Tag Archives: Thơ

Đường Xuân

Có con đường đi hoài chẳng tới
Thuở thơ ngây căng mắt huyễn hoặc mình

Có ngã rẽ lỡ vượt qua, quên lối
Quay lại nhìn
Ngã bật máu
Lặng thinh !

Bao nhiêu tháng năm dài cách biệt
Lẻ loi em hương tóc cũng phai tàn
Chỉ thoáng gặp
Tim bỗng rung tha thiết
Vòng ôm choàng kín cả nhân gian

Mặc cao thấp
Mặc sang hèn sáng tối
Mặc cạn sâu nông nổi phận bèo
Đông khô héo chạm vào xuân tươi mới

Men thật nồng
Ta chếch choáng say theo …

Hoàng Thiên Nga

Xuân Hứng – Võ Nguyên Hành

Võ Nguyên Hành

Trời tạnh ngày mưa liễu sẫm xanh
Hoa tàn oanh nhảy động lay cành
Hồn quê xào xạc năm canh mộng
Theo gió xuân sang tới Lạc thành

Nguyễn Hữu Vinh dịch

春興

武元衡

楊柳陰陰細雨晴
殘花落盡見流鶯
春風一夜吹鄉夢
又逐春風到洛城

Xuân Hứng

Dương liễu âm âm tế vũ tình
Tàn hoa lạc tận hiện lưu oanh
Xuân phong nhất dạ xuy hương mộng
Hựu trục xuân phong đáo Lạc thành

Võ Nguyên Hành

Dịch ý

Xuân Hứng

Dương liễu đã trở màu sẫm xanh, trời đã tạnh cơn mưa lất phất
Hoa tàn đã rụng rơi nên chim oanh mới ló dạng
Gió xuân thổi suốt đêm mộng mị
Theo gió mơ về quê xa tận Lạc thành

Chú Thích

Lạc thành: Kinh đô cũ của Trung Quốc

Ý

Thương nhớ quê xa, mộng mị suốt canh dài trong đêm trời xuân, hồn mơ theo gió về thăm quê cũ xa xôi

Lục bát mùa xuân


Một vùng hải giốc thiên nhai
Hạo nhiên sương gió hồn ai giữa đời
Trông lên hoa hiện bên trời
Mai vàng chín nụ sầu rơi dáng gầy

Từ em hài biếc chân mây
Lòng anh khói phủ thành xây bốn mùa
Đêm nào ánh nhạt sao tua
Hoàng lan trở giấc mộng vừa kiếp xưa

Cung đàn giọng hát buồn chưa
Ngàn năm tuế nguyệt đò đưa nhân tình
Em mang một mảnh hồn trinh
Cúc ơi quân tử ảo hình bến nao

Đường xưa mây trắng trời cao
Nẻo về của ý phương nào cõi uyên
Là em hoá hiện thiên duyên
Hay hồn trúc gọi đào nguyên tìm về

Vivian
Tháng Hai, 2010

Lời Xuân

Trang giấy phập phồng hồi hộp
Đợi dòng thơ xuân
Ngòi bút ngập ngừng phân vân
Xuân trong mắt em xanh lạ
Ngoài kia êm đềm lời gió
Thì thầm lời cỏ
Hạt mưa bừng cơn ngái ngủ
Bồi hồi cầm xuân trên tay
Vạt sương dăng nhẹ thơ ngây
Sao ta thấy mình rất lạ
Chẳng dám chạm vào mộng mơ
Xuân ấm trong từng ngõ nhỏ

Trần Vân Hạc
Hà Nội 15.2.2010

Người Xưa và Hoa Mai

Trong một bức tranh ta tưởng tượng, có lẽ nên tưởng tượng là phấn tiên trên giấy nhung, cụ Tiên Điền vẽ cảnh cuối xuân bên Tàu:

    Cỏ non xanh tận chân trời
    Cành lê trắng điểm một vài bông hoa

Một bức tranh khác, ta tưởng tượng là tranh thủy mặc, bác Vũ Đình Liên vẽ cảnh đầu xuân ngoài Bắc:

    Mỗi năm hoa đào nở
    Lại thấy ông đồ già
    . . .
    Năm nay đào lại nở
    Không thấy ông đồ xưa

Còn Phương Nam? Mùa xuân có hoa mai. Nhưng không phải riêng Phương Nam, trong văn học nghệ thuật Á Đông với bộ tứ bình “mai – lan – cúc – trúc”, hoa mai là tượng trưng mùa xuân.

Ngày xưa, không ai đem cây mai trồng trong chậu, như thế là giam hãm cái khí tiết thanh cao của mai. Cây mai là của trời đất, ủ sương, phơi nắng, dãi dầu cùng thảo mộc sơn khê. Chợt gặp người lính trạm bên đường, ta bẻ vội một cành mai, thay lá thư gởi thăm bạn cố tri. Hoa mai còn tượng trưng cho phái đẹp nên những bức tranh vẽ hoa mai bao giờ cũng có cành giao nhau thành chữ “nữ”.

Có những tác phẩm lấy hoa mai làm rường cột cho câu chuyện như Nhị độ mai, Mai đình mộng ký… Ngoài ra từ văn chương bác học của các đại danh đến văn chương bình dân, hoa mai được nhắc đến rất nhiều, trong nhiều sự hòa hợp, hơn hẳn các loài hoa khác.

Mai đi với trúc:


    – Mai khai phú quý, trúc báo bình an
    – Thờ ơ gió trúc mưa mai
    – Chắc rằng mai trúc lại vầy
    – Một nhà sum họp trúc mai
    – Ai đi đường ấy hỡi ai
    Hay là trúc đã nhớ mai đi tìm

Mai đi với hạc:


    – Nghêu ngao vui thú yên hà
    Mai là bạn cũ hạc là người quen

    – Hỡi người mình hạc xương mai
    Ở miền thị tứ tìm ai chốn này?


Mai đi với tuyết:


    – Mai cốt cách tuyết tinh thần

Mai đi với liễu:


    – Gió đưa liễu yếu mai oằn
    Liễu yếu mặc liễu mai oằn mặc mai

Mai đi với cúc:


    – Nét buồn như cúc điệu gầy như mai

Mai đi với điểu:


    – Xem thơ biết ý gần xa
    Mai hòa vận điểu điểu hòa vận mai

Vân vân… Còn nhiều nữa.

Đi tìm một nhành mai, ai đã võ vẽ đọc thơ đều cúi đầu khi gặp Mãn Giác thiền sư:

    Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
    Đình tiền tạc dạ nhất chi mai
    (Đừng tưởng xuân tàn hoa rụng hết
    Đêm qua, sân trước, một nhành mai)

Ngải Tuấn Mỹ, đời nhà Thanh có câu đối tặng Phó sứ Việt Nam Nguyễn Tư Giản đã được truyền tụng rộng rãi:


    Thập tải luân giao cầu cổ kiếm
    Nhất sinh đê thủ bái mai hoa

Ca ngợi hoa mai, nhưng cái thần tình của câu đối nằm ở vế trên, chuyện thập tải luân giao. Ông Viên Linh đã dùng vế ấy ghi nơi hộp thư tạp chí Thời Tập xuất bản trước năm 1975 tại Sài Gòn. Hộp thư không chỉ ghi những bài đã nhận mà là nơi giao lưu giữa người chủ trương, tòa soạn với bạn viết, bạn đọc. Ông Viên Linh là người có tài làm hộp thư, nhiều câu trả lời dí dỏm, rất hay. Mở tờ Thời Tập tôi cũng như nhiều người trước hết đọc mục hộp thư.

Trong Vang bóng một thời, truyện viết về thú chơi thả thơ, ông Nguyễn Tuân dẫn câu:

    Mộ thượng mai khai xuân hựu lão
    Đình biên hạc khứ khách không hoàn

Vẫn là mai đi với hạc. Vế dưới khiến ta nghĩ đến Hoàng Hạc lâu: Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản. Vế trên cho ta hình dung ra cảnh không phải sầm uất cũng không phải hoang sơ, một cảnh xuân thật độc đáo. Hoa mai nở trên mộ, nét xuân càng già dặn.

Lúc nhỏ, mỗi khi trời tạnh mưa, nhìn dấu chân mèo chân gà đi trên sân ướt, cha tôi hay đọc câu đối, tôi không biết của người hay của ai:


    Võ hậu đình tiền, miêu túc mai hoa, kê túc trúc
    Dạ thanh thiên thượng, tinh hình đạn tử, nguyệt hình cung

Vế dưới bình thường: Đêm thanh, trên trời, những vì sao giống như viên đạn, mặt trăng giống như chiếc cung.

Vế trên thật hay: Sau cơn mưa, trước sân, dấu chân mèo in hình hoa mai, dấu chân gà in hình lá trúc.
Cái nhìn của tác giả thật sắc sảo, kết hợp giữa hình ảnh thực tế gần gũi ngay trước mắt là dấu chân mèo, dấu chân gà với ước lệ của thi và họa: hoa mai và lá trúc.

Tái bút: Ở trên tôi có nhận xét về câu đối này: “Vế dưới bình thường”. Nay thấy không phải là bình thường. Mờ sáng ngày 17-9-2009 (29 tháng 7 năm Kỷ Sửu âm lịch) tôi đi bộ dọc bờ sông Chùa (một phụ lưu của sông Đà Rằng trong phạm vi thành phố Tuy Hòa) chợt nhìn lên bầu trời, thấy còn vầng trăng mỏng, thật mỏng, chỉ là một đường cong, và chỉ duy nhất một ngôi sao cạnh đó, rõ ràng là tinh hình đạn tử nguyệt hình cung. Vế này tuy không xuất sắc như vế trên nêu lên hình ảnh dấu chân mèo và dấu chân gà, cũng chứng tỏ khả năng quan sát của tác giả thật độc đáo.

Trần Huiền Ân

Khai bút đầu xuân

.

Xuân về thỏa nỗi khát mong
Xuân xanh xuân chín xuân hồng xuân hoa
Niềm vui bỗng chợt vỡ òa
Mùa xuân nâng tiếng chim ca xuân lòng
Nỗi buồn gửi lại mùa đông
Trâu qua hổ đến nối vòng nhân gian
Mềm môi xuân chén đầy tràn
Trời xanh xanh đến muôn vàn xuân sau!

Trần Vân Hạc
Hà Nội  14.2.2010 (Mồng một Tết, Canh Dần)

Khúc ca Nguyên Đán

Anh đi muôn dặm đường dài
Vào xuân mai hỏi còn hoài cố nhân
Mịt mờ sương khói phù vân
Ngàn hoa nở nụ tầm xuân nhớ chàng

Lan vàng một đóa em mang
Vòng luân lưu chuyển hồn sang bốn mùa
Bốn mùa chung chuyến đò đưa
Xuân là bến giữa giao thừa đợi anh

Lưng trời tơ biếc mong manh
Sắc nào hóa hiện màu xanh vĩnh hằng
Xuân nào ngợp ánh sao băng
Anh xuôi mái đẩy thuyền trăng tìm về

Khúc ca nguyên đán vọng hề
Nhất phương viễn mộng giòng mê luân hồi
Tỉnh ra hoa trắng bên đồi
Trông hoa nhớ mộng tan rồi xuân qua

Vivian
Tháng Hai, 2010

Ước Cứ Ngày Xưa

Ngày nhỏ mỗi lần giỗ tết
Chị em tôi thường theo mẹ về quê
Quần áo mới soạn từ hôm trước
Ướm vào thay ra mãi. Tận khuya

Quê ngoại ở làng trên cách con sông nhỏ
Đường quanh co hết xóm lại đồng
Em nhỏ mẹ bồng chị em chạy bộ
Thách ai đến trước thì ăn*

Hai bên đường hoa dại nở thật nhiều
Đoạn rực vàng đoạn thắm tươi ngũ sắc
Sau phút ngẩn ngơ chị em ùa đến ngắt
Gom cả tiếng cười trong vào bó hoa

Có khi mải mê tìm hái mâm xôi
Mẹ đi xa rồi thi nhau chạy tới
Có khi chờn vờn cùng đàn bướm trắng
Mẹ đứng chờ giọt nắng đọng đầy vai

Con đường dài theo nhịp bước rong chơi
Mỏi cả chân chị em phụng phịu
Mẹ dỗ dành chỉ còn quãng nữa
Ngoại đang chờ với bưởi mít thơm ngon

Năm rồi năm chị em lớn, lớn thêm
Theo mẹ về quê không còn chạy bộ
Thêm tuổi đời cánh cửa càng rộng mở
Cuốn chân đi muôn ngả với bao người

Giỗ tết giờ đây mẹ đi một mình
Lặng lẽ trên đường đổ dài bóng nắng
Đường chúng tôi thênh thang thơ mộng
Nhưng không như thưở với mẹ về làng

Uớc cứ ngày xưa
Cứ mãi thưở chin mười

• Ăn: thắng

Tôn Nữ Ngọc Hoa

Nguồn gốc Ngày Valentine

Chào các bạn,

Hôm nay là Ngày Tình Yêu, đồng thời là mồng một Tết Nguyên Đán. Wow, đây là cơ hội rất hiếm trong đời!

Chúc các bạn một năm mới tràn đầy tình yêu nồng nàn, hoa hồng đỏ thắm, và kẹo so-cô-la dịu ngọt. 🙂

Và ít bị gai hồng đâm chảy máu. 🙂

Và nếu có bị gai đâm thì cũng thấy vui vẻ yêu đời 🙂 vì như thế còn vạn lần hơn là không có gai đâm 🙂

Ngày Valentine (Valentine’s Day, còn gọi là Saint Valentine’s Day, Ngày Lễ Tình Yêu hay Ngày Lễ Tình Nhân) là ngày dành cho tình yêu đôi lứa.

Ngày này nguyên thủy là Ngày Lễ Thánh Valentine, được Giáo Hoàng Gelasius I ấn định vào năm 496, là ngày 14 tháng 2 hàng năm. Có vài truyền thuyết khác nhau về Thánh Valentine:

Thiệp Valentine 1887

* Valentine thành Rome là một linh mục ở Rome, tử vì đạo năm 269, và được chôn cất trên con lộ Via Flaminia (ở phía bắc Rome, nối liền Rome và Ariminum). Xương thánh của Valentine ngày nay ở Thánh đường Thánh Praxed ở Rome, và Thánh đường Carmelite trên đường Whitefriar Street ở Dublin, Ireland.

* Valentine thành Terni là giám mục của Interamna (Terni ngày nay), nhậm chức vào khoảng năm 197, và tử vì đạo trong thời giáo hội bị bách hại dưới tay Hoàng Đế Aurelian. Giám mục cũng được chôn trên con lộ Via Flaminia, nhưng tại một nơi khác nơi chôn cất Valentine thành Rome. Xương thánh của giám mục ngày nay ở Vương cung Thánh đường Thánh Valentine ở Terni (Basilica di San Valentino).

* Tự điển bách khoa công giáo còn nhắc đến một Valentine, tử vì đạo ở Phi Châu.

Thiệp Valentine 1910-1920

Trong các thay đổi về Lịch Các Ngày Lễ Các Thánh năm 1969, ngày lễ Thánh Valentine 14 tháng 2 được đưa ra khỏi lịch các ngày lễ chung của giáo hội, và chuyển vào mục các ngày lễ thánh địa phương, với lý do: “Dù ký ức về Thánh Valentine rất cổ, ngày lễ Thánh Valentine được chuyển vào lịch đặc biệt của địa phương vì chúng ta chẳng biết gì về Thánh Valentine, ngoại trừ việc ngài được chôn cất trên con lộ Via Flaminia ngày 14 tháng 2.”

Chẳng có một chi tiết lãng mạn yêu đương nào liên hệ đến 3 truyền thuyết tử vì đạo này cả.

Thời xưa, ở Rome có ngày lễ nữ thần Juno vào ngày 13-14 tháng 2. Juno là nữ thần bảo vệ tổ quốc của Rome. Juno là tên Hy Lạp, ở Rome Juno được gọi là Regina. Juno cùng chồng là Jupiter (thần cao nhất của các thần), và con là thần Minerva, bộ ba được tôn thờ ở Juno Capitolina ở Rome.

Rome còn có lễ Lupercania từ ngày 13 đến 15 tháng 2, ca ngợi sự sinh sản phong phú. Vào ngày này nam nữ tìm đến với nhau trong lễ hội qua tục bốc thăm.

Giáo Hoàng Gelasius I xóa bỏ Lupercalia, là lễ của ngoại đạo.

Một số người đặt giả thuyết là giáo hội thành lập ngày Valentine để thế vào ngày lễ Juno và Lupercalia của truyền thống ngoại đạo.

Truyền thống lãng mạn về ngày Thánh Valentine bắt đầu với bài thơ Parlement of Foules (1382) của thi sĩ Geoffrey Chaucer của Anh:

Geoffrey Chaucer, họa sĩ Thomas Occleve (1412)

For this was on seynt Volantynys day
Whan euery bryd comyth there to chese his make.

[“For this was sent on Valentine’s Day, when every bird cometh there to choose his mate.”]

Vì đây đã được gửi ngày Valentine, khi mọi chim chóc đến đó tìm bạn tình.

Các độc giả của Chaucer nghĩ là Chaucer nói vể ngày Thánh Valentine 14 tháng 2. Nhưng đây là sự hiểu lầm lớn trong văn học. Bài thơ của Chaucer nói về hôn nhân giữa Vua Richard II của Anh quốc và Công Nương Anne của Bohemia. Hiệp ước giữa hai nước nói về hôn nhân này được ký vào ngày 2 tháng 5 năm 1381. (8 tháng sau đó họ làm đám cưới, lúc cả hai chỉ mới 15 tuổi).

Và trong lịch lễ thánh, ngày 2 tháng 5 là ngày lễ Thánh Valentine thành Genoa. Thánh này là giám mục của thành Genoa, chết vào khoảng năm 307, và chẳng liên hệ gì đến Thánh Valentine của ngày 14 tháng 2.

Tuy vậy, vì ảnh hưởng lớn của Geoffrey Chaucer trên văn học tiếng Anh, các văn thi sĩ khắp nơi sau đó bắt đầu ca tụng, một cách lầm lẫn, ngày Thánh Valentine 14 tháng 2 là ngày của tình yêu lãng mạn. Và đương nhiên chuyện đời là, khi mọi người đều làm điều gì thì điều đó được chấp nhận là đúng. 🙂

Thiệp Valentine, Victorian

* Ngày nay, chẳng biết từ đâu đến, chúng ta lại có thêm một truyền thuyết mới về Thánh Valentine. Theo thuyết này, Valentine là một linh mục không vâng lệnh của Hoàng Đế Claudius II cấm thanh niên lấy vợ và cấm linh mục cử hành hôn lễ cho thanh niên, vì Hoàng Đế muốn nhiều thanh niên độc thân đi lính. Tuy vậy, linh mục Valentine chống lại lệnh Hoàng Đế và cứ tiếp tục cử hành hôn lễ lén lút cho các cặp tình nhân.

Hoàng Đế biết được và xử tử Valentine. Trước giờ hành quyết Valentine còn gửi được một tấm “thiệp Valentine” đầu tiên trong lịch sử đến–hoặc là người yêu của linh mục (thời đó linh mục có thể có vợ), hoặc là con gái của người quản ngục mà Valentine đã gặp và chữa bệnh–và ký tên “From your Valentine” (“Từ Valentine của em”).

Truyền thống “thiệp Valentine” bắt đầu từ đó.

Các công ty buôn bán ngày nay rất thích dùng truyền thuyết mới, có tính tiếp thị cao này.

Vào ngày Valentine, các đôi tình nhân tặng nhau thiệp Valentine với các lời lẽ dấu ái lãng mạn, tặng hoa hồng, kẹo Chocolate, mời nhau đi khiêu vũ, ăn tối dưới ánh đèn cầy, xem phim…

TĐH

Ngẫu Hứng Trở Mùa


.
.
.

Trở xuân-gió nở hoa đèn
Chồi đơm ngọn hạnh, nụ chen cành hồng
Tan dần những áng mây đông
Ánh dương lóe lọt tầng không ngỡ ngàng
Lật tờ niên lịch sang trang
Đã nghe phảng phất hương ngàn chào xuân.
.

Đinh Đức Dược

Ban mai

Nắng
Hồng lên đôi má

Gió
Bồng tung mái tóc

Trong vắt
Bình minh

Hoa cỏ long lanh sương
Đồng nội nhẹ nhàng thơm
Đất trời ngời ngợi sáng
Đẹp lạ lùng
Quê hương !

Nhắm mắt
Nghe ngọt ngào tinh khiết
Tắm mát tim yêu
Tha thiết

Dang tay
Không gian rộng vô cùng
Tan hòa hơi thở
Tình người
Mênh mông

Hoàng Thiên Nga

Màu Xuân

Như cành mai vàng rã cánh giêng hai
Người lặng thầm tha hương cầu thực
Bỏ một miền quê rưng rức
Chỉ còn mênh mông đồng xanh.

Rồi cũng như mai tích giọt nhựa lành
Mùa chạp về nở bung năm cánh tết
Múc gàu nước giếng làng uống trôi bao nhọc mệt
Múc gàu nước giếng làng rửa mặt đợi xuân sang.

Ngày tết quê tôi cũng lộng lẫy cúc vàng
Cũng lịch sự hồng, cũng thanh xuân thược dược.
Môi thiếu nữ lại nồng, tình lại mềm như nước
Xuân mà, cứ mở lòng vui.

Mẹ già gội đầu bằng nước lá chanh
Vòng tay nào ôm con còn thơm mùi tết
Ba tiếp bạn bằng củ hành củ kiệu
Chén rượu năm nao chừ vọng lại tiếng cười.

Thôi một năm cùng nước mắt mồ hôi
Người quê chừ thả lòng xuân mới
Ta đi giữa quê lòng như có đợi
Có chờ ai về nhắc chuyện xuân xưa!

Cuối năm Kỷ Sửu

Nguyễn Tấn Ái

Gửi người đón Tết xa quê

Tết nguyên đán nơi trời xa lạc lõng
Bè bạn tha hương quây quần
Toàn người dưng bỗng thành gia đình
Nấu nồi bánh cho vơi nỗi nhớ
(Cũng có gạo nếp, hành, thịt, đỗ)
Chiếc bánh chưng nấu nồi áp xuất
Sao không mang hương vị tết ?
Thiếu mầu lá dong gói niềm thương nhớ
Thiếu ngọn lửa hồng mẹ nhóm ấp iu
Chờ bánh chín bà kể câu chuyện cổ
Chuyện kể rồi mãi không bao giờ cũ
Xuân xa quê
Không có mưa xuân
Nẩy lộc trên cây nêu đầu ngõ
Không nắng dịu dàng
Trên má hồng thiếu nữ
Không lửa nồng nàn
Trong mắt người thương
Ăn miếng bánh chưng
Mà lòng rưng rưng
Hồn quê day dứt trong máu thịt
Nâng ly rượu tây
Thêm cồn cào da diết
Nhớ góc vườn
Ấp ủ nhúm nhau

Trần Vân Hạc

Buâng Quơ Từ Nơi Xa Xôi.

Gío thở từng sợi lạnh
Xuân vẩn ở nơi nao?
Loanh quanh vài trang báo
Đâu đó một cành mai
Thế thôi.
Nắng đầu mùa chút ấm
Nằm nướng dài trên sân
Con chim sẻ gật gù
Tìm tình yêu đầu Xuân?
Thế nhé

Ai có về bến xưa
Nhớ gói cánh hoa đào
Nhớ thăm con đường nọ
Nhớ gởi lời chúc xuân
Nhớ em.
Vài cụm mây lơ đểnh
Vướng ngọn núi thông gìa
Vài con sóc kiếm ăn
Rớt rơi từng nhúm tuyết
Cô độc
Xuân vẫn xa
Thêm một lần
Chồng chất tóc phai.

Phạm Lưu Đạt

02/06/2010