Tag Archives: Thơ

Hôm nay xưa

Đã có những tháng ngày
Cậu bé lang thang trên những cánh đồng khô nứt nẻ
Tìm bắt dế
Thách thức gai chùm quân
Rách sược cả quần
Tìm trái chín
Tắm trần truồng cùng lũ bạn
Trên con sông nhỏ
Đặc quánh màu đỏ phù sa

Những ngày tháng ấy đã xa
Anh về thành phố cũ
Giảng đường còn đó nhưng đã thành rất lạ
Các cô cậu học trò còn đó
Nhưng đã vài thập kỷ phôi pha
Dù tim anh vẫn là cậu bé
Nồng nhiệt trên giảng đường
Reo hò trên những cánh đồng lộng gió
Và quê hương vẫn còn đó
Những ngọn gió đùa những vạt áo dài phần phật
Và những sợi tóc bay lồng lộng mây trời
Nhưng hình như tất cả vẫn rất xa
Rất xa
Như một cuốn phim dĩ vãng
Trắng đen
Quay chậm
Không lời

Quê hương anh ngày nay là những phương trình kinh tế
Là những định đề định l‎ý phát triển
Là những bức xúc và giải pháp xã hội…

Ôi, nếu anh có thể làm một cậu bé
Trong hội quán đại học
Tiếng guitar ngập ngừng
Giọt cà phê lóng lánh
Chìm vào mắt em
Cô đầm hái nho khờ khạo
Khi nắng chói sân trường
Như ngày xa xưa đó…
Ngày xa xưa đó…
Ngày xa xưa đó…
Dù chỉ một phút thôi
Thì quê hương hẳn là rất thật

TĐH
LOW, 5:25pm, Sun. March 21, 2010

Hạt muối

Em hạt muối như lấp đầy biển mặn
Em dung nhan sáng chói ánh mặt trời
Ngày chưa vui nhưng hoàng hôn tắt nắng
Sầu biển đông tát cạn dưới chân người

Em hạt muối như ân tình biển lớn
Vui bên đời nồng ấm những bàn tay
Người đắp đất chia bờ khai mạch sống
Em luân lưu theo dòng chảy vơi đầy

Em lóng lánh phơi mình reo nắng hạ
Gió xôn xao hồn ấm lạnh môi cười
Thân thiết lắm với men tình chua ngọt
Những đắng cay hương vị của cuộc đời

Thân bé nhỏ dập vùi cơn bão lớn
Lòng bao dung như tình nghĩa đại dương
Biển chiếm mất em sầu đau hạt muối
Niềm cô đơn dằn vặt một vết thương

Thôi mưa gió đừng tan dòng lệ ướt
Trôi về đâu cho đất lạnh bình yên
Thân hạt muối đã lìa hồn phiêu bạt
Nhớ biển xanh mất dấu thuở sơ nguyên

Phan Quang
VA 03/18/10.

Thơ Hữu Loan

Chào các bạn,

Mình vừa tìm thêm được một số bài thơ của thi sĩ Hữu Loan trên Net: Chuyện Tôi Về, Đèo Cả, Hoa Lúa, Đêm. Đăng lại đây để tưởng niệm một tâm hồn cương trực. Bài Màu Tím Hoa Sim đã đăng trong bài Nhà thơ Hữu Loan qua đời.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,
Hoành

Chuyện Tôi Về

Chuyện Hữu Loan là chuyện
Một vạn chín trăm năm mươi ngày gấp hơn
mười lần chuyện Ba Tư
vô cùng căng thẳng
Giữa hai bên
một bên là chính quyền có
đủ thứ nhân dân
quân đội nhân dân
tòa án nhân dân
nhà tù nhân dân
và nhất là
cuồng tín nhân dân
thứ bản năng ăn sống
nuốt tươi
ăn lông ở lỗ nguyên thủy
được huy động đến
tột cùng
sẳn sàng hủy
cũng như tự hủy
một bên nữa là
một người tay không
với nguyện vọng
vô cùng thiết tha
được làm người lương thiện
nói thẳng
nói thật
bọn ác
bọn bịp
thì chỉ tên vạch mặt
người nhân thì
xin thờ
như Thuấn Nghiêu

Hữu Loan

Đèo cả

Núi cao vút
Mây trời Ai Lao
sầu
đại dương
Dặm về heo hút
Đá bia mù sương
Bên quán Hồng Quân
người
ngựa
mỏi
Nhìn dốc ngồi than
thương ai
lên đường
Chầy ngày
lạc
giữa suối
Sau lưng
suối vàng
xanh
tuôn
Dưới khe
bên suối độc
cheo leo
chòi canh
ven rừng hoang
Những người
đi
Nam Tiến
Dừng lại đây
giữa
đèo núi quê hương
Tóc tai
trùm
vai rộng
Không nhận ra
người làng
Rau khe
cơm vắt
áo
pha màu
sa trường
Ngày thâu
vượn hót
Đêm canh
gặp hùm
lang thang
Gian nan lòng không nhợt
Căm hờn trăm năm xa
Máu thiêng trôi dào dạt
Từ nguồn thiêng ông cha

Giặc
từ trong
tràn tới
Giặc
từ Vũng Rô
bắn qua
Đèo Cả
vẫn
giữ vững
Chân đèo
máu giặc
mấy lần
nắng khô
Sau mỗi trận thắng
Ngồi bên suối đánh cờ
Kẻ hái cam rừng ăn nheo mắt
Người vá áo thiếu kim mài sắt
Người đập mảnh chai vểnh cằm cạo râu

Suối mang
bóng người
Trôi những về đâu….

Hữu Loan
( 1947)

Hoa lúa

Em là con gái đồng xanh
Tóc dài vương hoa lúa
Đôi mắt em mang chân trời quê cũ
Giếng ngọt, cây đa
Anh khát tình quê ta trong mắt em thăm thẳm
Nhạc quê hương say đắm
Trong lời em từng lời
Tiếng quê hương muôn đời và tiếng em là một
Em ca giữa đồng xanh bát ngát
Anh nghe quê ta sống lại hội mùa
Có vật trụi, đánh đu, kéo hẹ, đánh cờ
Có dân ca quan họ
Trai thôn Thượng, gái thôn Đoài hai bên gặp gỡ
Cầm tay trao một miếng trầu
Yêu nhau cởi áo cho nhau
Về nhà dối mẹ qua cầu gió bay
Quê hương ta núi ngất, sông đầy
Bát ngát làng tre, ruộng lúa
Em gái quê hương mang hình ảnh quê hương
Xa em năm nhớ, gần em mười thương
Còn bàn tay em còn quê hương mãi
Em mang nguồn ân ái
Căng ngực trẻ hai mươi
Và trong mắt biếc nhìn anh
Em gái quê si tình
Chưa bao giờ được yêu đương trọn vẹn…

Anh yêu em muôn vàn như quê ta bất diệt
Quê hương ta ơi từ nay càng đẹp
Tình yêu ta ơi từ nay càng sâu
Ta đi đầu sát bên đầu
Mắt em thăm thẳm đựng màu quê hương.

Hữu Loan
(1955 – Tặng vợ, Phạm  Thị Nhu)

Đêm

Những đêm Hà Nội ngày xưa
Trằn trọc
Không yên
Những cửa
Từ đầu hôm
Như những mắt nhắm nghiền
Bóng nhà bóng cây
Ôm nhau
Run sợ
Đêm Hà Nội ngày xưa
Như con bệnh hạ xoài
Nung mủ
Như một nhà thương điên
Lên cơn hôn mê
Thiết giáp
Xe tăng
Lính tẩy
Phòng Nhì.
Tiếng rú của người
Tiếng rít của xe
Những chiếc jeep điên
Đuổi gái
Nghiến người
Quắc mắt đèn pha
Đỏ tia đòng đọc
Đêm Hà Nội ngày xưa
Đầu người
Và tình yêu
Treo
Trên đầu sợi tóc
Và sau từng đêm
Mệt nhọc
Hốc hác
Hồ Gươm
Như mắt thâm quầng

Hốt hoảng gọi nhau
Không kịp vớ áo quần
Những đêm Hà Nội ngày xưa
Loã lồ
Mình đầy ung độc
Đã xuống tàu đêm
Vào Sài Gòn
Tất cả
Những đêm Sài Gòn
Ngày mai
Đêm giang mai
Tẩu mã
Đang mâng
Cấp cứu gấp vạn lần
Những đêm xưa Hà Nội
“10$ 1 cốc cà phê
100$ con gái…”
Quảng cáo đóng đầy
Ngực đêm
Như áo ngủ Sài Gòn

Đêm Hà Nội
Ngày nay
Như em nhỏ nằm tròn
Ru trong nôi chế độ
Những đèn dài đại lộ
Như những tràng hoa đêm
Nở long lanh
Trong giấc ngủ
Bình yên
Ngã Tư Sở, Cống Vọng, Khâm Thiên
Nằm ngủ
Những đêm
Giữa tình cảm lớn
Gió đêm về
Thơm hoa rừng, lúa ruộng
Đặt bàn tay
Lên những cửa ô nghèo
Khi chúng ta về
Ánh sáng
Đã về theo
Và từng cặp người yêu
Đem về trong giấc mơ
Hình ảnh hồ Gươm
Đẹp như hồ thần thoại
In bóng người yêu
Chung thuỷ
Đợi chờ.

(6-56)

Hữu Loan

Nhà thơ Hữu Loan qua đời

Chào các bạn,

Nhà thơ Hữu Loan, tác giả của tuyệt tác Màu Tím Hoa Sim, đã qua đời tại quê nhà ở Thanh Hóa, ngày 18 tháng 3, 2010, lúc 21 giờ, hưởng thọ 95 tuổi.

Màu Tím Hoa Sim, ai đọc qua mà không buồn da diết!
Cuộc tình trong thời nhiễu loạn phân ly…

Nhưng không chết người trai chiến sĩ
Mà chết người gái nhỏ hậu phương…

Chiến tranh không có quy luật phân ly!

Chiều hành quân qua những đồi sim
Những đồi sim dài trong chiều không hết
Màu tím hoa sim tím chiều hoang biền biệt…

Tiểu sử

Hữu Loan tên thật là Nguyễn Hữu Loan, sinh năm 1916 tại làng Vân Hoàn, xã Nga Lĩnh, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Ông học Thành chung ở Thanh Hóa, đậu tú tài Tây năm 1938 tại Hà Nội (vì vậy ở quê thường gọi là cậu Tú Loan). Thời đó, bằng tú tài rất hiếm, rất ít người có nên ông được mời vào làm trong Sở Dây thép (Bưu điện) Hà Nội nhưng ông không làm mà đi dạy học và đã từng là cộng tác viên của các tập san văn học xuất bản tại Hà Nội. Năm 1939 ông tham gia Mặt trận Bình Dân rồi về tham gia Mặt trận Việt Minh tại thị xã Thanh Hóa.

Năm 1943, ông gây dựng phong trào Việt Minh ở quê nhà, và khi cuộc Cách mạng tháng Tám 1945 nổ ra, ông làm Phó chủ tịch Ủy ban khởi nghĩa huyện Nga Sơn, rồi được cử làm Ủy viên Văn hóa trong Ủy ban lâm thời tỉnh Thanh Hóa, phụ trách các ty: Giáo dục, Thông tin, Thương chính và Công chính.

Trong kháng chiến chống Pháp, Hữu Loan tình nguyện đi bộ đội, phục vụ trong sư đoàn 304 và làm chính trị viên tiểu đoàn, đồng thời làm chủ bút tờ Chiến Sĩ của sư đoàn.

Tháng 2 năm 1948, lúc ấy ông 32 tuổi, được nghỉ phép hai tuần lễ, về quê cưới cô Lê Đỗ Thị Ninh là người học trò cũ mới 16 tuổi, con gái của ông bà tham Kỳ, một gia đình nền nếp, gia sản có tới hàng trăm mẫu ruộng ở Thanh Hoá mà trước đây ông đã từng làm gia sư dạy kèm cho các con của ông bà suốt nhiều năm liền. Cô Ninh yêu ông bằng một tình yêu kỳ lạ, nửa như người anh, nửa như người thầy. Ông cũng coi cô bé xinh đẹp 16 tuổi đó nửa như em gái, nửa như cô học trò vì khi ông mới đậu tú tài, được ông bà tham Kỳ nhờ đến dạy học cho hai người anh của cô Ninh thì cô mới 8 tuổi. Sau, ông cũng làm gia sư cho cô luôn.

Cưới nhau xong, ông lại lên đường ra mặt trận. Sư đoàn lúc ấy ở vùng Tuyên Quang, Cao Bằng, Lạng Sơn. Ba tháng sau, tháng 5 – 1948, từ ngoài mặt trận, ông được tin người vợ trẻ tuổi ở nơi quê nhà vắn số: cô giặt đồ ở ngoài sông, xảy chân ngã xuống sông, bị nước cuốn đi, chết đuối. Ông quá đau khổ, định sẽ ở vậy suốt đời, đồng thời đem nỗi lòng mình viết thành những câu thơ rồi dần dần thành bài Màu tím hoa sim đầy kỷ niệm. Mấy năm sau – khoảng các năm 1951-1953 – bài thơ này nổi tiếng, được lưu truyền trong dân chúng nhưng bị phê bình là “ủy mị, mang tính chất tiểu tư sản”!

Năm 1954, sáu năm sau ngày vợ chết, hoà bình lập lại nhưng chuyện đấu tố diễn ra. Bộ đội đóng ở Nghệ An, ông về nhà chơi, được biết ở làng bên có một gia đình địa chủ ngày trước vẫn tiếp tế lương thực cho sư đoàn của ông, nay bị đấu tố chết rất thê thảm, chỉ trừ cô gái 17 tuổi tên Phạm Thị Nhu thì được tha chết nhưng bị đuổi ra khỏi nhà, cấm không cho ai được phép liên lạc. Ông nhớ tới ơn xưa, bèn đi tìm xem cô ta ra sao thì gặp cô đang đói khát, mặt mũi lấm lem, quần áo rách rưới, đang đi mót những củ khoai người ta bới xong còn sót lại ở ngoài cánh đồng, chùi sơ rồi bỏ vào miệng ăn sống. Thấy ông, cô khóc rưng rức vì cảnh khốn cùng của mình và cho biết ban đêm cô ngủ trong một ngôi miếu hoang, chỉ sợ có kẻ làm bậy và không hiểu mình sẽ tồn tại được bao lâu. Ông rất thương xót, đồng thời cũng nhớ tới những kỷ niệm mà hồi trước, khi cô còn nhỏ, ông dạy học ở xã bên ấy, cô thường núp nghe ông giảng truyện Kiều.

Ông quyết định đem cô về nhà cha mẹ và lấy cô làm vợ. Cấp trên không đồng ý. Ông là đảng viên, lại trưởng phòng Tuyên huấn kiêm chính trị viên tiểu đoàn, không được lấy con cái địa chủ, nếu lấy thì sẽ bị đuổi khỏi quân đội và bị khai trừ khỏi đảng. Tính ông ngang bướng, ông chấp nhận điều kiện thứ hai và cô Phạm Thị Nhu trở thành người vợ sống với ông cho đến bây giờ, sinh cho ông được 10 người con cùng với 37 đứa cháu như chúng ta sẽ biết.

Đầu năm 1955, ra khỏi quân đội, ông về Hà Nội xin vào làm việc tại báo Văn Nghệ. Trong thời gian 1956-1957, ông tham gia Phong trào Nhân Văn-Giai Phẩm do nhà văn Phan Khôi chủ trương. Ông sáng tác những tác phẩm lên án quyết liệt những tiêu cực của các cán bộ nịnh hót, đố kỵ, ám hại lẫn nhau vv… Như trong tác phẩm Cũng những thằng nịnh hót và trong truyện ngắn Lộn sòng, ông coi mình là nạn nhân và phê phán một cách gay gắt.

Phong trào Nhân Văn Giai Phẩm bị dập tắt vào năm 1958, nhà thơ Hữu Loan bị đi cải tạo mấy năm rồi được thả, cho về địa phương và bị quản chế tại địa phương. Hiện nay tất nhiên lệnh quản chế đó đã hết từ lâu nhưng ông vẫn sống tại quê nhà.

Các tác phẩm

Hữu Loan chưa xuất bản tập thơ nào. Một số bài thơ đã được phổ biến trên các báo chí của ông: Màu tím hoa sim, Đèo Cả, Yên mô, Hoa lúa, Tình Thủ đô…

Tại miền Nam, bài Màu tím hoa sim đã được các nhạc sĩ Dũng Chinh, Phạm Duy, Anh Bằng và Duy Khánh phổ nhạc… Trong đó bài của Dzũng Chinh và Phạm Duy là nổi tiếng nhất.

Vào tháng 10 năm 2004, Màu tím hoa sim đã được Công ty Cổ phần Công nghệ Việt (viết tắt: vitek VTB) mua bản quyền với giá 100 triệu đồng. (Nguồn: datviet.com)

Để tưởng niệm Hữu Loan, sau đây là:

1. Nguyên văn bài thơ Màu Tím Hoa Sim

2. Bản dịch bài thơ sang tiếng Anh (“Berryflower Violet”) của TĐH.

3. Video bài thơ Màu Tím Hoa Sim, do Quốc Anh ngâm.

4. Video bản nhạc “Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà”, Phạm Duy viết, do Elvis Phương hát.

5. Video bản nhạc “Những Đồi Hoa Sim”, Dzũng Chinh, do Phương Dung hát.

6. Audio link “Những Đồi Hoa Sim” của Dzũng Chinh, do Hương Lan và Duy Quang hát.

7. Video bản “Chuyện Hoa Sim” của Anh Bằng, do Như Quỳnh hát.

8. Audio link bản “Màu Tím Hoa Sim” của Duy Khánh, do chính Duy Khánh hát.

9. Audio link bản “Màu Tím Hoa Sim” của Duy Khánh, do Giao Linh hát.

10. Tiếp theo đó là lời kể của Hữu Loan về cuộc tình đã tạo nên bài thơ này.

Các bài thơ khác của Hữu Loan có thể đọc tại linh này.

Cầu xin cho linh hồn Hữu Loan được an lạc nơi chín suối.

Hoành

Màu Tím Hoa Sim

Nàng có ba người anh đi bộ đội
Những em nàng
Có em chưa biết nói
Khi tóc nàng đang xanh.
Tôi người vệ quốc quân
xa gia đình
Yêu nàng như tình yêu em gái.
Ngày hợp hôn
Nàng không đòi may áo mới
Tôi mặc đồ quân nhân
đôi giày đinh bết bùn
Đất hành quân
Nàng cười xinh xinh
bên anh chồng độc đáo.

Tôi ở đơn vị về
Cưới nhau xong là đi.
Từ chiến khu xa
Nhớ về ái ngại
Lấy chồng thời chiến chinh
Mấy người đi trở lại
Lỡ khi mình không về
thì thương
người vợ chờ
bé bỏng chiều quê…

Nhưng không chết
Người trai khói lửa
Mà chết
Người gái nhỏ hậu phương.
Tôi về
không gặp nàng
Má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối
Chiếc bình hoa ngày cưới
thành bình hương
tàn lạnh vây quanh

Tóc nàng xanh xanh
ngắn chưa đầy búi
Em ơi giây phút cuối
không được nghe nhau nói
không được nhìn nhau một lần.

Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím
áo nàng màu tím hoa sim
Ngày xưa
một mình
đèn khuya
bóng nhỏ
Nàng vá cho chồng tấm áo
ngày xưa…

Một chiều rừng mưa
Ba người anh trên chiến trường Đông Bắc
Biết tin em gái mất
trước tin em lấy chồng;
Gió sớm thu về rờn rợn nước sông
Đứa em nhỏ lớn lên
ngỡ ngàng nhìn ảnh chị
Khi gió sớm thu về cỏ vàng chân mộ chí.
Chiều hành quân
Qua những đồi sim
những đồi sim dài trong chiều không hết
Màu tím hoa sim
tím chiều hoang biền biệt
Nhìn áo rách vai
Tôi hát
trong màu hoa
(áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh mất sớm, mẹ già chưa khâu…).

Hữu Loan

Berryflower Violet

She had three brothers in the army
The younger ones
some weren’t yet talking
When her hair was still soft

I was a soldier
away from home
Loving her as a little sister
The wedding day
she didn’t ask for a new dress
I wore army uniform
The hobnail boots
Battlemud-smeared
Lovely she smiled
beside the odd husband

I came back from the front
Wedding done, I left.
From the far war zone
I thought of her, uneasy
Marrying in war time
Who leaves and would return?
If I don’t come back
how pitied would it be
for the little wife waiting
in the country evenings…

Yet the boy in the firing lines didn’t die
but died
the little girl behind
I came back
seeing her not
My mother sat by her tomb in darkness
The wedding day’s flowerpot
had become an incense vessel
besieged in expired coldness

Her hair was soft
too short to pin up
O my beloved, the last minute
we couldn’t hear each other
we couldn’t see each other even once
Those days she loved violet berryflowers
Her dress was berryflower violet
Those days
night lamp
small shadow
She mended for her husband the shirt
those days…

An afternoon
rain over the forest
the three brothers in the northeastern front
received words of the sister’s death
before the wedding news
An early autumn wind
made the river waters creep
The little brother grew up
lost
looking at the sister’s picture
When came the early autumn wind
the grass withered by the tombstone

In the afternoons
my platoon passes through berry hills
berryflower hills infinitely long in the afternoons
Berryflower violet
endlessly purples the desolate afternoons
Looking at the torn shirt shoulder
I sing
in the flower’s color
“My shirt is torn by the seam
My wife died
My mother has not yet mended it.”

TĐH translated
(June 13, 1998, March 2, 2000; March 18, 2010)

 

Bài thơ Màu Tím Hoa Sim – Quốc Anh ngâm


.

Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà – Phạm Duy – Elvis Phương


.

Những Đồi Hoa Sim – Dũng Chinh – Hương Lan & Duy Quang (Nhấn chuột vào đây)

.

Chuyện Hoa Sim – Anh Bằng – Như Quỳnh


.

Màu Tím Hoa Sim – Duy Khánh (nhấn chuột vào đây)
.

Màu Tím Hoa Sim – Duy Khánh – Giao Linh (nhấn chuột vào đây)

Đôi lời tự thuật của chính tác giả bài thơ nổi tiếng trên:

Phần 1: Mà chết người gái nhỏ hậu phương…

Tôi sinh ra trong một gia đình nghèo, hồi nhỏ không có cơ may cắp sách đến trường như bọn trẻ cùng trang lứa, chỉ được cha dạy cho dăm chữ bữa có bữa không ở nhà. Cha tôi tuy là tá điền nhưng tư chất lại thông minh hơn người. Lên trung học, theo ban thành chung tôi cũng học tại Thanh Hóa, không có tiền ra Huế hoặc Hà Nội học. Đến năm 1938 – lúc đó tôi cũng đã 22 tuổi – Tôi ra Hà Nội thi tú tài, để chứng tỏ rằng con nhà nghèo cũng thi đỗ đạt như ai. Tuyệt nhiên tôi không có ý định dấn thân vào chốn quan trường. Ai cũng biết thi tú tài thời Pháp rất khó khăn. Số người đậu trong kỳ thi đó rất hiếm, hiếm đến nỗi 5-6 chục năm sau những người cùng thời còn nhớ tên những người đậu khóa ấy, trong đó có Nguyễn Đình Thi , Hồ Trọng Gin, Trịnh văn Xuấn , Đỗ Thiện và …tôi – Nguyễn Hữu Loan.

Với mảnh tú tài Tây trong tay, tôi rời quê nhà lên Thanh Hóa để dạy học. Nhãn mác con nhà nghèo học giỏi của tôi được bà tham Kỳ chú ý, mời về nhà dạy cho hai cậu con trai. Tên thật của bà tham Kỳ là Đái thị Ngọc Chất ,bà là vợ của của ông Lê Đỗ Kỳ , tổng thanh tra canh nông Đông Dương, sau này đắc cử dân biểu quốc hội khóa đầu tiên. Ở Thanh Hóa, Bà tham Kỳ có một cửa hàng bán vải và sách báo, tôi thường ghé lại xem và mua sách, nhờ vậy mới được bà để mắt tới.

Bà tham Kỳ là một người hiền lành, tốt bụng, đối xử với tôi rất tốt, coi tôi chẳng khác như người nhà. Nhớ ngày đầu tiên tôi khoác áo gia sư, bà gọi mãi đứa con gái – lúc đó mới 8 tuổi- mới chịu lỏn lẻn bước ra khoanh tay, miệng lí nhí: “Em chào thầy ạ!” Chào xong, cô bé bất ngờ mở to đôi mắt nhìn thẳng vào tôi. Đôi mắt to, đen láy, tròn xoe như có ánh chớp ấy đã hằn sâu vào tâm trí tôi, theo tôi suốt cả cuộc đời. Thế là tôi dạy em đọc, dạy viết. Tên em là Lê Đỗ Thị Ninh, cha làm thanh tra nông lâm ở Sài Gòn nên sinh em trong ấy, quen gọi mẹ bằng má. Em thật thông minh, dạy đâu hiểu đấy nhưng ít nói và mỗi khi mở miệng thì cứ y như một “bà cụ non”.  Đặc biệt em chăm sóc tôi hằng ngày một cách kín đáo: em đặt vào góc mâm cơm chổ tôi ngồi ăn cơm lúc thì vài quả ớt đỏ au, lúc thì quả chanh mọng nước em vừa hái ở vườn, những buổi trưa hè, nhằm lúc tôi ngủ trưa, em lén lấy áo sơ mi trắng tôi treo ở góc nhà mang ra giếng giặt …..

Có lần tôi kể chuyện ” bà cụ non” ít nói cho hai người anh của em Ninh nghe, không ngờ chuyện đến tai em, thế là em giận! Suốt một tuần liền, em nằm lì trong buồng trong, không chịu học hành… Một hôm bà tham Kỳ dẫn tôi vào phòng nơi em đang nằm thiếp đi. Hôm ấy tôi đã nói gì, tôi không nhớ nữa, chỉ nhớ là tôi đã nói rất nhiều, đã kể chuyện em nghe, rồi tôi đọc thơ… Trưa hôm ấy, em ngồi dậy ăn một bát to cháo gà và bước ra khỏi căn buồng. Chiều hôm sau, em nằng nặc đòi tôi đưa lên khu rừng thông. Cả nhà không ai đồng ý: “Mới ốm dậy còn yếu lắm, không đi được đâu” Em không chịu nhất định đòi đi cho bằng được.  Sợ em lại dỗi nên tôi đánh bạo xin phép ông bà tham Kỳ đưa em lên núi chơi …..

Xe kéo chừng một giờ mới tới được chân đồi. Em leo đồi nhanh như một con sóc, tôi đuổi theo muốn đứt hơi. Lên đến đỉnh đồi, em ngồi xuống và bảo tôi ngồi xuống bên em.Chúng tôi ngồi thế một hồi lâu, chẳng nói gì. Bất chợt em nhìn tôi, rồi ngước mắt nhìn ra tận chân trời, không biết lúc đó em nghĩ gì. Bất chợt em hỏi tôi:
-Thầy có thích ăn sim không ?
Tôi nhìn xuống sườn đồi: tím ngắt một màu sim. Em đứng lên đi xuốn sườn đồi, còn tôi vì mệt quá nên nằm thiếp đi trên thảm cỏ….Khi tôi tỉnh dậy, em đã ngồi bên tôi với chiếc nón đầy ắp sim. Những quả sim đen láy chín mọng.
-Thầy ăn đi.
Tôi cầm quả sim từ tay em đưa lên miệng trầm trồ: -Ngọt quá.

Như đã nói, tôi sinh ra trong một gia đình nông dân, quả sim đối với tôi chẳng lạ lẫm gì, nhưng thú thật tôi chưa bao giờ ăn những quả sim ngọt đến thế!
Cứ thế, chúng tôi ăn hết qủa này đến qủa khác. Tôi nhìn em, em cười. Hai hàm răng em đỏ tím, đôi môi em cũng đỏ tím, hai bên má thì….tím đỏ một màu sim. Tôi cười phá lên, em cũng cười theo!

Cuối mùa đông năm ấy, bất chấp những lời can ngăn, hứa hẹn can thiệp của ông bà tham Kỳ, tôi lên đường theo kháng chiến. Hôm tiễn tôi, em theo mãi ra tận đầu làng và lặng lẽ đứng nhìn theo. Tôi đi… lên tới bờ đê, nhìn xuống đầu làng ,em vẫn đứng đó nhỏ bé và mong manh. Em giơ bàn tay nhỏ xíu như chiếc lá sim ra vẫy tôi. Tôi vẫy trả và lầm lũi đi…Tôi quay đầu nhìn lại… em vẫn đứng yên đó … Tôi lại đi và nhìn lại đến khi không còn nhìn thấy em nữa…

Những năm tháng ở chiến khu, thỉnh thoảng tôi vẫn được tin tức từ quê lên, cho biết em vẫn khỏe và đã khôn lớn. Sau này, nghe bạn bè kể lại, khi em mới 15 tuổi đã có nhiều chàng trai đên ngỏ lời cầu hôn nhưng em cứ trốn trong buồng, không chịu ra tiếp ai bao giờ …

Chín năm sau, tôi trở lại nhà…Về Nông Cống tìm em. Hôm gặp em ở đầu làng, tôi hỏi em , hỏi rất nhiều, nhưng em không nói gì, chỉ bẽn lẽn lắc hoặc gật đầu. Em giờ đây không còn cô học trò Ninh bướng bỉnh nữa rồi. Em đã gần 17 tuổi, đã là một cô gái xinh đẹp….

Yêu nhau lắm nhưng tôi vẫn lo sợ vì hai gia đình không môn đăng hộ đối một chút nào. Mãi sau này mới biết việc hợp hôn của chúng tôi thành công là do bố mẹ em ngấm ngầm ” soạn kịch bản”.
Một tuần sau đó chúng tôi kết hôn. Tôi bàn việc may áo cưới thì em gạt đi, không đòi may áo cưới trong ngày hợp hôn, bảo rằng là: ” yêu nhau, thương nhau cốt là cái tâm và cái tình bền chặt là hơn cả”. Tôi cao ráo, học giỏi, Làm thơ hay…lại đẹp trai nên em thường gọi đùa là anh chồng độc đáo. Đám cưới được tổ chức ở ấp Thị Long,huyện Nông Công, tỉnh Thanh Hóa của gia đình em, nơi ông Lê Đỗ Kỳ có hàng trăm mẫu ruộng. Đám cưới rất đơn sơ, nhưng khỏi nói, hai chúng tôi hạnh phúc hơn bao giờ hết!

Hai tuần phép của tôi trôi qua thật nhanh, tôi phải tức tốc lên đường hành quân, theo sư đoàn 304, làm chủ bút tờ Chiến Sĩ. Hôm tiễn tôi lên đường, em vẫn đứng ở đầu làng, nơi chín năm trước em đã đứng. Chỉ có giờ em không còn cô bé Ninh nữa mà là người bạn đời yêu quý của tôi. Tôi bước đi, rồi quay đầu nhìn lại…..Nếu như chín năm về trước, nhìn lại chỉ thấy một nỗi buồn man mác thì lần này, tôi thật sự đau buồn. Đôi chân tôi như muốn khuỵu xuống.

Ba tháng sau, tôi nhận được tin dữ: vợ tôi qua đời! Em chết thật thảm thương: Hôm đó là ngày 25 tháng 5 âm lịch năm 1948, em đưa quần áo ra giặt ngoài sông Chuồn (thuộc ấp Thị Long, Nông Cống), vì muốn chụp lại tấm áo bị nước cuốn trôi đi nên trượt chân chết đuối! Con nước lớn đã cuốn em vào lòng nó, cướp đi của tôi người bạn lòng tri kỷ, để lại tôi tôi nỗi đau không gì bù đắp nỗi. Nỗi đau ấy, gần 60 năm qua, vẫn nằm sâu thẳm trong trái tim tôi.

Tôi phải giấu kín nỗi đau trong lòng, không được cho đồng đội biết để tránh ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu của họ. Tôi như một cái xác không hồn….Dường như càng kềm nén thì nỗi đau càng dữ dội hơn. May sao, sau đó có đợt chỉnh huấn, cấp trên bảo ai có tâm sự gì cứ nói ra, nói cho hết. Chỉ chờ có thế, cơn đau trong lòng tôi được bung ra. Khi ấy chúng tôi đang đóng quân ở Nghệ An, tôi ngồi lặng đi ở đầu làng, hai mắt tôi đẫm nước, tôi lấy bút ra ghi chép. Chẳng cần phải suy nghĩ gì, những câu những chữ mộc mạc cứ trào ra:
Nhà nàng có ba người anh đi bộ đội
Những em nàng có em chưa biết nói “Khi tóc nàng đang xanh …” …Tôi về không gặp nàng…

Về viếng mộ nàng, tôi dùng chiếc bình hoa ngày cưới làm bình hương, viết lại bài thơ vào chiếc quạt giấy để lại cho người bạn ở Thanh Hóa… Anh bạn này đã  chép lại và truyền tay nhau trong suốt những năm chiến tranh. Đó là bài thơ Màu Tím Hoa Sim.

Đến đây, chắc bạn biết tôi là Hữu Loan, Nguyễn Hữu Loan, sinh ngày 2-4-1916 hiện tại đang “ở nhà trông vườn” ở làng Nguyên Hoàn – nơi tôi gọi là chổ “quê đẻ của tôi đấy” thuộc xã Mai Lĩnh, huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hóa.

Em Ninh rất ưa mặc áo màu tím hoa sim. Lạ thay nơi em bị nước cuốn trôi dưới chân núi Nưa cũng thường nở đầy những bông hoa sim tím. Cho nên tôi viết mới nổi những câu : 
Chiều hành quân, qua những đồi sim
Những đồi sim, những đồi hoa sim
Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết
Màu tím hoa sim, tím cả chiều hoang biền biệt
Và chiều hoang tím có chiều hoang biết
Chiều hoang tim tím thêm màu da diết.

Mất nàng, mất tất cả, tôi chán đời, chán kháng chiến, bỏ đồng đội, từ giã văn đàn về quê làm ruộng, một phần cũng vì tính tôi” hay cãi, thích chống đối, không thể làm gì trái với suy nghĩ của tôi”. Bọn họ chê tôi ủy mị, hoạch hoẹ đủ điều, không chấp nhận đơn từ bỏ kháng chiến của tôi. Mặc kệ! Tôi thương tôi, tôi nhớ hoa sim của tôi quá!  Với lại tôi cũng chán ngấy bọn họ quá rồi!

Đến vụ Nhân văn Giai phẩm

Đó là thời năm 1955 – 1956, khi phong trào văn nghệ sĩ bùng lên với sự xuất hiện của nhóm Nhân Văn Giai Phẩm chống chính sách độc tài, đồng thời chống những kẻ bồi bút đan tâm lừa thầy phản bạn, dốc tâm ca ngợi cái này cái nọ để kiếm chút cơm thừa canh cạn. Làm thơ thì phải có cái tâm thật thiêng liêng thì thơ mới hay. Thơ hay thì sống mãi. Làm thơ mà không có tình, có tâm thì chả ra gì! Làm thơ lúc bấy giờ là phải ca tụng, trong khi đó tôi lại đề cao tình yêu, tôi khóc người vợ tử tế của mình, người bạn đời hiếm có của mình. Lúc đó tôi khóc như vậy họ cho là khóc cái tình cảm riêng….Y như trong thơ nói ấy, tôi lấy vợ rồi ra mặt trận, mới lấy nhau chưa được hơn một tháng, ở nhà vợ tôi đi giặt rồi chết đuối ở sông … Tôi thấy đau xót, tôi làm bài thơ ấy tôi khóc, vậy mà họ cho tôi là phản động. Tôi phản động ở chổ nào? Cái đau khổ của con người, tại sao lại không được khóc?

Bọn họ xúc phạm đến tình cảm thiêng liêng của tôi đối với người vợ mà tôi hằng yêu quý, cho nên vào năm 1956, tôi bỏ đảng, bỏ cơ quan, về nhà để đi cày. Họ không cho bỏ, bắt tôi phải làm đơn xin. Tôi không xin, tôi muốn bỏ là bỏ, không ai bắt được! Tôi bỏ tôi về, tôi phải đi cày đi bừa, đi đốn củi, đi xe đá để bán. Bọn họ bắt giữ xe tôi, đến nỗi tôi phải đi xe cút kít, loại xe đóng bằng gỗ, có một bánh xe cũng bằng gỗ ở phía trước, có hai cái càng ở phía sau để đủn hay kéo. Xe cút kít họ cũng không cho, tôi phải gánh bộ. Gánh bằng vai tôi, tôi cũng cứ gánh, không bao giờ tôi bị khuất phục. Họ theo dõi, ngăn cản, đi đến đâu cũng có công an theo dõi, cho người hại tôi…

Nhưng lúc nào cũng có người cứu tôi! Có một cái lạ là thơ của tôi đã có lần cứu sống tôi! Lần đó tên công an mật nói thật với tôi là nó được giao lệnh giết tôi, nhưng nó sinh ở Yên Mô, thường đem bài Yên Mô của tôi nói về tỉnh Yên Bình quê nó ra đọc cho đỡ nhớ, vì vậy nó không nỡ giết tôi.
Ngoài Yên Mô, tôi cũng có một vài bài thơ khác được mến chuộng.  Sau năm 1956 , khi tôi về rồi thấy cán bộ khổ quá, tôi đã làm bài Chiếc Chiếu, kể chuyện cán bộ khổ đến độ không có chiếc chiếu để nằm!

Phần 2: Định mệnh đưa đẩy, dắt tôi đến với một phụ nữ khác, sống cùng tôi cho đến tận bây giờ…

Vợ nhà thơ Hữu Loan – Bà Phạm Thị Nhu

Định mệnh đưa đẩy, dắt tôi đến với một phụ nữ khác, sống cùng tôi cho đến tận bây giờ. Cô tên Phạm Thị Nhu, cũng là phụ nữ có tâm hồn sâu sắc. Cô vốn là một nạn nhân của chiến dịch cải cách ruộng đất, đấu tố địa chủ năm 1954, 1955.

Lúc đó tôi còn là chính trị viên của tiểu đoàn. Tôi thấy tận mắt những chuyện đấu tố. Là người có học , lại có tâm hồn nghệ sĩ nên tôi cảm thấy chán nản quá, không còn hăng hái nữa. Thú thật, lúc đó tôi thất vọng vô cùng. Trong một xã thuộc huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa, cách xa nơi tôi ở 15 cây số, có một gia đình địa chủ rất giàu, nắm trong gần năm trăm mẫu tư điền.

Trước đây, ông địa chủ đó giàu lòng nhân đạo và rất yêu nước. Ông thấy bộ đội sư đoàn 304 của tôi thiếu ăn nên ông thường cho tá điền gánh gạo đến chổ đóng quân để ủng hộ. Tôi là trưởng phòng tuyên huấn và chính trị viên của tiểu đoàn nên phải thay mặt anh em ra cám ơn tấm lòng tốt của ông, đồng thời đề nghị lên sư đoàn trưởng trao tặng bằng khen ngợi để vinh danh ông .

Thế rồi, một hôm, tôi nghe tin gia đình ông đã bị đấu tố. Hai vợ chồng ông bị đội Phóng tay phát động quần chúng đem ra cho dân xỉ vả, rồi chôn xuống đất, chỉ để hở hai cái đầu lên. Xong họ cho trâu kéo bừa đi qua đi lại hai cái đầu đó cho đến chết. Gia đình ông bà địa chủ bị xử tử hết, chỉ có một cô con gái 17 tuổi được tha chết nhưng bị đội Phóng tay phát động đuổi ra khỏi nhà với vài bộ quần áo cũ rách. Tàn nhẫn hơn nữa, chúng còn ra lệnh cấm không cho ai được liên hệ, nuôi nấng hoặc thuê cô ta làm công.  Thời đó, cán bộ cấm đoán dân chúng cả việc lấy con cái địa chủ làm vợ làm chồng.

Biết chuyện thảm thương của gia đình ông bà địa chủ tôi hằng nhớ ơn, tôi trở về xã đó xem cô con gái họ sinh sống ra sao vì trước kia tôi cũng biết mặt cô ta. Tôi vẫn chưa thể nào quên được hình ảnh của một cô bé cứ buổi chiều lại lén lút đứng núp bên ngoài cửa sổ nghe tôi giảng Kiều ở trường Mai Anh Tuấn.
 
Lúc gần tới xã, tôi gặp cô ta áo quần rách rưới, mặt mày lem luốc. Cô đang lom khom nhặt những củ khoai mà dân bỏ sót, nhét vào túi áo, chùi vội một củ rồi đưa lên miệng gặm, ăn khoai sống cho đỡ đói. Quá xúc động, nước mắt muốn ứa ra, tôi đến gần và hỏi thăm và được cô kể lại rành rọt hôm bị đấu tố cha mẹ cô bị chết ra sao. Cô khóc rưng rức và nói rằng gặp ai cũng bị xua đuổi; hằng ngày cô đi mót khoai ăn đỡ đói lòng, tối về ngủ trong chiếc miếu hoang, cô rất lo lắng, sợ bị làm bậy và không biết ngày mai còn sống hay bị chết đói.

Tôi suy nghĩ rất nhiều, bèn quyết định đem cô về làng tôi, và bất chấp lệnh cấm, lấy cô làm vợ. Sự quyết định của tôi không lầm. Quê tôi nghèo, lúc đó tôi còn ở trong bộ đội nên không có tiền, nhưng cô chịu thương chịu khó , bữa đói bữa no….Cho đến bây giờ cô đã cho tôi 10 người con – 6 trai , 4 gái – và cháu nội ngoại hơn 30 đứa!

Trong mấy chục năm dài, tôi về quê an phận thủ thường, chẳng màng đến thế sự, ngày ngày đào đá núi đem đi bán, túi dắt theo vài cuốn sách cũ tiếng Pháp, tiếng Việt đọc cho giải sầu, lâu lâu nổi hứng thì làm thơ, thế mà chúng vẫn trù dập, không chịu để tôi yên. Tới hồi mới mở cửa, tôi được ve vãn, mời gia nhập Hội Nhà Văn, tôi chẳng thèm gia nhập làm gì.

Năm 1988, tôi ” tái xuất giang hồ” sau 30 năm tự chôn và bị chôn mình ở chốn quê nghèo đèo heo hút gió. Tôi lang bạt gần một năm trời theo chuyến đi xuyên Việt do hội văn nghệ Lâm Đồng và tạp chí Langbian tổ chức để đòi tự do sáng tác, tự do báo chí – xuất bản và đổi mới thực sự.
 
Vào tuổi gần đất xa trời, cuối năm 2004, công ty Viek VTB đột nhiên đề nghị mua bản quyển bài Màu Tím Hoa Sim của tôi với giá 100 triệu đồng. Họ bảo đó là một hình thức bảo tồn tài sản văn hóa. Thì cũng được đi. Khoản tiền 100 triệu trừ thuế đi còn 90 triệu, chia “lộc” cho 10 đứa con hết 60 triệu đồng, tôi giữ lại 30 triệu đồng, phòng đau ốm lúc tuổi già, sau khi trích một ít để in tập thơ khoảng 40 bài mang tên Thơ Hữu Loan.
 
Sau vụ này cũng có một số công ty khác xin ký hợp đồng mua mấy bài thơ khác , nhưng tôi từ chối, thơ tôi làm ra không phải để bán.

© Hữu Loan

Nỗi nhớ đồng lúa quê nhà

Sài thành ròng rã bao năm
Mải mê huyên náo chốn trần phù hoa
Mà sâu thăm thẳm chưa nhoà
Cánh đồng lúa chín lao xao ánh vàng

Một thời thơ mộng chứa chan
Gió đưa hương ngát mơn man tóc hồng
Trời xanh rực rỡ hừng đông
Thiên đường trong trẻo chập chờn trong tim.

Thu chắp cánh nhớ khát tìm
Mùa xưa lúa mới áo xiêm dịu dàng
Nay con cò trắng lạc đàn
Nghiêng lòng tiếc nuối miên man vô bờ

Hồn đắm dĩ vãng trật trờ
Say sưa trôi giữa giấc mơ êm đềm
Ca dao xanh khắp vô biên
Tình quê chất chứa y nguyên như là…

Thầm nhớ hương lúa quê nhà
Trải lòng giăng khắp thiên hà đêm nay
Gọi vần về ghép thơ này
Yêu thương âm hưởng tràn đầy ngữ ngôn!

giotsuongtim,16/8/08

Sông tạnh chiều cuối xuân nhớ bạn – Hàn Tông

Ráng chiều lưng trời thắm
Núi nhạt gợn mày ngài
Cỏ nước quanh bờ mượt
Quê đừng nhớ lúc này!

Nguyễn Hữu Vinh dịch

晚春江晴寄友人

韓琮

晚日低霞綺
晴山遠畫眉
春青河畔草
不是望鄉時

Vãn xuân giang tình ký hữu nhân

Vãn nhật đê hà ỷ
Tình sơn viễn họa mi
Xuân thanh hà bạn thảo
Bất thị vọng hương thì

Hàn Tông

Dịch nghĩa

Sông tạnh chiều cuối xuân nhớ bạn

Ráng trời chiều rực rỡ ở lưng trời
Núi xanh biếc xa quanh vòng như lông mày
Cỏ xuân tươi mượt bên bờ sông
Bây giờ không phải là lúc nhớ quê
(Đừng nhớ quê nữa, hãy xem cảnh đẹp trước mắt!)

Chú Thích

Hoạ mi: Núi chập chùng quanh vòng ở chân trời hình cong vòng như lông mày

Ý

Ngồi ngẩng nhìn hoàng hôn rơi rụng, phong cảnh xa xa, ráng chiều thắm đỏ, dãy núi trước mắt chập chùng mờ nhạt, lượn hình như lông mày phơn phớt của các nàng mỹ nữ, cúi đầu trông thấy cỏ cây bên bờ ao xanh mượt. À, phong cảnh hữu tình, đẹp như thế thì phải ngắm chớ, dẹp đi cái nỗi nhớ quê đi …Ừ, phải ngắm cảnh đi…mắt thì nhìn nhưng lòng thì nhớ quê nhà da diết!

Cô đơn

Anh một mình giữa chốn phồn hoa
Ngơ ngác lá xuân về không em nhỏ
Muôn chồi biếc thắp ngời lên ngọn lửa
Đâu mắt em trong nụ biếc xanh xa

Từng đôi. Từng đôi… dạo bước bên hồ
Sao mình anh bơ vơ lạc lõng
Lá vô tư nghiêng cả chiều cô độc
Trút sương lạnh vào lòng anh cô đơn

Nếu cuộc đời mãi mãi không em
Sẽ còn lại những gì trong cuộc đời còn  mất
Em từng bên anh – người thân yêu nhất
Xuân chín rồi đợi mãi vẫn không em ?

Anh hỏi gió, gió khẽ rùng mình
Xao xác lá hơi thở dài vụng dại
Xuân đâu biết trong lòng anh ấm mãi
Phút  tuyệt vời em trao khi chia xa

Có phải trời muốn thử thách đôi ta
Bao cách trở trên dương trần mưa gió
Dẫu cuối trời một vì sao lấp lóa
Bến chờ nào yêu trong mắt yêu

Thành phố đêm nay ngơ ngác chín chiều
Con ngõ nhỏ hun hút dài trống vắng
Tiễn em đi sao lòng không yên lặng
Ánh sao buồn đau nỗi nhớ thương

Anh đợi chờ thao thức hàng đêm
Chỉ một mình thôi đâu cần ai chia sẻ
Bởi yêu em anh độc hành lặng lẽ
Dấu mình vào trong tiếng thở dài đêm

Trần Vân Hạc

Bài ca tuổi

Anh hát tình ca đêm hai mươi
Cả một hồn thơ thức ngộ cười
Du dương cầm phổ âm phới phới
Em về ngơ ngẩn phím loan rơi

Anh mộng sơn hà ba mươi xuân
Trùng dương sóng biếc phủ ân cần
Đường xa hải lý buồn mê mẩn
Lòng em chiếc bách lệ hồ ngân

Vừa đúng bốn mươi anh chơi vơi
Trầm thăng vận nước khóc thương đời
Hoàng hôn phố núi sầu giăng sợi
Em từ cổ tích gọi anh ơi

Thành vách mờ sương anh năm mươi
Rừng thiêng lá rụng cuối chân trời
Huyền cung mộ khúc ngàn năm đợi
Câu hát ngày xưa có trọn lời

Vivian HoàngNhấtPhương
1:28pm Thứ Năm ngày 08 tháng 10 năm 2009

Hồng Loan niệm khúc

(Xin cầu cho linh hồn Maria Nguyễn Thị Hồng Loan)

Tâm tư  sâu lắng nghĩa hữu tình
Hương trầm phảng phất khói phù sinh
Tử  sanh tích tắc âm dương biệt
Thảy đều nhẹ hẫng tiếng cầu kinh

Tri kỷ phút chốc đoạn hoa kiếp
Cúc trắng màu tang bay bổng nghiệp
Hành trang đem theo là trống rỗng
Nguyệt quế cuộc đời hóa hư không

Khoảnh khắc giữa lặng im mặc niệm
Hốt nhiên thấy nghèn nghẹn trong tim
Hồng Loan thương nhớ…Ôi thương nhớ
Nguyện bạn về với Chúa an yên

Sống hãy mở lòng yêu tha nhân
Cố đẩy lui tuyệt sân tuyệt hận
Âm ỉ chi lửa cuồng quái ác
Chớp mắt chẳng ngờ chết đến gần

*giotsuongtim,16/3/2010

Gió Bấc Tháng Giêng


Chợt gió bấc về thăm hỏi tháng Giêng

Ông lão co ro áo cộc thân cũ rách

Xấp vé số trên đôi tay gân guốc

Phố buồn hiu xao xác gánh hàng rong.

Ta xuýt xoa trăn trở trong chăn

Giấc ngủ chập chờn không quen mùi gió lạnh

Đốt lá rụng trên sân làn khói mỏng

Nghe lòng mình tiếng nấc ngẹn rưng.

Đến bao giờ khỏa lấp có và không

Đến bao giờ đời đong đầy cơm áo

Lũ em thơ mắt láy đen đến trường yêu dấu

Bên bàn cờ cụ già vuốt râu thưởng thức tách trà ngon.


Đường phố quen tiếng xe rộn rã đạp lon ton

Mấy cô bé nữ sinh tà áo dài nghiêng nón lá

Gom đống rác con đường trưa vất vả

Người lao công vẫn cũng nở nụ cười tươi…

Có một ngày làn gió Bấc đến quê tôi

Gã cảm thấy vui vì cảnh đời thơ mộng

Giá lạnh kia…là một phần cuộc sống

Mùa Xuân, mùa Xuân về trăm nẻo bình yên !?

Phố 10/03/2010.

Nguyễn Đức Hoà

Khau Vai

Có những con đường không thể tới thành Rome, nhưng Khau Vai thì tới…

Một người đi tìm một người
Bao nhiêu người đi tìm bao nhiêu người?
Khau Vai buồn như đá
Nước mắt người già mài trên đá
Đâu rồi thời rung reng vàng bạc lắc đồng?

Em kìa, những cây sa mộc lặng lẽ trong thung
Chúng đang nghĩ gì?
Em đang nghĩ gì?

Nếu một mai mình không lấy được nhau
Em có đi tìm anh
Qua điệp trùng đá sắc
Những Khau Vai bầm dập dấu chân người?
Trời ơi Khau Vai
Khau Vai nhìn qua nước mắt
Bao bong bóng về trời
Thương buồn gửi lại…

Những cuộc tình vụng dại
Những cuộc tình khôn ngoan
Đã sống và chết ở nơi này
Không khôn ngoan không vụng dại
Chỉ lặng chìm như đá
Chỉ bời bời như mây

Chúng ta sa mộc chiều nay
Em hai mươi thoắt thành ngàn tuổi
Em có anh xa xót thế này sao?

Quỳ trước núi mà tin thôi em ạ
Ai trong đời chẳng có một Khau Vai
Nhọn sắc đá tai mèo
Cứa vào thương nhớ
Hãy nhìn nhau nhìn nhau trước gió
Em sẽ thấy một Khau Vai trong số phận chúng mình.

Trần Hòa Bình
.

KHAU VAI

Some roads lead not to Rome, yet to Khau Vai …

Someone looks for someone
How many look for how many?
Khau Vai is as sad as stone
The elder’s tears corrode stone
Where is the time of clinking gold and silver and bronze bracelets?

Sweetheart, the quiet cunninghamias in the dell
What are they thinking?
What are you thinking?

If one day we coudn’t marry
Would you look for me
Over the immense sharp cliffs
In the Khau Vais crushed under people’s footsteps?
O Heaven! Khau Vai!
Khau Vai seen through tears
Balloons returning to heaven
Just sorrows left…

Innocent loves
Wise loves
Lived and died here
Neither wise nor innocent
Just quietly submerged as stones
Just chaotically piled up as clouds.

Us two – among the Cunninghamias this afternoon
You twenty turn suddenly into a thousand years old
You have me, why still this tormented?

Just kneel before the mountains and believe, sweetheart!
Who in the world doesn’t have a Khau Vai
Pointed sharp cat-ears rocks
Cutting into grief
Just look at each other, look each other in the wind
You will see a Khau Vai in our destiny.

Quan Jun translated

Một Lần

Một lần nhớ

Ngày chia tay

Mưa quất vào mặt như ngọn roi

Sắc ngọt quất vào đêm

vào tim

Em giấu đôi mắt mình vào mưa

loang loáng


Một lần quên

Ngày hẹn hò

Anh cầm tay em dắt qua mùa thu thay lá

Vàng kỉ niệm

Rơi

Giữa gió, giữa nắng, giữa hanh hao

Bắt anh đi tìm cho em

Một cành sầu đông giữa mùa phượng đỏ

xa xôi…

Một lần không quên không nhớ

Em một mình

Phiến đá xanh rêu lạnh

bạt mùa sim tím chiều

Có biết cánh hoa lơ phơ trước gió

có một màu…

đơn côi.

Vũ Thị Hồng

Nhà thơ Y Phương

Tiểu sử:

Tên thật: Hứa Vĩnh Sước
Dân tộc: Tày
Sinh năm: 1948
Nơi sinh: Trùng Khánh, Cao Bằng
Bút danh: Y Phương
Thể loại: thơ, kịch

Các tác phẩm:

– Người núi Hoa (1982)
– Tiếng hát tháng giêng (1986)
– Lửa hồng một góc (1987)
– Lời chúc (1991)
– Đàn then (1996)
– Thơ Y Phương (2002)

Vài bài thơ của Y Phương:

Tên làng

Con là con trai của mẹ
Người đàn ông ở làng Hiếu Lễ
Ba mươi tuổi từ mặt trận về
Vội vàng cưới vợ

Ba mốt tuổi tập tành nhà cửa
Rào miếng vườn trồng cây rau
Hạnh phúc xinh xinh nho nhỏ ban đầu
Như mặt trời mới nhô ra khỏi núi

Con là con trai của mẹ
Người đàn ông ở làng Hiếu Lễ
Mang trong người cơn sốt cao nguyên
Mang trên mình vết thương
Ơn cây cỏ quê nhà
Chữa cho con lành lặn

Con là con trai của mẹ
Người đàn ông ở làng Hiếu Lễ
Lần đầu tiên ôm tiếng khóc lên ba
Lần đầu tiên sông núi gọi ông bà
Lần đầu tiên nhóm lửa trên mặt nước
Lần đầu tiên sứ sành rạn nứt
Lần đầu tiên ý nghĩ khôn lên

Ý nghĩ khôn lên nỗi buồn thấm tháp
Bàn chân từng đạp bằng đá sắc
Trở về làng bập bẹ tiếng đầu tiên

Ơi cái làng của mẹ sinh con
Có ngôi nhà xây bằng đá hộc
Có con đường trâu bò vàng đen đi kìn kịt
Có niềm vui lúa chín tràn trề
Có tình yêu tan thành tiếng thác
Vang lên trời
Vọng xuống đất
Cái tên làng Hiếu Lễ của con

Phố Xưa

Phố xưa
Bây giờ vẫn như xưa
Những mái nhà nâu
Những cột nhà đen
Đêm đêm lép bép ngọn đèn.

Tôi đi trên con đường xưa
Tránh đứa trẻ đang bò chơi bi
Tránh ông già lim dim sưởi nắng
Tránh người yêu xưa đầu đường áo trắng
Con trên vai đi thẳng chẳng nhìn ai

Giận nhau lâu
Nhớ nhau dài
Tôi trở về tìm người yêu xưa ở phố
Em gọi
Nhưng tôi không ngoái cổ
Giả vờ đi.

Mùa hoa

Mùa hoa
Mùa đàn bà
Mặt đỏ phừng
Thừa sức vác ông chồng
Chạy phăm phăm lên núi.

Mùa hoa
Mùa đàn ông
Mệt như chiếc áo rũ
Vừa vịn vừa đi vừa ngái ngủ.

Nói với con

Chân phải bước tới cha
Chân trái bước tới mẹ
Một bước chạm tiếng nói
Hai bước tới tiếng cười
Người đồng mình yêu lắm con ơi
Đan lờ cài nan hoa
Vách nhà ken câu hát
Rừng cho hoa
Con đường cho những tấm lòng
Cha mẹ mãi nhớ về ngày cưới
Ngày đầu tiên đẹp nhất trên đời.

Người đồng mình thương lắm con ơi
Cao đo nỗi buồn
Xa nuôi chí lớn
Dẫu làm sao thì cha vẫn muốn
Sống trên đá không chê đá gập ghềnh
Sống trong thung không chê thung nghèo đói
Sống như sông như suối
Lên thác xuống ghềnh
Không lo cực nhọc
Người đồng mình thô sơ da thịt
Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con
Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương
Còn quê hương thì làm phong tục
Con ơi tuy thô sơ da thịt
Lên đường
Không bao giờ nhỏ bé được
Nghe con

Y PHƯƠNG

Ngắm trăng

Ngắm trăng dưới cội Bồ Đề
Trăng soi huyễn hoặc u mê con người
Thấy ra bản ngã thân tôi
Giục co Ái-Ố
Giục vơi Si tình

Ngắm trăng giữa cõi huyền thinh
Trăng soi thấu đáo Tham-Sân-Hỉ-Nộ
Vọng chờ phút giây tịnh độ
Thành tâm thiện ý
xin vô lượng Trời

Ngắm trăng lặng lẽ mình tôi
Trăng soi thanh thoát phong lời tịnh thơm
Khoảnh khắc an tĩnh vô ngôn
Hướng thiên huệ trí
khôn lường ngộ ra

Thành đô danh lợi phiền hà
Phồn hoa thế sự tuồng là ảo hư
Trần gian đùn lắm ưu tư
Tìm nơi ẩn dật
thiền tu xác hồn

GiọtSươngTím,rằm tháng Giêng.2010