Tag Archives: Giáo dục

Tam đoạn luận và giới hạn của luận lý

meeting

Chào các bạn,

Hôm nay chúng ta sẽ khảo sát hai lý luận căn bản nhất trong luận lý học, mà ta dùng hằng ngày, để hiểu rõ và nắm vững chúng trong đời sống và công việc hằng ngày. Đó là tam đoạn luận suy diễn và tam đoạn luận quy nạp. Đồng thời ta sẽ cảnh báo về các giới hạn tự nhiên của ngôn ngữ và lý luận.

• Tam đoạn luận hầu như là nền tảng của phần lớn, nếu không nói là tất cả, suy tư của con người. Tam đoạn luận là lý luận ba câu. Ví dụ: (1) Mọi người đều chết. (2) Ông Xuân là người. (3) Vì vậy, ông Xuân sẽ chết. Hai câu đầu (1) và (2) của tam đoạn luận nầy là 2 tiền đề–tiền đề 1 và tiền đề 2. “Tiền” là trước (không phải là “money”, nhưng nếu bạn hiểu là money cho dễ nhớ thì cũng tốt, vì money thường đi trước mọi sự :-)), tiền đề là mệnh đề đi trước; câu (3) là kết đề, tức là kết luận rút ra từ hai tiền đề.
Tam đoạn luận trên đây là tam đoạn luận suy diễn, nó vì nó “suy” từ cái chung (mọi người) đến cái riêng (ông Xuân).

• Lý luận theo chiều ngược lại, từ VÀI cái riêng đến cái chung, goi là quy nạp. Và quy nạp thì dựa vào quan sát các trường hợp cá nhân, mà “quy” về một định luật chung cho tất cả. Ví dụ: (1) Hùng Vương chết, Hai Bà Trưng chết, Trần Hưng Đạo chết, Quang Trung chết, ông tôi chết, bà tôi chết, v.v.. (2) Các vị đó là người. (3) Vì vậy, mọi người đều phải chết.

• Hai tam đoạn luận này ta dùng rất thường xuyên trong ngày, nhưng gọn gàng hơn. Ví dụ, suy diễn kiểu các bà :-): “Ông này làm gì mà ôm điện thoại đi ra xa, nói nhỏ xíu. Chắc là liên hệ bất chính với cô nào rồi.” Đây là rút ngắn của môt tam đoạn luận: (1) Đàn ông nói điện thoại cách bí mật là có liên hệ bất chính với đàn bà. (2) Ông này đang bí mật. (3) Vì vậy, ông này có liên hệ bất chính.

argument1

• Lỗi lầm thường thấy nhất trong tam đoạn luận suy diễn là tiền đề đầu tiên thường quá rộng, theo kiểu vơ đũa cả nắm. Trong ví dụ trên, ở tiền đề 1, ta thấy ngay là nói chuyện bí mật đâu nhất thiết có nghĩa là có liên hệ bất chính, giả sử đó là bí mật quốc phòng hay bí mật nghề nghiệp thì sao?

Muốn cho chính xác hơn thì ta phải “thu nhỏ” lại một tí,và nói theo kiểu xác suất. Ví dụ: (1) Đàn ông, không thuộc diện có bí mật nghề nghiệp, mà nói chuyện bí mật thì có khả năng cao là có liên hệ bất chính. (2) Ông này không thuộc diện có bí mật nghề nghiệp mà cứ nói chuyện kiểu bí mật trước mặt mình, (3) thì có khả năng cao là có liên hệ bất chính.

“Khả năng cao” thì khá chính xác trên phương diện lý luận, nhưng không mạnh như trăm-phần-trăm. Vì vậy, các quí vị thiếu kinh nghiệm thuyết phục thường cứ cố ăn nói viết lách kiểu trăm-phần-trăm cho mạnh mẽ, nhưng làm người nghe và người đọc nhận ra ngay là mình lớ ngớ và không thành thật.

• Điểm yếu của tiền đề 1 của tam đoạn luận suy diễn cũng chính là điểm yếu của kết đề của tam đoạn luận quy nạp. (1) Tôi thấy ông A nói điện thoại bí mật và có liên hệ bất chính. (2) Tôi cũng thấy ông B cũng vây; ông C cũng vậy.… (3) Vì vậy, hễ đàn ông nói chuyện điện thoại bí mật là có liên hệ bất chính.

Kết luận này quá rộng, theo kiểu vơ đũa cả nắm, cho nên không tin được. Nếu giảm lại một tí theo cách nói xác suất thì dễ tin hơn: “Vì vậy, hễ đàn ông nói điện thoại bí mật là có khả năng có liên hệ bất chính.”

• Cả suy diễn và quy nạp (cũng như mọi luận lý khác của con người) đều có môt điểm rất yếu nữa, đó là các từ ngữ của con người luôn luôn có tính cách mù mờ, dùng tạm qua ngày thôi, chứ không giải quyết điều gì rốt ráo được. Ví du: (1) Hồng nhan thì đa truân. (2) Cô ấy đẹp quá. (3) Thành ra đời cô ấy khổ.

Phản biện: “Trời, con nhỏ đó, cái mặt mẹt như vậy mà chị nói là đẹp. Nó cực vì chuyên môn nói xạo, chớ hồng nhan cái gì!”

Ở đây ta thấy, từ “đẹp” rất mù mờ. Đẹp xấu tùy người đối diện, tùy say hay tĩnh. Bất cứ từ nào trong ngôn ngữ con người cũng đều mù mờ như thế. Cho nên, những người tin rằng có thể dùng ngôn ngữ và lý luận để giải quyết mọi thắc mắc ở đời, tìm ra mọi chân lý ở đời, là những người rất thiếu kinh nghiệm về lý luận.

argument

• Một điểm yếu rất lớn khác nữa là tất cả mọi phương thức lý luận (kể cả tam đoạn luận) chỉ do con người tìm ra được trong cuộc sống mắt thấy tai nghe. Ví dụ: Tiền đề “Mọi người đều chết”. Ta biết được điều này là do thấy trong lịch sử (qua sách vở) và chung quanh ta ai cũng có lúc chết, cho nên ta “qui nạp” thành kết luận “Mọi người đều chết.” Rồi ta lại mang kết luận quy nạp này làm tiền đề cho một suy diễn mới, “Mọi người đều chết, hắn là người, cho hắn tha hồ ba hoa chích chòe đi rồi cũng có lúc phải chầu chúa thôi!”

Tức là quy nạp, suy diễn, hay bất kỳ lý luận nào ta sẽ học sau này, cũng chỉ là do kinh nghiệm quan sát của con người mà ra. Cho nên, các lý luận này khi gặp điều gì vượt quá vòng kinh nghiệm thường ngày của con người thì hoàn toàn không sử dụng được. Ví dụ: Tự nhiên có một cô gái rất trẻ, nhìn mới hai mươi mấy, đến gặp bạn và nói: “Tôi nói cho cậu bé hay nhé, cậu năm nay cở bốn mấy, thế thì cậu phải gọi tôi là ‘bà tiên tổ’ mới đúng, vì tôi năm nay 3.125 tuổi rồi.” Nếu cô bé này cứ nhất định như thế, và nếu chúng ta không thể chứng minh được tông tích cô này, toàn hệ thống công an cảnh sát của thế giới không có cách nào chứng minh được cô này từ đâu mà có, thì lúc đó ta có thể thấy lời cô ta nói có một cái gì đó có thể có giá trị, chứ chưa chắc là cô ta điên, và qui luật “Mọi người đều phải chết” có thể không dùng được, tối thiểu là trong trường hợp cô bé này.

• Nhận xét trên đây có hậu quả rất lớn cho đời sống con người trên thế giới ngày nay: Trong những lãnh vực xa hơn kinh nghiệm mắt thấy tai nghe (cộng thêm các máy móc phụ mắt và phụ tai), thì toàn hệ thống suy luận của con người không sử dụng được, và đó là lý do tại sao mà tôn giáo và các truyền thông tâm linh luôn luôn sống mạnh cho đến ngày nay, dù là tôn giáo và các truyền thống tâm kinh nói nhiều điều rất khác với kinh nghiệm hằng ngày và lý luận hằng ngày của ta. Các tôn giáo và truyền thống tâm tinh thường nhấn mạnh đến những kinh nghiệm vượt xa kinh nghiệm hằng ngày—Ví dụ: Nói chuyện với Chúa hiện ra trước mặt, nói chuyện với Quan âm Bồ tát hiện ra trước mặt… Ở đây ta không bàn đúng sai, ta chỉ cần hiểu rằng các kinh nghiệm cá nhân siêu hình, dù thật hay không thật, là các kinh nghiệm không thuộc trong lĩnh vực hoạt dộng của ngôn ngữ và lý luận thông thường. Cho nên nếu ta cố gắng tranh biện về các vấn đề này tức là ta rất thiếu kinh nghiệm về ngôn ngữ và lý luận.

• Một điểm quan trọng khác trong việc sử dụng và hiểu biết ngôn ngữ là: Ngôn ngữ, vì giới hạn rất lớn của nó, thường được sử dụng như là “hé cánh cửa” để mời ta vào bên trong và thấy rõ hơn. Nếu ta không chịu mở cửa bước vào, thì không thể thấy bên trong. Ví dụ: Bạn thường ngày về nhà 6 giờ chiều. Hôm nay không hẹn nhưng lại về 11 giờ đêm, vào nhà thấy nàng còn ngồi đó bên mâm cơm và nói “Em đợi anh từ chiều đến giờ.” Bạn thực sự thấy được gì, thấy được bao nhiêu, trong câu nói đơn sơ nhẹ nhàng đó, hay là chỉ lý luận: “Đến giờ thì đi ngủ đi chứ, tại sao đợi làm gì?”

• Luận lý học là khoa học về sử dụng ngôn ngữ và lý luận chính xác. Nó rất cần cho chúng ta trong công việc và đời sống hằng ngày. Cho nên ta phải nắm vững. Và khi đã nắm vững, ta cũng phải biết ngôn ngữ và lý luận có rất nhiều giới hạn. Khi đọc hay nghe một câu nói, có nghĩa là chúng ta nhận được cái bánh ít bọc lá chuối. Ngôn ngữ lý luận là lớp lá bọc, tư tưởng tâm tình là bánh bên trong. Ta ăn bánh bỏ vỏ, hay ăn vỏ bỏ bánh?

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

Stumble It!

© Copyright 2009, TDH
Licensed for non-commercial use

Sự có mặt — quà tặng quý giá

sadness
“Tặng phẩm quý giá nhất ta có thể dâng tặng cho người khác là sự có mặt của chúng ta. Khi sự quan tâm chia sẻ của chúng ta bao bọc những người ta yêu thương, họ sẽ rộ nở như những đóa hoa tươi thắm”

Ý nghĩa đích thực của từ có mặt trong lời dạy trên của Thiền sư Thích Nhất Hạnh là gì? Và bằng cách nào sự có mặt là một tặng phẩm ta dành cho người khác?

Và câu hỏi cuối cùng ta tự đặt cho mình là mỗi ngày trong đời, ta đã thực sự tặng cho những người ta yêu, ta quý, những người sống, làm việc bên ta hay những người ta gặp, sự có mặt của mình đúng nghĩa hay chưa?

Chắc chắn mỗi chúng ta đều có câu trả lời, nhưng trước hết mời các bạn suy nghĩ về câu trả lời của Sunada. Bà Sunada sinh ra ở Nhật, nhưng sống tại Mỹ từ năm lên 3 cho đến nay. Bà đã có 16 năm làm việc trong lĩnh vực công nghệ cao (high tech), quản lý các chương trình phát triển phần mềm . Trong khoảng thời gian đó thường xuyên đối mặt với áp lực rất lớn, bà đã phải chịu đựng những thương tổn nặng là hậu quả của stress . Bà bắt đầu nghiên cứu Phật pháp và thực hành thiền định từ 1995, có 3 năm giảng dạy các lớp tu học và thiền tại Boston (Mỹ), hiện đang tham gia giảng dạy các lớp tu học thiền qua mạng Internet với Wildmind và tư vấn cho những ai cần giúp đỡ về tu học. “Khi tôi bắt đầu thực hành chánh niệm, lĩnh vực đầu tiên của tôi là chánh niệm trong mỗi hoạt động hàng ngày quen thuộc. Tôi “nhìn “ lại những gì đang diễn ra trong đầu tôi trong một bữa ăn trưa cùng một người bạn đồng nghiệp. Tôi giật mình sửng sốt nhận ra rằng tôi không đang chú ý đến bạn. Trong khi anh ấy đang say sưa nói về một dự án chung của chúng tôi, tôi thấy mình đang suy nghĩ về ý tưởng của tôi. Rồi sau đó tôi thấy mình đang lập kế hoạch cho cuộc họp chiều hôm đó. Tóm lại, tôi đang theo đuổi những vấn đề, một chương trình tương lai của tôi, và tôi không thực sự đang có mặt trong hiện tại cùng anh ấy. Bây giờ tôi mới nhận ra rằng thật đáng buồn chúng ta hiếm khi thực sự có mặt cùng người khác.”

gia-dinh

Các bạn có thấy mình giống hệt Sunada không? Tôi cũng không phải là ngoại lệ. Trong cuộc sống hàng ngày, bộn bề với công việc đủ loại: việc công, việc tư, chuyện cơ quan, chuyện gia đình con cái… với đủ áp lực, chúng ta đi đâu, ngồi ở đâu, với ai vẫn không thoát ra khỏi những gì đang đè nặng lên tâm trí của chúng ta. Những ý tưởng, kế hoạch, các hợp đồng kinh doanh, hay chuyến đi nghỉ lễ sắp tới, quà sinh nhật cho người yêu,…. là những rào cản che mất khiến ta không thực sự nhìn thấy người khác, hoặc thấy rõ họ dù họ đang ngồi cạnh ta. Ta có tập trung lắng nghe người khác chăng? Ta có hiểu người ấy muốn gì ở ta?

Chẳng hạn chúng ta có một người bạn bị ốm, hay đang gặp chuyện không hay, cần giúp đỡ. Tùy theo mức độ thân tình mà ta quan tâm và giúp đỡ theo khả năng của mình. Ta có thể giúp được rất nhiều từ vật chất đến tinh thần cho người bạn thân thiết ấy. Nhưng với một người lạ qua đường xin ta giúp đỡ, có bao nhiêu người trong chúng ta nghi ngại và do dự?

Và thử suy nghĩ xem có bao nhiêu phần trăm trong cách đáp ứng của chúng ta là do ý muốn giúp đỡ, gỡ rối, điều chỉnh sự khó khăn ấy theo cách của riêng ta? Hoặc giả ta làm việc gì đó chỉ để làm giảm bớt nỗi lo âu và buồn phiền của ta khi nhìn thấy người ta đau đớn hay bất hạnh? Cũng có thể ta đang tỏ ra tốt đẹp như chân dung tự họa của mình là một người tốt bụng, nhân ái, và sẵn sàng giúp đỡ. Có hay chăng việc ghi điểm với hi vọng rằng nếu ta giúp người lúc này, mai mốt họ sẽ đền đáp cho ta? Những động cơ rất vị kỷ để giúp đỡ ai đó được khoác tên lòng vị tha. Mà nếu ta thực sự có một ước muốn chân thành giúp người, hầu như không tránh khỏi những động cơ lẫn lộn ấy len lỏi ít nhiều vào suy nghĩ và hành động của ta.

Với những trợ giúp đến do nghề nghiệp, lại có thêm mức độ phức tạp. Nếu chúng ta quá chú trọng đến hình ảnh của chính mình với vai trò chuyên môn, ta có thể đang liên hệ với người khác qua lớp mặt nạ của nghề nghiệp. Thực sự chính ta với tư cách là một con người đang có mặt, hay chỉ là một y tá, bác sĩ., luật sư, giáo viên đang lên tiếng một cách máy móc theo chức trách nghề nghiệp?

Có khi sự giao tiếp giữa người với người trong lĩnh vực này còn tệ hơn Các bạn đã bao giờ chứng kiến một vị bác sĩ không buồn nghe bệnh nhân khai bệnh, và rất tiết kiệm lời han hỏi dù mới đầu buổi khám bệnh? Tôi đã không ít lần chứng kiến những cảnh này trong bệnh viện công và cả trong phòng khám tư. Một buổi chiều nọ tôi đi cùng một người bạn là bác sĩ ở tỉnh lẻ đưa một người thân, mắc một căn bệnh tim mạch nghiêm trọng đến phòng khám của một vị bác sĩ giáo sư chuyên khoa nổi tiếng ở Sài Gòn. Vì ở xa, chúng tôi vào muộn hơn nên có số phiếu hẹn khám cuối cùng của ngày hôm ấy. Sau khi chờ rất lâu mới đến lượt, người bạn là bác sĩ (vốn là học trò cũ từ xưa, chắc thầy không nhớ) đưa người thân của tôi vào khám. Tôi ngồi ở ngoài và có lẽ đến khi ấy vị bác sĩ đã quá mệt mỏi nên rất tiết kiệm lời. Ông ta nghe khai bệnh và hỏi không quá 3 câu với vẻ gắt gỏng, rồi lập tức ghi đơn cho thuốc, không thèm liếc mắt đến những hồ sơ kết luận bệnh án trước đó. Ra về người thân của tôi rất buồn rầu. Không phải vì tiền khám bệnh và thuốc mua tại đó rất đắt, nhưng thực sự người bệnh cảm thấy mình bị coi thường, không được giúp đỡ, trấn an khi vị bác sĩ ấy đang có mặt, và mất cả niềm tin vào cái gọi là “lương y như từ mẫu” của vị giáo sư bác sĩ đó.

sadness
Phải chăng ta đang sử dụng vai trò nghề nghiệp của minh như một cách tránh giao tiếp liên hệ với người khác theo nghĩa từ trái tim đến trái tim?

Một tình huống khó khăn khác là khi ai đó đang làm gì sai quấy, phạm pháp hay thiếu đạo đức, họ đang làm một điều gì khiến người khác bị tổn hại và đau khổ hay chính họ cũng đau khổ. Khi chúng ta tin rằng ta đúng và người khác sai, chúng ta sẽ phân hóa, phân cực, và rơi ngay vào cái bẫy của thói quen tự cho mình là chính trực, là đạo đức. Chính cách suy nghĩ này đã ngăn trở ta đặt mình vào hoàn cảnh của người và cảm thông với họ. Ví dụ, một người ăn cắp một số tiền của ta, ta có tìm hiểu lý do nào thúc đẩy anh ta làm như thế? Để tiêu xài thỏa thích, hay để mua thuốc cho đứa con bị ốm nặng…?

Thế thì chánh niệm có nghĩa là thụ động và để cho người khác tiếp tục đớn đau, hay tiếp tục gây ra rắc rối khó khăn trong cuộc đời họ? Tất nhiên là không!

Chánh niệm có vai trò vô cùng quan trọng vì chánh niệm làm sự sống có mặt trong giây phút hiện tại.. Chánh niệm là thành phần thứ bảy trong Bát Chánh Đạo. Chánh niệm là sự nhớ nghĩ chân chánh, là sự quán chiếu bốn đối tượng: thân, thọ, tâm, pháp, hay nói cách khác Chánh niệm chính là sự ý thức về tất cả các hiện tượng từ vật lý đến tâm lý đang xảy ra ở đây ngay trong giây phút hiện tại. Trong số các đặc tính của chánh niệm, xin nêu ra ở đây:

Chánh niệm là ý thức không có một cái ngã
Chánh niệm là một ý thức về sự thay đổi. (Thích Nhất Hạnh)

Theo Sunada, chánh niệm phải bắt đầu bằng sự tôn trọng nhân phẩm và lý luận của người khác. Như thế có nghĩa dù cho ta rất không đồng tình với việc làm của họ, ta vẫn phải cố gắng để hiểu xem tại sao họ làm như thế và hoàn cảnh nào đưa đẩy họ đến đó. Có nghĩa là tạm dừng quan điểm của mình và thực sự hiểu hoàn cảnh của người ta- không chỉ bằng trí óc mà bằng trái tim.

Có mặt trong chánh niệm cũng có nghĩa là loại bỏ những động cơ vị kỷ của ta đi. Hay nếu ta không thể làm được như thế, ít nhất ta có thể cố gắng tránh không dùng đến chúng như những tấm kính lọc qua đó chúng ta nhìn vào và xem xét hoàn cảnh, vấn đề của một người khác. Như thế cũng dẹp bỏ những nỗi sợ hãi của chúng ta. Cái gì đã ngăn cản ta mở lòng ra với người khác? Ta sợ mình bị tổn thương chăng? Hay ta sợ mắc phải sai lầm về nghề nghiệp? Thực sự, cái gì dựng lên một bức tường ngăn cách ta và người mà cơ bản rất giống ta?
giadinh

Tất nhiên có những lúc điều tốt nhất ta phải làm là bắt tay hành động trước khi có thêm những tổn hại nặng nề hơn. Ta cần làm việc này theo cách nào gây ra ít tổn hại nhất cho người trong cuộc, có liên quan. Và có lẽ ta cần hành động mạnh đối với người đó để ngăn cản họ không gây thêm điều xấu tổn hại nào hơn. Nhưng trước hết ta hãy đặt mình vào hoàn cảnh, thân phận của người ấy trong chốc lát, để suy nghĩ và hiểu người ta hơn.

Và trên hết, chánh niệm là kiên nhẫn. Phải thừa nhận rằng mọi thay đổi đều cần thời gian, và ta không thể bắt sự việc vận hành theo thời gian biểu của ta. Và có một số sự việc xảy ra vượt quá dự kiến và khả năng thay đổi của ta như thường thấy. Chẳng hạn, ta không thể bắt hoa nở theo ý muốn; có khi hoa chẳng nở mà còn héo úa. Nhưng chúng ta có thể vun xới tạo điều kiện tốt cho cây tốt và hoa nở thắm tươi. Như thế ta nên bón phân cho đất, cho cây hoa có nước và ánh sáng, dưỡng chất… Rồi ta kiên nhẫn chờ đợi…

Trở lại với sự có mặt như một tặng phẩm mà Thiền sư Nhất Hạnh đã nói. Phải chăng ta hãy luôn chánh niệm về sự có mặt thực sự của mình bên người khác trong từng giây phút, trong mỗi hoàn cảnh và vị trí. Ta cho đi sự có mặt trọn vẹn của ta khi đang đứng, ngồi ở đâu, làm việc gì với một hay nhiều người khác. Ta ngồi ở bàn, ăn một bữa cơm bình thường của gia đình. Ta đang chăm chú nghe một người thân giải bày tâm sự. Ta đang đứng trong lớp học giảng bài cho học sinh, hay đang bên giường bệnh nhân… Dẫu trong vai trò nào, ta cũng có thể dâng tặng sự có mặt của ta theo cách vun xới cây hoa, cho ánh sáng, nước và dưỡng chất… Và tiền đề quan trọng hơn cả, ấy là hãy rộng mở lòng mình, dẹp bỏ những thành kiến, nghi kỵ và trao tặng trái tim chân thực dễ bị tổn thương của chính ta cho người khác.

Huỳnh Huệ

Đam mê tuyệt vời

Chào các bạn,

Mấy năm về trước (2004) mình có viết một bài trong diễn đàn VNBIZ, nhan đề là Passion for Excellence. Sau đó một thời gian, bài này được chuyển đi rộng rãi trong giới sinh viên học sinh trên mạng và được một số bạn chuyển sang tiếng Việt.

Gần đây có một bạn gửi mình một bản tiếng Việt. Hôm nay gửi đến các bạn cả bản tiếng Việt lẫn bản tiếng Anh. Mình không biết bạn nào dịch bài tiếng Việt này, rất hay. Nếu các bạn nào biết, cho mình gửi lời cám ơn đến người dịch.

Các chữ in đậm trong này là từ trên mạng. Trong bài nguyên thủy tiếng Anh, mình không in đậm chỗ nào cả.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

________________

Các bạn thân mến,

Có điều này cứ khiến tôi trăn trở từ khoảng 10 năm nay. Giờ có lẽ chính là lúc để tôi chia sẻ với các bạn.

Thường thì khi chỉ ra một điểm yếu kém hay một vấn đề nào đó của quốc gia, sẽ có người phản biện rằng, “Chúng ta còn tốt hơn nhiều nước châu Phi,” hay “Nhiều nước đang phát triển còn tệ hơn chúng ta,” hay “Chúng ta là một nước nghèo.”

Đó là cái mà tôi gọi là “Tâm lý của kẻ thua cuộc.”

Thử tưởng tượng khi giáo viên nói với học sinh, “Em có thể học tốt hơn thế này, hãy cố gắng hơn nữa,” và cậu học sinh trả lời, “Thưa thầy, gia đình em nghèo, nhiều bạn học sinh nghèo khác còn học kém hơn em.”

Tại sao lại so sánh mình với những kẻ thua cuộc? Tại sao không đem mình ra so sánh với những người xuất sắc nhất? Thay vì so sánh chúng ta với những nước đang phát triển, hay những nước nghèo, tại sao không nói, “Chúng ta muốn sẽ đánh bại Pháp và Mỹ trong lĩnh vực công nghệ và kinh doanh.”

“Anh điên à? Đó là hai trong số các cường quốc lớn nhất trên thế giới. Thật là hão huyền và viển vông!”

“Người anh em, nếu tôi nhớ không nhầm, chúng ta đã đánh bại hai nước này trên mặt trận quân sự. Vậy thì kinh doanh hay công nghệ có là gì?”

Thử tưởng tượng 70 năm trước, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói với cả nước, “Thưa Đồng bào, Pháp là một trong những cường quốc mạnh nhất thế giới. Chúng ta không thể đọ được với súng ống và đại bác của họ. Các vị thật quá điên rồ khi nghĩ đến chuyện chiến đấu với họ, chưa nói đến việc đánh bại họ.” Nếu Người đã nói như vậy, giờ chúng ta sẽ ra sao?

Thật không may, sau chiến thắng trên mặt trận quân sự, những thế hệ tiếp theo sống đớn hèn, không nghị lực, không ý chí, không khát khao chiến thắng, không hoài bão vượt trội.

Mấy năm trước, khi tôi bay về Việt Nam, vài người bạn của tôi ở Bộ Ngoại giao đón tôi ở sân bay. Tôi đã rất bức xúc trước thực trạng cán bộ Hải quan đòi tiền Việt kiều ở sân bay, nên tôi nói với bạn mình, “Cậu biết không, mấy thằng trong kia chỉ chăm chăm đòi tiền dân chúng.” Một người bạn của tôi nói rằng, “Ồ, các anh có hàng đống tiền cơ mà. Anh nên chia bớt cho những người anh em nghèo khó mới phải.”

Nghe đến đó, tôi rất thất vọng, nên im lặng không trả lời. Đó là tâm lý của kẻ thua cuộc, tâm lý chấp nhận chất lượng hạng ba, và lý luận bảo vệ sự cam chịu đó. Người bạn này của tôi về sau trở thành đại sứ ở nhiều nước, anh ta không hề thấp kém. Vậy bạn có thể hình dung bao nhiêu người ở nước ta có tâm lý của kẻ thua cuộc như thế.

Nếu có nhiều đến thế những người mang tâm lý của kẻ thua cuộc, Việt Nam sẽ đi về đâu?

Chúng ta, thế hệ này, nên cảm thấy hổ thẹn với cha ông. Cha ông ta đã không nói, “Pháp và Mỹ quá mạnh, chúng ta không thể chiến thắng.” Cha ông ta chỉ có một điều duy nhất trong suy nghĩ – chiến thắng hay là chết. Đó chính là hoài bão vượt trội, khát vọng chiến thắng, khao khát không chấp nhận đứng thứ hai (bởi vị trí thứ hai đối với họ chính là cái chết).
the-thao

Nếu muốn chiến thắng, cần phải tư duy như một người thắng cuộc. Và đó là, “Chúng ta muốn thắng những người mạnh nhất. Chúng ta muốn là vô địch. Và chúng ta sẽ tạo ra con đường của mình từ đây đến chiến thắng cuối cùng.” Tâm lý của người thắng cuộc đó sẽ tự động buộc tâm trí ta vào trạng thái không chấp nhận làm kẻ tầm thường, không chấp nhận biểu hiện kém cỏi, không chấp nhận bất cứ cái gì thấp hơn nỗ lực cao nhất, phấn đấu lớn nhất, làm việc chăm chỉ nhất, và tư duy tích cực nhất.

Ai đó có thể nói, “Nhưng chiến đấu vì sinh tồn khác với cạnh tranh để làm giàu. Nền văn hóa của chúng ta chưa bao giờ coi trọng sự giàu sang. Trong nền văn hóa truyền thống, một thầy giáo nghèo là người được coi trọng nhất.”

Câu trả lời của tôi sẽ là:

(1) Khi chúng ta chiến đấu chống lại Pháp và Mỹ, đó không chỉ là chiến đấu để tồn tại. Chúng ta vẫn có thể sống dưới ách đô hộ của Pháp và Mỹ. Nhưng đó là một cuộc sống không có danh dự. Chúng ta chiến đấu vì danh dự, không phải vì sinh tồn.

(2) Ngày nay, chiến đấu để làm giàu và chống đói nghèo cũng là chiến đấu vì danh dự, bởi bất cứ ai trên thế giới cũng đều khinh thường công dân của một nước nghèo.

(3) Nền văn hóa truyền thống tôn vinh cái nghèo là hoàn toàn sai lầm. Là thuốc phiện. Đối với một cá thể, có thể sự giàu sang là vấn đề ý thích cá nhân, và không ảnh hưởng nhiều đến người khác. Nhưng đối với một quốc gia, đói nghèo là cái tội, sự giàu sang là sức mạnh và độc lập. Nếu Việt Nam giàu và mạnh từ một ngàn năm trước, thì Trung Quốc, Pháp, Mông Cổ, Nhật, và Mỹ đã chẳng dám tấn công chúng ta. Nếu thế, ta đã chẳng mất một ngàn năm chiến tranh. Đối với một quốc gia, nghèo nghĩa là yếu, là mở cửa cho những kẻ khác tấn công, là để bị đô hộ và giày xéo bởi các quốc gia khác, là bị khinh thường bởi người dân của các nước giàu có hơn. Hãy đi ra thế giới và bạn sẽ hiểu.

Đói nghèo là căn bệnh của một quốc gia. Đói nghèo cần phải bị xóa bỏ.

Bất kể triết lý cá nhân của mỗi chúng ta về sự giàu sang ra sao, đối với đất nước, làm giàu là mục tiêu chính yếu. Vì vậy hãy nhắc nhau đòi hỏi nhiều hơn nữa ở bản thân mình, ở bạn bè, thầy cô, chính phủ, và những nhà lãnh đạo. Hãy nhìn cách những nước giỏi nhất thế giới, như Nhật, Anh, Úc làm việc, học hỏi từ họ với quyết tâm về sau sẽ vượt qua họ (và họ sẽ vui lòng lắng nghe bạn, các bạn sinh viên, nói lên điều này, bởi bất cứ một giáo viên chân chính nào cũng muốn nhìn thấy cái ngày học trò đánh bại mình). Hãy ngừng suy nghĩ “Chúng ta là một nước nghèo, nên thế này là tốt rồi.” Không, sẽ là không đủ cho tới khi ta có thể đánh bại những người xuất sắc nhất trên thế giới.

Hãy tin vào chính mình. Nếu ta nghĩ ta có thể làm được, thì ta sẽ làm được

Đừng chấp nhận làm kẻ tầm thường. Đừng chấp nhận đứng ở vị trí thứ hai.

Hãy chấp nhận là người xuất sắc nhất.

Luôn đòi hỏi bản thân và dân tộc vượt trội nhất.

Và chúng ta có lịch sử hỗ trợ bên mình, rằng chúng ta có thể làm được những gì mà các dân tộc khác cho là không tưởng.

Hãy có một ngày thật tuyệt vời, bạn nhé!

Hoành

Bài tương tự: Hoa trái đầu tiên

.

the-thao-vu-thi-thu-thuy1
Dear các anh các chị,

There is this thing that has been bothering me seriously for, well, probably 10 years or so. Now I’ve thought that probably I should share it with you all.

Very often, when we point out some weakness, some problem in our nation or our system, I would hear a response like “We do much better than many countries in Africa” or “There are many developing countries doing worse than us” or “We are a poor country.” That is what I call “The Loser’s Mentality.”

Imagine a teacher tells a student, “You can do better than this, try harder,” and the student responds, “Teacher, my family is poor, many poor students do worse than I do.”

Why compare ourselves with the losers? Why can’t we compare ourselves with the best and the brightest instead? Instead of comparing ourselves with other developing countries, other poor countries, why don’t we just say “We want to eventually beat the France and beat the American in technology and business”?

“Are you crazy? These are two of the most advanced countries in the world. You are so day dreaming and unrealistic.”

“Brother, if I remember correctly, we did beat these two countries on the military battlefield already. What’s the big deal about business and technology?”

Imagine that 70 years ago president Ho Chi Minh told the nation, “You guys, France is one of the most advanced nations on earth. We cannot compete with their guns and cannons. You will be crazy to think about fighting them, not mentioning defeating them.” Had he said that, where are we now?
Unfortunately, after we won the military battles, the succeeding generations act like wimps, no back bone, no will, no aspiration to win, no passion for excellence.

Several years ago, when I got out of the airport in Vietnam, several friends from Ministry of Foreign Affairs picked me up at the airport. I was upset at seeing the custom officers asking for Vietkieu’s money at the airport, so I told my friends: “You know, these guys in there just ask for people’s money blatantly.” One of my friends said: “Oh, you guys have a lot of money. You can give some to your poor brothers.”

I was very disappointed when I heard that, so I didn’t respond. That was the loser’s mentality, the mentality of accepting the third-grade quality and coming up with rationale to support such acceptance. This friend of mine later became ambassador to several countries, so he is not low in ranking. You can imagine how many people in our country have such loser’s mentality. If so many of us have such a loser’s mentality, where will Vietnam go?
the-thao-hoang-anh-tuan

We, this generation, should be ashamed to our father’s generation. Our fathers did not say, “The French and the American are so powerful, we cannot beat them.” They had only one thing in mind —- win or die. That is the passion for excellence, the passion for winning, the passion for not accepting to be second (because second to them meant death).

If we want to win, we just have to think like a winner. And that is, “We want to beat the best. We want to be champion. And we will work our way, from here to championship.” Such winner’s mentality will automatically forces our mind into the state of not accepting mediocrity, not accepting low quality performance, not accepting anything less than the best effort, the best trial, the hardest work, the hardest thinking.

Some may say, “But fighting for survival is different than competing to be rich. In our culture, richness is never a big thing. In our traditional culture, being a poor teacher is the best position of all.”

My response would be:

(1) When we fought against the French or the American, that was not fighting for survival. We still could live under the French and the American. It was just not a very honorable way of living. So we were fighting for honor, not survival.

(2) Today, fighting against poverty and for wealth is also fighting for honor, because people around the world always look down on citizens of poor nations.

(3) Our traditional culture of glorifying poverty is just wrong. To use the communist terminology, it is opium. As an individual, probably wealth is a matter of personal taste and may not matter much to some of us. But as a nation, poverty is a sin, wealth is strength and independence. Had Vietnam been wealthy and powerful a thousand years ago, the Chinese, the French, the Mongolian, the Japanese, the American would not have had the guts to attack us. Then we hadn’t had to spend a thousand years fighting. As a nation, poverty means you are weak, you open yourself to attack by other guys, to be dominated and stepped upon by other nations, to be looked down upon by citizen of richer nations. Go around the world, and you will see this point clearer than the day light.

Poverty is a disease of the nation. Poverty has to be erased. Regardless what our personal philosophy about wealth, for the nation, wealth is a major goal.

So we need to tell each other to be more demanding of ourselves and our fiends, our teachers, our government, our leaders. Look at how the best of the world, the Japanese, the British, the Australian work, learn from them with the determination to outdo them later on. (And they will love to hear you, the student, say this, because every good teacher would love to see the day the student can beat him).

Stop thinking that “We are so poor, so this is good enough.” No, it won’t be enough until we can beat the best of the world.

Believe in ourselves. If we think we can do it, then we will do it. Don’t settle for mediocrity. Don’t settle for second. Settle for the best. Demand the best of ourselves and our people. And we have our history to back us up, that we can do what other peoples think impossible.

Have a great day!

Tran Dinh Hoanh
(Washingon DC, September 2004)

Similar article: The first fruit

Stumble It!

© Copyright 2009, TDH
Licensed for non-commercial use

Người đi bộ miệt mài cùng đất nước

nghoangquy

Nhà giáo dục Hoàng Quý là một trong những nhân tài được đào tạo từ Khu học xá Nam Ninh, ở một trường sơ tán trên đất Trung Quốc, có tên là “Dục tài học hiệu” (Ngôi trường đào tạo nhân tài). Đúng như lớp trí thức ở thế hệ ông, và cũng đúng truyền thống gia đình, ông là người hiếu học đến mê say, có ý chí và sức tự học rất lớn, tài năng mà khiêm nhường, suốt đời tận tụy phục vụ đất nước, ở lĩnh vực nào cũng có đóng góp lặng lẽ mà xuất sắc.

Xem tiếp tại đây.

Ông tiến sĩ bán nhà xây trường

nguyenledac

Ngôi trường mang tên nhà văn hoá Nguyễn Khắc Viện do tiến sĩ Nguyễn Lê Đắc thành lập đã trở thành “câu chuyện cổ tích” đối với người dân xã Sơn Bằng, huyện Hương Sơn, Hà Tĩnh. Sự khác biệt giữa trường tư thục Nguyễn Khắc Viện với các trường công lập ở chỗ: “Đầu thải” của các trường trung học phổ thông công lập (số học sinh không đủ điểm kỳ thi chuyển cấp) lại là đầu vào của trường.

Xem tiếp tại đây.

Bagan – Myanmar

Kinh đô cổ đại Bagan
Kinh đô cổ đại Bagan

Tuy chỉ là một quốc gia nhỏ bé nằm khiêm tốn bên cạnh người láng giềng khổng lồ Thái Lan, Myanmar lại tự hào được sở hữu một trong những di chỉ khảo cổ lớn nhất, nổi tiếng nhất Đông Nam Á. Đó là Bagan (còn được gọi là Pagan) – cội nguồn của đất nước Miến Điện. Nếu tới Myanmar mà chưa tới Bagan thì chẳng khác nào kẻ khát nước chưa tìm được nguồn nước. Bagan chính là thành phố tôn giáo đặc biệt nhất trên thế giới. Hiện nay ở Bagan vẫn còn tồn tại tới 2.224 trong tổng số 4.446 ngôi đền được xây dựng từ thế kỷ 11 cho tới thế kỷ 13 – bộ bách khoa thư đồ sộ về kiến trúc cổ Miến Điện. Từng là thủ phủ của một vương quốc hùng mạnh, giờ đây Bagan chỉ là thành phố bị dòng chảy của xã hội văn minh “bỏ quên”, nằm lặng lẽ ở tả ngạn sông Ayeyawady hiền hòa. 

Theo lịch sử, trong 12 thế kỷ (kể từ năm 168), 55 vị vua đã kế tiếp nhau trị vì vùng đất này và người có công lớn nhất trong việc biến Bagan thành một trung tâm quyền lực, tôn giáo và kinh tế hưng thịnh là vua Anawrahta (1044 – 1077). Ông đã chinh phục vương quốc láng giềng Thaton, bắt hàng ngàn thợ thủ công Thaton về nước để xây dựng đền chùa, đưa đạo Phật thành quốc giáo. Cũng dưới triều đại Anawrahta, văn tự burman (miến điện cũ) ra đời. Truyền thuyết kể lại rằng, cứ một ngày, ở Bagan lại mọc lên 40 ngôi chùa và ngày nay, bất cứ du khách nào đặt chân tới Bagan cũng bị choáng ngợp trước tài năng của những người thợ vô danh khi xưa, và cả sự cuồng tín của một quốc gia: hàng vạn, có thể là hàng triệu người bỏ công sức, tiền bạc, của cải để dựng lên những công trình vĩ đại với mục đích duy nhất – ngợi ca công đức cùng những giáo lý của Phật tổ từ bi. 

Chùa Shwezigon
Chùa Shwezigon

Trong cái nóng nực, bụi bặm của miền trung Myanmar, dọc theo bờ sông Ayeyawady, từng cụm đền, chùa với những ngọn tháp nhọn hoắt như muốn chọc thủng cả bầu trời xanh ngắt hiện dần ra trước mắt, trên một vùng cao nguyên rộng lớn. Mỗi công trình mang một dáng vẻ, kiểu kiến trúc riêng biệt, hoàn toàn không có sự trùng lắp. Tuy nhiên, hầu hết đã mất đi màu trắng tinh khôi của lớp tường vôi ban đầu, thay vào đó là màu đỏ thẫm hoặc bị xỉn đi bởi lớp bụi dầy do những cơn gió dữ dội trong mùa khô mang tới. Không có nhiều màu xanh trên cao nguyên này, chỉ toàn cọ và những thân xương rồng khẳng khiu, đầy gai nhọn. Thỉnh thoảng mới có một cơn mưa ngắn ngủi, không đủ để gột rửa sự khắc nghiệt của thiên nhiên. Hiếm hoi lắm mới thấy được ánh vàng rực rỡ còn sót trên một đỉnh chóp. Ấy vậy mà từ năm 1300, khi cư dân cuối cùng rời khỏi Bagan, những ngôi đền chùa này vẫn đứng sừng sững, trơ gan cùng tuế nguyệt, ngắm nhìn cảnh bể dâu, xem vật đổi sao dời. Một sự may mắn lớn dành cho hậu thế.

Với những người lần đầu tiên tới Bagan, có lẽ chùa Shwezigon nằm ở khu vực ngoại ô là thắng cảnh để lại nhiều ấn tượng nhất. Bản thân nó cũng giữ một vị trí hết sức quan trọng trong hệ thống chùa ở Myanmar, chẳng kém gì Chùa Vàng (Shwedagon) ở thủ đô Yangon. Shwezigon là ngôi chùa đầu tiên của quốc gia Miến Điện xưa được xây dựng theo lối kiến trúc Phật giáo tiểu thừa. Hơn thế, nó còn là nơi lưu giữ Xá lợi phật – bao gồm hai mẩu xương và phiên bản của một chiếc răng.

Những điều bí ẩn ở ngôi chùa này cho đến ngày nay vẫn làm đau đầu các nhà khoa học, còn hàng triệu lượt du khách đến viếng thăm Shwezigon chỉ biết lắc đầu khâm phục mà thôi. Bạn có biết rằng, dù là sáng, trưa hay chiều, chiếc bóng khổng lồ của Shwezigon chẳng bao giờ đổ qua bốn bức tường bao bọc. Và bất chấp những cơn gió cuồn cuộn, vô số mẩu giấy rơi xuống từ đỉnh tháp dát vàng cũng không bao giờ bay qua những bức tường kia. Đó thực sự là một ranh giới vô hình ngăn cách Shwezigon với thế giới phàm tục bên ngoài. Và bất cứ ai đã một lần tới đây cũng phải thừa nhận, dù lượng khách viếng thăm Shwezigon có nhiều tới cỡ nào thì họ cũng không hề cảm nhận được sự đông đúc trong bốn bức tường bao. Luôn là cảm giác vắng vẻ, u tịch của chốn đình viện thâm nghiêm. Không chỉ có vậy, trong các dịp lễ hội cử hành ở đây, người ta đã phát hiện ra rằng, đứng ở phía bên này của chùa thì chẳng thể nghe thấy bất cứ một âm thanh nào từ phía bên kia, kể cả tiếng trống rền vang. Và ngay cả những trận mưa dầm dề kéo dài hàng tuần cũng không thể làm nước đọng lại ở bất cứ góc nhỏ nào trên khoảng sân trong của chùa. Còn cây sơn trà trồng ở góc chùa phía Đông Nam thì tươi tốt và ra hoa quanh năm. Điều cuối cùng là dù được xây trên khoảng đất bằng nhưng nhìn từ xa, du khách luôn có cảm giác chùa đứng sừng sững trên một ngọn đồi nhỏ. Thật là kỳ diệu. 

Đền Anada
Đền Anada

Hai ngôi đền nổi tiếng nhất ở Bagan là Anada va Thatbynnyu. Cả hai đều được xây vào cuối thế kỷ 11, trong đó Thatbynnyu với chiều cao 62m là ngôi đền cao nhất và Anada – chịu nhiều ảnh hưởng từ kiến trúc Ấn Độ – là ngôi đền đẹp và hài hòa nhất. Cái tên Anada bắt nguồn từ Anata, tức là sự sáng suốt vô tận của Phật tổ. Du khách đến với Anada và Thatbynnyu không chỉ để chiêm ngưỡng vẻ tráng lệ của hai ngôi đền này mà còn để thưởng thức cảnh hoàng hôn tuyệt đẹp trên cao nguyên Bagan. Mặt trời khuất dần sau những ngọn đồi phía xa, ráng chiều đỏ rực phủ lên những hoang tàn, đổ nát của muôn vàn đền đài càng làm tăng thêm vẻ cô liêu, hoang vắng. Trước cảnh thiên nhiên hùng vĩ đó, con người chợt cảm thấy mình nhỏ nhoi biết nhường nào…

Loan Sabaru

Thời tiết

dsc01416

Thời tiết

“Bất cứ ngày nào tôi đứng thẳng
đó là ngày tốt lành”
…như tôi vẫn hằng nói.

Nếu bạn hỏi tôi,
“Khỏe không?”

Tôi sẽ đáp: “ TUYỆT VỜI !”
bởi vì khi nói thế,
tôi sẽ làm được thế.

Khi Đời cho mưa giông
và mây đen bao phủ,
tôi biết ơn những giọt nước
làm tóc tôi mềm cong,

Khi Đời cho nắng đẹp,
tôi ngẩng mặt tri ân,
cảm nhận ấm áp trên má.

Khi Đời mang lại mù sương,
tôi kéo áo choàng chặt lại,
tạ ơn những bóng râm bí mật
đã làm cho những điều quen thuộc
trở thành khác lạ và hấp dẫn.

Khi Đời đem tuyết trắng,
tôi lao ra nếm những bông tuyết đầu tiên,
tận hưởng cái lạnh diệu kỳ của hoa tuyết.

Những sự kiện và trải nghiệm cuộc đời
giống như thời tiết–
chúng đến rồi đi,
chẳng kể tôi ưa thích gì.

Vậy nên nào có hề chi!
Tốt hơn là cứ ưa thích chúng.

Vì thực ra,
luôn CÓ một thời cho từng mục đích
dưới vũ trụ mênh mang.

Và mỗi mùa đều ban phúc riêng của mùa ấy …
.

Huỳnh Huệ dịch
huynh_hue2001@yahoo.com.

.
lightning

Weather Report

“Any day I’m vertical
is a good day”
…that’s what I always say.

If you ask me,
“How are you?”
I’ll answer, “GREAT!”
because in saying so,
I make it so.

When Life gives me dark clouds and rain,
I appreciate the moisture
that brings a soft curl to my hair.

When Life gives me sunshine,
I gratefully turn my face up
to feel its warmth on my cheeks.

When Life brings fog,
I hug my sweater around me
and give thanks for the cool shroud of mystery
that makes the familiar seem different and intriguing

When Life brings snow,
I dash outside to catch the first flakes on my tongue,
relishing the icy miracle that is a snowflake.

Life’s events and experiences
are like the weather –
they come and go,
no matter what my preference.

So, what the heck?!
I might as well decide to enjoy them.

For indeed,
there IS a time for every purpose
under Heaven.

And each season brings its own unique blessings
.

BJ Gallagher

Gặp gỡ dịch giả 7 tuổi tại TPHCM

Thaihabooks tổ chức buổi tọa đàm “Tài năng, tính tự lập của con trẻ và vai trò của cha mẹ”, vào lúc 9 giờ, ngày 20-3, tại Café Miss Saigon, 90 Phạm Ngọc Thạch, Q.3 – TPHCM. Trong buổi tọa đàm này, bé Đỗ Nhật Nam – dịch giả nhỏ tuổi nhất Việt Nam, chị Phan Thị Hồ Điệp (mẹ bé Nam), tiến sĩ tâm lý Huỳnh Văn Sơn sẽ chia sẻ những vấn đề như làm thế nào để định hình tính tự lập, giúp các bé phát triển tối đa tiềm năng của mình. Thaihabooks sẽ ra mắt bộ sách đầu tay của dịch giả Đỗ Nhật Nam.

Xem tiếp tại đây.

Những người đổi thay thế giới

leadership-pyramid

Đừng bao giờ nghi ngờ khả năng của một nhóm nhỏ các công dân quan tâm và tận tụy trong việc đổi thay thể giới. Thực ra, đó là điều duy nhất đã thay đổi thế giới này.

Nguyễn Minh Hiển dịch.

.

Never doubt that a small group of thoughtful, committed citizens can change the world. Indeed, it is the only thing that ever has.

Margaret Mead
US anthropologist & popularizer of anthropology (1901 – 1978)

Cho người

Spiritual Symbols

Rồi một người giàu nói, Giảng cho chúng tôi về Bố thí.

Và Tiên tri trả lời:

Bạn cho chỉ một tí khi bạn cho tài sản.
Khi cho chính mình bạn mới thực sự cho.
Bởi vì tài sản là gì nếu không là những thứ bạn canh giữ vì lo sợ mình có thể cần đến ngày mai?
Và ngày mai, ngày mai sẽ mang lại gì cho con chó quá cẩn thận đã giấu những khúc xương dưới lớp cát không dấu vết, trên đường theo chân đoàn hành hương đến thành phố linh thiêng?
Và lo sợ cho nhu cầu là gì, nếu không phải chính nó là nhu cầu?
Khi giếng bạn vẫn đầy, phải chăng sợ khát chính là cơn khát chẳng nguôi?

Có những người cho một tí tài sản lớn họ có—và họ cho để được vinh danh, và ham muốn thầm kín đó khiến quà tặng của họ bất toàn.
Và có những người chỉ có một tí nhưng cho tất cả.
Đây là những người tin vào cuộc đời và phần thưởng của cuộc đời, và kho chứa của họ không bao giờ cạn.
Có những người cho với sướng vui, và sướng vui là phần thưởng của họ.
Và có những người cho với đớn đau, và đớn đau rửa tội họ.
Và có những người cho nhưng không biết đau khi cho, cũng không tìm vui sướng, và cũng chẳng cho vì quan tâm đến đức hạnh;
Họ cho như cây hoa đào trong thung lũng kia thở hương vào không gian.
Qua bàn tay của những người như thế, Trời lên tiếng nói, và từ thẳm sâu trong đôi mắt của những người như thế, Trời mỉm cười với Đất.

omkar

Cho khi được hỏi đã là tốt, nhưng tốt hơn là, cho khi không ai hỏi, chỉ do thấu hiểu;
Và với người có bàn tay rộng mở, đi tìm người nhận còn vui sướng hơn cả việc cho.
Và bạn không còn gì để giữ lại sao?
Một ngày nào đó, mọi thứ bạn có sẽ bị cho đi;
Vì vậy, hãy cho bây giờ, để mùa cho có thể là mùa của bạn và không phải là mùa của những người kế thừa gia tài của bạn.

Bạn thường nói, “Tôi sẽ cho, nhưng chỉ cho những người xứng đáng.”
Đám cây trong vườn không nói thế, và đàn thú trên cánh đồng cũng không nói thế.
Chúng cho, để chúng có thể sống, vì giữ lại là diệt vong.
Chắc chắn là, ai xứng đáng nhận được ngày và đêm, cũng xứng đáng nhận được những gì bạn có.
Và ai đã xứng đáng uống biển đời, cũng xứng đáng lấy một cốc nước từ con suối nhỏ nhoi của bạn.
Và còn xứng đáng nào lớn hơn là xứng đáng từ lòng can đảm và lòng tự tin, ồ không, lòng nhân đạo, khi nhận quà?
Bạn là ai mà người ta phải xé lòng ra, mở toạc tự ái ra, để bạn thấy được giá trị trần truồng của họ, và lòng kiêu hãnh sống sượng của họ?
Trước hết, hãy xem lại bạn có xứng đáng là người cho, là khí cụ của đức bố thí, hay không.
Bởi vì sự thật là, chính cuộc đời cho cuộc đời—trong khi bạn, dù tự xem mình là người cho, cũng chỉ là một nhân chứng mà thôi.

Và hỡi những người nhận—và tất cả các bạn đều là người nhận—đừng biết ơn quá nặng, nếu không, bạn sẽ đặt gông cùm lên chính bạn, và lên cả người cho.
Tốt hơn là, hãy cùng người cho bay trên quà tặng như trên đôi cánh;
Bởi vì, quá quan tâm vào món nợ tức là nghi ngờ lòng rộng rãi của người cho, là người có mẹ là Đất với tâm thức tự do và cha chính là Trời.

Tiên tri, Kahlil Gibran.

Trần Đình Hoành dịch

.

8_auspicious_signs_combined
Then a rich man said, Speak to us of Giving.

And he answered:

You give but little when you give of your possessions.
It is when you give of yourself that you truly give.
For what are your possessions but things you keep and guard for fear you may need them tomorrow?
And tomorrow, what shall tomorrow bring to the overprudent dog burying bones in the trackless sand as he follows the pilgrims to the holy city?
And what is fear of need but need itself?
Is not dread of thirst when your well is full, the thirst that is unquenchable?

There are those who give little of the much which they have—and they give it for recognition and their hidden desire makes their gifts unwholesome.
And there are those who have little and give it all.
These are the believers in life and the bounty of life, and their coffer is never empty.
There are those who give with joy, and that joy is their reward.
And there are those who give with pain, and that pain is their baptism.
And there are those who give and know not pain in giving, nor do they seek joy, nor give with mindfulness of virtue;
They give as in yonder valley the myrtle breathes its fragrance into space.
Through the hands of such as these God speaks, and from behind their eyes He smiles upon the earth.

yin-yang

It is well to give when asked, but it is better to give unasked, through understanding;
And to the open-handed the search for one who shall receive is joy greater than giving.
And is there aught you would withhold?
All you have shall some day be given;
Therefore give now, that the season of giving may be yours and not your inheritors’.

You often say, “I would give, but only to the deserving.”
The trees in your orchard say not so, nor the flocks in your pasture.
They give that they may live, for to withhold is to perish.
Surely he who is worthy to receive his days and his nights, is worthy of all else from you.
And he who has deserved to drink from the ocean of life deserves to fill his cup from your little stream.
And what desert greater shall there be, than that which lies in the courage and the confidence, nay the charity, of receiving?
And who are you that men should rend their bosom and unveil their pride, that you may see their worth naked and their pride unabashed?
See first that you yourself deserve to be a giver, and an instrument of giving.
For in truth it is life that gives unto life—while you, who deem yourself a giver, are but a witness.

And you receivers—and you are all receivers—assume no weight of gratitude, lest you lay a yoke upon yourself and upon him who gives.
Rather rise together with the giver on his gifts as on wings;
For to be overmindful of your debt, is to doubt his generosity who has the freehearted earth for mother, and God for father.

The Prophet, Kahlil Gibran.

Stumble It!

© Copyright 2009, TDH
Licensed for non-commercial use

Lễ hội Té nước

Lễ hội Té nước Songkran ở Thái Lan
Lễ hội Té nước Songkran ở Thái Lan

Khác với Tết Nguyên Đán của Việt Nam rơi vào tháng giêng âm lịch, Tết Nguyên Đán của một số quốc gia thuộc vùng Đông Nam Á, gọi là Chol Chnam Thmay ở Campuchia, Songkran ở  Thái Lan, và Bunpimay ở Lào, rơi vào tháng 4 Dương Lịch hàng năm, kéo dài 3 ngày–từ 13/4 đến 15/4. Đây là Tết theo Phật Lịch do ở Campuchia, Thái Lan, Lào, Đạo Phật từ lâu đã trở thành quốc đạo.

Trong ngày Tết cổ truyền này, người ta tổ chức lễ hội té nước để cầu may, bình yên cho cả năm. Lễ hội này mang ý nghĩa đem lại sự mát mẻ, phồn vinh cho vạn vật, ấm no hạnh phúc, thanh khiết hóa cuộc sống của con người.

Người dân mang hoa tươi, đồ lễ lên chùa nghe giảng kinh từ sáng sớm, rồi thực hiện nghi thức tắm Phật, cắm cờ hoa lên bảo tháp bằng cát và đổ ra đường phố, lấy nước tạt nhau chúc mừng năm mới. Thay cho lời chúc may mắn đầu năm, người dân sẽ tưng bừng chào đón năm mới với nghi thức dội nước lên người nhau. 

Người dân Capuchia múc nước từ ao hồ lên để té nhau
Người dân Capuchia múc nước từ ao hồ lên để té nhau

Tết té nước Songkran của Thái Lan mang nhiều tính chất cộng đồng. Mọi người dùng tất cả vật dụng chứa được nước thi nhau té nước vào nhau. Bất kể là ai đều có thể té nước mà không sợ bị mắng và té nước càng nhiều, năm mới càng gặp may mắn, thành đạt. Ngoài té nước, người Thái còn bôi bột mì lên mặt, lên đồ vật để trừ tà ma, xua đi rủi ro trong cuộc sống. Hoàng cung Thái và chùa Vàng những ngày này càng thêm lộng lẫy, đông vui bởi người dân sẽ lên chùa dự lễ cầu bình an cho năm mới, hoa tươi được treo khắp nơi. 

Bên cạnh đó, không khí đón Tết cổ truyền của Campuchia tưng bừng và náo nhiệt không kém. Không khí vui nhộn, đèn hoa sáng rực ở các chùa và khắp các ngả đường dẫn đến Hoàng Cung. Thủ đô Phnôm Pênh, nhà nhà treo đèn kết hoa lộng lẫy, người dân tham gia vào các hoạt động lễ hội đường phố lễ té nước, bôi bột màu…Trước những ngôi chùa, mọi người đắp những núi cát nhỏ với mong muốn xây dựng những điều tốt đẹp.

Một cảnh té nước trong Tết Lào tại Luông Pra Băng
Một cảnh té nước trong Tết Lào

Ở Lào, vào buổi chiều, người dân trong làng tập trung ở chùa để làm lễ cúng Phật, cầu nguyện, nghe các nhà sư giảng đạo. Sau đó, người ta rước tượng Phật ra một gian riêng trong ba ngày và mở cửa để mọi người có thể vào tắm Phật. Nước thơm sau khi tưới lên các tượng Phật sẽ được hứng lại đem về nhà để sức vào người làm phước. Người ta còn té nước vào các nhà sư, chùa và cây cối xung quanh chùa. Để tỏ lòng tôn kính, người trẻ tuổi té nước những người lớn tuổi để chúc sống lâu và thịnh vượng. Bạn bè té nước vào nhau. Họ không chỉ té nước vào người mà còn vào nhà cửa, đồ thờ cúng, súc vật và công cụ sản xuất. Người Lào tin rằng nước sẽ giúp gột rửa điều xấu xa, bệnh tật và cầu chúc năm mới sống lâu, sạch sẽ và mạnh khỏe. Tục lệ té nước trong ngày tết của Lào cũng có phần do thời tiết nóng bức (tháng 4 là thời điểm nóng nhất ở Lào). Trước khi té nước cho nhau, người ta thường dành cho nhau những lời chúc tốt lành.

Loan Subaru

Ngôn ngữ thân thể–Mới gặp nhau

Phụ nữ học bắt tay
Phụ nữ học bắt tay

Chào các bạn,

Bắt đầu từ hôm nay chúng ta sẽ đi sâu vào thân ngữ, thỉnh thoảng một bài. Bài đầu tiên chúng ta đã nhắc đến thân ngữ là Ngôn ngữ của cơ thể , sau đó là một ít trong bài Phỏng vấn tuyển việc. Chúng ta sẽ bắt đầu dùng từ “thân ngữ” song song với “ngôn ngữ thân thể”, vì “ngôn ngữ thân thể” là một cụm từ quen thuộc, nhưng quá rườm rà. Hy vọng mọi người sẽ dần dần quen với từ “thân ngữ” ngắn gọn hơn. Trong bài này, chúng ta nói đến thân ngữ sữ dụng trong buổi gặp mặt đầu tiên.

Hôm nay, bạn đóng vai chị Xuân, giám đốc tiếp thị của công ty quảng cáo Rền Vang đến gặp ông Cường, giám đốc điều hành công ty đồ trang trí nội thất Nhà Đẹp , tại văn phòng của ông. Cuộc họp đã được lên lịch cho 9 giờ sáng ngày hôm nay. Nhiệm vụ của bạn là tìm hiểu nhu cầu quảng cáo của Nhà Đẹp và trình bày một số đề nghị quảng cáo. Bạn và ông Cường chưa gặp nhau bao giờ.

• Nếu văn phòng thường mở cửa 8 giờ sáng, thì 9 giờ sáng là giờ làm việc mạnh nhất. Lúc này bụng còn no nhờ ăn sáng, và cũng đã có được 1 tiếng đồng hồ để “nóng máy” rồi, nên làm việc rất tốt. Giờ sau khi ăn trưa cũng tốt, nhưng giờ hẹn trước giờ nghỉ trưa, hoặc trễ vào buổi chiều khi mọi người đã mệt, thì không nên.

• Bạn nên đến trước 5 phút, và nói với cô thư ký của ông Cường là bạn có hẹn 9 giờ, bạn chỉ đến sớm một tí để tránh kẹt xe mà thôi. Mục đích là để cô thư ký và ông Cường không cảm thấy bị bạn hối thúc, trong khi thầm cảm ơn bạn đã rất quan tâm vào cuộc họp. Nhớ là nên lễ độ với cô thư ký. Trong việc nhận xét người, các giám đốc luôn luôn coi trọng ý kiến của thư ký vì “Hmm… bà ấy xem ra rất lễ độ với mình, nhưng thực ra xem thường những người không quyền hành.”

Nếu cô thư ký mời trà, thì nên cám ơn là không khát, để cô ấy khỏi phải pha trà cho bạn (Thư ký không mấy say mê làm việc vặt cho người lạ). Trong khi ngồi chờ, đừng cắm cúi đọc sách, nhưng quan sát khung cảnh trong phòng, bởi vì các quan sát này có thể cho bạn ánh sáng sáng tạo, hơn nữa nó cũng làm cho bạn sống động và thân thiện hơn. Gặp bất cứ người nào đi ngang qua cũng gật đầu khẻ và mỉm cười, vì bạn không biết ai sẽ dự phần trong quyết định ký hợp đồng. Hơn nữa, biết đâu một trong những người đi qua là ông Cường.

• Khi ông Cường ra, theo lễ nghĩa đông phương, thì bạn nên nhường người chủ nhà (và nhất là người lớn tuổi hơn) chìa tay ra trước, rồi bạn mới chìa tay ra để bắt. Tuy nhiên nếu người ấy có vẻ như không bắt tay, thì bạn nên chủ động đưa tay ra bắt, vì bạn phải chứng tỏ là bạn có bản lĩnh làm quân sư, và vì bắt tay thường có hiệu lực kéo người ta lại gần nhau hơn. Nếu là ông Cường là người tây phương (Mr. Smith), thì bạn nên chủ động đưa tay ra trước.

Bắt tay

Chỉ bắt một tay lúc này, nhất là giữa hai người Việt, và nhất là khi bạn là phụ nữ. Tí nữa ta sẽ nói khi nào có thể bắt hai tay, nhưng lúc này là lúc phải một tay. Tay bắt chặt, miệng mỉm cười, mắt nhìn vào mặt hay tốt nhất là vào mắt ông Cường, hơi gật đầu và khom lưng (chỉ một chút xíu) thì tốt. Khi gật đầu và khom lưng (một tí) thì mắt liếc xuống theo đầu, vì gật đầu khom lưng nhưng mắt cứ nhìn vào mắt đối phương là mắt của con nhà võ, không tin đối thủ, không rời mắt đối thủ một giây. Đợi ông Cường buông lỏng tay trước khi bạn buông, để tỏ lòng thân thiện. Đừng buông tay trước.

• Vào phòng, ta là khách thì cái gì cũng để chủ nhân đi trước; điều này đúng ở mọi nơi trên thế giới. Đừng ngồi sớm. Đợi khi người chủ bước đến ghế ngồi của ông ta, và vì là chủ, ông ta sẽ mời bạn ngồi trước, lúc đó mới nên ngồi. Và nếu ông ta mời trà, lúc đó nên, “Cám ơn anh. Cho em xin.” Mời trà mà từ chối là rất thất lễ, dù là người ta hoàn toàn không nghĩ thế thì trong tiềm thức người ta cũng có thể cảm thấy bị “chối bỏ.” Hầu như trong tất cả các nền văn hóa trên thế giới, khi người chủ mời các nghi lễ thân thiện, như trà nước, người khách không nên từ chối. Trong một số nền văn hóa, từ chối là một xúc phạm rất lớn. Lúc này, ông Cường có thể sẽ gọi cô thư ký của ông pha trà cho bạn, nhưng thực ra cô ấy pha trà cho ông chủ cô ấy, chứ không phải cho bạn, cho nên cô ấy sẽ rất vui vẻ pha trà.

• Tất cả các lối xưng hô ta không dùng hàng ngày mà chỉ dùng trên các công văn đọc rất chán, như tôi, ông, giám đốc, thưa ông, v.v… là ngôn ngữ không thể dùng trong giao tiếp hàng ngày. Văn hóa Việt Nam là văn hóa xưng hô gia đình — anh, chị, em, cô, chú, dì, cháu, mình, v.v… Tùy tình thế mà lựa chữ. Tuy nhiên, nếu gặp người lớn tuổi hơn nhưng không chắc là phải gọi là gì, thì cứ mạo hiểm “chị” hoặc “anh” là chắc ăn nhất, vì thà là lầm từ chú cô xuống anh chị, hơn là lầm anh chị thành cô chú. Gọi bằng chức vị, như là “Chào ông giám đốc”, theo ý mình, là người rất kém ngoại giao, không nên cho làm tiếp thị.

Ngay cả khi gặp người ngoại quốc mới lần đầu, mình cũng chỉ nên chào bằng tên họ, như là “Good morning, Mr. Smith. How do you do?” chứ không nên dùng chức vị. Nếu bạn nói tiếng Anh, thì nên có “How do you do?” trong câu chào như trên. Đây là cách chào trịnh trọng và quí phái, không phải là câu hỏi, nên không có câu trả lời. Ví dụ: Ông Smith và cô Brown gặp nhau. Ông Smith chào, “Good morning, Miss Brown. How do you do?” Cô Brown chào lại, “Good morning, Mr. Smith. How do you do?” Ngay cả khi người ta không nói “How do you do?” mình cũng có thể nói được.

Và khi một người ngoại quốc chào mình bằng tên họ, “Good morning, Ms. Trần,” mình nên cho phép họ gọi mình bằng first name cho thân mật, “Good morning, Mr. Smith. My first name is Xuân. Please call me Xuân, just plain Xuân.” Ngay khi người ta gọi mình bằng first name, nhưng lại có Mr. hay Miss trước, thì mình cũng có thể dùng câu trên để cho phép họ gọi mình chỉ là “Xuân” thân mật. Nhưng đừng tự động gọi họ bằng first name, cho đến khi họ cho phép mình rõ ràng. Và cũng đừng nên hỏi “May I call you by your first name?”

• Trong các cuộc họp đông người với quan chức Việt Nam có một lễ nghi đặc biệt, là mới gặp nhau bắt tay xong, hoặc ngồi xuống xong, là mọi người trao đổi danh thiếp. Điều này có lẽ sinh ra từ tiện nghi—phải làm thế thì mọi người mới biết ai là ai. Tuy nhiên, trong những cuộc họp ít người không nên làm thế. Dùng thời gian quý hóa “ban đầu” để nói chuyện “hâm nóng” một tí như là “Cám ơn anh. Em biết anh rất bận. Anh dành thời giờ cho em như thế này thật là quí hóa.”

Bắt tay

• Ngồi thì nên ngồi thoải mái, vắt chân thường rất tốt, nhưng không bao giờ nên tựa ra sau như là “tôi muốn tránh xa ông”, mà nên chồm người về phía trước theo kiểu “tôi muốn gần ông, tôi muốn chăm chú nghe ông nói.”

• Dù là loại họp nào thì mình cũng phải quan tâm đến điều người ta cần–nhu cầu gì, khó khăn gì, giới hạn gì–rồi sau đó mới tìm cách giải quyết được. Điều thân chủ cần trước tiên luôn luôn là một quân sư biết lắng nghe và hỏi. Chưa nghe kỹ và hỏi kỹ, mà đã cho câu trả lời và giới thiệu sản phẩm, thì đó là bán hàng rong, chứ không phải là việc của quân sư. Tất cả mọi thân chủ chỉ thích một loại quân sư—loại nghe kỹ và hỏi kỹ.

• Nếu thân chủ nói một câu có vẻ thử thách, “Sao em thấy trẻ quá vậy? Em ra trường lâu chưa?” thì trước hết là phải để ý rằng người bị thử thách hay rung đùi, hoặc nhịp bàn tay, hoặc vân vê các ngón tay, hoặc mỉm cười lạnh lùng, hoặc liếc mắt xuống đất. Phải tránh các điều này. Tập nghe các câu thử thách một cách tích cực, với ý nghĩa, “Anh muốn biết thêm một tí về em. Em nói đi.” Và mỉm cười trả lời rất vui, “Cám ơn anh. Em đi đâu cũng được khen trẻ. Em rất thích. Thực ra em ra trường cũng … năm rồi, và em đã làm một số dự án lớn cho FPT, Canon, Sony. Mấy dự án nầy đều có trong website của công ty em. Và em cũng không làm một mình anh ạ. Lại có cả một đội làm việc với em trong mọi dự án.”

• Khi nói chuyện thì để ý đến thân ngữ của thân chủ. Nếu ông ta không chú ý nhìn mình, mà lại liếc ngang liếc dọc, nhất là nhìn đồng hồ, thì hãy ngưng mọi chuyện và hỏi, “Hình như anh đang đợi gì đó ạ? Em có làm phiền anh không?” Câu này có rất nhiều ý. Thứ nhất, em xin lỗi nếu em đã phiền anh. Thứ hai, em rất ý tứ. Thứ ba, khi em nói thì anh phải lắng nghe, nếu không thì em không nói nữa. Thứ tư, nếu lúc này anh không nghe em được, thì em muốn biết để em xin cái hẹn khác, hoặc nói chuyện với với phụ tá của anh vậy. Dù là ý nào đi nữa, thì đó là một xi-nhan rất đứng đắn và chuyên nghiệp.

• Trước khi đứng dậy ra về, nhớ trao đổi danh thiếp. Nếu thân chủ đứng dậy bước ra, hãy chờ ông ta đến bước cửa trước, mình theo sau. Và đến cửa, thì người chủ thường đứng đó, mời mình bước ra cửa trước, lúc đó hãy bước ra. Các cử chỉ này chứng tỏ là, “Tôi thích ở lại đây càng lâu càng vui.”

• Cái bắt tay cuối cùng có thể như là cái bắt tay ban đầu. Nhưng bây giờ đã thân mật hơn được một tí, ta có thể dùng cách bắt hai tay rất hay của người Việt Nam—bắt một tay như bình thường, chắc chắn, và dùng bàn tay kia đặt lên trên chổ hai bàn tay đang bắt, rất ấm áp. Cách này nếu dùng với người tây phương thì cực hay. Dùng với người Việt cũng rất tốt, và dùng được cho cả người lớn hơn và nhỏ hơn.

Không nên, tay này bắt và tay kia nắm cổ tay người nọ. Cách bắt tay đó chỉ có thể dùng với bạn thân, hoặc là người dưới mình. Nếu thân chủ bắt tay kiểu đó, có nghĩa là ông ta xem mình như người dưới ông ta. Đó chưa hẳn là điều xấu, vì nó có thể là “em sẽ làm việc cho tôi” hay “tôi xem em như em của tôi.” Cứ theo hướng đó mà suy nghĩ.

• Nếu gặp người Thái Lan, thay vì bắt tay, nên chắp tay cúi đầu theo lối nhà Phật thì tốt hơn.

Nếu gặp phụ nữ Trung Đông, mà mình là đàn ông, thì nên hỏi trước: “May I shake your hand?” bởi vì Hồi giáo cấm phụ nữ bắt tay đàn ông. Và khi chào người Trung Đông, kể cả người không phải Hồi giáo, ta nên nói, “Assalamu Alaikum” (phát âm như tiếng Việt) (Bình an ở cùng anh), và người kia sẽ trả lời, “Wa alaikum assalam” (Và ở cùng anh).

• Dù là làm gì đi nữa, thì cũng nên nhớ câu “thần chú” đã nói trong bài Ngôn ngữ của thân thể: “Tất cả mọi điều ta làm ở bên ngoài đều phải được điều khiển từ trong tâm, thì mới có sức mạnh.” Trước khi vào gặp thân chủ, ta phải tập trung tư tưởng để nghĩ rằng, “Đây là người muốn mình cố vấn giúp đở, nhiệm vụ của mình là xem ông ta như là chủ của mình, phải hiểu được tất cả những khó khăn của ông ấy để giúp ông ấy.” Tức là, xem như mình là phụ tá tay phải của thân chủ; đừng nghĩ mình là người bán hàng. Chính tư tưởng này sẽ điều khiển mọi lời nói và cử chỉ của mình, kể cả ngôn ngữ thân thể.

Chúc các bạn một ngày vui vẻ,

Mến,

Hoành

Stumble It!

© Copyright 2009, TDH
Licensed for non-commercial use

Sinh trưởng của tri thức

growth
Chào các bạn,

Nhan đề đầu tiên mình dùng cho bài này là Trưởng thành của tri thức. Viết một tí mới thấy là “trưởng thành” chưa đủ nghĩa, mà phải là “sinh trưởng.” Ta không thể “trưởng” nếu ta không “sinh”. Sống mà như là “tử” thì không thể “trưởng” được (Dù là có trưởng tử 🙂 . Nhưng trưởng tử không sinh, thì cũng chỉ là tử trương có sình 🙂 ). Vì vậy, phải đổi nhan đề lại là Sinh trưởng của tri thức. Trưởng thành thực sự có nghĩa là sinh và trưởng. Nhưng, đâu là căn bản của sinh trưởng? Continue reading Sinh trưởng của tri thức

Để ý ai ?

quetduong

Trong năm học thứ hai ở trường y tá, giáo sư giao cho chúng tôi một bài kiểm. Tôi trả lời các câu hỏi vù vù, cho tới khi tôi đọc câu cuối cùng: “Tên họ của cô lao công ở trường chúng ta là gì?” Chắc đây là trò đùa rồi. Tôi đã thấy người phụ nữ đó nhiều lần, nhưng làm sao tôi biết tên cô ta được? Tôi nộp bài kiểm, nhưng không trả lời câu hỏi cuối đó. Trước khi lớp học kết thúc, một sinh viên hỏi liệu câu hỏi cuối tính vào điểm của chúng tôi. “Chắc chắn rồi,” giáo sư nói, “Trong sự nghiệp của các bạn, các bạn sẽ gặp rất nhiều người. Tất cả đều quan trọng. Họ xứng đáng được bạn quan tâm và để ý, cho dù tất cả điều bạn làm chỉ là mỉm cười và chào.” Tôi chưa bao giờ quên bài học đó. Và tôi cũng nhớ tên cô ta là Dorothy.

Nguyến Minh Hiển dịch

.

During my second year of nursing school our professor gave us a quiz. I breezed through the questions until I read the last one: “What is the first name of the woman who cleans the school?” Surely this was a joke. I had seen the cleaning woman several times, but how would I know her name? I handed in my paper, leaving the last question blank. Before the class ended, one student asked if the last question would count toward our grade. “Absolutely,” the professor said. “In your careers, you will meet many people. All are significant. They deserve your attention and care, even if all you do is smile and say hello.” I’ve never forgotten that lesson. I also learned her name was Dorothy.

Joann C. Jones