Tag Archives: trà đàm

Cởi bỏ cái Tôi

Cái Tôi từ đâu đến?

Marianne Williamson định nghĩa rằng “Cái Tôi theo nghĩa đen là một suy nghĩ đầy lo sợ”.

Là những đứa trẻ, chúng ta được dạy trở thành những đứa con trai và con gái “tốt”, điều đó dĩ nhiên hàm ý rằng chúng ta đã không tốt. Chúng ta được dạy rằng chúng ta là người tốt khi mà chúng ta quét nhà, hay có điểm cao. Rất ít trong chúng ta được dạy rằng chúng ta cơ bản là người tốt. Rất ít trong chúng ta có được một sự chấp nhận vô điều kiện, một cảm giác rằng chúng ta giá trị vì những gì chúng ta vốn có, chứ không phải là những việc chúng ta làm. Đôi khi, trong thực tế, những người yêu thương chúng ta nhất là người cảm thấy có nhiều trách nhiệm nhất trong việc rèn luyện chúng ta cách đấu tranh.

Tại sao? Bởi vì thế giới như nó là thế, khó khăn, và họ muốn chúng ta trở thành người tốt. Chúng ta phải trở nên điên cuồng như thế giới, hoặc chúng ta không bao giờ vừa vặn với nó cả. Chúng ta phải phấn đấu, lấy điểm, đi học ở Havard. Điều kì cục là chúng ta đã không học nguyên tắc từ quan điểm của mình, và cũng như thế đó là một sự thay thế kì cục cảm giác về sức mạnh ra khỏi bản thân và phụ thuộc vào các nguồn lực bên ngoài. Cái mà chúng ta đánh mất là cảm giác về sức mạnh của riêng ta. Và cái mà chúng ta học là nỗi sợ hãi, sợ hãi rằng chúng ta không đủ tốt, theo cách mà chúng ta sống.

Trích A Return to Love: Reflection on the Principles of A Course in Miracles

Làm thế nào để từ bỏ được cái Tôi?

Chúng ta đều được dạy để cho tâm trí ra quyết định chứ không lắng nghe trái tim mình. Trí óc của bạn, cuối cùng, là một cỗ máy kinh khủng và có thể làm được mọi thứ. Sự càn thiết thể hiện quan điểm của bạn về một chủ đề được đưa ra bởi vì bạn biết là nó sẽ đúng, mặc cho mọi người có lắng nghe hay không. Bỏ qua cảm xúc của những người khác bởi vì hành động của bạn là “hành động đúng”. Đây là những ví dụ cho thấy sự thể hiện của cái Tôi, và cần bạn kiểm soát chúng. Tiếng nói của con tim không có một chỗ đứng nào.

Vì thế cởi bỏ cái Tôi là một quá trình khó khăn, thậm chí đầy sợ hãi. Nhưng không còn cái Tôi nữa là một điều tuyệt vời. Nó giúp chúng ta đến gần trái tim hơn và cho phép chúng ta cảm thấy nhiều hơn chúng ta đã từng.

Một cách để bắt đầu quá trình này đó là nhận ra khi nào cái Tôi của bạn bắt đầu diễn ra. Có thể đó là lúc bạn muốn sửa sai ai đó, giải thích quan điểm của họ là sai (theo cách nghĩ của bạn), nếu bạn cảm thấy tức giận ai đó về những hành động của họ đối với bạn. Hãy thừa nhận những cảm giác này với bản thân, dù đó là sự lẫn lộn, tức tối, ghen ghét, hoảng loạn, ở bất cứ hình thức nào. Hãy chỉ cảm thấy chúng chảy qua người bạn. Đừng hành động. Chỉ cảm nhận thôi. Không cho bản thân bạn phản ứng hay đánh giá. Hãy kệ chúng. Dần dần qua thời gian cái Tôi sẽ không trở nên mạnh nữa và sẽ bất đầu sự nắm giữ của nó trong trái tim bạn. Điều đó không chỉ giúp bạn nhận thức được cái Tôi của bạn xảy ra thường xuyên như thế nào, mà còn làm cho bạn ngạc nhiên vì bạn cảm nhận được bản thân mình nhiều hơn theo một cách hoàn toàn khác. Và an bình sẽ ở trong bạn khi mà cái Tôi dần biến mất.

Lisa C Moore, What is Ego, http://ezinearticles.com/?What-is-Ego&id=1465886

Hoàng Khánh Hòa tổng hợp

Cởi bỏ lối nhìn cũ để hướng về tương lai – Tuyên truyền và bạo động

Tuyên truyền áp đặt một chiều tức là đã “bạo động” rồi. Như thể con ngựa bị che kín hai bên để chỉ thấy một lối duy nhất ở phía trước, ta đòi hỏi đối tượng nhìn một chiều duy nhất về vấn đề, sự việc nào đó. “Bạo động” nguy cơ đẩy con người vào cuộc chiến đẫm máu hay chia rẽ nghiêm trọng. Trong khi tinh thần triết học luôn đòi hỏi cái nhìn mở, đa diện và đa chiều.

Con người sinh ra để sống, chứ không phải cúi đầu làm theo một điều gì đó, nhân danh một ý thức hệ nào đó, một tín điều hay chủ thuyết nào đó. Con người sinh ra để sống cuộc sống của mình, chứ không phải để nghe theo mệnh lệnh của bất kì đấng nào, lãnh tụ hay nhà cách mạng nào, dù ông/ bà ta có vĩ đại tới đâu đi nữa! Sinh chỉ một lần và sống chỉ một lần đời sống của chính mình.

Camus: “Một cuộc đời không là gì cả, một cuộc đời là tất cả”! Đó là biện chứng đẹp về ý nghĩa cuộc đời.

Vài nhà văn nghĩ rằng tôi cổ xúy cho trào lưu văn chương hậu hiện đại Việt, tôi nói: không! Sáng tác hậu hiện đại Việt xuất hiện trước khi tôi viết về nó. Đúng hơn, tôi “lập biên bản” khi nó đã có mặt. Như tôi đã ứng xử với các trào lưu, hệ mỹ học khác. Nghĩa là tôi đối xử công bằng với mọi trào lưu văn học. Ngay cả với mỗi trào lưu, tôi cũng đã xử sự rất công bằng với chính nó.

“Lập biên bản có nghĩa là chấp nhận mọi hiện tượng văn chương xảy ra trong thời đại ta đang sống. Bày nó ra như nó là thế, tìm hiểu triết lí trên đó thơ văn đó nảy sinh… Các quan điểm sáng tác ấy chưa hẳn đã cùng lối nghĩ của tôi hay tôi đã đồng tình hoàn toàn với nó, nhưng tôi cố gắng nhìn nhận nó như là thế”.

“Nhìn nhận nó như là thế”, chứ không phải bằng quan điểm độc đoán của tôi, để buộc người khác nhìn theo cách nhìn của tôi. Đó là cái nhìn công bằng và rộng mở. Độc giả chưa biết gì về tác phẩm, tôi dẫn họ đến với tác phẩm đó trong tâm thế mở, tránh diễn giải mang tính áp đặt, mà chỉ bày nó ra. Từ đó, độc giả thưởng thức nó theo kiểu của mình, mà không bị chi phối bởi các nhận định của tôi.

Trong cuộc sống, với con cái cũng vậy. Nếu có ghét ai (trong đời sống không thể tránh chuyện hỉ nộ ai lạc), bạn không phải lộ ra cho con cái biết. Chúng cứ đến với đối tượng đó, như tờ giấy trắng. Còn nếu bạn áp đặt cái nhìn của bạn lên tâm trí con cái, là bạn đã bạo động rồi. Con bạn sẽ nhìn đối tượng qua con mắt của bạn chứ không phải của chính nó. Làm như thế, xét về tính thực dụng thì có thể gây hại cho bọn trẻ. Vì nếu đó là kẻ xấu, con bạn sẽ bị lợi dụng. Còn đợi nó rút kinh nghiệm thì đầu nó bị sứt mẻ rồi. Thế nhưng, nhìn từ khía cạnh triết học và nhân văn, bọn trẻ sẽ học được rất nhiều điều, qua va chạm và tiếp xúc.

Tôi gọi đó là tinh thần phi tuyên truyền trong đời sống hàng ngày.

Tuyên truyền bất cứ về cái gì là diễn giải và áp đặt để gây nơi đối tượng một niềm tin. Hậu hiện đại chống lại tinh thần đó, và quyết giải tán nó. Đó là tinh thần dân chủ mới.

Inrasara

Người cho nên cám ơn

Lúc Seisetsu giảng dạy tại chùa Engaku ở Kamakura, thiền sư cần phòng ốc rộng hơn, vì nơi giảng dạy của thầy đã quá chật. Umezu Seibei, một thương gia ở Edo, quyết định là sẽ tặng 500 đồng vàng, gọi là ryo, vào việc xây trường rộng thêm. Umeza mang tiền đến cho thiền sư.

Tranh Tổ sư Bồ Đề Đạt Ma do thiền sư Seisetzu vẽ

Seisetsu nói: “Tốt lắm. Tôi sẽ nhận.”

Umezu trao bao vàng cho Seisetsu, nhưng không hài lòng với thái độ của thiền sư. Một người có thể sống cả năm với chỉ 3 ryo, nhưng thương gia này không nhận được cả một tiếng cám ơn.

“Trong bao đó có 500 ryo,” Umezu nhắc khéo.

“Anh đã nói cho tôi biết rồi,” Seisetsu trả lời.

“Dù tôi là một thương gia giàu có, 500 ryo vẫn là rất nhiều tiền,” Umezu nói.

“Anh muốn tôi cám ơn anh?” Seisetsi hỏi.

“Thầy nên làm vậy,” Umezu trả lời.

“Tại sao tôi nên cám ơn?” Seisetsu thắc mắc. “Người cho nên cám ơn.”
.

Bình:

• Seisetsu Genjo Seki hay Seisetsu Genjyo Seki, (1877-1945), là thiền sư dòng Lâm Tế, từ thiền sư Hakuin Vậy À mà ra. Trong thập niên 1920, Seisetsu là sư trụ trì của chùa Tenryu ở Nhật.

Chùa Engaku trong truyện này là một chùa Lâm Tế rất lớn, và là một danh lam thắng cảnh nổi tiếng cùa Nhật ngày nay. Chúng ta đã nói đến chùa Engaku trong bài Không nước không trăng về ni cô Chiyono.

• Bố thí là một thực hành lớn trong nhà Phật. Con đường Bồ-tát (Bồ Tát Đạo) có 6 nhánh qua sông (lục độ ba-la-mật), tức là sáu phương cách thực hành (“hạnh”) để đến giác ngộ, trong đó Bố thí là “hạnh” đầu tiên–Bố thí, trì giới, tinh tấn, nhẫn nhục, thiền định, trí tuệ. Cho đi cái mình có là cách đương nhiên nhất để thực hành “vô ngã” (“không có cái tôi”).

Bố thí thế nào? Kinh Kim Cang, đoạn 4 viết: “Bồ tát đối với pháp nên không có chỗ trụ mà làm việc bố thí, gọi là chẳng trụ nơi sắc để bố thí, chẳng trụ thanh hương vị xúc pháp để bố thí. Này Tu-bồ-đề, Bồ tát nên như thế mà bố thí, chẳng trụ nơi tướng. Vì cớ sao? Nếu Bồ-tát bố thí chẳng trụ tướng thì phước đức không thể nghĩ lường.”

Câu này có nhiều tầng triết l‎ý rất sâu xa, tuy nhiên nói giản dị theo cách sống hàng ngày của chúng ta thì câu này có thể hiểu là bố thí mà chẳng cầu gì cả, chẳng để được thấy tên mình trong danh sách (sắc), hay nghe được tên mình (thanh), hay tiếng tăm lừng lẫy của mình (hương), hay để nếm vị vinh quang của mình (vị), hay sờ được tên mình khắc trên bia đá (xúc), hay vì bất kỳ điều gì trong vũ trụ (pháp).

Bố thí với một tâm hoàn toàn rỗng lặng. Ngay cả dùng đạo pháp làm chủ đích của bố thí cũng không. Đoạn 14, Kinh Kim Cang viết: “Nếu Bồ-tát trụ nơi pháp mà làm việc bố thì thì ắt như người vào trong tối không thể thấy. Nếu Bồ-tát tâm không trụ pháp mà hành bố thí thì như người có mắt lại thêm ánh sáng mặt trời chiếu soi, thấy các thứ hình sắc.”

(Ghi chú: Bố thí không vì mình mà vì đạo pháp thì hay lắm rồi, vẫn hơn không. Nhưng bố thí mà vượt qua được cả tầng “vì đạo pháp” này mới là chân ngộ của Bồ tát).

Bố thí tự nhiên như hít thở. Bố thí tự nhiên như khát nước thì uống nước mà chẳng hề suy nghĩ gì. Đó mới là bố thí hạnh của Bồ-tát.

• Đương nhiên là bố thí mà cần cám ơn như Umezu là không nên rồi. Và đương nhiên là một câu cám ơn cũng chẳng tốn công gì mà thiền sư Seisetsu lại không thể nói một tiếng cho vui vẻ cả làng. Nhưng, có lẽ là thiền sư biết tâm tính Umezu và cố tình im lặng để dạy cho Umezu một bài học về Phật pháp.

Nhưng tại sao thiền sư nói “Người cho nên cám ơn”?

Thưa, vì bố thí là hạnh Bồ tát, mà muốn thực hành hạnh này thì phải có người nhận. Nếu không có người nhận thì không thể làm việc bố thí được. Mang tiền ra vất ngoài sa mạc không phải là bố thí. Cho nên, người cho phải cám ơn người nhận đã tạo cho mình một cơ hội để thực hành hạnh bố thí.

Chú ý, câu đầu tiên thiền sư nói khi Umezu mang tiền vào: “Tốt lắm. Tôi sẽ nhận.” Tức là, tôi cho chú cơ hội làm việc bố thí.

• Không nên xem đây là một cuộc đấu tranh tư tưởng giữa hai người, Umezu và thiền sư, xem ai thắng.

Đa số mọi người trong chúng ta đều như Umezu, đều muốn nghe cám ơn khi bố thí–không những cám ơn mà còn phải cám ơn trên radio, TV, báo chí, Internet thì mới hả dạ. Umezu chẳng ai xa lạ hơn là cái tôi của mỗi người chúng ta.

Nhưng điều chúng ta không biết, và thiền sư Seisetsu muốn dạy, là: Người cho phải cám ơn người nhận.

Trần Đình Hoành dịch và bình
.

The Giver Should Be Thankful

While Seisetsu was the master of Engaku in Kamakura he required larger quarters, since those in which he was teaching were overcrowded. Umezu Seibei a merchant of Edo, decided to donate five hundred pieces of gold called ryo toward the construction of a more commodious school. This money he brought to the teacher.

Seisetsu said: “All right. I will take it.”

Umezu gave Seisetsu the sack of gold, but he was dissatisfied with the attitude of the teacher. One might live a whole year on three ryo, and the merchant had not even been thanked for five hundred.

“In that sack are five hundred ryo,” hinted Umezu.

“You told me that before,” replied Seisetsu.

“Even if I am a wealthy merchant, five hundred ryo is a lot of money,” said Umezu.

“Do you want me to thank you for it?” asked Seisetsi.

“You ought to,” replied Umezu.

“Why should I?” inquired Seisetsu. “The giver should be thankful.”

# 53

Tỏa sáng với Internet

Thế giới ngày nay trở nên nhỏ bé hơn bao giờ hết, khi mà bạn chỉ cần một chiếc máy tính nối mạng Internet, bạn có thể làm việc, nói chuyện với bạn bè hay đối tác ở khắp nơi. Khoảng cách địa lý đã được thu hẹp lại rất nhiều. Nếu biết cách tận dụng sức mạnh của Internet, bạn sẽ ngày càng có nhiều cơ hội gặp gỡ những người thú vị và nhiều người cũng biết đến bạn hơn.

Khi Internet chưa ra đời, bạn chỉ được biết đến qua cộng đồng nhỏ mà bạn có các giao tiếp trực diện hàng ngày: khu phố, công ty, trường học vv…Sẽ khó có thể tưởng tượng được là một bạn học sinh bình thường ở Việt Nam lại kết bạn với một bạn trẻ ở nước Úc xa xôi. Và đôi khi, thật khó khăn để tìm được một người bạn đồng quan điểm và chí hướng trong đám đồng nghiệp ở cơ quan hay bạn bè ở lớp. Nhưng ngày nay, Internet mang đến cho bạn rất nhiều cơ hội và lựa chọn.

Internet là một phương tiện tốt để bạn thể hiện con người mình đầy đủ hơn, và nhiều người sẽ biết đến bạn, hiểu được bạn thông qua những kinh nghiệm, kiến thức và cách mà bạn chia sẻ. Một người thầy của mình còn nói rằng, “bây giờ search tên mình trên google mà không có gì nghĩa là ta không tồn tại”, để thấy rằng sự hiện diện của bạn trên Internet quan trọng đến mức nào. Có thể nói đó là môi trường sống thứ hai của bạn.

Với Internet, bạn có thể hiện diện ở khắp mọi nơi trên thế giới này. Tham gia các forum có hàng ngàn thành viên. Chia sẻ các bài viết trên blog hay website riêng mỗi ngày với hàng trăm người đọc. Bằng cách đó, bạn không chỉ vẫn có được một cộng đồng vật lý quanh mình như trước, mà còn xây dựng một hình ảnh về bản thân ở nhiều góc độ khác nhau.

Vì thế, đừng lo rằng bạn không tìm được một đối tác ưng ý hay không có người đồng ý tưởng trong các dự án sắp tới. Đừng lo rằng bạn đang đi một mình trên con đường du học hay kinh doanh đầy chông gai.

Hãy để cho nhiều người biết đến bạn qua Internet và tỏa sáng như một ngọn nến lớn. Và nhớ rằng, những gì bạn nói ra ngày hôm nay trong thế giới Internet là hình ảnh phản chiếu con người thật của bạn.

Nếu bạn muốn chân thành, hãy nói lời chân thành. Nếu bạn muốn trí tuệ, hãy nói lời trí tuệ. Nếu bạn muốn vui vẻ, hãy nói lời vui vẻ.

Và bạn sẽ không chỉ còn được biết tới như một người thanh niên trẻ giỏi chuyên môn ở công ty, một người con hiếu thảo ở nhà, một công dân tốt ở khu phố. Hàng ngàn người khác ở khắp nơi sẽ còn biết đến bạn là một người yêu âm nhạc và biết nhiều bản nhạc hay, một người sâu sắc và tử tế thích giúp đỡ cộng đồng, một doanh nhân tiềm năng vì có nhiều ý tưởng táo bạo.

Trong số đó, chắn chắn là bạn sẽ tìm thấy những người bạn đồng hành tương lai.

Hãy tỏa sáng theo cách của mình và chúc bạn may mắn nhé.

Hoàng Khánh Hòa

Cởi bỏ lối nhìn cũ để hướng về tương lai – Tư thế độc lập

Không thấy mà tin, là sức mạnh của mọi tôn giáo độc thần; nói mãi vào tai riết rồi sẽ tin, là phương sách của người làm chính trị; thấy rồi mới tin, là điều kiện tiên quyết đặt ra với các nhà khoa học; nhưng triết học thì khác: thấy vẫn không tin. Thấy, biết,… nhưng vẫn cứ đặt câu hỏi về cái thấy, cái biết của mình. Còn ai suy tư điều đã được suy tư? Heidegger đã hỏi thế! Một câu hỏi mang tính vận mệnh của tư tưởng.

Nhưng con người, lạ – vẫn cứ tin. Từ mê tín đến bạo động chỉ cách nhau một bước chân. Cho dù không có nửa dấu vết bạo động trong hành vi, suy nghĩ, ta vẫn cứ bạo động, bao động đủ hình thái, cấp độ. Ở đây, thử xét bạo động theo nghĩa áp chế hay triệt tiêu óc phán đoán độc lập.

Thời hiện đại, giữ tư thế độc lập để có thể suy tư và đưa ra nhận định độc lập, là điều cực kì khó. Con người bị tác động bởi đủ chuyện, từ mọi phía đến không thể cựa quậy được, nói chi tự do suy tư hay hành động. Tôn giáo buộc ta đi theo khi ta lỡ sinh ra trong cộng đồng đó và ta đành phải mang vác nó, chịu đựng nó; chế độ chính trị của đất nước nơi ta sống; nền giáo dục và uy tín gia đình ta buộc phải bảo vệ; chủ trương bè phái phe nhóm mà ta đã lỡ rơi vào; cả lí lịch của ta nữa. Đó là các gò bó dễ nhận biết. Còn bao nhiêu triền phược khác khó nhận ra hơn: Dư luận cộng đồng, truyền thống văn hóa, tập khí từ xã hội và thiên nhiên,… Làm sao cá nhân có thể suy tư độc lập trong môi trường đó, hoàn cảnh đó?
Con người luôn sống trong sợ hãi. Ta sợ suy nghĩ lệch pha bị người đời chê cười, sợ bị cô lập khỏi cộng đồng, tập thể, hoặc thậm chí – sợ bị biến mất!

Làm được như Krishnamurti, từ bỏ vai trò Đấng Cứu thế của Dòng tu Ngôi sao với hơn bốn vạn tín đồ cùng bao nhiêu bất động sản giá trị, là điều thiên nan vạn nan trong xã hội này. Tôi không muốn đề cập chuyện to tát ấy mà, chỉ muốn nhấn ở làm thế nào có thể giữ được tinh thần độc lập trong một xã hội nhiều bất trắc, rủi ro? Từ đó có thể học biết suy tư độc lập, trong môi trường bạn đang sống.

Họ hàng bà con, anh chị em hay bằng hữu thường nghe theo nhau; khi ta từ bỏ hay hạn chế tối đa sự nghe theo một chiều ấy, là ta đã học biết suy tư độc lập. Người của phe nhóm ta nói sai, tôn giáo ta phán định trật, ta không còn nhắm mắt tin nghe theo, là ta khởi đầu cho tư duy độc lập. Nhận ra truyền thống văn hóa ta cổ hủ, phản tiến bộ, ta thoát ra khỏi nó để làm cái hay hơn, tốt đẹp hơn, là ta đã biết hành động độc lập. Không sợ dư luận khi dư luận đó vô ý tác hại, xâm phạm đến cá nhân hay cộng đồng, ta bình tâm tìm cách phơi bày nó ra để cho mọi người hiểu, là ta đã có tinh thần suy tư độc lập.

Có ai hôm nay sẵn sàng cho suy tư như thế?

Có ba loại trí thức: Trí thức công chức, không thể không lệ thuộc vào cơ quan chủ quản, vào thủ trưởng, không nhiều thì ít; và nếu trí thức đó có theo đảng hay tôn giáo nào đó, thì sự giải thoát càng khó hơn. Loại thứ hai: Trí thức khoa bảng thì luôn phải khép mình vào nền nếp và khuôn phép để “nêu gương sáng” cho thế hệ trẻ. Như vậy chỉ còn trí thức độc lập mới có điều kiện và khả năng suy nghĩ và hành động mà không ngại phạm quy ước hay điều lệ của tổ chức nào, tập thể nào bất kì. Bạn chỉ nghe theo lương tâm và trí tuệ mình. Bạn hành động không định kiến và vô vụ lợi.

Trong xã hội Chăm hôm nay, hỏi ai và bao nhiêu người là trí thức độc lập?

Trí thức độc lập là kẻ biết suy tư độc lập, một suy tư thoát khỏi mọi căm thù cá nhân, mọi vướng mắc quyền lợi phe nhóm, mọi tư tưởng tôn giáo hay ý thức hệ chính trị, mọi cổ hủ của truyền thống hay sai lầm của nền giáo dục ta từng tiếp nhận,… để có thể nhận định trên nền tảng tư duy chín chắn, tâm hồn rộng mở và lương tâm trong sáng. Chỉ khi nào đạt được tầm như thế, chúng ta mới có thể nói đến phản biện xã hội; còn không thì chỉ là những phát biểu hàm hồ, tai hại. Nếu không thể làm trí thức, tốt hơn cả là ta cứ ăn theo đường ngay nói theo lẽ lành – Bbơng twei tapak, hwak twei haniim, là đủ tư cách làm người lương thiện rồi.

Inrasara

Ánh sáng của con có thể tắt

Một học trò Tông Thiên Thai, một tông phái triết lý Phật giáo, đến thiền viện của Gasan học thiền. Vài năm sau cậu ra đi, Gasan cảnh báo cậu: “Học về sự thật bằng phỏng đoán thì lợi ích cũng chỉ như lượm lặt tài liệu giảng huấn. Nhưng nhớ rằng nếu con không thiền quán thường trực, ánh sáng chân l‎ý của con có thể tắt.
.

Bình:

• Gasan Jōseki (峨山 韶碩 1275–23.11.1366) là thiền sư dòng Tào Động Nhật Bản, mà ta đã nhắc đến trong bài Không xa Phật vị.

• Đây là cảnh báo về cách học triết lý lệ thuộc nặng nề vào lý luận và suy tư của Thiên Thai Tông. Trong bài Cỏ cây giác ngộ như thế nào chúng ta đã nói đến sự vô ích của các câu hỏi triết lý rắc rối của học trò Thiên Thai.

Khác biệt giữa “suy nghĩ” và “thiền quán”: Suy nghĩ hay suy tư là “nghĩ”. Thiền quán là chỉ “nhìn” (quán), nhìn sự vật như nó là (seeing thing as it is) mà chẳng “nghĩ” gì cả. Khác biệt về tính danh này đưa đến các khác biệt sau:

1. Khác biệt đầu tiên là tĩnh lặng về cảm xúc. Chúng ta có thể suy nghĩ với đủ loại cảm xúc trong đầu, nhưng thiền quán thì tâm ta phải rất tĩnh lặng,

Ví dụ: Suy nghĩ về cách trả đũa anh chàng chó chết mới chửi mình hồi chiều, vừa suy nghĩ vừa sôi máu. Nếu ta thiền quán về anh chàng này, thì tâm ta phải rất tĩnh lặng, không hờn giận không một gơn sóng, khi ta “nhìn” (quán) anh chàng.

2. Khác biệt thứ hai là tĩnh lặng về tư tưởng. Suy nghĩ thì có câu hỏi, và chạy theo dòng lý luận để tìm câu trả lời; thiền quán thì chỉ “nhìn” thôi, rồi cái gì nó đến thì đến, nó không đến thì không đến, chẳng chạy theo cái gì, nhắm vào câu trả lời nào cả.

Ví dụ: Suy nghĩ “Có thượng đế không?” À, có cái bàn là có ông thợ mộc. Có quả là có nhân. Có vũ trụ phải có người làm ra vũ trụ,. Vậy phải có thượng đế. Có thượng đế thì phải có người sỉnh ra thượng đế. Ai vậy?…

“Thiền quán” thì chỉ “nhìn.” Muốn quán cũ trụ thì cứ nhìn các tinh tú, không gian, các thiên hà, các giới hạn (hay không giới hạn) của vũ trụ… đến các phân tử, nguyên tử li ti của vật thể… rồi chân l‎ý nào đến với mình thì đến, không thì thôi, chẳng đeo đuổi theo ý gì trong đầu cả…

3. Khác biệt thứ ba là sự tập trung và tự do của tâm trí. Đây chỉ là hệ quả của khác biệt thứ nhất và thứ hai bên trên. Khi “suy nghĩ” ta có cả hàng trăm tư tưởng, cảm xúc, lý‎ luận, kết luận, phán đoán chạy tới chạy lui. “Thiền quán” thì ta chẳng có gì trong đầu cả, ngoài trừ một “hình ảnh” của cái mà mình đang quán, như nó là (as it is), mà chẳng có l‎ý luận, phán đoán, kết luận nào cả.

Vi dụ: Suy nghĩ về chuyện cãi nhau hồi chiều với người bạn thân (hay vợ, hay chồng mình), ta có thể suy nghĩ: Cô ấy nói câu này, nói như vậy là rõ ràng làm mình đau, tại sao cô ấy làm mình đau, vì cô ấy ghen tị với mình, cô ấy đang cạnh tranh ảnh hưởng với mình, bởi vậy câu nói của mình với boss bị cô ấy cố tình bẻ méo ‎ nghĩa của nó….

Nếu thiền quán về chuyện cãi nhau này thì tâm mình thật tĩnh lặng, không sóng giận, cũng chẳng suy nghĩ gì, chỉ “nhìn” hình ảnh cãi nhau hồi chiều… và thấy… khuôn mặt cô ấy thật buồn vời vợi khi nói với mình câu này… và mình đã không thấy được các nét ấy lúc đó, và mình đã vội vã thọc cho cô ấy một quả đấm ngôn ngữ kinh hồn… và cô ấy đã nhìn mình với khuôn mặt vừa kinh ngạc vừa buồn vô tận… và lặng lẽ ra ngoài… và mình đã cho là cô ấy khinh thường mình… và mình đã chửi ngóng theo một câu cuối…

Điểm quan trọng ở đây là khi suy tưởng các vấn đề trừu tượng, chúng ta thường theo một trường phái lý‎ luận triết lý nào đó, ví dụ: triết l‎ý hiện sinh, hay duy vật biện chứng pháp, hay Plato, hay Decartes, hay Thiên Thai Tông, hay Trung Quán Luận, hay cynicism… cho nên tư duy thường rất phiến diện, vì bị gò bó trong khung lý luận của trường phái ta đang dùng. (Chính vì vậy mà các triết gia hay cãi nhau, ông nói gà bà nói vit). Khi “quán” ta chỉ “nhìn sự vật như nó là” cho nên ta chẳng theo trường phái nào cả. Cứ nhìn thôi. Vì vậy tâm trí ta thực sự tự do và độc lập, và cái nhìn rõ ràng hơn rất nhiều.

4. Khác biệt thứ tư là kết luận. Đây là hệ quả đương nhiên của ba khác biệt trên: Suy nghĩ chấm dứt bằng một kết luận của suy tưởng lý luận, thường theo công thức của luận lý học.

Quán chấm dứt khi nào mình biết là mình đã nhìn thấy toàn thể, thông suốt hoàn toàn, điều mình nhìn, từ trong ra ngoài, ngoài vào trong, từ mọi hướng nhìn.

Ví dụ: Suy nghĩ về một tên trộm: Hắn vào nhà, lấy cái nhẫn hột xoàn bỏ túi, toàn vụ việc bị thâu vào hệ thống quan sát điện tử. Kết luận: Vậy hắn là tên trộm.

Quán về người này thì nhìn hắn, nhìn hình ảnh hắn lấy hột xoàn, nhìn thái độ đầu hàng dịu dàng của hắn khi bị bắt, nhìn khuôn mặt buồn rười rượi tuyệt vọng của hắn, dáng đi thểu não của hắn…

Trước khi “quán” thì tâm ta phải “định” (samadhi), tức là đứng yên. Nếu tâm còn nhảy choi choi thì không thể quán được. Vì vậy người ta thường phải dùng “thiền chỉ” (samatha), ví dụ tập trung vào hơi thở để định tâm trước, khi đã “định” được rồi, muốn quán (vipassana) gì thì “quán” (và trong khi quán, tâm mình vẫn “định”).

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

.

Your Light May Go Out

A student of Tendai, a philosophical school of Buddhism, came to the Zen abode of Gasan as a pupil. When he was departing a few years later, Gasan warned him: “Studying the truth speculatively is useful as a way of collecting preaching material. But remember that unless you meditate constantly you light of truth may go out.”

# 52

Niềm tin vào bản thân

Chúa ơi hãy trao cho con niềm tin vào bản thân
không chỉ vào những ngày con tuyệt vời và chiến thắng
và không có gì là không thể
nhưng cả vào những ngày khi cả thế giới trở nên tồi tệ
và con đang thất bại và con đường phía trước trở nên thật khó khăn.

Khi con nghĩ liệu mình có đủ dũng cảm, đủ thông minh
và con phải liều mình để thử,
đừng để con bỏ cuộc, xin Chúa, xin đừng bao giờ.

Hãy để con giữ niềm tin vào bản thân.
Dù có bao nhiêu người
làm nhụt chí con…
nghi ngờ con…
chê cười con…
đe dọa con…
nghĩ rằng con là đứa ngốc…
Đừng để con nghe thấy.

Hãy để con nghe một thứ tiếng khác nói với con
“Bạn có thể làm được và bạn sẽ làm được”
nếu không có ai trên thế giới này thèm để ý hay là tin con
hãy để con tin vào chính mình.

Con biết sẽ có những lúc con sẽ nghi ngờ khả năng của mình
Khi con trở nên nhụt chí và đứng trên bờ vực của tuyệt vọng,
đừng để con bỏ cuộc
nâng con lên.

Quạt những ngọn lửa để con thậm chí cố gắng hơn nữa
cho con nhiều niềm tin hơn vào bản thân mình.

Chúa ơi, Người là nguồn sống và sức mạnh
Người là nguồn khả năng và niềm tin của con
Cảm ơn Người đã củng cố.

Con biết rằng Người sẽ cho con cái mà con cầu xin…
Niềm tin vào bản thân.

Hoàng Khánh Hòa dịch
.

Faith in myself

God gave me faith in myself,
not only on days when I’m going great and winning
and nothing seems impossible
but on days when the whole world looks lousy
and I’m losing and the road ahead seems too hard.
When I wonder if I’m brave enough, smart enough
and I must be crazy to try,
don’t let me quit Lord, not ever.

Let me keep the faith in myself.
No matter how many people
discourage me…
doubt me…
laugh at me…
warn me…
think me a fool…
Don’t let me listen.

Let me hear another voice telling me,
“You can do it and you will!”
If nobody else in this world gives a darn or believes in me,
let me believe in myself.

I know there’ll be times when I will doubt my own abilities,
when I’ll be discouraged and on the verge of despair,
don’t let me give up,
hang onto me.
Fan the fires so that I’ll try even harder.
Give me more faith in myself.

Dear Lord, you are the source of life and power.
You are the source of my abilities and my faith.
Thank you for reinforcements.
I know that you will give me for what I ask…
Faith in myself.

Cởi bỏ lối nhìn cũ để hướng về tương lai – Sự cần thiết của triết học

Hai câu chuyện

Chuyện 1.
Năm 1977, ông thầy cũ ghé nhà tôi tại Caklaing thấy tôi đang ôm cuốn L’Être et le Temps của Heidegger, chợt nhăn nhó:

– Trời đất! Thiên hạ đang chết đói mà mầy lại đi đọc triết! Mầy sống bằng không khí à?

Thế là ông thầy lên lớp tôi một hơi về phải học biết thế nào là thực tế, thực tiễn. Tôi im lặng chịu đựng, không một lời cãi lại. Đợi cho ông qua cơn thuyết giáo, tôi mới thủng thẳng hỏi: Thầy có biết mình đang sống dưới chế độ nào không?

– Chủ nghĩa xã hội, đương nhiên.
– Thế chế độ này do ai lập nên? Không phải Hồ Chí Minh sao?
– Thì đúng rồi!
– Mà Hồ Chí Minh là ai? Ông có phải học trò của Lênin, và học thuyết Lênin chẳng phải xây dựng trên nền tảng triết học của Karl Marx? Mà Marx là ai chứ? Ông ta hẳn nhiên là đại triết gia rồi…

Ông thầy nín thinh, tôi tiếp: Con người là cây sậy suy tư… Chỉ cần một làn gió cũng đủ giết chết con người. Nhưng làn gió kia khi giết chết con người, nó không hiểu, còn con người thì hiểu. Pascal đấy, chắc thầy chưa quên. Đây là chế độ đang tác động đến chính cuộc sống của em và mọi người xung quanh em, em là con người, em cần hiểu nó. Hiểu đến nơi đến chốn. Vậy thôi.

Chuyện 2. Năm 1991, một trí thức Chăm từ ngoại quốc về, bên cạnh số người chạy theo cũng có không ít vị chống. Chống và nói xấu ông ta sau lưng. Sự việc vừa xót xa vừa buồn cười. Tôi thử im lặng quan sát. Sau một thời gian ngắn, không ít kẻ chạy theo ông quay lại nói xấu ông. Tôi nói với một bạn trẻ: Cả chạy theo hay nói xấu đều xuất phát từ thiếu hiểu biết. Trong khi trí thức là kẻ hiểu biết, kẻ biết để cho tâm TRÍ mình luôn ở tình trạng THỨC.

Đâu riêng Chăm, quần chúng nhân loại nói chung thiếu chất trí thức. Thiếu, nên dễ bị tuyên truyền làm lung lạc. Ngụ ngôn Trung Quốc: Mẹ Tăng Sâm dạy và rất tin con, khi lần đầu tiên có người đến báo: “Tăng Sâm giết người”, bà chỉ im lặng cười khẩy; lần thứ hai bà nghe ngờ ngợ; đến lần thứ ba thì bà phải bỏ dở công việc chạy ra ngoài xem thật hư thế nào? Ai dè, đó là tên trùng tên.

Các nhà chính trị hoạt đầu thường lợi dụng tính thiếu trí thức đó của công chúng, càng lợi dụng. Vô hình trung, chúng ta trở thành con rối lúc nào không hay.

Hai năm qua vài “trí thức” trong cộng đồng hay nhân danh dân tộc để kết án chú này phản bội truyền thống, bác kia xấu xa. Họ nói mãi, thế nào cũng có kẻ tin. Gặp trường hợp như thế, đòi hỏi trước hết là, bạn phải biết đặt câu hỏi với người phê phán: Anh/ chị là ai? Ai cấp giấy phép cho anh/ chị có quyền “nhân danh” dân tộc? Nguyên động lực nào anh/ chị phát biểu câu đó? Anh/ chị có quan hệ “nợ nần” gì với đối tượng bị phê phán không? Và phê phán với thâm ý gì?

Tôi gọi đó là tinh thần hoài nghi mang tính triết lí.

Hỏi như thế, là bạn đã đặt bản thân kẻ phê phán và vấn đề bị phê phán vào tư thế phải được xét lại; qua đó bạn khiến đối tượng mất tự tin và lúng túng. Bước tiếp theo là, bạn bình tâm tìm hiểu phía bên kia: Đối tượng bị phê phán đó có thật sự hành xử như thế không? Đâu là tang chứng vật chứng? Nếu có, sự thể có đáng bị lên án nặng nề như vậy không? Khi nghe sự phê phán đó, họ đã phản ứng hay tự biện minh thế nào? Bạn hãy lắng nghe họ giải minh.

Vậy là bạn không bị nhồi sọ một chiều mà nhận được thông tin từ cả hai phía. Dĩ nhiên, nếu sự thể động cập đến chuyên môn, bạn cũng cần sự hỗ trợ của các chuyên gia uy tín. Uy tín và đạo đức. Bạn tham khảo thông tin từ nhiều phía khác nữa. Sau cùng, qua tổng hợp và phân tích, bạn có thể đưa ra ý kiến của riêng bạn.

Đó chính là tinh thần tư duy độc lập. Bạn không phải nghe theo, tin theo, nói hùa theo bất kì ai cả! Bạn đủ khôn lớn để phán xét mọi việc.

Làm như thế, chẳng những bạn minh oan được cho đối tượng bị phê phán thôi mà còn giúp chính mình nữa. Bởi vì nếu không tự tạo cho mình tinh thần phản biện, thiệt thòi về phần bạn là chính. Bạn mất cơ hội để nhận biết sự thật, từ đó bạn luôn chịu thao túng của tuyên truyền một chiều. Của báo chí hay của dư luận. Bạn giống thứ thân cây mềm yếu nghiêng ngả theo chiều gió, thành nô lệ của tuyên truyền và không tránh khỏi bị lợi dụng. Không phải lợi dụng tiền bạc bạn mà lợi dụng tâm hồn bạn, lợi dụng sự ngây thơ của tâm trí bạn.
Chỉ khi nào bạn biết độc lập tư duy, bạn mới trở thành người lớn, trở thành chính bạn.

Sự thể này nói lên thái độ công bằng đối với mọi thành phần trong xã hội, tránh cho cá nhân bị nhìn một cách bất công. Sự bất công này dễ đẩy đối tượng đến tình trạng tuyệt vọng hay có phản ứng ngược lại, tác hại đến xã hội không ít. Nếu vài người học biết ứng xử như thế, mọi hiểu lầm to lớn đến đâu cũng được vượt qua dễ dàng.

Inrasara

Miso chua

Sư nấu bếp tại Dairyo, tu viện của thiền sư Bankei, quyết định là sư sẽ chăm sóc kỹ càng sức khỏe của lão sư phụ của mình và sẽ chỉ cho sư phụ ăn Miso tươi, làm từ đậu nành, lúa mì và men đánh nhuyễn và để lên men. Bankei, thấy là mình được phục vụ miso tốt hơn miso của các đệ tử, liền hỏi: “Ai là người nấu ăn hôm nay?”

Dairyo được gọi đến gặp thầy. Bankei nghe trình là theo tuổi tác và địa vị của thầy, Bankei chỉ nên ăn miso tươi. Cho nên Bankei nói với sư nấu ăn: “Vậy chú nghĩ là thầy không nên ăn gì hết.” Nói xong, Bankei bước vào phòng riêng và khóa cửa.

Dairyo, ngồi ngoài cửa, xin lỗi thầy. Bankei không trả lời. Cả bảy ngày, Dairyo ngồi bên ngoài và Bankei ở bên trong.

Cuối cùng, trong tuyệt vọng một đệ tử nói thật to cho Bankei: “Thầy có thể không sao, lão sư phụ, nhưng anh chàng đệ tử này phải ăn. Hắn không thể nhịn ăn mãi được!”

Đến lúc đó Bankei mở cửa. Thầy mỉm cười. Thầy nói với Dairyo: “Thầy nhất quyết ăn cùng loại thức ăn như những đệ tử thấp nhất của thầy. Khi chú trở thành sư phụ, thầy không muốn chú quên chuyện này.”
.

Bình:

• Bankei đây là Bankei yōtaku (eitaku), Bàn Khuê Vĩnh Trác, mà chúng ta đã nhắc đến trong truyện Giọng nói của hạnh phúc.

• Xem ra đây là một luật lệ ăn uống đã có sẵn trong tu viện nhưng Bankei không biết. Người đến tuổi nào đó và có chức vị nào đó thì được ăn uống loại thực phẩm nào đó. Đây là ăn uống theo “hệ cấp” và Bankei chống đối “hệ cấp”. Nếu Bankei yếu sức khỏe hay bệnh hoạn và đầu bếp nấu thức ăn đặc biệt để chữa bệnh, chắc là thiền sư không phiền hà gì.

• Xã hội con người là xã hội hệ cấp dày đặc tới nghẹt thở: Chức vị đi trước hay sau tên (bác sĩ, luật sư, tiến sĩ, thạc sĩ, giáo sư, giáo viên… cô, dì, chú, bác..); văn phòng (làm lớn văn phòng lớn, làm nhỏ văn phòng nhỏ), xe cộ (làm lớn đi xe có tài xế), áo quần (làm lớn mặc veston, làm nhỏ mặc quần jean), lương bỗng.…

Nói chung là các thứ trang điểm cho hệ cấp này như vài mươi lớp áo dày phủ kín người chúng ta. Rồi chúng ta có thể tự thêm vài tầng hệ cấp nữa bằng cách xưng hô ăn nói quan liêu từ trên nói xuống. Rốt cuộc, ta chỉ là một hình nộm to đùng đứng đuổi chim giữa đồng.

Khó ai thấy được con người thật của mình. Và rất có thể là mình cũng không biết được con người thật của mình, nếu mình không bao giờ trút bỏ các lớp vỏ.

Có lẽ là ta sẽ không bao giờ bỏ hết được tối thiểu là một bộ quần áo mặc trên người. Nhưng nếu ta có thể trút bỏ rất nhiều bộ đồ đang chất chồng không cần thiết trên cơ thể, thì ta sẽ dễ thở và thong thả hơn rất nhiều, và nhiều người sẽ thích thú con người thật của ta, hơn là một hình nộm tới 27 lớp áo quần.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

.

Sour Miso

The cook monk Dairyo, at Bankei’s monastery, decided that he would take good care of his old teacher’s health and give him only fresh miso, a paste of soy beans mixed with wheat and yeast that often ferments. Bankei, noticing that he was being served better miso than his pupils, asked: “Who is the cook today?”

Dairyo was sent before him. Bankei learned that according to his age and position he should eat only fresh miso. So he said to the cook: “Then you think I shouldn’t eat at all.” With this he entered his room and locked the door.

Dairyo, sitting outside the door, asked his teacher’s pardon. Bankei would not answer. For seven days Dairyo sat outside and Bankei within.

Finally in desperation an adherent called loudly to Bankei: “You may be all right, old teacher, but this young disciple here has to eat. He cannot go without food forever!”

At that Bankei opened the door. He was smiling. He told Dairyo: “I insist on eating the same food as the least of my followers. When you become the teacher I do not want you to forget this.”

#51

Khiếm Khuyết của Phụ Nữ

Phụ nữ – họ là ai? Phụ nữ có vô vàn sắc thái như trong truyền thuyết sau:

Thượng đế đã lấy
Vẻ uyển chuyển nhẹ nhàng của chiếc lá rơi
Cái nhìn ngơ ngác của nai tơ trong rừng
Bước nhảy múa tung tăng của ánh mặt trời buổi sớm
Những giọt nước mát của sương mai
Ngài đã lấy sự bất thường của gió
Sự nhút nhát của con thỏ
Ngài đã lấy sự kiêu sa
Của loài công vương giả
Và nét dịu dàng của chùm lông trên cổ chim én

Ngài thêm vào tất cả những thứ đó
Sự cứng cỏi của đá kim cương
Sự dịu ngọt của mật ong rừng
Sự hung bạo của loài cọp
Sức nóng của lửa thiêu
Và hơi lạnh của băng tuyết
Ngài còn thêm vào nữa
Tiếng hót của chim bạc má
Và tiếng gù của chim bồ câu

Phụ nữ được tạo ra công phu với nhiều sắc thái đa dạng, tuyệt vời như vậy.
Nhưng có thể định danh phụ nữ với những khái niệm như sau bằng câu nói của M. Gorki: “Không có mặt trời thì hoa không nở. Không có tình yêu thì không hạnh phúc. Không có phụ nữ thì không có tình yêu. Không có người mẹ thì không có cả nhà thơ và anh hùng.”

Xin các bạn hãy nói cho vợ, người yêu, bà, hay mẹ và chị, em của mình, nhắc cho họ nhớ rằng họ phi thường và tuyệt vời như vậy nhưng họ vẫn còn khiếm khuyết, một khiếm khuyết sau đây:

MỘT KHIẾM KHUYẾT CỦA PHỤ NỮ

Khi Thượng đế tạo ra người phụ nữ, người đã làm việc vượt mức thời gian 6 ngày. Một thiên thần xuất hiện và nói: “ Tại sao Người dành cho sinh vật này nhiều thời gian đến thế?”
Thương Đế trả lời: “ Con có thấy bản thiết kế chi tiết chế tạo người nữ này của ta không? Người nữ này phải có thể giặt được, nhưng không phải bằng nhựạ dẻo, có trên 200 chi tiết có thể chuyển động, tất cả đều có thể thay thế và có tác dụng với đồ uống cho người ăn kiêng và đồ ăn thừa, người này có thể ôm trong lòng 4 đứa trẻ một lần, có một nụ hôn chữa lành tất cả từ cái đầu gối bị xây xát.cho đến một trái tim tan nát- và nàng sẽ làm tất cả chỉ với đôi tay
Thiên thần sửng sốt hỏi lại: “Chỉ bằng hai tay sao? Không thể nào! Như thế có phải là kiểu mẫu tiêu chuẩn không thưa Người? Quá nhiều công việc cho một ngày. Xin Người hãy để đến mai hãy hoàn tất.

” Không , “ Thượng Đế không đồng ý, “ Ta sắp hoàn thành sinh vật này vốn rất gần gũi với trái tim ta. Người nữ này tự chữa khỏi cho mình khi bị ốm có thể làm việc 18 giờ mỗi ngày .”
Thiên thần bước đến gần hơn và chạm vào người phụ nữ. “ Thương Đế ạ, Nhưng Người tạo ra cô ta quá mềm mại”
” Đúng là nàng ta mềm mại, Thượng Đế đồng ý, “ nhưng ta cũng đã làm cho nàng cứng rắn. Con chẳng biết những gì người phụ nữ có thể chịu đựng hay hoàn thành được đâu.”
“ Nàng biết tư duy chứ ạ?, Thiên thần hỏi.
Thượng Đế đáp, “ Nàng không chỉ biết tư duy, mà còn biết lý luận và thương thuyết.”

Thiên thần sau đó nhận thấy điều gì đó, đưa tay ra chạm vào má người phụ nữ. “ Chà, có vẻ như là Người đặt một chỗ thủng ở mẫu này. Con đã thưa rằng Người đang cố gắng cho quá nhiều vào sinh vật này.”

”Đó không phải là chỗ thủng, “ Thượng Đế sửa lời, “đó là nước mắt”

“ Nước mắt để làm gì ạ?”, Thiên Thần lại hỏi

Thượng Đế: ” Nước mắt để nàng thể hiện niềm vui, nỗi buồn, cơn đau, niềm thất vọng, tình yêu, nỗi cô đơn, niềm sầu muộn, và lòng tự hào của mình”

Thiên thần thấy vô cùng ấn tượng. “ Người thực là một thiên tài, Thương đế ạ,. Người nghĩ ra mọi điều! Quả thực, phụ nữ thật đáng nể”

Phụ nữ là:

Phụ nữ có sức mạnh khiến đàn ông sửng sốt
Họ chịu đựng mọi nỗi gian truân
Trên đôi vai gầy họ gánh nặng như núi
Nhưng họ chứa cả hạnh phúc, tình yêu và niềm vui sướng
Họ mỉm cười khi muốn gào to
Họ ca hát khi muốn than khóc
Họ khóc khi hạnh phúc
Và họ cười khi thấy âu lo
Họ chiến đấu vì niềm tin
Họ chống lại bất công
Họ chẳng bao giờ nói không khi họ tin còn giải pháp
Họ đi mà không có những thứ gia đình họ có
Họ đưa người bạn sợ sệt đi bác sĩ
Họ yêu vô điều kiện
Họ khóc khi con cái giỏi giang
Họ hoan hô khi con mình nhận phần thưởng
Họ hân hoan khi nghe chuyện sinh con hay cưới hỏi
Trái tim họ nát tan khi một người bạn lìa trần
Họ sầu đau khi mất người thân yêu
Tuy nhiên họ rất mạnh mẽ khi tưởng như họ không còn sức mạnh
Họ biết rằng một cái ôm và nụ cười có thể hàn gắn một trái tim tan nát
Phụ nữ có đủ hình dáng, khổ người và sắc màu
Họ sẽ lái xe, máy bay, đi bộ, chạy hay gửi email cho bạn
Để nói rằng họ yêu bạn biết bao
Trái tim phụ nữ làm cho thế giới tiếp tục vòng quay vô tận
Họ mang niềm vui, hi vọng và tình yêu
Họ có từ tâm và ý tưởng
Họ giúp đỡ về tinh thần cho gia đình và bạn hữu
Họ có những điều quan trọng để nói và mọi thứ để cho đi
Tuy nhiên, nếu có một khiếm khuyết ở phụ nữ, ấy là:
Họ quên đi giá trị bản thân và họ thực sự xuất sắc dường nào!


THE ONE FLAW IN WOMEN

Author Unknown

By the time the Lord made woman, he was into his sixth day of working overtime. An angel appeared and said, “Why are you spending so much time on this one?”

And the Lord answered, “Have you seen my spec sheet on her? She has to be completely washable, but not plastic, have over 200 movable parts, all replaceable and able to run on diet coke and leftovers, have a lap that can hold four children at one time, have a kiss that can cure anything from a scraped knee to a broken heart -and she will do everything with only two hands.”

The angel was astounded at the requirements. “Only two hands!? No way! And that’s just on the standard model? That ‘s too much work for one day. Wait until tomorrow to finish.

“But I won’t,” the Lord protested. “I am so close to finishing this creation that is so close to my own heart. She already heals herself when she is sick AND can work 18 hour days.”

The angel moved closer and touched the woman. “But you have made her so soft, Lord.”

“She is soft,” the Lord agreed, “but I have also made her tough. You have no idea what she can endure or accomplish.”

“Will she be able to think?”, asked the angel.

The Lord replied, “Not only will she be able to think, she will be able to reason and negotiate.”

The angel then noticed something, and reaching out, touched the woman’s cheek. “Oops, it looks like you have a leak in this model. I told you that you were trying to put too much into this one.”

“That’s not a leak,” the Lord corrected, ” that’s a tear!”

“What’s the tear for?” the angel asked.

The Lord said, “The tear is her way of expressing her joy, her sorrow, her pain, her disappointment, her love, her loneliness, her grief, and her pride.”

The angel was impressed. “You are a genius, Lord. You thought of everything! Woman is truly amazing.”

And she is!
Women have strengths that amaze men.
They bear hardships and they carry burdens,
but they hold happiness, love and joy.
They smile when they want to scream.
They sing when they want to cry.
They cry when they are happy
and laugh when they are nervous.
They fight for what they believe in.
They stand up to injustice.
They don’t take “no” for an answer
when they believe there is a better solution.
They go without so their family can have
They go to the doctor with a frightened friend.
They love unconditionally.
They cry when their children excel
and cheer when their friends get awards.
They are happy when they hear about
a birth or a wedding.
Their hearts break when a friend dies.
They grieve at the loss of a family member,
yet they are strong when they
think there is no strength left.
They know that a hug and a kiss
can heal a broken heart.
Women come in all shapes, sizes and colors.
They’ll drive, fly, walk, run or e-mail you
to show how much they care about you.
The heart of a woman is what
makes the world keep turning.
They bring joy, hope and love.
They have compassion and ideas.
They give moral support to their family and friends.
Women have vital things to say and everything to give.
However, if there is one flaw in women, it is this;
they forget their worth and how remarkable they truly are!


ONE FLAW IN WOMEN

Video you tube

By Unknown

Ngày phụ nữ, nói với đấng mày râu

Các bạn mến,

Không phải ở nước nào cũng kỉ niệm ngày mùng 8 tháng 3 như một ngày lễ lớn tôn vinh người phụ nữ như ở Việt Nam (phụ nữ Việt Nam chúng ta thậm chí còn có ngày lễ riêng của mình vào 20 tháng 10 nữa). Những ngày này chúng ta vẫn thường đùa với nhau là “Mẹ và con gái đình công cho bố và anh trai vào bếp phục vụ cả ngày :)”. Dù là ngày vui, các bà các mẹ, các bạn gái được nhận hoa và quà từ các đấng mày râu yêu dấu của mình, nhưng là một người phụ nữ, mình vẫn không khỏi một chút chạnh lòng – tại sao không phải ngày nào với phụ nữ cũng được như mùng 8 tháng 3, hay ít nhất cũng được “một nửa” của mùng 8 tháng 3 nhỉ?

Không chỉ riêng ở Việt Nam, phụ nữ ngày nay nói chung, trong thế kỉ 21 này, đã được bình đẳng hơn so với nam giới rất nhiều. Có nhiều phụ nữ rất giỏi và đảm đang, làm chủ doanh nghiệp hay giữ các vị trí quan trọng trong các tổ chức. Một vài trong số đó may mắn có được sự ủng hộ của người chồng. Nhưng một số đã phải hi sinh cuộc sống gia đình, vì nhiều lí do, mà một phần là do người chồng không chấp nhận được sự tài giỏi và vượt trội của vợ mình.

Khi còn là học sinh cấp ba và sau này đi học đại học, mình vẫn được nghe đi nghe lại câu nhắc nhở của các bà các mẹ “Con gái thì học in ít thôi, học cao mà giỏi quá khó lấy chồng cháu ạ. Đàn ông người ta không thích phụ nữ giỏi đâu”. Đó là một thực tế ở Việt Nam, rằng học con gái là phải giỏi bếp núc, con hư là tại mẹ, phụ nữ thì phải chấp nhận hi sinh vân vân và vân vân…trong khi mình rất ít nghe rằng cánh đàn ông không nên uống rượu bia, không nên quát tháo vợ con, nên nấu cơm giúp vợ và khen ngợi vợ mỗi ngày.

Nhiều người đàn ông cho rằng trách nhiệm lớn của họ là đi làm kiếm tiền nuôi gia đình, và lương cứ cao nghĩa là vợ mình hạnh phúc. Trong khi đa phần phụ nữ thấy hạnh phúc khi có được sự chia sẻ trong những công việc hàng ngày và sẽ tốt hơn biết bao nếu các đấng mày râu để ý một chút trong những hành xử nho nhỏ hàng ngày.

– nếu đi cùng xe, luôn xuống trước và mở cửa xe cho phụ nữ;

– nhường phụ nữ đi trước khi bước vào cửa, qua cổng…

– ở nhà nếu vợ nấu cơm thì chồng rửa bát. Thậm chí nhiều người đàn ông rất thích nấu cơm và phục vụ cơm nước vợ con. Ví dụ với cánh đàn ông phương Tây, nấu cơm cho người yêu hay vợ là một cách thể hiện tình yêu rất ngọt ngào 🙂

– người chồng và người vợ tôn trọng công việc của nhau và các quyết định cá nhân, chứ không có khái niệm chồng là trụ cột thì vợ phải nhất nhất nghe theo;

– khen ngợi các món ăn vợ nấu dù có thể chưa thực sự vừa ý vì những gì mà cô ấy đã cố gắng suốt cả buổi tối để có được một món ăn ngon

– vv…

Trong một thế giới mở như ngày nay, nhiều phụ nữ, nhất là các bạn gái trẻ và có năng lực, sẽ khó có thể chấp nhận một gia đình với người chồng gia trưởng, ích kỉ, hẹp hòi như cũ nữa. Thậm chí một số còn tuyên bố “Không thèm lấy chồng!” vì thấy cuộc sống gia đình quá phức tạp và căng thẳng trong khi họ hoàn toàn có thể sống tự do và thoải mái cả về tài chính lẫn tinh thần.

Vì thế, mình thực sự nghĩ rằng sự thay đổi tích cực và cởi mở chính từ phía đấng mày râu là yếu tố quan trọng nhất để giúp cho người phụ nữ Việt Nam có được cuộc sống tốt hơn. Những cử chỉ quan tâm như hỏi thăm, động viên, nấu cơm, giặt đồ…mỗi ngày còn quan trọng gấp ngàn lần một bó hoa duy nhất của ngày mùng 8 tháng 3. Những thay đổi tích cực đó không chỉ giúp cho người phụ nữ của họ thấy hạnh phúc mà còn góp phần thay đổi nhận thức của các đấng mày râu về vai trò của người phụ nữ trong xã hội ngày nay.

Với phụ nữ, có tình yêu họ sẽ làm được tất cả. Vì thế một người đàn ông thông minh và rộng lượng sẽ biết nên thể hiện tình yêu của mình như thế nào để có được thế giới này :).

Chúc các bà, các mẹ, các chị và các bạn gái một ngày Phụ nữ ngọt ngào và tràn đầy tình yêu!

Hoàng Khánh Hòa

Bình đẳng giới tính

Chào các bạn,

Tại Việt Nam, chúng ta có đến hai ngày phụ nữ, 8/3 là Ngày Quốc Tế Phụ Nữ và 20/10 là Ngày Phụ Nữ Việt Nam. Chẳng có ngày nào cho phụ nam cả. 🙂 Xem ra đây là một bất công cho phái nam. Nhưng “bất công” này thật sự là bằng chứng cho bất công bình đối với phái nữ, vì nếu hai bên đã công bình thì chẳng ai cần đến ngày phụ nữ làm gì trong khi chẳng có ngày nào cho phái nam.

Thật sự là xã hội mọi nơi trên thế giới dành nhiều khó khăn, và tại vài vùng trên thế giới, nhiều bất hạnh, cho phụ nữ. Ngày Phụ Nữ không chỉ là ngày mua hoa hồng và đưa nàng đi ăn, mà là ngày để mọi người, nhất là phái nam, ‎ ý thức được những bất công mà người phụ nữ phải gánh chịu tại khắp nơi trên thế giới. Và những bất công này làm chậm đà phát triển văn minh của con người.

Tổng Thư Ký Liên Hợp Quốc Ban Ki-moon mới nói hôm thứ tư vừa qua: “Với tư cách một người con, một người chồng, một người cha và và một người ông cho các cháu gái, là một danh dự, và với tư cách Tổng Thư Ký Liên Hợp Quốc, là nhiệm vụ của tôi—bình đẳng giới tính và trao năng lực cho phụ nữ là các vấn đề nền tảng cho chính bản thân Liên Hợp Quốc.”

Ông nói rằng nếu phụ nữ chưa được giải phóng khỏi nghèo khổ và bất công, sẽ khó có được phát triển hòa bình, an ninh và bền vững.

Năm nay là kỷ niệm 15 năm ngày Liên Hợp Quốc thông qua Tuyên Ngôn Bắc Kinh và Kế Hoạch Hành Động (Beijing Declaration and Platform for Action), kết quả của Đại Hội Thế Giới Lần 4 về Phụ Nữ ở Bắc Kinh năm 1995.

Ban Ki-moon nói rằng đã đạt được nhiều tiến bộ từ năm 1995: “Ngày càng có nhiều quốc gia đưa ra chính sách và luật lệ ủng hộ sự bình đẳng giới tính và sức khỏe sinh sản. Giờ đây có nhiều bé gái được cắp sách đến trường, nhất là cấp tiểu học. Ngày càng có nhiều phụ nữ làm chủ doanh nghiệp và vay được tiền nhiều hơn. Phụ nữ giờ đây cũng tham gia chính quyền nhiều hơn.”

Tuy nhiên, ông cảnh báo hiện tượng bất công và phân biệt đối xử phụ nữ vẫn còn tồn tại ở khắp nơi. Hiện tượng này xuất hiện dưới nhiều dạng, tệ nhất là bạo hành—“khoảng 70% phụ nữ trên thế giới là nạn nhân của bạo hành một lần nào đó trong đời.” Còn các dạng khác là tảo hôn hoặc ép hôn, các vụ giết hại phụ nữ về tội gọi là “làm mất danh dự gia đình”, hãm hiếp, và buôn người. Ban Ki-moon cho rằng những hành vi như vậy là lạm dụng và tội phạm, chống lại các quyền căn bản của phụ nữ.

Ông cũng ghi nhận các tổ chức dân sự (NGO), nhất là các tổ chức của phụ nữ, đã đóng vai trò chính trong các thắng lợi đạt được. Ông nói: “Phụ nữ khắp nơi đang vận động để đòi bình đẳng và có thêm sức mạnh, và họ đang thành công.”

Liên Hợp Quốc đã làm gương. Tại Liên Hợp Quốc, kể từ khi Ban Ki-moon nhậm chức, số phụ nữ lãnh đạo cao cấp đã tăng đến 40%.

Tại Việt Nam, theo báo Nhân Dân thì: “Việt Nam là một nước có hệ thống chính sách tốt về giới. Ngoài Hiến pháp, chúng ta còn có Luật Hôn nhân và Gia đình (1986). Mới đây nhất, Luật Bình đẳng giới (2007) và Luật Phòng, chống bạo lực gia đình (2008) là những luật chuyên môn về giới. Chính sách bình đẳng giới còn được đề cập trong các luật khác và nhiều nghị quyết, chính sách riêng cho công tác phụ nữ… Năm 1995 Việt Nam được LHQ xếp thứ 72/130 nước theo chỉ số phát triển giới (GDI). Chỉ số này được giữ vững trong nhiều năm, đến năm 2007 – 2008, Việt Nam đứng hàng thứ 91/177 nước với chỉ số là 0,732 thuộc nhóm nước tốt nhất Ðông-Nam Á – Thái Bình Dương (UNDP, Báo cáo phát triển con người).”

91/177 là vẫn còn dưới trung bình.

Chúng ta cần nhìn vấn đề bình đẳng giới tính rõ ràng hơn. Phụ nữ tại nhiều nơi trên thế giới, và ở nước ta, không được coi trọng bằng phái nam từ trong gia đình ra ngoài xã hội (con trai quý hơn con gái); ít có cơ hội được giáo dục, nhất là giáo dục cao cấp; mang nhiều gánh nặng gia đình hơn (kể cả khi người phụ nữ đi làm bên ngoài); và khi đi làm thì ít khi nắm các chức vụ chỉ huy như nam.

Nhiều loại tội ác gần như dành riêng cho phụ nữ là nạn nhân, như là bạo hành trong gia đình, mãi dâm, buôn người, “hôn nhân” lừa bịp với người nước ngoài, v.v…

Vấn đề này là vấn đề tranh đấu của phụ nữ, nhưng là vấn đề ‎ý thức của phái nam về năng lực và tiềm năng phụ nữ.

Và đây không phải chỉ là vấn đề ga-lăng của các anh đối với các chị, dù rằng ga-lăng cho đáng mặt nam nhi cũng là chuyện tốt. Đây là vấn đề chính sách phát triển. Bất kỳ kỳ thị dưới hình thức nào cũng làm chậm phát triển đất nước—kỳ thị dân tộc đối với các dân tộc thiểu số, kỳ thị vì l‎ý do tôn giáo, kỳ thị vì lý do lý lịch, kỳ thị vì lý‎ do giới tính…

Khi chúng ta kỳ thị, chúng ta không cho người bị kỳ thị cơ hội để phát triển tối đa tiềm năng của họ, và như vậy là quốc gia thất thoát nhân tài.

Cho nên, chúng ta cần nhìn kỳ thị giới tính, cũng như mọi kỳ thị khác, sâu sắc hơn, với con mắt của những người làm chính sách phát triển cho quốc gia.

Rồi sau đó, là con mắt của người đàn ông tốt cho người phụ nữ của mình. 🙂

Chúc các bạn một ngày 8/3 rộn rã tiếng cười.

Hoành
.

Tổng Thư Ký Liên Hợp Quốc Ban Ki-moon, nhân ngày 8/3/2010

Hãy Tập Cho Mình Một Chút Tử Tế: Quan Tâm

Có một người kia bị bệnh quên trầm trọng. Chiều đến, anh ta quên hết mọi việc anh làm trong ngày. Sáng hôm sau thì anh không còn nhớ điều gì anh đã làm tối hôm trước. Đang đi ngoài đường, anh không nhớ là mình đang đi. Ngồi ở nhà, anh không biết mình đang ở đâu. Những người thân trong gia đình rất buồn rầu và thất vọng vì đã thử nhiều phương pháp chữa trị nhưng không đạt kết quả. Sau cùng thì một thầy thuốc đến và tuyên bố rằng: “Tôi có cách chăm sóc người nầy. Hãy để một mình tôi với anh ta”. Và không biết thầy thuốc đã chữa trị bằng cách nào, nhưng người đó được chữa lành. Anh ta nhớ lại tất cả.

Được chữa lành, nhưng anh ta lại giận dữ mà rằng: “Trước kia, khi tôi không nhớ gì cả thì tinh thần tôi thoải mái và thanh thản. Bây giờ thì nặng nề quá, nào là những kỷ niệm đè nặng, nào là những năm tháng thành công và thất bại, những thiệt thòi cũng như thua kém, những vui sướng cũng như đau buồn, tôi đã nhớ hết. Rồi khi nhớ về quá khứ, tôi lại lo lắng cho tương lai. Tôi muốn có những giây phút không còn nhớ gì hết”.

Người mắc bệnh quên trên đây tức giận vì anh ta có lại trí nhớ, vì anh bị tước đi cái khả năng chạy trốn thực tại, chạy trốn những người chung quanh, chạy trốn anh em qua việc ẩn núp trong cái bệnh quên của mình.

Một chút Quan Tâm sẽ dẫn chúng ta đi rất xa. Chúng ta có thể học sống thực tế đơn giản qua việc quan sát những gì xảy ra chung quanh chúng ta – không loại trừ cũng không thêm bớt, không xét đóan. Không dán nhãn, không cần đánh giá tốt hay xấu. Đơn giản thấy cái nó LÀ.

Sự Quan Tâm làm cho cuộc sống trở nên thú vị và dễ chịu hơn. Vì chúng ta sẽ thấy thế giới không phải chỉ là một bóng đêm, nhưng có cái gì đó luôn luôn đổi mới. Nếu chúng ta có chút Quan Tâm đến những gì chung quanh, nơi đây và bây giờ, chúng ta sẽ nhận ra nơi mỗi con người, mỗi khoảnh khắc, ẩn náu những điều kỳ diệu mới.

Nhưng phần nhiều trong cuộc sống, chúng ta cảm thấy sự việc không như vậy. Khi chúng ta gặp người nầy người nọ, chúng ta “Thấy” họ sẽ thế nào và họ sẽ nói gì! Chúng ta ở trong một tình huống nào đó, chúng ta “Biết” là điều gì sẽ xảy ra. Có nghĩa là: rốt cuộc chúng ta sống dựa vào một quá khứ nghèo nàn, vì chúng ta không có được những đức tính thiết yếu của “bất ngờ và canh tân”. Và điều đó chỉ đem đến cho chúng ta sự nhàm chán. Như những người khách du lịch chỉ đi đến những nơi mà họ thấy trong quảng cáo, họ sẽ không khám phá ra được điều gì thực sự mới. Họ chỉ thấy được cái gì mà họ chờ đợi được thấy.

Sống Quan Tâm là điều kiện cần thiết để giao tiếp tốt đối với người khác. Quan Tâm là một ơn Chúa ban, và đó là một ơn rất quí. Và Quan Tâm có thể nói đó là một cử chỉ anh hùng. Bạn hãy nghĩ có giây phút nào đó khi bạn nói mà người ta không lắng nghe bạn như bạn mong đợi. Bạn hãy tưởng tượng khi bạn nói mà người đối diện ngoái nhìn chỗ khác một cách lơ đễnh hoặc đọc báo… Trong sự không Quan Tâm đó, có cái gì như phá hoại và khinh miệt làm cho bạn mất đi hào hứng và sự tin tưởng nơi bạn, làm cho bạn cảm thấy bạn không tồn tại và làm cho mặc cảm tự ti thầm kín trào dâng.

Sự Quan Tâm chính là một Nhân Đức. Đó là một cách tiếp đón kẻ khác, một cử chỉ mang lại cho họ sự sống. Quan Tâm đến kẻ khác là đặt những âu lo của mình, những cách nhìn của mình, những ước vọng của mình, những điều mình thích.. vào trong hai dấu ngoặc.

Quan Tâm có nghĩa là tỉnh thức. Nghĩa là ý thức được sự gì xảy ra chung quanh.Ví dụ thấy người mà chúng ta đang nói chuyện dường như đặc biệt xanh xao, hay anh ta mặc chiếc áo mới, hay anh ta vừa mới đi cắt tóc, hoặc anh ta ngủ không ngon giấc đêm qua hoặc ngược lại, ngày hôm nay thấy anh ta có gì rất vui… Nhờ vào những nhận định đó mà chúng ta có thể có cùng một “tần số” với người đối thoại và biết được điều mà chúng ta có thể làm cho họ.

Quan Tâm là một dạng Tử Tế và thiếu Quan Tâm là một cái gì hết sức thô lỗ, một sự bạo lực thầm kín. Bernard Shaw nói: “Tội lớn nhất đối với người đồng loại không phải là thù ghét họ mà là không quan tâm đến họ, đó là cốt lõi của tính vô nhân đạo”.

Người Châu phi có kể câu chuyện như sau: “Một ông Vua kia có một người vợ luôn luôn buồn rầu và đau yếu. Một ngày kia, ngài khám phá ra một người đánh cá nghèo nàn sống cạnh lâu đài, có một cô vợ mạnh khỏe và sống rất vui vẻ. Ông Vua hỏi người đánh cá rằng: “Bạn làn sao mà vợ anh sống vui vẻ quá như vậy?” Anh đánh cá trả lời: “Thưa rất đơn giản thôi, tôi nuôi vợ tôi bằng cái lưỡi”. Ông Vua mừng rỡ, nghĩ mình đã tìm ra được giải đáp tốt. Ngài đặt mua ở các cửa hàng thịt của triều đình, lưỡi cho vợ ông và bắt vợ ông theo một chế độ ăn lưỡi rất nghiêm nhặt. Nhưng ngài thất vọng vì càng ngày vợ ông càng trở nên tệ hại hơn.

Vua rất tức giận và quay lại gặp người đánh cá mà rằng: “ Chúng ta đổi vợ cho nhau”. Người đánh cá buộc lòng phải vâng theo. Người vợ của Vua từ ngày về sống với ông đánh cá, trở nên mạnh khỏe và sống rất vui vẻ, còn cô vợ của người đánh cá, từ khi về sống với nhà vua càng ngày càng trở nên âu sầu ủ dột. Một ngày kia, ông Vua gặp lại vợ cũ của mình ngoài chợ, suýt nữa thì ông không nhận ra. Ông nói: “về với ta”. Cô ta trả lời: “Hết rồi”. Cô ta thêm: “Hàng ngày khi đi làm về, chồng mới của tôi ngồi cạnh tôi, kể cho tôi nghe đủ thứ chuyện, anh lắng nghe tôi, anh hát, anh làm cho tôi cười. Tôi cảm thấy như được sống lại. Đó chính là “cái lưỡi”, là con người nói với tôi, quan tâm đến tôi. Và tôi mong tới giờ anh đi làm trở về”. Lúc đó nhà vua mới hiểu ra. Ngài cảm thấy một sự đắng cay cho những cơ hội đã qua và cũng có một ước muốn thâm sâu thay đổi.

Quan Tâm là một phương thế phổ biến sự tử tế. Không có sự Quan Tâm, đừng nói đến Tử Tế. Cũng không có Tình Yêu và không có Giao tế giữa con người với nhau. Chúng ta hãy nhớ những giây phút vui vẻ mà chúng ta có đối với bạn bè, chắc chắn là không phải là những giờ phút chúng ta lơ đễnh. Ngược lại chúng ta rất Quan Tâm và rất sẵn sàng. Quan Tâm tức là chúng ta cho anh em mình quan trọng, là người “thân cận” của chúng ta, chúng ta có thể thực sự hiệp thông với họ và hai bên hiểu được nhau.

hoatrang,3.March.010

Ryonen đắc ngộ

Ni cô Ryonen sinh năm 1797. Cô là cháu của Shingen, một võ tướng nổi tiếng của Nhật. Thiên tài thi phú và sắc đẹp khuynh thành của cô tuyệt đến mức mới 17 tuổi cô đã thành người hầu cận của hoàng hậu. Dù còn trẻ thế, danh vọng đang chờ đợi cô.

Hoàng hậu yêu quý chết bất thần và mọi giấc mơ của Ryonen tiêu tán. Cô thấy rất rõ tính vô thường của đời sống trong thế giới này. Vì vậy cô muốn học thiền.

Tuy nhiên, thân nhân của cô không đồng ‎ý và ép cô lập gia đình. Với lời hứa hẹn là cô có thể đi tu sau khi đã sinh ba đứa con, Ryonen đồng ý. Cô làm tròn điều kiện này trước khi đầy 25 tuổi. Chồng cô và mọi người thân chẳng thể cản cô được nữa. Cô cạo đầu, lấy tên là Ryonen, có nghĩa là đạt ngộ sáng lạn, và bắt đầu hành hương.

Cô đến thành phố Edo và xin thiền sư Tetsugya nhận làm đệ tử. Nhưng chỉ liếc mắt qua một tí là thiền sư đã từ chối, vì cô quá đẹp.

Ryonen đến gặp một thầy khác, Hakuo. Hakuo cũng từ chối với cùng lý do, nói là sắc đẹp của cô chỉ gây rắc rối.

Ryonen lấy một thanh sắt nóng ép vào mặt. Chỉ trong một lúc là sắc đẹp của cô đã tiêu tán vĩnh viễn.

Hakuo bèn nhận cô làm đệ tử.

Để k‎ỷ niệm chuyện này, Ryonen viết một bài thơ trên mặt sau của một tấm gương nhỏ:

Phục vụ Hoàng Hậu, ta đốt hương xông thơm quần áo lụa là
Nay khất thực không nhà, ta đốt mặt để vào thiền viện.”

Khi sắp sửa lìa đời, cô viết một bài thơ khác:

Sáu mươi sáu lần đôi mắt này đã chứng kiến mùa thu thay đổi.
Ta đã nói đủ về ánh trăng,
Đừng hỏi nữa.
Hãy chỉ lắng nghe tiếng nói của thông và tuyết tùng khi gió lặng.

.

Bình:

• Ryonen không những đẹp mà còn rất trí tuệ khi còn trẻ. Một biến cố là đủ để cô nhận chân tính vô thường của đời sống.

• Và ‎ý chí thật là vững chắc. Đã nói đi tu là đi tu, chẳng có gì cản được, kể cả sắc đẹp của mình.

Có lẽ cô đã giác ngộ cả trước khi đi tu.

• Các thiền sư thường làm một bài thơ trước khi qua đời, gọi là “bài thơ chết” (the death poem). Đây là lời dạy cuối cùng, và do đó là lời dạy quan trọng nhất, của người ra đi. Bài thơ chết của Ryonen cũng không ngoài lệ đó:

Sáu mươi sáu lần đôi mắt này đã chứng kiến mùa thu thay đổi: Ta đã thấy rất rõ lẽ vô thường (trong 66 năm sống).

Ta đã nói đủ về ánh trăng, đừng hỏi nữa: Ta đã nói đủ về giác ngộ, về tỉnh thức, đừng hỏi nữa.

Hãy chỉ nghe tiếng nói của thông và tuyết tùng khi lặng gió: Hãy chỉ nghe tiếng nói của tĩnh lặng.

• Tất cả những người đã đắc đạo đều dạy chúng ta “nghe” tiếng nói của tĩnh lặng, nghe tiếng vỗ của một bàn tay. Đây là một chân l‎ý mà người chưa nắm được không thể hiểu được.

Thực ra vấn đề rất giản dị để ta có thể trực nghiệm hàng ngày, nếu ta muốn trực nghiệm: Khi một đám đông đang điên cuồng hò hét “Giết nó! Giết nó!”, nếu bạn không chạy theo đám đông và có thể ngồi tĩnh lặng, bạn sẽ thấy vấn đề rõ và sâu hơn đám đông rất nhiều. Nhiều điều bạn thấy, chẳng ai trong đám đông thấy cả.

Khi chúng ta tĩnh lặng chúng ta nghe tiếng nói của trí tuệ từ trong tĩnh lặng.

• Tĩnh lặng đây không có nghĩa chỉ là (1) mất hết âm thanh, mà còn là (2) mất hết các dao động trong tâm—tức giận, buồn chán, ghen ghét, v.v… và mất hết (3) các suy nghĩ và tư tưởng chạy ngược xuôi trong đầu.

Tâm hoàn toàn rỗng lặng.

• Bạn muốn hiểu sâu xa các hiện tượng chính trị, kinh tế, giáo dục… của xã hội, hay những hỉ nộ ái ố bi lạc dục trong lòng bạn? Sâu xa hơn người khác, và hơn cả chính bạn, rất nhiều?

Vậy thì, tĩnh lặng.

Nhiều người tưởng là đọc nhiều, ngốn nghiến nhiều sách vở và thông tin. Không. Không phải vậy.

Tĩnh lặng. Và bạn sẽ đọc một hiểu mười.

(Không tĩnh lặng, và bạn sẽ đọc mười hiểu một).

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

.

Ryonen’s Clear Realization

The Buddhist nun known as Ryonen was born in 1797. She was a granddaughter of the famous Japanese warrior Shingen. Her poetical genius and alluring beauty were such that at seventeen she was serving the empress as one of the ladies of the court. Even at such a youthful age fame awaited her.

The beloved empress died suddenly and Ryonen’s hopeful dreams vanished. She became acutely aware of the impermanency of life in this world. It was then that she desired to study Zen.

Her relatives disagreed, however, and practically forced her into marriage. With a promise that she might become a nun after she had borne three children, Ryonen assented. Before she was twenty-five she had accomplished this condition. Then her husband and relatives could no longer dissuade her from her desire. She shaved her head, took the name of Ryonen, which means to realize clearly, and started on her pilgrimage.

She came to the city of Edo and asked Tetsugya to accept her as a disciple. At one glance the master rejected her because she was too beautiful.

Ryonen went to another master, Hakuo. Hakuo refused her for the same reason, saying that her beauty would only make trouble.

Ryonen obtained a hot iron and placed it against her face. In a few moments her beauty had vanished forever.

Hakuo then accepted her as a disciple.

Commemorating this occasion, Ryonen wrote a poem on the back of a little mirror:

In the service of my Empress I burned incense to perfume my exquisite clothes,
Now as a homeless mendicant I burn my face to enter a Zen temple.

When Ryonen was about to pass from this world, she wrote another poem:

Sixty-six times have these eyes beheld the changing scene of autumn.
I have said enough about moonlight,
Ask no more.
Only listen to the voice of pines and cedars when no wind stirs.

# 50

Tai sao bạn gặp nhiều rắc rối?


Có 5 nguyên nhân để trục trặc đến với bạn trong cuộc sống:

1.Những trục trặc là để “hướng dẫn” bạn. Đôi khi bạn cần châm lửa để mạnh mẽ hơn. Những vấn đề thường chỉ cho bạn một hướng đi mới và thúc đẩy bạn thay đổi.

2.Những trục trặc là để ‘kiểm tra” bạn. Con người giống như những túi trà; muốn biết ở bên trong như thế nào phải nhúng vào nước nóng! Những vấn đề trong cuộc sống cho thấy gì ở bạn? Cho thấy bạn là người bình tĩnh và kiên nhẫn, hay là một người tiêu cực và thiếu tự tin?

3.Những trục trặc là để “sửa chữa” bạn. Có rất nhiều những bài học chúng ta chỉ được học qua thất bại và những nỗi đau. Đơn giản, khi bố mẹ nói với một đứa trẻ rằng đừng sờ vào cái lò nóng. Nhưng đứa trẻ không nghe, và chỉ học được điều đó khi cố tình sờ vào và bị bỏng. Đôi khi chúng ta chỉ học được giá trị của một điều gì đó – sức khỏe, các mối quan hệ… – khi chúng ta làm mất nó.

4.Những trục trặc là để “bảo vệ” bạn. Một vấn đề xảy ra có thể là một điều tốt mà ngay lúc đó bạn chưa nhìn thấy, ví dụ như đôi khi nó làm cho bạn dừng lại và suy nghĩ, không bị dẫn tới những gì nghiêm trọng hơn nữa.

5.Những trục trặc là để làm “hoàn hảo” cho bạn. Khi bạn phản ứng chính xác với những vấn đề, thì chúng có tác dụng như những yếu tố xây dựng tính cách. Mà tính cách là một trong số ít nhũng điều mà bạn mang theo cả cuộc đời. Những trục trặc trong cuộc sống giúp bạn phát triển sự kiên nhẫn và mạnh mẽ.

Điểm mấu chốt là:

Mọi việc trong cuộc sống xảy ra đều có lý do, cho dù bạn không nhận ra hoặc không hiểu được ngay lập tức. Và dù bạn có tin hay không, những điều diệu kỳ luôn xảy ra hàng ngày.

Source: 2! Magazine

WHY DO YOU ENCOUNTER A LOT OF TROUBLES?

There are 5 causes for the problems to reach you in life:

1.Problems are to “instruct” you. From time to time, you need to have a fire built to be stronger. The questions usually show you a new way and motivate you to change.

2.Problems are to “check” you. People are like tea-bags; for wanting to know how the inside is, just dip them into hot water! What do the problems in life show in yourself? Show whether you are a calm and patient person or a negative and unconfident one.

3.Problems are to “repair” you. There are many lessons we just learn through failures and pains. For say, when the parents tell a kid not to touch the hot stove. But the kid doesn’t listen, and only when he touches on purpose and get burned does he just learn about it. Sometimes, we only learn the value of something – health, relations… when we lose them.

4.Problems are to “protect” you. A question happening can be a good thing that you can’t see at that time, for example, it makes you stop and think, so that more serious things are not provoked.

5.Problems are to “perfect” you. When you exactly react with troubles, they effect as factors that build characters. And characters are one of few things that you carry for your whole life. Problems in life help you develop patience and strength.

The crux is that:

Everything happening in life has their own reasons, although you can’t realize nor understand them right away. And whether you believe or not, the wonders always happen everyday.

Quan Jun translated