đến từ không, nhưng ít người nhận ra điều này. Gió là hơi thở, lửa là hoạt động, nước là máu; khi xác thân bị chôn hay đốt nó trở thành đất. Nhưng tứ đại cũng không có khởi đầu và chẳng bao giờ trường tồn.

Trong thế giới
Mọi thứ, chẳng trừ gì,
Đều không thật:
Ngay cả sự chết cũng là
Hư ảo.

Ảo tưởng tạo ra ảo ảnh là dù thân xác chết, linh hồn vẫn tồn tại – đây là một lầm lỗi lớn. Người giác ngộ nói rằng cả thân xác và linh hồn tan biến với nhau. “Phật” là không, và trời và đất trở về với nền tảng nguyên thủy của hiện hữu. Tôi đã gạt qua một bên 80 ngàn quyến kinh và gởi đến các bạn tinh túy trong quyển ngắn này. Nó sẽ mang an lạc đến với các bạn.

Viết điều gì
Để lại
Cũng lại là một loại mơ nữa
Khi tôi tỉnh thức tôi biết rằng
Sẽ chẳng có ai đọc nó.

Thiền sư Ikkyu
Trần Đình Hoành dịch từ tiếng Anh

TĐH chú thích:

(*) Ba thế giới (tam giới) là dục giới (thế giới của ham muốn), sắc giới (thế giới của hình sắc), vô sắc giới (thế giới vô hình).
(**) Tám giác quan đây là ngũ quan của cơ thể – sắc, thanh, hương, vị, xúc – và 3 cảm quan về ý: ‎ý thức, mạt-na thức, a-lại-da thức.

Skeletons

Students, sit earnestly in zazen, and you will realize that everything born in this world is ultimately empty, including oneself and the original face of existence. All things indeed emerge out of emptiness. The original formlessness is the “Buddha,” and all other similar terms — Buddha-nature, Buddhahood, Buddha-mind, Awakened One, Patriarch, God — are merely different express- ions for the same emptiness. Misunderstand this and you will end up in hell.

One night . . . a pitiful -looking skeleton appeared and said these words:

A melancholy autumn wind
Blows through the world;
The pampas grass waves,
As we drift to the moor,
Drift to the sea.

What can be done
With the mind of a man
That should be clear
But though he is dressed up in a monk’s robe,
Just lets life pass him by?

Toward dawn I dozed off, and in my dream I found myself surrounded by a group of skeletons . . . . One skeleton came over to me and said:

Memories
Flee and
Are no more.
All are empty dreams
Devoid of meaning.

Violate the reality of things
And babble about
“God” and “the Buddha”
And you will never find
the true Way.

I liked this skeleton . . . . He saw things clearly, just as they are. I lay there with the wind in the pines whispering in my ears and the autumn moonlight dancing across my face.

What is not a dream? Who will not end up as a skeleton? We appear as skeletons covered with skin — male and female — and lust after each other. When the breath expires, though, the skin ruptures, sex disappears, and there is no more high or low. Underneath the skin of the person we fondle and caress right now is nothing more than a set of bare bones. Think about it — high and low, young and old, male and female, all are the same. Awaken to this one great matter and you will immediately comprehend the meaning of “unborn and undying.”

If chunks of rock
Can serve as a memento
To the dead,
A better headstone
Would be a simple tea-mortar.

Humans are indeed frightful beings.

A single moon
Bright and clear
In an unclouded sky;
Yet still we stumble
In the world’s darkness.

Have a good look — stop the breath, peel off the skin, and everybody ends up looking the same. No matter how long you live the result is not altered[even for emperors]. Cast off the notion that “I exist.” Entrust yourself to the wind-blown clouds, and do not wish to live for ever.

This world
Is but
A fleeting dream
So why be alarmed
At its evanescence?

Your span of life is set and entreaties to the gods to lengthen it are to no avail. Keep your mind fixed on the one great matter of life and death. Life ends in death, that’s the way things are.

The vagaries of life
Though painful,
Teach us
Not to cling
To this floating world.

Why do people
Lavish decoration
On this set of bones
Destined to disappear
Without a trace?

The original body
Must return to
Its original place:
Do not search
For what cannot be found.

No one really knows
The nature of birth
Nor the true dwelling place:
We return to the source,
And turn to dust.

Many paths lead from
The foot of the mountain
But at the peak
We all gaze at the
Single bright moon.

If at the end of our journey
There is no final
Resting place
Then we need not fear
Losing our way.

No beginning,
No end;
Our mind
Is born and dies:
The emptiness of emptiness!

Let up
And the mind
Runs wild;
Control the [mind]
And you can cast it aside.

Rain, hail, snow, and ice:
All separate
But when they fall
They become the same water
Of the valley stream.

The ways of proclaiming
The Mind all vary
But the same heavenly truth
Can be seen
In each and every one.

Cover your path
With fallen pine needles
So no one will be able
To locate your
True dwelling place.

How vain
The endless funerals at the
Cremation grounds of Mount Toribe:
Don’t the mourners realize
That they will be next?

“Life is fleeting!”
We think at the sight
Of smoking drifting from Mount Toribe:
But when will we realize
That we are in the boat?

All is vain!
This morning,
A healthy friend;
This evening,
A wisp of cremation smoke.

What a pity!
Evening smoke from Mount Toribe
Blown violently
To and fro
By the wind.

When burned
It becomes ashes,
And the earth when buried.
Is it only our sins
That remain behind?

All the sins
Committed
In the Three Worlds
Will fade away
Together with me.

This is how the world is. Those who have not grasped the world’s impermanence are astonished and terrified by such change. Few today seek Buddhist truth, and the monasteries are largely empty. Priests now are mostly ignorant and shun zazen as a bother; they are derelict in their meditation, concentrating on decorating their temples. Their zazen is a sham, and they are merely masquerading as monks – the robes they sport will become the heavy coats of torture someday.

Within the cosmos of birth and death, the taking of life leads to hell; greed leads to rebirth as a hungry ghost; ignorance causes one to be reborn as an animal; anger turns one into a demon. Follow the precepts and you will attain rebirth as a human being. Do good deeds and you ascent to the level of the gods. Above these six realms there are four levels of the Wise Buddhists, altogether ten realms of existence. However, One Thought of Enlightenment reveals them to be formless, with nothing in between, and not to be loathed, feared, or desired. Existence is perceived as being nothing more than a wispy cloud in the vast sky or foam on the water. No thoughts arise in the mind, so no elements are created. Mind and objects are one and empty, beyond any doubts.

Human birth is like a fire – the father is the flint, the mother the stone, and the resulting spark is the child. The fire is ignited with the base elements and burns until it exhausts the fuel. The lovemaking between the father and mother produces the spark of life. Since the parents are without beginning, they too flicker out; all things emerge from emptiness – the source of every form. Free yourself from forms and return to the original ground of being. From this ground, life issues forth, but let go of this too.

Break open
A cherry tree
And there are no flowers
But the spring breeze
Brings forth myriad blossoms!

Without a bridge
Clouds climb effortlessly
To heaven;
No need to rely on
Anything Gotama Buddha taught.

Gotama Buddha proclaimed the Dharma for fifty years, and when his disciple Kashyapa asked him for the key to his teaching, Buddha said, “From beginning to end I have not proclaimed a single word,” and held up a flower. Kashyapa smiled and Buddha gave him the flower, saying these words: “You posses the Wondrous mind of the True Law.” “What do you mean?” asked Kashyapa. “My fifty years of preaching,” Buddha told him, “has been beckoning to you all the while, just like attracting a child into one’s arms with the promise of a reward.”

This flower of the Dharma cannot be described in physical, mental or verbal terms. It is not material or spiritual. It is not intellectual knowledge. Our Dharma is the Flower of the One Vehicle carrying all the Buddhas of the past, present, and future. It holds the twenty-eight Indian and six Chinese patriarchs; it is the original ground of being – all there is. All things are without beginning and are thus all-inclusive. The eight senses, the four seasons, the four great elements (earth, water, fire, wind), all originate in emptiness, but few realize it. Wind is breath, fire is animation, water is blood; when the body is buried or burned it becomes earth. Yet these elements too are without beginning and never abide.

In this world,
All things, without exception,
Are unreal:
Death itself is
An illusion.

Delusion makes it appear that though the body dies, the soul endures – this is a grave error. The enlightened declare that both body and soul perish together. “Buddha” is emptiness, and heaven and earth return to the original ground of being. I’ve set aside the eighty thousand books of scripture and given you the essence is this slim volume. This will bring you great bliss.

Writing something
To leave behind
Is yet another kind of dream
When I awake I know that
There will be no one to read it.

Zen Master Ikkyu
John Stevens translated from Japanese

(Trần đình Hoành dịch và bình)

.

The True Path

Just before Ninakawa passed away the Zen master Ikkyu visited him. “Shall I lead you on?” Ikkyu asked.

Ninakawa replied: “I came here alone and I go alone. What help could you be to me?”

Ikkyu answered: “If you think you really come and go, that is your delusion. Let me show you the path on which there is no coming and going.”

With his words, Ikkyu had revealed the path so clearly that Ninakawa smiled and passed away.

# 56

Trà sư và kẻ sát nhân

Taiko, một tướng quân ở Nhật vào thời Tokugawa, học trà đạo gọi là Cha-no-yu, với trà sư Sen no Rikyu, một vị thầy về loại nghệ thuật diễn tả an lạc này.

Cận tướng của Taiko là Kato xem sự say mê trà đạo của chủ là bê trễ công việc quốc gia, nên Kato quyết định phải giết Sen no Rikyu. Hắn giả vờ viếng thăm trà sư và được mời vào uống trà.

Trà sư, rất thành thạo trong nghệ thuật của thầy, liếc mắt qua là biết ngay ‎ý định của viên võ tướng, nên trà sư mời Kato để kiếm ở ngoài trước khi vào phòng cho nghi lễ trà đạo, giải thích rằng trà đạo chính là biểu hiện của an bình.

Kata không nghe theo. “Tôi là võ tướng,” hắn nói. “Tôi luôn luôn mang kiếm theo người. Trà đạo hay không trà đạo, tôi giữ kiếm với tôi.”

“Được. Cứ mang kiếm vào và uống trà,” Sen no Rikyu bằng lòng.

Ấm nước đang sôi trên bếp than. Đột nhiên Sen no Rikyu nghiêng ấm nước. Hơi nước bốc xì xèo, khói và tro bay đầy phòng. Viên võ tướng giật mình chạy ra ngoài.

Trà sư xin lỗi. “Đó là lỗi của tôi. Vào lại và uống tí trà. Kiếm của anh bị dính đầy tro, tôi có nó đây, sẽ chùi nó sạch sẽ và trả lại cho anh.”

Trong thế kẹt này, chàng võ tướng biết là mình không thể giết trà sư được, hắn bèn bỏ luôn ‎ý định đó.

.

Bình:

• Theo truyền thuyết, trà do thiền sư Nhật Eichu (永忠) mang về từ Trung quốc, và năm 815 Eichu dâng trà xanh sencha cho Thiên hoàng.

Đến thế kỷ 12, thiền sư Eisai, cũng từ Trung quốc về, giới thiệu cách dùng trà bột gọi là Matcha mà ngày nay vẫn còn dùng trong nghi lễ trà đạo. Nghi thức Matcha này được dùng đầu tiên trong các tu viện Phật giáo.

Đến thế kỷ 13, thời Shogun Kamakura, giới võ sĩ đạo (Samurai) nắm toàn quyền cai trị và trà đạo trở thành một dấu hiệu qúy tộc.

Đến thế kỷ 16, mọi người Nhật đều uống trà, và trà sư Sen no Rikyu trong truyện này, được xem là thầy về trà đạo cho đến ngày nay. Sen no Rikyu là học tò của Takeno Jōō’s, và đi theo triết l‎ý ichi-go ichi-e của thầy, dạy rằng mỗi cuộc gặp gỡ đều qu‎ý báu vì không bao giờ có thể lập lại được.

Sen no Rikyu thiết lập các nguyên lý của trà đạo gồm: Hòa (和 wa), kính (敬 kei), thanh (清 sei), và tĩnh (寂 jaku)—là các nguyên lý vẫn còn sử dụng trong trà đạo ngày nay. (Nguồn: wikipedia).

• Trà đạo là một hình thức thiền tập, và các thiền sư uống trà thường xuyên. Đây chính là trà thiền, tức là chánh niệm trong thiền học–tập trung tư tưởng vào việc mình đang làm, như là nấu nước, múc trà, khuấy trà, mời trà, uống trà… Bởi vậy, trong khi sửa soạn trà, chủ và khách chẳng ai nói gì cả, chỉ tập trung tư tưởng vào việc làm trà, và khi uống cũng rất ít nói. Đó là trà thiền.

• Các thiền sư thường là trà sư. Và dĩ nhiên là khi quen tĩnh lặng thì sự nhậy cảm của ta tăng lên rất cao. Sen no Rikyu nhận ra tâm ‎ý của Tako cũng chẳng có gì đáng ngạc nhiên.

Điều quan trọng là cách xử sự nhẹ nhàng lịch sự của Sen no Rikyu làm Tako biết là vị trà sư này đã đọc được hết ý nghĩ của mình. Mình không phải là đối thủ của ông ta. Rút lui là thượng sách.

• Điều quan trọng khác nữa là trà sư cho Tako con đường rút lui trong danh dự, không bóc trần ‎ý định của hắn ra ánh sáng để ép hắn vào đường cùng.

(Trần Đình Hoành bình)

.

The Tea-Master and The Assassin

Taiko, a warrior who lived in Japan before the Tokugawa era, studied Cha-no-yu, tea etiquette, with Sen no Rikyu, a teacher of that aesthetical expression of calmness and contentment.

Taiko’s attendant warrior Kato interpreted his superior’s enthusiasm for tea etiquette as negligence of state affairs, so he decided to kill Sen no Rikyu. He pretended to make a social call upon the tea-master and was invited to drink tea.

The master, who was well skilled in his art, saw at a glance the warrior’s intention, so he invited Kato to leave his sword outside before entering the room for the ceremony, explaining that Cha-no-yu represents peacefulness itself.

Kato would not listen to this. “I am a warrior,” he said. “I always have my sword with me. Cha-no-yu or no Cha-no-yu, I have my sword.”

“Very well. Bring your sword in and have some tea,” consented Sen no Rikyu.

The kettle was boiling on the charcoal fire. Suddenly Sen no Rikyu tipped it over. Hissing steam arose, filling the room with smoke and ashes. The startled warrior ran outside.

The tea-master apologized. “It was my mistake. Come back in and have some tea. I have your sword here covered with ashes and will clean it and give it to you.”

In this predicament the warrior realized he could not very well kill the tea-master, so he gave up the idea.

# 55

Lĩnh Nam Chích Quái – Truyện Trầu Cau


Thời thượng cổ có một vị Quan Lang (1) sức vóc cao lớn, nhà vua ban tên là Cao cho nên lấy Cao làm họ. Cao sinh hạ được hai người con trai, con cả tên là Tân, con thứ tên là Lang (2). Hai anh em giống nhau như đúc, trông không thể phân biệt nổi. Đến năm 17, 18 tuổi, cha mẹ đều từ trần, hai anh em đến theo học đạo sĩ họ Lưu. Nhà họ Lưu có một người con gái tuổi cũng khoảng 17, 18, muốn kết làm vợ chồng. Nàng chưa biết người nào là anh, mới bày một chén cháo và một đôi đũa, cho hai anh em cùng ăn. Người em nhường anh ăn trước. Nàng về nói với cha mẹ xin làm vợ người anh, tình vợ chồng ngày càng nồng thắm.

Về sau, người anh có thể đối xử lạt lẽo với em, người em tự lấy làm tủi hổ, cho rằng anh lấy vợ rồi nên quên mình, bèn không cáo biệt mà bỏ đi. Đi tới giữa rừng, gặp một dòng suối sâu, không có thuyền để qua, đau đớn khóc lóc mà chết, hóa thành một cây cau mọc ở ven bờ. Người anh ở nhà không thấy, từ giã vợ đi tìm. Tới chỗ đó, thấy em đã chết, gieo mình chết, hóa thành phiến đá, nằm ôm quanh gốc cây. Người vợ thấy chồng đi lâu không về bèn đi tìm chồng, tới chỗ này thấy chồng đã chết, cũng gieo mình ôm lấy phiến đá mà chết, hóa thành một cây dây leo cuốn quanh phiến đá, lá có mùi thơm cay (tức là dây trầu). Cha mẹ nàng họ Lưu đau xót vô cùng, bèn lập miếu thờ. Người trong vùng đi ngang qua chỗ đó đều đốt hương cúng vái, ca tụng anh em hòa thuận, vợ chồng tiết nghĩa.

Khoảng tháng bảy tháng tám, khí nóng chưa tan, Vua Hùng đi tuần thú, dừng chân nghỉ mát ở trước miếu, thấy cây lá xum xuê, giây leo chằng chịt, vua leo lên phiến đá xem xét, hỏi rồi mới biết có chuyện như vầy, than thở hồi lâu, truyền cho bầy tôi hái lấy lá trầu, vua nhai rồi nhổ bọt lên phiến đá, thấy có sắc đỏ, mùi vị thơm ngon bèn lấy mang về. Rồi cho lấy lửa nung đá làm thành vôi, lấy vôi ăn với trái cau và lá trầu, mùi vị thơm nồng, dòn, ngọt, má đỏ môi hồng, nên cho thiên hạ ai ai cũng trồng cau trầu khắp nơi, gặp việc cưới hỏi, tế lễ lớn nhỏ đều lấy trầu cau làm đầu. Đó chính là cây cau, cây trầu và vôi vậy.

Nguồn gốc cau trầu nước Nam ta là như thế đó.

Chú thích:

1) Đời Hùng Vương, con trai gọi là Quan Lang, con gái gọi là Mỵ Nương
2) Tân Lang: chữ Hán 檳榔, hai chữ Tân Lang ghép lại chữ Hán có nghĩa là cây cau.

(Nguyễn Hữu Vinh dịch)
.

Bình:

• Tục nhai trầu và cau là tục lệ chung từ thời cổ đại tại nhiều quốc gia vùng Nam Châu Á Thái Bình Dương–Ấn Độ, Pakistan, vài tỉnh ở Trung Quốc, Thái Lan, Sri Lanka, Papua New Guinea, Bangladesh, Đài Loan, Miến Điện, Kampuchia, Solomon Islands, Lào, Maldives, Indonesia, Phi Luật Tân, và Việt Nam.

Tại các nơi này trầu cau thường là một phần của giao tế xã hội, có lẽ vì tích cách kích thích nhè nhẹ của nó, như là chúng ta uống rượu nhẹ ngày nay. Cau còn được dùng nhiều trong y học cổ truyền, như thuốc trừ đau răng và sán lãi.

Trong tiếng Anh, cau là areca nut (không phải là betel nut như nhiều người lầm tưởng), và lá trầu là betel leaf. Ăn trầu (nhai trầu cau) là “chewing areca nut and betel leaf”.

• Dù lý do giải thích (em thấy anh có vẻ thương chị dâu hơn mình nên bỏ đi) nghe gượng ép và không hợp lý mấy, bài này rất rõ là sự chấm dứt của tình trạng một người phụ nữ sống chung với 2 anh em dưới một mái nhà. Đây là một dấu hiệu khác của sự dẫy chết của chế độ mẫu hệ trong văn hóa chính thức của người Việt, nói đúng ra là người Kinh. Vì văn hóa mẫu hệ vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay tại vài bộ tộc miền cao của nước ta.

Theo tục nối dây của người Êđê chẳng hạn, khi người chồng mất, người phụ nữ có quyền lấy một người khác trong gia đình chồng, như là anh hay em chồng, hay chú chồng, cháu chồng, v.v… để tiếp tục “nối dây” cho hai gia đình. Dĩ nhiên, đó không phải là đa phu, nhưng nó nói rằng liên hệ tình cảm giữa người phụ nữ và thân nhân bên nhà chồng là chuyện trong vòng lễ giáo một lúc nào đó, không phải là chuyện vô đạo đức đến mức sống chung trong một mái nhà cũng là chuyện không nên, như truyền thống Khổng giáo mà truyện này ám chỉ.

(Trong truyền thống đa thê của Trung quốc, đàn ông có thể lấy vài chị em một nhà, nhưng đàn bà chì có một chồng. Chồng chết thì ở vậy nuôi con. Tam tòng: Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử.)

• Lịch sử cổ đại của Việt Nam có nhiều điểm chính chỉ ra chế độ mẫu hệ:

Truyện Hồng Bàng là huyền thoại, dù là có vẻ phụ hệ bên ngoài, nhưng như đã phân tích, tính mẫu hệ rất nặng trong truyện.

— Kế đến là An Dương Vương, lại là huyền thoại, dù là đàn ông, nhưng nhân vật chính trong đó là phụ nữ, Mỵ Châu, nắm bí mật quốc gia. Chẳng thấy chàng hoàng tử nào của An Dương Vương có mặt.

— Hai vị vua đầu tiên trong lịch sử (không phải là huyền thoại) là Hai Bà Trưng.

— Người tên tuổi kế tiếp trong lịch sử, đến cả 400 năm sau, là Triệu Thị Trinh, tức Bà Triệu.

— Sách sử nói hai thứ sử của nhà Hán cai trị Việt Nam là Nhâm Diên (Giao Chỉ) và Tích Quang (Cửu Chân) phải dạy dân ta cưới hỏi và các lễ nghĩa khác. Dĩ nhiên không phải vì dân Việt không biết các lễ nghĩa này, nhưng có lẽ dân Việt dùng một lễ nghĩa khác—lễ nghĩa mẫu hệ thay vì lễ nghĩa phụ hệ của Khổng giáo từ Trung quốc.

• Các tên dùng trong truyện trầu cau rất thú vị:

1. Quan Lang họ Cao, rất gần âm Cau. Phải chăng cây cau có tên đó vì cao?

2. Theo Nguyễn Hữu Vinh, Tân Lang (tên hai cậu con trai), chữ Hán viết chung có nghĩa là “cây cau”.

Nhưng “tân lang” cũng có nghĩa là “người đàn ông mới”, đại diện cho văn hóa mới, phụ hệ, từ phương Bắc?

3. Tên của “hai” cậu (Tân và Lang) lại có nghĩa là “một” cây cau, hay “một” người đàn ông. Đây là nghĩa l‎ý chính trong tục “nối dây”: Tất cả các người đàn ông trong một gia đình là “một” sợi dây để nối vào vợ. (Hay ngược lại).

4. Họ của cô con gái là họ Lưu. Một trong những nghĩa thông dụng nhất của chữ “lưu” mà ta vẫn dùng cho đến ngày nay là “giữ lại, lưu lại”.

Vậy thì giữ lại gì? Thưa, giữ lại đạo nghĩa (cổ truyền), vì trong truyện bố cô gái là đạo sĩ họ Lưu.

5. Và họ nhà trai, là Quan Lang, tức là quyền lực chính trị.

Rất rõ đây là đụng chạm giữa hai nền văn hóa: Văn hóa mẫu hệ cũ tại bản xứ, và văn hóa mới của quyền lực chính trị từ phương Bắc sang.

Hậu quả là sống theo kiểu cũ không được, thì chết để cùng sống chung mỗi khi ai đó ăn trầu.

(Trần Đình Hoành bình)

“Mặt trời đến đây rồi” – The Beatles

Chào các bạn,

Những ngày đầu tháng 3 này ở miền Đông Bắc nước Mỹ thời tiết thay đổi thật kỳ diệu. Chỉ trước thứ 7 tuần trước, trời còn xám và lạnh, mà sau thứ 7 chủ nhật ngày 8/3 vừa rồi, thời tiết ấm hẳn và ông mặt trời chiếu sáng cả ngày.

Ánh nắng vàng trải đều trên các ngọn cây tuy chưa ra lá. Nắng ấm tràn vào xe cộ trên đường. Trời nắng, xanh và cao hơn. Mình bắt đầu đi bộ buổi trưa để tập thể dục. Chỉ sau chủ nhật cuối tuần này, cả nước Mỹ sẽ bắt đầu ngày mới sớm hơn một tiếng để ngày có nhiều ánh sáng mặt trời hơn. 🙂

Chúng ta hôm nay hãy cùng nghe bài hát “Here comes the sun” của ban nhạc Beatles nói về sự vui mừng chào đón sự đến của mặt trời tuyệt vời đó nhé. 🙂

“Here comes the sun” được sáng tác bởi George Harrison và ra mắt trong album “Abbey Road” của Beatles vào năm 1969. George kể như sau về bài hát trong Beatles Anthology:

“Here Comes the Sun” was written at the time when Apple was getting like school, where we had to go and be businessmen: ‘Sign this’ and ‘sign that’. Anyway, it seems as if winter in England goes on forever, by the time spring comes you really deserve it. So one day I decided I was going to sag off Apple and I went over to Eric Clapton’s house. The relief of not having to go see all those dopey accountants was wonderful, and I walked around the garden with one of Eric’s acoustic guitars and wrote “Here Comes The Sun”.

“Mặt trời đến đây rồi được viết vào thời điểm mà (hãng thu âm) Apple thích trường học, nơi chúng tôi phải đi và làm dân kinh doanh: ‘ký cái này’ và ‘ký cái kia’. Dù sao, tưởng như mùa đông ở nước Anh kéo dài mãi mãi, khi mùa xuân đến bạn thực sự xứng đáng (vì đã đợi mùa xuân mỏi cổ?). Do đó một ngày tôi quyết định bỏ Apple sớm và qua nhà Eric Clapton chơi. Sự thoải mái của việc không phải thấy hội kế toán ẩm ương đó thật tuyệt vời, và tôi đi dạo quanh vườn với một trong những cây ghi ta của  Eric và viết “Here Comes The Sun”.

Sau đây chúng ta có 3 video, 2 video đầu do George Harrison, ca sĩ/nhạc sĩ thể hiện. Đặc biệt ở video thứ 2 là do George và những người bạn chơi  trong buổi hòa nhạc cho Bangladesh vào năm 1971 ủng hộ cho đất nước Bangladesh sau cuộc chiến tranh giành độc lập và tai nạn thiên nhiên. Video thứ 3 là độc tấu ghi ta bài hát này của anh Per-Olov Kindgren. Sau đó là lời nhạc.

Chúc các bạn một ngày mặt trời đến,

Hiển.


Here Comes The Sun – George Harrison
.

Concert for Bangladesh: Here Comes The Sun.
.

Per-Olov Kindgren plays Beatles’ Here Comes The Sun in his arrangement for classical guitar

The Beatles – Here Comes The Sun
Artist: The Beatles

Here comes the sun, here comes the sun,
and I say it’s all right

Little darling, it’s been a long cold lonely winter
Little darling, it feels like years since it’s been here
Here comes the sun, here comes the sun
and I say it’s all right

Little darling, the smiles returning to the faces
Little darling, it seems like years since it’s been here
Here comes the sun, here comes the sun
and I say it’s all right

Sun, sun, sun, here it comes…
Sun, sun, sun, here it comes…
Sun, sun, sun, here it comes…
Sun, sun, sun, here it comes…
Sun, sun, sun, here it comes…

Little darling, I feel that ice is slowly melting
Little darling, it seems like years since it’s been clear
Here comes the sun, here comes the sun,
and I say it’s all right
It’s all right

Điệu sầu Tiến sĩ – Ph.D blues

Frans Prins và Pascal Wilhelm

Chào các bạn,

Một phần lớn độc giả của vườn chuối là các bạn du học sinh đang theo học các chương trình Thạc Sĩ, Tiến Sĩ ở nước ngoài. Hôm nay mình giới thiệu với các bạn bài hát vui “Ph.D blues” để cùng cười mỉm với các anh chị em đang làm tiến sĩ và phần nào giúp các bạn tính toán chuyện học tiến sĩ hiểu được phần nào tâm sự nhé 🙂

Mình hồi trước cũng ngồi phòng thí nghiệm cả ngày nên mình có lẽ hiểu được phần nào nỗi vất vả, sự thử thách rất ly kỳ thú vị của các anh chị em nghiên cứu sinh. Cùng trên hành trình lên tây trúc thỉnh kinh, cũng có bao suy tư đời thường khác xen vào “cuộc sống kinh kỳ với bút nghiên” 🙂

Tâm sự này được chia sẻ trong bài hát Ph.D blues sau đây. Ph.D blues được sáng tác bởi hai anh bạn Frans Prins and Pascal Wilhelm khi họ làm nghiên cứu sinh về lĩnh vực tâm lý giáo dục ở trường Leiden, Hà Lan. Các bạn có thể đọc thêm về “dự án Ph.D blues ở trang web của bài hát 🙂

Dưới đây là video của bài hát, trước đó là lời dịch Việt, sau đó là lời nhạc Anh.

Chúc các bạn một ngày “Ph.D sunshine” 🙂

Hiển.
.

Điệu sầu Tiến Sĩ

Tôi là sinh viên tiến sĩ
Tôi làm việc đêm ngày
Tôi đang viết luận án
Và lãnh lương ăn mày.

Tôi nghĩ đến kinh doanh
Nhưng chẳng quyết định được
Tôi đợi và đợi
Rốt cuộc vào đường khoa học

Lấy một mảnh bằng, nếu bạn chẳng biết làm gì
Tôi tìm phiêu lưu
Tôi tìm chân l‎ý

Tôi đọc
Mọi thứ tôi lục được
Tiêu cả hai tháng cạnh máy photo
Đến mờ cả mắt
Rồi cần thêm thống kê
Và ngạc nhiên thay
Thấy chẳng có gì liên hệ.
Thiên đàng là đây sao?

Lấy một mảnh bằng, nếu bạn chẳng biết làm gì
Tôi tìm phiêu lưu
Tôi tìm chân l‎ý

Bàn luận với một hai
Tay đàn anh
Khen họ đấo để
Vì cái Tôi họ cần được vuốt ve.

Rồi tôi gởi bài tường trình đến tòa báo
Vào mùa thu
Đến mùa xuân bài bị gạt bỏ
Vì thí nghiệm không đủ mẫu.

Lấy một mảnh bằng, nếu bạn chẳng biết làm gì
Bạn biết tôi cảm giác thế nào không?
Tôi cảm như cọp trong sở thú.

Phải thuyết trình
Trong cuộc họp lớn thật lớn.
Tôi trong cuộc học lớn này
Chẳng có ma nào tham dự.

Về đến nhà, vợ đã bỏ đi
Vì nàng chẳng hiểu được.

Theo đuổi khoa học
Làm bạn cô đơn cuối đường.
Theo đuổi khoa học
Làm bạn cô đơn cuối đường.
Theo đuổi khoa học
Làm bạn cô đơn cuối đường.


Ph.D. Blues

Ph.D. Blues (Prins/Wilhelm)

I’m a Ph.D. student,
I’m working night and day.
I’m writing a dissertation,
and get a lousy pay.

I thought I’d be in business,
but I could not decide.
I waited and I waited,
and ended up in science.

Getting a degree. If you don’t know what to do.
I was looking for adventure
I was looking for the truth.

I started out with reading,
all pieces I could find.
Spent two months at the xerox,
till I was half blind.

Then I needed some data,
and much to my surprise.
I found low correlations,
Is this paradise?

Getting a degree. If you don’t know what to do.
I was looking for adventure
I was looking for the truth.

Having a discussion,
with a senior or two.
Giving all these compliments,
’cause their egos need a boost.

Then I sent my work to a journal,
it was in the fall.
In springtime it got rejected,
’cause my sample was too small.

Getting a degree. If you don’t know what to do.
You know how I feel?
Feel like a tiger in the zoo.

Had to do a presenation,
at a big big big conference.
I was in this great symposium,
which no one would attend.

When I got home my love had left me,
’cause she could not understand.
Leading your life in science,
makes you lonely in the end.

Getting a degree. If you don’t know what to do.
Leading a life in science,
Makes you lonely in the end.

Leading a life in science,
Makes you lonely in the end.

Leading a life in science,
Makes you lonely in the end.

Chiều Lam Kinh

Từ Thanh Hóa theo quốc lộ 47 đi về hướng tây, ruộng đồng và xóm làng nối tiếp. Núi Vọng Phu xa mờ in màu xanh đậm hơn lên nền trời có dáng người mẹ dắt con rõ hơn núi Mẹ Con ở tây bắc Khánh Hòa, đi trong đồng Tuy Hòa (Phú Yên) thấy hai đỉnh cao thấp liền nhau, đúng nghĩa Mẹ/Con chứ không hề bồng bế, ngóng trông.

Đã đến Lam Kinh, trời chiều đầy mây xám âm u. Một vài tia nắng lóe lên rồi tắt ngấm. Không gian thật tĩnh mịch. Ở đây có dấu vết của một khúc mương rộng. Người hướng dẫn bảo đó nguyên là con sông đào, tên là sông Ngọc. Ông Lê Hối, tiền bối ba đời của vua Lê Lợi từ Ngọc Lặc đưa gia đình về đây xây dựng cơ ngơi. Sông dẫn nước về cái hồ gọi là Hồ Tây. Bắc qua sông có cầu Bạch Ngọc, thượng gia hạ kiều. Năm 1433 điện Lam Kinh được xây dựng, sau đó là những bia, mộ các vua Lê, nay thuộc xã Xuân Lâm huyện Thọ Xuân, huyện nằm ở vị trí trung tâm tỉnh Thanh Hóa. Qua khỏi sông đào thấy một hố trũng sâu, được biết xưa là một giếng nước lớn.

Cung điện Lam Kinh còn lại là một bãi cỏ rộng. Rải rác khắp bãi cỏ, xếp hàng ngay ngắn là những phiến đá táng chân cột, phần dưới hình vuông mỗi cạnh chừng 6 tấc, phần trên là khối viên trụ nội tiếp, màu đen xám, nhẵn láng. Vài ba con rồng đá không còn đủ hình dạng, con thì vỡ đầu, con thì mất thân, con thì rạn nứt. Nhìn những chân cột ta có thể hình dung được bề thế nguy nga của cung điện Lam Kinh ngày ấy. Nền phía trong cao hơn, và như để chống đỡ sự đổ nát, có chất một dãy bao cát mà phần lớn đã mục rách, trông thật thảm thương! Một vài người dân nói: “Cho đến năm 1960 cung điện Lam Kinh còn khá tốt, sau đó mới bị dỡ phá”. Chúng tôi nhìn chung quanh, nhận biết khá rõ ràng dấu tích của chân thành. Ở một góc là cây đa già tua tủa rễ phụ. (Mấy năm sau, xem truyền hình thấy Lam Kinh được trùng tu, tôi mừng thầm. Không phải mừng việc trùng tu mà mừng mình được đến Lam Kinh khi còn là phế tích hoang tàn, khỏi phải chứng kiến một Lam Kinh mới toanh, chẳng biết chỗ nào thật chỗ nào giả). Trong nhà bảo tàng có trưng bày mấy viên gạch xây thành, khối chữ nhật có hai lỗ vuông để đóng chốt lại với nhau, ghi số đo: dài 75cm, rộng 20cm, cao 15cm, nặng 43kg. Gạch nền cung điện lớn hơn, dài 85cm, rộng 40cm, cao 15cm, nặng đến 85kg.

Vào trong nữa là mộ vua Lê Thái Tổ. Qua khỏi hàng trụ biểu đến vòng thành thấp. Nền sân lát gạch. Bốn con voi quay đầu vào mộ. Hai bên mỗi bên một hàng các con vật: kỳ lân, tê giác, ngựa, cọp. Rồi hai vị quan văn võ. Tất cả đều bằng đá, nét chạm khắc có phần đơn sơ. Mộ vua hình chữ nhật, xây gạch, không có hoa văn, họa tiết. Một bệ nhỏ hình chữ nhật để cắm nhang. Dẫu là mộ thật hay mộ giả thấy cũng rất giản dị, hết sức giản dị.

Bia Vĩnh Lăng dựng ở phía trước, góc ngoài thành nơi có cây đa già. Nhà bia mới xây lại, phía trước thềm còn dấu hai chân cột cũ. Bia thì người hướng dẫn nói vẫn là bia xưa, cao 2,97m, rộng 1,94m, dày 0,27m. Chân rùa đội bia có 6 móng, móng cuối bị khuyết, nhỏ hơn. Hình rồng chạm trên bia trông giống con rắn, nhỏ và dài, uốn lượn gấp khúc nhiều đoạn, chân có 3 móng. Tại Bảo tàng lịch sử Hà Nội có một bia Vĩnh Lăng phục chế, đường nét còn mới, sắc sảo.

Bên kia đường đi Ngọc Lặc là lăng mộ của các vua Lê Thái Tông, Thánh Tông, Hiển Tông, Túc Tông và bà Ngọc Dao… hoang vu hơn. Có chỗ bia đã mất chỉ còn con rùa và con rùa cũng không có đầu!

Chiều đang xuống nhanh. Trên tàn cây những con ve sầu réo dài từng khúc ca buồn. Bãi cỏ sẫm màu lại, gần với màu của những khối đá chân cột. Vài ba con bò vừa bước đi chậm chạp vừa nhởn nhơ gặm cỏ. Rừng núi Lam Kinh dần dần chìn ẩn trong màn sương đang dần dần hiện lên. Người già nhất trong nhóm chúng tôi, ông Ba Nhữ, mắt mơ màng đọc hai câu thơ Thanh Quan:

Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo

Nền cũ lâu đài bóng tịch dương…

Trần Huiền Ân

Di chúc

Ikkyu, một thiền sư nổi tiếng thời Ashikaga, là con của Thiên hoàng. Khi thiền sư còn nhỏ, mẹ của thiền sư rời bỏ cung điện và vào chùa học thiền. Bởi vậy hoàng tử Ikkyu thành thiền sinh. Khi mẹ của Ikkyu qua đời, bà để lại cho thầy một lá thơ, viết rằng:

Gởi Ikkyu:

Mẹ đã xong việc ở đời này và bây giờ mẹ trở lại với Vĩnh Hằng. Mẹ mong con thành một thiền sinh giỏi và sẽ đạt được Phật tánh. Con sẽ biết là mẹ ở trong địa ngục hay không và mẹ có luôn ở cùng con không.

Nếu con thành một người hiểu được rằng Phật và đệ tử của ngài là Bồ Đề Đạt Ma là tôi tớ của con, con có thể ngưng học và đi cứu nhân độ thế. Phật giảng 49 năm và trong khoảng thời gian đó thấy chẳng phải nói một chữ nào. Con nên biết tại sao. Nhưng nếu con không biết nhưng muốn biết, tránh suy nghĩ vô ích.

Mẹ,

Không sinh, không chết.

Ngày 1 tháng 9

Tái bút: Giáo pháp của Phật là cốt để giác ngộ người khác. Nếu con lệ thuộc vào bất cứ pháp môn nào, con cũng chỉ là một côn trùng dốt nát. Có đến 80 nghìn quyến sách về Phật học và nếu con phải đọc hết các sách này mà vẫn không thấy được tánh thật của con, con sẽ không hiểu được lá thơ này. Đây là di chúc của mẹ.
.

Bình:

• Bồ Đề Đạt Ma từ Ấn Độ sang Trung quốc truyền dạy Thiền và được xem là Tổ sư sáng lập Thiền tông của các tông phái đại thừa ngày nay (Mahayana).

Phật và Bồ Đề Đạt Ma là thầy. Nhưng các vị thầy này chỉ có một mục đich duy nhất là phục vụ học trò, giúp học trò đắc ngộ, các vị thầy này chẳng có mục đích gì khác cho chính các vị, nên nói là “Phật và Bồ Đề Đạt Ma là tôi tớ của con.”

Người thực sự nhận thức được điều này, thì:

1. Không tôn thờ Phật hay Tổ sư là người giải thoát mình; biết rằng chính mình phải tự mình giải thoát mình;

2. Thuyết gỉảng giáo pháp và giúp đở thế nhân với thái độ là mình là tôi tớ của họ;

3. Và như thế tức là đã đạt được “vô ngã”, tức là đã ngộ.

Cho nên lúc này là lúc có thể ngưng học để ra đời cứu nhân độ thế.

Phật thuyết giảng 49 năm nhưng chẳng nói lời nào: Trong Kinh Đại Niết Bàn, trước khi nhập diệt, Đức Phật nói: “Như Lai thường không thuyết pháp… vì pháp vốn vô tánh. Như Lai dầu giảng nói tất cả pháp nhưng thường không chỗ nói.” (Phẩm Quang Minh Biến Chiếu Cao Qúy Đức Vương Bồ Tát, thứ 22).

Ngôn từ không bao giờ chính xác để nói lên điều gì. Nói chỉ là nói tạm, vì chẳng cách nào khác để truyền đạt tư tưởng cho đa số người. Vì vậy, dù là Phật đã giảng thuyết 49 năm, nhưng không có lời nào là tuyệt đối đến mức mọi người cứ khư khư nắm giữ nó. Tùy nghi liệu thế mà hiểu. Cho nên, giảng thuyết nhiều mà lại chẳng nói lời nào là thế.

Muốn đắc ngộ, phải rời bỏ văn tự, không mắc kẹt vào ngôn từ: “Vì Như-Lai và chánh giải thoát rời danh tự. Do đó nên đức Như-Lai đối với tất cả pháp, không chướng ngại, không đắm-trước mà đặng chơn thật giải thoát.” (Kinh Đại Niết Bàn, Phẩm Văn Tự, thứ 13).

• Nếu hiểu điều này thì tốt. Nếu không hiểu được, thì “tránh suy nghĩ vô ích”, vì đã suy nghĩ thì phải suy nghĩ bằng văn tự trong đầu mình, tức là lại càng kẹt vào văn tự, không thoát ra được.

• Mẹ “không sinh không chết”: Vì mẹ, cũng như tất cả mọi thứ khác trong vũ trụ, là một biểu hiện của Sự Thật, Chân Như, Như Lai, Phật tính, Vĩnh Hằng… như sóng là biểu hiện của đại dương. Sóng có và mất, nhưng đại dương luôn ở đó. Biểu hiện phù du thấy đó mất đó, nhưng Sự Thật thì thường hằng, luôn ở đó, không sinh không diệt.

Cho nên lấy cái nhìn bằng mắt mà nói thì mẹ có sinh có tử, nhưng lấy Sự Thật mà nói thì mẹ là (một phần của) Sự Thật, mẹ không sinh không tử, “mẹ đã xong việc ở đời này và bây giờ mẹ trở lại với Vĩnh Hằng.”

Giáo pháp cũng chỉ là văn tự và lời nói, tức là không tuyệt đối được, và ta không thể mắc kẹt vào, chấp vào giáo pháp. Giáo pháp chỉ là phượng tiện giúp ta qua sông. Qua sông bỏ bè.

Tánh thật (chân tánh) của con, cũng như của mẹ và của tất cả mọi thứ khác trong vũ trụ, là Phật, là Sự Thật, là Chân Như, là Như Lai, là Vĩnh Hằng. Nếu con không biết được điều này, con chẳng hiểu được mẹ nói gì trong thơ.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.

The Last Will and Testament

Ikkyu, a famous Zen teacher of the Ashikaga era, was the son of the emperor. When he was very young, his mother left the palace and went to study Zen in a temple. In this way Prince Ikkyu also became a student. When this mother passed on, she left him a letter. It read:

To Ikkyu:

I have finished my work in this life and am now returning into Eternity. I wish you to become a good student and to realize your Buddha-nature. You will know if I am in hell and whether I am always with you or not.

If you become a man who realizes that the Buddha and his follower Bodhidharma are your own servants, you may leave off studying and work for humanity. The Buddha preached for forty-nine years and in all that time found it not necessary to speak one word. You ought to know why. But if you don’t and yet wish to, avoid thinking fruitlessly.

Your Mother,

Not born, not dead.

September first.

P.S. The teaching of Buddha was mainly for the purpose of enlightening others. If you are dependent on any of its methods, you are naught but an ignorant insect. There are 80,000 books on Buddhism and if you should read all of them and still not see your own nature, you will not understand even this letter. This is my will and testament.

I Feel Good – James Brown

Chào các bạn,

Thứ  sáu cuối tuần trước, vừa tới công ty mình vào luôn phòng bếp công ty để cất đồ ăn trưa (đồ ăn thừa từ tối hôm qua) vào tủ lạnh. Gặp anh Ken trong bếp, anh hỏi “bạn thế nào?”, và mình trả lời “I feel good” 🙂 Mà đúng thật, thời tiết hôm thứ sáu đã bắt đầu nắng ấm của mùa xuân. Mùa đông qua rồi! 🙂

Anh Ken cười bảo: Bạn là James Brown à?

Mình lớ ngớ một lúc thì được anh Ken giải thích là “I feel good” là một hit quá nổi tiếng của James Brown. Anh kể về James Brown là người có giọng hát rất soulful, được gọi là “Bố già của nhạc soul” (Godfather of Soul), và một trong những người tiên phong của phong trào Rock and Roll ở Mỹ. Mình bảo anh Ken là để mình giới thiệu bài hát này trên website nhé? Anh Ken hoan hô nhiệt liệt 🙂

“I feel good” là một bài hát dấu ấn của James Brown, nói về cảm xúc “tốt” của anh ta ra sao khi có được người yêu. Như là đường và gia vị. Trong bài hát này chất giọng nhạc soul, gào, và rú của James Brown được thể hiện vô cùng sống động.

Bài hát này của James Brown đã đứng đầu bảng xếp hạng Billboard trong 6 tuần liên tiếp, và xếp thứ 78 trong 500 bài hát Rock and Roll vĩ đại nhất của mọi thời đại.

I FEEL GOOD
James Brown

Whoa-oa-oa! I feel good, I knew that I would, now
I feel good, I knew that I would, now
So good, so good, I got you

Whoa! I feel nice, like sugar and spice
I feel nice, like sugar and spice
So nice, so nice, I got you

{ sax, two licks to bridge }

When I hold you in my arms
I know that I can’t do no wrong
and when I hold you in my arms
My love won’t do you no harm

and I feel nice, like sugar and spice
I feel nice, like sugar and spice
So nice, so nice, I got you

{ sax, two licks to bridge }

When I hold you in my arms
I know that I can’t do no wrong
and when I hold you in my arms
My love can’t do me no harm

and I feel nice, like sugar and spice
I feel nice, like sugar and spice
So nice, so nice, I got you

Whoa! I feel good, I knew that I would, now
I feel good, I knew that I would
So good, so good, I got you
So good, so good, I got you
So good, so good, I got you
HEY!!

Dưới đây chúng ta có 3 video đều của James Brown. Video thứ nhất do James Brown biểu diễn live show ở sâu khấu. Video thứ hai do anh hát và khiêu vũ ở “bữa tiệc trượt tuyết” và video thứ 3 là James Brown với điệu nhảy trượt mê hồn.

Chúc các bạn một ngày “I feel good”, 🙂

Hiển.


I Got You (I Feel Good) (Live) – James Brown
.

James Brown – I Feel Good
.

James Brown in Ski Party

Người cho nên cám ơn

Lúc Seisetsu giảng dạy tại chùa Engaku ở Kamakura, thiền sư cần phòng ốc rộng hơn, vì nơi giảng dạy của thầy đã quá chật. Umezu Seibei, một thương gia ở Edo, quyết định là sẽ tặng 500 đồng vàng, gọi là ryo, vào việc xây trường rộng thêm. Umeza mang tiền đến cho thiền sư.

Tranh Tổ sư Bồ Đề Đạt Ma do thiền sư Seisetzu vẽ

Seisetsu nói: “Tốt lắm. Tôi sẽ nhận.”

Umezu trao bao vàng cho Seisetsu, nhưng không hài lòng với thái độ của thiền sư. Một người có thể sống cả năm với chỉ 3 ryo, nhưng thương gia này không nhận được cả một tiếng cám ơn.

“Trong bao đó có 500 ryo,” Umezu nhắc khéo.

“Anh đã nói cho tôi biết rồi,” Seisetsu trả lời.

“Dù tôi là một thương gia giàu có, 500 ryo vẫn là rất nhiều tiền,” Umezu nói.

“Anh muốn tôi cám ơn anh?” Seisetsi hỏi.

“Thầy nên làm vậy,” Umezu trả lời.

“Tại sao tôi nên cám ơn?” Seisetsu thắc mắc. “Người cho nên cám ơn.”
.

Bình:

• Seisetsu Genjo Seki hay Seisetsu Genjyo Seki, (1877-1945), là thiền sư dòng Lâm Tế, từ thiền sư Hakuin Vậy À mà ra. Trong thập niên 1920, Seisetsu là sư trụ trì của chùa Tenryu ở Nhật.

Chùa Engaku trong truyện này là một chùa Lâm Tế rất lớn, và là một danh lam thắng cảnh nổi tiếng cùa Nhật ngày nay. Chúng ta đã nói đến chùa Engaku trong bài Không nước không trăng về ni cô Chiyono.

• Bố thí là một thực hành lớn trong nhà Phật. Con đường Bồ-tát (Bồ Tát Đạo) có 6 nhánh qua sông (lục độ ba-la-mật), tức là sáu phương cách thực hành (“hạnh”) để đến giác ngộ, trong đó Bố thí là “hạnh” đầu tiên–Bố thí, trì giới, tinh tấn, nhẫn nhục, thiền định, trí tuệ. Cho đi cái mình có là cách đương nhiên nhất để thực hành “vô ngã” (“không có cái tôi”).

Bố thí thế nào? Kinh Kim Cang, đoạn 4 viết: “Bồ tát đối với pháp nên không có chỗ trụ mà làm việc bố thí, gọi là chẳng trụ nơi sắc để bố thí, chẳng trụ thanh hương vị xúc pháp để bố thí. Này Tu-bồ-đề, Bồ tát nên như thế mà bố thí, chẳng trụ nơi tướng. Vì cớ sao? Nếu Bồ-tát bố thí chẳng trụ tướng thì phước đức không thể nghĩ lường.”

Câu này có nhiều tầng triết l‎ý rất sâu xa, tuy nhiên nói giản dị theo cách sống hàng ngày của chúng ta thì câu này có thể hiểu là bố thí mà chẳng cầu gì cả, chẳng để được thấy tên mình trong danh sách (sắc), hay nghe được tên mình (thanh), hay tiếng tăm lừng lẫy của mình (hương), hay để nếm vị vinh quang của mình (vị), hay sờ được tên mình khắc trên bia đá (xúc), hay vì bất kỳ điều gì trong vũ trụ (pháp).

Bố thí với một tâm hoàn toàn rỗng lặng. Ngay cả dùng đạo pháp làm chủ đích của bố thí cũng không. Đoạn 14, Kinh Kim Cang viết: “Nếu Bồ-tát trụ nơi pháp mà làm việc bố thì thì ắt như người vào trong tối không thể thấy. Nếu Bồ-tát tâm không trụ pháp mà hành bố thí thì như người có mắt lại thêm ánh sáng mặt trời chiếu soi, thấy các thứ hình sắc.”

(Ghi chú: Bố thí không vì mình mà vì đạo pháp thì hay lắm rồi, vẫn hơn không. Nhưng bố thí mà vượt qua được cả tầng “vì đạo pháp” này mới là chân ngộ của Bồ tát).

Bố thí tự nhiên như hít thở. Bố thí tự nhiên như khát nước thì uống nước mà chẳng hề suy nghĩ gì. Đó mới là bố thí hạnh của Bồ-tát.

• Đương nhiên là bố thí mà cần cám ơn như Umezu là không nên rồi. Và đương nhiên là một câu cám ơn cũng chẳng tốn công gì mà thiền sư Seisetsu lại không thể nói một tiếng cho vui vẻ cả làng. Nhưng, có lẽ là thiền sư biết tâm tính Umezu và cố tình im lặng để dạy cho Umezu một bài học về Phật pháp.

Nhưng tại sao thiền sư nói “Người cho nên cám ơn”?

Thưa, vì bố thí là hạnh Bồ tát, mà muốn thực hành hạnh này thì phải có người nhận. Nếu không có người nhận thì không thể làm việc bố thí được. Mang tiền ra vất ngoài sa mạc không phải là bố thí. Cho nên, người cho phải cám ơn người nhận đã tạo cho mình một cơ hội để thực hành hạnh bố thí.

Chú ý, câu đầu tiên thiền sư nói khi Umezu mang tiền vào: “Tốt lắm. Tôi sẽ nhận.” Tức là, tôi cho chú cơ hội làm việc bố thí.

• Không nên xem đây là một cuộc đấu tranh tư tưởng giữa hai người, Umezu và thiền sư, xem ai thắng.

Đa số mọi người trong chúng ta đều như Umezu, đều muốn nghe cám ơn khi bố thí–không những cám ơn mà còn phải cám ơn trên radio, TV, báo chí, Internet thì mới hả dạ. Umezu chẳng ai xa lạ hơn là cái tôi của mỗi người chúng ta.

Nhưng điều chúng ta không biết, và thiền sư Seisetsu muốn dạy, là: Người cho phải cám ơn người nhận.

Trần Đình Hoành dịch và bình
.

The Giver Should Be Thankful

While Seisetsu was the master of Engaku in Kamakura he required larger quarters, since those in which he was teaching were overcrowded. Umezu Seibei a merchant of Edo, decided to donate five hundred pieces of gold called ryo toward the construction of a more commodious school. This money he brought to the teacher.

Seisetsu said: “All right. I will take it.”

Umezu gave Seisetsu the sack of gold, but he was dissatisfied with the attitude of the teacher. One might live a whole year on three ryo, and the merchant had not even been thanked for five hundred.

“In that sack are five hundred ryo,” hinted Umezu.

“You told me that before,” replied Seisetsu.

“Even if I am a wealthy merchant, five hundred ryo is a lot of money,” said Umezu.

“Do you want me to thank you for it?” asked Seisetsi.

“You ought to,” replied Umezu.

“Why should I?” inquired Seisetsu. “The giver should be thankful.”

# 53

Quê hương

Quê hương là gì hả mẹ,
Sao mà  cô dạy phải yêu?
Quê hương là gì hả mẹ,
Ai đi xa cũng nhớ nhiều?”

Những câu thơ quen thuộc đó trong bài thơ “Quê hương” của nhà thơ Đỗ Trung Quân. Quê hương ta đó thật yên ả, thanh bình…đó là nguồn cảm hứng của biết bao nhà thơ, nhà văn, của biết bao nhạc sĩ. Đã có rất nhều người thành công, và cũng đã có rất nhiều tác phẩm có giá trị. Bên cạnh những giai điệu mượt mà, nhẹ nhàng, giản dị của bài thơ đó, tôi còn bắt gặp những hình ảnh, những giai điệu rất riêng, rất Việt , được thể hiện qua giọng ca mộc mạc, sâu lắng của ca sĩ Thùy Chi, tôi đang muốn nói tới bài hát “Quê tôi” của nhạc sĩ Anh Minh.

Bài hát được mở đầu bằng tiếng sáo diều vi vút của lũ trẻ chăn trâu khi chiều về. Gió lên càng làm diều bay cao, bay xa, và sáo diều lại càng da diết hơn nữa. Đẹp làm sao, thân thương làm sao hình ảnh làng quê Việt. Lời ca cất lên nhẹ dịu như tiếng mẹ, tiếng bà ru à ời năm nao. Ẩn hiện sau những ca từ đó là hình ảnh của mái đình rêu phong, của cây đa cổ thụ nghiêng bóng tuế nguyệt, của cánh đồng mênh mông, dào dạt hương lúa chín ruộm  …Quê hương ta đó là nơi nuôi dưỡng tuổi thơ của biết bao người. Lớn lên từ làng quê, và khi ra đi, họ vẫn mang trong trái tim mình hình ảnh quê hương yêu dấu…mãi mãi, không nhạt phai…

Trong những giây phút bộn bề của cuộc sống này, hãy dành chút thời gian để thưởng thức bài hát đã và đang làm rung động lòng người này, bạn nhé.

Nguyễn Thu Hiền

.


Quê tôi

Quê tôi có cánh diều vi vu, xa sau lũy tre làng
Trưa trưa dưới mái đình rêu phong là bóng mát ngày thơ
Quê tôi có cánh đồng bao la, thắm hương lúa lên đồng
Liêu xiêu mái tranh nghèo đơn sơ, trở về nhé tuổi thơ tôi

ĐK:
Quê tôi sớm tinh mơ, tiếng gà gọi cha vác cuốc ra đồng
Ai đem nắng đong đầy tới vai, cháy những giọt mồ hôi
Quê tôi với con người chân phương, ai xa níu chân về
Quê hương bước ra từ câu thơ, đẹp như lời mẹ ru.

Ánh sáng của con có thể tắt

Một học trò Tông Thiên Thai, một tông phái triết lý Phật giáo, đến thiền viện của Gasan học thiền. Vài năm sau cậu ra đi, Gasan cảnh báo cậu: “Học về sự thật bằng phỏng đoán thì lợi ích cũng chỉ như lượm lặt tài liệu giảng huấn. Nhưng nhớ rằng nếu con không thiền quán thường trực, ánh sáng chân l‎ý của con có thể tắt.
.

Bình:

• Gasan Jōseki (峨山 韶碩 1275–23.11.1366) là thiền sư dòng Tào Động Nhật Bản, mà ta đã nhắc đến trong bài Không xa Phật vị.

• Đây là cảnh báo về cách học triết lý lệ thuộc nặng nề vào lý luận và suy tư của Thiên Thai Tông. Trong bài Cỏ cây giác ngộ như thế nào chúng ta đã nói đến sự vô ích của các câu hỏi triết lý rắc rối của học trò Thiên Thai.

Khác biệt giữa “suy nghĩ” và “thiền quán”: Suy nghĩ hay suy tư là “nghĩ”. Thiền quán là chỉ “nhìn” (quán), nhìn sự vật như nó là (seeing thing as it is) mà chẳng “nghĩ” gì cả. Khác biệt về tính danh này đưa đến các khác biệt sau:

1. Khác biệt đầu tiên là tĩnh lặng về cảm xúc. Chúng ta có thể suy nghĩ với đủ loại cảm xúc trong đầu, nhưng thiền quán thì tâm ta phải rất tĩnh lặng,

Ví dụ: Suy nghĩ về cách trả đũa anh chàng chó chết mới chửi mình hồi chiều, vừa suy nghĩ vừa sôi máu. Nếu ta thiền quán về anh chàng này, thì tâm ta phải rất tĩnh lặng, không hờn giận không một gơn sóng, khi ta “nhìn” (quán) anh chàng.

2. Khác biệt thứ hai là tĩnh lặng về tư tưởng. Suy nghĩ thì có câu hỏi, và chạy theo dòng lý luận để tìm câu trả lời; thiền quán thì chỉ “nhìn” thôi, rồi cái gì nó đến thì đến, nó không đến thì không đến, chẳng chạy theo cái gì, nhắm vào câu trả lời nào cả.

Ví dụ: Suy nghĩ “Có thượng đế không?” À, có cái bàn là có ông thợ mộc. Có quả là có nhân. Có vũ trụ phải có người làm ra vũ trụ,. Vậy phải có thượng đế. Có thượng đế thì phải có người sỉnh ra thượng đế. Ai vậy?…

“Thiền quán” thì chỉ “nhìn.” Muốn quán cũ trụ thì cứ nhìn các tinh tú, không gian, các thiên hà, các giới hạn (hay không giới hạn) của vũ trụ… đến các phân tử, nguyên tử li ti của vật thể… rồi chân l‎ý nào đến với mình thì đến, không thì thôi, chẳng đeo đuổi theo ý gì trong đầu cả…

3. Khác biệt thứ ba là sự tập trung và tự do của tâm trí. Đây chỉ là hệ quả của khác biệt thứ nhất và thứ hai bên trên. Khi “suy nghĩ” ta có cả hàng trăm tư tưởng, cảm xúc, lý‎ luận, kết luận, phán đoán chạy tới chạy lui. “Thiền quán” thì ta chẳng có gì trong đầu cả, ngoài trừ một “hình ảnh” của cái mà mình đang quán, như nó là (as it is), mà chẳng có l‎ý luận, phán đoán, kết luận nào cả.

Vi dụ: Suy nghĩ về chuyện cãi nhau hồi chiều với người bạn thân (hay vợ, hay chồng mình), ta có thể suy nghĩ: Cô ấy nói câu này, nói như vậy là rõ ràng làm mình đau, tại sao cô ấy làm mình đau, vì cô ấy ghen tị với mình, cô ấy đang cạnh tranh ảnh hưởng với mình, bởi vậy câu nói của mình với boss bị cô ấy cố tình bẻ méo ‎ nghĩa của nó….

Nếu thiền quán về chuyện cãi nhau này thì tâm mình thật tĩnh lặng, không sóng giận, cũng chẳng suy nghĩ gì, chỉ “nhìn” hình ảnh cãi nhau hồi chiều… và thấy… khuôn mặt cô ấy thật buồn vời vợi khi nói với mình câu này… và mình đã không thấy được các nét ấy lúc đó, và mình đã vội vã thọc cho cô ấy một quả đấm ngôn ngữ kinh hồn… và cô ấy đã nhìn mình với khuôn mặt vừa kinh ngạc vừa buồn vô tận… và lặng lẽ ra ngoài… và mình đã cho là cô ấy khinh thường mình… và mình đã chửi ngóng theo một câu cuối…

Điểm quan trọng ở đây là khi suy tưởng các vấn đề trừu tượng, chúng ta thường theo một trường phái lý‎ luận triết lý nào đó, ví dụ: triết l‎ý hiện sinh, hay duy vật biện chứng pháp, hay Plato, hay Decartes, hay Thiên Thai Tông, hay Trung Quán Luận, hay cynicism… cho nên tư duy thường rất phiến diện, vì bị gò bó trong khung lý luận của trường phái ta đang dùng. (Chính vì vậy mà các triết gia hay cãi nhau, ông nói gà bà nói vit). Khi “quán” ta chỉ “nhìn sự vật như nó là” cho nên ta chẳng theo trường phái nào cả. Cứ nhìn thôi. Vì vậy tâm trí ta thực sự tự do và độc lập, và cái nhìn rõ ràng hơn rất nhiều.

4. Khác biệt thứ tư là kết luận. Đây là hệ quả đương nhiên của ba khác biệt trên: Suy nghĩ chấm dứt bằng một kết luận của suy tưởng lý luận, thường theo công thức của luận lý học.

Quán chấm dứt khi nào mình biết là mình đã nhìn thấy toàn thể, thông suốt hoàn toàn, điều mình nhìn, từ trong ra ngoài, ngoài vào trong, từ mọi hướng nhìn.

Ví dụ: Suy nghĩ về một tên trộm: Hắn vào nhà, lấy cái nhẫn hột xoàn bỏ túi, toàn vụ việc bị thâu vào hệ thống quan sát điện tử. Kết luận: Vậy hắn là tên trộm.

Quán về người này thì nhìn hắn, nhìn hình ảnh hắn lấy hột xoàn, nhìn thái độ đầu hàng dịu dàng của hắn khi bị bắt, nhìn khuôn mặt buồn rười rượi tuyệt vọng của hắn, dáng đi thểu não của hắn…

Trước khi “quán” thì tâm ta phải “định” (samadhi), tức là đứng yên. Nếu tâm còn nhảy choi choi thì không thể quán được. Vì vậy người ta thường phải dùng “thiền chỉ” (samatha), ví dụ tập trung vào hơi thở để định tâm trước, khi đã “định” được rồi, muốn quán (vipassana) gì thì “quán” (và trong khi quán, tâm mình vẫn “định”).

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

.

Your Light May Go Out

A student of Tendai, a philosophical school of Buddhism, came to the Zen abode of Gasan as a pupil. When he was departing a few years later, Gasan warned him: “Studying the truth speculatively is useful as a way of collecting preaching material. But remember that unless you meditate constantly you light of truth may go out.”

# 52

The Jonas Brothers

Chào các bạn,

Hôm nay, mình giới thiệu với các bạn một bạn nhạc trẻ rất hay nhé, The Jonas Brothers 🙂

The Jonas Brothers là một trong những ban nhạc nam pop-rock nổi tiếng trên thế giới gồm 3 thành viên chính là 3 anh em ruột : Kevin, Joe và Nick Jonas – những chàng trai đến từ Wyckoff, New Jersey. Với chất giọng mạnh mẽ và trong sáng của tuổi trẻ, niềm đam mê sáng tác thi ca về cuộc sống, tình yêu và tình bạn – họ phối hợp hát và thể hiện âm nhạc rất tốt bởi bản chất họ là anh em ruột. Anh em nhà Jonas đi đâu cũng có nhau, kể cả hẹn hò với các cô gái.^.^!

Hiện nay ba anh em đang là một trong những thần tượng của teen trên khắp thế giới, đặc biệt là Joe – lí do rất đơn giản : họ đẹp trai và hát hay. Nhóm thành lập từ năm 2005 và ra được 4 album: It’s About Time (2006) và Jonas Brother (2007), A Little Bit Longer (2008) và Lines, Vines and Trying Times (2009).

Tháng 2-2007 The Jonas Brothers (JB) kí hợp đồng với Hollywood Records.

3-2007 ,2 ca khúc trong 2 album khác nhau được ra mắt,đó là “Kids of the future”trong bộ phim HH “Meet the Robinsons” và ” I wanna be like you” trong Disney Mania 5.

Album thứ 2, Jonas Brothers ra mắt vào 7-8-2007, đứng thứ 5 trong Billboard Hot 200 trong tuần đầu tiên, và 2 single từ album này là Hold on và SOS.

17-8-2007: JB xuất hiện trong bộ phim hài nhiều tập của DC “Hannah Montana” với tư cách khách mời. Họ đã trình diễn ca khúc “We got the party” với Miley Cyrus, tập này được chiếu sau DCOM High School Musical 2, thu hút 10.7 triệu người xem.

JB đã trình diễn trong buổi bế mạc Disney Channel Games 2007, họ cũng trình diễn ở AMAs 2007 với bài SOS.

Từ những thành công của JB, Disney đã quyết định tổ chức một buổi biểu diễn, một bộ phim tên là Camp Rock (ra mắt vào tháng 9-2008) và một series phim truyền hình “Jonas Brothers – Living The Dream” nói về 3 anh em Kevin, Joe và Nick Lucas, vừa đi học vừa ở trong ban nhạc nổi tiếng JONAS với hàng ngàn fan hâm mộ.

Sau đây, mời các bạn nghe 3 bài hát của JB êm dịu và đậm chất lãng mạn: Before The Storm, A Little Bit Longer và Sorry.

Chúc các bạn một ngày tươi hồng,

Long.
.

Jonas Brothers ft. Miley Cyrus-Before The Storm (Preview with Lyrics)

Before The Storm

Nick:Yeah, eh, eh
Miley
Ohhh
I know this isn’t what I wanted,
I never thought it’d come this far,
Just thinking back to where we started,
And how we lost all that we are.

Nick:
We were young and times were easy.
But I could see it’s not the same.
I’m standing here but you don’t see me,
I’d give it all for that to change.
And I don’t want to lose her,
Don’t wanna let her go.
Miley:
Standin’ out in the rain,
Need to know if it’s over,
‘Cuz I would leave you alone.
Nick:
I’m flooded with all this pain,
Knowing that I’ll never hold her
Both:
Like I did
Before the storm
(Yeah, before the storm)
Nick:
With every strike of lightning,
Miley:
Comes a memory that lasts.
Both:
And not a word is left unspoken,
As the thunder starts to crash.
Miley:
Maybe I
Should give up.
Standin’ out in the rain,
Need to know if it’s over,
‘Cuz I would leave you alone.
Nick:
I’m flooded with all this pain,
Knowing that I’ll never hold her
Like I did
Before the storm
Miley:
Trying to keep
The lights from going out
Both:
And the clouds from ripping out my broken heart.
They always say,
A heart is not a home
Without the one who gets you through the storm.
Both:
Standin’ out in the rain,
Knowin’ that it’s really over.
Please don’t leave me alone.
I’m flooded with all this pain,
Knowing I’ll never hold ya,
Like I did,
Before the storm.
(Yeah, the storm)
Like I did
Before the storm.
.

The Jonas Brothers – A Little Bit Longer

A Little Bit Longer

Got the news today
Doctor said I had to stay
A little bit longer
And I’d be fine
When I thought it’d all be done
When I thought it’d all been said
A little bit longer
And I’ll be fine

But you don’t know what you got
Till it’s gone
And you don’t know what it’s like
To feel so low
And every time you smile or laugh you glow
You don’t even know
No, no
You don’t even know

All this time goes by
Still no reason why
A little bit longer
And I’ll be fine
Waitin’ on a cure
But none of them are sure
A little bit longer
And I’ll be fine

But you don’t know what you got
Til it’s gone
You don’t know what it’s like
To feel so low
And every time you smile or laugh you glow
You don’t even know
No, no
You don’t even know
No, no
You don’t even know
No, no

Yeah

But you don’t know what you got
Til it’s gone.
Don’t know what it’s like
To feel so low, yeah
And every time you smile or laugh you glow
You don’t even know
Yeah oh
Yeah oh
Yeah yeah
You don’t even know
No, no

So I’ll wait ’til kingdom come
All the highs and lows are gone
A little bit longer
And I’ll be fine
I’ll be fine
.

“Sorry” – Jonas Brothers

Sorry
Broken hearts and last goodbyes
Restless nights by lullabies
Help to make this pain go away
I realize I let you down
Told you that I’d be around
Building up the strength just to say

I’m sorry
For breaking all the promises I wasn’t around to keep
You told me
This time is the last time
I will ever beg you to stay
But you’re already on your way

Filled with sorrow filled with pain
Knowing that I am to blame
For leaving your heart out in the rain
And I know you’re going to walk away
Leave me with the price to pay
I’m building up the strength just to say

I’m sorry
For breaking all the promises that I wasn’t around to keep
You told me
This time is the last time
I will ever beg you to stay
But you’re already on your way

I can’t make it
A life on my own
But if you have to go
Then please girl just leave me alone
Because I don’t want to see
You and me
Going on seperate ways
begging you to stay
If it isn’t too late

I’m sorry
For breaking all the promises that I wasn’t around to keep
You told me
This time is the last time
I will ever beg you to stay
But you’re already on your way
But you’re already on your way

Nhạc sĩ Đỗ Thất Kinh: Ngõ Vàng Quỳ – Nghìn Tay Ôm Một Nụ Cười

Chào các bạn,

NS Đỗ Thất Kinh

Hôm nay, nhờ thông tin từ anh Trần Can, mình có dịp giới thiệu đến các bạn một tài năng Tây Nguyên nữa, đó là nhạc sĩ Đỗ Thất Kinh, tức kiến trúc sư Đỗ Kim Châu của Buôn Ma Thuột

Nhạc của anh Đỗ Thất Kinh mang nhiều màu sắc của du ca thập niên ’70–sinh viên đi qua các nẻo quê hương, hát với cây đàn guitar, cho tình yêu, thân phận, và đất nước.

Thưa em xưa nếm hạt đất vàng
Nằm buông tóc trôi một giòng sông
Ta theo vết hương thẳm đầu núi
Một sớm mai về nơi suối nguồn
(Ngõ Vàng Quỳ – ĐTK)

Ca sĩ Ngọc Huy

Đây là tuổi trẻ không bao giờ già. Những sinh viên của giai đoạn này, cho đến khi chết vẫn hoài chạy theo bóng hình quyến rũ cùa quê hương, tình yêu, và thân phận… như cành tùng chênh vênh sườn đồi nơi đầu gió, muôn thuở còn xanh.

Về với mây hát đôi câu ru hời
Về núi cao rũ vai bụi đường xa
Ngồi hát ngêu mấy con chữ ta bà
Tình hốt nhiên rớt trên mây la đà
(Nghìn Tay Ôm Một Nụ Cười – ĐTK)

Hai bản nhạc chúng ta sẽ nghe đây được ca sĩ Ngọc Huy trình bày. Ngọc Huy có giọng ca rất trầm, ấm, và đầy. Rất truyền cảm. Rất hợp với các bản nhạc này.

Chúng ta có hai links đến audio file để nghe, với âm thanh rất tốt. Bản đầu, Ngõ Vàng Quỳ, do Ngọc Huy hát chính và Đỗ Thất Kinh ca bè. Bản thứ hai do Ngjoc Huy ca solo.

Bản Ngõ Vàng Quỳ còn có link đến Youtube, cho các bạn muốn xem video, nhưng file video âm thanh không tốt, nên không nghe được giọng ca trung thực của Ngọc Huy.

Ngõ Vàng Quỳ
– Đỗ Thất Kinh –

Xưa theo em dưới Ngõ Vàng Quỳ
Bầy chim trắng bay về tựa như bông
Xưa theo em nhớ mãi từng mùi hương
Hỡi em nhu mì như đóa hường

Nay theo em bên ngõ trổ hoa vàng
Mà nhớ mang mang làn hương người xưa
À ơi! À ơi! (i) À ơi!

Thưa em xưa nếm hạt đất vàng
Nằm buông tóc trôi một giòng sông
Ta theo vết hương thẳm đầu núi
Một sớm mai về nơi suối nguồn

Ơi em khép nép đóa dị thường
Vừa hát câu ru lời u trầm Đông Phương
À ơi! À ơi! (i) À ơi!

Thưa em xưa ngõ trổ vàng quỳ
Thưa em nay ngõ trổ vàng quỳ
Thưa em nay ngõ trổ vàng quỳ.
Ai qua vương vấn một mùi hương.
(Ai qua vương vấn một mùi hương…)

Xin nhấn chuột vào đây để nghe Ngọc Huy và Đỗ Thất Kinh song ca Ngõ Vàng Quỳ

Ngọc Huy ca solo Ngõ Vàng Quỳ


.

N g h ì n T a y Ô m M ộ t N ụ C ư ờ i
Nhạc & hoà âm:đỗthấtkinh

Mọc tay dài vói mây cười nghiêng ngả
Kìa trăng lạnh bước ra hồn ngậm sương
Mọc chân dài bước quanh ngày phố lạ
Tìm dấu ai bóng chim khuất non tà

Tìm em nơi nào mông mù phố lạ
Tìm ta hoang quạnh cõi miền rất xa

Về với mây hát đôi câu ru hời
Về núi cao rũ vai bụi đường xa
Ngồi hát ngêu mấy con chữ ta bà
Tình hốt nhiên rớt trên mây la đà

Ngụm mây say tỉnh hớp một hớp tình
Đàn reo tích tịch tang tình tính tang
Có đoá hoa cười giữa muôn hoa
Ta đi vào lạc bước chân ra
Có tiếng chim rộn giữa chân chim
Ta ôm đàn reo cùng cỏ hoa

Từ biết em
Bỗng dưng đời rất lạ
Từ yêu người
Trái tim ngọt cỏ hoa
Mọc tay dài ôm người đâu mệt lả
Mọc tay dài cho ta ôm muôn loài

Nghìn tay ôm một giấc mơ đá quạnh
Nghìn tay ôm người
Trái tim lá xanh…

Xin nhấn chuột vào đây đề nghe Ngọc Huy hát.

Giải thưởng Văn hóa Phan Châu Trinh 2009: Inrasara

Là Giải thưởng nhằm tôn vinh các học giả Việt Nam và nước ngoài thuộc mọi quốc gia. Giải thưởng được Khoa Quốc tế – Đại học Quốc gia Hà Nội tài trợ cùng đối tác là vài Đại học Quốc tế khác. Năm 2007 Giải thưởng được dành cho dịch giả triết học Bùi Văn Nam Sơn. Năm 2008 hai nhà nghiên cứu là TS David G. Marr (Australia) và TS Yumio Sakurai (Nhật) đoạt Giải.

Năm nay, toàn bộ Ủy viên Hội đồng Khoa học Giải thưởng nhất trí trao cho các công trình nghiên cứu của Inrasara.

Giải thưởng sẽ được phát tại Hà Nội ngày 24-3-2010.

Trần Can xin thông báo cùng các anh chị em trên Đọt Chuối Non & xin chia vui cùng anh Sara.

Sơ lược công trình nghiên cứu của anh Inrasara:

Về nghiên cứu văn hóa Chăm

Văn học Chăm I – Khái luận, NXB Văn hóa Dân tộc, H., 1994.
Văn học dân gian Chăm – Ca dao, Tục ngữ, câu đố.
+ In lần thứ nhất: NXB Văn hóa Dân tộc, H., 1995.
+ In lần thứ hai: NXB Văn hóa Dân tộc, H., 2006.
Văn học Chăm II – Trường ca, sưu tầm – nghiên cứu.
+ In lần nhất: NXB Văn hóa Dân tộc, H., 1995.
+ In lần thứ hai: NXB Văn nghệ, TP Hồ Chí Minh, 2006.
Từ điển Chăm – Việt (viết chung), NXB Khoa học Xã hội, H., 1995.
Từ điển Việt – Chăm (viết chung), NXB Khoa học Xã hội, H., 1996.
Văn hóa – xã hội Chăm, nghiên cứu & đối thoại, tiểu luận
+ In lần thứ nhất: NXB Văn hóa Dân tộc, H., 1999.
+ In lần thứ hai: NXB Văn học, H., 2003.
+ In lần thứ ba: NXB Văn học, H., 2008.
Tự học tiếng Chăm, NXB Văn hóa Dân tộc, H., 2003.
Từ điển Việt – Chăm dùng trong nhà trường (viết chung), NXB Giáo dục, H., 2004.
Sử thi Akayet Chăm, NXB Khoa học Xã hội, H., 2009.

Chủ biên
Tagalau, tuyển tập sáng tác – ¬sưu tầm – nghiên cứu Chăm (10 tập, 2000-2009).
Tủ sách văn học Chăm (10 tập – đã in 3 tập).

Có thể nói không ngoa rằng Inrasara đã làm sống lại văn học cổ điển Chăm, một nền văn học tưởng chừng đã tuyệt diệt, đã suýt bị lãng quên một cách oan uổng.

Là người con của hai nền văn hoá Chăm- Việt, anh đã sưu tầm và chuyển ngữ sang tiếng Việt rất thành công những Arya (Trường ca). Akayet ( Sử thi) Chăm cổ.

Góp phần làm phong phú nền văn hoá đa dân tộc Việt Nam.

Thông tin báo chí tại đây.

Trần Can

Miso chua

Sư nấu bếp tại Dairyo, tu viện của thiền sư Bankei, quyết định là sư sẽ chăm sóc kỹ càng sức khỏe của lão sư phụ của mình và sẽ chỉ cho sư phụ ăn Miso tươi, làm từ đậu nành, lúa mì và men đánh nhuyễn và để lên men. Bankei, thấy là mình được phục vụ miso tốt hơn miso của các đệ tử, liền hỏi: “Ai là người nấu ăn hôm nay?”

Dairyo được gọi đến gặp thầy. Bankei nghe trình là theo tuổi tác và địa vị của thầy, Bankei chỉ nên ăn miso tươi. Cho nên Bankei nói với sư nấu ăn: “Vậy chú nghĩ là thầy không nên ăn gì hết.” Nói xong, Bankei bước vào phòng riêng và khóa cửa.

Dairyo, ngồi ngoài cửa, xin lỗi thầy. Bankei không trả lời. Cả bảy ngày, Dairyo ngồi bên ngoài và Bankei ở bên trong.

Cuối cùng, trong tuyệt vọng một đệ tử nói thật to cho Bankei: “Thầy có thể không sao, lão sư phụ, nhưng anh chàng đệ tử này phải ăn. Hắn không thể nhịn ăn mãi được!”

Đến lúc đó Bankei mở cửa. Thầy mỉm cười. Thầy nói với Dairyo: “Thầy nhất quyết ăn cùng loại thức ăn như những đệ tử thấp nhất của thầy. Khi chú trở thành sư phụ, thầy không muốn chú quên chuyện này.”
.

Bình:

• Bankei đây là Bankei yōtaku (eitaku), Bàn Khuê Vĩnh Trác, mà chúng ta đã nhắc đến trong truyện Giọng nói của hạnh phúc.

• Xem ra đây là một luật lệ ăn uống đã có sẵn trong tu viện nhưng Bankei không biết. Người đến tuổi nào đó và có chức vị nào đó thì được ăn uống loại thực phẩm nào đó. Đây là ăn uống theo “hệ cấp” và Bankei chống đối “hệ cấp”. Nếu Bankei yếu sức khỏe hay bệnh hoạn và đầu bếp nấu thức ăn đặc biệt để chữa bệnh, chắc là thiền sư không phiền hà gì.

• Xã hội con người là xã hội hệ cấp dày đặc tới nghẹt thở: Chức vị đi trước hay sau tên (bác sĩ, luật sư, tiến sĩ, thạc sĩ, giáo sư, giáo viên… cô, dì, chú, bác..); văn phòng (làm lớn văn phòng lớn, làm nhỏ văn phòng nhỏ), xe cộ (làm lớn đi xe có tài xế), áo quần (làm lớn mặc veston, làm nhỏ mặc quần jean), lương bỗng.…

Nói chung là các thứ trang điểm cho hệ cấp này như vài mươi lớp áo dày phủ kín người chúng ta. Rồi chúng ta có thể tự thêm vài tầng hệ cấp nữa bằng cách xưng hô ăn nói quan liêu từ trên nói xuống. Rốt cuộc, ta chỉ là một hình nộm to đùng đứng đuổi chim giữa đồng.

Khó ai thấy được con người thật của mình. Và rất có thể là mình cũng không biết được con người thật của mình, nếu mình không bao giờ trút bỏ các lớp vỏ.

Có lẽ là ta sẽ không bao giờ bỏ hết được tối thiểu là một bộ quần áo mặc trên người. Nhưng nếu ta có thể trút bỏ rất nhiều bộ đồ đang chất chồng không cần thiết trên cơ thể, thì ta sẽ dễ thở và thong thả hơn rất nhiều, và nhiều người sẽ thích thú con người thật của ta, hơn là một hình nộm tới 27 lớp áo quần.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

.

Sour Miso

The cook monk Dairyo, at Bankei’s monastery, decided that he would take good care of his old teacher’s health and give him only fresh miso, a paste of soy beans mixed with wheat and yeast that often ferments. Bankei, noticing that he was being served better miso than his pupils, asked: “Who is the cook today?”

Dairyo was sent before him. Bankei learned that according to his age and position he should eat only fresh miso. So he said to the cook: “Then you think I shouldn’t eat at all.” With this he entered his room and locked the door.

Dairyo, sitting outside the door, asked his teacher’s pardon. Bankei would not answer. For seven days Dairyo sat outside and Bankei within.

Finally in desperation an adherent called loudly to Bankei: “You may be all right, old teacher, but this young disciple here has to eat. He cannot go without food forever!”

At that Bankei opened the door. He was smiling. He told Dairyo: “I insist on eating the same food as the least of my followers. When you become the teacher I do not want you to forget this.”

#51