Category Archives: Video & PPS

Charles-Camille Saint-Saëns và giai điệu “Thiên Nga”

Saint-SaënsChào các bạn,

Trong chuyên mục Nhạc xanh ngày hôm nay, mình xin được giới thiệu về nhà soạn nhạc nổi tiếng người Pháp Charles-Camille Saint-Saëns và nhạc phẩm “Thiên Nga”. Điều thú vị là người nhạc sĩ thiên tài này đã từng đến và sống ở Việt Nam.

Charles-Camille Saint-Saëns (9/10/1835 – 16/12/1921) là một nhà soạn nhạc, nghệ sĩ organ, nghệ sị dương cầm người Pháp rất nổi tiếng với các tác phẩm như “The Carnival of the Animals”, “Danse Macabre”, “Samson and Delilah”, “Havanaise”. Ông còn là nhà du hành lớn, từng đi đến Nga, các nước Châu Âu, Châu Mỹ, Cuba, Myanma, Đông Dương…

Tác phẩm của ông gồm 13 vở Opéra, 10 bản Concerto (trong đó có 5 bản viết cho piano), 3 bản giao hưởng, thánh ca và rất nhiều bài hát, trích đoạn piano. Ông được đánh giá là thần đồng âm nhạc bẩm sinh, có địa vị chói sáng trong nền âm nhạc Pháp và cả châu Âu.

SwanTháng 3 năm 1895, ông đến Côn Đảo – Việt Nam và được Chúa đảo Louis Jacquet dành ngôi biệt thự nằm biệt lập phía bên ngoài nhà Chúa đảo (nay là Bảo tàng Côn Đảo), mặt trông ra biển, đối diện với cầu tàu 914 – một vị trí hết sức thơ mộng…để ông lưu trú trong suốt 1 tháng. Chính trong căn nhà này ông đã hoàn tất 3 chương cuối của vở nhạc kịch bất hủ Brunehilda… Ngày nay, ngôi nhà trở thành Di tích Nhà Công Quán với Phòng Trưng Bày Lưu Niệm Nhạc Sĩ Camille Saint Saens với rất nhiều hình ảnh, tài liệu về người nhạc sĩ tài hoa. Bức tượng bán thân của ông được đặt trang trọng giữa nhà, còn trên vách là dòng chữ trích từ bức thư ông gửi cho Chúa đảo trước khi từ biệt: “Ở đâu cái đẹp được tôn trọng thì ở đó tội ác bị đẩy lùi, ở đó chẳng cần đến luật pháp” (trích thư gửi Chúa đảo Louis Jacquet tháng 4/1895).

The SwanSau đây, xin mời các bạn thưởng thức nhạc phẩm “Thiên Nga”, do nghệ sĩ violoncell Tanja Derwahl biểu diễn. Đây là một nhạc phẩm thuộc chương thứ 13, và nổi tiếng nhất trong tập nhạc 14 chương “The Carnival of The Animals” của ông. Bản nhạc được viết cho độc tấu Violoncell cùng với 2 cây piano. Giai điệu mượt mà, tuyệt đẹp của bản nhạc này được ví như con thiên nga đang lướt nhẹ nhàng và duyên dáng trên mặt hồ.

Loan Subaru

 

Dionne Warwick & Friends và That’s What Friends Are For

that'swhatfriendsarefor
Nhạc Xanh xin mời các bạn thưởng thức hai bản nhạc. Bài hát thứ nhất “That’s What Friends Are For” và bài thứ hai :”I Just Called to Say I Love You.”

Bài hát “That’s What Friends Are For” do Burt Bacharach và Carole Bayer Sager viết; Rob Stewart đã hát như bài hát chủ đề kết thúc bộ phim hài Night Shift vào năm 1982. Ba năm sau bài hát trở thành nổi tiếng khi được Dionne Warwick và những người bạn gồm Stevie Wonder, Gladys Knight, và Elton John trình bày lại để gây quỹ từ thiện ở Anh và Mỹ.

“That’s What Friends Are For” được thu âm để lấy tiền quyên góp cho Tổ Chức Nghiên Cứu Bệnh AIDS ở Mỹ ( American Foundation for AIDs Research) và thu được hơn 3 triệu đô la cho mục đích này. Bản nhạc này đứng ở vị trí số 1 suốt 4 tuần tháng 1/ 1986 trong bảng xếp hạng Billboard, và được Billboard chọn là đĩa đơn hay nhất của năm 1986. Sau đó nhóm nghệ sĩ này đoạt được giải Grammy dành cho “Nhóm Trình Diễn Nhạc Pop Hay Nhất “ và đoạt giài “ Bài Hát Của Năm “ vào năm 1986.

Bài hát này sau đó còn trở thành chủ đề cho một đêm nhạc từ thiện lớn lấy tên của bài hát tại thành phố New York nhằm quyên góp cho nạn nhân AIDS. Một tháng sau đêm nhạc được phát trên kênh truyền hình CBS với “That’s What Friends Are For” là bài hát kết thúc chương trình nhạc 2 giờ có sự tham gia của Warwick và tất cả nghệ sĩ khách mời danh tiếng. Đêm nhạc đã thu thêm được hơn 2,5 triệu đô la nữa cho các hoạt động cứu trợ nạn nhân AIDS.

“That’s What Friends Are For” được xếp hạng 51 trong danh sách Billboard cho Những Bản Nhạc Hay Nhất của Mọi Thời Đại.

Xin giới thiệu với các bạn đôi nét về 2 tài năng đã hát bài này : nữ danh ca Dionne Warwick và ca sĩ huyền thoại Stevie Wonder.

Dionne_That's_What_Friends_are_for_group_shot

Dionne Warwick sinh ngày 12/12 / 1940, tại East Orange, New Jersey, Mỹ. Bà là ca sĩ, diễn viên, nhà hoạt động phong trào rất nổi tiếng. Bà là Đại sứ Toàn cầu của Liên Hiệp Quốc cho Tổ Chức Lương Nông ( Food and Agriculture Organization), từng là Đại Sứ của Mỹ về Y tế và Nhân đạo. Theo tạp chí Billboard, Dionne Warwick là một tài năng âm nhạc, xếp thứ hai trong danh sách Billboard Hot 100 ( chỉ sau Aretha Franklin ) với 56 CD đạt đỉnh cao trong tổng số 100 của kỹ nguyên nhạc rock 1955-1999. Warwick cũng được xếp thứ 20 trong tổng số 200 ca sĩ hát nhạc Pop nổi tiếng được hâm mộ nhất.

Warwick bắt đầu hát solo từ năm lên 6 trong hát lễ nhà thờ, sau đó trong ban nhạc Drinkard Singers, và trong ban nhạc gia đình với người cô, em gái, và em trai của bà. Bà ra mắt lần đầu trên TV vào cuối thập niên 1950 ở đài truyền hình New Jersey và New York. Tốt nghiệp trung học East Orange năm 1959, bà được trao một học bổng đại học về âm nhạc ở Hatford, Connecticut, cũng tại trường đại học này bà được cấp bằng Tiến sĩ về Giáo dục Âm nhạc.

dionne-warwick

Bài thứ hai là bài hát được trao giải Oscar 1984. Bài hát Hay Nhất trong phim The Woman In Red với giọng ca huyền thoại của ca sĩ khiếm thị người Mỹ gốc Phi Steve Wonder.

Steve Wonder tên khai sinh là Steveland Hardaway Judkins, sinh ngày 13/5/ 1950, tại Saginaw, Michigan. Về sau ông đổi tên là Steveland Hardaway Morris. Ông viết nhạc, biểu diễn nhiều loại nhạc cụ, nhà sản xuất các chương trình ghi âm, và là một tài năng xuất chúng về nhạc pop trong nửa cuối thế kỷ 20.

Wonder có hơn 20 đĩa xếp hạng top 10 của Mỹ, đoạt 26 giải Grammy, ( là nghệ sĩ hát solo đoạt nhiều giải nhất trong lịch sử của giải này ), với 1 giải Thành Tựu Trọn Đời, Giải cho Bài Hát Hay Nhất, và được vinh danh trong Bảo tàng Âm Nhạc với dòng nhạc Rock and Roll và với tư cách nhạc sĩ. Một điều đặc biệt về Stevie Wonder là ông bị mù bẩm sinh, đến năm 11 tuổi bắt đầu hát nhạc ở góc phố rồi ký hợp đồng với Motortown Record, và tiếp tục biểu diễn và thu âm cho hãng này. Năm 12 tuổi, cậu bé Steveland Morris đã gây ấn tượng mạnh trong lòng khán giả khi xuất hiện trong chương trình American Bandstand.

Tuy bị khiếm thị, nhưng người nghệ sĩ tài hoa này đã tự học và có thể biểu diễn điêu luyện nhiều loại nhạc cụ như piano, harmonica, trống, guitar bass, đàn organ, trống nhỏ vỗ bằng tay, đàn clavinet, vv… Khi còn thơ ấu, Stevie Wonder nổi tiếng về tài chơi harmonica, nhưng sau này ông lừng danh với tài chơi piano và với giọng ca vàng được mệnh danh là huyền thoại nhạc pop của Mỹ.
stevie_wonder

Nhiều bài hát của Stevie Wonder trở thành top hit như “I Just Called to Say I Love You” đã đoạt giải Oscar 1984 cho bài hát hay nhất trong phim The Woman in Red. Từ bài hát Blowin’ in the Wind của Bob Dylan được ông trình bày lại, hay các sáng tác của chính mình như You Are the Sunshine of My Life, My Cherie Amour, Signed, Superstition, Higher Ground, L:iving For The City, Sesame Street, hay các bản ballad như Golden Lady và All In Love Is Fair đều giản dị nhưng rất được ưa chuộng và thành top hits. Album Innervisions năm 1973 của ông đạt được 3 giải Grammy, và thành album của năm.

Với 10 bản nhạc pop xếp hạng 1 và 20 bài R & B hạng 1 ( Rhythm and Blues), với tổng số album bán được trên 100 triệu bản, Stevie Wonder được xếp hạng như nghệ sĩ da màu thứ hai đoạt giải Oscar về Bài Hát Hay Nhất, và ở vị trí 11 trên tổng số nhạc sĩ lừng danh trên bảng tổng sắp của Anh (britishhitsongwriters.com).

Vốn là một nghệ sĩ rất được Obama yêu thích, Wonder đã biểu diễn vào ngày 18/1/ 2009 trong lễ nhậm chức của Tổng thống Barack Obama tại đài tưởng niệm Abraham Lincoln. Ông đã hát 2 bài, “Brand New Day, và bài hát mới “All About The Love Again,” và cùng các ca sĩ khác bài Signed, Sealed, and Delivered .

stevie_wonder_gal_obama

Gần đây nhất, ngày 23/2/ 2009, Stevie Wonder được trao giải thưởng Gershwin Prize của Thư viện Quốc hội Mỹ ( người thứ hai được trao giải này ) vì những bài hát của ông rất được hâm mộ trong lòng những người yêu nhạc toàn thế giới. Giải thưởng này nhằm vinh danh những nghệ sĩ có tác phẩm vượt biên giới âm nhạc để tạo nên sự hiểu biết giữa con người với nhau.

Bài 1 That’s What Friends Are For

Link1 : Dionne Warwick, Stevie Wonder, Luther Vandross & Whitney Houston
.


.

Link 2 : Stevie Wonder & Dionne Warwick
.

Verse 1

And I
Never thought I’d feel this way
And as far as I’m concerned I’m glad I got the chance to say
That I do believe I love you

And if I should ever go away
Well then close your eyes and try to feel the way we do today
And than if you can’t remember…..

Chorus
Keep smilin’
Keep shinin’

Knowin’ you can always count on me
for sure
that’s what friends are for

In good times
And bad times
I’ll be on your side forever more
That’s what friends are for

Verse 2

Well you came and open me
And now there’s so much more I see
And so by the way I thank you….

Ohhh and then
For the times when we’re apart
Well just close your eyes and know
These words are coming from my heart
And then if you can’t remember….Ohhhhh
(Repeat chorus 3x)

Bài 2 I Just Called To Say I Love You ( Stevie Wonder )
.


.

No new year’s day
To celebrate
No chocolate covered candy hearts to give away
No first of spring
No song to sing
In fact here’s just another ordinary day
No April rain
No flowers bloom
No wedding Saturday within the month of June
But what it is
Is something true
Made up of these three words that I must say to you

I just called to say I love you
I just called to say how much I care
I just called to say I love you
And I mean it from the bottom of my heart

No summer’s high
No warm July
No harvest moon to light one tender August night
No autumn breeze
No falling leaves
No even time for birds to fly to southern skies
No Libra sun
No Halloween
No giving thanks to all the Christmas joy you bring
But what it is
Though old so new
To fill your heart like no three words could ever do.

I just called to say I love you
I just called to say how much I care
I just called to say I love you
And I mean it from the bottom of my heart.

I just called to say I love you
I just called to say how much I care
I just called to say I love you
And I mean it from the bottom of my heart
Of my heart
Of my heart

Các bạn có thể tùy ý post lời dịch cho bài nào trong hai bài trên đều xin hoan nghênh và tán thưởng
Thân ái chúc các bạn một ngày mới tươi hồng và một tuần làm việc vui hiệu quả

Khúc nhạc chiều lãng mạn “Serenata”

Enrico-Toselli

Chào các bạn,

Lại bắt đầu 1 tuần mới rồi nhỉ? Đối với mình, ngày đầu tuần bao giờ cũng là ngày bận rộn với một loạt meeting và khá nhiều việc để xử lý. Không biết các bạn thì thế nào nhỉ? Chắc cũng không phải ngoại lệ? Thôi thì, để tâm trạng ngày đầu tuần sảng khoái, trước khi bắt tay vào công việc, xin được giới thiệu với các bạn bản “Serenata” trữ tình và lãng mạn của nhà soạn nhạc người Ý Erico Toselli! 🙂

Enrico Toselli (13/3/1883 – 15/1/1926) là nghệ sĩ dương cầm, nhà soạn nhạc nổi tiếng người Ý. Ngay từ lúc trẻ, ông đã bắt đầu sự nghiệp sáng chói của mình như là một nghệ sĩ piano cho các buổi hòa nhạc ở Ý, Châu Âu và Bắc Mỹ với danh tiếng lẫy lừng. Ông đã sáng tạc rất nhiều bài hát, cùng với hai vở nhạc kịch nổi tiếng (La cattiva Francesca – 1912 và La principessa bizzarra – 1913). Một trong những bản nhạc nổi tiếng nhất của ông là bản “Serenata” mà mình sẽ giới thiệu trong chuyên mục Nhạc Xanh ngày hôm nay.

Serenata“Serenade” (hay còn gọi là “Serenata”), nghĩa là khúc ban chiều – nhạc theo phong cách lãng mạn. Bản Serenade thường chơi vào buổi chiều tà, ở ngoài trời, và ngay dưới cửa sổ (chắc là dưới cửa sổ nhà người yêu 😀 :-D). Cho đến bây giờ, có hai bài viết theo thể Serenade nổi tiếng nhất mà chưa có bài nào vượt qua được hai bài bất hủ này. Đó là “Serenade” của Schubert và “Serenata” của Enrico Toselli.

Video clip dưới đây là bản Serenata của Enrico Toselli, do nghệ sĩ vĩ cầm kiêm nhạc trưởng nổi tiếng người Hà Lan Andre Rieu trình bày. Mời các bạn thưởng thức giai điệu mượt mà, trữ tình và lãng mạn của nhạc phẩm này. 

Chúc các bạn một tuần làm việc hiệu quả và vui vẻ! 🙂 🙂

Loan Subaru

Đàn vô hình Theremin

Theremin
Chào các bạn,

Theremin là một nhạc cụ điện tử không giây, không phím, không … đàn. Chỉ có hai ăngten và nhạc sĩ tạo ra âm thanh nhờ đụng tay vào các làn sóng điện giữ 2 ăngten này, như là các nhạc cụ thấy trong Star Wars. Đàn lấy tên của ngựời phát minh, giáo sư người Nga Léon Thérémin, lấy bằng sáng chế năm 1928.

Ngày nay môt số ít nhạc sĩ chơi nhạc cụ kỹ-nguyên-không-gian này. Dưới đây là hai videos hai nghệ sĩ trình diễn theremin. Video đầu tiên là Pamelia Kurstin, nghệ sĩ Theremin hàng đầu thế giới, trình diễn các bản nhạc nổi tiếng Autumn Leaves, Lush Life và Listen, Words Are Gone, với nhạc đệm piano.

Video thứ hai là bản nhạc chính của game “The Legend of Zelda” do Shigeru Miyamoto và Takashi Tezuka tạo ra, và Nintendo phát hành., với nhạc đệm synthersizer.

Pamelia Kurstin
.


.

The Legend of Zelda
.

Lời nhắn nhủ của các Già làng Hopi

hopi elder
Chào các bạn,

Ở xứ khô gió bờ Tây nước Mỹ, tiểu bang Arizona, bộ lạc da đỏ Hopi đã sống trong tinh thần đoàn kết, yêu thương, và can đảm từ rất xa xưa, từ trước khi Christopher Columbus đặt chân tới nước Mỹ.

“Lời nhắn nhủ của các Già làng Hopi” là lời nhắn nhủ rất lâu đời của bộ lạc Hopi, về sự tưng bừng, quyết buông mình trong dòng chảy xiết nhanh và mạnh của con sông chúng ta, xóa đi mọi cái tôi ảo tưởng, không bám vào bụi cỏ hay mỏm đá cạnh bờ mà bơi ra tận giữa giữa dòng kia. Có thật nhiều anh em đang vui mừng lễ hội ở đó 🙂

Ở giữa dòng chảy kia, chúng ta chính là chúng ta, tình yêu 🙂

Sau bài dịch của mình là 2 videos về bài này. Video đầu tiên có chữ viết nhưng không lời, và đa số hình ảnh là hình của bang Arizona với Grand Cannyon hùng vĩ và Sedona với núi đồi đỏ rực, hai thắng cảnh nổi tiếng của nước Mỹ, đã vào rất nhiều phim cao bồi viễn tây của Hollywood. Video thứ hai có nhạc da đỏ cổ truyền và lời đọc. Đây là cách đọc thơ của người Mỹ.

Chúc các bạn một ngày chảy xiết, 🙂

Hiển.
.

Ảnh (truyền thống) Người Hopi
Ảnh (truyền thống) Người Hopi

Lời Nhắn Nhủ Của Các Già làng

Các bạn thường nói với đồng bào rằng đây là Giờ Thứ Mười Một. Bây giờ các bạn phải quay lại và nói với đồng bào, đây là Giờ Đã Điểm.

Đây là những điều cần suy nghĩ:

Bạn đang sống ở đâu?
Bạn đang làm gì?
Bạn có các quan hệ gì?
Quan hệ của bạn có đúng không?
Vùng nước của bạn ở đâu?
Hãy biết về mảnh vườn của bạn.
Đã đến giờ nói về Sự Thật của bạn.
Hãy tạo ra cộng đồng của bạn.
Đối xử tốt với nhau.
Và không tìm người dẫn lối ở đâu ngoài chính mình.

Đây có thể là thời điểm tốt!

Có một dòng sông đang cuộn chảy rất nhanh.
Lớn và nhanh, đến nỗi sẽ có những người sợ hãi.
Họ sẽ cố bám vào bờ.
Họ sẽ cảm thấy như bị xé rách, và họ sẽ rất đau khổ.

Hãy biết rằng dòng sông có đích đến.
Các già làng bảo, chúng ta phải buông bờ, lao ra tận giữa dòng sông,
Mở mắt, và giữ đầu nổi trên mặt nước.

Xem ai đang ở đó với bạn và cùng mừng vui.

Người Hopi (ở Grand Canyon)
Người Hopi (ở Grand Canyon)

Ở thời điểm này trong lịch sử, chúng ta không coi gì là cá nhân, nhất là chính bản thân mình.

Vì khi tính toán cá nhân, sự trưởng thành tâm linh và cuộc hành trình của ta bị ngừng lại.

Thời gian cho sói cô đơn đã qua rồi.
Hãy họp lại.

Xóa đi chữ “đấu tranh” trong thái độ và ngôn ngữ của các bạn.

Mọi điều ta làm bây giờ phải được làm trong cung cách thiêng liêng và tưng bừng lễ hội.

CHÚNG TA LÀ NHỮNG NGƯỜI CHÚNG TA ĐANG CHỜ ĐỢI.

Các già làng.
Oraibi, Arizona
Bộ lạc Hopi

.

hopiwater
Hopi Elders’ Message

You have been telling the people that this is the Eleventh Hour.
Now you must go back and tell the people that this is The Hour.

Here are the things that must be considered:

Where are you living?
What are you doing?
What are your relationships?
Are you in right relation?
Where is your water?
Know our garden.
It is time to speak your Truth.
Create your community.
Be good to each other.
And do not look outside yourself for the leader.

Búp bê Kachina của Hopi
Búp be Kachina của Hopi

This could be a good time!

There is a river flowing now very fast.
It is so great and swift that there are those who will be afraid.
They will try to hold on to the shore.
They will feel like they are being torn apart, and they will suffer greatly.

Know the river has its destination.
The elders say we must let go of the shore, push off toward the middle of
the river,
keep our eyes open, and our heads above the water.

See who is there with you and celebrate.

At this time in history, we are to take nothing personally, least of all
ourselves!
For the moment we do, our spiritual growth and journey comes to a halt.

Vũ Hopi
Vũ Hopi

The time of the lonely wolf is over.
Gather yourselves!

Banish the word struggle from your attitude and vocabulary.

All that we do now must be done in a sacred manner and in celebration.

WE ARE THE ONES WE HAVE BEEN WAITING FOR.”

The Elders,
Oraibi, Arizona
Hopi Nation

Nothing is impossible — Không có gì là không được

vodich
Vô địch quốc gia và vô địch thế giới
2 lần vô địch Thế vận hội
5 lần thắng giải xe đạp Tour De France
Tập 12 giờ
MỖI NGÀY
Lance Armstrong
Thắng bệnh ung thư
.

16 giờ tập
4 giờ lý thuyết
4 giờ ngủ
MỖI NGÀY
Nadia Comaneci
Người đầu tiên có điếm 10 hoàn toàn
Không tăng thêm vận tốc
Chỉ ít chậm lại hơn mọi người
Làm việc cực nhọc để đạt điều đó
MỖI NGÀY
.

Kapil Dev
Ngày nay là một vận động viên chơi gôn chuyên nghiệp
Lập 35 kỷ lục thế giới
Thi đấu với chính kỷ lục của mình
MỖI NGÀY
.

Sergei Bubka
Vẫn đứng cao
Vào 350km một giờ
Mỗi giây chậm lại đều có nghĩa là thất bại
Luyện tập đến mức hoàn toàn
MỖI NGÀY
.

Michael Schumacher
6 lần vô dịch thế giới
Và vẫn còn đang đếm

Edson Arantes do Nascimento
1285 lần đá vào gôn trong 1321 trận đấu
Luyện tập trẹo đầu gối
MỖI NGÀY

Pelé
Vua Bóng Đá

Hãy tưởng tượng điều gì sẽ xảy ra
Nếu mỗi người chúng ta biểu hiện đam mê như vậy

MỖI NGÀY
.

 

Chùa Kyaiktiyo – kỳ quan huyền bí của vùng Đông Nam Á

Golden_Rock
Chùa Kyaiktiyo lúc hoàng hôn

Chùa Kyaiktiyo (còn gọi là Đá Vàng) là một trong 3 nơi hành hương rất nổi tiếng ở Myanma (xếp sau chùa Shwedagon, chùa Mahamuni). Chùa này chỉ cao 5.5m, và tọa lạc trên tảng đá lớn phủ bởi các lá vàng do những người hành hương dán lên khi đến viếng thăm chùa. Cả Chùa và tảng đá này nằm trên đỉnh của ngọn núi Kyaiktiyo. Chùa Kyaiktiyo được xây dựng vào năm 574 trước Công Nguyên và được xem như một trong những kỳ quan của vùng Đông Nam Á.

Theo truyền thuyết, Đức Phật trong một lần xuống hạ giới đã tặng một sợi tóc Golden leafcho vị ẩn sĩ tên Taik Tha. Vị ẩn sĩ này giữ gìn sợi tóc của Phật cẩn thận. Trước khi qua đời, ông trao sợi tóc lại cho người con nuôi là vua Tissa, cai trị Myanma thế kỷ XI, với lời trăn trối: hãy cất giữ xá lợi này trong một hòn đá có hình dáng như đầu của vị ẩn sĩ. Vâng lời cha, vua Tissa, với sự giúp đỡ của các thần linh, đã tìm đến hòn đá nằm trên đỉnh núi Kyaiktiyo, xây một ngôi chùa trên đỉnh để thờ cúng xá lợi Phật. Và người ta tin rằng, chính nhờ có sợi tóc của Đức Phật mà hòn đá này nằm yên trên một vị trí cheo leo hiểm hóc hàng trăm năm nay.

Golden-Rock-seaKhoảng thời gian kỳ ảo nhất trên đỉnh núi là hoàng hôn và bình minh, khi ánh mặt trời rực rỡ chiếu sáng hòn đá và những người hành hương bắt đầu cầu nguyện. Theo tục lệ, chỉ có những người đàn ông có thể lại gần khu vực Đá Vàng để có thể dán những miếng vàng dát mỏng lên, áp đầu vào hòn đá và cầu nguyện. Còn phụ nữ thì không được đi vào khu vực Đá Vàng này, nên họ chỉ có thể lặng lẽ dâng vật cúng lên các bàn thờ rồi quỳ trên nền đất, cầu nguyện hàng giờ trong khói hương mờ ảo.

 

Cái cưa gỗ – một loại nhạc cụ thật độc đáo

Nhạc cưa
Nhạc cưa

Các bạn có biết là cái cưa cũng có thể được sử dụng như một nhạc cụ không? Trên thực tế, người ta không thể tưởng tượng được cái cưa gỗ cũng có thể phát ra âm thanh hay như vậy. Âm thanh phát ra từ nhạc nhạc cưa nhẹ nhàng và cao vút, rất giống với Theremin (một trong những nhạc cụ hoàn toàn bằng điện tử, bao gồm 2 máy dao động tần số radio và 2 antenna kim loại).

Nhạc cưa đã xuất hiện hơn một thế kỷ. Có những cây cưa được làm từ loại thép bình thường cho đến những cây cưa tinh xảo được phủ vàng, trị giá hàng trăm đô-la.

ZingzaagKhi chơi nhạc cưa, thông thường, nhạc công ngồi trên ghế, kẹp cây cưa vào giữa hai chân và điều khiển bằng tay. Việc bẻ cong lưỡi cưa theo hình chữ S và kéo dọc sống lưng của lưỡi cưa, phần hình vòng cung chữ S nhằm tạo ra âm thanh. Có thể điều chỉnh cao độ bằng cách điều chỉnh vùng hình chữ S. Ngoài ra, để tạo âm thanh ngân nga, réo rắt, nhạc công có thể rung chân hoặc lắc cánh tay giữ chóp của lưỡi cưa.

Sau đây, xin giới thiệu với các bạn 1 video clip của một nhạc công nhạc cưa Nhật Bản – anh Hajime Sakita. Anh được xem là một trong những nhạc công nhạc cưa hàng đầu ở Nhật bản, từng giành được giải nhất trong liên hoan nhạc cưa Santa Cruz (Mỹ) vào năm 1997, giải nhì vào năm 2005, và lưu diễn khá nhiều nơi trên thế giới như: Cộng Hòa Sec, Hàn Quốc, Ý…Bản nhạc anh chơi trong video clip có tên là “VIOLA”. Mời các bạn thưởng thức giai điệu mượt mà, du dương và bay bổng của nhạc cưa này!

 

Huyền Thoại Âm Nhạc Sinatra và My Way

franksinatra
Nhạc Xanh hôm nay xin mời các bạn nghe bản nhạc My Way. Bản nhạc này do Paul Anka viết lại lời  từ ca khúc Pháp Comme d’habitude của Claude François và Jacques Revaux. My Way đã  trở thành một trong những bản nhạc bất hủ nhờ  giọng ca của Frank Sinatra năm 1969. Quả thực, đây là ca khúc gắn chặt với tên tuổi Frank Sinatra nhất, hơn bất kỳ ca khúc nào trong suốt 70 năm trong sự nghiệp âm nhạc của Sinatra. Cũng có nhiều nghệ sĩ khác đã trình bày bài hát này như Andy Williams, Paul Anka,  Elvis Presley, nhưng hầu như người ta chỉ nhớ tới My Way qua tiếng hát của Frank Sinatra, cũng hệt như nhạc Trịnh Công Sơn với giọng ca có một không hai của Khánh Ly. Ngoài ra, các bạn cũng có thể nghe thêm  giọng ca của ông hoàng  nhạc pop Elvis Presley hát live trong cuộc trình diễn cuối cùng tháng 6/1977. Nhạc Xanh sẽ tiếp tục giới thiệu vua nhạc pop này trong một bài khác.

Ca từ của bài My Way nói về câu chuyện của một người đã cận kề với sự ra đi,  sẵn sàng cho cái chết. Hồi tưởng lại đời mình, ông ta không chút nuối tiếc về việc mình đã sống như thế nào, bởi cho đến cuối đời ông đã làm tất cả theo cách của mình. Trước khi các bạn trải hồn mình theo giai điệu bài hát với chất giọng hoàn hảo của Sinatra, xin các bạn hãy lướt qua đôi dòng về tiểu sử với những thành tựu thực đồ sộ của người ca sĩ huyền thoại này. Và xin nhắc nhỏ, các bạn chớ quên dành ít thời gian dịch lời bài hát tuyệt vời này nhé.

Frank Sinatrađược coi là một trong số ít nghệ sĩ biểu diễn âm nhạc đại chúng (popular music) xuất sắc nhất thế giới, người đã tạo được nhiều chuẩn mực và ảnh hưởng trong âm nhạc và điện ảnh của Mỹ. Không chỉ là một ca sĩ lừng danh, Frank Sinatra còn làm nên tên tuổi trong các lĩnh vực soạn nhạc, diễn viên, đạo diễn, nhà sản xuất với hàng chục giải thưởng nghệ thuật khác nhau. Tại Mỹ, người ta đã xếp ông vào danh sách những nghệ sĩ có ảnh hưởng nhất thế kỷ 20, ngang hàng với Beatles, Elvis Presley hay Louis Amstrong.

franksinatra3

Francis Albert “Frank” Sinatra , sinh ngày 12/12/ 1915 tại Hoboken, bang New Jersey ; mất ngày 14/5/1998). Là con một trong gia đình có cha mẹ là người Ý nhập cư. Cha ông làm việc trong Đội Cứu Hỏa Hoboken. Sinatra học chưa hết bậc Trung học, đã sớm rời bỏ trường học theo nghiệp ca hát. Thực ra, đầu những năm 1930, Sinatra có một thời gian đi làm công việc giao báo, rồi thợ tán đinh. Chính vào giai đoạn này, Sinatra bắt đầu sự nghiệp ca hát. Được mẹ thuyết phục, năm 1935 ông gia nhập ban nhạc địa phương The Three Flashes; ban này sau đó đổi tên thành The Hoboken Four. Họ đoạt được giải nhất trong chương trình ca nhạc Major Bowes Amateur Hour trên sóng vô tuyến (radio ) phát trên NBC và CBS-, và hợp đồng 6 tháng hát trên sân khấu và radio toàn nước Mỹ. 1 năm sau đó, Frank chuyển sang ban nhạc của tay trumpet lừng danh Tommy Dorsey và có ngay ca khúc chiếm vị trí quán quân bảng xếp hạng – I’ll Never Smile Again.

Sau hơn 23 ca khúc ghi âm cùng nhiều ban nhạc lọt vào Top Ten Bill Board, Frank Sinatra quyết định tách ra hát solo và ký hợp đồng với hãng ghi âm Columbia Record. Kể từ đó, tên tuổi của ông  lên vùn vụt với rất nhiều ca khúc đỉnh cao, như White Christmas, Sartuday Night (Is The Lonelinest Night of the Week), People Will Say We’re In Love, Dream, I Should Care, If I Love You, You’ll Never Walk Alone. Có nhiều bài hát pop được cho là kinh điển của Sinatra như It Might As Well Be Spring,  Fly Me To The Moon, More, I Can’t Stop Loving You, The Best Is Yet To Come, Girl from Ipanema, Stranger in the Night.

Khởi đầu sự nghiệp âm nhạc trong thời kỳ nhạc swing cùng với Henry James, và Tommy Dorsey, Sinatra nổi lên như một ca sĩ hát solo rất thành công, từ đầu đến giữa thập niên 1940, và thành thần tượng của rất nhiều cô gái trẻ trong độ tuổi teen . Ông được tặng danh hiệu The Voice, bởi giọng hát rất đặc biệt, được cho là hoàn hảo: thể hiện được nhiều sắc thái khác nhau, khi thì ngọt ngào say đắm, lúc thì lại ai oán, lạnh lùng. Frank Sinatra cũng có kỹ thuật hát độc đáo, một thủ thuật từ những tay chơi kèn trumpet giúp kéo dài trường độ của một nốt nhạc tới mức kỷ lục (vào thời điểm đó). Ngoài ra, nhạc pop của Sinatra rất đậm đà chất jazz, từ kiểu nhả chữ với chất giọng nam trung có thể được đẩy lên thành nam cao tới kiểu nhạc đệm của ban nhạc, nên ông chinh phục được cả người yêu nhạc pop lẫn nhạc jazz nhờ chất giọng, kỹ thuật hoàn hảo, và đặc biệt là xúc cảm âm nhạc tha thiết dâng trào.

franksinatra2

Đầu thập niên 50, sự nghiệp của ông chửng lại, nhưng lại được phục hồi sau khi ông đoạt giải Oscar dành cho Diễn viên Phụ Xuất Sắc trong phim From Here to Eternity vào năm 1954. Ông đã ký hợp đồng với hãng Đĩa Capitol và có nhiều album được giới phê bình ca ngợi như In the Wee Small Hours, Songs for Swingin’ Lovers, Come Fly with Me, Only the Lonely Nice ‘n’ Easy. Sau khi ngưng hợp tác vơi Capitol, Sinatra lại tiếp tục gặt hái thành công với nhiều album mới như Ring-A-Ding-Ding, Sinatra at the Sands and Francis Albert Sinatra & Antonio Carlos Jobim. Ông đi lưu diễn nhiều nơi trên thế giới, là sáng lập viên của nhóm Rat Pack (qui tụ giới nghệ sĩ ở đỉnh cao danh vọng như Humprey Bogart, Dean Martin, và kết thân với những người nổi danh, trong số đó có tổng thống Mỹ John F. Kennedy. Phim truyền hình Frank Sinatra: Chân Dung và Âm Nhạc mà ông đóng vai đoạt giải Emmy. ( Giống như giải Oscar hay còn gọi giải thưởng điện ảnh của viện Hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Điện ảnh Mỹ dành cho phim, giải Grammy cho âm nhạc, giải Emmy là giải cho phim truyền hình thiên về giải trí). Ông lại ghi thêm vào danh sách dài của mình những ca khúc top hit như Strangers in the Night, My Way, và rất nhiều bài là top trong bảng xếp hạng Billboard.

Sinatra đã được 4 giải Oscar cho cả vai trò diễn viên, soạn nhạc và trình bày, 2 giải Emmy (Giải thưởng truyền hình Mỹ), 3 giải Quả cầu vàng, và nhiều giải thưởng cao quí khác như Kennedy Center Honors, năm 1983 ( cho những nghệ sĩ trọn đời cống hiến cho nền văn hóa Mỹ), giải Presidential,  Medal of Freedom từ Tổng thống Reagan năm 1985 và Congressional Gold Medal năm 1997.  Trong lĩnh vực âm nhạc,   nhân vật huyền thoại này đã nhận 13 giải Gramm, trong đó bao gồm giải Grammy Thành Tựu Trọn Đời (1965), có tới 209 ca khúc và 55 album lọt vào bảng xếp hạng Bill Board, rất nhiều trong số đó  ở vị trí quán quân.

Với sự thay đổi thị hiếu của người nghe trong dòng nhạc pop, ông mất dần số người ưa chuộng cùng với doanh thu từ nhạc và phim giảm đáng kể, Sinatra ngưng tất cả vào năm 1971. Thế nhưng niềm đam mê ca hát của ông chưa tắt, năm 1973 ông lại  xuất hiện, thu âm thêm nhiều album, có thêm một bài hát thành công vang dội nữa vào năm 1977 : Bài hát chủ đề cho bộ phim New York, New York. Ông tiếp tục đi lưu diễn trên đất Mỹ và trên thế giới cho đến 2 năm trước khi ông mất vào năm 1998,  sau một cơn đau tim ở tuổi 82.

LINKS

1. My Way ( Frank Sinatra )

2. My Way  ( Luciano Pavarotti and Frank Sinatra )

3. My Way ( Elvis Presley ; live in the last concert of June 21 , 1977 )


My Way
(words and music by François, Revaux Thibault, Anka)

And now, the end is near;
And so I face the final curtain.
My friend, Ill say it clear,
Ill state my case, of which Im certain.

I’ve lived a life thats full.
I’ve traveled each and evry highway;
And more, much more than this,
I did it my way.

Regrets, Ive had a few;
But then again, too few to mention.
I did what I had to do
And saw it through without exemption.

I planned each charted course;
Each careful step along the byway,
But more, much more than this,
I did it my way.

Yes, there were times, Im sure you knew
When I bit off more than I could chew.
But through it all, when there was doubt,
I ate it up and spit it out.
I faced it all and I stood tall;
And did it my way.

I’ve loved, I’ve laughed and cried.
I’ve had my fill; my share of losing.
And now, as tears subside,
I find it all so amusing.

To think I did all that;
And may I say – not in a shy way,
No, oh no not me,
I did it my way.

For what is a man, what has he got?
If not himself, then he has naught.
To say the things he truly feels;
And not the words of one who kneels.
The record shows I took the blows –
And did it my way!

Thân ái chúc các bạn một ngày mới tươi hồng,  bắt đầu một tuần học tập và làm việc hiệu quả.

Đây này, cho những kẻ điên

crazy
Đây này, cho những kẻ điên.
Kẻ không hợp khung.
Kẻ nổi loạn.
Kẻ gây phiền toái.
Kẻ vuông tròn không hợp.

Here’s to the crazy ones.
The misfits.
The rebels.
The troublemakers.
The round pegs in the square holes.

.

Kẻ có cái nhìn khác thường.
Kẻ không thích quy luật.
Và chẳng tôn trọng tình trạng đứng yên.

The ones who see things differently.
They’re not fond of rules.
And they have no respect for the status quo.

.

Bạn có thể khen họ, không đồng ý với họ, trích dẫn họ,
Không tin họ, tôn vinh họ, hay bêu riếu họ.
Chỉ điều duy nhất bạn không thế làm, là lờ họ đi.
Bởi vi họ thay đổi nhiều thứ.

You can praise them, disagree with them, quote them,
disbelieve them, glorify or vilify them.
About the only thing you can’t do is ignore them.
Because they change things.

.

Họ phát minh. Họ tưởng tượng. Họ hàn gắn.
Họ khám phá. Họ sáng tạo. Họ khơi nguồn cảm hứng.
Họ đẩy nhân loại về phía trước.

They invent. They imagine. They heal.
They explore. They create. They inspire.
They push the human race forward.

.

Có lẽ họ phải điên.
Nếu không, làm sao có thể nhìn vào một giá vẽ trống không và thấy một tác phẩm nghệ thuật?
Hay ngồi trong yên lặng và nghe một bài ca chưa được viết bao giờ?
Hay nhìn một hành tinh màu đỏ và thấy một phòng thí nghiệm trên những bánh xe?

Maybe they have to be crazy.
How else can you stare at an empty canvas and see a work of art?
Or sit in silence and hear a song that’s never been written?
Or gaze at a red planet and see a laboratory on wheels?

.

Chúng tôi chế tạo dụng cụ cho những loại người này.
Trong khi một số người thấy họ là những kẻ điên,
Chúng tôi thấy họ là những thiên tài.

We make tools for these kinds of people.
While some see them as the crazy ones,
we see genius.

.

Bời vì những người đủ điên để nghĩ rằng
họ có thể thay đổi thế giới, là những người thay đổi thế giới.

Because the people who are crazy enough to think
they can change the world, are the ones who do.

Nguyễn Minh Hiển dịch

Chú thích: Đây là một quảng cáo rất nổi tiếng của Apple Computer để phát động slogan Think Different, từ năm 1997 đến 2002. Mời các bạn xem video.

.

Hùng tráng nhạc chủ đề phim “Người cuối cùng của bộ lạc Mohican”

LastOfTheMohicans(1920)Phim “Người cuối cùng của bộ lạc Mohican” được dàn dựng dựa trên tiểu thuyết cùng tên. Đây là một cuốn tiểu thuyết rất nổi tiếng của nhà văn Jamese Fenimore Cooper (1789 – 1851) – nhà văn viết tiểu thuyết đầu tiên của nền văn học Mỹ đa sắc màu. 

Tiểu thuyết “Người cuối cùng của bộ tộc Mohican”, xuất bản năm 1826, trên khung nền của một cuộc chiến tranh giành đất đai giữa hai đế quốc thực dân Anh và Pháp mà nhân vật chính ủng hộ quân Anh chống lại quân Pháp. Cuốn truyện phác họa khung cảnh thiên nhiên hùng tráng của miền đất mới với những chủ nhân thực sự của nó là những người Mohican da đỏ tính cách dữ dội nhưng chất phác, trung thực và trọng nhân phẩm, hoàn toàn cách biệt với sự sa đọa của xã hội văn minh. Những người Mohican vẫn là biểu tượng cho lòng kiên trì, can đảm chiến đấu. Cho đến con người cuối cùng, giọt máu cuối cùng, họ vẫn chiến đấu để bảo vệ cho bộ tộc của mình.

Có rất nhiều bộ phim được dàn dựng dựa trên tiểu thuyết này, ví dụ: năm 1920 – diễn viên chính Wallace Beery, năm 1932 – diễn viên chính Harry Carey, năm 1936 – diễn viên chính Randolph Scott, năm 1992 – diễn viên chính Daniel Day-Lewis. Tuy nhiên, Thư viện Quốc Hội Mỹ đánh giá bộ phim sản xuất vào năm 1920 là ấn tượng nhất và hiện được bảo quản tại US National Film Registry. 

Indiogenes
Indiogenes

Dưới đây là video clip nhạc chủ đề của phim “Người cuối cùng của bộ lạc Mohican”. Bản nhạc này có tên là “The Gael”, do nhà soạn nhạc nổi tiếng người Scotland – Dougie MacLean sáng tác vào năm 1990, trong album “The Search”. Năm 1992, Trevor Jones đã sử dụng bài này làm nhạc chủ đề của phim “Người cuối cùng của bộ lạc Mohican”.

Cảm nhận đầu tiên của mình là bản nhac này là quá tuyệt vời, thật đẹp và thật hùng tráng. Một sự kết hợp hài hòa giữa âm nhạc hiện đại và âm nhạc huyền bí, cổ xưa của những bộ lạc, thổ dân da đỏ (đặc biệt là những tiếng sáo phát ra từ cây sáo của thổ dân Mỹ). Mời các bạn thưởng thức!

 

 

Na Uy thắng giải Eurovision 2009

rybak

Na Uy đã thắng giải Eurovision tổ chức tại Moscow năm nay với mức điểm ấn tượng 387. Đây là giải bản nhạc hay nhất Âu châu hàng năm, với sự tham dự của 25 quốc gia. Iceland về nhì với 218 điểm và Azerbaijan về ba với 207. Eurovision là chương trình TV rất được yêu chuộng ở Âu châu.

Alexander Rybak của Na Uy sinh tại Minsk (Belarus) ngày 13 tháng 5 năm 1986. Và lớn lên ở Nesodden, ngay bên ngoài thủ đô Oslo của Na Uy. Anh đã chơi violon từ lúc lên 5, tự viết nhạc và tự trình diễn violon và hát. Năm 2006 anh thắng giải tài năng Kjempesjansen ở Na Uy với bản nhạc chính anh viết. Anh đã trình diễn như là người chơi violon trong nhạc kịch Người Đàn Violon Trên Nóc Nhà (Fiddler On The Roof) tại Oslo Nye Theatre (2007), và đang tham dự cuốn phim Yohan – Child Wanderer, dự định phát hành tháng 9 này.

Mời các bạn thưởng thức video ba bản nhạc thắng ba giải Eurovision cao nhất năm nay.

Hạng nhất: Norway, nghệ sĩ: Alexander Rybak
.

.

Hạng hai: Iceland, nghệ sĩ: Yohanna
.

.

Hạng ba: Azerbaijan, nghệ sĩ: AySel & Arash

Connie Talbot với SMILE và I WILL ALWAYS LOVE YOU

connietalbot

Hôm nay  các bạn sẽ nghe không chỉ một mà là hai bài hát qua một giọng ca nhí nhưng không non nớt về tài năng chút nào. Giọng ca nhí được mệnh danh giọng ca thiên thần ngọt ngào từ khi ra mắt người yêu nhạc ở nước Anh  năm 2007. Chất giọng trong trẻo và phong cách biểu diễn tự nhiên ngây thơ của cô bé chưa tròn 9 tuổi đã chinh phục người nghe và làm mềm ngay cả những trái tim sắt đá.

Connie Talbot sinh ngày 20/12/ 2000, tại Streetly, thành phố Walsal, West Midlands. Cô bé xinh xắn trở thành ca sĩ nổi tiếng sau khi lọt vào vòng chung kết cuộc thi Tài Năng Anh Quốc năm 2007 trên truyền hình. Trong cuộc thi chung kết này, cô bé hát bài The Wizard of Oz (trong album Over The Rainbow) và chỉ chịu thua Paul Potts,  37 tuổi,  hát opera trong cuộc bình chọn qua điện thoại. Hợp đồng dự kiến ký với hãng nhạc Sony BMG phải hủy bỏ do tuổi ca sĩ  còn quá nhỏ. Không lâu sau đó, cô  kí hợp đồng với hãng thu âm Rainbow, và phát hành album đầu tay của cô “Over The Rainbow” ngày 26/11/2007.

Mặc dù có những lời chỉ trích của các nhà phê bình, nhưng album đầu tay của Connie vẫn bán được hơn 250.000 bản trên khắp thế giới, và được xếp hạng 1 ở ba nước, xếp hạng 7 của Billboard Heat Seeker tại Mỹ. Sau khi phát hành album đầu tay, Connie đã biểu diễn trước khán giả và trên truyền hình ở cả châu Âu, châu Mỹ và châu Á, ở những nơi này giọng hát trẻ thơ ngọt ngào của cô bé đã làm rung động người nghe qua You Tube. Một điểm độc đáo là cô bé biết ca hát từ khi lên 2 tuổi này chưa từng trải qua một trường lớp âm nhạc nào cả, vốn liếng âm nhạc của cô trước khi đến dự cuộc thi Tài Năng Anh quốc là kinh nghiệm  hát Karaoke ở nhà.
ConnieTalbot1

Album Over The Rainbow được tái phát hành ngày 18/6/ 2008 với 1 ca khúc mới. Album thứ hai, Album Nhạc Giáng sinh của Talbot , ra mắt ngày 24/12/ 2008, và đĩa đơn đầu tiên từ album “ Three Little Birds” được phát hành ngày 10/6/2008. Các bài hát từ album này được đưa vào một trò chơi video về Talbot sắp phát hành. Đĩa đơn I Will Always Love You với một ca khúc mới được ghi âm, You Raise Me Up vừa được phát hành tại Mỹ ngày 7/4/2009.

Dù đang trên đỉnh cao của sự nghiệp ca hát, nhưng Connie vẫn tiếp tục theo học văn hóa tại trường tiểu học Blackwood và sống cùng cha mẹ tại Streetly. Mẹ cô là bà Sharon, công nhân tại nhà máy điện và cha là ông Gavin, một kĩ sư. Ngoài ra Connie còn có một em trai là Josh và em gái là Molbie. Hai ca khúc “Signature song” và “Over the Rainbow” đã được Connie hát trong đám tang của bà ngoại mình. Đó chính là những bài hát mà bà ngoại cô rất thích khi xem cô biểu diễn.
Connie Talbot được xem là một hiện tượng, và được rất nhiều người hâm mộ trên khắp thế giới về giọng ca độc đáo và tính cách đáng yêu của mình. Trong vòng hơn 1 năm qua, cô bé đã chứng tỏ rằng mình có thể sống bình thường như một cô bé học trò ở Milands, Anh, trong khi vẫn quảng bá cho các đĩa CD của mình, quay video, đón nhận các đĩa vàng và bạch kim, ký tặng CD nhạc, và xuất hiện trên các chương trình TV lớn toàn cầu. Với 5 đĩa vàng và bạch kim, có thể khẳng định cô bé sinh ra để ca hát.

Theo đề nghị của các bạn, hôm nay mình cũng sẽ không post lời dịch Tiếng Việt. Cám ơn các bạn đã hưởng ứng gửi lời dịch cho Top of The World. Mong các bạn tiếp tục đóng góp lời dịch cho góc âm nhạc hôm nay.

Link bài hát: SMILE
.

Smile, though your heart is aching
Smile, even though it’s breaking
When there are clouds in the sky
You’ll get by…
If you smile
With your fear and sorrow
Smile and maybe tomorrow
You’ll find that life is still worthwhile
If you just…

Light up your face with gladness
Hide every trace of sadness
Although a tear may be ever so near
That’s the time you must keep on trying
Smile, what’s the use of crying
You’ll find that life is still worthwhile
If you just…

Smile, though your heart is aching
Smile, even though it’s breaking
When there are clouds in the sky
You’ll get by…

If you smile
Through your fear and sorrow
Smile and maybe tomorrow
You’ll find that life is still worthwhile
If you just smile…

That’s the time you must keep on trying
Smile, what’s the use of crying
You’ll find that life is still worthwhile
If you just smile.

Link bài hát : I will Always Love You ( Connie Talbot hát chung với Whitney Houston )


If I should stay
I would only be in your way.
So I’ll go but I know
I’ll think of you
Every step of my way.

And I will always love you.
I will always love you.
(My darling, you)

Bittersweet memories,
That is all I’m taking with me.
So goodbye, please don’t cry.
We both know I’m not what you, you need.

and I will always love you.
I will always love you.

I hope life will treat you kind
And I hope you’ll have
All you’ve dreamed of.
and I do wish you joy and
happiness.
But above all this, I wish you love.
I love you i wil always love you.

And I will always always love you.
I will always love you…
i will always love you

Thân ái chúc các bạn một ngày mới tươi hồng .

The Carpenters và Top of the World

carpenters

Hôm nay xin giới thiệu với các bạn ban nhạc The Carpenters, và bài hát rất nổi tiếng của họ: Top of the World. Với lời nhạc  chan chứa tình yêu đời, yêu  người và  giai điệu mượt mà qua tiếng hát được mệnh danh  thiên thần của  Karen Anne Carpenter, mong rằng bản nhạc này sẽ đem lại những giây phút dễ chịu, vui tươi cho các bạn dù  đầu ngày hay trong lúc giải lao.

Mình sẽ  không post lời dịch Tiếng Việt lên đây để các bạn cảm nhận nét đẹp ngôn ngữ trong âm nhạc. Rất mong các bạn nghe nhạc hưởng ứng dịch hộ mình,  post lên như bài I Have A Dream.  Mình thấy các bạn đều nắm nội dung và dịch nhuyễn. Nếu các bạn thấy mình  cần post lời dịch cũng xin cho biết ý kiến.

Thông tin về ban Carpenters

Ban nhạc với bộ đôi  anh em nhà Carpenters ở nước Mỹ đã làm rung chuyển cả thế giới âm nhạc và bước lên đài vinh quang của âm nhạc ở thập niên 1970 nhờ tài năng, dòng nhạc, và cách chơi nhạc độc đáo của họ. Tuy sự nghiệp của họ không kéo dài vì cô em gái Caren Carpenter qua đời đột ngột, nhưng những bài hát của họ  vẫn còn sống mãi với thời gian. Uớc tính có khoảng 100 triệu đĩa đơn và album của Carpenters  được bán, khiến họ trở thành một trong  những ban nhạc có số lượng đĩa nhạc bán nhiều nhất thế giới. Họ đi lưu diễn khắp nơi trong suốt những năm 70. Giọng hát của Karen rất trong trẻo và diễn cảm với những giai điệu lãng mạn, dịu dàng và sâu lắng. Tuy cách ăn mặc giản dị, có phần hơi lỗi thời so với các nghệ sĩ thời bấy giờ, nhưng giọng hát, tài năng và phong cách biểu diễn của anh em nhà  Carpenters đã chinh phục được trái tim của hàng triệu khán giả trên toàn thế giới.

Người anh trai Richard Lynn Carpenter sinh ngày 15 tháng 10 năm 1946; Karen Anne Carpenter sinh ngày 2 tháng 3 năm 1950 tại New Haven, bang Connecticut. Cô mất ngày 4/2/ 1983 vì một căn bệnh còn lạ ở  giai đoạn đó: chứng chán ăn tâm lý ( anorexia nervosa). Hai anh em nhà Carpenters đã lớn lên trong  tiếng nhạc từ rất nhiều đĩa nhạc swing  mà người cha đã mua cho  họ.  Giọng hát của Les Paul và Mary Ford, Spike Jones, và Patti Page đóng một vài trò tác động lớn đến việc  Karen trở thành ca sĩ kể cả khi cô đã thành nổi tiếng. Ngay từ năm 12 tuổi, Richard đã chứng tỏ có năng khiếu thực sự về âm nhạc, đặc biệt là piano. Karen rất kính phục tài năng của anh trai và cố gắng học hỏi theo Richard.

Mùa thu năm 1964,trong khi Karen vẫn còn học tại trường trung học thì người anh trai 17 tuổi Richard đã vào học tại trường đại học bang California khoa âm nhạc   Tại đây, anh cùng người bạn thân, tay chơi tuba và bass tên là Wes Jacobs,  và Karen thành lập ra ban nhạc  Richard Carpenter Trio. Bước đầu họ thường chơi trong các vũ hội hay đám cưới, và cuối cùng đoạt giải thưởng tại cuộc thi tài năng “The Battle of the Bands” ở  Hollywood Bowl. Tháng 5 năm 1966, Karen đã ký hợp đồng với hãng thu băng đĩa Magic Lamp Records, do Joe Osborn điều hành ở Los Angeles. Đĩa đơn đầu tiên được phát hành vào mùa hè năm 1966 nhưng không thành công lắm. Sau đó, hai anh em Karen và Richard quyết định hát chung và thu thanh tất cả những ca khúc của họ, và cái tên Carpenters ra đời từ đó.

Album đầu tiên của Carpenters ra mắt vào tháng 11 năm 1969.  Đĩa đơn đầu tiên Ticket to Ride đứng thứ 54 trong số những bài hát được yêu thích;  bài Close to You có doanh số bán kỷ lục, với 6 tuần ở  ví trí thứ nhất và liên tục đứng thứ 4 nhiều tuần sau đó. Bài hát trở thành bài hát đầu tiên trong 17 của 20 đĩa đơn thành công nhất của họ, trong đó có các bài “Superstar,” “Rainy Days And Mondays,” “Sing,” “Top Of The World,” và “Yesterday Once More.” Từ đĩa đơn “Close To You” năm 1970 tới “A Kind Of Hush” năm 1976,  Carpenters  có một chuỗi thành công liên tục thật bất ngờ. Đặc biệt tại Nhật Bản, những đĩa của Carpenters vẫn là những đĩa có số lượng bán chạy nhất, vượt qua cả vua nhạc Pop Micheal Jackson và ban nhạc Eagles.

Top of the World của The Carpenters là một trong số những bản nhạc gắn liền với tên tuổi của The Carpenters.  Thoạt đầu bài hát xuất hiện trên album bạch kim  A Song For You vào tháng 6 / 1972. Sau đó bài hát được phát  hành như  đĩa đơn ở Nhật và đạt đĩa vàng. Năm  1973 hai anh em phát hành lại  bài hát này, và  nó lập tức ở vị trí dẫn đầu trong  danh sách Billboard Hot 100, trở thành đĩa đơn  thứ hai xếp hạng nhất toàn nước Mỹ của họ.

Link 1    Top of The World (biểu diễn năm 1974 ở Hòa Lan)

.

Link 2 :  Top of the World ( biểu diễn  năm  1978  trong chương trình TV Starparade ở Đức)

Such a feeling’s  comin’  over me

There is wonder in most everything I see

Not a cloud in the sky

Got the sun in my eyes

And I won’t be surprised if it’s a dream

Everything I want the world to be

Is now coming true especially for me

And the reason is clear

It’s because you are here

You’re the nearest thing to heaven that I’ve seen

I’m on the top of the world lookin’ down on creation

And the only explanation I can find

Is the love that I’ve found ever since you’ve been around

Your loves put me at the top of the world

Something in the wind has learned my name

And it’s telling me that things are not the same

In the leaves on the trees and the touch of the breeze

Theres a pleasing sense of happiness for me

There is only one wish on my mind

When this day is through I hope that I will find

That tomorrow will be just the same for you and me

All I need will be mine if you are here

Thân ái chúc các bạn một ngày mới tươi hồng