Những công việc như giám đốc, kỹ sư, giáo viên, bồi bàn tuy khác nhau về thu nhập và đặc điểm công việc, và trong một xã hội kỳ thị, là vị trí xã hội. Nhưng, bỏ qua mấy cái nhãn hiệu công việc đi, đằng sau đó là ai nhỉ?
Là những người lao động để trước nhất nuôi ấm bản thân và gia đình, sau đó là giúp ích cho cộng đồng. Tất cả đều có những câu chuyện của mình. Người hàng xóm của bạn là ai? Là bác xe ôm nuôi cậu con đi học đại học hay cô gái uốn tóc kiếm tiền gửi cho gia đình ở quê?
Tất cả những con người ít thấy đó cần được biết đến nhiều hơn để hòa nhập chung với cộng đồng và nâng cao nhân phẩm xã hội. À, mình không bắt đầu nghiêm trọng đâu nhé. Tại sao ta không hát vui về họ nhỉ? Bác lái xe ôm ơi, bác thích công việc của mình thế nào? Nghề của bác có gì hay, có gì không hay? Thỉnh thoảng gặp lưu manh thì bác làm thế nào?
Tại sao không sáng tác các ca khúc về những con người trên đường phố ta thấy hàng ngày nhỉ?
Bài hát sau đây, “Bố của tôi là người hốt rác” hát về câu chuyện của người bố làm nghề hốt rác rất vui vẻ do anh Lonnie Donegan sáng tác. Lonnie Donegan được coi là vua của thể loại nhạc Skiffle và là nghệ sĩ người Anh thành công và có ảnh hưởng lớn nhất trước ban nhạc Beatles.
“My old man is a dustman” đứng vị trí số 1 của UK Singles Chart tháng 4 năm 1960 và đứng thứ 29 trong “Top 100 Hits of 1960” của 40 đài radio đứng đầu của Canada. Bài hát này cũng là nhạc chuông điện thoại phổ biến ngày hôm nay. 🙂
Sau đây chúng ta có ba video của bài hát. Hai video đầu mô tả cuộc sống của My old man do ca sĩ Lonnie Donegan hát. Video thứ ba do nhóm nhạc cây nhà lá vườn thể hiện 🙂 Sau đó là lời nhạc.
What does your old man do?
Chúc các bạn một ngày tuyệt vời,
Hiển
.
My old man’s a dustman
.
My old mans a dustman
.
My Old Man’s A Dustman
Bob Ritchie ( accordion ), Ian Ritchie ( eigenharp, vox ) and Holly Penfield ( piano, vox ) perform “My Old Man’s A Dustman” in Parbold, Lancashire. August 2009.
.
MY OLD MAN’S A DUSTMAN
(Buchanan / Donegan / Thorne)
Lonnie Donegan – 1960
Now here’s a little story
To tell it is a must
About an unsung hero
That moves away your dust.
Some people make a fortune,
Others earn a mint;
My old man don’t earn much:
In fact he’s flippin’ skint.
Oh, my old man’s a dustman,
He wears a dustman’s hat,
He wears cor-blimey trousers
And he lives in a council flat.
He looks a proper nana
In his great big hobnail boots,
He’s got such a job to pull them up
That he calls ’em daisy roots.
Some folks give tips at Christmas,
And some of them forget,
So when he picks their bins up
He spills some on the step.
Now one old man got nasty
And to the council wrote,
Next time my old man went round there
He punched him up the throat.
Oh my old man’s a dustman,
He wears a dustman’s hat,
He wears cor-blimey trousers
And he lives in a council flat.
Lonnie: I say, I say, Les.
Les: Yes?
Lonnie: I, er, I found a police dog in my dustbin.
Les: Well how do you do know he’s a police dog?
Lonnie: He had a policeman with him.
Though my old man’s a dustman,
He’s got an ‘eart of gold,
He got married recently
Though he’s eighty-six years old.
We said “‘Ere, hang on, Dad,
You’re getting past your prime”;
He said “Well, when you get to my age
It helps to pass the time.”
Oi! My old man’s a dustman,
He wears a dustman’s hat,
He wears cor-blimey trousers
And he lives in a council flat.
Lonnie: I say, I say, I say!
Les: Huh?
Lonnie: My dustbin’s full of lilies.
Les: Well throw ’em away then!
Lonnie: I can’t: Lily’s wearing them.
Now one day whilst in a hurry,
He missed a lady’s bin:
He hadn’t gone but a few yards
When she chased after him.
“What game do you think you’re playing?”
She cried right from the ‘eart,
“You’ve missed me, am I too late?”
“No, jump up on the cart!”
Oi! My old man’s a dustman,
He wears a dustman’s hat,
He wears cor-blimey trousers
And he lives in a council flat.
Lonnie: I say, I say, I say!
Les: Not you again!
Lonnie: My dustbin’s absolutely full with toadstools.
Les: How do you know it’s full?
Lonnie: ‘Cos there’s not mushroom inside.
He found a tiger’s head one day
Nailed to a piece of wood
The tiger looked like miserable,
But I suppose he should.
Just then from out a window
A voice began to wail,
It said “Oi! Where’s me tiger’s head?”
“Four foot from his tail.”
Oh my old man’s a dustman,
He wears a dustman’s hat,
He wears cor-blimey trousers
And he lives in a council flat.
Next time you see a dustman
Looking all pale and sad,
Don’t kick him in the dustbin:
It might be my old dad.
Hơn sáu mươi năm trước, Nguyễn văn Cổn có bài thơ Nước tôi, thể song thất lục bát, trừ hai khổ mở đầu và kết luận, còn lại mỗi khổ bốn câu nói về một nhân vật quan trọng trong lịch sử hay một di tích, thắng cảnh nổi tiếng đã đi vào văn học nghệ thuật nước nhà. Đoạn ca ngợi Đinh Tiên Hoàng và Lê Đại Hành như sau:
… Ngọn cờ lau mở thời vương bá Động Hoa Lư dấu đá chưa mờ Nước non có tự bao giờ? Đinh Tiên Hoàng dựng cõi bờ mấy phương? Quân nhà Tống tìm đường chiếm cứ Lê Đại Hành chống giữ giang sơn Tranh phong những trận mê hồn Quân thù khiếp sợ dám còn vãng lai…
Hôm ấy, chúng tôi từ Ngọc Lặc, Lam Kinh xuống Hoa Lư. May mắn là thời tiết đổi thay, trời mùa đông đang se lạnh bỗng nhiên ấm áp. Trong khi tâm trí tôi nhẩm lại mấy câu thơ trên thì mơ hồ văng vẳng như có tiếng ai hát:“Anh hùng xưa nhớ hồi là hồi niên thiếu. Dấy binh lấy lau làm cờ…”. Thế hệ chúng tôi là học trò và thế hệ học trò của chúng tôi bài hát này được phổ biến rộng rãi, thường là bài hát chính thức của các Liên đội mang tên Đinh Bộ Lĩnh, đứng nghiêm hát khi vừa vào lớp, sau đó là hiệu lịnh “Học sinh ngồi!”. Chúng-tôi-học-trò và học-trò-chúng-tôi thường thích thú khi đóng vai Đinh Bộ Lĩnh:
Khác thường từ thuở còn thơ. Rủ đoàn mục thụ mở cờ bông lau
để rồi:
Hiệu xưng Vạn Thắng anh hùng ai qua. Bốn phương thu lại một nhà. Mười hai sứ tướng đều là quét thanh”
(Đại Nam quốc sử diễn ca).
Cái đẹp của vị anh hùng niên thiếu này là cái đẹp đơn giản trong không gian hoành tráng và tinh thần tự tại, lồng lộng nắng gió…trên đồi rộng, dưới trời cao…dễ khiến lòng ta say sưa. Ai lúc tuổi thơ chưa có một lần say sưa cùng Đinh Bộ Lĩnh hãy thử xem lại: Có phải là thiếu sót không?
Trên đường rẽ vào đền hai vua Đinh – Lê bên trái là núi Yên Ngựa. Mộ vua Đinh trên đó. Chúng tôi rất tiếc là không trèo lên được, đành đứng ngước nhìn, cũng như lúc ở Thanh Hóa đứng bên quốc lộ nhìn mộ Bà Triệu tận lưng chừng ngọn núi cao. Khung cảnh Hoa Lư trông thật rực rỡ. Từ những ngọn cỏ dưới chân đến những tàn cây trên đỉnh đồi tròn đều cùng màu xanh và điểm thêm chút vàng để giống như màu lá mạ, chỗ này mạ non, chỗ kia mạ già. Hoa Lư có cái thế đắc địa xứng đáng với 42 năm là kinh đô nước Đại Cồ Việt trẻ trung, tiếp nối và xây dựng căn bản vững chắc cho thời đại tự chủ do Ngô Quyền mở đầu (chỉ có sáu năm, còn lại là cát cứ tao loạn). Hoa Lư xinh xinh như “mộng ban đầu”, như “tuổi đôi mươi”… để khi đất nước vào độ trưởng thành già dặn dưới thời vua Lý Thái Tổ có một Thăng Long ngàn năm văn vật.
Đền thờ vua Đinh ở làng Trường Yên Thượng.
Trường Yên đầu dựng đô thành. Cải nguyên là hiệu Thái Bình từ đây
(Đại Nam quốc sử diễn ca).
Cổng ngoài (Ngọ môn quan) có ba gian lợp ngói, mặt trong cổng ghi bốn chữ “Tiền triều phụng khuyết”. Qua một sân ngắn vào đến cổng trong (Nghi môn) với bốn trụ biểu, hai trụ bên ngoài cao hơn hai trụ bên trong, hai bên là cây cao bóng mát, là hồ sen. Hết chính đạo đến sân rồng, giữa sân có một long sàng bằng đá xung quanh chạm nổi. Nhưng tôi thích nhất là hai con nghê bằng đá xanh nguyên khối, tác giả đã tạo cho nó bộ mặt rất vui, không trịnh trọng như rồng, không đài các như phụng, nó có vẻ thật hồn nhiên, thật dễ thương, như tuổi thơ của chúng ta, của mọi người – trong đó có cả Đinh Tiên Hoàng đế.
Bái đường năm gian, bàn giữa thờ vua Đinh. Một bên là tượng Đinh Liễn quay mặt về nam, một bên là Đinh Toàn và Hạng Lang quay mặt về bắc. Tượng đồng vua Đinh với chòm râu dài và thưa. Tôi mong tìm thấy ở một bên tường hay đâu đó…nếu có bức tranh hay cụm tượng cờ lau tập trận thì sẽ hay hơn biết bao!
Đền thờ vua Lê cách đây khoảng nửa cây số, thuộc làng Trường Yên Hạ, nhìn xuống sông Hoàng Long, có núi Đèn trước mặt, núi Đìa sau lưng. Kiến trúc cũng tương tự: gian nhà dài, trụ biểu, vườn hoa, cây cỏ, hai dãy nhà vọng, non bộ “Phượng ấp” và non bộ “Long mã”. Cổng vào đề chữ Trường Xuân linh tích. Ở sân rồng gần gian giữa của bái đường cũng có long sàng bằng đá. Tượng Thái hậu Dương Vân Nga bên trái tượng vua Lê, bên phải là tượng Lê Long Đĩnh. Đệ nhất công thần Phạm Cự Lượng thờ ở tòa Thiêu hương.
Nhớ lại lời các tác giả Đại Nam quốc sử diễn ca nói về vua Đinh:
Nội đình năm vị nữ quân. Nặng tình kiêm ái quên phần di mưu
mới thấy rằng Dương Vân Nga thật có phúc. Bốn vị nữ quân kia tên tuổi, số phận thế nào…chắc không ai biết. Để qua một bên những lời xưa nay khen chê phần nhiều đánh giá Dương Thái hậu qua địa vị, để qua một bên chuyện chính sự và chuyện miệng đời, cái hơn người của bà là đã yêu và được yêu bởi hai bậc anh hùng vĩ đại. Trong lịch sử nước ta bà là người duy nhất có hai đời chồng làm vua. Hai ông vua đều sáng danh. (Chuyện bà Ngọc Bình chỉ là chuyện kể, hơn nữa bà Ngọc Bình không thấy sử sách ghi “danh phận”).
Điều khác nhau giữa hai đền thờ là đền vua Đinh có tượng đôi rồng chầu trên nóc, đền vua Lê thì không. Người chủ trương việc này suy nghĩ thế nào mà cho xây dựng như vậy? Lê Đại Hành Hoàng đế cũng là một vị vua, tuy rằng nối nghiệp Đinh Tiên Hoàng đế nhưng vẫn có chiến tích lẫy lừng, công lao chống ngoại xâm phương Bắc và tạo dựng uy thế với lân quốc phương Nam, đâu kém công lao trừ nội loạn? Lời Phạm Ngự Lượng khi tôn phò (theo sử chép) thiết tưởng đã đánh giá đúng về con người Đại Hành.
Rời Hoa Lư, một lần nữa ngẩng trông núi Yên Ngựa, riêng tôi một lần nữa nhớ đến bài hát Anh hùng xưa, thêm vào đó “Với tiếng gió Hoa Lư ơi, với tiếng gió Hoa Lư ơi…”. Quả thật trời Hoa Lư đang đầy ắp mênh mang nắng và gió…
Một người vợ trẻ bị bệnh và gần chết. “Em yêu anh quá,” nàng nói với chồng, “Em không muốn rời anh. Đừng bỏ em mà theo một người đàn bà nào khác. Nếu anh theo người khác, em sẽ làm ma trở về và hành anh mãi.”
Sau đó không lâu người vợ qua đời. Anh chồng giữ lời ước cuối cùng của vợ được 3 tháng đầu, nhưng anh gặp một người phụ nữ khác và yêu cô. Họ đính hôn để chuẩn bị kết hôn.
Ngay sau khi đính hôn một con ma hiện ra hàng đêm với anh chồng, phàn nàn là anh không giữ lời hứa. Con ma này lại rất tinh khôn. Nàng ta biết nói cho anh chồng biết chuyện gì đã xảy ra giữa anh chồng và cô người yêu mới. Khi nào anh ta cho hôn thê một món quà, con ma cũng tả được từng chi tiết của món quà. Con ma còn lập lại các cuộc nói chuyện, và việc này làm anh chồng bức xúc đến nỗi không ngủ được. Có người khuyên anh kể sự việc cho một thiền sư ở gần làng. Cuối cùng, tuyệt vọng quá, anh chàng tội nghiệp này đành đến gặp thiền sư nhờ giúp đở.
“Bà vợ cũ của anh thành ma và biết mọi chuyện anh biết,” thiền sư bàn luận. “Bất cứ điều gì anh làm hay nói, bất cứ cái gì anh tặng người yêu, bà ấy biết. Bà ấy phải là một con ma rất khôn ngoan. Thật là anh nên cảm phục một con ma như vậy. Lần tới khi bà ấy hiện ra, anh điều đình với bà ấy. Nói với bà ấy rằng bà ấy biết quá nhiều và anh không thể dấu bà ấy điều gì, và nếu bà ấy có thể trả lời một câu hỏi của anh, anh hứa là sẽ hủy bỏ hôn ước và sống độc thân.”
“Tôi phải hỏi câu hỏi nào?” anh chồng thắc mắc.
Thiền sư trả lời: “Bốc một nắm đậu nành và hỏi bà ấy có bao nhiêu hạt đậu nành trong tay anh. Nếu bà ấy không trả lời được, thì bà ấy chỉ là một hình ảnh của óc tưởng tượng của anh và anh sẽ không còn rắc rối nữa.”
Ngày hôm sau, khi con ma hiện ra, anh chồng nịnh và nói bà biết hết mọi sự.
“Đúng vậy,” con ma nói, “và tôi biết anh đến gặp thiền sư hôm nay.”
“Và vì bà biết quá nhiều,” anh chồng yêu cầu, “nói cho tôi biết tôi đang nắm bao nhiêu hạt đậu nành trong bàn tay này!”
Chẳng còn con ma nào nữa để trả lời.
.
Bình:
• Thần thánh ma quỷ là do tâm ta phóng ra chứ chẳng phải ở ngoài tới. Chú ý câu đầu tiên thiền sư nói: “Bà vợ cũ của anh thành ma và biết mọi chuyện anh biết”. Tức là, chuyện gì mà anh không biết có thể là bà ta không biết.
• Thế thì, thần thánh ma quỷ là một hiện tượng tâm lý hay một hiện tượng tâm linh?
Khi hỏi câu này có nghĩa là ta đã ngầm nói rằng tâm lý và tâm linh là hai việc khác nhau. Nhưng, nếu bạn cầu nguyện cùng Phật Bà Quan Âm để được lành bệnh, và bạn được lành bệnh thì đó là tâm lý hay tâm linh?
Nếu bạn là người được chữa lành đó, có lẽ là bạn sẽ nói: “Tôi không cần biết đó là tâm lý hay tâm linh hay abcxzy. Tôi chỉ biết là tôi đã cầu nguyện và tôi đã được lành.”
Cho nên rất nhiều khi không cần thiết phải tách rời tâm lý và tâm linh. Người ta có thể nói: “Đó chỉ là tâm lý của riêng anh”. Và có thể nghe câu trả lời: “Có thể vậy, nhưng chính Phật Bà Quan Âm giúp tôi có được tâm lý đó.”
Đây là cốt tủy của tôn giáo và tâm linh cả nghìn năm nay, và có lẽ là cả nghìn năm nữa.
Vì vậy, chúng ta nên theo giải pháp thực tế thì hơn: “Khi ma quỷ hành ta thì ta phải trừ ma, như trong truyện này. Khi thần thánh có thể giúp người như trong “Bắt ông Phật đá” hay “Trong bàn tay định mệnh” thì ta nên quý trọng thần thánh thì hơn.” Và giải pháp này có thể hiểu là giải pháp tâm lý, hay giải pháp tâm linh, đều đúng.
(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.
The Subjugation of a Ghost
A young wife fell sick and was about to die. “I love you so much,” she told her husband, “I do not want to leave you. Do not go from me to any other woman. If you do, I will return as a ghost and cause you endless trouble.”
Soon the wife passed away. The husband respected her last wish for the first three months, but then he met another woman and fell in love with her. They became engaged to be married.
Immediately after the engagement a ghost appeared every night to the man, blaming him for not keeping his promise. The ghost was clever too. She told him exactly what has transpired between himself and his new sweetheart. Whenever he gave his fiancee a present, the ghost would describe it in detail. She would even repeat conversations, and it so annoyed the man that he could not sleep. Someone advised him to take his problem to a Zen master who lived close to the village. At length, in despair, the poor man went to him for help.
“Your former wife became a ghost and knows everything you do,” commented the master. “Whatever you do or say, whatever you give you beloved, she knows. She must be a very wise ghost. Really you should admire such a ghost. The next time she appears, bargain with her. Tell her that she knows so much you can hide nothing from her, and that if she will answer you one question, you promise to break your engagement and remain single.”
“What is the question I must ask her?” inquired the man.
The master replied: “Take a large handful of soy beans and ask her exactly how many beans you hold in your hand. If she cannot tell you, you will know she is only a figment of your imagination and will trouble you no longer.”
The next night, when the ghost appeared the man flattered her and told her that she knew everything.
“Indeed,” replied the ghost, “and I know you went to see that Zen master today.”
“And since you know so much,” demanded the man, “tell me how many beans I hold in this hand!”
There was no longer any ghost to answer the question.
Chẳng lâu lắm ta sẽ chợt nhận ra là tuổi trẻ vụt qua mau và sức khỏe của ta đâu còn nhiều nữa. Ta thấy sự quan trọng của tuổi trẻ, của thời gian và cơ hội đến nhường nào.
Mình còn nhớ từ năm thứ hai đại học mình bắt đầu tiếc vì hồi cấp 3 và năm thứ nhất đại học mình học tiếng Anh dở quá, không đâu vào đâu. Năm này qua năm khác nếu vốn tiếng Anh không được trau dồi sẽ quên hết. Mình cũng ngắm các bạn cùng lứa đi nước ngoài lòng ao ước. Thế là lao vào học tiếng Anh từ đó. Vẫn chưa muộn lắm. Mình còn nhớ lời một chị học cùng lớp mình. Chị bảo: “Độ tuổi năm thứ 2, thứ 3 đại học sức tiếp thu rất tốt, trí óc lúc đó rất tuyệt, mai sau sẽ chậm lại”. Mình kiên trì học tiếng Anh và đã xin học bổng du học được ở nước ngoài sau đó mấy năm.
Đó, như một đường đua nước rút vậy. Sống, như thể ngày mai ta sẽ chết, như thể ta biết ta sẽ chết trong vài ngày nữa. 🙂 Sau quá trình học tập ở trường, ta cũng sống như thế nhưng cho các mục tiêu khác nhau mà thôi. Thực hiện một lý tưởng? Làm một dự án gì đó có ích cho cộng đồng 3o hay 50 năm sau?
Bài hát “Live Like You Were Dying” của nghệ sĩ Tim McGraw nói về cảm xúc đó. Đó là khi nhân vật trong bài hát nhận được tấm phim chụp về bệnh tình hiểm nghèo của anh ta. Đó như một tiếng chuông cảnh tỉnh về sự hệ trọng của cuộc sống.
“Live Like You Were Dying” trong album cùng tên đứng thứ nhất trong Billboard Hot Country trong bẩy tuần liền và sau đó đứng thứ 29 trong Billboard Hot 100. Bài hát này cũng đạt giải Grammy cho Best Male Country Vocal Performance.
Sau đây mời các bạn nghe bài hát Live Like You Were Dying” do Tim McGraw trình diễn do một bạn thiết kết cho lớp học Creative Writing. Một bạn học sinh suy nghĩ nghiêm túc về cuộc sống đã liệt kê ra 20 điều bạn ấy muốn làm trước khi tạm biệt thế giới 🙂
Bạn muốn làm 20 điều gì trước khi bay đi?
Chúc các bạn một ngày làm việc nhiệt huyết,
Hiển.
Live Like You Were Dying by Tim McGraw, a project for Creative Writing class.
Live Like You Were Dying
Artist: McGraw Tim
He said: “I was in my early forties,
“With a lot of life before me,
“An’ a moment came that stopped me on a dime.
“I spent most of the next days,
“Looking at the x-rays,
“An’ talking ’bout the options an’ talkin’ ‘bout sweet time.”
I asked him when it sank in,
That this might really be the real end?
How’s it hit you when you get that kind of news?
Man whatcha do?
An’ he said: “I went sky diving, I went rocky mountain climbing,
“I went two point seven seconds on a bull named Fu Man Chu.
“And I loved deeper and I spoke sweeter,
“And I gave forgiveness I’d been denying.”
An’ he said: “Some day, I hope you get the chance,
“To live like you were dyin’.”
He said “I was finally the husband,
“That most the time I wasn’t.
“An’ I became a friend a friend would like to have.
“And all of a sudden goin’ fishin’,
“Wasn’t such an imposition,
“And I went three times that year I lost my Dad.
“Well, I finally read the Good Book,
“And I took a good long hard look,
“At what I’d do if I could do it all again,
“And then:
“I went sky diving, I went rocky mountain climbing,
“I went two point seven seconds on a bull named Fu Man Chu.
“And I loved deeper and I spoke sweeter,
“And I gave forgiveness I’d been denying.”
An’ he said: “Some day, I hope you get the chance,
“To live like you were dyin’.”
Like tomorrow was a gift,
And you got eternity,
To think about what you’d do with it.
An’ what did you do with it?
An’ what can I do with it?
An’ what would I do with it?
“Sky diving, I went rocky mountain climbing,
“I went two point seven seconds on a bull named Fu Man Chu.
“And then I loved deeper and I spoke sweeter,
“And I watched Blue Eagle as it was flyin’.”
An’ he said: “Some day, I hope you get the chance,
“To live like you were dyin’.”
“To live like you were dyin’.”
“To live like you were dyin’.”
“To live like you were dyin’.”
“To live like you were dyin’.”
“Bạn làm gì khi mọi chuyện hỏng hết?” Bạch Tuyết hỏi. Và các chú chim trả lời “Hát một bài.” 🙂 Tuyệt vời! Các thiền sư phải tu tập 30 năm mới trả lời được điều các chú chim nhỏ làm hàng ngày. “Khi em lo lắng em vẫn líu lo ca hát như mọi ngày.”
Với nụ nười và một bài ca, ngày sẽ ngập tràn ánh nắng và mọi lo lắng sẽ tan đi.
Với nụ cười và một bải ca
Cuộc đời sáng như ngày đầy nắng
Mọi lo lắng phai đi
Và quả tim rất trẻ
Với nụ cười và một bài ca
Cả thế giới hình như mới lại
Sướng vui cùng bạn
Khi bài ca vang lên
Chẳng ích gì mà càu nhàu
Khi mưa ồ ạt đổ
Hãy nhớ, bạn là người
Có thể đem ánh nắng tràn đầy thế giới
Khi bạn cười và hát
Tất cả mọi thứ hòa điệu và xuân đến
Và cuộc đời trôi bình thản
Với nụ cười và một bài ca
TĐH dịch
With a smile and a song
Life is just a bright sunny day
Your cares fade away
And your heart is young
With a smile and a song
All the world seems to waken anew
Rejoicing with you
As the song is sung
There’s no use in grumbling
When the raindrops come tumbling
Remember, you’re the one
Who can fill the world with sunshine
When you smile and you sing
Everything is in tune and it’s spring
And life flows along
With a smile and a song
Mời các bạn nghe Bạch Tuyết hát bài With a Smile and a Song.
Một ngày nọ Gasan giảng cho các đệ tử: “Những người khuyên không sát sinh và muốn tha mạng cho mọi sinh linh đều đúng. Bảo vệ ngay cả thú vật và côn trùng là điều thiện. Nhưng những người giết thời gian thì sao, hay những người hủy hoại tài sản, và những người phá hoại nền kinh tế chính trị? Chúng ta không bỏ qua được. Hơn nữa, người thuyết giảng mà không giác ngộ thì sao? Hắn đang giết Phật pháp.”
.
Bình:
Đây là tránh nhiệm của người Phật tử trước những vấn đề liên hệ đến xã hội mình đang sống. Đây là câu trả lời rõ ràng nhất cho những người nghĩ rằng phật pháp chỉ là để cho các bà già ngồi gõ mõ tụng kinh trong nhà, và không quan tâm gì đến mọi bất công phá hoại đang xảy ra trong xã hội của ta, và những người nghèo khổ yếu đuối và cô thế quanh ta.
Kinh Pháp Cú, đoạn 183, tóm tắt lời tất cả chư Phật đều dạy: “Không làm điều ác, làm điều lành, và giữ tâm thanh tịnh.”
Không làm các điều ác là không nhúng tay vào áp bức, bất công, tham nhũng, phá hoại Phật pháp.
Nhưng thấy áp bức, bất công, tham nhũng, phá hoại Phật pháp trước mắt, thì “làm điều thiện” không phải là chống các hành động này bằng các cách trong tầm tay mình hay sao? Ít ra cũng nói lên một câu, dạy người nhà một tiếng. Không thể sống như là “không nghe, không thấy, không biết” được.
Điều kiện duy nhất để cái ác thắng toàn thế giới là người thiện chẳng làm gì cả.
(Trần Đình Hoành bình)
.
Killing
Gasan instructed his adherents one day: “Those who speak against killing and who desire to spare the lives of all conscious beings are right. It is good to protect even animals and insects. But what about those persons who kill time, what about those who are destroying wealth, and those who destroy political economy? We should not overlook them. Furthermore, what of the one who preaches without enlightenment? He is killing Buddhism.”
“Sinh ra trên vùng đất mùa đông sương mù giăng kín, mùa hè vàng rực hoa dã quỳ, tiếng hát của Nguyên Thảo khi mới là cô bé 17 tuổi đã khiến cho không ít người ngạc nhiên. Giọng hát ấy có một sức hút kỳ lạ dẫu không qua trường lớp hay sự hướng dẫn nào, cô chỉ hát bằng tâm hồn mình.
Chọn dòng nhạc nhẹ với những bài hát trữ tình của nhạc sĩ Anh Quân, Dương Thụ, giọng ca Nguyên Thảo từng bước chiếm được cảm tình của khán giả tại các phòng trà… Mấy năm trước, Thảo rời quê đến thành phố sống bằng nghề ca sĩ hát đám cưới tại Nhà Văn hóa quận Tân Bình với cát-sê trị giá vài… tô phở. Không buồn với số phận là dân tỉnh lẻ, Nguyên Thảo đến tụ điểm Vọng Các ở chân cầu chữ Y xin việc.
Lâu dần thành quen, mọi người biết đến cô bé nhỏ người nhưng có giọng hát khỏe và cá tính này. Một lần, Thảo bạo dạn “lên đời” bằng cách xin hát ở phòng trà 047 Ngô Đức Kế. Từ đó cô đã thật sự bước vào nghề bằng tất cả nỗi đam mê của mình.
Không theo kiểu phô trương giọng dày, giọng khỏe, Thảo hát như để giải tỏa chính những tâm trạng của mình, diễn đạt tâm hồn mình, kể câu chuyện của mình. Giọng của cô cũng không hực lửa bên ngoài mà chinh phục người nghe bằng sức nặng nội tâm rất sâu…”
Bài này đã “Nếp ngày” gợi cho ta một cảm giác buồn man mác, bồi hồi, xao xuyến, tiếc nuối khi nhớ về những kỷ niệm xưa cũ. Bài này được các bạn học sinh, sinh viên yêu thích vì nó như nói thay tâm trạng của các bạn khi chia tay mái trường, chia tay thầy cô, bạn bè thân yêu. “Thời gian ơi sao cứ trôi như câu nói đùa theo chân bốn mùa. Và tôi ơi sao mắt cay khi tôi nhớ về kỷ niệm xa rất xa…”. Bài này có một phiên bản khác do Đoan Trang hát, nhưng tôi nghĩ rằng cách phối khí của phiên bản Nguyên Thảo hát, và giọng ca đầy cảm xúc của cô làm cho cái thần của bài hát được thể hiện rõ hơn.
Chiều nay, con đường xa vẫn bay về những góc trời
Dòng sông cũng bay và tôi cũng bay những sợi tóc.
Thời gian, những ngụ ngôn rất xưa còn trong nỗi niềm
Buồn vui kéo nhau từ trong chiếc nôi bước đi về tháng năm
Thời gian ơi sao cứ trôi như câu nói đùa theo chân bốn mùa
Và tôi ơi sao mắt cay khi tôi nhớ về kỷ niệm xa rất xa
Thời gian ơi sao vẫn còn mang bao bóng người bay đi cuối trời
Và tôi ơi tôi nhớ gì khi tôi sắp quên người thân tôi trong gió.
Chiều nay, con đường xa vẫn bay về những góc trời
Dòng sông cũng bay và tôi cũng bay những sợi tóc.
Thời gian, những ngụ ngôn rất xưa còn trong nỗi niềm
Buồn vui kéo nhau từ trong chiếc nôi bước đi về tháng năm
Thời gian ơi sao cứ trôi như câu nói đùa theo chân bốn mùa
Và tôi ơi sao mắt cay khi tôi nhớ về kỷ niệm xa rất xa
Thời gian ơi sao vẫn còn mang bao bóng người bay đi cuối trời
Và tôi ơi tôi nhớ gì khi tôi sắp quên người thân tôi trong gió.
Lại từng tờ lịch rơi, lại một giấc mơ bay qua mái nhà
Lại từng vòng tròn xoay đồng hồ vẫn quay qua bao nếp ngày
Kìa một tờ lịch bay, cồn cào nhiều cơn gió…
Thời gian ơi sao cứ trôi như câu nói đùa theo chân bốn mùa
Và tôi ơi sao mắt cay khi tôi nhớ về kỷ niệm xa rất xa …
Thời gian ơi sao vẫn còn mang bao bóng người bay đi cuối trời
Và tôi ơi tôi nhớ gì khi tôi sắp quên người thân tôi trong gió ….
Thời gian ơi sao cứ trôi như câu nói đùa theo chân bốn mùa
Và tôi ơi sao mắt cay khi tôi nhớ về kỷ niệm xa rất xa …
Thời gian ơi sao vẫn còn mang bao bóng người bay đi cuối trời
Và tôi ơi tôi nhớ gì khi tôi sắp quên người thân tôi trong gió ….
Nghe Nguyên Thảo hát “Thời gian để yêu”, tự dưng lại muốn yêu thương nhiều hơn. Chất jazz tung tẩy, giọng hát bay bổng, lời ca đầy cảm hứng. Hãy “Chậm lại nhịp sống để ta lắng nghe, Ồ những giọt sương nhỏ reo hát mùa thu. Kìa quanh ta biết bao cuộc sống nhỏ”. Hãy yêu nhau đi, vì “Giờ đã là lúc mà thời gian để yêu. Giờ là lúc sống giấc mơ đời mình”
Nhiều khi em muốn chào ra đi thật xa lắng lo mỗi ngày
Chào những nghĩ suy gọi tên ta ngược xuôi chuyến xe cuộc đời
Có phải con đường cần mang những chuyến đi
Có phải tâm hồn rộng lớn khi ưu phiền, hmm hmm hmm
Nhiều khi em thấy còn bao nhiêu niềm vui lãng quên bé nhỏ
Ngày ta mới yêu chỉ mong sao thời gian mãi luôn bên nhau
Ngôi nhà ta ở hay chiếc áo ta mang
Đôi lần ta chỉ hạnh phúc vì ngọt nắng thu sang
Muốn mang đến mình những bông hoa tươi trái tim
Nguyên khôi và một cuộc sống thơ mộng
Chậm lại nhịp sống để ta lắng nghe
Ồ những giọt sương nhỏ reo hát mùa thu
Kìa quanh ta biết bao , hmm , na na na na , cuộc sống nhỏ
Muốn nghe tiếng cười tháng năm vui tươi
Ngỡ đâu những gì mỏi mòn tìm kiếm suốt đời
Chậm lại nhịp sống để ta đón lấy
Giờ đã là lúc mà thời gian để yêu
Giờ là lúc sống giấc mơ đời mình
“Những khung trời khác” là lời thủ thỉ, tâm tình của một cô gái đang yêu. Ta có thể cảm nhận được tình cảm rất đỗi trong sáng, hồn nhiên và dễ thương của cô gái dành cho chàng trai. Những suy nghĩ rất chân thực “Thích từng suy nghĩ trong anh về cuộc sống, từng nơi chốn anh hay ghé lại”, “Thích từng giờ phút yêu nhau khi gần nhau, vòng tay ấm cho em mơ màng, niềm vui cách anh kể nghe, buồn lo cách anh thở than”, “Thích được làm dáng cho anh ngợi khen, này áo mới với môi son phớt nhẹ”. Để rồi cô phải thốt lên : “Ngoài đường phố đông người qua, cả những chuyến xe gần xa. Bừng trong nắng xanh xanh. Ơi một ngày rất tuyệt vời !”. Một tình yêu nhẹ nhàng nhưng không kém phần dữ dội, sâu sắc.
Ban mai về trong tiếng chim hót
Những tiếng động vi vút sâu lắng
Nhìn ra mái hiên vắng nhìn những đám mây xám
Ngoài kia có tiếng anh trên con đường ướt lạnh
Thích những ngày mưa có anh tới
Thích những bình minh đón anh tới
Cùng bên ly cà phê cùng xem cuốn phim mới
Gọi mừng tia nắng xanh xuyên qua khung trời vô tận
Thích từng suy nghĩ trong anh về cuộc sống
Từng nơi chốn anh hay ghé lại
Người quen cách anh cười nói bạn thân cách anh đùa vui
Và em cách anh vẫn nhìn em đắm đuối
Thích lời yêu dấu anh hay thường quên
Mà đôi lúc đến bên em anh nhắc lại
Bình minh có anh ở bên
Ngày mưa có anh gần bên
Thời gian cứ trôi đi, ơi mọi điều rất tuyệt vời
Ban mai về trong tiếng chim hót
Những sáng ngày mưa rất thanh vắng
Một khi anh đổi thay rồi em cũng buồn lây
Vì đâu tới sớm nay anh vẫn còn nơi đây
Thích giữ lòng yêu mãi phơi phới
Thích mối tình ta vẫn tươi mới
Cuộc sống cứ đổi thay, đời ta cũng đổi thay
Tình yêu ta vẫn đây trao nhau như vừa bắt đầu
Thích từng giờ phút yêu nhau khi gần nhau
Vòng tay ấm cho em mơ màng
Niềm vui cách anh kể nghe, buồn lo cách anh thở than
TÌnh anh vẫn say nơi nụ hôn dịu êm
Thích được làm dáng cho anh ngợi khen
Này áo mơi với môi son phớt nhẹ
Ngoài đường phố đông người qua
Cả những chuyến xe gần xa
Bừng trong nắng xanh xanh
Ơi một ngày rất tuyệt vời
Một bài hát rất quen thuộc của nhạc sỹ Phạm Duy, và từng được rất nhiều ca sỹ kỳ cựu trình bày như Tuấn Ngọc, Elvis Phương, Mỹ Linh, Khánh Ngọc…, nhưng qua giọng ca Nguyên Thảo, bài hát như được thổi vào một sinh khí mới. Giọng ca trong vắt, tinh khôi của Nguyên Thảo như đưa ta lên đồi cỏ hồng, cùng hòa mình vào không khí tươi tắn, xanh mướt của đồi cỏ. Giai điệu êm ái như những thảm cỏ, khiến ta chỉ muốn nhắm mắt, và cùng hòa quyện vào thiên nhiên, ngửi mùi cỏ thơm, để cảm nhận hết những lời ca đẹp kia.
Rước em lên đồi cỏ hoang ngập lối
Rước em lên đồi hẹn với bình minh
Đôi chân xinh xinh như tình thôi khép nép
Hãy vứt chiếc dép bước đi ôm cỏ mềm
Đồi êm êm, cỏ im im ngủ yên yên, mộng ước rất hiền …
Giọt sương đêm còn trinh nguyên nằm mê man chờ nằng sớm lên …
Rước em lên đồi tiên…
Đồi nghiêng ngiêng, cỏ lóng lánh, rồi rung rinh bừng thoát giấc lành
Trời mong manh, đồi thênh thênh, cỏ chênh vênh chờ đôi nhân tình
Rước em lên đồi xanh, rước em lên đồi trinh
Cùng nhau lên núi cao thanh bình
Cỏ non phơn phớt ôm chân mình …
Mời em rũ áo nơi đô thành, cùng ta lên núi cao thênh thênh …
Em ơi đây con đồi dài, như bao nhiêu mộng đời
Nghiêng nghiêng nghe mặt trời yêu đương
Níu em lên đồi cỏ thơm mùi sữa
Níu em yêu ngồi trên bãi cỏ thơm
Giương đôi tay ôm thân tròn ơn mưa móc
Hãy xoã mái tóc rũ trên vai anh mòn …
Đồi quen quen, cỏ ngoan ngoan
Tưởng mơn man làn tóc rối mềm
Rồi nghe thêm lời van xin từ trong tim hoặc dưới suối tiên …
Ngã em trên cỏ hoang …
Trời trong em, đồi choáng váng, rồi run lên cùng gió bốn miền …
Cỏ không tên, nằm thênh thang, rồi vươn lên vì ta yêu nàng …
Hỡi ôi con đồi ngoan ….
Hỡi ôi cỏ hồng hoang ….
Cỏ xanh đôi dắt theo nhân tình
Mặt trời cũng đứng soi tia lành
Cỏ hoang xao xuyến trên ngọn ngành
Đỏ như trong giấc mơ lung linh
Em ngoan như tình nồng
Em bao la mịt mùng
Em thơm như cỏ hồng, em ơi …
Nếu bạn biết rằng Nguyên Thảo đã trải qua một tuổi thơ khắc nghiệt thế nào, bạn sẽ hiểu hơn khi nghe Nguyên Thảo hát bài hát này. Mất mẹ từ năm 7 tuổi, đau đớn thay chính cha cô đã gây ra oan nghiệt ấy. Cha đi tù, sống với dì, tuổi thơ của Nguyên Thảo gần như bị tước đoạt. Cô tâm sự : “Tôi im lặng với buồn đau suốt một chặng đời và mang theo nó trên những bước đường. Gặp khó khăn, trắc trở gì tôi cũng lầm lì chịu đựng. Tôi như bao người khác, cũng yếu đuối, có lúc muốn gục vào bờ vai mẹ nhưng mọi thứ đã qua để lại một khoảng trống quá sâu nên tự tôi tựa vào chính mình thôi.”….
Lặng nghe tiếng mưa phùn rơi
Ngoài dốc phố không bóng người
Đêm trắng đêm mình con thôi
Mưa tiếng mưa ngày xưa ấy
Mẹ vẫn hát những ngày mưa
À ơi cất lên tiếng ru
Những ước mong thật ngây thơ
Mãi mãi trong vòng tay của mẹ
Những ngày tháng Tư trời mưa buồn ngày xa vắng
Không còn, đã không còn có mẹ để yêu thương
Mưa phùn, tiếng mưa phùn rất nhẹ lòng thương nhớ
Mơ về tiếng ru để có mẹ ngồi bên con
Còn rất nhiều ca khúc hay do Nguyên Thảo trình bày, bạn hãy tìm hiểu để biết thêm về cô ca sỹ trẻ tài năng và đầy nghị lực này nhé.
Một Hiệp Sĩ Đạo thượng thừa tên Nobunaga quyết định tấn công quân địch dù quân số của ông chỉ bằng một phần mười số quân bên địch. Ông biết rằng ông sẽ thắng, nhưng quân của ông thì rất nghi ngại.
Trên đường đi ông ghé vào một đền thờ Thần đạo và nói với lính của của ông: “Sau khi ta viếng đền ta sẽ thẩy đồng bạc cắc. Nếu là đầu, chúng ta sẽ thắng; nếu là đuôi, chúng ta thua. Định mệnh nắm chúng ta trong tay ngài.”
Nobunaga vào đền thờ và cầu nguyện thầm lặng. Rồi ông bước ra và thẩy đồng bạc. Đầu hiện ra. Lính của ông hăng chiến đấu đến mức họ thắng trận chiến thật dễ dàng.
“Không ai có thể thay đổi bàn tay định mệnh,” người hầu cận của Nobunaga nói với ông sau cuộc chiến.
“Đúng vậy, không ai có thể,” Nobunhaga nói, cho anh hầu cận thấy đồng bạc cắc với cả hai mặt đều là “đầu”.
.
Bình:
• Tất cả các hình thức lễ bài thần thánh chung qui cũng chỉ là các hiện tượng tâm lý cho con người. Định mệnh của ta nằm trong ý chí của ta, dù ta biết điều đó hay không.
Kinh Pháp Cú mở đầu: “Tâm dẫn đầu các pháp, tâm làm chủ, tâm tạo.”
(Trần Đình Hoành bình)
.
In the Hands of Destiny
A great Japanese warrior named Nobunaga decided to attack the enemy although he had only one-tenth the number of men the opposition commanded. He knew that he would win, but his soldiers were in doubt.
On the way he stopped at a Shinto shrine and told his men: “After I visit the shrine I will toss a coin. If heads comes, we will win; if tails, we will lose. Destiny holds us in her hand.”
Nobunaga entered the shrine and offered a silent prayer. He came forth and tossed a coin. Heads appeared. His soldiers were so eager to fight that they won their battle easily.
“No one can change the hand of destiny,” his attendant told him after the battle.
“Indeed not,” said Nobunaga, showing a coin which had been doubled, with heads facing either way.
Hẳn các bạn chưa quên được bộ phim Camp Rock đã chiếu trên kênh Disney Chanel với 2 diễn viên chính nổi bật là Demi Lovato xinh đẹp và chàng Joe Jonas đẹp trai, bộ phim kết thúc với bài hát rất cuồng nhiệt và mang cả linh hồn tình yêu trong sáng “This is me”.
Giới thiệu Film: Mitchie, một cô bé với niềm đam mê âm nhạc muốn trải qua ky nghỉ hè của mình tại Trại Rock, nhưng cô chỉ được tham gia trại hè với tư cách là một cô bé phụ bếp. Trong một lúc tình cờ, anh chàng hoàng tử nổi tiếng nhất trại hè, Shane Gray, nghe được giọng hát của Mitchie và từ lúc đó, chàng ta dường như đã yêu chủ nhân của giọng hát đó và không ngần ngại, Shane tìm đủ mọi cách đễ tìm cho bằng được cô gái với giọng hát đầy ngọt ngào kia.
Cô phụ bếp do Demi Lovato đóng cũng thầm yêu giọng hát của chàng ca sĩ nổi tiếng, cô cũng là nguồn cảm hứng cho chất Rock trữ tình và ngọt ngào của chàng hoàng tử.
Cuối phim đó là bài hát của cô bé với đầy tâm huyết muốn khẳng định mình trong sự nghiệp đam mê cháy bỏng, cũng chính bài hát đó – chàng hoàng tử dường như cùng nhịp đập trái tim, cảm nhận được dòng suối âm nhạc hòa chung cùng bài hát “This is me”.
Mời các bạn thưởng thức bài hát “This is me” và dị bản tiếng Spanish là “Lo que soy.”
1. This is me (lấy từ trong phim)
2. Lo que soy
Lyric: This is me!!!
I’ve always been the kind of girl
That hid my face
So afraid to tell the world
What I’ve got to say
But I have this dream
Right inside of me
I’m gonna let it show, it’s time
To let you know
This is real, this is me
I’m exactly where I’m supposed to be, now
Gonna let the light, shine on me
Now I’ve found, who I am
There’s no way to hold it in
No more hiding who I want to be
This is me
Do you know what it’s like
To feel so in the dark
To dream about a life
Where you’re the shining star
Even though it seems
Like it’s too far away
I have to believe in myself
It’s the only way
This is real, This is me
I’m exactly where I’m supposed to be, now
Gonna let the light, shine on me
Now I’ve found, who I am
There’s no way to hold it in
No more hiding who I want to be
This is me
You’re the voice I hear inside my head
The reason that I’m singing
I need to find you, I gotta find you
You’re the missing piece I need
The song inside of me
I need to find you, I gotta find you
This is real, this is me
I’m exactly where I’m supposed to be, now
Gonna let the light, shine on me
Now I’ve found, who I am
There’s no way to hold it in
No more hiding who I want to be
This is me
You’re the missing piece I need
The song inside of me (this is me)
You’re the voice I hear inside my head
The reason that I’m singing
Now I’ve found, who I am
There’s no way to hold it in
No more hiding who I want to be
This is me
Mình vừa tìm thêm được một số bài thơ của thi sĩ Hữu Loan trên Net: Chuyện Tôi Về, Đèo Cả, Hoa Lúa, Đêm. Đăng lại đây để tưởng niệm một tâm hồn cương trực. Bài Màu Tím Hoa Sim đã đăng trong bài Nhà thơ Hữu Loan qua đời.
Chúc các bạn một ngày vui.
Mến,
Hoành
Chuyện Tôi Về
Chuyện Hữu Loan là chuyện
Một vạn chín trăm năm mươi ngày gấp hơn
mười lần chuyện Ba Tư
vô cùng căng thẳng
Giữa hai bên
một bên là chính quyền có
đủ thứ nhân dân
quân đội nhân dân
tòa án nhân dân
nhà tù nhân dân
và nhất là
cuồng tín nhân dân
thứ bản năng ăn sống
nuốt tươi
ăn lông ở lỗ nguyên thủy
được huy động đến
tột cùng
sẳn sàng hủy
cũng như tự hủy
một bên nữa là
một người tay không
với nguyện vọng
vô cùng thiết tha
được làm người lương thiện
nói thẳng
nói thật
bọn ác
bọn bịp
thì chỉ tên vạch mặt
người nhân thì
xin thờ
như Thuấn Nghiêu
Hữu Loan
Đèo cả
Núi cao vút
Mây trời Ai Lao
sầu
đại dương
Dặm về heo hút
Đá bia mù sương
Bên quán Hồng Quân
người
ngựa
mỏi
Nhìn dốc ngồi than
thương ai
lên đường
Chầy ngày
lạc
giữa suối
Sau lưng
suối vàng
xanh
tuôn
Dưới khe
bên suối độc
cheo leo
chòi canh
ven rừng hoang
Những người
đi
Nam Tiến
Dừng lại đây
giữa
đèo núi quê hương
Tóc tai
trùm
vai rộng
Không nhận ra
người làng
Rau khe
cơm vắt
áo
pha màu
sa trường
Ngày thâu
vượn hót
Đêm canh
gặp hùm
lang thang
Gian nan lòng không nhợt
Căm hờn trăm năm xa
Máu thiêng trôi dào dạt
Từ nguồn thiêng ông cha
Giặc
từ trong
tràn tới
Giặc
từ Vũng Rô
bắn qua
Đèo Cả
vẫn
giữ vững
Chân đèo
máu giặc
mấy lần
nắng khô
Sau mỗi trận thắng
Ngồi bên suối đánh cờ
Kẻ hái cam rừng ăn nheo mắt
Người vá áo thiếu kim mài sắt
Người đập mảnh chai vểnh cằm cạo râu
Suối mang
bóng người
Trôi những về đâu….
Hữu Loan
( 1947)
Hoa lúa
Em là con gái đồng xanh
Tóc dài vương hoa lúa
Đôi mắt em mang chân trời quê cũ
Giếng ngọt, cây đa
Anh khát tình quê ta trong mắt em thăm thẳm
Nhạc quê hương say đắm
Trong lời em từng lời
Tiếng quê hương muôn đời và tiếng em là một
Em ca giữa đồng xanh bát ngát
Anh nghe quê ta sống lại hội mùa
Có vật trụi, đánh đu, kéo hẹ, đánh cờ
Có dân ca quan họ
Trai thôn Thượng, gái thôn Đoài hai bên gặp gỡ
Cầm tay trao một miếng trầu
Yêu nhau cởi áo cho nhau
Về nhà dối mẹ qua cầu gió bay
Quê hương ta núi ngất, sông đầy
Bát ngát làng tre, ruộng lúa
Em gái quê hương mang hình ảnh quê hương
Xa em năm nhớ, gần em mười thương
Còn bàn tay em còn quê hương mãi
Em mang nguồn ân ái
Căng ngực trẻ hai mươi
Và trong mắt biếc nhìn anh
Em gái quê si tình
Chưa bao giờ được yêu đương trọn vẹn…
Anh yêu em muôn vàn như quê ta bất diệt
Quê hương ta ơi từ nay càng đẹp
Tình yêu ta ơi từ nay càng sâu
Ta đi đầu sát bên đầu
Mắt em thăm thẳm đựng màu quê hương.
Hữu Loan
(1955 – Tặng vợ, Phạm Thị Nhu)
Đêm
Những đêm Hà Nội ngày xưa
Trằn trọc
Không yên
Những cửa
Từ đầu hôm
Như những mắt nhắm nghiền
Bóng nhà bóng cây
Ôm nhau
Run sợ
Đêm Hà Nội ngày xưa
Như con bệnh hạ xoài
Nung mủ
Như một nhà thương điên
Lên cơn hôn mê
Thiết giáp
Xe tăng
Lính tẩy
Phòng Nhì.
Tiếng rú của người
Tiếng rít của xe
Những chiếc jeep điên
Đuổi gái
Nghiến người
Quắc mắt đèn pha
Đỏ tia đòng đọc
Đêm Hà Nội ngày xưa
Đầu người
Và tình yêu
Treo
Trên đầu sợi tóc
Và sau từng đêm
Mệt nhọc
Hốc hác
Hồ Gươm
Như mắt thâm quầng
Hốt hoảng gọi nhau
Không kịp vớ áo quần
Những đêm Hà Nội ngày xưa
Loã lồ
Mình đầy ung độc
Đã xuống tàu đêm
Vào Sài Gòn
Tất cả
Những đêm Sài Gòn
Ngày mai
Đêm giang mai
Tẩu mã
Đang mâng
Cấp cứu gấp vạn lần
Những đêm xưa Hà Nội
“10$ 1 cốc cà phê
100$ con gái…”
Quảng cáo đóng đầy
Ngực đêm
Như áo ngủ Sài Gòn
Đêm Hà Nội
Ngày nay
Như em nhỏ nằm tròn
Ru trong nôi chế độ
Những đèn dài đại lộ
Như những tràng hoa đêm
Nở long lanh
Trong giấc ngủ
Bình yên
Ngã Tư Sở, Cống Vọng, Khâm Thiên
Nằm ngủ
Những đêm
Giữa tình cảm lớn
Gió đêm về
Thơm hoa rừng, lúa ruộng
Đặt bàn tay
Lên những cửa ô nghèo
Khi chúng ta về
Ánh sáng
Đã về theo
Và từng cặp người yêu
Đem về trong giấc mơ
Hình ảnh hồ Gươm
Đẹp như hồ thần thoại
In bóng người yêu
Chung thuỷ
Đợi chờ.
Đất Đại La năm xưa vua Lý Công Uẩn dời đô nay đã gần tròn nghìn năm tuổi. Đã có bao thế hệ nhà thơ từng chắp bút viết về mảnh đất rồng bay này: từ những người con ở phương trời Nam cũng đã viết “Ai đi xứ Bắc ta đi với – Thăm lại non sông giống Lạc Hồng – Từ độ mang gươm đi mở cõi – Nghìn năm thương nhớ đất Thăng Long”, hay tình cảm của những người chiến sĩ năm xưa rời thủ đô đi chiến đấu “Người ra đi đầu không ngoảnh lại, sau lưng thềm nắng lá rơi đầy” đã trở thành hình ảnh bất tử trong mảng thơ văn dành riêng cho Hà Nội.
Hà Nội đó của ta ngàn năm tuổi vẫn đẹp. Cái đẹp mộc mạc và thanh bình, giản dị đấy mà vẫn làm đắm say biết bao lòng người. Vẻ đẹp đó len lỏi trong từng góc phố, núp trong từng gánh hàng rong, luẩn quẩn trong tà áo dài của các thiếu nữ Hà thành, vẻ đẹp đó hiện lên dũng mãnh khi Hà Nội từng bao lần rung chuyển chống lại sự xâm lược của kẻ thù. Con rồng Thăng Long năm xưa đã từng bay lên báo hiệu cho Vua nhà Lý đây là vùng đất “địa linh nhân kiệt”, đã từng bừng bừng khí thế trong “cơn lốc” cách mạng tháng 8, đã từng vùng đứng lên trong mùa đông năm 1946 theo lời bác, đã từng ầm ầm rung chuyển trong đau thương bom Mỹ năm 1972… và con rồng đó đã bay cao hơn nữa khi Việt Nam gia nhập WTO… Trải qua biết bao nhiêu thăng trầm của lịch sử, Hà Nội vẫn đứng vững vàng là thủ đô của một đất nước đang thuận đà phát triển. Hãnh diện lắm chứ, tự hào lắm chứ. Trong thời kì hội nhập hiện nay, bất lợi có không ít nhưng lợi thế cũng không phải là nhỏ, chúng ta đã và đang nỗ lực hết sức mình để tạo đà giúp con rồng Thăng Long bay cao hơn, xa hơn nữa.
Tháng 10 này, con rồng Thăng long tròn nghìn năm tuổi, một năm tuổi để tái sinh, một năm tuổi hứa hẹn nhiều điều mới mẻ hơn nữa. Bạn và tôi, chúng ta có thể làm một điều gì đó để góp phần kỉ niệm đại lễ 1000 năm này. Dù chúng ta có ở Việt Nam hay đang học tập và làm việc ở khắp các phương trời trên thế giới, chúng ta vẫn có thể làm được điều gì đó dù là nhỏ bé cũng được. Các members của “Đọt Chuối Non” (hay là người thân của members lại càng tốt) hãy cùng nhau viết những cảm nhận của mình về Hà Nội qua từng năm tháng thông qua những bài hát, những bài thơ từ xưa đến nay hoặc là những cảm xúc, suy nghĩ, tình cảm của mình để làm một món quà sinh nhật dành tặng thủ đô văn hiến.
Đừng ai e ngại là muộn, vì “better late than never” ^^, chúng ta đâu có thi đua với ai, chỉ là để bày tỏ tình cảm của mình với Hà Nội thôi mà. Chẳng cần vỗ ngực đi khắp nơi, “tôi yêu hà nội đây này”, chúng ta chỉ cần giữ hình ảnh thân thương của Hà Nội trong trái tim mình là đủ. Hà Nội hào hoa, Hà Nội hào hùng, Hà Nội đổi mới…Hà Nội của chúng ta
Sinh ra và lớn lên ở thủ đô ngàn năm văn hiến, như một lẽ tự nhiên, tôi yêu Hà Nội. Tôi cũng chắc chắn là không chỉ có mình tôi mà đã có hàng ngàn, hàng vạn hàng triệu thế hệ người Hà Nội đã, đang và mãi yêu Hà Nội. Cho dù bạn là ai, bạn ở nơi đâu, bạn đang làm gì, bạn có phải người Việt Nam hay không, tôi tin chắc rằng dù nếu một khi bạn đã từng ở, hay từng gắn bó với nơi này, bạn cũng sẽ yêu Hà Nội như (hoặc thậm chí là yêu hơn) tôi yêu Hà Nội.
Hãy cùng tôi, chúng ta thực hiện “dự án NGHÌN NĂM” này nhé. Cảm ơn các bạn!
Mùa xuân đến cũng là mùa cây cỏ bắt đầu đâm chồi nảy lộc. Nắng ấm cũng nhiều hơn và ngày dài hơn.
Bắt đầu từ tháng 3 ở những vùng lạnh trên nước Mỹ, các hội chợ nông dân (Farmer’s Market) bắt đầu rục rịch và kéo dài suốt từ đầu mùa xuân, mạnh nhất là mùa hè, và kết thúc vào mùa thu.
Hội chợ nông dân được tổ chức thường xuyên như vậy khoảng 2 tuần đến 1 tháng một lần. Mình tạm dịch là hội chợ, nhưng thực ra quy mô của chúng cũng không nhất thiết phải lớn cỡ vài trăm gian hàng. Ví dụ đầu tháng 3 vừa rồi mình có ghé qua một hội chợ nhỏ thì có khoảng 20 gian hàng thôi. Gian thì bán bánh mì, gian thì bán mật ong, gian thì bán rau, gian thì bán trứng gà và các loại bơ, pho-mát vv… Tất cả đều là do nông dân tự trồng hoặc sản xuất được và đem ra vừa bán kiếm lời và giới thiệu về nông trang của mình.
Theo Bộ Nông nghiệp Mỹ, việc tổ chức các hội chợ như thế này ở các vùng dân cư trên khắp nước Mỹ là nhằm một số mục đích:
– Đáp ứng nhu cầu tiếp cận các thực phẩm sạch, do nông dân tự trồng của người tiêu dùng
– Giúp cho người nông dân có cơ hội tiếp xúc với người tiêu dùng, tạo mối gắn kết giữa người tiêu dùng và việc tiêu thụ các sản phẩm địa phương
– Đưa các sản phẩm nông nghiệp của nông dân trên thị trường nhanh hơn
Hiện nay có khoảng 4,800 hội chợ nông dân hoạt động trên toàn nước Mỹ. Phần lớn các hội chợ này được tổ chức bởi một hiệp hội hay một tổ chức phi lợi nhuận.
Ví dụ Portland Farmers Market là một tổ chức phi lợi nhuận hoạt động tại thành phố Portland, tiểu bang Oregon (tìm hiểu thêm về cách thức hoạt động của các tổ chức phi lợi nhuận ở Mỹ trong bài Hoạt động của các NPOs ở Mỹ). Họ không nhận bất cứ một nguồn tài trợ nào từ chính quyền liên bang, bang, hay thành phố mà tiền hoạt động có được thông qua thu phí những hộ nông dân tham gia hội chợ, qua tài trợ của doanh nghiệp, qua hoạt động gây quỹ, và rất nhiều giờ làm miễn phí của các tình nguyện viên.
Một số chương trình khác đi cùng với các hội chợ do Portland Farmers Market tổ chức:
– Các đầu bếp hàng đầu được mời đến để giới thiệu về cách thức nấu ăn ngon từ các thực phẩm được trồng theo mùa
– Tổ chức lớp nấu ăn cho trẻ em. Trẻ em từ 7 đến 15 tuổi được tham gia các lớp dạy kĩ năng nấu ăn vào thứ 7 hàng tuần. Các lớp này do các đầu bếp chuyên nghiệp đảm nhiệm.
– Chương trình Hộp đựng thức ăn trưa địa phương: chương trình mời các gia đình đến thưởng thức các thực phẩm và tham gia các hoạt động khác nhau ở hội chợ ví dụ như nấu các món ăn cho trẻ em, làm thơ về rau củ quả, làm một hộp đồ ăn trưa bằng thực phẩm theo mùa của địa phương.
– Hướng dẫn người đi chợ cách thức bảo quản thực phẩm để giữa được chất dinh dưỡng và tốt cho sức khỏe.
– Âm nhạc và giải trí, do nông dân tự tham gia biểu diễn.
– Vận động vì môi trường xanh: tăng cường ý thức của mọi người về việc giảm sử dụng túi nilon, tăng cường tái sử dụng vật liệu và giảm thiểu rác thải tại các hội chợ, xúc đẩy một lối sống yêu môi trường trong vùng.
Các hội chợ như thế này đã trở thành một phần không thể thiếu trong quá trình thúc đẩy nền sản xuất nông nghiệp và giúp cho người nông dân Mỹ tìm kiếm đầu ra cho sản phẩm của mình nhanh hơn.
Mặc dù nông nghiệp Việt Nam chúng ta chủ yếu là trồng lúa gạo và sản xuất quy mô nhỏ, nhưng ngày cũng càng có nhiều các nông trại trồng cây ăn trái, nuôi gia súc lấy thịt, trồng cây công nghiệp như chè, cafe vv…ở khắp mọi miền. Nếu có những hội chợ thường xuyên như vậy, chắc chắn là người tiêu dùng cũng có dịp được biết đến các sản phẩm này nhiều hơn, người nông dân thì quảng bá được sản phẩm của trang trại đến thị trường nhanh hơn và vì thế càng có động lực để nâng cao chất lượng sản phẩm nông nghiệp của mình.
Thiên hoàng Goyozei học Thiền với Gudo. Thiên hoàng hỏi: “Trong Thiền, tâm này là Phật. Phải không? Thiên hoàng Go-Yōzei
Gudo trả lời: “Nếu bần tăng nói ‘đúng’, hoàng thượng sẽ nghĩ là hoàng thượng hiểu trong khi không hiểu. Nếu bần tăng nói ‘sai’, bần tăng có thể nói ngược lại với điều hoàng thượng đã hiểu rất rõ.”
Một hôm khác Thiên hoàng hỏi Gudo:: “Người giác ngộ đi đâu khi chết?”
Gudo trả lời: “Bần tăng không biết.”
“Tại sao thầy không biết?” Thiên hoàng hỏi.
“Tại vì bần tăng chưa chết,” Gudo trả lời.
Thiên hoàng ngại hỏi thêm về những điều mà trí óc Thiên hoàng không hiểu nổi. Nên Gudo vỗ tay xuống sàn như là để đánh thức Thiên hoàng, và Thiên hoàng giác ngộ!
Sau khi giác ngộ Thiên hoàng càng tôn trọng Thiền và sư già Gudo hơn trước, ngay cả cho phép Gudo đội mũ trong cung trong mùa đông. Khi Gudo quá 80 tuổi, thiền sư thường ngủ gục trong khi giảng bài, và Thiên hoàng chỉ lặng lẽ lui sang phòng khác để người thầy yêu quý hưởng được giấc nghỉ cơ thể già lão của thầy đòi hỏi.
.
Bình:
• Các thiền sư cho học trò câu hỏi, nhưng không cho câu trả lời. Người học trò phải tự tìm ra câu trả lời bằng trực nghiệm (không phải bằng đọc sách hay nghe người khác). Và khi các câu trả lời đến, đó là lúc giác ngộ.
• Thiền sư không bao giờ đoán (bằng lý luận) chuyện mình không biết được bằng trực nghiệm, như là khi chết thì đi đâu.
(Ngoại trừ một câu trả lời ai trong chúng ta cũng thấy được, là khi ta chết ta tan rã vào vũ trụ, mà các thiền sư nói là “trở về với Không” như sóng tan vào biển. Xem bài thơ Các Bộ Xương của thiền sư Ikkyu).
• Giác ngộ xong càng trọng Thiền và thầy vì lúc đó mới biết được Thiền sâu đến đâu, thầy sâu đến đâu và mình chỉ mới đến đâu. Chưa giác ngộ thì chưa thấy được các điều này.
(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.
Gudo and the Emperor
The emperor Goyozei was studying Zen under Gudo. He inquired: “In Zen this very mind is Buddha. Is this correct?”
Gudo answered: “If I say yes, you will think that you understand without understanding. If I say no, I would be contradicting a fact which you may understand quite well.”
On another day the emperor asked Gudo: “Where does the enlightened man go when he dies?”
Gudo answered: “I know not.”
“Why don’t you know?” asked the emperor.
“Because I have not died yet,” replied Gudo.
The emperor hesitated to inquire further about these things his mind could not grasp. So Gudo beat the floor with his hand as if to awaken him, and the emperor was enlightened!
The emperor respected Zen and old Gudo more than ever after his enlightenment, and he even permitted Gudo to wear his hat in the palace in winter. When Gudo was over eighty he used to fall asleep in the midst of his lecture, and the emperor would quietly retire to another room so his beloved teacher might enjoy the rest his aging body required.
Hùng Vương truyền tới đời thứ ba sinh được một Mỵ Nương (1) đặt tên là Tiên Dung, đến tuổi 18 dung nhan đẹp đẽ, không muốn lấy chồng, thích chu du vui chơi khắp nơi trong thiên hạ. Vua đành chịu vậy, không cấm đoán được. Mỗi năm vào khoảng tháng hai tháng ba Tiên Dung lại sắm sửa thuyền bè chèo chơi ở ngoài biển, vui quên trở về.
Hồi đó ở làng Chử Xá ven sông, có người dân tên là Chử Vi Vân sinh được một người con trai là Chử Đồng Tử. Cha từ, con hiếu, nhà gặp hỏa hoạn, của cải sạch không, chỉ còn lại một khố vải duy nhất, cha con ra vào thay nhau mà mặc. Tới lúc cha già lâm bệnh gần chết bảo con rằng: “Cha chết cứ để trần mà chôn, giữ khố lại cho con, để khỏi xấu hổ”. Con không nỡ làm theo, liệm khố rồi đem chôn. Đồng Tử thân thể trần truồng đói rét khổ sở, đứng ở bên sông cầm cần câu cá; hễ nhìn thấy có thuyền buôn qua lại thì đứng ở dưới nước mà xin ăn.
Bất ngờ thuyền của Tiên Dung xốc tới, chiêng trống nhã nhạc, cờ lọng huy hoàng, kẻ hầu người hạ rất đông. Đồng Tử rất kinh sợ, không biết chạy trốn đi đâu. Trên bãi cát có khóm lau sậy, lưa thưa dăm ba cây, Đồng Tử bèn nấp trong đó, bới cát thành lỗ nằm xuống phủ cát lên mình. Lát sau, Tiên Dung cắm thuyền dạo chơi trên bãi cát, ra lệnh đào hố, lấy lau vây màn làm chỗ tắm. Tiên Dung vào màn, cởi áo dội nước, cát trôi mất để lộ ra thân hình của Chử Đồng Tử. Tiên Dung hổ thẹn hồi lâu, thấy là con trai bèn nói: “Ta vốn không muốn lấy chồng, nay lại gặp ngươi, cùng ở trần với nhau trong một hố, đó chính là do trời xui khiến vậy. Ngươi hãy mau đứng dậy tắm rửa”. Tiên Dung ban cho quần áo mặc rồi cùng xuống thuyền mở tiệc vui chơi. Người trong thuyền đều cho đó là cuộc giai ngộ xưa nay chưa từng có. Đồng Tử kể lại tình cảnh của mình, Tiên Dung ta thán, muốn nên vợ chồng. Đồng Tử cố từ chối, song Tiên Dung nói rằng: “Đây do trời chắp nối, sao lại cứ chối từ?”.
Người theo hầu vội về tâu lại với Hùng Vương. Vua giận nói: “Tiên Dung không thiết tới danh tiết, không màng tới của cải của ta, ngao du bên ngoài, hạ mình lấy kẻ nghèo khổ, còn mặt mũi nào trông thấy ta nữa, rồi cấm không cho Tiên Dung trở về”. Tiên Dung nghe sợ không dám về, bèn cùng Đồng Tử mở chợ búa, lập phố xá, cùng dân buôn bán, dần dần trở thành phố chợ lớn (nay là chợ Thám). Thương nhân nước ngoài tới lui buôn bán, kính nể tôn Tiên Dung và Chử Đồng Tử làm chủ.
Có người lái buôn giàu có nói với Tiên Dung rằng: “Người bỏ một dật (2) vàng, cùng tôi ra ngoài bể mua vật quí, sang năm có thể thành mười dật”. Tiên Dung cả mừng bảo Đồng Tử: “Vợ chồng chúng ta do trời tác thành, đồ ăn thức mặc do người làm nên, vậy nên đem vàng cùng phú thương ra biển buôn bán làm ăn”. Đồng Tử bèn cùng lái buôn đi buôn bán. Đến núi Quỳnh Vi, trên núi có am nhỏ, bọn lái buôn thường ghé lại đó lấy uống nước. Đồng Tử lên am chơi, trong am có sư tên gọi Phu Quang truyền phép cho Đồng Tử, Đồng Tử ở lại học phép, giao tiền cho lái buôn mua hàng. Sau bọn lái buôn quay lại am chở Đồng Tử trở về. Sư bèn tặng Đồng Tử một cây trượng và một chiếc nón mà nói rằng: “Linh thiêng ở những vật này đây”.
Đồng Tử trở về, giảng đạo lại cho Tiên Dung. Tiên Dung giác ngộ, liền bỏ phố phường, chợ búa cơ nghiệp, rồi cả hai đều tìm thầy học đạo. Có lần, trên đường đi xa, trời tối chưa về kịp nhà, tạm nghỉ ở giữa đường, cắm trượng che nón mà trú thân. Đến canh ba, thấy hiện ra thành quách, lầu ngọc, điện vàng, đền đài, kho tàng, xã tắc, vàng bạc, châu báu, giường chiếu, chăn màn, tiên đồng, ngọc nữ, tướng sĩ, thị vệ, la liệt trước mắt. Sáng hôm sau, ai nấy trông thấy cũng kinh ngạc lạ lùng, đem hương hoa, lễ vật tới dâng xin làm bề tôi, có văn võ trăm quan, chia quân túc vệ, lập thành nước riêng.
Hùng Vương nghe tin, cho rằng con gái làm loạn, bèn sai quân tới đánh. Quần thần của Tiên Dung xin đem quân ra chống giữ. Tiên Dung cười mà bảo: “Điều đó ta không muốn làm, do trời định đó thôi, sống chết tại trời, há đâu dám chống lại cha, chỉ xin thuận theo lẽ chính, để mặc cho cha chém giết”. Lúc đó, dân mới tới theo đều kinh sợ tản đi, chỉ có dân cũ ở lại với Tiên Dung. Quan quân tới, đóng trại ở bãi Tự Nhiên, chỉ còn cách con sông lớn thì trời tối không kịp tiến quân. Nửa đêm, bỗng nhiên gió lớn nổi lên, cát bay, cây đổ, quan quân hỗn loạn. Tiên Dung cùng thủ hạ, thành quách phút chốc bay bổng lên trời. Đất chỗ đó sụt xuống thành cái đầm lớn. Ngày hôm sau, dân chúng không thấy thành quách đâu cả, đều cho là linh dị. Về sau, dân lập miếu thờ, bốn mùa cúng tế, gọi đầm là đầm Nhất Dạ (Nhất Dạ Trạch, nghĩa là đầm một đêm), gọi bãi là bãi Tự Nhiên, còn gọi là bãi Mạn Trù (hố tắm), và gọi chợ là chợ Hà Thị (chợ Hà).
Sau đến đời tiền Lý Nam Đế, bọn nhà Lương đem quân sang xâm lược, vua Lý Nam Đế sai Triệu Quang Phục làm tướng cự địch. Quang Phục đem quân ẩn nấp trong đầm. Đầm sâu rộng lớn, bùn lầy, rất khó ra vào, Quang Phục dùng thuyền độc mộc, dễ bề đi lại, quân giặc khó biết tung tích ở đâu. Đêm đến dùng thuyền độc mộc lẻn ra đột kích, đánh cướp lương thực, cầm cự lâu ngày làm cho quân giặc mệt mỏi, trong ba bốn năm không hề đối diện chiến đấu. Bá Tiên than rằng: “Ngày xưa, nơi đây một đêm mà thành đầm nhà trời, đúng vậy!” (3). Nhân gặp loạn Hầu Cảnh, vua nhà Lương bèn gọi Bá Tiên về, cho tì tướng là Dương Sàn thống lĩnh sĩ tốt, Quang Phục ăn chay lập đàn ở giữa đầm, đốt hương cầu đảo, bỗng thấy thần nhân cưỡi rồng bay vào trong đầm mà bảo Quang Phục rằng: “Ta tuy đã lên trời, nhưng linh hiển còn đó, ngươi có lòng thành cầu tới, ta đến để giúp đánh dẹp giặc loạn”. Dứt lời, tháo vuốt rồng trao cho Quang Phục, bảo: “Đem vật này đeo lên mũ đâu mâu (4), đánh đâu diệt đó”. rồi bay mất lên trời. Quang Phục được vuốt rồng, xông ra đột kích, quân Lương thua to, chém được Dương Sàn ở giữa trận, giặc Lương phải lùi. Quang Phục nghe tin Nam Đế mất, bèn lên ngôi lấy hiệu là Triệu Việt Vương, xây thành ở Trâu Sơn, huyện Vũ Ninh (5).
Chú thích:
1) Con gái của Vua Hùng gọi là Mỵ Nương (xem truyện Hồng Bàng).
2) Dật: Một đơn vị đo lường thời xưa.
3) Bản A 2914 còn có thêm câu: “Ôi, mà ngày hôm nay, đêm đêm đồn quân án giữ mà chẳng biết giặc núp nơi đâu”
4) Mũ đâu mâu: Đâu mâu兜鍪 là cái mũ trụ, mũ quân lính đội lúc ra trận.
5) Nay là Bắc Ninh
(Nguyễn Hữu Vinh dịch)
.
Bình:
• Đa số các truyện trong Lĩnh Nam Chích Quái nói đến đời Hùng Vương thứ 3, như truyện này. Số 3 là số thiếu dương trong Dịch học. Thiếu dương là bắt đầu khởi động, bắt đầu đi lên, cho nên là con số quan trọng, dù chỉ là nhỏ (“thiếu”).
Thực ra số 3 rất quan trọng cho tâm thức con người, hầu như trong tất cả mọi nền văn minh trên thế giới. Có một điều gì đó làm cho con người mê chuộng số 3: Trời đất người, body mind spirit, chúa ba ngôi, bố mẹ con, đầu mình tứ-chi, bắc trung nam, tam bảo Phật Pháp Tăng…
• Lòng hiếu thảo của Chử Đồng Tử với cha thì rất rõ — nhường cái khố duy nhất cho cha.
Nhưng điều này còn nói lên sự quan trọng của việc tiễn người ra đi. Cho đến ngày nay người Việt vẫn tin người chết ở cõi âm cần dùng nhiều thứ, cho nên tục đốt vàng mã vẫn còn rất mạnh. Cái khố cho bố không phải chỉ để mai táng cho trịnh trọng, mà vì bố còn cần dùng nó hàng ngày ở cõi âm.
Cho đi cái khố duy nhất còn là để chuẩn bị cho đoạn sau—một Chử Đồng Tử hoàn toàn trần trụi.
• Con người trần truồng là con người thật sự, chính hắn ta, như là trời sinh, không một mảnh vải để làm cho hắn nhìn khác đi một tí. Con người không trau chuốt, không giả tạo, không dối trá, không ảo tưởng… Khi chúng ta đến với nhau bằng con người thật của mình, chúng ta dễ gần gũi nhau hơn, dễ “kết” nhau hơn.
Con người trần truồng còn là biểu tượng của cái tâm nguyên thủy của con người. Tâm trong sáng chưa bị lu mở bởi mọi chấp trước thế gian.
Con người trần truồng, về mặt vật thể, còn có nghĩa là người nghèo nhất trong thiên hạ, thực sự nghèo đến mức không có khố che thân.
• Chử Đồng Tử câu cá ở bờ sông, và phải đứng dưới nước để xin ăn: Văn hóa “nước” của người Việt mà ta đã nói đến trong Truyện Hồng Bàng. Nước là quê mẹ, nước là tổ quốc. Liên hệ tâm thức giữa người Việt với quê hương tổ quốc, ít ra là trên bình diện ngôn ngữ, có lẽ mạnh nhất trên thế giới, vì chẳng có gì quan trọng cho đời sống con người bằng nước, và ta dùng từ đó để gọi tổ quốc.
• Tiên Dung và Chử Đồng Tử gặp nhau là duyên tiền định: Số lấy con vua thì nghèo rớt mồng tơi vẫn lấy con vua. Số lấy chồng nghèo thì mình là con vua vẫn lấy anh chàng nghèo nhất nước. Đây là thuyết nhân duyên của nhà Phật. Nghiệp của các kiếp trước dự một phần lớn trong việc định đời sống của ta kiếp này. Tâm hiếu thảo của Chử Đồng Tử kiếp này cũng dự một phần trong việc định đời sống của chàng kiếp này.
• Tiên Dung và Chử Đồng Tử gặp nhau khi cả hai cùng trần truồng cũng là biểu tượng của tâm nguyên thủy của con người. Trong vũ trụ quan Phật giáo, tâm nguyên thủy của ta và nền tàng nguyên thủy của vũ trụ là một—là Không. Khi chúng ta giác ngộ, tâm ta không còn si mê, trở về trạng thái tinh tuyền nguyên thủy—Không. Ta và Không là một. Hai người trần truồng (Tiên Dung và Chử Đồng Tử) là biểu tượng cho hai tâm nguyên thủy, mà hai tâm nguyên thủy thì chỉ là một—là Không—biểu tượng của sự kết hợp thành vợ chồng, hai thành một.
• Lấy nhau làm vua cha cả giận. Đây nói lên tính tự chủ của Tiên Dung, tự định đoạt đời mình. Tiên Dung là người nổi bật nhất về tự chủ trong truyện này. Về sau ta thấy Tiên Dung cũng chủ động trong việc làm ăn buôn bán. Dấu vết của chế độ mẫu hệ rất mạnh trong văn hóa Việt, như đã nói trong Truyện Hồng Bàng và Truyện Trầu Cau.
• Ở đây chúng ta thấy có sự phối hợp của “duyên tiền định” và “ý chí” của con người. Thực ra dây không phải là hai điều khác nhau và trái ngược nhau như nhiều người lầm tưởng. Ý chí của con người cũng là một “nhân/duyên” trong hàng triệu “nhân/duyên” khác ảnh hưởng đến đời sống của hắn ta. Nhân duyên gồm có (1) nhân duyên của bao kiếp trước, (2) nhân duyên của các sự việc trong kiếp này và (3) ý chí và nỗ lực của ta.
• Thay vì cùng nhau ở ẩn, Tiên Dung và Chử Đồng Tử lại mở chợ búa buôn bán. Đây là triết lý nhập thế rất tích cực.
• Nhờ ra bể buôn bán và gặp thầy học đạo: Đây là triết lý hướng ngoại trong việc trị quốc. Mở rộng ra ngoài, liên hệ với bên ngoài, giao thương với bên ngoài, thì trí tuệ mới mở rộng được.
Đương nhiên là điểm này còn nói đến việc Phật giáo du nhập vào nước ta qua đường biển, trực tiếp từ Ấn độ như nhiều sử gia Phật sử đã nói đến (cùng với đường từ Trung quốc ở hướng Bắc sang).
• Thầy cho Chử Đồng Tử cây gậy và cái nón: Đây rõ ràng là các vật để đi đường. Tức là triết lý nhập thế, “đạo vào đời”, của các thiền sư. Sơ tổ Bồ Đề Đạt Ma thường xuất hiện với cây gậy mang một chiếc dép; Phật Di lặc, gọi là hotei ở Nhật, là vị sư thường mang cây gậy và một bao (đồ chơi trẻ em).
Nón thì che nắng, cây gậy là để bảo vệ và chống thú dữ trên đường đi, v. v… Nhưng chúng còn là biểu tượng gì?
— Nón là một vòng tròn lớn, trống rỗng, trên đầu, là biểu tượng của Không–chân tánh của chính mình và của toàn thể vũ trụ–chân lý tối hậu của Phật pháp. “Không” bao trùm tất cả, như nón che toàn thân ta. (Đây cũng tương tự như một chiếc dép của Bồ Đề Đạt Ma thường được xem là biểu tượng của Một. Tất cả là Một, và một đó là Không).
— Cậy gậy chống đở thường xuyên là biểu tượng cho giáo pháp—giới , định, tuệ–mà ta phải tu tập hàng ngày, để chống chọi lười biếng, si mê và thoái hóa.
• Thành quách xuất hiện trong một đêm, trên đường học đạo: Chuyện này rất giống với phẩm Hóa Thành Dụ trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, khi một đạo sư làm thành quách giả cho các đệ tử nghĩ tạm trên đường tu học gian nan.
Phật giảng tam thừa–Thanh Văn thừa (giác ngộ thành Alahán), Duyên giác thừa (giác ngộ thành Bích Chi Phật), Bồ Tát thừa (giác ngộ thành Bồ tát)–cũng chỉ là các “hóa thành” để tạm nghĩ, trên cùng một con đường Phật thừa (thành Phật).
• Thành quách hiện ra một đêm, biến mất một đêm, cũng nói đến lẽ vô thường của đời sống—thành quách lâu đài vương giả cũng chỉ là phù du, hiện mất mất hiện chỉ một đêm.
Tên “Đầm Một Đêm” (Nhất Dạ Trạch) nhấn mạnh đến lẽ vô thường đó.
• Truyện này rõ là huyền thoại và triết lý 100 %, ngoại trừ việc Triệu Quang Phục sau này dùng Đầm Dạ Trạch làm căn cứ kháng chiến chống quân Lương là lịch sử. Truyện vuốt rồng và mũ đầu mâu của Triệu Quang Phục, nếu có vào thời Triệu Quang Phục, thì hẳn nhiên đó là mưu kế chiến tranh tâm lý.
Nhà thơ Hữu Loan, tác giả của tuyệt tác Màu Tím Hoa Sim, đã qua đời tại quê nhà ở Thanh Hóa, ngày 18 tháng 3, 2010, lúc 21 giờ, hưởng thọ 95 tuổi.
Màu Tím Hoa Sim, ai đọc qua mà không buồn da diết!
Cuộc tình trong thời nhiễu loạn phân ly…
Nhưng không chết người trai chiến sĩ
Mà chết người gái nhỏ hậu phương…
Chiến tranh không có quy luật phân ly!
Chiều hành quân qua những đồi sim
Những đồi sim dài trong chiều không hết
Màu tím hoa sim tím chiều hoang biền biệt…
Tiểu sử
Hữu Loan tên thật là Nguyễn Hữu Loan, sinh năm 1916 tại làng Vân Hoàn, xã Nga Lĩnh, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Ông học Thành chung ở Thanh Hóa, đậu tú tài Tây năm 1938 tại Hà Nội (vì vậy ở quê thường gọi là cậu Tú Loan). Thời đó, bằng tú tài rất hiếm, rất ít người có nên ông được mời vào làm trong Sở Dây thép (Bưu điện) Hà Nội nhưng ông không làm mà đi dạy học và đã từng là cộng tác viên của các tập san văn học xuất bản tại Hà Nội. Năm 1939 ông tham gia Mặt trận Bình Dân rồi về tham gia Mặt trận Việt Minh tại thị xã Thanh Hóa.
Năm 1943, ông gây dựng phong trào Việt Minh ở quê nhà, và khi cuộc Cách mạng tháng Tám 1945 nổ ra, ông làm Phó chủ tịch Ủy ban khởi nghĩa huyện Nga Sơn, rồi được cử làm Ủy viên Văn hóa trong Ủy ban lâm thời tỉnh Thanh Hóa, phụ trách các ty: Giáo dục, Thông tin, Thương chính và Công chính.
Trong kháng chiến chống Pháp, Hữu Loan tình nguyện đi bộ đội, phục vụ trong sư đoàn 304 và làm chính trị viên tiểu đoàn, đồng thời làm chủ bút tờ Chiến Sĩ của sư đoàn.
Tháng 2 năm 1948, lúc ấy ông 32 tuổi, được nghỉ phép hai tuần lễ, về quê cưới cô Lê Đỗ Thị Ninh là người học trò cũ mới 16 tuổi, con gái của ông bà tham Kỳ, một gia đình nền nếp, gia sản có tới hàng trăm mẫu ruộng ở Thanh Hoá mà trước đây ông đã từng làm gia sư dạy kèm cho các con của ông bà suốt nhiều năm liền. Cô Ninh yêu ông bằng một tình yêu kỳ lạ, nửa như người anh, nửa như người thầy. Ông cũng coi cô bé xinh đẹp 16 tuổi đó nửa như em gái, nửa như cô học trò vì khi ông mới đậu tú tài, được ông bà tham Kỳ nhờ đến dạy học cho hai người anh của cô Ninh thì cô mới 8 tuổi. Sau, ông cũng làm gia sư cho cô luôn.
Cưới nhau xong, ông lại lên đường ra mặt trận. Sư đoàn lúc ấy ở vùng Tuyên Quang, Cao Bằng, Lạng Sơn. Ba tháng sau, tháng 5 – 1948, từ ngoài mặt trận, ông được tin người vợ trẻ tuổi ở nơi quê nhà vắn số: cô giặt đồ ở ngoài sông, xảy chân ngã xuống sông, bị nước cuốn đi, chết đuối. Ông quá đau khổ, định sẽ ở vậy suốt đời, đồng thời đem nỗi lòng mình viết thành những câu thơ rồi dần dần thành bài Màu tím hoa sim đầy kỷ niệm. Mấy năm sau – khoảng các năm 1951-1953 – bài thơ này nổi tiếng, được lưu truyền trong dân chúng nhưng bị phê bình là ủy mị, mang tính chất tiểu tư sản!
Năm 1954, sáu năm sau ngày vợ chết, hoà bình lập lại nhưng chuyện đấu tố diễn ra. Bộ đội đóng ở Nghệ An, ông về nhà chơi, được biết ở làng bên có một gia đình địa chủ ngày trước vẫn tiếp tế lương thực cho sư đoàn của ông, nay bị đấu tố chết rất thê thảm, chỉ trừ cô gái 17 tuổi tên Phạm Thị Nhu thì được tha chết nhưng bị đuổi ra khỏi nhà, cấm không cho ai được phép liên lạc. Ông nhớ tới ơn xưa, bèn đi tìm xem cô ta ra sao thì gặp cô đang đói khát, mặt mũi lấm lem, quần áo rách rưới, đang đi mót những củ khoai người ta bới xong còn sót lại ở ngoài cánh đồng, chùi sơ rồi bỏ vào miệng ăn sống. Thấy ông, cô khóc rưng rức vì cảnh khốn cùng của mình và cho biết ban đêm cô ngủ trong một ngôi miếu hoang, chỉ sợ có kẻ làm bậy và không hiểu mình sẽ tồn tại được bao lâu. Ông rất thương xót, đồng thời cũng nhớ tới những kỷ niệm mà hồi trước, khi cô còn nhỏ, ông dạy học ở xã bên ấy, cô thường núp nghe ông giảng truyện Kiều.
Ông quyết định đem cô về nhà cha mẹ và lấy cô làm vợ. Cấp trên không đồng ý. Ông là đảng viên, lại trưởng phòng Tuyên huấn kiêm chính trị viên tiểu đoàn, không được lấy con cái địa chủ, nếu lấy thì sẽ bị đuổi khỏi quân đội và bị khai trừ khỏi đảng. Tính ông ngang bướng, ông chấp nhận điều kiện thứ hai và cô Phạm Thị Nhu trở thành người vợ sống với ông cho đến bây giờ, sinh cho ông được 10 người con cùng với 37 đứa cháu như chúng ta sẽ biết.
Đầu năm 1955, ra khỏi quân đội, ông về Hà Nội xin vào làm việc tại báo Văn Nghệ. Trong thời gian 1956-1957, ông tham gia Phong trào Nhân Văn-Giai Phẩm do nhà văn Phan Khôi chủ trương. Ông sáng tác những tác phẩm lên án quyết liệt những tiêu cực của các cán bộ nịnh hót, đố kỵ, ám hại lẫn nhau vv… Như trong tác phẩm Cũng những thằng nịnh hót và trong truyện ngắn Lộn sòng, ông coi mình là nạn nhân và phê phán một cách gay gắt.
Phong trào Nhân Văn Giai Phẩm bị dập tắt vào năm 1958, nhà thơ Hữu Loan bị đi cải tạo mấy năm rồi được thả, cho về địa phương và bị quản chế tại địa phương. Hiện nay tất nhiên lệnh quản chế đó đã hết từ lâu nhưng ông vẫn sống tại quê nhà.
Các tác phẩm
Hữu Loan chưa xuất bản tập thơ nào. Một số bài thơ đã được phổ biến trên các báo chí của ông: Màu tím hoa sim, Đèo Cả, Yên mô, Hoa lúa, Tình Thủ đô…
Tại miền Nam, bài Màu tím hoa sim đã được các nhạc sĩ Dũng Chinh, Phạm Duy, Anh Bằng và Duy Khánh phổ nhạc… Trong đó bài của Dzũng Chinh và Phạm Duy là nổi tiếng nhất.
Vào tháng 10 năm 2004, Màu tím hoa sim đã được Công ty Cổ phần Công nghệ Việt (viết tắt: vitek VTB) mua bản quyền với giá 100 triệu đồng. (Nguồn: datviet.com)
Để tưởng niệm Hữu Loan, sau đây là:
1. Nguyên văn bài thơ Màu Tím Hoa Sim
2. Bản dịch bài thơ sang tiếng Anh (“Berryflower Violet”) của TĐH.
3. Video bài thơ Màu Tím Hoa Sim, do Quốc Anh ngâm.
4. Video bản nhạc “Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà”, Phạm Duy viết, do Elvis Phương hát.
5. Video bản nhạc “Những Đồi Hoa Sim”, Dzũng Chinh, do Phương Dung hát.
6. Audio link “Những Đồi Hoa Sim” của Dzũng Chinh, do Hương Lan và Duy Quang hát.
7. Video bản “Chuyện Hoa Sim” của Anh Bằng, do Như Quỳnh hát.
8. Audio link bản “Màu Tím Hoa Sim” của Duy Khánh, do chính Duy Khánh hát.
9. Audio link bản “Màu Tím Hoa Sim” của Duy Khánh, do Giao Linh hát.
10. Tiếp theo đó là lời kể của Hữu Loan về cuộc tình đã tạo nên bài thơ này.
Cầu xin cho linh hồn Hữu Loan được an lạc nơi chín suối.
Hoành
Màu Tím Hoa Sim
Nàng có ba người anh đi bộ đội
Những em nàng
Có em chưa biết nói
Khi tóc nàng đang xanh.
Tôi người vệ quốc quân
xa gia đình
Yêu nàng như tình yêu em gái.
Ngày hợp hôn
Nàng không đòi may áo mới
Tôi mặc đồ quân nhân
đôi giày đinh bết bùn
Đất hành quân
Nàng cười xinh xinh
bên anh chồng độc đáo.
Tôi ở đơn vị về
Cưới nhau xong là đi.
Từ chiến khu xa
Nhớ về ái ngại
Lấy chồng thời chiến chinh
Mấy người đi trở lại
Lỡ khi mình không về
thì thương
người vợ chờ
bé bỏng chiều quê…
Nhưng không chết
Người trai khói lửa
Mà chết
Người gái nhỏ hậu phương.
Tôi về
không gặp nàng
Má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối
Chiếc bình hoa ngày cưới
thành bình hương
tàn lạnh vây quanh
Tóc nàng xanh xanh
ngắn chưa đầy búi
Em ơi giây phút cuối
không được nghe nhau nói
không được nhìn nhau một lần.
Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím
áo nàng màu tím hoa sim
Ngày xưa
một mình
đèn khuya
bóng nhỏ
Nàng vá cho chồng tấm áo
ngày xưa…
Một chiều rừng mưa
Ba người anh trên chiến trường Đông Bắc
Biết tin em gái mất
trước tin em lấy chồng;
Gió sớm thu về rờn rợn nước sông
Đứa em nhỏ lớn lên
ngỡ ngàng nhìn ảnh chị
Khi gió sớm thu về cỏ vàng chân mộ chí.
Chiều hành quân
Qua những đồi sim
những đồi sim dài trong chiều không hết
Màu tím hoa sim
tím chiều hoang biền biệt
Nhìn áo rách vai
Tôi hát
trong màu hoa
(áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh mất sớm, mẹ già chưa khâu…).
Hữu Loan
Berryflower Violet
She had three brothers in the army
The younger ones
some weren’t yet talking
When her hair was still soft
I was a soldier
away from home
Loving her as a little sister
The wedding day
she didn’t ask for a new dress
I wore army uniform
The hobnail boots
Battlemud-smeared
Lovely she smiled
beside the odd husband
I came back from the front
Wedding done, I left.
From the far war zone
I thought of her, uneasy
Marrying in war time
Who leaves and would return?
If I don’t come back
how pitied would it be
for the little wife waiting
in the country evenings…
Yet the boy in the firing lines didn’t die
but died
the little girl behind
I came back
seeing her not
My mother sat by her tomb in darkness
The wedding day’s flowerpot
had become an incense vessel
besieged in expired coldness
Her hair was soft
too short to pin up
O my beloved, the last minute
we couldn’t hear each other
we couldn’t see each other even once
Those days she loved violet berryflowers
Her dress was berryflower violet
Those days
night lamp
small shadow
She mended for her husband the shirt
those days…
An afternoon
rain over the forest
the three brothers in the northeastern front
received words of the sister’s death
before the wedding news
An early autumn wind
made the river waters creep
The little brother grew up
lost
looking at the sister’s picture
When came the early autumn wind
the grass withered by the tombstone
In the afternoons
my platoon passes through berry hills
berryflower hills infinitely long in the afternoons
Berryflower violet
endlessly purples the desolate afternoons
Looking at the torn shirt shoulder
I sing
in the flower’s color
“My shirt is torn by the seam
My wife died
My mother has not yet mended it.”
TĐH translated
(June 13, 1998, March 2, 2000; March 18, 2010)
Tôi sinh ra trong một gia đình nghèo, hồi nhỏ không có cơ may cắp sách đến trường như bọn trẻ cùng trang lứa, chỉ được cha dạy cho dăm chữ bữa có bữa không ở nhà. Cha tôi tuy là tá điền nhưng tư chất lại thông minh hơn người. Lên trung học, theo ban thành chung tôi cũng học tại Thanh Hóa, không có tiền ra Huế hoặc Hà Nội học. Đến năm 1938 – lúc đó tôi cũng đã 22 tuổi – Tôi ra Hà Nội thi tú tài, để chứng tỏ rằng con nhà nghèo cũng thi đỗ đạt như ai. Tuyệt nhiên tôi không có ý định dấn thân vào chốn quan trường. Ai cũng biết thi tú tài thời Pháp rất khó khăn. Số người đậu trong kỳ thi đó rất hiếm, hiếm đến nỗi 5-6 chục năm sau những người cùng thời còn nhớ tên những người đậu khóa ấy, trong đó có Nguyễn Đình Thi , Hồ Trọng Gin, Trịnh văn Xuấn , Đỗ Thiện và …tôi – Nguyễn Hữu Loan.
Với mảnh tú tài Tây trong tay, tôi rời quê nhà lên Thanh Hóa để dạy học. Nhãn mác con nhà nghèo học giỏi của tôi được bà tham Kỳ chú ý, mời về nhà dạy cho hai cậu con trai. Tên thật của bà tham Kỳ là Đái thị Ngọc Chất ,bà là vợ của của ông Lê Đỗ Kỳ , tổng thanh tra canh nông Đông Dương, sau này đắc cử dân biểu quốc hội khóa đầu tiên. Ở Thanh Hóa, Bà tham Kỳ có một cửa hàng bán vải và sách báo, tôi thường ghé lại xem và mua sách, nhờ vậy mới được bà để mắt tới.
Bà tham Kỳ là một người hiền lành, tốt bụng, đối xử với tôi rất tốt, coi tôi chẳng khác như người nhà. Nhớ ngày đầu tiên tôi khoác áo gia sư, bà gọi mãi đứa con gái – lúc đó mới 8 tuổi- mới chịu lỏn lẻn bước ra khoanh tay, miệng lí nhí: “Em chào thầy ạ!” Chào xong, cô bé bất ngờ mở to đôi mắt nhìn thẳng vào tôi. Đôi mắt to, đen láy, tròn xoe như có ánh chớp ấy đã hằn sâu vào tâm trí tôi, theo tôi suốt cả cuộc đời. Thế là tôi dạy em đọc, dạy viết. Tên em là Lê Đỗ Thị Ninh, cha làm thanh tra nông lâm ở Sài Gòn nên sinh em trong ấy, quen gọi mẹ bằng má. Em thật thông minh, dạy đâu hiểu đấy nhưng ít nói và mỗi khi mở miệng thì cứ y như một “bà cụ non”. Đặc biệt em chăm sóc tôi hằng ngày một cách kín đáo: em đặt vào góc mâm cơm chổ tôi ngồi ăn cơm lúc thì vài quả ớt đỏ au, lúc thì quả chanh mọng nước em vừa hái ở vườn, những buổi trưa hè, nhằm lúc tôi ngủ trưa, em lén lấy áo sơ mi trắng tôi treo ở góc nhà mang ra giếng giặt …..
Có lần tôi kể chuyện ” bà cụ non” ít nói cho hai người anh của em Ninh nghe, không ngờ chuyện đến tai em, thế là em giận! Suốt một tuần liền, em nằm lì trong buồng trong, không chịu học hành… Một hôm bà tham Kỳ dẫn tôi vào phòng nơi em đang nằm thiếp đi. Hôm ấy tôi đã nói gì, tôi không nhớ nữa, chỉ nhớ là tôi đã nói rất nhiều, đã kể chuyện em nghe, rồi tôi đọc thơ… Trưa hôm ấy, em ngồi dậy ăn một bát to cháo gà và bước ra khỏi căn buồng. Chiều hôm sau, em nằng nặc đòi tôi đưa lên khu rừng thông. Cả nhà không ai đồng ý: “Mới ốm dậy còn yếu lắm, không đi được đâu” Em không chịu nhất định đòi đi cho bằng được. Sợ em lại dỗi nên tôi đánh bạo xin phép ông bà tham Kỳ đưa em lên núi chơi …..
Xe kéo chừng một giờ mới tới được chân đồi. Em leo đồi nhanh như một con sóc, tôi đuổi theo muốn đứt hơi. Lên đến đỉnh đồi, em ngồi xuống và bảo tôi ngồi xuống bên em.Chúng tôi ngồi thế một hồi lâu, chẳng nói gì. Bất chợt em nhìn tôi, rồi ngước mắt nhìn ra tận chân trời, không biết lúc đó em nghĩ gì. Bất chợt em hỏi tôi: -Thầy có thích ăn sim không ? Tôi nhìn xuống sườn đồi: tím ngắt một màu sim. Em đứng lên đi xuốn sườn đồi, còn tôi vì mệt quá nên nằm thiếp đi trên thảm cỏ….Khi tôi tỉnh dậy, em đã ngồi bên tôi với chiếc nón đầy ắp sim. Những quả sim đen láy chín mọng. -Thầy ăn đi. Tôi cầm quả sim từ tay em đưa lên miệng trầm trồ: -Ngọt quá.
Như đã nói, tôi sinh ra trong một gia đình nông dân, quả sim đối với tôi chẳng lạ lẫm gì, nhưng thú thật tôi chưa bao giờ ăn những quả sim ngọt đến thế! Cứ thế, chúng tôi ăn hết qủa này đến qủa khác. Tôi nhìn em, em cười. Hai hàm răng em đỏ tím, đôi môi em cũng đỏ tím, hai bên má thì….tím đỏ một màu sim. Tôi cười phá lên, em cũng cười theo!
Cuối mùa đông năm ấy, bất chấp những lời can ngăn, hứa hẹn can thiệp của ông bà tham Kỳ, tôi lên đường theo kháng chiến. Hôm tiễn tôi, em theo mãi ra tận đầu làng và lặng lẽ đứng nhìn theo. Tôi đi… lên tới bờ đê, nhìn xuống đầu làng ,em vẫn đứng đó nhỏ bé và mong manh. Em giơ bàn tay nhỏ xíu như chiếc lá sim ra vẫy tôi. Tôi vẫy trả và lầm lũi đi…Tôi quay đầu nhìn lại… em vẫn đứng yên đó … Tôi lại đi và nhìn lại đến khi không còn nhìn thấy em nữa…
Những năm tháng ở chiến khu, thỉnh thoảng tôi vẫn được tin tức từ quê lên, cho biết em vẫn khỏe và đã khôn lớn. Sau này, nghe bạn bè kể lại, khi em mới 15 tuổi đã có nhiều chàng trai đên ngỏ lời cầu hôn nhưng em cứ trốn trong buồng, không chịu ra tiếp ai bao giờ …
Chín năm sau, tôi trở lại nhà…Về Nông Cống tìm em. Hôm gặp em ở đầu làng, tôi hỏi em , hỏi rất nhiều, nhưng em không nói gì, chỉ bẽn lẽn lắc hoặc gật đầu. Em giờ đây không còn cô học trò Ninh bướng bỉnh nữa rồi. Em đã gần 17 tuổi, đã là một cô gái xinh đẹp….
Yêu nhau lắm nhưng tôi vẫn lo sợ vì hai gia đình không môn đăng hộ đối một chút nào. Mãi sau này mới biết việc hợp hôn của chúng tôi thành công là do bố mẹ em ngấm ngầm ” soạn kịch bản”. Một tuần sau đó chúng tôi kết hôn. Tôi bàn việc may áo cưới thì em gạt đi, không đòi may áo cưới trong ngày hợp hôn, bảo rằng là: ” yêu nhau, thương nhau cốt là cái tâm và cái tình bền chặt là hơn cả”. Tôi cao ráo, học giỏi, Làm thơ hay…lại đẹp trai nên em thường gọi đùa là anh chồng độc đáo. Đám cưới được tổ chức ở ấp Thị Long,huyện Nông Công, tỉnh Thanh Hóa của gia đình em, nơi ông Lê Đỗ Kỳ có hàng trăm mẫu ruộng. Đám cưới rất đơn sơ, nhưng khỏi nói, hai chúng tôi hạnh phúc hơn bao giờ hết!
Hai tuần phép của tôi trôi qua thật nhanh, tôi phải tức tốc lên đường hành quân, theo sư đoàn 304, làm chủ bút tờ Chiến Sĩ. Hôm tiễn tôi lên đường, em vẫn đứng ở đầu làng, nơi chín năm trước em đã đứng. Chỉ có giờ em không còn cô bé Ninh nữa mà là người bạn đời yêu quý của tôi. Tôi bước đi, rồi quay đầu nhìn lại…..Nếu như chín năm về trước, nhìn lại chỉ thấy một nỗi buồn man mác thì lần này, tôi thật sự đau buồn. Đôi chân tôi như muốn khuỵu xuống.
Ba tháng sau, tôi nhận được tin dữ: vợ tôi qua đời! Em chết thật thảm thương: Hôm đó là ngày 25 tháng 5 âm lịch năm 1948, em đưa quần áo ra giặt ngoài sông Chuồn (thuộc ấp Thị Long, Nông Cống), vì muốn chụp lại tấm áo bị nước cuốn trôi đi nên trượt chân chết đuối! Con nước lớn đã cuốn em vào lòng nó, cướp đi của tôi người bạn lòng tri kỷ, để lại tôi tôi nỗi đau không gì bù đắp nỗi. Nỗi đau ấy, gần 60 năm qua, vẫn nằm sâu thẳm trong trái tim tôi.
Tôi phải giấu kín nỗi đau trong lòng, không được cho đồng đội biết để tránh ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu của họ. Tôi như một cái xác không hồn….Dường như càng kềm nén thì nỗi đau càng dữ dội hơn. May sao, sau đó có đợt chỉnh huấn, cấp trên bảo ai có tâm sự gì cứ nói ra, nói cho hết. Chỉ chờ có thế, cơn đau trong lòng tôi được bung ra. Khi ấy chúng tôi đang đóng quân ở Nghệ An, tôi ngồi lặng đi ở đầu làng, hai mắt tôi đẫm nước, tôi lấy bút ra ghi chép. Chẳng cần phải suy nghĩ gì, những câu những chữ mộc mạc cứ trào ra: Nhà nàng có ba người anh đi bộ đội Những em nàng có em chưa biết nói “Khi tóc nàng đang xanh …” …Tôi về không gặp nàng…
Về viếng mộ nàng, tôi dùng chiếc bình hoa ngày cưới làm bình hương, viết lại bài thơ vào chiếc quạt giấy để lại cho người bạn ở Thanh Hóa… Anh bạn này đã chép lại và truyền tay nhau trong suốt những năm chiến tranh. Đó là bài thơ Màu Tím Hoa Sim.
Đến đây, chắc bạn biết tôi là Hữu Loan, Nguyễn Hữu Loan, sinh ngày 2-4-1916 hiện tại đang “ở nhà trông vườn” ở làng Nguyên Hoàn – nơi tôi gọi là chổ “quê đẻ của tôi đấy” thuộc xã Mai Lĩnh, huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hóa.
Em Ninh rất ưa mặc áo màu tím hoa sim. Lạ thay nơi em bị nước cuốn trôi dưới chân núi Nưa cũng thường nở đầy những bông hoa sim tím. Cho nên tôi viết mới nổi những câu : Chiều hành quân, qua những đồi sim Những đồi sim, những đồi hoa sim Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết Màu tím hoa sim, tím cả chiều hoang biền biệt Và chiều hoang tím có chiều hoang biết Chiều hoang tim tím thêm màu da diết.
Mất nàng, mất tất cả, tôi chán đời, chán kháng chiến, bỏ đồng đội, từ giã văn đàn về quê làm ruộng, một phần cũng vì tính tôi” hay cãi, thích chống đối, không thể làm gì trái với suy nghĩ của tôi”. Bọn họ chê tôi ủy mị, hoạch hoẹ đủ điều, không chấp nhận đơn từ bỏ kháng chiến của tôi. Mặc kệ! Tôi thương tôi, tôi nhớ hoa sim của tôi quá! Với lại tôi cũng chán ngấy bọn họ quá rồi!
Đến vụ Nhân văn Giai phẩm
Đó là thời năm 1955 – 1956, khi phong trào văn nghệ sĩ bùng lên với sự xuất hiện của nhóm Nhân Văn Giai Phẩm chống chính sách độc tài, đồng thời chống những kẻ bồi bút đan tâm lừa thầy phản bạn, dốc tâm ca ngợi cái này cái nọ để kiếm chút cơm thừa canh cạn. Làm thơ thì phải có cái tâm thật thiêng liêng thì thơ mới hay. Thơ hay thì sống mãi. Làm thơ mà không có tình, có tâm thì chả ra gì! Làm thơ lúc bấy giờ là phải ca tụng, trong khi đó tôi lại đề cao tình yêu, tôi khóc người vợ tử tế của mình, người bạn đời hiếm có của mình. Lúc đó tôi khóc như vậy họ cho là khóc cái tình cảm riêng….Y như trong thơ nói ấy, tôi lấy vợ rồi ra mặt trận, mới lấy nhau chưa được hơn một tháng, ở nhà vợ tôi đi giặt rồi chết đuối ở sông … Tôi thấy đau xót, tôi làm bài thơ ấy tôi khóc, vậy mà họ cho tôi là phản động. Tôi phản động ở chổ nào? Cái đau khổ của con người, tại sao lại không được khóc?
Bọn họ xúc phạm đến tình cảm thiêng liêng của tôi đối với người vợ mà tôi hằng yêu quý, cho nên vào năm 1956, tôi bỏ đảng, bỏ cơ quan, về nhà để đi cày. Họ không cho bỏ, bắt tôi phải làm đơn xin. Tôi không xin, tôi muốn bỏ là bỏ, không ai bắt được! Tôi bỏ tôi về, tôi phải đi cày đi bừa, đi đốn củi, đi xe đá để bán. Bọn họ bắt giữ xe tôi, đến nỗi tôi phải đi xe cút kít, loại xe đóng bằng gỗ, có một bánh xe cũng bằng gỗ ở phía trước, có hai cái càng ở phía sau để đủn hay kéo. Xe cút kít họ cũng không cho, tôi phải gánh bộ. Gánh bằng vai tôi, tôi cũng cứ gánh, không bao giờ tôi bị khuất phục. Họ theo dõi, ngăn cản, đi đến đâu cũng có công an theo dõi, cho người hại tôi…
Nhưng lúc nào cũng có người cứu tôi! Có một cái lạ là thơ của tôi đã có lần cứu sống tôi! Lần đó tên công an mật nói thật với tôi là nó được giao lệnh giết tôi, nhưng nó sinh ở Yên Mô, thường đem bài Yên Mô của tôi nói về tỉnh Yên Bình quê nó ra đọc cho đỡ nhớ, vì vậy nó không nỡ giết tôi. Ngoài Yên Mô, tôi cũng có một vài bài thơ khác được mến chuộng. Sau năm 1956 , khi tôi về rồi thấy cán bộ khổ quá, tôi đã làm bài Chiếc Chiếu, kể chuyện cán bộ khổ đến độ không có chiếc chiếu để nằm!
Phần 2: Định mệnh đưa đẩy, dắt tôi đến với một phụ nữ khác, sống cùng tôi cho đến tận bây giờ…
Vợ nhà thơ Hữu Loan – Bà Phạm Thị Nhu
Định mệnh đưa đẩy, dắt tôi đến với một phụ nữ khác, sống cùng tôi cho đến tận bây giờ. Cô tên Phạm Thị Nhu, cũng là phụ nữ có tâm hồn sâu sắc. Cô vốn là một nạn nhân của chiến dịch cải cách ruộng đất, đấu tố địa chủ năm 1954, 1955.
Lúc đó tôi còn là chính trị viên của tiểu đoàn. Tôi thấy tận mắt những chuyện đấu tố. Là người có học , lại có tâm hồn nghệ sĩ nên tôi cảm thấy chán nản quá, không còn hăng hái nữa. Thú thật, lúc đó tôi thất vọng vô cùng. Trong một xã thuộc huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa, cách xa nơi tôi ở 15 cây số, có một gia đình địa chủ rất giàu, nắm trong gần năm trăm mẫu tư điền.
Trước đây, ông địa chủ đó giàu lòng nhân đạo và rất yêu nước. Ông thấy bộ đội sư đoàn 304 của tôi thiếu ăn nên ông thường cho tá điền gánh gạo đến chổ đóng quân để ủng hộ. Tôi là trưởng phòng tuyên huấn và chính trị viên của tiểu đoàn nên phải thay mặt anh em ra cám ơn tấm lòng tốt của ông, đồng thời đề nghị lên sư đoàn trưởng trao tặng bằng khen ngợi để vinh danh ông .
Thế rồi, một hôm, tôi nghe tin gia đình ông đã bị đấu tố. Hai vợ chồng ông bị đội Phóng tay phát động quần chúng đem ra cho dân xỉ vả, rồi chôn xuống đất, chỉ để hở hai cái đầu lên. Xong họ cho trâu kéo bừa đi qua đi lại hai cái đầu đó cho đến chết. Gia đình ông bà địa chủ bị xử tử hết, chỉ có một cô con gái 17 tuổi được tha chết nhưng bị đội Phóng tay phát động đuổi ra khỏi nhà với vài bộ quần áo cũ rách. Tàn nhẫn hơn nữa, chúng còn ra lệnh cấm không cho ai được liên hệ, nuôi nấng hoặc thuê cô ta làm công. Thời đó, cán bộ cấm đoán dân chúng cả việc lấy con cái địa chủ làm vợ làm chồng.
Biết chuyện thảm thương của gia đình ông bà địa chủ tôi hằng nhớ ơn, tôi trở về xã đó xem cô con gái họ sinh sống ra sao vì trước kia tôi cũng biết mặt cô ta. Tôi vẫn chưa thể nào quên được hình ảnh của một cô bé cứ buổi chiều lại lén lút đứng núp bên ngoài cửa sổ nghe tôi giảng Kiều ở trường Mai Anh Tuấn. Lúc gần tới xã, tôi gặp cô ta áo quần rách rưới, mặt mày lem luốc. Cô đang lom khom nhặt những củ khoai mà dân bỏ sót, nhét vào túi áo, chùi vội một củ rồi đưa lên miệng gặm, ăn khoai sống cho đỡ đói. Quá xúc động, nước mắt muốn ứa ra, tôi đến gần và hỏi thăm và được cô kể lại rành rọt hôm bị đấu tố cha mẹ cô bị chết ra sao. Cô khóc rưng rức và nói rằng gặp ai cũng bị xua đuổi; hằng ngày cô đi mót khoai ăn đỡ đói lòng, tối về ngủ trong chiếc miếu hoang, cô rất lo lắng, sợ bị làm bậy và không biết ngày mai còn sống hay bị chết đói.
Tôi suy nghĩ rất nhiều, bèn quyết định đem cô về làng tôi, và bất chấp lệnh cấm, lấy cô làm vợ. Sự quyết định của tôi không lầm. Quê tôi nghèo, lúc đó tôi còn ở trong bộ đội nên không có tiền, nhưng cô chịu thương chịu khó , bữa đói bữa no….Cho đến bây giờ cô đã cho tôi 10 người con – 6 trai , 4 gái – và cháu nội ngoại hơn 30 đứa!
Trong mấy chục năm dài, tôi về quê an phận thủ thường, chẳng màng đến thế sự, ngày ngày đào đá núi đem đi bán, túi dắt theo vài cuốn sách cũ tiếng Pháp, tiếng Việt đọc cho giải sầu, lâu lâu nổi hứng thì làm thơ, thế mà chúng vẫn trù dập, không chịu để tôi yên. Tới hồi mới mở cửa, tôi được ve vãn, mời gia nhập Hội Nhà Văn, tôi chẳng thèm gia nhập làm gì.
Năm 1988, tôi ” tái xuất giang hồ” sau 30 năm tự chôn và bị chôn mình ở chốn quê nghèo đèo heo hút gió. Tôi lang bạt gần một năm trời theo chuyến đi xuyên Việt do hội văn nghệ Lâm Đồng và tạp chí Langbian tổ chức để đòi tự do sáng tác, tự do báo chí – xuất bản và đổi mới thực sự. Vào tuổi gần đất xa trời, cuối năm 2004, công ty Viek VTB đột nhiên đề nghị mua bản quyển bài Màu Tím Hoa Sim của tôi với giá 100 triệu đồng. Họ bảo đó là một hình thức bảo tồn tài sản văn hóa. Thì cũng được đi. Khoản tiền 100 triệu trừ thuế đi còn 90 triệu, chia “lộc” cho 10 đứa con hết 60 triệu đồng, tôi giữ lại 30 triệu đồng, phòng đau ốm lúc tuổi già, sau khi trích một ít để in tập thơ khoảng 40 bài mang tên Thơ Hữu Loan. Sau vụ này cũng có một số công ty khác xin ký hợp đồng mua mấy bài thơ khác , nhưng tôi từ chối, thơ tôi làm ra không phải để bán.