Tôi đến Nhật vào khoảng thời gian gần cuối mùa xuân. Lần đầu đi Nhật cũng là lần đầu tôi rời Việt Nam và sống xa gia đình. Chưa bao giờ rời Việt Nam, chưa bao giờ có kinh nghiệm sống ở nước ngoài, nên tâm trạng tôi đầy ắp hồi hộp, bồn chồn và lo lắng…
Ngày đầu tiên đến Nhật, tôi thật sự bị sốc văn hóa (culture shock). Cái gì cũng mới mẽ, lạ lẫm và xa lạ. Nơi tôi đến: một thành phố tỉnh lẽ , rất yên tĩnh – khác hẳn với không khí ồn ào náo nhiệt của Sài gòn. Ký túc xá tôi ở: xung quanh chỉ toàn người Nhật. Trông họ thật lanh lùng, và chẳng ai quan tâm đến việc tôi là ai, từ đâu đến.
Tàu Shinkansen Komachi đi Akita
Trường học rất đông các bạn nước ngoài, đa số đến từ Hàn Quốc, Hồng Kông, Đài Loan…nhưng không có người Việt (Có lẽ tôi là người Việt duy nhất lúc đó). Không bạn bè, không người thân, nên tuần đầu tiên tinh thần tôi xuống rất nhiều. Tuần thứ hai đúng vào kỳ nghỉ Tuần Lễ Vàng (Golden Week). Chẳng biết làm gì, tôi quyết định đi lên tỉnh Akita (một thành phố tỉnh lẽ miền núi, thuộc vùng Đông Bắc nước Nhật, cách nơi tôi ở khoảng 970km) gặp vài người quen (mà tôi quen biết trong thời gian họ ở Việt Nam), nhằm rủ bỏ tâm trạng nặng nề và tìm kiếm một chút ấm áp, chia sẻ.
Đến ga Tokyo vào buổi sáng, tôi rời tàu điện thường, và lên tàu Shinkansen Komachi để đi Akita. Sau một đêm di chuyển từ Nagoya lên Tokyo, tôi khá mệt mỏi và ủ rũ. Ngồi cạnh tôi là một anh người Nhật xa lạ. Nhìn thấy vẻ mặt mệt mỏi, buồn bã thiếu sức sống của tôi, đột nhiên anh ấy chủ động bắt chuyện, hỏi tôi từ đâu đến, là người nước nào (Từ lúc đến Nhật, đây là lần đầu tiên có một người Nhật bắt chuyện với tôi). Chỉ qua vài ba câu chào hỏi, anh ấy đưa tôi một bánh cơm nắm Onigiri và mời ăn sáng cùng. Cuộc trò chuyện dù ngắn ngủi nhưng làm tinh thần tôi phấn chấn hẳn lên. Tuy nhiên, để di chuyển đến Akita, tôi lại phải chuyển sang tàu khác. Biết tôi chẳng rành đường đi nước bước, anh ấy đã hướng dẫn tận tình, đưa tôi đến đúng chuyến tàu đi Akita rồi mới quay về…
Tỉnh Akita
Ngồi trên tàu đi đến Akita, tôi vẫn chưa hết ngạc nhiên về việc vừa xảy ra. Nó là một cái gì đó rất nhẹ nhàng, dịu dàng, giúp tôi trút hết mọi mệt mỏi và buồn chán. Ngày hôm ấy, đường đi Akita xa lắm, nhưng tôi cảm thấy rất gần và quen thuộc. Bên ngoài trời lạnh lắm, nhưng tôi lại cảm thấy lòng mình thật ấm áp vì nhận được sự chia sẻ rất tình người từ một người Nhật không quen biết, trên đất Nhật xa lạ.
Và rồi…cách đây một tuần, khi tôi đọc bài “Những giọt nước hôm nay” của anh Trần Đình Hoành, tôi lại nhớ lại câu chuyện ngày xưa trên tàu Komachi đi Akita. Tôi rất tâm đắc và thích câu trong bài viết của anh: “Small is beautiful – Nhỏ thì đẹp”.
Khi người ta phải dập mình xin xỏ điều gì, người ta hay nói “xin mở lòng từ bi.” Khi nàng sầu đời, con tim của nàng “khép kín.” Khi nàng chưa có ai, nàng mang sợi giây chuyền với con tim và chìa khóa lủng lẳng bên cạnh. Thế nghĩa là, con tim của ta có cửa và có khóa, phải không các bạn? Vậy thì, con tim của bạn có cửa có khóa không? Nếu có, thì chúng đang mở hay đóng? Và, thực ra cửa và khóa là cái gì? Bạn hãy thử trả lời đi. Nếu không trả lời được thì nguy. Bởi vì nếu chính con tim của mình mà mình không hiểu rõ, thì phiền quá phải không?
Có lẽ là ta nên dùng một khái niệm khác dễ thấy hơn là cửa và chìa khóa. Hãy nói đến hàng rào phòng thủ vậy. Mỗi người chúng ta có đủ loại hàng rào phòng thủ cho đủ mọi loại người. Gặp người lạ thì ta đưa hàng rào ra, không nói nhiều. Có nói thì cũng chỉ là chuyện chung chung, không tiết lộ thông tin cá nhân. Gặp người ghét, thì đẩy hàng rào lên rất cao, không muốn nghe gì, cũng không muốn nói gì. Gặp người có lập trường khác mình, thì chỉ nói chuyện khi nằm dưới chiến hào, sau mấy lớp kẽm gai.
Đương nhiên là khi đứng sau hàng rào để nói chuyện với nhau, ta hiểu ý nhau theo kiểu “đối thoại qua rào”, từ hai chiến tuyến. Rất khó để hiểu nhau như đôi uyên ương đang thủ thỉ. Có nghĩa là, trong những giao tiếp sau hàng rào, cơ hội để người ta hiểu nhau và gần gũi nhau xuống gần đến zero, và cũng rất có thể là số âm, tức là con số của các hiểu lầm trong liên hệ hằng ngày.
Các điều này rất dễ hiểu, nhưng đến một mức tế nhị hơn, thì khó thấy hơn một tí. Ví dụ, nhiều người ở trong một diễn đàn Internet cả bao nhiêu năm, nhưng không ai biết người đó hiện diện. Hàng rào ảo (cyber-fence, virtual-fence) quá cao, cho nên có mặt đó, nhưng không thể cho ai thấy mặt. Có người thì cũng thảo luận thường xuyên nhưng hầu như người ta chẳng biết gì về anh ta cả, vì anh ta không bao giờ nói gì về mình. Có nói thì chỉ là nói chuyện khác-mình, như là chính trị, xã hội, kinh tế. Giống như là môt computer nói chuyện.
Internet là một ví dụ sống động vì nó cho chúng ta thấy ta rất gần nhau nhưng cũng rất xa nhau. Bên ngoài Internet thì tình trạng chẳng khá hơn. Bao nhiêu người trong chúng ta nói gì với anh hàng xóm sâu xa hơn là ai thắng trận bóng hôm nay? Hay câu hỏi công thức, “Chào anh, anh khỏe không?”
Mặt nạ (Da Đỏ)
Và bao nhiêu lần trong một tuần, chúng ta có chuyện hiểu lầm trong công việc chỉ vì ông nói gà bà hiểu vịt? Và trên Internet, dĩ nhiên là mức độ hiểu lầm, hoặc không chịu hiểu nhau, còn cao hơn đời sống bên ngoài rất nhiều.
Sở dĩ thế là vì các hàng rào có khả năng ngặn chận sự hiểu biết và gia tăng hiểu lầm giữa các cá nhân. Tại sao vậy? Thưa, tại vì mỗi câu nói tự nó không có nghĩa lý chính xác. Nghĩa lý của mỗi câu nói lệ thuộc nặng nề vào ai nói, và nói trong hoàn cảnh nào. Ví dụ: “Tôi không thích chuyện đó.” Nếu câu này đến từ miệng một cô bé đi xe máy mới bị bạn chạm nhẹ ở bánh sau, nó hoàn toàn khác với cùng một câu nói nhưng phát ra từ miệng của một tên cướp đang dí dao vào cổ bạn khảo tiền.
Những người luôn luôn tự gói mình bên trong hàng rào, thường rất yếu về truyền thông (communication). Trong lúc đối thoại, họ thường không hiểu đúng ý người nói, và cũng không nói ra được chính xác điều họ muốn nói. Vì vậy người đối thoại với họ rất hay hiểu lầm ý họ. Cái yếu của những người này có hai lý do. Thứ nhất, thiếu thực tập. Những người nhiều hàng rào thường ít nói chuyện, nên khi nói thường hay gây hiểu lầm, vì không giỏi sử dụng ngôn ngữ. Thứ hai, không có đồng cảm. Đồng cảm thì dễ hiểu nhau. Nhưng người nhiều hàng rào thì không đồng cảm được với mấy ai.
Vì vậy muốn gia tăng khả năng truyền thông ta phải gia tăng hai điều: (1) Đồng cảm , và (2) khả năng sử dụng ngôn ngữ–tức là khả năng (a) nói và (b) nghe. Tất cả các điều ngày có thể đạt được bằng cách xóa bỏ hàng rào quanh ta, và trò chuyện với người chung quanh thường xuyên hơn và cởi mở hơn.
Xóa bỏ bằng cách nào?
1. Rất giản dị, chỉ cần bạn nói nhiều hơn về những cảm xúc trong lòng bạn, với mọi người chung quanh. Cách hay nhất và dễ nhất mà tất cả mọi chúng ta đều nên thực tập là những câu khen tặng và cám ơn, vì những lời này không những là dễ nói mà còn là hoa trái cuộc đời. Chúng làm cho người nghe vui thêm và người nói vui thêm. Chúng làm cho cuộc đời đẹp thêm, và ảnh hưởng đến mọi người như vitamin trong ngày. Trong văn hóa Việt, trừng phạt và phê phán xảy ra thường xuyên hơn khen tặng. Sao lại thế? Chúng ta cần phải thay đổi con người của mình và góp phần tích cực, mỗi phút trong mỗi ngày, đưa văn hóa nước nhà đến một hướng tích cực hơn.
2. Cao hơn một tí, ta chia sẻ xúc cảm của ta với người chung quanh. Cái gì làm mình buồn? Cái gì làm mình vui? Mình bất bình về việc gì và vui với việc gì trong xã hội? Nói chung là làm cho người khác hiểu lòng mình hơn. Chỉ có một cách kéo mọi người đến gần mình là mở lòng mình ra để họ hiểu mình hơn. Chẳng còn có cách nào khác. Mình càng nhiều rào cản, thì người quen càng phải đứng xa mình, ngoài rào. Giản dị thế thôi.
Tâm sự
Nhưng mở rộng lòng mình là một thử thách, phải không các bạn? Bởi vì chúng ta thường có ấn tượng là nếu chúng ta mở lòng, chúng ta sẽ dễ bị tổn thương, dễ bị tấn công. Đa số chúng ta nấp sau chức vị và công việc. Đã là giám đốc, đi đâu cũng phải “ăn nói như ông giám đốc.” Hay là luôn luôn nấp sau khuôn mặt nghiêm trọng, lạnh lùng, ít nói ít cười. Hay là đằng sau những cười nói giả tạo. Tại sao mình cứ không là mình? Tại sao mình ở nhà và mình ở sở là hai người hoàn toàn khác nhau? Dĩ nhiên là ở sở thì không tự do ở trần như ở nhà, và ăn nói cũng chặt chẽ hơn một tí. Nhưng một người, với hai cách hành xử hơi khác nhau ở sở và nhà, vẫn không phải là hai người biệt lập, khác nhau hoàn toàn, phải không các bạn?
Hơn nữa lý thuyết rằng, càng mở lòng ta càng dễ bị tấn công, không đúng trong thực tế, vì hai lý do. Thứ nhất, những người mở lòng thường xuyên với mọi người, thường rất giỏi về truyền thông và liên hệ, họ không dễ bị đả thương. Thứ hai, họ có nhiều bạn hơn thù. Rất khó đả thương người có nhiều bạn hơn thù.
Mình không có ý nói là đi đâu cũng không giữ ý, giữ tứ, bạ đâu nói đó vì “tui thẳng như ruột ngựa.” Thành thật không có nghĩa là ăn nói thiếu lịch sự và tế nhị. Người ăn nói tế nhị ý tứ, dùng ngôn ngữ làm mát lòng người, khác với người lúc nào cũng lặng câm sau mớ rào cản, hay là người đi đâu cũng xúc phạm người khác.
Mình cũng không có ý nói là bạn phải lớ ngớ đến mức gặp ai cũng tin, ai nói gì cũng tin. Xã hội có nhiều người không thành thật. Bạn không nên đi xe ôm ban đêm qua những con đường vắng. Không nên cho người lạ địa chỉ nhà. Nhưng, không tin người không có nghĩa là mình không dịu dàng và thân ái với mọi người.
3. Một mức cao hơn nữa để mở lòng mình là tham dự vào các thảo luận công cộng và các dự án cộng đồng. Nhưng mức này thực sự chỉ có thể tốt nếu chúng ta đã làm được 2 bước đầu. Nếu trong liên hệ với những người chung quanh, ta lạnh lùng, đóng kín và thiếu thành thật, thì có lẽ là các tham dự của ta vào các công việc cộng đồng chỉ có hại nhiều hơn là xây dựng. Con người chúng ta không thể thân ái với xã hội khi ta không thể thân ái với những người quanh ta hằng ngày.
Nói thì dài nhưng vấn đề thực ra rất đơn giản. Muốn thành công ở đời, chúng ta phải có nhiều bạn, và giỏi truyền thông. Muốn giỏi truyền thông ta phải truyền thông nhiều, tức là nói chuyện với mọi người nhiều. Muốn có nhiều bạn ta phải mở lòng mình ra, đừng kéo bao nhiêu dãy hàng rào bao bọc quanh mình. Người Việt ta gọi đó là “người cởi mở.” Và tính cởi mở liên hệ trực tiếp đến óc thông minh. Nếu bạn cởi mở và thân thiện với mọi người, người ta nói 1 bạn hiểu 10. Ngược lại, với người đứng sau hàng rào, người ta nói 10 mình hiểu 1. Thành ra, người cởi mở luôn luôn thông thái và nhanh nhẹn hơn người không cởi mở. Vì vậy, họ dễ thành công hơn. Và trên phương diện xã hội học, mỗi người chúng ta càng có nhiều bạn thân, xã hội chúng ta càng thêm cường thịnh.
Phỏng vấn tuyển việc, job interview trong tiếng Anh, là cuộc gặp giữa đại diện công ty và người đang tìm việc. (Nhiều người dịch là phỏng vấn tuyển nhân viên, nhưng cách dịch đó quá một chiều). Đến bước này là thư tìm việc của bạn đã qua khỏi vòng loại đầu tiên, nói theo kiểu Mỹ, là một danh sách dài gồm nhiều đơn tìm việc gởi vào công ty đã được shortlisted (thu ngắn lại) và bạn đang nằm trong shortlist (danh sách ngắn). Thông thường phỏng vấn là giai đoạn cuối cùng. Tuy nhiên cho những chức vị quan trọng, có thể có đến 2 hay 3 vòng phỏng vấn, mỗi vòng là một cuộc thu ngắn (shortlisting). Trong bài này chúng ta sẽ nói đến các phương cách chuẩn bị cho một cuộc phỏng vấn.
1. Đến lúc này thì có lẽ bạn đã khảo sát một tí về công ty trong giai đoạn gởi thư tìm việc. Việc đầu tiên cho việc phỏng vấn là nghiên cứu một thêm một tí về công ty. Chỉ cần Google một tí trên Internet là có khối thông tin. Nhớ một ít chi tiết, để khi phỏng vấn không lớ ngớ như Bác Ngố lên thành.
2. Khảo sát thêm về người sẽ phỏng vấn mình. Thông thường là cả hai người–giám đốc nhân viên và giám đốc của phòng mình sẽ làm việc (ví dụ, giám đốc IT). Nhưng đôi khi chỉ có một trong hai người này. Tuy vậy, cứ chuẩn bị cho cả 2 người cho chắc ăn. Việc “chuẩn bị” này nên lồng vào việc “tạo dây liên hệ” với công ty theo tiến trình sau đây:
• Gọi vào công ty, nói chuyện với người đã báo tin cho bạn về cuộc phỏng vấn (thường là giám đốc nhân viên, hay trợ lý của bà ta). Đại khái nói ý này: “Em tên là XYZ. Em mới nhận được thơ báo tin phỏng vấn của cô. Em rất vui. Em gọi vào để cám ơn. Và để xác nhận với cô là em sẽ có mặt đúng 2 giờ chiều ngày … như thơ cô báo.”
Cú điện thoại này của bạn thực ra là một cuộc phỏng vấn rồi đó; nhưng cuộc này bạn nắm phần chủ động 100%. (Các bạn nên ghi nhớ các “tư tưởng chiến lược” trong ví dụ này nhé. Vì đây là phương cách giao tiếp thương mãi chung, không phải chỉ cho phỏng vấn tìm việc).
Xin chú ý, trong thí dụ này mình dùng cách xưng hô cô và em, cách xưng hô thân mật và lễ độ của người Việt. Nếu bạn xưng hô “bà” và “tôi”, nhất định là không có việc. Nếu xưng hô bà và em, cơ hội tăng một tí, xưng hô cô và em lại tăng thêm một tí nữa.
Nhưng giả sử nói chuyện với cô thư ký của bà ta thì sao? Nếu cô ấy nhỏ hơn mình vài tuổi thôi, chớ có kêu cô ấy bằng em, nếu cô này hay tự ái vặt, tìm cách rỉ tai bà chủ, thì hỏng cả việc của mình. Cứ kêu là chị, cách xưng hô trong đại học và giới trí thức. Xưng là mình hay là gì đó. “Tôi” là từ lạnh lùng nhất trong ngôn ngữ Việt. Lễ độ và dễ thương với mấy cô thư ký. Các cô ấy phải là đồng minh của mình thì việc mới thành.
Hỏi cô: “Cô có thể cho em biết cô hay là ai sẽ phỏng vấn em để em chuẩn bị tinh thần.” Câu hỏi này nhằm nhiều mục đích. Thứ nhất, để mình biết cách chuẩn bị. Thứ hai, để cô biết là mình rất quan tâm đến cuộc phỏng vấn, như vậy là mình rất quan tâm đến công việc. Thứ ba, để nói một cách rất tế nhị là “Cô ơi, em hơi run. Cô giúp em.” Nói như vậy, nhưng thực ra không nói vậy, cho nên không tỏ ra vẻ yếu ớt. Ngược lại, nó tỏ ra vẻ mình rất quan tâm đến công việc. Lưu ý, trong câu hỏi này mình nói “cô hay là ai”; đừng bỏ cô ra ngoài câu nói.
Hỏi thêm: “Cô ơi. Trong cuộc phỏng vấn em nên xưng hô với cô và với ông giám đốc IT như thế nào ?” Câu này vừa để cho mình biết cách xưng hô hay nhất, vừa để cô thành đồng minh giúp mình.
Nếu nói chuyện với cô thư ký, thì cũng hỏi như vậy, và nhớ là phải rất dịu dàng lễ độ với các cô thư ký, vì các cô ấy thường nhiều tự ái hơn là bà chủ.
Đừng nên nói quá lâu và quá nhiều trong cuộc điện đàm này.
Phỏng vấn
• Sau đó, gởi vào một lá thơ để “cám ơn cô đã báo tin phỏng vấn”, và cám ơn việc “cô đã nói chuyện với em trong điện thoại hôm nay,” và “như em đã nói, em sẽ có mặt hôm ấy.”
Gởi thêm một email với nội dung tương tự. Trong email nhớ nhắc là mình cũng có gởi một lá thơ thường. Mục đích của email là vận tốc. Mục đích của thơ thường là để nó có dịp nằm chình ình trên bàn cô. Mục đích của cả hai là “tạo liên hệ” với công ty.
Tức là đến lúc này mình đã có bốn liên hệ với công ty: Thơ xin việc, cú điện thoại, email, và thơ thường. Ba liên hệ sau cùng là giữa mình và người sẽ phỏng vấn mình.
Đừng text vào điện thoại di động (nếu bạn biết số). Texting là dành riêng cho việc riêng thôi.
• Google để tìm thêm thông tin về những người sẽ phỏng vấn mình.
3. Đến ngày phỏng vấn:
• Ăn uống cái gì đó cho tỉnh táo trước khi đi. Cách ăn mặc thì có lẽ các bạn đã rành hết rồi.
• Đến trước khoảng 10 hay 15 phút để làm quen với không khí, và may ra thì có dịp nói chuyện một tí với cô thư ký.
• Mang theo một tập tài liệu, gồm vài resume của bạn (phòng khi cô làm lạc trong đống hồ sơ của cô rồi, và vài tài liệu về công ty). Điều quan trọng là trên tay có cầm cái gì thì cũng làm cho mình thoải mái hơn là thấy hai cái tay quá thừa thải.
• Chuẩn bị tinh thần: Đừng nghĩ rằng đây là một cuộc khảo thí. Cứ xem đây là một cuộc nói chuyện với vài người bạn mới. Nếu không được việc làm, ít ra mình cũng biết thêm được hai người quan trọng. Biết đâu mai mốt lại gặp nhau trong một trường hợp khác. Dù không được việc, ít ra cũng có hai người có cảm tình với mình rất nhiều.
Cũng cần nhớ rằng, đây vừa là cơ hội để công ty biết thêm về mình, vừa là cơ hội để mình biết thêm về công ty. Chuẩn bị một số câu hỏi để hỏi về công ty. Đây là đường hai chiều, công ty chọn mình và mình chọn công ty, chứ không nhất thiết là đường một chiều của người “xin” việc. Và người phỏng vấn mình cũng cố làm cho mình thích họ, chứ không phải chỉ có mình cố gắng một chiều.
Một đối diện ba
4. Lúc vào phỏng vấn:
• Nếu cô đưa tay ra bắt, thì bắt tay một cách chắc chắn, tự tin.
• Đợi mời ngồi rồi hãy ngồi. Tốt hơn là không nên ngồi trước.
• Nếu cô mời trà hay cà phê, thì cứ xin một ly. Đây là nghĩa là “Vâng, em cám ơn ly trà của cô.” Từ chối lời mời thường là việc không tốt. Nhưng nếu cô quên mời, thì đừng nên tự hỏi.
• Chủ động nói trước bằng một vài nhận xét tốt, như “Cửa sổ này của cô nhìn ra ngoài đẹp quá, em rất thích”, hay “Em thích bức tranh này quá”, hay “Cô thích nhạc cổ điển sao?” (nếu cô đang mở nhạc cổ điển), hay “Đấy là ảnh của con gái cô sao?”
• Lực chọn cách ngồi thoải mái nhất cho mình. Ngồi thẳng lưng, tréo chân, hay tay để trên đùi (gần đầu gối) là cách ngồi trung tính và thoải mái nhất. Ngồi hay chân sát vào nhau cũng được. Tuy nhiên thế ngồi này, nếu không thẳng lưng thì nhìn rất khúm núm. Hơn nữa, nếu ghế hơi cao thì rất phiền. Khi ngồi, hoặc thẳng lưng hoặc hơi hướng đến phía trước. Đừng dựa hẳn vào lưng ghế.
• Lúc cô nói, thì thỉnh thoảng gật đầu. Đến lúc quan trọng thì chồm người đến phía trước một tí, nhìn thẳng mặt cô, để lắng nghe.
• Lúc trả lời câu hỏi thì tuyệt đối không nói câu nào tiêu cực như là không thích việc đang làm, không thích công ty đang làm, v.v… Đổi thành, “Công ty này của cô lớn hơn và có nhiều cơ hội cho em tiến hơn” hay “Em đang làm hãng xe hơi, nhưng em từ lâu lại rất thích IT. Em nghĩ là tương lai thế giới nằm trong IT, nên em muốn vào công ty IT của cô.” (Chúng ta sẽ bàn thêm về các câu nói trong phỏng vấn trong một dịp khác).
• Nếu có dịp thì hỏi thêm về công ty, và dùng các dịp này để cho cô biết mình rành về công ty. Ví dụ: “Em đọc báo thấy công ty quý vừa rồi lời 2 triệu đô la, như vậy đợt tuyển này có phải là công ty bành trướng thêm không ạ?” hay “Thưa cô, nếu em được vào làm ở đây, và nếu em làm khá, thì trong 5 năm em có thể có những đường tiến nào trong công ty ?” Đây là câu để cô biết là ta tính chuyện đường dài với công ty.
• Tuyệt đối không nên hỏi chuyện tiền. Nếu cô hỏi: “Em muốn lương bao nhiêu?” Câu trả lời hay nhất là: “Em nghĩ là nếu cô tuyển em vào đương nhiên là cô biết em xứng đáng được bao nhiêu, em sẽ tin vào ý cô.” Vài quyển sách ở Mỹ nói chuyện trả giá ở đây, nhưng theo ý mình, đó là rất tồi và không hiệu quả.
• Nhưng nên hỏi về các quyền lợi khác như bảo hiểm.
• Không nên hỏi về vacation.
• Nếu cô hỏi đúng điều gì mình không biết thì cứ trả lời không biết một cách thành thật và tự tin. Ví dụ: “Thưa cô em chưa có dịp phải sử dụng C language, nhưng nếu cần học em có thể học rất nhanh. Em không lo về việc ấy. Em có rất nhiều kinh nghiệm về các ngôn ngữ lập trình khác rồi.” Chú ý: Câu này chấm dứt bằng một đoạn rất tích cực. Đừng có trả lời “Dạ em không biết” rồi ngưng tại đó luôn, nói thêm một cái gì rất tích cực.
5. Phỏng vấn về viết ngay một email và một thơ thường, cám ơn. Sau đó, cứ vài ba bữa là gọi vào cô hỏi tin tức. Cho đến khi biết kết quả. Nếu không được việc, cũng nên gởi một cái thơ cám ơn, và nhắn “Hôm nào cô cần thêm người thì nhớ đến em.” Biết đâu 3 hôm nữa cô lại cần thêm ngưởi. Tất cả các lá thơ và các cú điện thoài này đều nhằm xây thêm liên hệ giữa mình và công ty (cô).
Trên đây là tóm tắt vài ý chính giúp các bạn khi vào phỏng vấn. Các vấn đề này nếu viết kỹ và dài dòng thì thành một quyển sách. Chúng ta sẽ cứ nói từ từ ở đây, trên blog này. Bốn điều quan trọng cần ghi nhớ trong bài này là: Thứ nhất, tích cực trong tư duy và cách nói chuyện. Thứ hai, chuẩn bị. Thứ ba, luôn luôn chủ động. Thứ tư, xây dựng quan hệ—nếu không được công việc, cũng được quan hệ. Thực ra, nếu bạn suy nghĩ kỹ thì công việc là chuyện tức thì, quan hệ là chuyện lâu dài. Nếu được cả hai thì càng tốt, nhưng nếu không được cái tức thì, ít ra mình cũng xây dựng được cái lâu dài.
Từ ngàn xưa con người đã khám phá ra “trâu tìm trâu, ngựa tìm ngựa,” “nồi nào vung nấy,” “lòng tin bằng hạt cải dời được núi non,” và những câu “thần chú” ngắn gọn lập đi lập lại với lòng thành sẽ làm cho sự việc xảy ra theo ý mình muốn. Ngày nay cả thể giới phương Tây đang nói đến các điều này, nhưng với một từ mới hơn—Luật Hấp Dẫn (law of attraction).
Một cách vắn tắt, luật hấp dẫn nói rằng bất cứ tư tưởng gì ta có cũng đều hấp dẫn các năng lực tương tự trong vũ trụ để tạo nên sự việc theo tư tưởng đó. Ví dụ: “Tôi sẽ có tiền,” nếu cứ nghĩ và tin như thế tự dưng ta sẽ có tiền. “Tôi sẽ đẹp,” cứ nghĩ như thế thì ta sẽ thành đẹp ra.
• Dĩ nhiên nói đến “lòng tin” hay “thần chú,” thì vấn đề có một nền tảng rất khoa học. Nếu ta cứ tin là ta có tiền thì ta sẽ rất hăng hái lao vào các việc làm tiền. Càng làm, càng nhiều kinh nghiệm, càng giỏi, càng thành lớn. Đây chỉ là chuyện hiển nhiên. Hoặc, chàng nào tin là mình đẹp trai thì thường hay để ý đến cách ăn mặc hơn và tự tin hơn với các cô. Mà các cô thì thích đàn ông ăn mặc tử tế và tự tin. Rốt cuộc số lượng các cô bạn chàng có là chứng minh hùng hồn nhất là chàng đẹp trai. Lòng tin làm cho mình có tự tin và tập trung tư tưởng, do đó đưa đến thành công. Vấn đề rất giản dị.
• Tuy nhiên luật hấp dẫn còn có khía cạnh “siêu nhiên” của nó. Đó là, sức mạnh của tư tưởng hấp dẫn các năng lực trong vũ trụ để thực hiện ý muốn của tư tưởng. Tương tự như nhà Phật nói, một tiếng khẩy móng tay có thể mang âm ba rung động đến vô lượng thế giới. Như vậy nghĩa là sao? Năng lực gì trong vũ trụ lại cộng hưởng với năng lực của tư tưởng của ta đến mức đó?
Chúng ta sẽ không đi vào lãnh vực tâm lý ngoại cảm mà ta không đủ sức chứng minh, tức là “vô lượng thế giới.” Thay vì vậy, ta sẽ chỉ khảo sát luật hấp dẫn trong thế giới cá nhân của mỗi người chúng ta, để thấy được tính cách khoa học của nó, và để sử dụng nó một cách hiệu quả. Thế giới cá nhân của mỗi người chúng ta là chính mình, gia đình, bạn bè, những người làm cùng sở, những người mình giao tiếp hằng ngày, những người mình không giao tiếp nhưng họ có tiếp xúc với tư tưởng của mình—như những người đọc điều gì mình viết trên Internet.
Hấp dẫn nhau cực độ
• Danh từ đầu tiên ta phải giải thích là “tư tưởng.” Từ “tư tưởng” (idea) trong luật hấp dẫn có thể làm cho rất nhiều người hiểu lầm rằng đó là một hoạt động của ý thức, như “suy nghĩ” hay “suy tư.” Nhưng trong luật hấp dẫn, “tư tưởng” có nghĩa là một hoạt động của tâm thức—gồm ý thức, tiềm thức và cả các cảm giác như vui buồn yêu ghét. Nói chung, tư tưởng là tất cả những gì xảy ra trong tâm ta. Mà nói đến tâm, là chúng ta đều biết tiềm thức lớn lao và mạnh mẽ hơn ý thức ngàn lần, cho nên khi hiểu từ “tư tưởng” trong luật hấp dẫn như là một hành động suy nghĩ của ý thức mà thôi, là ta đã làm mất sức mạnh của luật hấp dẫn đi cả trăm, cả nghìn lần. Ví dụ: Nếu miệng ta lẩm bẩm “tôi sẽ có tiền” (tức là ý thức), nhưng trong thâm tâm ta không tin là điều này sẽ thành sự thực (tức là tiềm thức). Mà tiềm thức thì mạnh hơn ý thức cả nghìn lần, cho nên đương nhiên là ta sẽ sống theo hướng “tôi sẽ không có tiền,” và vì vậy mất tự tin trong việc kiếm tiền. Thế thì luật hấp dẫn vẫn đúng, nhưng “thần chú” của ta thì sai.
• Vì tiềm thức rất khó cho ta “thấy,” ta cần phải tìm cách “thấy” tiềm thức qua những cái khác—lòng tin, và cảm giác. Lòng tin điều khiển một phần rất lớn sự “suy nghĩ” của tiềm thức, và cảm giác thường là hậu quả của tiềm thức, cho nên ta quản lý tiềm thức bằng quản lý lòng tin và cảm giác—lòng tin phải thật mạnh mẽ, cho đến nỗi ta luôn luôn cảm thấy rất là hăng hái, chắc ăn. Khi ta nói “tôi sẽ có tiền” với một lòng tin mạnh mẽ và một cảm giác hăng hái, chắc ăn, thì lúc đó “tư tưởng” của ta mới tạm gọi là chân thật và mạnh mẽ. Vì vậy, thay vì nói “ý thức” và “tiềm thức,” rất mơ hồ và khó hiểu, chúng ta chỉ cần quan tâm đến 3 điều: (1) sự suy nghĩ, (2) lòng tin, và (3) cảm giác. Suy nghĩ đến điều gì, như “tôi sẽ xuống cân,” thì suy nghĩ với một lòng tin vững chãi và một cảm giác hăng hái. Lúc đó tư tưởng mới thực sự có sức mạnh chuyển hóa đời sống ta và thế giới của ta.
• Nói đến đây có lẽ chúng ta đã mường tượng được luật hấp dẫn hoạt động như thế nào: Nếu ta cứ nói “tôi có tiền” với một lòng tin mạnh mẽ và một thái độ hăng hái, thì tiềm thức “tôi sẽ có tiền” sẽ bắt đầu chỉ huy tác phong và cách sống của ta. Tự nhiên là ta sẽ bắt đầu hăng say nghiên cứu việc kiếm tiền, nói chuyện kiếm tiền với bạn bè, siêng năng đi tìm việc làm, hễ việc gì có thể kiếm ra tiền ta đều hăng hái làm. Những người như vậy, đi xin việc ở đâu, các ông chủ đều mê. Người nào muốn làm thương mại gì cũng muốn tìm partner như vậy. Không giàu sao được?
• Như vậy ta thấy tư tưởng của ta đã chuyển hóa được đời ta, và ít nhất là đời sống của những người làm việc chung. Và nếu có bạn bè thân nhân nào đó, nghe ta nói và tin vào cách sống của ta, họ làm theo và thành công, đó cũng là do tư tưởng của ta đã phần nào chuyển hóa cuộc đời họ. Và nếu một tờ báo nào đó nhờ ta viết một bài về kinh nghiệm của mình, những độc giả nào nhờ đó mà chuyển hóa đời sống của họ, một phần cũng là do tư tưởng của ta. Đó chính là tư tưởng của ta có năng lực chuyển hóa thế giới của ta. Và nếu uy tín của bạn càng cao trong xã hội, thì thế giới của bạn càng lớn, ảnh hưởng chuyển hóa của bạn trên hành tinh này càng nhiều. Rất thực tiễn và khoa học.
• Luật hấp dẫn là luật tự nhiên, như là trọng lực, rất trung tính. Luật hấp dẫn đúng với tất cả mọi người, không cần biết nam nữ, lớn bé, giàu nghèo, và quan trọng nhất là, không cần biết tốt xấu. Người lương thiện tin chắc chắn là mình sẽ giàu, sẽ giàu nhờ làm ăn lương thiện. Người có máu ăn cướp, tin một cách sắt đá là mình sẽ giàu, thì sẽ giàu nhờ ăn cướp. Vì vậy, chúng ta thấy trong xã hội, bất kỳ ai, tốt hay xấu, cũng có thể “thành công.”
Vẫn hấp dẫn nhau được
Thế thì có gì khác biệt giữa người xấu và người tốt ở đây? Thưa, có luật nhân quả (law of causation). Chữ này nghe như xuất thân từ Phật giáo, nhưng thực ra cả thế giới đã dùng nó cả triệu năm nay, vì đánh người thì sẽ có hậu quả là bị người đánh lại, ai cũng phải thấy. Nếu làm ăn lương thiện thì có nhiều bạn và không có kẻ thù, cho nên có xác suất rất cao là thành công sẽ ở với mình rất lâu. May ra thì có thể hưởng được tuổi già hạnh phúc. Nếu đi ăn cướp, thì có nhiều kẻ thù quá, lại được các bác công an chiếu cố đặc biệt, nên xác suất hưởng được “thành công” lâu ngày chắc là chỉ hơn zero một nấc nhỏ, và xác suất được đứng dựa cột thì suýt soát 100%. Sự khác biệt giữa tốt và xấu là ở chỗ đó—một bên thì nhiều bạn nên sống lâu, một bên thì nhiều thù nên chết yểu.
• Luật hấp dẫn là luật của tư tưởng, mà ngôn ngữ là một phần rất lớn của tư tưởng, cho nên ngôn ngữ rất quan trọng trong luật hấp dẫn. Chúng ta đã nói qua điều này trong bài “Sức mạnh của tư tưởng.” Trong ngôn ngữ của con người, thể phủ định có ảnh hưởng rất yếu trong tâm thức. Ví dụ: “Tôi không yêu ai” thì nhạt như nước ốc. Nó chẳng có nghĩa lý gì hết, nó chỉ có nghĩa là tôi không yêu ai, và không chắc là tôi có ghét ai không. Nghe chán phèo. Hay “tôi không chống anh,” chẳng nghĩa lý gì cả, vậy anh có ủng hộ tôi không?
Vì vậy khi ta nói một câu phủ định “tôi không muốn béo,” tiềm thức của ta không “thấm” cái yếu ớt của chữ “không” phủ định, mà lại thấm cái mạnh mẽ của chữ “béo” xác định. Cho nên tiềm thức cứ hướng ta sống theo hướng “béo.” Vì vậy, các chuyên gia về tư duy tích cực (cũng như các luật sư chuyên về tranh tụng trước tòa) luôn luôn dạy người ta nói và viết ở thể xác định: “Tôi muốn gầy” (không phải là “tôi không muốn béo”), hay “tôi muốn giàu” (không phải là “tôi không muốn nghèo”).
• Một số các chuyên gia còn có cách trình bày thế này: Luật hấp dẫn không biết văn phạm , chỉ biết các từ mà thôi. Nếu câu bạn nói mà có chữ “yêu,” không cần biết đó là phủ định hay xác định, thì luật hấp dẫn cứ dẫn ta đi theo hướng “yêu.” Các bạn có nghe các phụ nữ lớn tuổi kể chuyện đời của họ không: “Hồi đó tui ghét ổng gần chết, thấy mặt là wẹo đường khác. Nhất định là không thèm thương. Rốt cuộc cũng lấy ổng.” Tóm lại “tôi yêu anh Tín” hay “tôi không yêu anh Tín,” đối với luật hấp dẫn thì như nhau, và cả hai chỉ có nghĩa là “yêu” và “anh Tín.” Tương tự như vậy, “tôi không thích béo” và “tôi thich béo” đều chỉ có nghĩa là “tôi” và “béo.” Vì vậy, ta luôn luôn phải suy nghĩ (và nói chuyện cũng như viết lách) theo thể xác định. Và dĩ nhiên là chỉ nên dùng các từ tích cực. (Từ tích cực là từ nói đến cái ta muốn, ta thích. Nếu bạn thích gầy, thì “gầy” là từ tích cực và “béo” là từ tiêu cực. Ngược lại nếu bạn thích béo, thì “gầy” lại là từ tiêu cực và “béo” là từ tích cực).
Đỉnh cao hấp dẫn
• Dĩ nhiên là ai trong chúng ta cũng biết ảnh hưởng của luật lập đi lập lại (law of repetition). Các giáo chức đều rất giỏi luật này. Dạy một điều nhưng cứ lập đi lập lại hằng trăm lần, bằng hằng trăm cách khác nhau (biết rồi, khổ lắm, nói mãi!), như vậy thì học trò mới nhập tâm được. Cho nên, theo luật hấp dẫn, nếu bạn muốn điều gì thì soạn một câu thần chú ngắn, như “tôi sẽ có tiền,” rồi cứ thầm lập đi lại câu đó trong đầu, thì luật hấp dẫn sẽ có tác dụng mạnh mẽ. (Nhắc thầm thôi, lảm nhảm ngoài miệng chắc là sẽ bị người nhà cho nhập viện 🙂 ).
• Và một quy luật ngôn ngữ khác nữa là hiện tại thì luôn luôn mạnh hơn tương lai. Hãy so sánh “anh yêu em” và “anh sẽ yêu em” xem câu nào mạnh hơn. Nhưng điều ta ước muốn đương nhiên là thuộc về tương lai, ví dụ “tôi muốn có tiền.” Thế thì ta giải quyết cái yếu của tương lai thế nào? Thưa, có 2 phương cách. Thứ nhất, nếu việc gì có thể biến nó thành hiện tại, thì phải suy nghĩ theo cách hiện tại. Ví dụ: Thay vì “tôi sẽ có tự tin” thì ta phải nói “Tôi có tự tin,” vì chẳng lý do gì ta không thể nói “tôi có tự tin ngay bây giờ” mà phải đợi đến sang năm.
Thứ hai, đôi khi ta cảm thấy nhất định không thể nói thì hiện tại một cách đầy tin tưởng được, ví dụ, nếu trong túi không có một đồng xu, thì nói “tôi sẽ có tiền” dễ tin hơn là “tôi có tiền.” Trong trường hợp đó cứ nói “tôi sẽ …” nhưng phải buộc tương lai vào hiện tại, ngay trong lúc này, ngay ở đây. Tức là, hiện thời tôi đang ngồi đây nói chuyện với bạn của tôi, tôi biết là tôi muốn có tiển và “tôi sẽ có tiền,” nhưng cái “sẽ” đó có thật được hay không cũng là do tôi sống trong hiện tại có thật hay không—tương lai chỉ là một chuỗi những ngày của hiện tại. Hiện tại tôi đang nói chuyện với bạn tôi, tôi sẽ nói chuyện rất thực, tôi sẽ lắng nghe rất kỹ, sẽ mở rộng đầu óc và con tim để nghe, tôi sẽ chia sẻ thật tình, tôi sẽ dùng mỗi giây đồng hồ một cách tận tình. Sống ngay phút này, ngay tại đây, một cách tận tình, dù là mình đang làm bất kỳ việc gì, thì đó là cách để nối hiện tại có thật vào một tương lai sẽ đến thật.
• Cuối cùng, có bạn hỏi luật hấp dẫn này từ đâu tới? Dĩ nhiên là nghe qua ta cũng thấy luật hấp dẫn là quy luật tâm lý tự nhiên. Con người hấp dẫn nhau vì sức mạnh bên trong của mình. Và các chuyên gia về tâm lý và truyền thông (communication) đã nói đến nhiều thập kỷ (nếu không nói là hàng nghìn năm nay). (Chỉ có phần tâm lý ngoại cảm–năng lượng của tâm thức làm chuyển động năng lượng của vũ trụ–thì mình xin được phép miễn bàn, vì chưa nắm chắc). Gần đây một vài cuốn sách bán chạy đã đẩy danh từ “luật hấp dẫn” thành rất phổ thông. Theo mình nghĩ, luật hấp dẫn được diễn giảng ngày nay chính là “tư duy tích cực” phát xuất từ các giảng sư Thiên Chúa giáo khi xưa—lòng tin bằng hạt cải dời được núi non–trình bày lại một cách khoa học hơn bằng các khái niệm Phật giáo đang rất thịnh hành trong giới trí thức Âu Mỹ ngày nay.
Cụm từ “hướng đến giải pháp” là dịch từ chữ “solution-oriented.” Người hướng đến giải pháp là người luôn luôn nghĩ đến giải pháp. Vừa nghe xong một vấn đề gì là họ thường nói “Chà, làm sao để giải quyết nhỉ?” Đây là loại người hoàn toàn khác với các ca sĩ chuyên hát “Chán quá, chỉ là một lũ ngu dốt bất tài!” Trong các mục tìm người ở Mỹ, chúng ta hay thấy từ “solution oriented” hay “result oriented” (hướng đến kết quả). Continue reading Hướng đến giải pháp→
Thỉnh thoảng một vài thương gia nhờ mình viết hợp đồng liên doanh mở công ty, và lâu lâu mình lại gặp một trường hợp mà vị thân chủ có rất nhiều lo âu với đối tác: “Nếu mai mốt anh ta chơi tôi như vầy, như vầy, thì tôi phải làm sao?” Mình trả lời: “Việc đó thì dễ. Để mình vô hợp đồng câu này, thì tránh việc đó được.” Một hồi sau, vị thân chủ nhắc đến một vấn đề khác: “Nếu anh ta lại tính như vầy, như vầy thì sao?” Mình đương nhiên là ghi thêm vào hợp đồng một câu mới. Một hồi sau đó, vị thân chủ lại nhắc thêm một vấn đề khác: “Còn nếu anh ta lại làm vầy, làm vầy, thì sao?” Đến lần thứ ba như vậy, mình thường thường ngưng viết, nhìn thẳng mặt vị thân chủ và nói: “Dĩ nhiên là mình có thể ghi thêm một câu đề phòng mới. Nhưng mình có vấn đề quan trọng này muốn nói với anh trước. Mình có cảm tưởng là anh không tin tưởng người bạn này và hơi lo lắng về việc anh ta chơi xấu anh phải không?” Câu trả lời mình thường nghe được là, “Cũng không phải là không tin, nhưng đề phòng trước vẫn hơn.” Continue reading Chọn mặt gởi vàng→
Bất kỳ cái gì trên đời cũng đều sinh ra từ một cái gì trước đó. Bất kỳ đời ta sau này sẽ thế nào, nó bắt buộc phải sinh ra từ cuộc đời của ta hiện tại, và bất kỳ ta muốn phát triển tương lai của mình thế nào, tương lai đó phải sinh ra từ vốn liếng hiện tại và hiệu năng trong việc sử dụng vốn hiện tại. Vốn và sử dụng vốn là hai vấn đề căn bản nhất của một thực thể, dù thực thể đó là “Công ty du lịch Xanh” hay “Đời Tôi.” Continue reading Vốn và sử dụng vốn→
Đã là con người thì ai cũng thích mọi sự dễ dàng—không làm mà tiền vẫn tới, không cày mà ruộng vẫn tươi, không phân bón mà cây vẫn tốt. Người nào nói mình không thích sung sướng thoải mái như vậy, chắc là hơi bệnh trong đầu rồi. Khổ nỗi cuộc đời không thiên đường như thế (kể từ khi Eve khuyến dụ Adam ăn trái cấm và cả hai bị đuổi khỏi vườn địa đàng 🙂 Hmm… đàn bà… Không biết Thánh Kinh bôi bác đàn bà hay là nói lên một sự thật căn bản của con người—từ khai thiên lập địa, đàn ông đã bị phụ nữ xỏ mũi kéo đi? 😦 ). Continue reading Khó Khăn→
Tư duy tích cực là gì? Tư duy tích cực khác với một vài loại tư duy khác như thế nào? Tại sao ta lại cần tư duy tích cực?
“Tư duy” thường có nghĩa là suy nghĩ, và nói đến suy nghĩ là ta thường có ấn tượng rằng đó là một hoạt động của não bộ một lúc nào đó. Thực ra, từ “tư duy” ở đây rông rãi hơn, và có nghĩa là một thái độ sống, một cái nhìn về cuộc đời và sự sống, tương tự như tư duy trong cụm từ “thay đổi tư duy.” Tư duy tích cực chính là “sống tích cực” hay “thái độ tích cực.”
“Tích cực” có nghĩa là … không tiêu cực 🙂 , là
(1) khi nhìn mọi sự, mọi vật, mọi vấn đề ta luôn luôn thấy cái hay, cái đẹp, cái tốt;
(2) nếu thấy cái xấu ta có khả năng biến cái xấu thành cái tốt; và
(3) luôn luôn hướng đến hành động để làm mọi sự tốt hơn.
Ví dụ: (1) Bạn A. của mình thật năng động và có lòng tốt với mọi người, (2) chỉ hơi keo kiệt một tí, nhưng như vậy thì, nếu bạn làm thủ quỹ cho nhóm mình, chắc chắn là quỹ chẳng bao giờ thiếu hụt, và (3) cứ làm từ thiện hoài thì chắc chắn là bạn sẽ từ từ biết cách “phung phí” tiền cho người nghèo khổ.
Đặc điểm của tư duy tích cực là
(1) tập trung cái nhìn và tư tưởng vào cái tốt, nếu thấy cái xấu cũng phải tìm cho ra cái tốt trong cái xấu để tập trung tư tưởng vào đó, và
(2) dùng cái tốt như là động lực thúc đẩy mình sống và làm việc, đi đến mục đích cuối cùng là làm cho cuộc đời tốt đẹp hơn. Cuộc đời đây là cuộc đời của chính mình, và là cuộc đời của thế giới mình sống. Tức là, cái tốt vừa là động lực thúc đẩy mình sống, vừa là mục tiêu tối hậu của cuộc sống.
Thông thường người ta thường phân chia thế giới thành hai nhóm người—tích cực và tiêu cực. Nhưng đó chỉ là cách nói tắt cho thuận tiện; thực ra ai cũng vừa tích cực vừa tiêu cực, chỉ là khuynh hướng nào mạnh hơn mà thôi. Hơn nữa, thông thường ta hay có thói quen tích cực hay tiêu cực tùy theo… trời mưa nắng và tùy theo đối tượng suy tưởng là người yêu hay… ông hàng xóm khó chịu.
Ta thực tập tư duy tích cực để ta luôn luôn tích cực–những ngày nắng đẹp cũng như những ngày ngập lụt, khi dạo phố với người yêu cũng như khi bị đụng xe–đối với tất cả mọi người–bạn thân hay địch thủ, thánh nhân hay đồ tể.
Bay!
Và ta cần “thực tập” vì tâm tính không dễ gì thay đổi được. Tâm tính của mỗi người là một bộ máy tâm sinh lý đặc biệt, cứ như thế mà vui buồn yêu ghét. Không phải muốn đổi tâm tính là có thể làm xong trong một ngày, một tuần. Nếu cơ thể cần được tập luyện mỗi ngày, khá lên mỗi ngày một tí, vài ba năm mới được như vận động viên, thì tâm tính cũng thế, cũng phải được rèn luyện mỗi ngày, không, mỗi phút giây ta sống. Và phải kiên nhẫn một thời gian thì mới có được kết quả “trông thấy”.
Nhưng tại sao ta phải suy tư tích cực? Trời sinh sao để vậy không được sao?
Trước hết, tâm tính của ta không phải do trời sinh. Các yếu tố di truyền có dự phần một tí, như là sinh ra thì có hai tay hai chân, nhưng có đai đen Judo hay một cơ thể èo ọt bệnh hoạn là do ta. Trí lực và tâm lực cũng thế, trời sinh ra có tâm trí, tích cực hay tiêu cực là do ta.
Và thực ra thì chẳng ai bắt ta phải tích cực hay tiêu cực cả, sống cách nào là sở thích cá nhân và tự do lựa chọn của mỗi người. Nếu ta muốn làm thư sinh trói gà không chặt, tối ngày thương mây khóc gió, như các nho sĩ trong Số Đỏ, thì cũng được. Nhưng nếu ta muốn mạnh mẽ từ thể chất đến tinh thần, sống như hải âu cưỡi gió trên những lọn sóng đại dương, thì ta phải tư duy tích cực. Chỉ là vấn đề lựa chọn.
Một trong những câu hỏi ta hay gặp khi nói đến tư duy tích cực là: “Đôi khi ta cũng cần phải phê phán chứ. Critial thinking cũng cần vậy.” Critical thinking, tạm dịch là tư duy phê phán, là một phương thức suy nghĩ rất được chú trọng ngày nay. Thực ra critical vừa có nghĩa là phê phán, vừa có nghĩa là nghiêm trọng. Đây là cách suy nghĩ đặt trọng tâm vào nghi vấn—đánh dấu hỏi tất cả các tiền đề, các kết luận, các dữ kiện, các phương pháp làm việc, trong một vấn đề, cho đến khi ta thỏa mãn với độ chính xác của tất cả các điều này và đi đến một kết luận chính xác. Và nếu nói đến nghi vấn và phê phán tức là nói đến việc phải mang cái xấu (và cái tốt) ra mổ xẻ. Mà nói đến cái xấu là có người nghĩ rằng như vậy có vẻ không tích cực.
Chúng ta sẽ nói đến critical thinking chi tiết hơn trong một dịp khác. Tại đây chúng ta chỉ cần nhắc rằng, critical thinking (tư duy phê phán) và positive thinking (tư duy tích cực) đều cần thiết và có thể đi đôi với nhau. Positive thinking là một thái độ sống, hơn là một phương thức suy nghĩ. Critical thinking là một phương thức suy nghĩ. Ta có thể dùng critical thinking với một thái độ tích cực, hoặc với một thái độ tiêu cực.
Ví dụ, đối diện với các vấn đề giáo dục, ta có thể dùng critical thinking để mang ra một số các vấn đề như chương trình học chưa khoa học và thực tiễn, phương pháp giảng dạy còn từ chương, lương giáo viên còn thấp, học cụ còn thiếu thốn, v.v… Nếu là người tiêu cực thì ta sẽ ngồi đó nhăn nhó phàn nàn: “Nhà nước ta tồi, dân ta tồi. Chấm hết.” Nhưng nếu là người tích cực thì ta sẽ nhìn vào các yếu tố tích cực như văn hóa Việt kính trọng thầy cô, kinh tế quốc gia phát triển khá trong thập niên qua, một số các công ty viễn thông (Internet) là công ty nhà nước, liên hệ quốc tế tốt, người Việt ở nước ngoài đông, để tính đến một kế hoạch vận dụng tất cả sức mạnh nầy vào việc cải cách giáo dục.
Critical thinking là một phương pháp phân tích để tìm hiểu một vấn đề thật kỹ. Positivie thinking là một thái độ tích cực ta có trong khi làm công việc phân tích tìm hiểu đó. Cả hai đi đôi với nhau rất tốt.
Tư duy tích cực là chủ động, dùng thái độ của mình để tạo ra thế giới của mình. Thế giới của mình là cơ thể và đầu óc của mình, gia đình mình, bạn bè mình, những công việc mình làm, những người mình giao tiếp hằng ngày. Mình chủ động tích cực để biến thế giới đó và những người trong thế giới đó trở thành vui vẻ hơn và tích cực hơn một tí. Thay vì cứ sống theo lối phản ứng—gặp người vui thì vui, gặp người cau có thì cau có—tức là làm cho thế giới của mình chao đảo từng phút từng giờ, thì mình chủ động giữ thế giới của mình an vui tích cực luôn luôn. Điều này, trên phương diện triết lý, có thể gọi là duy tâm, tức là dùng tâm thức của mình để quản lí mình và môi trường sống của mình đó, các bạn a.
Hôm qua ta bàn về việc khen người khác, hôm nay ta bàn về việc được người khác khen. Có lẽ chúng ta thường nghĩ rằng cả hai điều này chỉ là hai mặt của một đồng xu, nhưng thật ra thì không hẳn thế. Thông thường, ta không khen người nhưng lại cứ muốn người khen ta; đó chỉ là đường một chiều. 😦 Hoặc là ta khen người để được người khen ta lại; đó là đường hai chiều thuộc khu phố thương mãi. Con đường mà ta muốn đi là, ta khen bạn vì thực sự trong lòng thích khen bạn và muốn bạn vui, không khen vì mong cầu được khen lại. Đây là đường một chiều trong tâm, nhưng hai chiều trong thực tế.
Không chịu khen người nhưng cứ mong được người khen, thì “không tưởng” quá rồi. Không thể xảy ra được. Nếu bạn cả đời không khen ai, mở miệng thì chê hết người này đến người khác, bỗng nhiên có một cậu đến, tối ngày khen tặng tâng bốc bạn, thì có lẽ là bạn nên thầm hỏi tại sao.
Đằng khác, khen người để mong được người khen lại, hay để mong được cái gì đó từ người, thì đó là buôn bán. Đây là tính toán “có qua có lại.” Cũng công bình thôi. Nếu bạn khen thành thật, thì cũng được, nhưng e rằng hơi thiếu chiều sâu. Điểm yếu của chính sách thương mại này là, bạn sẽ không có được nội lực xuất phát từ tâm. Bạn có thể làm thương mãi được, nhưng không thể có bạn thân cách này. Vì tình thân chỉ có thể xảy ra giữa những quả tim rung động thật với nhau. Có nghĩa là sao? Có nghĩa là bạn có thể có “triệu người quen, chẳng mấy người thân.” Đó là một thế giới rất băng giá! Và trong trường kỳ, cơ hội thành công lớn cũng thấp, vì thông thường là ở cấp rất cao trong thế giới thương mãi cũng như thế giới chính trị, người ta thường tìm bạn bè thân để làm việc với nhau.
Bạn tôi
Khen người thật lòng nhưng không mong cầu được người khen lại. Đây có vẽ như là lối sống của thánh nhân, nhưng bạn đừng vội phàn nàn (“Trời ơi, ông ơi, tui đâu có muốn làm thánh. Tui còn đủ hỉ nộ ái ố bi lạc dục và còn muốn dancing và enjoy đời mà. Ông đừng biểu tui đi tu, tội nghiệp tui lắm”). Biết rồi, khỗ lắm, nói mãi! Trong liên hệ con người, “bất chiến tự nhiên thành” gần như là qui luật bất di bất dịch. Hôm qua chúng ta có nói, người bán hàng không có chiều sâu cứ dùng mọi thủ thuật hời hợt để bán cho được hàng thì có lẽ là không bán được. Nhưng nếu cứ tận tâm phục vụ khách hàng nhiệt tình, như một người bạn tốt, mà không cần biết là người ấy sẽ mua hay không, thì mọi người sẽ đến mua hàng nhiều hơn. “Không đánh mà tự nhiên thắng” là vậy. Ai trong chúng ta cũng biết lý lẽ này.
Liên hệ con người thường như thế. Nếu ta hành động chỉ vì người, và không vì chính ta, thì mọi người tự nhiên muốn đến với ta. Mình gọi đây là qui luật “Cánh đồng trống.” Lòng ta là một cánh đồng, nếu cánh đồng không có một hòn đá “tôi” to như quả núi đè mất, thì chim chóc sẽ về tràn ngập cánh đồng xanh. Khen người chỉ vì ta quí người và muốn người vui, mà không mong cầu gì cho ta (ngoài việc ta vui vì đã làm người vui), thì tự nhiên là sẽ có nhiều bạn bè thân thiết, và cơ hội thành công lớn trong đời cứ như vậy mà tăng theo. Đó là tại sao mà mình nói bên trên: “Đây là đường một chiều trong tâm, nhưng hai chiều trong thực tế.”
Điều này nói thì dễ, làm thì khó. Vì chúng ta đã quen suy nghĩ về “tôi, tôi, và tôi” nhiều quá, nhất là trong thế giới làm ăn, cho nên ta cần có kỷ luật một tí để tập thói quen chú tâm đến cái hay cái đẹp và cái an vui của người khác trong liên hệ hằng ngày. Qui luật “cánh đồng trống” đúng ngay cả trong thương mãi. Thương mãi cũng chỉ là liên hệ con người như bao nhiêu loại liên hệ khác. Nếu ta cho rằng liên hệ thương mãi đòi hỏi ta phải ích kỷ và chụp giật, thì rõ ràng là ta chưa nắm vững được bản chất của thương mãi cũng như bản chất con người. Một điều khó khăn khác là, qui luật “cánh đồng xanh” đòi một tí kiên nhẫn. Phần thưởng sẽ đến từ từ–chậm nhưng chắc. Vì đây không phải là qui luật “tiền trao cháo múc”, cho nên bạn cần kiên nhẫn một tí. Nhưng không sao, vì khi áp dụng qui luật này, bạn đâu có mong cầu gì cho mình, phải không? Mà đã không mong cầu là thừa kiên nhẫn.
Điều cuối cùng ta cần nắm vững là, nếu ta cứ muốn được người khen thì ta sẽ rất chơi vơi và nhiều stress. Chơi vơi vì cứ phải cố làm cái gì đó để hằng trăm hằng nghìn người quanh ta thích thú khen ngợi. Mà mỗi người một ý. Chạy theo ý muốn của một nghìn người, đương nhiên là phải nhảy choi choi như con lật đật chơi vơi trên mặt nước. Và như vậy thì nhất định là sẽ rất nhiều stress. Mà stress thường phá vỡ mọi thứ, từ sức khỏe, đến công việc.
Nắm vững các qui luật liên hệ con người. Cứ từ tốn làm việc, và kiên nhẫn một tí. Kết quả sẽ đến nhanh hơn bạn nghĩ. Có lẽ bạn đã nghe, hoặc qua tiểu thuyết hoặc qua chuyện có thật, rất nhiều người than trước khi nhắm mắt: “Cả đời tôi không có được một người thân.” Bạn có bao giờ thắc mắc về câu đó không? Sống mấy mươi năm trong một thế giới mấy tỉ người mà lại không có được một người thân. Sao vậy? Đó không phải là một bi kịch sao?
Chào các bạn,
Nhân dịp Ngày Valentine, mình xin chia sẻ với các bạn ba câu nói về tình yêu mà, theo thiển ý của mình, là ba trong những câu nói về tình yêu sâu sắc và mạnh mẽ nhất, nếu không phải là ba câu sâu sắc và mạnh mẽ nhất, trong kho tàng văn hóa thế giới.
Chúc các bạn một Ngày Tình Yêu dịu ngọt.
***
Thượng đế là tình yêu. 1 John 4:8
***
Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu này, đó là hy sinh thân mạng của mình cho bạn mình. John 15:13
***
Nếu tôi nói được mọi ngôn ngữ của loài người và của các thiên thần, nhưng không có tình yêu, tôi chỉ là cái cồng vang dội hay cái chiêng ồn ào.
Nếu tôi có tài tiên tri và có thể quán thông mọi huyền nhiệm và mọi tri thức, và nếu tôi có đức tin có thể chuyển dời núi non, nhưng không có tình yêu, tôi chẳng là gì cả.
Nếu tôi tặng hết tài sản cho người nghèo và xả thân trên dàn hỏa, nhưng không có tình yêu, tôi chẳng được gì cả.
Tình yêu là kiên nhẫn, tình yêu là dịu dàng.
Tình yêu không ghen ti, không khoe khoang, không kiêu hãnh.
Tình yêu không khiếm nhã, không vị kỷ, không nhạy giận, không chấp trước.
Tình yêu không vui sướng trong tội lỗi, nhưng hân hoan với sự thật.
Tình yêu luôn luôn bảo vệ, luôn luôn tin tưởng, luôn luôn hy vọng, luôn luôn kiên trì.
Tình yêu không bao giờ thất bại.
1 Corinthians 13: 1-8
Nhân đây mình xin phép các bạn cho mình làm một viêc có tính cách cá nhân một tí. Thông thường là mình hay tìm cách làm quà tặng, thay vì mua quà tặng (Đó là tính tần tiện học được từ mẹ hồi còn nhỏ 🙂 ). Hôm nay dịch mấy câu này về tình yêu, mình muốn mang ra làm quà Valentine cho bà đầm (Phượng) ở đây. Mong các bạn cùng hoan hỉ với mình.
Cả ba câu này đều nằm trong Thánh Kinh (Bible). Mình dịch từ bản New International Version. Nếu bạn nào thấy được câu nào ở đâu đó sâu sắc và mạnh mẽ hơn thì xin chia sẻ với mọi người, bằng cách comment ở đây. Xin muôn vàn cảm tạ.
Bốn trăm năm trước công nguyên, Socrates để lại hai từ bất tử, vọng vang suốt mấy ngàn năm lịch sử triết lý tây phương: “Biết mình” (gnōthi seauton, know thyself). Biết về chính mình tức là biết về con người, tức là biết vể đời sống và ý nghĩa của nó. Binh pháp Tôn gia nói: “Biết mình biết người, trăm trận trăm thắng.” Nhưng nếu ta thực sự biết rõ về ta, thì có lẽ là ta cũng đã biết gần hết về người rồi, vì người với ta có lẽ giống nhau khoảng 99 phần trăm và chỉ 1 phần trăm là khác nhau.
Nhưng biết mình không phải là việc dễ. Benjamin Franklin viết: “Có ba điều cứng/khó-khăn (hard) nhất—thép, kim cương, và biết chính mình.” Đôi khi ta có cảm tưởng là ta biết rất rõ về chính mình. Tuy nhiên, “biết” có nghĩa là kiểm soát được. Nếu ta biết chú trộm sẽ suy nghĩ và hành động như thế nào, đương nhiên là ta không thể bị trộm. Nhưng đã bao nhiêu lần bà hàng xóm chỉ nói một câu nghe hơi chanh chua là ta đã bốc lửa hừng hực tức thì, trước khi kịp suy nghĩ “Nên nổi giận không?” Đã bao nhiêu lần ta biết là nên làm hòa với hắn, nhưng hễ thấy mặt hắn thì ta lại chỉ muốn tát cho hắn một cái, thế là ta lại bước sang hướng khác? Đã bao nhiêu lần ta biết khoe khoang là không hay, nhưng vẫn tiếp tục khoe khoang?
Hê thần kinh, hệ suy tưởng của chúng ta, được lập trình theo thói quen. Cứ thế mà chạy, không cần ta điều khiển, mà thường thì cũng không cho ta điều khiển. Một số các thói quen này ta có thể thấy được. Một số thói quen khác, nhất là thói quen về cảm tính, ta chỉ làm theo mà không biết. Chẳng hạn, nói láo thì tim đập khác đi một tí, hoăc nghe điều gì làm ta lo lắng thì lại tái mặt, đổ mồ hôi. Hoặc là, nói về mình thì cứ tự nhiên thêm thắt một tí.
Cung cách suy nghĩ và hành động của mỗi người chúng ta đã được lập trình bằng quá nhiều điều: Hệ thống tâm sinh lý tự nhiên, di truyền, thói quen học được từ bố mẹ anh em, giáo dục, kinh nghiệm, v.v… Tất cả những điều này tạo nên cá tính của ta. Cá tính là tổng hợp của tất cả các thói quen ta có. Và các thói quen này vừa tạo nên cá tính, vừa là những bức màn che ta trong bóng tối của chính mình.
Biết được chính mình tức là biết được tất cả những thói quen gì đang xảy ra trong mình, đang hành động trong mình, và tìm cách điều khiển chúng, không để cho chúng điều khiển mình. Biết mình tức là làm chủ được chính mình.
Nhưng làm thế nào để biết mình?
Cách tự nhiên là mình phải lặng yên để quan sát mình. Muốn biết về con ve, cái kiến, hay bất điều gì đó, thì chỉ có cách là quan sát thật kỹ thôi. Muốn biết về chính mình cũng thế, ta cứ phải quan sát chính mình. Và nếu không thể vừa quan sát con kiến vừa nhảy rock and roll, thì ta cũng chỉ có thể quan sát chính mình trong yên lặng.
Yên lặng là điều kiện cần thiết để quan sát. Và bởi vì yên lặng quá hiếm hoi trong thời đại chạy đua ồn ào của chúng ta, quan sát chính mình trở thành quá khó khăn , vì vậy nhiều người không có cơ hội thấy được mình một cách rõ ràng. Đây là điều mà nhà Phật gọi là vô minh, và môt số triết gia và xã hội học gia tây phương gọi là “vong thân” (alienation).
Tĩnh lặng và bình yên
Vậy thì điều đầu tiên bạn phải làm là tìm một tí yên lặng mỗi ngày để quan sát mình. Ngồi yên trong một góc công viên thanh vắng, hay đóng cửa phòng ngủ và tắt nhạc, đương nhiên là bớt đi được một tí ồn ào, nhưng chưa chắc như vậy đã là yên lặng. Bởi vì trong đầu chúng ta thường có nhiều “tiếng động”, như là bận rộn suy tính công việc, lo lắng, giận ai đó, bực mình điều gì đó. Chỉ khi nào các tiếng động này lắng xuống, lúc đó ta mới có được yên lặng. Đó cũng chính là lý do mà các nhà đạo học đông phương thường dạy người ta xếp bằng và tập trung tư tưởng vào việc theo dõi hơi thở. Kinh nghiệm cho thấy đây là cách hữu hiệu nhất để làm cho các tiếng động trong đầu mình lắng xuống. Các tôn giáo tây phương thường tìm sự tĩnh lặng trong cầu nguyện. Đó cũng là một cách rất hay.
Bạn có thể tìm bất kỳ cách nào hợp với bạn. Điều cốt yếu là tĩnh lặng. Nếu bạn tập trung tư tưởng vào việc quan sát một bông hoa đẹp chẳng hạn, quan sát màu sắc, cách hoa, nhụy hoa, các kết cấu của hoa, cũng có thể làm cho các “tiếng động” khác biến dần đi. Hay là nghe nhạc nhẹ và để tâm vào nhạc một tí.
Khi đã có yên lặng rồi, bắt đầu quan sát mình. Có hai cách quan sát.
1. Quan sát quá khứ: Nhìn lại mọi việc mình làm, mọi câu mình nói, mọi suy nghĩ mình có trong ngày. Quan sát xem mình đã làm điều gì không nên làm, và cần thay đổi phong cách và thái độ trong tương lai không. Đây chỉ là cách rất sơ đẳng.
2. Quan sát mình trong hiện tại: Có ba giai đoạn quan sát — quan sát thân thể, quan sát cảm giác, và quan sát tư tưởng.
Sau đó quan sát cảm giác, bắt đầu là cảm giác trong thân thể như tê tay, ngứa chân, rồi đến các cảm giác trong đầu óc như buồn, vui, giận, bực mình, trống không, v.v… Kế đó quan sát cả lý do mà mình có những cảm giác đó, như là ai đó hồi chiều nói một câu mà tối nay mình còn cảm thấy buồn buồn.
Giai đoạn cuối cùng là quan sát tư tưởng, “nhìn” xem cái đầu mình đang suy tư điều gì, như là “mình đang bực mình vì cô này và đang ước ao được mắng cô ta một trận”, hay “mình đang nghĩ đến việc phải viết xong tờ trình ngày mai.”
Chỉ giản dị vậy thôi. Nếu ngày nào trước khi ngủ ta cũng có khoảng 10 phút tập như thế, thì ta sẽ luyện cho hệ thần kinh của mình nhận diện các cảm xúc và tư tưởng của mình mỗi khi chúng xuất hiện. Và đã nhận diện được tức là có thể kiểm soát được. Thông thường việc nhận diện tự nó có hiệu quả ngăn ngừa, cũng như kẻ trộm tự động ngưng trộm khi hắn biết là người ta đã nhận diện được hắn là tên trộm.
Các thực tập trên đây dựa một tí theo thiền Tứ Niệm Xứ của phật giáo nguyên thủy. Thiền này có bốn quan sát: Thân thể, cảm giác, tư tưởng và vũ trụ. Ở đây ta chỉ cần dùng 3 bước đầu về mình mà thôi. Hơn nữa, các vị sư thường ngồi xếp bằng để thiền định. Tuy nhiên, nếu bạn ngồi xếp bằng mà trong lòng thì cứ tương tư đến giường nệm và gối ôm, thôi thì lên giường nằm ôm gối cho được việc. Điều quan trọng là tĩnh lặng và quan sát, chứ không nhất thiết là ngồi, nằm hay đi.
Bạn chỉ cần tập quan sát chính mình như thế, một lúc nào đó bạn sẽ thấy được những gì xảy ra trong mình mỗi khi chúng đến và bạn có thể làm chủ chính mình—không dễ nổi nóng, không dễ lo sợ, không dễ mất bình tĩnh. Lúc nào cũng tĩnh lặng và chủ động. Và nếu có ai thấy bạn nổi nóng, đó không phải là vì bạn “bị” nổi nóng mà bạn cố tình ra vẻ nổi nóng, vì làm như thế thì người kia mới chịu nghe.
Mỗi người chúng ta là một chủ thể đặc biệt, với hình dáng, cá tính và tâm tình đặc biệt. Trong gần 7 tỉ người trên thế giới, không ai giống ta cả. Trong các thử nghiệm về DNA, chỉ ít hơn 1% của một genome được thử nghiệm, nhưng kết quả từ các thử nghiệm này cũng cho thấy cơ hội để hai người trên thế giới có DNA giống nhau là dưới 1 phần triệu. Nếu toàn genome được thử nghiệm thì xác xuất này còn giảm xuống ít nhất là 100 lần, tức là 1 phần trăm triệu. (Đó là tính theo đường thẳng, nếu phải tính theo cấp số nhân thì xác suất đó có thể nhỏ đến mức không thể tưởng tượng). Và đó chỉ là nói đến DNA, nếu thêm vào đó kinh nghiệm, tâm tính và tình cảm của mỗi người, thì cơ hội để hai người trên thế giới hoàn toàn giống nhau là zero.
Tất cả các tôn giáo đều nâng niu tôn trọng đời sống con người. Trong các tôn giáo thuộc truyền thống Moses (Do thái giáo, Thiên chúa giáo, và Hồi giáo), con người được thượng đế tạo ra theo hình ảnh của ngài. Trong Phật giáo, “được làm người khó như một con rùa chột mắt, cứ mỗi trăm năm mới ngóc đầu lên khỏi mặt biển một lần, và tìm cách chui đầu vào lỗ nhỏ của một khúc gỗ trôi lềnh bềnh trên mặt nước, bị gió Ðông, gió Tây, gió Nam, gió Bắc thổi trôi dạt hết phương này đến phương khác.”
Chúng ta hay nói tôi yêu bố mẹ anh em, tôi yêu gia đình, tôi yêu thầy cô, tôi yêu đồng bào, tôi yêu đất nước. Nhưng có bao giờ bạn nói “Tôi yêu chính tôi” không? Chúng ta sẽ không bao giờ đi đến đích nếu chúng ta không biết điểm khởi hành.
Hôm nay bên hội hoa xuân, nam thanh nữ tú dập dìu, cười nói xôn xao. Nhưng ai đó lầm lũi giữa dòng người, nhìn những cánh hoa muôn sắc mà nghe lòng tê tái: “Hoa ơi, sao ngươi cứ vô tình?”
Hôm qua trời mưa, những em bé tắm mưa cười đùa trong hẻm nhỏ, đôi tình nhân ôm nhau che dù bước trong mưa. Nhưng người cô phụ chờ chồng nhìn những dòng mưa như những dòng nước mắt.
Vậy thì mưa buồn hay vui? Hoa vô tình hay hữu ý?
Mưa chỉ là mưa. Hoa chỉ là hoa. Hoa đâu có ý tình, mưa đâu có buồn vui. Chẳng qua chỉ vì lòng người xuống lên, bập bềnh, trôi nổi.
Tất cả những hiện tượng bên ngoài, đều không có ý nghĩa gì tự chúng cả; các ý nghĩa đều từ tư duy của ta mà sinh ra. Mưa chỉ là mưa; nếu ta cho là mưa buồn thì mưa buồn, nếu ta cho là mưa vui thì mưa vui. Nắng chỉ là nắng; nếu ta cho là nắng đẹp thì nắng đẹp, nếu ta cho là nắng chói thì nắng chói.
Nếu bạn thi hỏng, không vào đại học ưu tiên một được, thì đó là việc tốt hay xấu?
Nếu không vào được trường y nhưng lại vào trường luật, biết đâu đó lại chẳng là dấu hiệu bạn hợp nghề luật hơn và sau này sẽ thành công lớn trong nghề luật.
Nếu chẳng có đại học nào nhận bạn cả, có lẽ đó là dấu hiệu bạn sẽ phải theo con đường làm ăn của Bill Gates.
Có thể là mỗi người chúng ta có một tí di truyền từ bố mẹ. Nhưng nếu mình không chịu tập tư duy tích cực rồi cứ đổ lỗi cho bố mẹ về tính tiêu cực muôn năm của mình, thì rất là bất công cho bố mẹ, và bất công cho cả ông trời nữa đó 🙂 Muốn biết làm toán thì chỉ có cách là đi học toán mà thôi.
Thứ hai, gặp bất kỳ chuyện gì, dù xem ra có vẻ xấu cách mấy, ta cũng phải hỏi: “Chuyện này có gì hay? Có gì tốt?” Nếu bạn tìm không ra câu trả lời, hỏi tiếp cho đến khi thấy câu trả lời.
Thứ ba, bạn sẽ không tìm ra câu trả lời nếu bạn nổi nóng, mất bình tĩnh, than khóc, phàn nàn. Trí óc con người không thể làm việc tốt trong những điều kiện khó khăn như thế. Vì vậy, uống vài ngụm nước, ngân nga một bản nhạc, đi bộ vài ba vòng, trước và trong khi hỏi.
Thứ tư, luôn luôn để tâm đến cái tốt, cái hay, cái đáng thông cảm của người khác, và đừng cứ chú tâm vào cái xấu, cái đáng ghét của họ. Ai cũng có một cái gì đó đáng cho mình thích, đáng cho mình thông cảm. Nếu bạn không thấy được điểm nào đáng yêu, đáng phục, đáng cảm thông trong một người nào đó, thì nhất định là đầu óc của bạn có vấn đề, chưa biết cách suy nghĩ chính xác.