Sáng nay (10/4), lễ hội Hoa Anh Đào đã khai mạc rất hoành tráng tại Hà Nôi bằng một điệu múa truyền thống của Nhật – Yosakoi, được trình diễn bởi hơn 500 diễn viên không chuyên. Nhân dip lễ hội Hoa Anh Đào, mình cũng muốn giới thiệu với các bạn đôi nét về điệu múa này (bài giới thiệu về Yosakoi mình nhận được sáng nay!)
Yosakoi – là một loại hình nghệ thuật hiện đại đặc trưng của Nhật Bản được khai sinh từ tỉnh Kochi vào năm 1954, xuất phát từ một điệu múa truyền thống về mùa hè của Nhật. ‘Yosakoi’ là phương ngữ của Kochi, nghĩa là ‘Đêm nay mời bạn đến’. Điệu múa này là sự kết hợp giữa các động tác múa truyền thống, nền nhạc hiện đại cùng với dụng cụ múa đặc sắc Naruko tạo nên một Yosakoi rất sôi động và mạnh mẽ. Các điệu múa thường được dàn dựng cho những đội múa đông người. Ai cũng có thể tham gia múa Yosakoi, bất kể tuổi tác hay giới tính. Đây cũng là sự kiện nổi bật trong các kỳ lễ hội ở Nhật. Điệu múa đi kèm với các bài dân ca của Kochi với cái tên Yosakoi-Buchi.
Trang phục mặc khi biểu diễn Yosakoi rất phong phú, trong đó loại áo khoác truyền thống happi và áo yukata phối màu rực rỡ là hai thứ thường được sử dụng nhất. Các đội múa cũng thường tự thiết kế trang phục dựa trên các sự kiện lịch sử, theo xu thế thời trang thịnh hành hay theo y phục dân tộc.
Từ năm 1954, Yosakoi đã phát triển mạnh ở Nhật Bản với lễ hội hàng năm của các đội trên toàn quốc. Không những thế, sức mạnh của điệu múa đã vượt qua ngoài biên giới Nhật Bản và rất được yêu thích trên toàn thế giới, trong đó có Việt Nam.
Năm qua trong lễ hội hoa anh đào được tổ chức ở Việt Nam, tiết mục diễu hành Yosakoi là 1 trong những tiết mục được đón xem nhiệt tình nhất. Tất cả các đội, khuôn mặt tươi cười cùng với những điệu múa Yosakoi sôi động đã làm nên một ngày hội giao lưu văn hóa tuyệt vời.
Beautiful Dreamer là bản nhạc rất nổi tiếng, do Stephen Foster viết trước khi ông chết năm 1864, lúc 37 tuổi. Stephen Foster viết tổng cộng khoảng 200 bản nhạc và được xem là “cha đẻ của âm nhạc Mỹ quốc”.
Bing Crosby (1903-1977) là một ca sĩ rất nổi tiếng của Mỹ, với rất nhiều tài, kể cả khiêu vũ. Chúng ta có video Bing Crosby hát bài Beautiful Dreamer dưới đây.
Và The Beatles cũng có bản Beautiful Dreamer, chuyển từ nhạc nhẹ nguyên thủy sang nhạc kích động. Chúng ta cũng có 2 video bản này của The Beatles, theo sau video của Bing Crosby. Video 1 có hình ảnh rõ ràng, vì vậy nhiều người thích xem. Video 2 hình rất mờ, nhưng là phim quay The Beatles hát bản Beautiful Dreamer có lẽ khi còn ở Liverpool, lúc chưa ai biết The Beatles là ai.
Chúc các bạn một ngày vui !
Hoành
.
Người nằm mơ rất đẹp
Hỡi người nằm mơ rất đẹp, hãy thức dậy với anh,
Ánh sao và sương khuya đang đợi chờ em;
Ồn ào thế giới cộc cằn nghe cả ngày,
Đã được ánh trăng ru ngủ, đi mất hết rồi !
Hỡi người nằm mơ rất đẹp, nữ hoàng của bài nhạc của anh,
Hãy nghe anh theo đuổi em bằng âm điệu dịu dàng;
Những lo lắng của đám đông trong đời đã rời xa.
Hỡi người nằm mơ rất đẹp, hãy thức dậy với anh !
Hỡi người nằm mơ rất đẹp, hãy thức dậy với anh !
Hỡi người nằm mơ rất đẹp, ngoài khơi
Ngư nhân đang hát bài truyện hoang sơ
Trên dòng suối nhỏ hơi nước đã đọng về
Đợi lúc dần tan khi ngày sáng đến.
Hỡi người nằm mơ rất đẹp, hãy chiếu sáng tim anh,
Như đầu ngày chiếu sáng suối con và biển cả;
Rồi tất cả đoàn mây sầu muộn sẽ lìa xa.
Hỡi người nằm mơ rất đẹp, hãy thức dậy với anh !
Trần Đinh Hoành dịch
.
Beautiful Dreamer
Beautiful dreamer, wake unto me,
Starlight and dewdrops are waiting for thee;
Sounds of the rude world heard in the day,
Lull’d by the moonlight have all pass’d away!
Beautiful dreamer, queen of my song,
List while I woo thee with soft melody;
Gone are the cares of life’s busy throng.
Beautiful dreamer, out on the sea,
Mermaids are chaunting the wild lorelie;
Over the streamlet vapors are borne,
Waiting to fade at the bright coming morn.
Beautiful dreamer, beam on my heart,
E’en as the morn on the streamlet and sea;
Then will all clouds of sorrow depart,
Khi đối diện những địch thủ khổng lồ, ta cứ phải tập luyện dữ dội hơn, đến mức mà ta nghĩ là mình “không bao giờ làm được.” Và nếu cứ cố gắng không bỏ cuộc, ta sẽ làm được điều “không bao giờ làm được.” Đây là câu chuyện của một đội bóng luyện tập để đấu với một đội bóng mạnh rất nổi tiếng.
.
Lịch sử nghệ thuật Ấn Độ bao trùm khoảng 5.000 năm. Và như một hệ quả tất yếu, nó hết sức phức tạp và phong phú. Nghệ thuật Ấn Độ giàu có như chính các tôn giáo mà nó thể hiện, trong đó múa cổ điển được xem là tinh hoa, là đỉnh cao của nghệ thuật biểu diễn Ấn Độ.
Odissi là một trong bảy điệu múa cổ điển của Ấn Độ (Bharatnatyam, Kathak, Kathakali, Manipuri, Kuchipudi, Mohinyiattam và Odissi). Vũ điệu này có nguồn gốc từ Bang Orissa – phía Đông Ấn độ.
Vũ điệu Odissi được xem là một trong những vũ điệu cổ xưa nhất còn tồn tại (dựa vào các bằng chứng về khảo cổ học). Điệu múa Odissi được đề cập rất nhiều trong những câu chữ khắc trên bia đá, hoặc được chạm trổ trên những công trình điêu khắc ở các đền đài Hindu Brahmeswara, và đền Mặt trời ở Konark.
Theo luận thuyết Natya Sashtra, điệu múa Odissi đã có từ thế kỷ thứ 2 trước Công Nguyên. Odissi hiện nay là kết quả của một quá trình dài, tổng hợp và biên tập lại từ những điệu múa truyền thống của bang Orissa như Mahari, Gotipua và Bhandanritya. (Mahari là vũ nữ đền đài, bản sao của vũ nữ Devadasi ở phía Nam. Gotipua là nam giới trong trang phục nữ và múa giống vũ nữ Mahari. Theo qui định, sau 18 tuổi, những vũ nữ, vũ nam này không được phép vào đền thờ).
Sau thế kỷ thứ 17, vũ điệu Odissi bị sút giảm uy tín đáng kể. Có một dạo, các vũ nữ này bị mọi người khinh rẻ và coi thường. Vì thế, vào thời điểm này, không ai dám theo học múa Odissi. Tuy nhiên, đến năm 1950, vũ điệu Odissi được hồi sinh nhờ vào công của ông Kalicharan Pattanayaka.
Odissi rất giống điệu múa Bharatnatyam nổi tiếng ở Tamil Nadu (miền Nam Ấn Độ), với những động tác múa độc đáo được thể hiện chủ yếu ở hông, chân và nét mặt. Điệu múa biểu cảm với những đường cong của cơ thể, những chuyển động của mắt, các bước nhảy và xoay tròn kèm theo nhiều kiểu di chuyển bàn tay. Điều này tạo cho Odissi một nét khác biệt, độc đáo với những ngôn từ rất riêng.
Vũ điệu Odissi thể hiện một cách đầy đủ truyền thuyết về Thần Krishna – sự hóa thân lần thứ 8 của thần Vishnu (thần bảo hộ trong Ấn độ giáo và Bà La Môn giáo, đã giáng trần nhiều lần để cứu độ). Điệu múa Odissi nhẹ nhàng, trữ tình miêu tả khung cảnh của Orissa và triết lý liên quan đến vị thần được yêu chuộng nhất – thần Jagannath (hình thái khác của thần Krishna).
Hôm trước chúng ta đã có chương Givingcủa The Prophet của Kahlil Gibran. Hôm nay chúng ta sẽ đọc chương về Tình Yêu. Phần tiếng Anh nguyên thủy theo sau phần tiếng Việt. Cuối cùng là link đến video, với nhạc Angeli (thiên thần) của Guy Farley.
Do not stand at my grave and weep, là bài thơ của Mary Frye. Năm 2001, tiểu thuyết gia kiêm nhà soạn nhạc người Nhật, Arai Mitsuru, đã dịch sang tiếng Nhật, và phổ nhạc cho bài thơ này. Lúc đầu, ông chỉ phát hành 30 dĩa đơn để tặng cho bạn bè thân quen. Ngày 28/8/2003 bài hát tiếng Nhật này được đăng trên báo Asahi và bắt đầu gây được tiếng vang. Năm 2005, bài hát này được biểu diễn trong buổi hòa nhạc từ thiện, kỷ niệm 10 năm trận động đất thế kỷ ở Hanshin – Osaka. Năm 2006, ca sĩ Akikawa Masafumi xuất bản đĩa đơn bài hát này và gây được sự chú ý đặc biệt trên toàn nước Nhật. Ngày 22/1/2007, bài hát này đứng đầu trong bảng xếp hạng đĩa đơn hay nhất trong lịch sử nhạc cổ điển ở Nhật. Ngay khi giành được vị trí đầu bảng, tuần đầu tiên đã bán được 29,094 đĩa, tuần thứ hai (29/1/2007), 89,994 đĩa và tuần tiếp theo (5/2/2007), 101,532 đĩa.
Sau phần dịch tiếng việt của chị Loan Subaru, là lời nguyên thủy tiếng Anh, và link đến video bài hát do Akikawa Masafumi trình bày.
Mến,
Hoành
. Đừng đứng trước mộ tôi và than khóc
Đừng đứng trước mộ tôi và than khóc;
Tôi không ở đó. Tôi không ngủ.
Tôi là ngàn cơn gió thổi qua.
Tôi là kim cương lấp lánh trên tuyết.
Tôi là nắng ánh trên cánh đồng lúa chín.
Tôi là cơn mưa thu dịu dàng.
Khi bạn thức giấc trong sớm mai tĩnh lặng,
Tôi là nét vút cao rất nhanh
Của bầy chim lặng lẽ lượn vòng
Tôi là ánh sao đêm dịu dàng.
Đừng đứng trước mộ tôi và than khóc;
Tôi không ở đó. Tôi không chết.
Loan Subaru dịch
.
Do not stand at my grave and weep
Do not stand at my grave and weep;
I am not there. I do not sleep.
I am a thousand winds that blow.
I am the diamond glints on snow.
I am the sunlight on ripened grain.
I am the gentle autumn rain.
When you awaken in the morning’s hush
I am the swift uplifting rush
Of quiet birds in circled flight.
I am the soft stars that shine at night.
Do not stand at my grave and cry;
I am not there. I did not die.
Đây là một số hình ảnh lịch sử về triều đình và quan chức Việt Nam, chụp dưới thời Pháp thuộc, khoảng cuối thế kỷ 19. Anh Trần Đình Hoành và chị Trần Lê Túy-Phượng soạn thành PPS file, ghi chú do anh Hoành dịch từ các ghi chú Pháp ngữ trên các ảnh (chỗ nào còn đọc được), nhạc: Liên khúc các điệu lý Huế.
Click vào ảnh dưới đây để xem slideshow và download.
Cần file dùng cho Power Point 97-2003, click ảnh dưới đây.
Đền Itsukushima (tên tiếng Nhật: 厳島神社) là ngôi đền Thần Giáo, nằm trên đảo Itsukushima (Miyajima) ở thành phố Hatsukaichi, tỉnh Hiroshima. Thực ra ở Nhật Bản có tới 500 ngôi đền mang tên Itsukushima, nhưng đền nói trên là ngôi đền chính. Năm 1996, đền này được UNESCO công nhận là di sản thế giới. Trong đền có nhiều kiến trúc và công trình nghệ thuật được Nhật Bản xếp vào hạng quốc bảo, tài sản văn hóa quan trọng, tài sản vật thể được xếp hạng, v.v…
Đền Itsukushima được xây dựng để thờ phụng ba vị thần biển: thần Ichikishima, thần Tagori và thần Tagitsu, được tin là đang ngự bên trong ngôi chính điện của đền. Ngôi đền đầu tiên được xây dựng vào thế kỷ thứ 6 (năm 593) và đã bị tàn phá nhiều lần. Kiến trúc hiện tại của ngôi đền có từ năm 1168. Năm 1871, đền này được xếp vào hàng đền miếu cấp quốc gia. Năm 1911 lại được thăng hạng thành đền miếu hoàng gia.
Cổng đền khi thủy triều lên
Một trong những điểm hấp dẫn nhất của đền nổi Itsukushima là chiếc cổng tuyệt đệp O-torri, đứng sừng sững trên mặt biển, hướng thẳng tới đền thờ Itsukushima và cũng là biểu tượng của đảo Miyajima. Chiếc cổng O-torii hiện tại là chiếc được xây dựng năm 1875, lần xây dựng thứ tám tính từ thời Heian (794-1192). Cổng cao 16 mét trên mặt biển, bộ mái dài 24 mét, và những cây cột chính, làm từ những cây gỗ nguyên, có đường kính 1 mét. Cổng O-torii tự đứng vững bằng kết cấu khung của mình, không hề có bộ phận nào chôn dưới mặt đất. Khi thủy triều lên, cổng Torrii bập bền trên biển, khi thủy triều xuống, cổng được bị bùn bao phủ và mọi người có thể đi vào đền mà không cần tàu, thuyền.
Theo ý nghĩa nguyên thủy, torii là cái giàn cho gà đậu. Nó được đặt trước các đền chùa để ghi nhớ truyền thuyết Thần đạo về Thái Dương Thần nữ – Amaterasu. Thần Amaterasu tức giận em trai mình là thần Bão. Do đó, thần lánh vào Thiên Nham động (Amano Iwato), không thèm soi sáng mặt đất nữa, làm cho tám vạn thần linh cũng điêu đứng. Thần Tư Tưởng Omoikane bèn nghĩ ra một kế. Thần dựng trước cửa hang một giàn cho gà đậu và để một con gà trống vào đó, bên cạnh gắn một tấm gương tròn. Khi gà trống cất tiếng gáy, theo thói quen, Amaterasu thức dậy. Nhìn ra ngòai nàng thấy trong chiếc gương tròn hình bóng mình, song lại tưởng đó là một mỹ nhân xa lạ. Điều ấy khơi gợi tính tò mò của phái nữ nên thần bèn ra khỏi hang để xem ai là kẻ dám cả gan cạnh tranh sắc đẹp với mình. Ngay lập tức cả thế gian lại được chiếu sáng và cuộc sống trở lại rộn ràng.
Cổng đền khi thủy triều xuống
Đền nổi Itsukushima là một trong những ví dụ khác thường nhất về kiến trúc tôn giáo trên thế giới. Tòan bộ quần thể bao gồm ngôi đền chính, nhiều đền thờ nhỏ khác bố trí bao quanh, một sân khấu kịch Noh, một phòng tấu nhạc và nhiều cây cầu cùng hành lang nối liền các khu vực khác nhau trong đền. Tổng chiều dài các hành lang lên đến 300 mét. Xây dựng trên bãi đất ven biển và dập dềnh trên mặt biển khi triều lên. Công trình hoàn toàn không sử dụng một chiếc đinh kim lọai nào trong khi xây dựng và những kẻ hở giữa các tấm sàn được tính tóan khéo léo sao cho có thể giảm bớt áp lực của triều cường khi có bão lớn. Một vài tấm gỗ cổ được dùng để làm ván sàn có kích thước tới 1,5 mét rộng và trên 10 mét dài, và những tấm gỗ khổng lồ này đã được vận chuyển vượt hàng trăm dặm từ miền Bắc Nhật Bản để tới Miyajima. Một trong những cây cầu nổi tiếng dẫn tới đền thờ là cầu Soribashi – Cầu Đại diện Hòang gia. Được xây năm 1557, cầu dành riêng cho những đại thần quý tộc đại diện cho Thiên hòang tới viếng đền. Chỉ vào những dịp đó, các bậc thang mới được lắp vào. Ngoài ra, cầu và lối vào đền không bao giờ được sử dụng.
Loan Subaru
Come share the wine là môt trong những bản nhạc nổi tiếng của Al Martino, ca sĩ người Mỹ gốc Ý, nổi tiếng thế giới với rất nhiều nhạc phẩm lừng danh, kể cả các nhạc phẩm hát trong vai ca sĩ Johnny Fontane trong bộ phim Godfather.
Bản Đến đây cùng uống (Come share the wine) nói đến tâm sự của những kẻ xa nhà. Bản này mình dịch lời ra tiếng Việt và nối link ở đây để tặng các bạn sinh viên học sinh xa nhà, nhất là các du học sinh và nghiên cứu sinh ở nước ngoài, thật là rất XA nhà, và đặc biệt cho Đọt Chuối Non admin Nguyễn Minh Hiển, ở Connecticut, rất xa Hà Nội. Nếu các bạn có ứa lệ khi nghe, thì nhớ rằng mình có thể hiểu được từng giọt lệ của các bạn, vì chính mình đã như thế không biết bao nhiêu năm, và thỉnh thoảng ngay cả bây giờ.
Sau phần lời Việt là lời Anh, và video Al Martino hát.
Chúc các bạn một ngày vui !
Hoành
.
Đến đây cùng uống
Đường tối và trời đêm lạnh, nhưng tôi bước một mình
Ánh sáng tôi thấy từ một nơi ấm cúng, đèn lồng đỏ sáng
Ai đó gọi, “Đừng đợi ngoài đó, vào đây với nhau.”
Bên trong mọi người đang hát những bài ca tôi biết thời còn trẻ
Và từ máy đĩa tôi nghe một âm hưởng cần tưởng nhớ.
Tôi hát theo từng bài, tôi biết tất cả mọi bài.
Đến đây cùng uống
Chẳng có ai lạ ở đây, họ là bạn của bạn và của tôi
Mọi người là anh em của bạn, chúng ta rất ra nhà.
Và ta cần nhau, đừng sợ, bạn được chào đón nơi đây.
Đến đây cùng uống
Rất tốt và ấm trong này, chúng tôi rất vui và hiền
Chúng tôi có thể hiểu bạn rất xa nhà
Và chúng ta có nhau, đừng sợ, bạn sẽ thích nơi đây.
Khó mà cảm tưởng được như ở nhà khi nhà rất xa
Khi mọi nhớ nhung và mọi ước muốn là của ngày qua
Các bạn đã cho tôi chút bình an trong tâm này, tôi muốn ở lại đây
Thế giới hình như lạnh hơn khi bạn là người lạ từ miền đất lạ
Bạn cần cảm giác có người quan tâm và hiểu mình
Nước mắt sẽ tan mau nếu ta nắm tay nhau
Đến đây cùng uống
Không ai lạ ở đây, họ là bạn của bạn và của tôi
Mọi người là anh em của bạn, chúng ta rất xa nhà
Và ta cần nhau, đừng sợ, bạn được chào đón nơi đây.
Đến đây cùng uống
Chỗ này rất tốt và ấm, chúng tôi rất vui và hiền
Chúng tôi có thể hiểu là bạn rất xa nhà
Nhưng ta có nhau, đừng sợ, bạn sẽ thích nơi đây.
Trần Đình Hoành dịch
.
Come Share The Wine
The street were dark and the night was cold and yet I walk alone
I saw the lights of a cosy place with lanterns all aglow
Somebody cried, “Don’t wait outside, come say, hello”
The people there, they were singing songs I knew when I was young
And from the jukebox I heard a sound I needed to recall.
I sang along with every song, I knew them all.
Come share the wine
No one is a stranger here, they’re your friends and mine
Everyone’s your brother, we’re a long way from home
And we need each other, have no fear, you’re welcome here.
Come share the wine
It’s so nice and warm in here, we’re happy and kind
We can understand that you’re a long way from home
And we have each other, have no fear, you’ll like it here.
It is not so easy to feel at home when home’s so far away
When all the longing and all the wanting is for yesterday
You’ve made me find some peace of mind I’d like to stay
The world seems colder when you’re a stranger from a foreign land
You need to feel that someone cares and that they understand
Many a tear would disappear if we joined hands
Come share the wine
No one is a stranger here, they’re your friends and mine
Everyone’s your brother, we’re a long way from home
And we need each other, have no fear, you’re welcome here.
Come share the wine
It’s so nice and warm in here, we’re happy and kind
We can understand that you’re a long way from home
But we have each other, have no fear, you’ll like it here.
“Smile” là bản nhạc chính trong phim câm “Mordern Times,” năm 1936, cuốn phim câm cuối cùng của Charlie Chaplin (Sạc-lô), do chính ông viết nhạc. Đến năm 1954, John Turner và Geoffrey Parsons viết lời cho bản nhạc, và bản nhạc có tên chính thức là “Smile.” Nat “King” Cole, bố của Natilie Cole, thu đĩa bản Smile và bản nhạc lập tức nổi tiếng. Smile nhắc nhở chúng ta ý nghĩa của nụ cười trong đời mỗi người, trong mỗi phút giây, ngay cả khi cuộc đời châm chích, ngay cả khi phiền muộn… Khó khăn, nhưng ta vẫn có thể cố … cười.
Saul Griffith là guru và nhà đầu tư trong các dự án thương mại có tính cách cách mạng về năng lượng. Làm thế nào để có năng lượng sạch (để giảm sự tặng nhiệt của quả đất)? Video này thuần túy bằng tiếng Anh. Tuy nhiên bạn có thể hiểu được khái niệm dùng diều để thu năng lượng của gió–hiệu năng cao hơn chong chóng rất nhiều, vì gió trên cao mạnh hơn gió ngay trên mặt đất. Nhờ các bạn giới thiệu video này đến các chuyên gia năng lượng.
Rokia Traoke, người Mali, một quốc gia ở Tây Phi. Gia đình chị thuộc bộ lạc Bamana. Chị hòa trộn truyền thống Bamana và âm hưởng cùng kỹ thuật âm nhạc tân thời, và trở thành một sao âm nhạc ở Âu Châu. Bản “Kounandi” của chị có một âm sắc huyền bí và nhức nhối.
.
Năm 1884, Ông Charles-Edouard Hocquard theo đoàn lính viễn chinh Pháp tới xâm chiếm Việt Nam với tính cách là bác sĩ quân y, nhưng ông cũng là một nhà nhiếp ảnh đại tài. Những tấm hình ông chụp ở Việt Nam lúc đó, hiện nay có một giá trị lịch sử rất lớn. Ðó là lúc mà Pháp sắp sửa chiếm hết Việt Nam và đây cũng là những hình ảnh duy nhất còn sót lại mà chúng ta thấy được những thành trì khi xưa. Những tấm hình này được xuất bản bởi Trung Tâm Tồn Trữ Dữ Liệu Thuộc Ðịa ở Aix-en-Provence.