Trong chuyên mục Nhạc Xanh ngày hôm nay, mình xin được giới thiệu với các bạn một giai điệu rất quen thuộc. Mình tin chắc rằng các bạn đã nghe nhạc phẩm này đâu đó rất nhiều lần nhưng không để ý. Ngoài ra, bản nhạc này cũng được sử dụng cho bộ phim hài “The Great dictator” với sự diễn xuất hết sức vui nhộn của danh hài Charlie Chaplin. Đó là nhạc phẩm “Vũ khúc Hungari số 5” của nhà soạn nhạc người Đức Johannes Brahms.
* Tiểu sử (theo Wikipedia): Johannes Brahms (7/5/1833 – 3/4/1897) là một nhà soạn nhạc, chơi đàn piano và chỉ huy dàn nhạc người Đức. Các tác phẩm của ông được xếp vào chủ nghĩa lãng mạn. Trên bầu trời nghệ thuật thế giới nửa sau thế kỷ 19, âm nhạc của Johannes Brahms, với vẻ đẹp hình thức hoàn hảo và sự dung di sâu sắc của tâm hồn, như một chòm sao rực ráng. Ông là người tiếp nối các truyền thống hiện thực cổ điển và “làm giàu” chúng bằng những thành tựu của chủ nghĩa lãng mạn Đức. Âm nhạc của Johannes Brahms vừa đầy chất triết học trữ tình đặc trưng của Bach vừa mang những hình tượng âm nhạc hoành tráng và bạo liệt theo tinh thần Beethoven, nhưng cũng đậm nỗi lo âu về số phận của con người hiện đại.
Brahms sinh ngày 7/5/1833 tại thành phố cảng Hamburg, miền Bắc nước Đức, là con thứ trong gia đình một nhạc sĩ nghèo, dòng dõi thị dân, thổi flute, kèn cor, chơi contrebasse trong các nhà hàng hạng hai và hộp đêm của Hamburg. Năm 1862, đau lòng vì không tìm được một mái nhà nghệ thuật vững chắc cho riêng mình ở thành phố quê hương Hamburg, Brahms rời bỏ Tổ quốc sang sống ở Vienna (khi ấy được coi là thủ đô âm nhạc của thế giới).
10 năm ở Vienna là thời kỳ sáng tạo của Brahms đạt tới đỉnh cao huy hoàng. Trừ opera và âm nhạc theo chương trình, ông đã viết đến 380 tác phẩm thanh nhạc, 3 sonata, 5 biến tấu, 5 ballad, 3 rhapsody … cho piano, 3 sonata cho violin, 2 sonata cho cello và nhiều tác phẩm Tam tấu, Tứ tấu, Ngũ tấu … trong đó có nhiều tuyệt tác như Biến tấu theo chủ đề của Paganini (A-moll), Quintet cho piano (F-moll), Sonata số 3 cho violin, Concerto số 2 cho piano (B-dur) – một “giao hưởng” 4 chương độc đáo có phần solo của piano. Đặc biệt với các tác phẩm giao hưởng, Brahms trở thành một trong những nhân vật lỗi lạc nhất của lịch sử âm nhạc thế giới thế kỷ 19. Vinh quang dồn dập đến với Brahms. Ông được tặng huân chương Leopold của hoàng đế nước Áo, viện sĩ Viện hàn lâm Nghệ thuật Berlin, học vị tiến sĩ của Đại học Cambridge, Đại học Breslau, công dân danh dự của thành phố Hamburg … Ông cũng đã yêu vài người đàn bà, kể cả Clara Schumann, nhưng chưa bao giờ lấy vợ. Cuối đời Brahms sống cô độc, tránh xa đám đông. Chuyện rằng, chủ nhân một cuộc tiếp khách trọng thể muốn lấy lòng ông, đưa trước Brahms danh sách khách mời và đề nghị ông gạch tên bất cứ ai ông không thích, Brahms đã lấy bút gạch … tên mình ! Brahms mất ngày 3/4/1897 tại Vienna vì ung thư gan.
* Vũ khúc Hungari số 5:
Brahms viết tổng cộng đến 22 bản Vũ Khúc Hungari cho piano và violon. Đây là những biến tấu dựa trên các làn điệu dân gian Hungari. Trong 22 bản trên, bản vũ khúc số 5 nổi tiếng nhất và được xem như một kiệt tác. Vũ khúc số 5 được người nghe yêu thích nhất vì tiêt tấu của nó nổi trội hơn hẳn những bản còn lại, và nó thường được chơi trong những buổi hội hè, khi những người bạn, người thân trong gia đình tụ tập vui chơi với nhau.
Sau đây là 3 video clip: 1) Video clip do dàn nhạc giao hưởng Yorba Linda biểu diễn, 2) Video clip trong phim “The Great dictator” và 3) Video clip do ban nhạc nữ Bond biểu diễn. Mời các bạn thưởng thức và chúc các bạn một ngày thật vui!
Trong chuyên mục Nhạc Xanh hôm nay, để thay đổi không khí, mình xin được giới thiệu với các bạn một giai điệu tuyệt đẹp, có tên gọi là “Cavatina” – nhạc chủ đề cho bộ phim “The Deer Hunter” (The Deer Hunter” là một bộ phim tâm lý, chiến tranh, lấy cảm hứng từ cuốn tiểu thuyết năm 1937 của Đức, “Three Comrades”. Tác giả của cuốn sách là một cựu quân nhân đã tham gia vào Thế chiến thứ II).
Tác phẩm guitar cổ điển này được soạn vào năm 1970, bởi nhà làm phim người Anh Stanley Myers. Tác phẩm này ban đầu được viết cho piano, nhưng sau đó, theo yêu cầu của nghệ sĩ guitar cổ điển John Williams, Myers đã viết lại cho guitar cổ điển.
Cavatina lần đầu tiên được sử dụng cho bộ phim “The Walking Stick” (1970), nhưng sau đó, đến năm 1978, nó được sử dụng làm nhạc chủ đề cho bộ phim “The Deer Hunter” (1978) của đạo diễn Michael Cimono, và Myers cũng đã giành được giải thưởng Ivor Novello cho tác phẩm âm nhạc này. Ngoài ra, còn có version khác có lời dựa trên giai điệu này, gọi là “He was Beautiful” của Cleo Laine và Iris Williams. Điều này làm cho giai điệu “Cavatina” càng trở nên nổi tiếng và được yêu thích. Năm 2007, người chiến thắng trong cuộc thi “Britain’s Got Talent” – Paul Potts cũng đã thu âm bài này trong album đầu tiên của anh – có tên gọi là “Once Chance”.
Sau đây là 3 video clip: 1) Video clip do nghệ sĩ guitar cổ điển Per-Olov Kindgren biểu diễn, 2) Video clip bài hát “He was beautiful” do nữ ca sĩ Lesley Garrett biểu diễn và 3) Video clip do Paul Potts người chiến thắng trong cuộc thi “Britain’s Got Talent 2007” biểu diễn.
Mời các bạn thưởng thức giai điệu mượt mà, trữ tình của Cavatina và chúc các bạn một ngày làm việc hiệu quả!
Rất vui được gặp lại các bạn trong chuyên mục Nhạc Xanh sau một thời gian mình “ở ẩn”! 🙂 Hôm nay, mình xin được giới thiệu với các bạn đôi nét về nhà soạn nhạc người Đức Beethoven và một trong hai bản giao hưởng nổi tiếng nhất của ông: bản giao hưởng số 5 hay còn được gọi là bản giao hưởng “Định Mệnh”.
* Tiểu sử của Beethoven (theo wikipedia): Ludwig van Beethoven (17/12/1770 – 26/3/1827) là một nhà soạn cổ điển người Đức. Ông có thể được coi là người dọn đường cho thời kỳ âm nhạc lãng mạn, được khắp nơi công nhận là một trong những nhà soạn nhạc vĩ đại và ảnh hưởng tới rất nhiều những nhà soạn nhạc, nhạc sĩ, và khán giả về sau.
Beethoven sinh ra trong một gia đình nhạc sĩ. Cha của ông vốn rất ngưỡng mộ Mozart (người chỉ mới 6 tuổi đã là một nhà soạn nhạc). Thấy Beethoven còn nhỏ thích bấm lên phím piano của ông nội để lại, cha ông muốn ông trở thành một thiên tài âm nhạc như Mozart để gia đình sung sướng và danh giá nên ông được tập đàn clavio lúc ba tuổi, tiếp đó là những bài luyện đàn violon, piano, organ… Tuy nhiên, kỷ luật nghiêm ngặt của ông bố lại làm ngăn trở sự phát triển của cậu con trai. Ông bị cha mình bắt đánh đàn suốt ngày đến nỗi ngón tay bị tê dại, sưng lên. Cha ông cũng không bằng lòng và thường xuyên mắng chửi ông, có khi còn đánh đập tàn nhẫn. Cha ông thường dựng Beethoven dậy vào lúc nửa đêm để tập chơi dương cầm. Vì thế, Beethoven thường rất mệt mỏi và không tập trung được khi đến trường. Khi Beethoven được 11 tuổi, theo quyết định của cha, Beethoven phải nghỉ học để tập trung vào âm nhạc.
Cuộc sống của Beethoven cũng có rất nhiều khó khăn. Cha ông là một người nghiện rượu và thô lỗ, mẹ ông lại hay đau ốm. Vào khoảng 5 tuổi ông bị chứng viêm tai giữa nhưng bố mẹ ông không biết. Vì thế, ông đã không được điều trị hoặc điều trị không đúng cách. Có lẽ đây là nguyên nhân làm ông bị điếc về sau này.
Trong cuộc đời của mình, Beethoven đã phải chịu đựng sự hành hạ đau đớn về mặt thể xác. Vào khoảng 30 tuổi, Beethoven bắt đầu biểu lộ những triệu chứng đầu tiên của bệnh xơ hóa thính giác và triệu chứng này ngày càng tồi tệ hơn, không có cách gì cứu vãn. Đến 1818, Beethoben điếc hẳn cả hai tai.
Vào lúc 6 giờ tối ngày 20/3/1827, nhạc sĩ danh tiếng nhất thế kỉ 19 trút hơi thở cuối cùng. Đám tang của ông có hàng ngàn người đưa tiễn và ngày sau đó toàn bộ tài sản Beethoven để lại, kể cả bản thảo, đều bị đem bán đấu giá.
Trong số những tác phẩm lớn của ông phải kể đến các bản giao hưởng như Giao hưởng Anh hùng ca, Giao hưởng định mệnh, Giao hưởng Số 9, Giao hưởng đồng quê, các tác phẩm cho dương cầm như như Fur Elise, các sonata như Pathétique, Moonlight…
* Bản giao hưởng số 5:
Beethoven sáng tác bản Giao hưởng số 5vào năm 1808 khi ông 37 tuổi khi cuộc sống riêng tư bị rắc rối bởi chứng điếc ngày càng tăng. Bản giao hưởng số 5 mang âm hưởng chủ đạo là ngợi ca tình yêu cuộc sống, cuộc chiến của con người chống lại định mệnh đang gõ cửa. Bản giao hưởng gồm bốn chương (chương 1: Allegro, chương 2: Andante, chương 3: Scherzo. Allegro và chương 4: Allegro), trong đó chương 1 được xem là hay nhất và quen thuộc nhất. Toàn bộ bản giao hưởng sẽ đưa chúng ta qua 4 giai đoạn: sợ hãi, tuyệt vọng, sau cùng, thắng lợi, ngợi ca tình yêu cuộc sống.
Mời các bạn thưởng thức và chúc các bạn một ngày thật vui!
Người ta thường cho mỗi đóa hoa một ý nghĩa gì đó. Và thường thì hoa là ngôn ngữ đẹp nhất và dễ nhất để nói điều mình muốn nói, nhất là nói với phụ nữ. Mua hoa tặng nàng, không cần phải đợi dịp lễ lạy, và nhất là gửi hoa đến sở làm của nàng, thì không yêu cũng có thể thành yêu, yêu rồi sẽ yêu hơn, đang ghét cũng có thể hết ghét, hay ít ra là ghét ít hơn một tí.
File PPS này giải thích ý nghĩa của nhiều cánh hoa quen thuộc tử Pensée đến Mimosa. Mình có thêm giải thích tiếng Việt, giúp các bạn không biết tiếng Pháp.
Mời các bạn click vào ảnh dưới đây để thựởng thức và download.
Chắc chắn câu trả lời của các bạn khi được hỏi tên của 3 nữ ca sĩ hát nhạc Pop yêu thích nhất sẽ giống như của mình vì không thể thiếu tên của một nữ ca sĩ được gọi là Diva tuy không hát opera. Người ca sĩ này đã bước lên tột đỉnh vinh quang, đứng trên nấc thang cao nhất của danh vọng vì tài năng ca hát “trên cả tuyệt vời” với 5 Giải Grammy, 2 giải Oscar cho bài hát xuất sắc nhất trong phim, 11 giải World Music, 7 giải American Music, 7 giải Billboard Music, 21 giải Juno…
Hôm nay Nhạc Xanh giới thiệu với các bạn giọng ca của Céline Dion không chỉ vì những giải thưởng quốc tế lớn về âm nhạc của cô, mà chính vì cô được tôn vinh là ca sĩ của tình yêu với những bài hát bất hủ về tình yêu, khi cô trả lời phỏng vấn “tôi hát bằng trái tim tôi” chứ không bằng các bộ phận phát âm như họng, thanh quản …
Céline Marie Claudette Dion (sinh ngày 30 tháng 3 năm 1968) tại Charlemagne, Québec, Canada, là nữ ca sĩ, nhạc sĩ dòng nhạc pop người Pháp-Canada.
Từ khởi đầu rất khiêm tốn ở Charlemagne, Céline Dion đã nhanh chóng nổi lên trở thành một trong những ngôi sao quốc tế lớn nhất thành công nhất mọi thời đại trong lịch sử nhạc pop với hơn 200 triệu album được bán ra khắp thế giới.
Là con út trong một gia đình gồm 14 anh chị em, Dion lớn lên trong một môi trường đầy biến động và cả nhà phải vật lộn với những khó khăn thiếu thốn về vật chất. Tuy nhiên gia đình Dion lại đầy ắp tình yêu dành cho trẻ thơ và âm nhạc. Cha mẹ, anh chị là những người có ảnh hưởng quan trọng trong bước đầu sự nghiệp ca hát của Dion. Mới lên 5 tuổi, cô bé Dion đã hát trong quán bar nhỏ có chơi đàn piano của bố mẹ.
Năm 12 tuổi, cô đã hát một trong những bài hát đầu của mình: “”Ce N’etait Qu’un Rêve” (“It Was Only a Dream”). Bài hát này cô đã thu âm với sự giúp đỡ của mẹ và anh trai, và gửi băng ghi âm đến giám đốc Rene Angelil. Sau nhiều tuần chờ đợi, anh trai cô đã gọi điện đến Angelil và Dion có được cuộc gặp gỡ với người mà sau khi nghe cô bé 12 tuổi hát thử đã quyết tâm biến cô thành ngôi sao ca nhạc quốc tế. Celine lúc đó rất gầy, răng thì xấu, nhút nhát, không biết nói chuyện và xã giao với mọi người nhưng bù lại cô lại có giọng ca thiên phú. Angelil đã cầm cố ngôi nhà của mình để lấy tiền cho hai album thu âm đầu tiên và một đĩa đơn của cô.
Thôi học sau khi xong lớp 6, cô bắt đầu sự nghiệp ca hát. Cô trở thành ca sĩ trẻ người Canada đoạt một đĩa vàng ở Pháp và một giải thưởng lớn – huy chương vàng ở Yamaha World Popular Song Festival tại Nhật vào năm 1982.Tiếng tăm của cô đã bắt đầu vang dội trên thế giới, nhưng cô vẫn chưa với tới ngôi sao danh vọng ở Mỹ. Thành công nối tiếp thành công, hạnh phúc nối tiếp hạnh phúc sau đó nhanh chóng đến với Dion.
Năm 18 tuổi, khi thấy Michael Jackson biểu diễn trên TV, cô bảo với người quản lý (sau này là chồng của cô) rằng cô muốn trở thành ngôi sao như thế. Dion trải qua 18 tháng chỉnh trang, và thẩm mỹ tạo mới hình ảnh của mình, và nhất là khổ công học tiếng Anh cấp tốc tại môt trường học bên Anh.
Nỗ lực của cô đã được đền đáp. Thành công đến ngay sau đó; cô tiếp tục chinh phục thêm rất nhiều fan ở châu Âu với giải thưởng lớn tại Eurovision Song Contest năm 1988. Hai năm sau (1990) Album Unison được Epic Record phát hành bắt đầu cho sự chinh phục mới. Từ đó trở đi Dion đã chinh phục hàng triêu con tim của những người yêu nhạc với hàng triệu bản ghi âm bằng cả tiếng Anh và tiếng Pháp được bán ra trên toàn thế giới với giọng hát thiên bẩm. Những bài hát thành công nhất của cô: Where the My Heart Beat Now, Beauty and the Beast (1990), Power of Love, The Color of My love (1994), Because You Loved Me, All By Myself, Falling Into You (1996), Tell Him (1997), The Reason, My Heart Will Go On, I’m Your Angel (1998), I Want You To Need Me (2000).
Có thể nói thành công vang dội nhất của Dion giai đoạn này bắt đầu với bài hát chủ đề Beauty and the Beast của bộ phim Disney song ca với Peabo Bryson, thành top hit hạng 1, đoạt giải Grammy và Oscar.Album Falling Into You cũng dành được 2 giải Grammy cho Album của Năm và Album nhạc Pop Hay Nhất, và liên tục ở hạng top 10 trên Billboard 100 trong suốt 59 tuần, và bán được 32 triệu bản.
Dion vinh dự đươc mời biểu diễn tại lễ khai mạc Thế Vận Hội Olympic Atlanta 1996. Và đỉnh cao danh vọng tột cùng của cô đến cùng với bài hát “My Heart Will Go On”ca ngợi tình yêu làm người nghe khắp thế giới say đắm ngất ngây và bao trái tim yêu thổn thức với bài hát chủ đề này trong bộ phim bom tấn Titanic của James Cameron. Bài hát này trở thành bất tử cả trên sóng radio và thành top hạng 1 ở nhiều nước. Album Let’s Talk About Love 1997 của cô qui tụ nhiều giọng ca nổi tiếng như Babra Streisand, Luciano Pavaroti… có bài hát này cũng trở thành album bán chạy nhất với số lượng 31 triệu bản. My Heart Will Go On được trao 1 giải Oscar “Nhạc phim hay nhất” ( Academy Award for Best Original song ), và 4 giải Grammy ( for Record of the Year, Song of the Year, Best Female Pop Vocal Performance and Best Song Written for a Motion Picture, Television or Other Visual Media).
Dion đã tham gia nhiều các tổ chức nhân đạo như Quỹ Céline Dion, Quỹ Canada Chống Lại Căn Bệnh U Nang trong đó cô là người bảo trợ hay như Quỹ Tưởng Nhớ Công Nương Diana.
Ngoài Bắc Đẩu Bội Tinh được nước Cộng Hòa Pháp trao tặng, người ca sĩ này còn được ĐH Laval ở Québec trao tặng học vị tiến sĩ danh dự bởi tài năng nghệ thuật cũng như những giá trị nhân văn sâu sắc của cô. Giáo sư Hiệu trưởng Brière đề cao giá trị của Céline Dion, người phụ nữ luôn biết quan tâm đến người nghèo với một trái tim chứa đựng những giá trị nhân văn sâu sắc. “Cô ấy trở thành một mẫu hình về sự chuyên nghiệp và lòng nhân ái, cũng như một nguồn cảm hứng cho tất cả chúng ta”. Mới đây, cô còn vinh dự được Tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy phong tước hiệp sĩ vì đã có những cống hiến cho sự phát triển của âm nhạc và văn hóa Pháp. Cô cùng chồng là Rene Angelil, 66 tuổi, vừa được dựng tượng trong Bảo tàng Grevin ở Paris (Pháp).
Hơn bao giờ hết, nữ ca sỹ giàu nhất hành tinh hiểu rằng tiền bạc không làm nên hạnh phúc. Cô có một con trai 8 tuổi. Và giờ đây khi ở bên cạnh chồng suốt ngày đêm, Dion tin rằng bằng sức mạnh tình yêu của mình có thể kéo Rene thoát khỏi căn bệnh hiểm nghèo ung thư.
Như thế câu kết của bài giới thiệu này về Celine Dion, không phải như một siêu sao – Diva – tài năng âm nhạc, mà như một nghệ sĩ ngợi ca tình yêu, một tấm lòng nhân ái, một người phụ nữ đẹp, đầy nghị lực và chung thủy, luôn tin tưởng vào sức mạnh của tình yêu.
Sau đây mời các bạn thưởng thức 4 bài hát đặc sắc thành công nhất của Céline Dion đã được nhắc đến ở trên :
1. Beauty and the Beast – (LIVE in Memphis)
Tale as old as time
True as it can be
Barely even friends
Than somebody bends
Unexpectedly
Just a little change
Small, to say the least
Both a little scared
Neither one prepared
Beauty and the Beast
Ever just the same
Ever a surprise
Ever as before
Ever just as sure
As the sun will arise
Tale as old as time
Tune as old as song
Bittersweet and strange
Finding you can change
Learning you were wrong
Certain as the sun
Rising in the east
Tale as old as time
Song as old as rhyme
Beauty and the beast
2. Titanic – My Heart Will Go On (LIVE)
(Love Theme From “Titanic”)
Every night in my dreams
I see you. I feel you.
That is how I know you go on.
Far across the distance
And spaces between us
You have come to show you go on.
Near, far, wherever you are
I believe that the heart does go on
Once more you open the door
And you’re here in my heart
And my heart will go on and on
Love can touch us one time
And last for a lifetime
And never go till we’re one
Love was when I loved you
One true time I hold to
In my life we’ll always go on
Near, far, wherever you are
I believe that the heart does go on
Once more you open the door
And you’re here in my heart
And my heart will go on and on
There is some love that will not go away
You’re here, there’s nothing I fear,
And I know that my heart will go on
We’ll stay forever this way
You are safe in my heart
And my heart will go on and on
3. The Power of Love – BEST LIVE performance in Japan (1994)
The whispers in the morning
Of lovers sleeping tight
Are rolling like thunder now
As I look in your eyes
I hold on to your body
And feel each move you make
Your voice is warm and tender
A love that I could not forsake
(first chorus)
‘Cause I am your lady
And you are my man
Whenever you reach for me
I’ll do all that I can
Lost is how I’m feeling lying in your arms
When the world outside’s too
Much to take
That all ends when I’m with you
Even though there may be times
It seems I’m far away
Never wonder where I am
‘Cause I am always by your side
(repeat first chorus)
(second chorus)
We’re heading for something
Somewhere I’ve never been
Sometimes I am frightened
But I’m ready to learn
Of the power of love
The sound of your heart beating
Made it clear
Suddenly the feeling that I can’t go on
Is light years away
(repeat first chorus)
(repeat second chorus) 4. The Power of Dream – Live Atlanta Olympics (1996)
Deep within each heart
There lies a magic spark
That lights the fire of our imagination
And since the dawn of man
The strength of just “I can”
Has brought together people of all nations
There’s nothing ordinary
In the living of each day
There’s a special part
Every one of us will play
Feel the flame forever burn
Teaching lessons we must learn
To bring us closer to the power of the dream
As the world gives us its best
To stand apart from all the rest
It is the power of the dream that brings us here
Your mind will take you far
The rest is just pure heart
You’ll find your fate is all your own creation
Every boy and girl
As they come into this world
They bring the gift of hope and inspiration
Feel the flame forever burn
Teaching lessons we must learn
To bring us closer to the power of the dream
The world unites in hope and peace
We pray that it will always be
It is the power of the dream that brings us here
There’s so much strength in all of us
Every woman child and man
It’s the moment that you think you can’t
You’ll discover that you can
Feel the flame forever burn
Teaching lessons we must learn
To bring us closer to the power of the dream
The world unites in hope and peace
We pray that it will always be
It is the power of the dream that brings us here
Feel the flame forever burn
Teaching lessons we must learn
To bring us closer to the power of the dream
The world unites in hope and peace
We pray that it will always be
It is the power of the dream that brings us
The power of the dream
The faith in things unseen
The courage to embrace your fear
No matter where you are
To reach for your own star
To realize the power of the dream
To realize the power of the dream
Thân ái chúc các bạn một ngày mới tươi hồng rộn ràng những khúc nhạc xanh và tràn ngập tình yêu, yêu người, yêu cuộc sống …
Trong chương trình Nhạc Xanh hôm nay, chúng ta có bản nhạc hiphop chủ đề của WCAG 2.0 rất hay. Nhưng ý nghĩa của nó thì còn hay hơn nhiều, vì bản nhạc này nhằm truyền bá Tiêu Chuẩn Tiếp Cận Nội Dung Mạng Toàn Cầu, là tiêu chuẩn đặc biệt cho computers và các loại máy có thể dùng trên Mạng (ví dụ, điện thoại di động), để những người khuyết tật có thể sử dụng. Hôm nay chúng ta hãy nghe bản nhạc này để cùng vui với các bạn khuyết tật.
Hãy dùng một phút để biết WCAG 2.0 là gì. Truớc hết ta có W3C. Đây là tên viết tắt của World Wide Web Consortium, là một tổ chức bất vụ lợi nhằm thiết lập tiêu chuẩn cho mạng Internet trên thế giới. W3C thành lập năm 1994 tại phòng thí nghiệm khoa vi tính của Đại Học MIT (Mỹ), với sự hỗ trợ của Ủy Ban Âu Châu (tiền thân của Liên Minh Âu Châu) và Dự Án Nghiên Cứu Quốc Phòng Cao Cấp (Defense Advanced Research Project Agency) của Mỹ, tổ chức cha đẻ của Internet ngày nay.
W3c có một cánh tay gọi là Web Accessibility Initiative, chuyên nghiên cứu và ban hành tiêu chuẩn máy móc để người khuyết tật có thể sử dụng Internet.
Web Accessibility Initiative ban hành bộ tiêu chuẩn Web Content Accessibility Guidelines, viết tắt là WCAG. Cho đến nay đã có hai bộ. Bộ đầu tiên năm 2002 gọi là WCAG 1.0. Bộ mới năm 2005, thay thế bộ cũ, gọi là WCAG 2.0.
Bài nhạc hiphop ta có ở đây là bài nhạc chủ đề (theme song) của WCAG 2.0, nhằm phát động chiến dịch đưa WCAG 2.0 đến các nhà sản xuất máy móc. Trong video của bản nhạc này ta sẽ thấy computers và các máy móc người khuyết tật dùng, và nghe tiếng giọng nói computer, là giọng mà các ngưởi khiếm thị nghe khi dùng phần mềm cho người khiếm thị.
Cám ơn anh Trần Bá Thiện đã giới thiệu bản nhạc và link. Mình mong là tất cả chúng ta trên Đọt Chuối Non sẽ quan tâm hơn đến đời sống của các bạn khuyết tật. Mình cũng mong có sự đóng góp và hướng dẫn thường xuyên của các bạn khuyết tật, vì mình thì hơi sáng trong một số chuyện, nhưng thật là tù mù về các vấn đề liên hệ đến các bạn khuyết tật. Mình rất muốn được biết thêm về cảm xúc, nhu cầu, ước muốn, công việc, thử thách, và những giấc mơ của các bạn. Và mình nghĩ rằng đa số các bạn Đọt Chuối Non cũng suy nghĩ như mình. Cám ơn các bạn nhiều lắm.
Toàn văn, kể cả lời nhạc, có dưới video link. Các bạn có thể dịch như là một English Challenge hôm nay.
Chúc mọi người một ngày vui.
Mến,
Hoành
.
.
(The New) WCAG 2.0 Theme Song
“We want to show you the WCAG”
By David MacDonald
Intro by “Sharky” the ScreenReader: [Spoken]
Sharky: “W-C-A-G, WCAG, I’m a cool DJ, SHARKY, SH-SH-SH-SHARKY, Hey I’m going crazy with this cool beat, I have much better rythym since you installed that new quantizing program. Do you want to dance?
David: No Sharky, we’ve got to get going on this song, you can dance while I sing but don’t pull yourself out of the wall socket again.
[Singing]
we’re gonna to write a new specification
it’s gonna work with the tool of verification
gonna be accessible
gonna make it testable
WCAG, WCAG
gonna make the web understandable
make it perceivable write it tangible
when its interoperable
the web will be unstoppable
WCAG, WCAG
We’re gonna show you the WCAG
We’re going to show you what this world can be
We’re going to show you the WCAG
It’s not a heavy load
to open up your code
and write the WCAG, WCAG
[Spoken]
Sharky: Hey David, I heard a guy on TV say that he’s the fastest rapper in the world, but I blow him away, watch this…[Sharky raps at 250 words a minute, then back to normal speed]…I’m a cool DJ, Sharky, WCAG…How’s that David, am I a cool rapper now?
David: Sharky, I couldn’t understand a word you said.
Sharky: Most of my blind friends understand everything I speak at that speed, would … you… like… me…to…speak…really…slow…for…you…David?
David: Very funny, c’mon let’s do this verse.
[Singing]
We’re gonna make the web a better place
For every ability and every race
Even if you’re surfing from outer space
you’ve got the WCAG, WCAG
Repeat Chorus
David Raps (uhh sort of):
So let me tell you what the WCAG is and what the WCAG’s not
The WCAG is a set of tools
Comes with a set of rules
Helps your web site
Come to life
For people with other abilities
And sensabilities
So when they hit you online
They can have a good time
Don’t matter if they’re blind
Or if they have to sign
Or if their hands start to shake
With every move they make
They can easily figure out
What you are talking about
When you follow the principles that we’re gonna lay out
Sharky:
Principle 1: Content must be Perceivable
Principle 2: Content and controls must be Understandable
Principle 3: Interface elements in the content must by Operable
Principle 4: Content must be Robust, enough to work with current and future technologies
[spoken]
Sharky:Hey your music is much more funky since you moved out of the suburbs and started hanging out downtown on street corners. I like the other theme song but it sounded a bit too unplugged and I’ve never been crazy about an unplugged sound, I like techno geek music where computers do everything and humans don’t play any instruments. Ithink it is a lot more organic when music is played buy genuine computers. When humans play it sounds so unemotionable and fake.
David: We’ll that’s just because you’re a bunch of ones and zeros there big guy.
Sharky: David, that was very mean of you to say that, you know I’ve always been very sensitive out my binary genetic coding, it’s always been a source of great emotional insecurity for me.
David: Oh, c’mon Sharky, you know I love you man, and besides, you are an awesome rapper, man you should go into American Idol.
Sharky: I’m going to be a star, I can see the headlines now, Sharky wins American Idol for people with disabilities.
Hôm nay Nhạc Xanh giới thiệu với các bạn một tài năng âm nhạc người Anh, lừng danh quôc tế như một ca sĩ, nhạc sĩ, tay trống, tay chơi keyboard, và diễn viên. Người ta nói rằng Phil Collins sinh ra để chơi trống, và hát solo bởi nhịp gõ, tiết điệu, và tài sáng tạo riêng của ông đã tạo ra một phong cách vô cùng độc đáo phù hợp với các thể loại âm nhạc mà ông chọn biểu diễn và được thừa nhận bởi những khán giả tinh tế và yêu cầu cao.
Philip David Charles, “Phil” Collins sinh ngày 30 tháng 1 năm 1951 tại Chiswick, London. Sự nghiệp âm nhạc của Collins bắt đầu như một tay trống, ban đầu với ban nhạc không mấy tên tuổi là Flamming Youth, về sau nổi tiếng với ban nhạc Rock Genesis. Vừa chơi trống, vừa hát solo rất thành công, Collins được Atlantic Records xếp vào nhóm ca sĩ solo đã bán được 150 triệu đĩa vào năm 2002.
Lên 5 tuổi, cậu bé Collins nhận được món quà Giáng sinh là một bộ trống đồ chơi. Về sau, ông cậu Mark Wade đã làm cho cậu một bộ gõ thực sự, qua đó nó đã giúp cậu luyện tập nâng cao khả năng của mình. Collins luyện tập nhạc không theo một giáo trình nào cả, ngay cả cách đọc và viết nốt nhạc ông cũng không được học qua, chủ yếu là tự học theo cách chơi học được trên tivi, và trên đài với hệ thống nốt nhạc tự chế. Đến năm 14 tuổi ông mới được đào tạo về kịch nghệ khi ông vào trường Trung học Sân Khấu Barbara Speake và đóng vai Artful Dodger trong vở nhạc kịch Oliver ( Dickens). Trong phim của Beatles- A Hard Day’s Night ông đóng một vai phụ và ngoài ra tham gia lồng tiếng cho vai diễn Romeo trong phim Romeo và Juliet (1968).
Mặc dù khởi đầu khá thuận lợi với nghề diễn viên, nhưng ông vẫn luôn tập trung vào ca nhạc. Trong thời gian ở trường Chiswick Community School Collins thành lập ban nhạc The Real Thing và sau đó gia nhập ban The Freehold với ca khúc đầu tay Lying Crying Dying. Năm 1969 anh cùng ban nhạc Flamming Youth nhận đươc hợp đồng sản xuất đĩa đầu tiên và phát hành Album Arc 2, tuy Album này không bán được nhiều. Do không mấy thành công ban nhạc sớm tan rã.
Trong vòng 6 năm, từ 1984 đến 1989 Collins đã 7 lần đoạt được vị trí số 1 trong bình chọn Billboard Hot 100 của Mỹ; ngoài lần xếp thứ nhất với album Invisible Touch ghi âm với ban nhạc Genesis.
Phong cách đa dạng mà độc đáo của Collins được thể hiện rõ nét trong các ca khúc của ông. Có những bài mang phong cách trống làm chủ như In the Air Tonight, đến những bài mang nhịp điệu Pop Sussudio hay mang đậm sắc thái chính trị, xã hội của Another Day in Paradise. Ca khúc này đến nay được cho là thành công nhất của Collins. Không chỉ có vậy, những ca khúc về tình yêu và nỗi sầu đau do dư vị ngậm ngùi của những cuộc hôn nhân không bền lâu của Collins cũng là những chủ đề sáng tác quen thuộc.
Sự nổi tiếng của ông trên thế giới đã ảnh hưởng khá nhiều đến thành công của Genesis. Ban nhạc này đã nhận được đề cử Video Của Năm 1987 của MTV cho đĩa đơn Land of Confusion.
Nhiều album khác của Collins được xếp trong số Top 30 ở Anh, Mỹ và các nước khác như Secret Policeman’s Other Ball – The Music 1982, và Something’s Going On ( của Frida, ABBA), và I Know There’s Something Going On”, trong đó Collins chơi trống và hát đôi với Frida trở thành top hit quốc tế.
Đặc biệt bài hát ballad Against All Odds (Take a Look at Me Now) là bài hát chủ đề cho bộ phim Against All Odds (1984) nhanh chóng nhảy lên hạng 1 ở Mỹ, hạng 2 ở Anh, tạo thêm danh tiếng cho người nghệ sĩ đa tài. Đây là một bài hát trữ tình, như tiếng lòng của người nghệ sĩ đã được viết ra và hát bằng tất cả cảm xúc.
Album thành công nhất của Collins là No Jacket Required có 3 bài hát top số 1 ở Mỹ được trao giải Grammy và là Album của năm.
Phil Collins cũng là nghệ sĩ tích cực tham gia cùng Bob Geldof tại chương trình âm nhạc từ thiện Live Aid và là người duy nhất trình diễn ở 2 nơi: Sân vận động Wembley ở Anh, và sân vân động JFK tại Mỹ.
Mời các bạn thưởng thức bài Against All Odds ( nhạc chủ đề phim cùng tên; được trình diễn tại chương trình từ thiện Live Aid)
Tiếp theo là bài Another Day in Paradise về những kẻ không nhà xếp hạng 1 trên Billboard cuối năm 1989 và đã đem về cho ông một giải Grammy cho ca khúc của Năm (1990).
Và bài thứ ba là True Colors mà ca từ rất đẹp bởi giàu chất nhân bản: an ủi, động viên, và yêu thương những mảnh đời khốn khó, bất hạnh đi vào lòng người nghe:
Em với đôi mắt buồn . Xin em chớ nản l òng. Vẫn biết không dễ gì can đảm trong một thế giới quá đông người mà em có thể không nhìn thấy chi. Và bóng tối trong em có thể làm em thấy nhỏ nhoi.
.
1 AGAINST ALL ODDS
.
How can I just let you walk away, just let you leave without a trace
When I stand here taking every breath with you, ooh
You’re the only one who really knew me at all
How can you just walk away from me,
When all I can do is watch you leave
Cos we’ve shared the laughter and the pain and even shared the tears
You’re the only one who really knew me at all
So take a look at me now, oh there’s just an empty space
And there’s nothing left here to remind me,
Just the memory of your face
Ooh take a look at me now, well there’s just an empty space
And you coming back to me is against all odds and that’s what I’ve got to face
I wish I could just make you turn around,
Turn around and see me cry
There’s so much I need to say to you,
So many reasons why
You’re the only one who really knew me at all
So take a look at me now, well there’s just an empty space
And there’s nothing left here to remind me, just the memory of your face
Now take a look at me now, cos there’s just an empty space
But to wait for you, is all I can do and that’s what I ‘ve got to face
Take a good look at me now, cos I’ll still be standing here
And you coming back to me is against all odds
It’s the chance I’ve gotta take
.
2/ ANOTHER DAY IN PARADISE
.
She calls out to the man on the street
sir, can you help me?
It’s cold and I’ve nowhere to sleep,
Is there somewhere you can tell me?
He walks on, doesn’t look back
He pretends he can’t hear her
Starts to whistle as he crosses the street
Seems embarrassed to be there
Oh think twice, it’s another day for
You and me in paradise
Oh think twice, it’s just another day for you,
You and me in paradise
She calls out to the man on the street
He can see she’s been crying
She’s got blisters on the soles of her feet
Can’t walk but she’s trying
Oh think twice…
Oh Lord, is there nothing more anybody can do?
Oh Lord, there must be something you can say
You can tell from the lines on her face
You can see that she’s been there
Probably been moved on from every place
cos she didn’t fit in there
Oh think twice…
.
3. TRUE COLORS
.
You with the sad eyes
Don’t be discouraged
Oh I realize
It’s hard to take courage
In a world full of people
You can lose sight of it all
And the darkness, inside you
Can make you feel so small
But I see your true colors
Shining through
I see your true colors
And that’s why I love you
So don’t be afraid to let them show
Your true colors
True colors are beautiful,
Like a rainbow
Show me a smile then,
Don’t be unhappy, cant remember
When I last saw you laughing
If this world makes you crazy
And you’ve taken all you can bear
You call me up
Because you know I’ll be there
And I’ll see your true colors
Shining through
I see your true colors
And that’s why I love you
So don’t be afraid to let them show
Your true colors
True colors are beautiful,
Like a rainbow
[intru part]
So sad eyes
Discouraged now
Realize
When this world makes you crazy
And you’ve taken all you can bear
You call me up
Because you know I’ll be there
And I’ll see your true colors
Shining through
I see your true colors
And that’s why I love you
So don’t be afraid to let them show
Your true colors
True colors, true colors
Cos there’s a shining through
I see your true colors
And that’s why I love you
So don’t be afraid to let them show
Your true colors, true colors
True colors are beautiful,
Beautiful, like a rainbow
Thân ái chúc các bạn một ngày mới vui tươi, hiệu quả
Chỉ có hai việc chính xảy ra trong một cuộc nói chuyện hay thảo luận–đó là nói và nghe. Nhìn là phụ. Nghe quan trọng như nói. Đó là 50% của phần chính của cuộc nói chuyện. Nhưng mấy khi có lớp dạy nghe.
Sau đây là một PPS file rất hay về “Học nghe.” File này bằng tiếng Anh nhưng lại rất dễ theo dõi. Ai cũng đọc được.
Trong chuyên mục Nhạc Xanh hôm nay, mình xin được tiếp tục giới thiệu với các bạn đôi nét về nhà soạn nhạc Robert Schumann và một trong những nhạc phẩm đẹp nhất và lãng mạn nhất của ông – “Widmung” (dịch sang tiếng Anh là “Dedication”)
1) Tiểu sử (theo wikipedia): Robert Schumann, hay Robert Alexander Schumann (8/6/1810 – 29/7/1856) là một nhà soạn nhạc và phê bình âm nhạc nổi tiếng của Đức. Ông là một trong những nhà soạn nhạc lãng mạn lừng danh nhất thế kỷ 19. Đầu đời, Schumann theo đuổi ước mơ trở thành một nghệ sĩ violon và mong muốn này bắt nguồn từ sự động viên của thầy giáo ông là Friedrich Wieck, người đã khuyên Schumann rằng ông có thể trở thành nghệ sĩ violon bậc nhất châu Âu. Tuy nhiên, một chấn thương tay đã cản trở ước muốn này của Schumann và ông đã quyết định dồn sức lực cho việc soạn nhạc. Ông soạn nhạc cho piano và dàn nhạc, sáng tác các tác phẩm lieder, giao hưởng, opera, thánh ca và thính phòng.
Năm 1840, Schumann kết hôn với nghệ sĩ piano Clara Wieck, một nhân vật có tiếng trong thời kỳ âm nhạc lãng mạn của dòng piano. Trong hai năm cuối cuộc đời, sau một vụ tự sát bất thành, Schumann bị đưa vào một viện tâm thần trong những năm cuối cuộc đời.
2) Widmung: (dịch sang tiếng Anh là “Dedication”) là một trong những nhạc phẩm bất hủ của R. Schumann. Ông đã sáng tác bài này để làm quà cưới cho người vợ của mình, nàng Clara Wieck. Ông đã thể hiện được một cách sâu sắc cảm xúc, tình cảm nồng nàn và dâng hiến, sợ hãi và mong chờ, thất vọng và cam chịu, những hy vọng và ước mơ trong cuộc sống hôn nhân của mình trong tác phẩm này. Ông soạn bài nhạc này vào những ngày đầu năm 1840 và hoàn tất vào tháng 4/1840. Đến năm 1849, Franz Liszt – nhạc sĩ chơi piano kiêm nhà soạn nhạc người Hungari đã soạn lại bài này cho độc tấu piano.
Cuộc đời và sự nghiệp của Schumann cũng đã được dựng thành phim – “Song of Love” vào năm 1947, với diễn xuất của nữ diễn viên nổi tiếng Katharine Hepburn.
Sau đây là 2 video clip: 1) Video clip do nghệ sĩ piano Van Cliburn biểu diễn và 2) Video clip trích đoạn trong bộ phim “Song of Love”. Mời các bạn thưởng thức và chúc các bạn một ngày thật vui!
Chào các bạn thứ bảy (6/6/2009) là 65 năm kỷ niệm ngày quân đồng minh đổ bộ lên bờ biển Normandy của Pháp ngày 6/6/1944), bắt đầu cuộc phản công chống Phát-Xít Đức (và khối Trục), và cuối cùng là giải phóng Âu châu và toàn thể thế giới. Chấm dứt Thế Chiến II.
Các bạn có thể nhấn ảnh tầu chiến dưới đây để xem chùm ảnh cuộc đổ bộ đó.
Đồng thời, để có thể ôn lại (hay bắt đầu học), một cách thoải mái và thích thú, toàn cảnh Thế Chiến II xảy ra thế nào từ 11/1942 đến 5/1945, các bạn có thể click vào ảnh thứ hai dưới đây để xem PPS file. Rất tốt để ôn lại lich sử trong vài phút.
Chúc các bạn một ngày vui vẻ.
Hoành
.
Chùm ảnh D-day (Đổ bộ Normandy)
.
PPS file Toàn cảnh Thế Chiến II (Khi xem, click vào mũi tên để đổi trang)
Richard St. John phỏng vấn 500 người thành công, trong 7 năm liền, với câu hỏi “Điều gì mang đến thành công?” và tổng kết kết quả trong 8 điều sau đây:
1. ĐAM MÊ (Passion)
“Tôi được đam mê của tôi thúc đẩy”—Freeman Thomas, thiết kế xe hơi cho DaimlerChrysler.
Làm vì Đam mê, không làm vì tiền
“Tôi bằng lòng trả tiền để được làm việc mà tôi đang làm”—Carol Coletta, giám đốc chương trình radio, Smart City.
2. LÀM VIỆC (Work)
“Toàn là làm việc cực nhọc. Chẳng có gì đến dễ dàng. Nhưng tôi rất thích”—Rupert Murdoch (tài phiệt báo chí truyền thông).
3. LÀM GIỎI (good)
“Để thành công, chúi mũi vào một việc nào đó, và làm việc đó hết sức giỏi”—Alex Garden, chuyên gia sáng tạo games.
Thực hành, thực hành, thực hành.
4. TẬP TRUNG (Focus)
“Tôi nghĩ thành công là do tập trung mình vào một việc”—Norman Jewishson, nhà làm phim.
5. ĐẨY (Push)
“Đẩy mình đi. Về thể chất, về tinh thần, bạn phải đẩy, đẩy, đẩy”—David Gallo, Khoa học gia về hải dương học.
Đẩy mình qua khỏi ngượng ngùng và qua khỏi nghi ngờ chính mình
“Tôi đã luôn luôn nghi ngờ chính mình. Tôi không đủ giỏi. Tôi không đủ thông minh. Tôi đã không nghĩ là mình có thể thành”—Goldie Hawn, sao điện ảnh.
Không phải lúc nào cũng dễ để tự đẩy mình, vì vậy người ta sáng chế ra MẸ.
“Mẹ tôi đẩy tôi”—Frank Gehry, kiến trúc sư.
6. PHỤC VỤ (serve)
“Thực là một ưu quyền để được phục vụ như là một bác sĩ”—Sherwin Nuland, giáo sư giải phẩu Đại học Yale.
Các nhà triệu phú phục vụ mọi người với một cái gì có giá trị.
7. Ý TƯỞNG (ideas)
“Tôi có một ý tưởng—thành lập công ty phần mềm cho máy vi tính ĐẦU TIÊN”—Bill Gates.
Để có ý tưởng: Lắng nghe, quan sát, tò mò, hỏi, giải quyết vấn đề, lập các mối quan hệ với người khác.
8. KIÊN TRÌ (persist)
“Kiên trì là yếu tố số một của thành công”—Joe Kraus, đồng thành lập công ty Excite.
Phải kiên trì qua thất bại, qua rác rến—phê phán, ruồng bỏ, phá phách, áp lực.
Kenichi Ebina tự học vũ, không có thầy. Anh phối hợp mọi loại vũ–mime, hiphop, modern dance, cùng võ thuật và ảo ảnh thị giác, để tạo ra cách vũ có một không hai. Anh có kỹ lục là “grand champion” (đại vô địch) 7 lần tại Apollo Theater, New York, một trong những theaters có uy tín nhất của Mỹ và là theater số một dành cho người da đen (và người da đen, ông tổ của các vũ điệu tân thời ngày nay).
Kenichi đã xuất hiện trên Truyền hình Mỹ, Âu châu, Trung quốc và Nhật. Mời các bạn xem Kininchi trình diễn.
John Denver (31/12/ 1943 –12/10/ 1997) là một trong những nghệ sĩ tiếng tăm được yêu mến nhất thế giới. Denver nổi tiếng không chỉ như một ca sĩ -nhạc sĩ chuyên về nhạc đồng quê – nghệ sĩ nhạc rock, mà còn là diễn viên, nhà hoạt động môi trường và nhà từ thiện. Nhạc của John đã trải dài 4 thập niên kể từ album đầu tiên ra mắt vào năm 1969, tồn tại qua nhiều khuynh hướng và dòng nhạc, và đem lại nhiều giải thưởng âm nhạc cao và vinh dự cho người nghệ sĩ tài hoa này.
John Denver sinh ở Roswell, New Mexico, có tên khai sinh là Henry John Deutschendorf, Jr., là con của một sĩ quan không lực Mỹ thuộc gia đình gốc Đức, rất nghiêm khắc với con cái. Chính gia đình bên ngoại là những người Thiên chúa Giáo Ireland và Scotland đã khuyến khích và khơi dậy tình yêu âm nhạc nơi John với cây đàn ghi ta bà ngoại tặng năm ông 12 tuổi.
Từ năm 12 tuổi John đã học chơi đàn guitar và đến khi vào đại học đã chơi rất hay ở các câu lạc bộ địa phương.
Vì nghề nghiệp của cha, gia đình thường di chuyển và sống ở nhiều nơi như Arizona, Alabama, Texas, John rất khó kết bạn và hòa hợp với các bạn đồng trang lứa. Sau này, chính âm nhạc, khả năng đàn hát đã giúp cậu bé sống nội tâm có được nhiều bạn hơn. Năm thứ ba ở trường Trung học Arlington Heights ở Forth Worth, Texas, John bỏ học, lái xe của cha lên California để theo đuổi sự nghiệp âm nhạc. Tuy nhiên khi bố bay đến đó, cậu vâng lời quay về học ở trường cũ và tốt nghiệp trung học. Năm 1963, chàng sinh viên 20 tuổi, rời bỏ giảng đường ngành Kiến trúc ở ngôi trường Đại học Texas Technological College một mình lên Los Angeles, California, trung tâm sôi động của các hoạt động âm nhạc.
Denver hát trong các câu lạc bộ nhạc Folk đầy khói thuốc dưới tầng hầm; đến năm 1965 tham gia ban nhạc folk Chad Mitchell Trio, sau đổi tên thành Mitchell Trio. Với vai trò ca sĩ chính của ban nhạc rất được mến mộ, John đã trau chuốt được tài ca hát và phát triển phong cách sáng tác độc đáo của riêng mình. Năm 1969, Denver từ bỏ ban nhạc và theo đuổi sự nghiệp hát solo, đồng thời ra mắt album đầu tay cho hảng RCA Records, trong đó có bài Leaving On A Jet Plane, được Peter, Paul, và Mary thu âm; bài hát này thành bài hát nổi tiếng xếp hạng 1 trên Billboard 100.
Không đầy 2 năm sau,John tiếp tục nổi danh như một ngôi sao hàng đầu của thập niên 70 trên bảng xếp hạng với những bài như “Take Me Home, Country Roads,” “Rocky Mountain High,” “Sunshine On My Shoulders,” “Annie’s Song,” “Back Home Again,” “Thank God I’m A Country Boy,” and “Calypso,”
Những chuyến lưu diễn qua nhiều nước trên thế giới của John và mỗi album mới phát hành lại được nhiều fan say mê và nồng nhiệt đón mừng. Denver có 14 album vàng và 8 album bạch kim ở Mỹ và không ít album vàng, bạch kim ở nhiếu nước khác
Có hai album vàng được Denver thu âm vào năm 1970: “Whose Garden Was This?” và “Take Me To Tomorrow”, là cảm hứng sáng tác của ông trong khi lái xe giong ruỗi trên những nẻo đường Trung Tây của nước Mỹ. Đặc biệt, bài hát “Whose Garden Was This?” là bài đầu tiên mà ông gửi đi một thông điệp về môi trường và nhân ái trong loạt bài hát về môi trường của ông.
Các fan hưởng ứng ngay các thông điệp này trong các bài hát, các buổi trình diễn live của John, họ ra sức thúc đẩy và xúc tiến các hoạt động về môi trường, trái đất, hòa bình và từ thiện.
Những bài hát trữ tình, ca từ đẹp như một bài thơ, với những hình ảnh quen thuộc dung dị của quê nhà, mà rất nên thơ, êm ái, hữu tình và sâu lắng, đi vào lòng người nghe, khiến những người xa quê hương thấy lòng thổn thức:
” Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ
Nơi nào qua, lòng lại chẳng yêu thương?
Khi ta ở chỉ là nơi đất ở
Khi ta đi, đất bỗng hóa tâm hồn” ( Chế Lan Viên )
Hãy lắng nghe những giai điệu của John Denver về :
Những ngọn núi, những hàng cây xưa, dòng sông quê hương, ánh trăng mờ ảo lung linh, tiếng mẹ gọi buổi sớm mai, kỷ niệm ùa về, lệ bỗng tràn lên khóe mắt, ta chợt nhớ rằng đang cách xa quê nghìn trùng, những nẻo đường quê thân yêu ơi hãy đưa ta về với quê nhà ( Take Me Home Country Road ).
Ông đã đoạt được nhiều giải thưởng như Country Music Asssociation Entertainer of the Year vào năm 1975; Emmy cho Best Variety or Musical Special năm 1977; Giải Bình Chọn của Nhân Dân 1977 và Đệ Nhất Thi Nhân bang Colorado 1977; giải thưởng Carl Sandburg năm 1983. Đặc biệt, John đã được giải thưởng Âm Nhạc danh giá Albert Schweitzer năm 1993, và vinh danh trong Bảo Tàng Âm Nhạc năm 1996.
Niềm đam mê xây dựng một cộng đồng quốc tế hiểu biết nhau ( Đông Tây) và âm nhạc không biên giới thúc đẩy ông làm một cánh én đầu tiên của mùa xuận, mở đường đến trình diễn ở những vùng đất từng là thù địch với đất nước của ông. Năm 1985, ông được Hội Nhạc Sĩ Liên Xô lúc bấy giờ mời sang biểu diễn, và đã làm xúc động người nghe toàn thế giới với bài hát ““Let Us Begin ” thu âm cùng một nghệ sĩ Nga (What Are We Making Weapons For?) . Ông còn trở lại với 2 chuyến lưu diễn ở nước này vào năm 1986, và 1987 để hoạt động từ thiện cho nạn nhân của thảm họa Chernobyl ), và đây cũng là những hoạt động trao đổi văn hóa đầu tiên trong bang giao 2 nước Mỹ Nga.
Ông cũng là nghệ sĩ phương Tây đầu tiên sang Trung quốc trong chuyến lưu diễn nhiều thành phố. Ông ngạc nhiên bởi bài hát “ Country Roads” nổi tiếng của ông viết ở phương Tây rất được ưa chuộng bởi người dân nước này.
John cũng đã đóng góp tài năng vào nhiều hoạt động từ thiện và môi trường bền vững cho các dự án cứu trợ Đói Nghèo của World Hunger, nhiều lần sang Châu Phi trong thập niên 80, tận mắt chứng kiến những đau khổ của nạn nhân, và đề xuất các giải pháp với các lãnh đạo Châu Phi, cũng như các hoạt động gây quỹ cho UNICEF v.v và nhận rất nhiều giải thưởng vinh danh những người xuất sắc về hoạt động nhân đạo.
Ngày nay, hàng triệu người hâm mộ trên toàn thế giới, xưa và nay, vẫn tiếp tục say mê các ca khúc nhạc đồng quê cũa người nhạc sĩ –ca sĩ lớn – người không biết mệt mỏi trong những nỗ lực làm gần nhau hơn thế giới Đông -Tây, kêu gọi con người quên đi thù hận và xung đột màu da, chính trị và tôn giáo. Và trên hết tiếng hát, giai điệu và ca từ của âm nhạc John Denver về tình yêu quê hương, cuộc sống, thiên nhiên, lòng nhân ái, vẫn làm rung động tâm hồn người nghe và là nguồn cảm hứng mạnh mẽ của biết bao người trên thế giới.
Sau đây mời các bạn thưởng thức ba bài hát nổi tiếng do chính John Denver sáng tác và trình bày
1. TAKE ME HOME COUNTRY ROAD
Almost heaven, West Virginia
Blue Ridge Mountains
Shenandoah River –
Life is old there
Older than the trees
Younger than the mountains
Growin like a breeze
Country roads, take me home
To the place I belong
West Virginia, mountain momma
Take me home, country roads
All my memories gathered round her
Miners lady, stranger to blue water
Dark and dusty, painted on the sky
Misty taste of moonshine
Teardrops in my eye
Country roads, take me home
To the place I belong
West Virginia, mountain momma
Take me home, country roads
I hear her voice
In the morning hour she calls me
The radio reminds me of my home far away
And driving down the road I get a feeling
That I should have been home yesterday, yesterday
Country roads, take me home
To the place I belong
West Virginia, mountain momma
Take me home, country roads
Country roads, take me home
To the place I belong
West Virginia, mountain momma
Take me home, country roads
Take me home, now country roads
Take me home, now country roads
2. SUNSHINE ON MY SHOULDERS
Sunshine on my shoulders makes me happy
Sunshine in my eyes can make me cry
Sunshine on the water looks so lovely
Sunshine almost always makes me high
If I had a day that I could give you
I’d give to you a day just like today
If I had a song that I could sing for you
I’d sing a song to make you feel this way
Sunshine on my shoulders makes me happy
Sunshine in my eyes can make me cry
Sunshine on the water looks so lovely
Sunshine almost always makes me high
If I had a tale that I could tell you
I’d tell a tale sure to make you smile
If I had a wish that I could wish for you
I’d make a wish for sunshine all the while
Sunshine on my shoulders makes me happy
Sunshine in my eyes can make me cry
Sunshine on the water looks so lovely
Sunshine almost always makes me high
Sunshine almost all the time makes me high
Sunshine almost always
3. LEAVING ON A JET PLANE
All my bags are packed
I’m ready to go
I’m standing here outside your door
I hate to wake you up to say goodbye
But the dawn is breaking
It’s early morn
The taxi’s waiting
He’s blowin’g his horn
Already I’m so lonesome
I could die
So kiss me and smile for me
Tell me that you’ll wait for me
Hold me like you’ll never let me go
cause I’m leaving on a jet plane
Don’t know when I’ll be back again
Oh babe, I hate to go
Theres so many times I’ve let you down
So many times I’ve played around
I tell you now, they don’t mean a thing
Evry place I go, I’ll think of you
Evry song I sing, I’ll sing for you
When I come back, I’ll bring your wedding ring
So kiss me and smile for me
Tell me that you’ll wait for me
Hold me like you’ll never let me go
cause I’m leaving on a jet plane
Don’t know when I’ll be back again
Oh babe, I hate to go
Now the time has come to leave you
One more time
Let me kiss you
Then close your eyes
I’ll be on my way
Dream about the days to come
When I won’t have to leave alone
About the times, I won’t have to say
Oh, kiss me and smile for me
Tell me that you’ll wait for me
Hold me like you’ll never let me go
cause I’m leaving on a jet plane
Don’t know when I’ll be back again
Oh babe, I hate to go
But, I’m leavin on a jet plane
Don’t know when I’ll be back again
Oh babe, I hate to go
Như thường lệ, Nhạc Xanh hoan nghênh các bạn chia sẻ lời dịch các bài hát mình ưa thích.
Thân ái chúc các bạn một ngày vui, dào dạt tình yêu miền thôn quê, hồn quê và quê hương đất nước mình nhiều hơn với những giai điệu nhạc đồng quê
Một đàn sư tử bắt một chú trâu con để ăn. Cả đàn trâu xông vào đánh cả đàn sư tử tơi bời. Cả đàn sư tử chạy te tua. Chú trâu con được cứu khỏi miệng sư tử. Một câu chuyện thật khó tin và thật cảm động về sức mạnh của tình yêu và đoàn kết.
Kaki King là phụ nữ duy nhất có tên trong danh sách “guitar gods” (thần guitar) của tạp chí Rolling Stones (của ban nhạc Rolling Stones). Mời các bạn xem Kaki King biểu diễn một số bản nhạc trong đĩa Playing with Pink Noise của cô. Với lối sử dụng guitar cực kỳ sáng tạo. Có một không hai.
.