Category Archives: Văn

Hoa tường vi buổi sáng

Ngày của Nhiên thường bắt đầu lúc 5 giờ 30 sáng, và chia làm hai phần. Phần sau là ngày bình thường, đến lớp, vào thư viên và đến siêu thị bán ở quầy băng đĩa cho đến hết buổi tối. Còn phần đầu, từ 5 giờ 30 đến 6 giờ 30, Nhiên dậy sớm, đạp xe ra bãi đất trống của khu cư xá cách nơi cô ở hơn hai cây số. Bọn bạn cùng phòng thường nói đùa “Con này tính đi làm người mẫu hay sao mà chăm tập thể duc ghê”. Nhiên chỉ cười cười, nếu kể cô ra đó không phải tập thể dục mà ngồi nói chuyện với một ông già mù thì bọn nó sẽ bảo cô ngớ ngẩn, nếu nói rằng không phải chỉ hai người mà còn có thêm một người đàn ông trẻ thì thế nào chuyện cũng được lan truyền lung tung và bị biến dạng đi một cách nghiêm trọng. Dù sao, cuộc sống của Nhiên ở cái thành phố ồn ào này cũng chia làm hai phần, và một tiếng đồng hồ buổi sáng sớm là của riêng cô.
tuongvi
Đó là một bãi đất trống vuông vức, nằm giữa các ngôi nhà rất đẹp, luôn dậy trễ với những cánh cổng đóng kín vào sáng sớm. Có lẽ, buổi chiều bọn trẻ con thường đá bóng ở đó, vì Nhiên thấy có hai khung thành trống ở hai đầu. Đối diện với bãi đất là một căn nhà lớn quét vôi trắng, hình như không có người ở. Sát cổng là một cây tường vi lớn luôn rộ hoa, những chùm tường vi hồng nhạt nổi lên giữa những cành lá dài màu tím xanh, phiến hoa mỏng và xoăn, có vẻ gì đó rất mềm mại, trong sáng và nên thơ đã tình cờ giữ chân Nhiên lại. Trước cổng nhà có một chiếc ghế đá, đủ chỗ cho ba người. Ông lão ngồi ở giữa, Nhiên bên phải và khi người đàn ông kia đến, anh ta ngồi bên trái. Hoa tường vi vươn qua khỏi tường rào và rủ xuống ngay trên đầu họ.

Ông lão bị mù, hay nói đúng hơn, bị lòa dần do tuổi già không cách gì ngăn được. Nhiên không rõ ông đang sống ở đâu, nhưng theo lời ông kể thì căn nhà này xưa kia là của ông. Cây tường vi này, và cả những cây cảnh trong kia đều do ông trồng, khi ông còn chưa lòa và còn cuộc sống còn khá giả. Mấy năm trước ông phải bán nhà để trả nợ cho thằng con trai làm ăn thất bại, rồi dọn về căn hộ bé xíu trong một cái hẻm sâu, ẩm thấp, tối tăm và bị ngập nước khi mùa mưa đến. Cứ mỗi sáng, bà lão vợ ông lại đưa ông đến đây, chỉ vì ông muốn thế. 5 giờ 30, khi Nhiên đạp xe đến thì ông đã ngồi sẵn đó, cô chào ông và ngồi xuống bên cạnh.

Ông lão thường kể cho Nhiên nghe về mảnh đất miền trung xa xôi, vì tình cờ cô nhận ra mình là đồng hương của ông, hay nói đúng hơn, ba mẹ cô mới là đồng hương của ông. Cái mảnh đất nghèo cát trắng đó.

– Khoai lang làng ông ngon nổi tiếng, và bưởi, cháu biết không, chẳng nơi nào bưởi ngon bằng Bố Trạch.

Cô sôi nổi chuyện trò với ông về cái miền đất mà cô chưa từng đặt chân đến, những địa danh cô chỉ được ba cô nhắc đến tên.

– Ông biết sông Gianh không ông. Ba cháu hay hát: “Hôm nay trăng sáng quá em ơi, mà sao đôi ta bị chia cắt bởi dòng sông bạc hai màu”

– Ờ, sông Gianh, khi xưa bị chia cắt bởi hai đàng Trịnh Nguyễn. Nhà ông thì ở gần sông Son, động Phong Nha đó. Dòng sông trong vắt và xanh lắm, xanh như là đáy sông được phủ bởi rong rêu.

Nhiên kể, cháu chưa về Quảng Bình bao giờ, nhưng có một lần, cháu đi tàu ngang qua đó. Tàu dừng ở ga Đồng Hới 8 phút, cháu nhảy xuống, mua một trái bưởi và đứng nhìn cái sân ga nhỏ, thấy nó vừa lạ lẫm vừa thân thiết như máu thịt, cháu nghĩ “ngày xưa ba mình đứng dẫm chân trần trọc những đường tàu này” và bỗng dưng nước mắt chảy ra. Buồn cười lắm ông ạ.

– Còn ông thì xa quê lâu lắm rồi, từ thời loạn ly, nay cũng không biết có còn ai ngoài ấy. Mà nỗi nhớ quê của ông quanh đi quẩn lại chỉ có nhớ món canh lá lằng, thứ lá hái tận trong rừng, phơi khô rồi bóp vụn trông như tiêu bột, nấu với cá vụn. Vị ngọt của cá, vị đắng đằm đằm của lá lằng. Cái mùi vị kỳ lạ mà ông nhớ. Ôi chao, cái mùi kỳ vị kỳ lạ cứ đeo bám người ta.
cementbench
Nhiên thốt lên:

– Cháu biết, mỗi khi có ai ngoài làng vào đều mang theo một gói lá lằng biếu ba mẹ cháu. Mới đầu ăn không quen đắng lắm, nhưng ăn riết rồi ghiền ông ạ.

Và đôi khi, cô kể về mảnh đất nơi cô đã sinh ra, nơi ông bà nội đã chọn dừng chân khi rời quê cha đất tổ, mảnh đất mà ba đã gặp mẹ, và sinh ra Nhiên, nơi có biển, có núi và những đồi cát trắng. Những câu chuyện cứ thế nối dài…

Người đàn ông kia sẽ ghé qua lúc 6 giờ. Nhiên chưa bao giờ nhìn kỹ anh ta, nhưng có lẽ anh ta chỉ hơn ba mươi một chút, trẻ và khoẻ mạnh trong chiếc áo pull và quần soọc trắng, chạy bộ về ngang đó và ghé qua vào lúc 6 giờ. Anh ta gật đầu chào Nhiên, nụ cười cởi mở, hỏi thăm sức khỏe ông lão và bắt đầu nói với ông về cây cảnh. Khi đó, Nhiên lại ngồi nghe và mỉm cười. Họ nói về những bụi trúc ở nhà anh ta, thanh trúc, hoàng trúc. Họ nói về địa lan, thiên tuế, phất dụ, về cây hải đường của anh ta vừa ra một cái nụ, về những cái tên cây, tên hoa kiêu sa, gợi cảm và xa lạ với Nhiên, nhưng cô vẫn nghe một cách say sưa.

Gần sáu rưỡi, Nhiên về, anh ta cũng về, nhưng ngược đường. Còn ông lão ngồi đó đến 9 giờ, khi vợ ông hoặc cô con dâu đi chợ về ra đón. Có lần Nhiên hỏi:

– Ông làm gì cho đến 9 giờ ?

– Ông suy nghĩ…

Nhiên nghĩ thầm: buồn thật, có những con người phải suy tư, không phải vì họ có những điều để suy tư mà vì họ không có việc gì để làm…

Một buổi sáng, Nhiên ra, không có ông lão ở đó. Nhiên ngồi chờ cho đến khi người đàn ông đến. Anh gật đầu chào cô:

– Ông ấy đâu?

– Em không biết. Có lẽ ông ấy bị bệnh, hoặc bà lão bệnh, hoặc…
manjogging
Nhưng dù sao cũng không có ông lão ngồi ở giữa, đôi mắt mờ xám, giọng nói chậm rãi và nụ cười không biết buồn hay vui. Chỉ có hai người. Họ không biết tên nhau, không biết nhà nhau, và không buồn quan tâm đến điều đó. Họ không biết gì về nhau ngoài cái giờ giấc chính xác, Nhiên đến lúc 5 giờ rưỡi, và anh ta đến lúc 6 giờ. Họ có chung một cái ghế đá để ngồi, và nói những chuyện viển vông, không phải việc làm, thời sự hay giá cả lên xuống. Họ chỉ nói những điều họ thích thú, hay những suy nghĩ thoáng qua khi đầu óc ở vào trạng thái rất thanh thản của buổi đầu ngày. Nhưng hôm nay không có ông lão. Bỗng dưng họ thấy ngại ngùng, hụt hẫng vì không có chiếc cầu nối, không có chỗ bám víu. Họ biết rằng mình không đến nỗi xa lạ, nhưng họ chưa bao giờ trò chuyện trực tiếp với nhau. Cuối cùng, người đàn ông lên tiếng:

– Em học trường nào?

– Sư phạm.

– À, sư phạm…Em ở trọ gần đây?

– Dạ.

Nhiên băn khoăn không biết mình có nên hỏi anh ta không: anh ta làm nghề gì? Nhà anh chắc cũng ở gần đây? Nhưng cô không hỏi, chỉ ngước nhìn lên những cành tường vi hồng trên đầu và im lặng. Người đàn ông cũng im lặng một lúc lâu. Và rồi, hầu như đột ngột, anh ta quay sang nhìn Nhiên, đôi mắt như mỉm cười:

– Kể về quê em cho tôi nghe đi.

– Quê em ư?

– Không, không phải Quảng Bình, tôi nghe ông lão nói nhiều về nó. Kể cho tôi nghe nơi em đã sinh ra. Có lần tôi nghe em nói về núi và biển.

Bỗng dưng Nhiên thấy xúc động. Cô không biết tại sao mình lại kể cho anh ta nghe, như anh ta có thể hiểu được tất cả những cảm xúc của cô, hiểu được nỗi nhớ cồn cào của cô về núi, về biển, về những đồi cát và những cánh đồng. Và chẳng hiểu tại sao, cô nhìn vào mắt anh ta, và cô tin rằng anh ta hiểu.

– Nơi em ở có biển, và rất nhiều núi. Anh có thể nhìn thấy núi bên phải, bên trái, trước mặt đều có núi. Không quá gần, cũng không quá xa. Không quá chập chùng để thấy choáng ngợp, không quá thưa thớt để thấy nhạt nhoà. Nhưng đủ để có cảm tưởng như mình đang đứng trong thung lũng. Đủ để nhìn rõ những nếp gấp mạnh mẽ, những đường cong và những vết lõm duyên dáng. Nó phụ thuộc vào những tia nắng mặt trời chiếu lên nó, vào buổi sáng, trưa hay hoàng hôn. Và dưới chân núi là nhứng cánh đồng. Em thích chạy xe thật nhanh trên đường vắng, bên cạnh những cánh đồng.

– Lạ nhỉ, tôi cũng thích như vậy.

– Thật ư?

Anh nhìn Nhiên và cười, dịu dàng.

– Không hiểu sao những lúc ấy tôi thấy mình rất cô đơn, và rất tự do, một sự cô đơn thần thánh và một sự tự do gần như tuyệt đối.

Suýt nữa thì Nhiên thốt lên: “Em cũng vậy,” Nhưng rồi cô vẫn ngồi bất động trong những cảm xúc dồn dập khó hiểu. Họ lại im lặng. Cho đến 6 giờ 30. Anh ta đứng lên và quay lại nhìn cô chăm chú:

– Anh phải về đây. Mai gặp lại em nhé! Sáng mai…

Và từ lúc ấy hai phần cuộc sống của Nhiên trở nên nhập nhằng với nhau. Buổi chiều, ngồi trong thư viện, bên tai cô cứ văng vẳng câu nói như gió của người đàn ông trẻ: “Kể về quê em cho tôi nghe đi! Nơi nào? Về miền đất đã sinh ra em. Cô nhớ tới nụ cười tươi tắn, ánh mắt ấm áp của người đàn ông và nghĩ thầm, ngày mai, mình sẽ hỏi anh ta tên gì. Mình sẽ nói “Kể về anh cho em nghe đi…”. Nhiên thấy nhớ ánh mắt của anh. Rất nhớ…
tuongvi1
9 giờ tối, Nhiên loay hoay xếp lại mấy cái CD ở quầy băng đĩa trong siêu thị. Gần đến giờ đóng cửa, khách cũng vơi đi. Bỗng dưng cô giật mình nhận ra người quen. Người đàn ông của buổi sáng, đúng là anh ta, nhưng trông khác hẳn trong chiếc sơ mi, cà vạt đỏ sậm. Anh ta bế một bé gái chừng ba tuổi trên tay, hai đuôi tóc của nó nhỏng lên tung tẩy theo từng bước chân của bố. Người phụ nữ trẻ đi bên cạnh dịu dàng vuốt tóc con và nói khẽ với chồng câu gì đó. Họ cùng cười, và đi qua Nhiên. Nhiên ngồi thụp xuống, bỗng dưng ứa nước mắt vì tủi hổ, vì thấy mình sao ngốc nghếch và vô duyên quá chừng. May thật, may mà mình chưa hỏi, anh ta sẽ nói gì, anh ta có nói rằng anh có một người vợ rất xinh và một cô con gái rất ngoan. Anh ta sẽ nói gì nhỉ?

5 giờ 30 sáng. Nhiên nép mình sau một ngôi nhà của khu cư xá và nhìn thấy hai người đàn ông ngồi trên ghế đá. Cô thót tim nhận ra người đàn ông trẻ đến sớm hơn mọi ngày. Bình thường anh ta chỉ đến vào lúc sáu giờ. Ông lão vẫn ngồi ở vị trí cũ, mắt nhìn thẳng về phía trước và miệng mỉm cười nói câu gì đó. Còn người đàn ông kia thì lơ đãng nhìn quanh quất, như chờ đợi. Nhiên lặng lẽ đạp xe về nhà, trèo lên giường, trùm chăn kín đầu và oà khóc. Cô thổn thức vì một điều gì đó mơ hồ không rõ.

Một buổi chiều muộn, Nhiên không ngăn được mình lang thang đạp xe đến chỗ cũ. Ngôi nhà quét vôi trắng vẫn đóng cửa, chiếc ghế đá có hai người phụ nữ ngồi chuyện trò rôm rả, xe máy chạy vào chạy ra những cánh cổng xinh đẹp trong khu cư xá. Những đứa trẻ om sòm đá bóng trên khoảng sân vuông, bụi tung mịt mù. Và trong cái nắng vàng vọt của buổi chiều, những chùm hoa tường vi bỗng chuyển ra màu cam, ố vàng xấu xí đến kỳ lạ. Nhiên bỗng dưng thấy ập vào lòng một nỗi thất vọng đau đớn đến khó tả khi cô chợt nhận ra là hoa tường vi buổi chiều, hoa tường vi trong cái phần ngày bụi bặm của đời thực, không đẹp như hoa tường vi trong cái phần ngày ngắn ngủi của riêng cô. Và Nhiên biết rằng từ nay cuộc sống của cô lại như mọi người, bắt đầu từ 5 giờ 30 và chỉ có một phần. Không có những buổi ban mai ngồi dưới hoa tường vi nữa. Chiếc ghế đá sẽ còn lại hai người, hay là một, hay là không ai, chỉ có hoa tường vi vẫn rung rinh hồng vào mỗi sáng.

Đông Vy

Chờ Cho Đá Biết Tuổi Vàng

Ta như nhân loại trước ngày tìm ra lửa
Cầm trên tay hòn đá xù xì rồi lại quăng đi
Vẫn biết có hồn tràm chờ ta trong ruột gió
Nhưng đợi gió thành hương không đủ sức kiên trì.

    (Chế Lan Viên)

Có thứ cây mọc trên vùng đất đá vôi Nam Giang, cành lá xòe rộng đón nắng lửa gió Lào đủ niên hạng để cho ra đời chất nước trắng đục sủi tăm làm say lòng người, gọi là rượu cây tà vạt.

Có thứ cây mọc trên đồi núi Trà Mi, đủ trăm năm khô khốc, thân mình lụi đi, bay đi theo mưa gió còn lại cái lõi dầu thơm, gọi là trầm gió.tramhuong1

Là những mật những hương, những thơm thảo được tự nhiên tôi luyện mà thành, gọi là vàng của đất trời.

Còn lòng người, có đợi được trăm năm khô khốc, trăm năm lụt lội để đá biết tuổi vàng?
Chờ cho đá biết tuổi vàng là lòng ta chờ bạn.

Thân thương à, tụi mình đã kí cả một thời học trò cho mộng tưởng, đã huyễn cả một thời trai trẻ cho tình yêu, đã cùng đói cơm lạt muối, có đủ gọi là thân? Thôi đừng ngộ nhận. Cóp lại một thời kỉ niệm ngót mươi niên cũng chỉ một thập phân đời người nào có đáng là bao? Sợi tình liệu chừng chưa đủ bền qua mưa nắng, chừng mỏng chưa vừa khà một cơn say, chờ cho đá biết tuổi vàng lời chừng còn thẹn. Đâu rồi trong ta giấc mơ quan đại phu mà tặng bạn áo hồ cừu! Đâu rồi trong ai hoài bão đăng quang để vời kẻ ẩn sĩ núi rừng về trọn một đêm bè bạn, gác chân lên nhau mà ngủ, sáng mai lại thong dong rừng núi mà về!

Có bao giờ trên đường đời rong ruổi mình lại trách mình không đủ cái tình Trần Phồn Từ Trĩ, không kịp cái trí Thúc Nha cùng Quản Trọng, đầu dăm sợi bạc nhìn mà thẹn chữ tri âm! Không nỡ buông tay đành nhắc nhau câu chờ cho đá biết tuổi vàng.
triky
Đá biết tuổi vàng cũng là lòng ta chờ người đó.

Thôi nguôi đi một thời yêu đương bồng bột, tình trung du cũng mưa nắng thất thường. Giọng người mềm mượt như tuổi đời mười bảy, ta thực lòng kí thác ở tình yêu đến chẳng kịp liệu lối về. Người đến như thiên thần, cũng như thiên thần vỗ cánh. Còn chấp chới quanh ta một trời hẹn ước, còn toang toác trong ta một cửa tình để ngỏ đến mai sau. Vẫn giàu một niềm tin rằng người đi rồi người sẽ trở về. Ta vẫn nhủ lòng ta chân thành như thế. Ta vẫn dỗ lòng ta như dỗ dành con trẻ, ừ người sẽ về, đừng buồn nhé, đừng trông!

Có thể rồi người mãi mãi không về, nhưng ta tin rằng trong con tim người với nhịp trăm năm sẽ có lúc mơ hồ tự hỏi: Ngày xưa giờ nơi đâu!
Và vô thức thời gian bông hồng nào còn thơm mãi!
Và đá biết tuổi vàng.
da 2

Đá rồi biết tuổi vàng là tình ta dành cho em đó, mẹ của các con ta.

Tiếc nuối một thời không là người tình đầu tiên người yêu cuối cùng, nhịp đời khéo so le, song cũng đã gom góp một đời những còn những mất mà trao tặng. Em rồi không mãi mãi là kiều nữ. Ta cũng chẳng còn buổi kiêu bạc hào hoa. Song quí giọt mồ hôi làm nên cơm áo, thôi cắt ngắn tuổi mình để giành tặng các con. Rồi không còn nhìn mắt em mà làm thơ nữa (thơ phú gì buổi cần viết văn xuôi!). Mà này em, mộng đời không mất, không lặn vào chiêm bao, chỉ mất đi những dấu hoa mĩ không cần thiết để thô mộc vẹn nguyên vững chãi một gia đình.

Có bao giờ tiếc nuối buổi yêu nhau?
Có bao giờ hờn trách buổi yêu nhau?
Tình yêu như phút giây con tằm hóa bướm.
Mà ta giành cho em là gỗ đã nên trầm!
Đá biết tuổi vàng đó em.

Doisim

Thời gian, ôi thời gian!
Sợ khi người mang cho đời quả chín, quả chín rồi rời rã những cánh hoa.
Sợ khi người biến những gã ngốc thành khôn ngoan, mà khôn ngoan thì mất đi quyền khờ dại.
Sợ khi người biến những thi sĩ thành triết gia, mà triết gia thì hết đường thi phú.
Tôi ngại thời gian như ngại một thứ thuốc hiện hình.
Mà cũng cần lắm thời gian, để bạn là bạn, để người là người, để em là em, để ta là ta.
Để lặn đi những son phấn của diện mạo đời.
Để sắp xếp, để định giá những gì còn mất.
Và, để cho đá biết tuổi vàng!

NGUYỄN TẤN ÁI

Mộng đinh lăng

Vườn nhà bà ngoại có rất ít hoa, chỉ toàn lá. Dường như đối với ngoại, lá thì hữu dụng hơn hoa nhiều.
đinhlăng1
Ngay bên cổng nhà là hai cây dừa, lá sẽ dùng để làm bánh phu thê khi nhà hàng xóm có đám cưới. Leo tràn trên bờ rào là một màu xanh mởn của lá sương sâm. Cứ dăm ngày, bà lại cắp rổ ra lặt về làm món sương sâm nước cốt dừa mát ngọt, thơm thơm mà lũ chúng tôi luôn mê mẩn. Chuối thì bà trồng thành hàng cạnh bờ rào. Để Tết gói bánh Tét khỏi phải mua, không thì lâu lâu cắt một hai tấm lá gói mấy cái bánh ú ăn chơi. Sát cạnh giếng là mấy cây dong, một bụi riềng, dăm khóm xả, một vạt lá lốt, một bụi trầu lớn. Và hai bụi đinh lăng xanh rờn trồng ngay bên cửa bếp.

Bà ngoại tôi yêu quý nhất hai bụi đinh lăng này, ngày nào cũng tưới. Mỗi năm vào dịp Tết, tự tay bà sẽ chọn lặt từng ngọn lá đinh lăng để làm món nem bì.

Cho đến tận bây giờ tôi vẫn chưa gặp ai làm món nem bì ngon như bà. Chính món này làm ông ngoại phải lòng bà. Ông ngoại vốn là bạn cờ vong niên của ông cố, thỉnh thoảng vẫn đến chơi nhà, nhưng không bao giờ gặp mặt bà. Ngược lại, bà thì biết ông rất rõ vì bà vẫn nấp sau rèm nhìn trộm chàng trai trẻ ngồi chơi cờ ngoài phòng khách. Ông cố là người khó tính, nên bà luôn phải giấu mình đi khi có khách đàn ông đến nhà. Tóc bà không bao giờ được cắt, và răng thì phải nhuộm hạt huyền.

Một Tết nọ, ông cố mời ông ngoại đến nhà, nếm món ruột của cô con gái rượu. Ông ngoại đang mải mê ăn, mải mê nhấp rượu, chợt nghe ông cố hỏi: “Anh thấy răng, có được không?” ông ngoại liền gật đầu tới tấp: “Dạ được lắm, rất ngon” Ông cố cười ha hả: “ Tui không hỏi nem có ngon không. Nem con gái tui làm là nhứt xứ rồi đó nờ. Chừ tui muốn hỏi là anh có ưng cái người làm món nem ni không?” Vậy là, ông ngoại ưng luôn người con gái làm món nem bì ngon tê lưỡi đó, dù chưa một lần gặp mặt.

Khi về lập nghiệp tại đất này, việc đầu tiên ông làm sau khi dựng ngôi nhà gỗ nhỏ là trồng hai bụi đinh lăng, để bà làm món nem bì cho ông nhắm rượu. Mỗi khi nhắm rượu, ông lại kể chuyện ngày xưa ông phải lòng bà vì món này. Bà lại cười lỏn lẻn, khoe hàm răng đen nhánh.
đinhlăng

Sau khi ông ngoại mất, cậu tôi muốn xây lại nhà, đã tranh cãi với bà một trận ra trò. Vì bà nhất định giữ hai bụi đinh lăng ở nơi chúng đã được trồng xuống, mà nếu vậy, thì ngôi nhà sẽ phải xây lệch qua một bên. Bà khăng khăng: “Tau chỉ còn có hai bụi cây này để nhớ đến thầy mi. Để yên đó!” Cậu tôi chịu thua, ngôi nhà không thể nằm giữa mảnh đất, và hai bụi đinh lăng giờ thành ra mọc cạnh cửa hông.

Từ khi ông mất, bà ngoại chỉ làm món nem vào dịp Tết. Cứ đến 26 Tết, bà mới mua thịt, bì về, tự tay rang thính, tự tay bà thái thịt nạc thành từng miếng mỏng, thật mỏng, bì luộc sơ rồi thái chỉ, thái vừa, rồi trộn với thính, tỏi, tiêu. Xong rồi nắn thành từng khối vuông, đệm vài lá đinh lăng xung quanh rồi gói lại bằng lá chuối tươi, buộc lạt, đem treo trên đầu bếp. Đến trưa ba mươi lấy xuống đặt lên đĩa rồi mở gói. Thịt chín nhờ lên men có màu phớt hồng, thính vàng ruộm, điểm những sợi mỡ trắng và những sợi bì trong. Bên ngoài lớp lá gói vẫn nguyên màu xanh, lá đinh lăng lót trong cũng vậy. Bày thêm cạnh đĩa mấy tép tỏi bóc sẵn, mấy quả ớt hiểm đỏ tươi. Chưa ăn đã thấy thơm nức mũi. Lá đinh lăng vừa làm đẹp món ăn, lại có mùi hăng hăng nhẹ, vị hơi đăng đắng và cũng có tính an vị, nên ăn với nem vừa chua thì rất bắt. Nhắm chung với chút rượu nữa thì uống đến mềm môi.
nemchua
Tôi đã ngồi xem bà làm món nem ấy suốt những cái Tết thời thơ ấu, nhưng đáng buồn làm sao, không chịu quan sát kỹ. Các dì và mẹ tôi cũng vậy, bởi cứ nghĩ rằng công thức chung là đơn giản. Chính vì vậy mà không chịu hỏi kỹ các công đoạn thái thịt, trộn, gói, tỉ lệ thịt, bì, thính chính xác ra sao. Vì vậy khi bà mất đi, món nem cũng thất truyền. Dì tôi nhớ mang máng cách làm, Tết năm nọ quyết tâm gói thử, nhưng chỉ một lần rồi thôi vì ai cũng nhận ra là khác xa món nem bà làm ngày xưa. Ngồi bên mâm cơm ngày cuối năm, cả nhà ngậm ngùi nhớ ông, nhớ bà, nhớ món nem bì ngon tuyệt mà ứa nước mắt. Có bao nhiêu chuyện bởi cứ tưởng là đơn giản mà chúng ta đã bỏ qua, để rồi nó qua luôn không thể nào níu lại?

Ngôi nhà còn được cơi nới thêm hai lần nữa, nhưng vẫn xây lệch, chừa lại hai bụi đinh lăng và khoảng sân rộng bên hông nhà. Lá non vẫn mọc ra, rồi già đi, không ai lặt hái nên ngày càng xum xuê. Tôi nghe người ta nói rằng cây đinh lăng khi được 100 năm tuổi sẽ thành cây thuốc quý.

Cậu tôi thì kể rằng có một trưa Ba mươi năm nọ, cậu nằm ngủ quên bên cửa, mộng thấy Đinh lăng hoá người…

Đặng Nguyễn Đông Vy

Sinh nhật bạn thân

Sinh nhật Định rơi vào một ngày giữa tháng mười, khi Sài Gòn đã bắt đầu có những trận mưa lớn vào chiều tối. Tôi mặc chiếc áo mưa thùng thình len lách xe theo những con hẻm nhỏ xíu, ngập nước chạy ngoắt ngoéo trong khu cư xá Bắc Hải để đến nhà trọ của Định, đưa một tấm thiệp mà tôi đã bỏ cả đêm tự cắt cắt, vẽ vẽ và rủ Định đi uống cà phê. Đã thành lệ, cả năm quên béng nhau, nhưng đến sinh nhật Định bao giờ tôi cũng nhớ. Và bao giờ, hai đứa cũng đến quán cà phê gần đó, ngồi trong một góc bàn quen thuộc, lặng lẽ nghe từng tiếng piano thánh thót rơi trong không gian.
raininsaigon
– Dạo này Định ra sao ?

– Cũng thường. Diên có về thăm nhà không ?

– Thỉnh thoảng, về một vài ngày rồi đi …

– Tháng này ngoài đó mưa nhiều và sắp có bão.

– Ừ …

Mỗi lần sinh nhật Định, hai đứa mới có dịp ngồi với nhau và nhớ quê. Nhìn mưa, tôi biết Định nhớ những ngày có bão. Những buổi sáng sau khi bão tan, các lớp được nghỉ học để dọn dẹp sân trường, Định đứng trên thân bạch đàn gãy, ưỡn ngực hít thật sâu làn không khí mát rượi và nói: “Định thích nhất những buổi sáng sau khi bão tan, cành khô và lá rụng đầy sân, những thân cây đổ ngổn ngang, những bầu trời thật bình yên, và những ngọn gió như chưa bao giờ trong trẻo đến thế.”

Và rồi những kỷ niệm lại trở về với tôi không theo thứ tự thời gian, chỉ có điều, cùng những kỷ niệm ấy, năm nay hình như trở nên mờ nhạt hơn năm trước. Định nhắc đến sinh nhật Quốc năm lớp chín, đúng vào ngày 26-3. Đêm cắm trại ở trường, Bảo Vi, Quốc, Định và tôi trốn ngủ trèo lên lầu ba, hát hò suốt đêm nên sáng ra lào khào chẳng thốt ra lời, chỉ biết nhìn nhau cười ngặt nghẽo. Tôi chợt buồn, có cảm giác mình quên nhiều thứ quá, và nhận ra rằng ký ức dường như đang thu hẹp đi, tỉ lệ nghịch với khoảng thời gian tính từ hiện tại. Mỗi ngày phải nhớ thêm một chút, kỷ niệm như một chiếc hộp nhỏ, cất cái này vào thì lại vô tình đẩy cái kia ra.

Tôi cũng chẳng nhớ tại sao ngày xưa bốn đứa lại chơi thân với nhau, và chơi với nhau từ bao giờ. Chỉ nhớ Định là lớp trưởng, tôi là lớp phó, Bảo Vi là thủ quỹ, còn Quốc là một học sinh “cá biệt” đúng nghĩa: phá phách, trốn học đi bắn chim, leo trèo, đánh nhau và … ở lại lớp. Tuy vậy, học chung với Quốc không bao lâu, tôi đã kịp nhận ra rằng Quốc là một người thẳng thắn, chỉ hơi cục tính, và luôn ước mơ được đấu tranh cho sự công bằng. Có lẽ, trẻ con thì trong sáng và dễ nhận ra những phẩm chất tốt đẹp của người khác hơn người lớn. Ngày đó, cả ba đứa phải cố gắng nhiều để giúp Quốc, vì Quốc phải ngoan hơn, phải học tốt hơn thì ba mẹ và thầy cô mới cho phép những đứa học trò gương mẫu của mình chơi với Quốc, mà không sợ bọn tôi “gần mực thì đen”. Hết mười hai, tôi vào báo chí, Định học kinh tế và chuyển nhà đi nơi khác, Bảo Vi đậu đại học Đà Lạt nhưng đành phải ở nhà học may vì gia đình không có tiền, Quốc thi rớt ĐH An Ninh và tình nguyện đi nghĩa vụ. Những ước mơ và những con đường đưa chúng tôi xa nhau. Định với tôi học trong cùng thành phố, nhưng cũng lâu lắm mới gặp mặt.

***

Tháng mười, và mưa, đêm Sài Gòn ướt át, thâm thấm lạnh. Lấp lánh dưới ánh đèn trắng xanh xao, mưa nhỏ xuống những giọt thuỷ tinh dài và trong vắt, tôi chợt rùng mình.

– Lạnh hả ?

– Ừ , hơi lạnh.

Định chồm qua nắm lấy bàn tay tôi.

– Ấm hơn chưa?

Tay Định ấm thật, nhưng chỉ mang đến một cảm giác thân thiết, tin cậy và an toàn, chứ chẳng nóng hổi và run rẩy như lúc Việt nắm tay tôi. Tôi chợt bật cười làm Định ngơ ngác :

– Sao lại cười ?

– À không, Diên chỉ đang nghĩ Định đã nắm tay bao nhiêu cô gái rồi.

– Chỉ mới có Diên thôi.

– Xạo.

– Thật – Định cười, ánh mắt nghiêm nghị – nắm tay Diên hình như là một chuyện hết sức dễ dàng. Có lẽ vì thế mà bọn mình chẳng yêu nhau được.

– Làm bạn không tốt hơn sao.

– Định không biết nữa, đôi lúc nghĩ bọn mình cũng đẹp đôi đấy chứ. Định thường tự hỏi, tình bạn thì khác tình yêu ra sao ?

– Khác chứ, nhưng Diên không biết giải thích …

– Định nghĩ, tình yêu nối kết ta với chính bản thân, còn tình bạn nối kết ta với cuộc sống. Tình yêu là thứ ta luôn mang theo bên mình, còn tình bạn là điều ta bắt gặp.

– Nghĩa là sao ?

– Nghĩa là khi Diên gặp một ai đó và yêu, Diên có cảm giác như tình yêu ấy đã có sẵn trong Diên, chờ đến khi người ấy xuất hiện … thì nhào ra.

Tôi phì cười, rồi nghĩ không biết Định nói có đúng không, nhưng tôi và Việt chẳng có gì sâu xa đến thế. Mà có khi đó chẳng phải là tình yêu thật, chỉ là thích, vậy thôi.
Cake 4 candles
Định loay hoay đốt bốn ngọn nến cắm trên cái bánh kem bé xíu và thích thú nhìn những tia lửa nhỏ nổ lép bép.

– Chúc mừng sinh nhật !

– Cảm ơn Diên.

– Định ước đi.

– Ước gì ?

– Định đang có những dự định cho ngày mai …?

– Nhiều lắm, đang cố gắng hết mình để được giữ lại trường, phấn đấu vào Đảng, và một công việc kinh doanh riêng. Tụi Định đang hùn vốn với nhau mở một cái shop bán balo và nón ở quận Ba.

– Còn chuyện riêng tư …

– Đôi lúc cũng có nghĩ đến, nhưng vì còn quá nhiều điều phải làm, còn quá nhiều ước mơ phải thực hiện. Và hơi day dứt, vì biết rằng nếu chỉ ước mơ thôi thì vẫn chưa đủ. Còn Diên, Diên đã nghĩ mình sẽ đi đâu khi ra trường chưa?

– Diên không biết nữa.

– Sao lại không, Diên phải biết Diên muốn gì chứ?

Tôi im lặng, thấy hơi ngượng ngùng và hơi hoảng, vì mình không biết thật. Mỗi ngày, tôi lại chất vào thêm những ước mơ, những tham vọng, nhưng đồng thời lại nghĩ rằng chúng quá xa vời. Tôi ước mơ và tôi nghĩ ngợi, nghĩ ngợi quá nhiều mà không làm gì cả. Rồi than thân trách phận rằng sao những gì mình muốn mình đều không thể có được. Đột nhiên tôi nhận ra rằng, bất tài nhất là những người cái gì cũng thích, cái gì cũng biết, như tôi. Tôi có thể viết lách và làm thơ, nhưng chỉ dừng lại ở một vài bài báo thường thường, một vài bài thơ đăng trên bản tin CLB Văn học của khoa. Tôi có thể vẽ vời nhưng chỉ để tẩn mẩn làm những cánh thiệp chúc, vẽ vài ba bức tranh nhỏ tặng bạn bè và cười sung sướng khi được khen là khéo tay. Tôi thích hát nhưng chỉ đủ để tự tin khi đứng hát trước một đám đông người. Tôi có thể trò chuyện về bất cứ đề tài nào, nhưng tôi không đủ cả tài năng lẫn đam mê để trở thành bất cứ cái gì. Năng lực mơ hồ, sở thích mơ hồ, những ước muốn mơ hồ, và cả tình yêu với Việt cũng mơ hồ nốt. Đi chơi vào mỗi ngày thứ Bảy, chỉ để chui vào một góc tối của quán cà phê nào đó, và ngấu nghiến hôn nhau, buông thả mình trong những xúc cảm đam mê dễ dàng. Ngoài ra thì chẳng còn gì khác, không ước mơ về tương lai, cũng chẳng buồn tự hỏi xem hai đứa hiểu nhau đến mức nào. Cuộc sống đang thay đổi, từng giây, đến từng tế bào nhỏ nhất. Còn tôi, như Định nhận xét sau gần một năm không gặp: “Diên vẫn vậy ”, nghĩa là không già đi, nhưng cũng có nghĩa là không trưởng thành hơn, không chín chắn hơn, không có nhiều khát vọng chinh phục hơn và không thành đạt hơn. Trong khi cả Định, cả Quốc, cả Bảo Vi đều khác hẳn ngày trước, thoát ra khỏi những ước mộng viển vông và nỗ lực để xây dựng hiện thực, thì tôi vẫn chạy loanh quanh, ăn bám cha mẹ và nghĩ ngợi những điều xa xôi.

Tôi nhớ đến bức thư của Bảo Vi gửi cho tôi cách đây hơn một tuần, nét chữ tròn trịa, nhỏ nhắn bằng mực tím, như một học sinh cấp ba:

“ Diên thương…

Đã ba tháng rồi tao chưa viết thư cho mày, thời gian qua nhanh thật. Tao bây giờ có thêm việc làm mới, đi dạy ở một lớp mẫu giáo dân lập bên Bãi Giếng. Lương tháng ba trăm ngàn. Chiều và tối vẫn nhận đồ về may. Cũng phải cố làm để dành dụm một ít cho chính mình.

Anh Thái hỏi cưới tao, nhưng tao ngại, mày ạ. Thương thì có thương, nhưng mà ảnh làm tiệm vàng, giàu nhất nhì xã, còn nhà mình, mày biết rồi, lấy về dễ bị người ta khinh khi. Tao chỉ thích lấy người nào cùng hoàn cảnh, chịu khó, rồi hai vợ chồng cùng làm, tự lo cho cuộc sống riêng của mình, khỏi lệ thuộc vào ai.Vậy là hạnh phúc rồi.
TruongSaVNN
Quốc có về phép trước khi ra đảo, nói lâu lắm rồi chẳng nhận được thư từ gì của hai người cả. Nó nói ra đó rồi sẽ viết thư về ngay để báo địa chỉ. Tao thương quá. Nhưng nó tình nguyện nên hăng hái lắm. Tao gửi theo cho nó giấy viết thư và mấy chục con tem. Mày và Định ra sao? Chắc việc học hành bận bịu lắm ? Nói thật là đôi khi tao nghĩ hai người rất tệ, ở cách nhau 2 km đường chim bay, có chạy lòng vòng cũng chỉ mất 7 phút đi xe máy, vậy mà vẫn một năm không thèm gặp mặt nhau.”

Biết làm sao được, hả Vi. Vẫn nhớ nhau lắm, vẫn yêu quý lắm, nhưng bây giờ môi trường khác rồi, bạn bè khác, công việc cũng khác, thời gian biểu lại lệch nhau. Tôi tham gia đủ thứ các lớp học, vi tính, ngoại ngữ, mặc dù chưa bao giờ chịu theo đến cùng, tôi học tiếng Anh sáu tháng, tiếng Pháp ba tháng, tiếng Nhật 4 tháng, chưa kịp thi lấy bằng thì chán quá nghỉ ngang. Rồi vi tính văn phòng, thiết kế đồ hoạ, rồi học vẽ. Tôi học tất cả những gì tôi chợt thấy thích, mà tôi thì thích quá nhiều. Khi mọi người hỏi đến thì tôi luôn luôn đang học một cái gì đó. Vì thế mà thậm chí tôi chẳng còn thời gian để gọi điện hỏi thăm xem Định thế nào. Hình như tôi tin rằng Định luôn ở đó mỗi khi tôi cần đến. Vì thế tôi không phải cần gặp Định mỗi tuần, mỗi hai tuần hay một tháng để giữ liên lạc, hay để tình bạn phát triển đến một mức nào đó xa hơn…

***

Định nhìn xa xăm ra ngoài trời, rồi chợt lắc đầu:

– Lâu rồi chưa viết thư cho Quốc.

– Diên cũng vậy, bốn tháng rồi. Và năm lá thư chưa hồi âm.

– Bận quá.

– Và lười, và vô tâm nữa…

Mà vô tâm thật đấy, đôi lúc cứ quên bẵng đi là mình có một người bạn rất thân tình nguyện đi Trường Sa. Thỉnh thoảng tình cờ đọc một vài bài viết về Trường Sa, mới chợt giật mình nghĩ Quốc đang sống và chiến đấu với những khó khăn ngoài ấy, nâng niu trồng từng cây rau nhỏ, và mỏi mắt chờ mỗi chuyến tàu từ đất liền với hy vọng nó mang theo thư của Định, của tôi, lại thấy nhoi nhói trong lòng. Thư Quốc viết mỗi ngày một chín chắn và rắn rỏi hơn “Nhập ngũ rồi mới biết mình cũng yêu đất nước vô cùng, Diên ạ. Và Quốc chợt hiểu, phải tham gia, phải hành động thì mới phát hiện ra mình”. Có phải vì thế mà tôi vẫn chưa tìm ra chính mình, cứ mãi loay hoay giữa những ước mơ. Mà ở tuổi hăm hai, người ta không thể cứ sống bùng nhùng giữa những ước mơ được. Định nói đúng “ chỉ ước mơ thôi thì chưa đủ ”. Phải sống khác đi, Diên ạ, tối nay hãy ngồi vào bàn viết thư cho Quốc, cho Bảo Vi, và ngày mai hãy sắp xếp lại cuộc sống của chính mình, sắp xếp lại cả tình yêu nhạt nhẽo với Việt.
girlonnightroad
Định lại đốt lên một ngọn nến khác, soi vào mắt tôi:

-Diên đang nghĩ gì?

Đôi mắt Định đen như màn đêm, và sáng lấp lánh.

– Sinh nhật bạn thân, và nhìn lại chính mình. Bốn năm đại học, bốn năm xa nhà, xa bạn bè cũ, sao Diên thấy mình vẫn chưa có gì trong tay!

– Định cũng chưa có.

– Nhưng Định có những dự định!

-Vậy thì Diên hãy có những dự định, và Diên sẽ biết Diên phải làm gì để đạt được chúng.

Tôi im lặng, có lẽ Định nói đúng. Hãy có những dự định, và mình sẽ biết mình phải làm gì. Một làn gió lùa qua những thanh chắn và thổi tắt ngọn nến, chỉ còn mắt Định sáng lấp lánh. Định chỉ cho tôi một mảnh trăng hiện ra nhoè nhoẹt giữa bầu trời vừa dứt mưa…

– Chúc mừng sinh nhật!

Đông Vy

Hãy đến tìm tôi giữa một cánh đồng

    Đời vẽ tôi – tên mục đồng
    Rồi vẽ thêm con ngựa hồng
    Từ đó
    lên đường
    phiêu linh…

      (Chỉ có ta trong một đời – Trịnh Công Sơn)

lying_in_field

Nếu bạn hỏi tôi thích làm gì nhất, câu trả lời chắc chắn sẽ là: “Tôi thích chăn bò!”. Có thể bạn không tin, nhưng thật tình, tôi thích chăn bò lắm! Tôi rất thích nhìn vào đôi mắt to trong veo của con bò nhà tôi, đen láy và ướt át, chúng luôn khẽ khàng nấp dưới hàng mi dài cụp xuống. Trong đời, tôi chưa bao giờ nhìn thấy một đôi mắt nào buồn đến thế. Nó toát lên vẻ ẩn nhẫn, cam chịu, và hiền lành khiến cho tâm hồn trẻ thơ ngập tràn thương cảm. Một tình bạn thầm lặng bắt đầu từ đó!

Nốc nốc nác nác/ Cỏ trước nước sau/ Hai hông bằng nhau/ Tau về cho sớm. Tôi sung sướng biết bao khi được giao nhiệm vụ chăn bò, tức là dắt bò đi tìm những vạt cỏ ngon, cho nó ních đến căng bụng, đến nỗi da bóng lên, lông mướt rượt, hai hông núng nính. Như một cách đền đáp công lao của nó sau buổi cày.

Nhưng không chỉ vậy, mỗi buổi chăn bò đối với tuổi thơ tôi là cả một hành trình mơ mộng. Niềm vui có thể đến từ bất cứ đâu: dưới hòn đá này là một chú dế cồ than háu đá, trên ngọn lá kia là một chú chuồn kim ngủ quên, và vừa thoát thân khỏi bụi cỏ đang bị chú bò ngoạm lấy, chẳng phải là chú châu chấu may mắn đó sao? Chú hoảng hốt nhảy thật mạnh, xa khỏi cái mõm đen mềm mại ướt át của con bò, và rơi vào …chiếc mũ của tôi. Hay niềm vui sẽ đến trong khi chú bò tha thẩn uống nước, còn tôi buông câu nằm khểnh đợi mấy chú cá rô con…

Tôi thích âm thanh của con bò gặm cỏ, ngay lúc hàm răng của nó ngoạm lấy từng búi cỏ tươi và cắn đứt chúng ở gần sát gốc. Cái tiếng roàn roạt giòn tan ấy chất chứa hình ảnh những lớp cỏ xanh trải dài trên bờ đê mấp mô, những ruộng lúa chín vàng hay những đám mạ non tươi mơn mởn. Nó chất chứa cái trong trẻo, mát mẻ của gió đồng, những ngọn gió như được ướp bởi hương sen, bởi mùi bùn đất, mùi rơm rạ, và cả mùi sương lạnh rơi tự đêm qua còn chưa tan hết.

Bạn có thể đi trước hoặc sau chú bò tơ nhởn nhơ, tay cầm dây mũi, hoặc thả cho nó đi lang thang, miễn đừng để nó lân la xuống bất kỳ ruộng lúa nào. Nếu mỏi, bạn có thể trèo lên ngồi trên lưng nó nghêu ngao hát và ngắm nghía những bông mía trổ cờ xa xa, những cụm mây trắng cứ hết tan ra rồi kết lại thành vô số hình thù kỳ lạ trên nền trời xanh ngắt. Nếu mệt, bạn có thể cột nó vào một bụi cỏ lớn hay một gốc cây và thả hồn vào thế giới thần kỳ trong những cuốn truyện cổ tích, hoặc hồn nhiên ngủ say trên lớp rơm rạ còn sót lại của mùa lúa cũ.

Tôi rất yêu những bông hoa dại nhỏ xíu mọc e dè giữa đám cỏ xanh trên cánh đồng. Chúng thường cà vào mũi tôi khi tôi đang nằm dài trên bờ ruộng, ngay bên cạnh chú bò cũng ngả lưng lim dim mắt, một cách thân thiện. Cho dù thỉnh thoảng chú bò của tôi lại thè cái lưỡi dài ra và lơ đãng cuốn những bông hoa dại đang rung rinh cạnh đó vào miệng, nhẩn nha nhai.
Cow & Egret
Chăn bò là khi tôi hoàn toàn hoà nhập với thiên nhiên, bên cạnh người bạn lặng lẽ của mình. Và những ước mộng viển vông nhất của tôi cũng có thể bay cao hơn cả cánh diều của anh bạn mục đồng kia trong một chiều lộng gió. Đó là khi tôi không phải băn khoăn giữa tham vọng và trách nhiệm, không cảnh giác và dè chừng… Tôi chỉ là chính tôi, đơn sơ và trong trẻo, hồn nhiên và yêu đời như những cô cậu mục đồng khác, chạy lon ton trên cánh đồng trong bộ quần áo lấm lem cũ kỹ, chiếc mũ vải nát nhàu rách rưới, làn da sạm cháy khô sần dưới ánh nắng mùa hè, đôi chân trần nóng bỏng dẫm lên đất đai rơm rạ. Và hạnh phúc đơn giản chỉ là được ngồi ngất nghểu trên lưng chú bò thân thuộc đã no căng, thổi một khúc ca vui nhộn bằng chiếc kèn lá. Thong dong trở về….

Ôi, tuổi thơ mục đồng, những năm tháng thần tiên giống như chiếc dây diều cứ neo mãi trong tâm hồn tôi những giấc mơ trong trẻo, thơm mát và nhẹ tênh như sợi rơm vàng sau một mùa nắng đủ!

Để bây giờ, rất nhiều khi thấy chán chường những con đường chen chúc người xe và khói bụi, mệt mỏi với cuộc sống vội vã đua tranh, tôi lại thèm quá những ngày huy hoàng cũ, khi tôi còn là một cô bé chăn bò. Bởi thế, nếu một ngày nào đó không tìm thấy tôi trong chốn đô thị bon chen, bạn hãy đến tìm tôi giữa một cánh đồng …

Đông Vy

Một sớm xuân… tôi “phải lòng” thành phố

Tôi gặp Sài Gòn lần đầu ở bến xe Miền Đông, lúc bốn giờ sáng, sau một đêm ngủ dật dờ trên chuyến xe ngược rộng thênh thang.
saigon
Ngày giáp Tết, các chuyến xe từ miền Trung chủ yếu chạy xe trống vào Sài Gòn để đón lũ lượt khách kéo về quê ăn Tết, đâu có mấy người đi ngược vào thành phố như gia đình tôi. Chiếc xe năm mươi chỗ chúng tôi đón được trống hoác, chỉ có mươi người khách và chục cành mai rừng chất đầy dãy ghế phía sau. Nó khác hẳn những chiếc chạy ngược chiều, chen chúc lố nhố người đứng ngồi, trên mui xếp cao ngất những chiếc xe máy, xe đạp và những giỏ cần xé đựng đủ thứ từ trái cây đến đám heo con…

Tôi chạm mặt cái Tết Sài Gòn cũng ở bến xe Miền Đông, lúc bốn giờ sáng. Đó là khi những cành mai rừng từ miền Trung chở vào đang được dỡ xuống, chất thành đống trước mũi xe. Dưới ánh điện nghèo nàn vàng vọt từ dãy văn phòng bến xe dọi tới, những búp mai to vẫn ánh lên một màu xanh bóng, rỡ ràng và kiêu hãnh ưỡn mình báo hiệu: “Tết đây nè”. Cộng vào đó là tiếng nhạc xuân đang phát ra từ chiếc máy cát xét nhỏ ở một quán cà phê cóc gần đó, âm thanh vừa đủ để làm dịu đi sự bừa bộn cục cằn của những tiếng nói cười, đùa giỡn, kêu réo, than thở, rủa xả…đặc trưng của một bến xe.

Hăm Tám tháng Chạp. Sài Gòn đón lấy tôi ngay lập tức bằng một hỗn hợp phong phú của mùi vị và âm thanh. Mùi xăng dầu quấn quýt khắp cơ thể suốt đêm chẳng mấy chốc bị xua tan bởi mùi bánh mì phết bơ trộn mùi bánh bao nóng, và trong khi lếch thếch theo ba mẹ đi xa khỏi nơi xe đậu, tôi bắt đầu nghe thoảng mùi cà phê thơm từ dãy quán nước gần cổng bến.

Sai-gon
Cô chủ quán đón khách với nụ cười tỉnh khô lúc bốn giờ sáng. Mấy mẹ con háo hức thưởng thức ly sữa ông Thọ nóng hổi, ngọt lịm, thơm phức. Ba thong thả nhấm nháp một ly cà phê đen nóng trong khi nhìn quanh với cảm giác quen thuộc. Những người lái xe ôm, xích lô hỏi chuyện ba thân thiện như người nhà.

***

Mẹ thường chọn những ông xích lô già, với một tâm trạng đầy mâu thuẫn, luôn luôn. Hài lòng vì giúp được ông một cuốc xe, và day dứt khi người trẻ phải leo lên làm khách để người già còng lưng đạp.

Mới đạp được một đoạn ngắn, ông xích lô già đã không giấu được nhịp thở hổn hển dù đang chạy đường bằng. Chiếc xích lô chở ba và hai đứa em tôi đã rẽ qua ngã tư phía trước. Mẹ bảo thôi xuống đi bộ….cho đỡ tê chân. Ông già đạp xe không bên cạnh. Mẹ hỏi chuyện mới biết ông là thầy giáo về hưu, bệnh phổi nhưng con đông, nhà nghèo…Chiếc xe này là của anh con trai cả vừa bị tai nạn nằm một chỗ, ông mới chạy thay con hơn tuần nay để kiếm ít tiền ăn Tết.

Gió thốc. Ông ho sù sụ, nhưng vẫn áy náy nài hai mẹ con lên cho ông chở. Mẹ lặng người nắm chặt tay tôi. Ai đành lòng ngồi lên xe cho được. Mẹ dúi vào tay ông tiền cuốc xe, rồi thêm mấy bao lì xì: “Mừng Tết các cháu ở nhà”. Ông nghẹn ngào. Mẹ cũng chảy nước mắt… “Con cũng làm nghề giáo, thưa thầy! Vì vậy xin thầy đừng từ chối”… Chúng tôi cứ đi bộ như thế, một quãng xa, cho đến khi gặp một chiếc xích lô khác.

Tôi luôn ưa thích cái cảm giác phơi phới khi ngồi ngất ngưởng trên chiếc xích lô, chạy từ bến xe miền Đông về nhà ông bà Nội ở Phú Nhuận giữa khi trời đang hửng sáng. Những đôi quang gánh hàng rong mới bắt đầu xuất hiện. Cậu bé đánh giày thức sớm đang dọn dẹp chỗ ngủ đêm qua dưới mái hiên của một ngôi nhà.

Gió sớm mai trong trẻo pha hơi lạnh ngày cuối năm thổi về dào dạt những âm thanh và mùi vị thường ngày của thành phố. Phảng phất đâu đó mùi nước phở thơm khi ai mở nắp nồi. Mùi nhang thơm bàn thiên nhà ai thắp sớm. Vẳng đâu đó tiếng cửa sắt kéo. Tiếng đập đá từ những quán cà phê lề đường. Tiếng thở nhịp nhàng của một anh chàng chạy bộ buổi sáng trong bộ quần áo thể thao trắng tinh đột nhiên xuất hiện sau ngã rẽ…

Sài Gòn thập niên 1970's
Sài Gòn thập niên 1970's

Và thỉnh thoảng, lại xuất hiện một “kẻ quấy rối” phá vỡ sự yên tĩnh dễ chịu, đó là những chiếc ba gác máy chở rau xanh từ Bà Chiểu về Tân Bình, chúng nhanh chóng mất hút sau khi ồn ã để lại một dòng khói dài. Thỉnh thoảng lại xuất hiện những xe tải nhỏ chở đầy những chậu mai vàng từ Gò Vấp chạy về hướng quận Nhứt.

Là Tết đó. Là Sài Gòn đó.

Ngay bên đường là những hàng mai, cúc vàng, mãn đình hồng, thược dược đỏ rực rỡ còn ngậm sương bên người chủ úp nón nằm ngủ. Những đống dưa hấu đen bóng im lìm dọc lề đường, dưới những tấm bạt che tạm. Dưa hấu quê tôi nhỏ, trái tròn xoe chứ không to nặng và hơi nghiêng về hình oval, da xanh chứ không ngả đen bóng như vậy. Cái ngồn ngộn của những hàng “cầu dừa đủ xài”, bưởi, chuối, thơm bên cạnh những chồng nhang và hoa cúng chất cao xếp dài như bất tận gây ấn tượng mạnh mẽ đối với một đứa trẻ đến từ vùng quê nghèo như tôi. Một cách lặng lẽ nhưng không hề giấu giếm, những sản vật mùa Xuân của đất phương Nam trù phú đua nhau phô trương sự giàu có, phồn thịnh của chốn đô thành. Chúng hứa hẹn một cách chắc chắn cảnh đường phố mua bán rộn rịp xô bồ của ngày cận Tết một khi mặt trời đã rạng.

Nhưng hình ảnh đáng nhớ nhất đối với tôi trên đường xích lô thiên lý buổi ban mai hôm ấy, chính là một cái thùng tôn nấu bánh Tét đang bốc khói, đặt trên cái bếp xếp bằng mấy cục gạch dưới gốc cây to cạnh cột đèn đường. Một bà cụ già tóc bạc lui cui trở bánh. Bên cạnh là ông cụ ngồi bình thản rót trà từ chiếc ấm nhỏ đặt trên cái ghế đẩu trước cửa nhà. Trong ánh sáng mờ mờ buổi sớm, hình hài một cái Tết Sài Gòn chợt hiện lên rõ rệt, thân quen và ấm áp lạ lùng. Vẻ đẹp đó ập vào tim tôi, làm thành mối tình đầu không tài nào quên được với thành phố này.

***
saigon_cyclo

Chiếc xích lô dừng lại trước quán phở Tàu Bay, đối diện nhà thờ Ba Chuông. Và ngày Tết đầu tiên ở Sài Gòn trong trí nhớ của tôi bắt đầu từ xe bánh mì đầu hẻm Sơn mài Lam Sơn, cạnh cây trứng cá cổ thụ, với nửa ổ bánh mì to được xẻ một nhát dọc đầy phóng khoáng, phết một lớp bơ vàng ươm và một lớp patê mỡ màng, thêm mấy miếng chả và dưa leo thái mỏng, tiếp ngay sau đó là một ly nước dừa cạnh chiếc xe đẩy lề đường, một miếng kem chuối trong cái thùng kem ở đường Đặng Văn Ngữ, rồi sà vào ki ốt cho thuê truyện đọc ké mấy trang truyện Kim Dung, mua một quả bóng bay tung tăng xách về…chờ những người lớn sửa soạn đưa đi chơi Tao Đàn và chợ hoa Nguyễn Huệ…

Sài Gòn với tôi là vậy đó. Bình thường vậy mà sao nhớ mãi. Tôi cám ơn Sài Gòn vì đã không cho tôi gặp “ngọn xanh ngọn đỏ” ngay từ buổi ban đầu, không làm một “người nhà quê” như tôi bị khớp trước vẻ hào nhoáng của buổi đêm đầy đèn, hay những con đường chen chúc xe cộ. Bao nhiêu năm qua, buổi sáng chạm mặt Thành phố phồn hoa này vẫn vẹn nguyên trong tôi như cũ. Đôi khi, nhờ ký ức đó mà tôi thấy chốn này không hề xa lạ, dù nhiều khi nó cũng khiến tôi mệt mỏi. Bởi tôi biết rõ Sài Gòn vẫn (từng) có một khuôn mặt khác, chất phác, bình yên, gần gụi và trong trẻo…

Nhiều lần đi công tác xa, tôi trở về Sài Gòn cũng trên chuyến xe đêm, chỉ để tìm lại ký ức thân thương đó – buổi mà tôi đã phải lòng thành phố, ngày mà tôi đã cảm nhận trọn vẹn một cái Tết Sài Gòn từ rất sớm, rất gần …bằng một cuốc xích lô từ bến xe miền Đông về Phú Nhuận.

Đặng Nguyễn Đông Vy

Em Đã Về Chưa

Nắng đã cuối ngày em về chưa?
Mưa đã cuối mùa em về chưa ?
Cuối cuộc đường trần rồi em về đâu?
Cuối cuộc trăm năm hỏi em có còn nguyên vẹn nụ cười?
aodai

Em một đời nhan sắc, em một đời thiên tính hiền lành mà tuổi thanh xuân chừng quá ngắn, được bao ngày yêu thương, được bao ngày chiều chuộng, đóa hoa trên cành ấy anh mang về vụng về chưng cất hóa thành cầm tù trong cõi hạn hẹp chồng con.

Ngày xưa, ngày xưa yêu em như mây trắng, yêu em như hoàng hôn, yêu như một lãng du, yêu như một giã biệt…Em thấm thía nỗi niềm sau trước, sợ mất người, sợ mất mình, dư vị cay nồng của thuở hoa niên.

Rồi cũng đến cuộc chung thân. Thế rồi ta vẹn lời thề, thế rồi mẹ đón em về làm dâu, thế rồi mộng chẳng đến đâu, quẳng cái thanh xuân em âm thầm làm vợ tần tảo kiếm tìm hạnh phúc một nụ cười lấm mấy giọt mồ hôi.

Anh thì một đời không thực, một đời mộng ảo, một khát làm người, một khát làm vĩ nhân tỉnh lẻ, em thì thầm lặng như Chức Nữ dệt tấm gia đình con tằm rút ruột nhả đường tơ.

Thôi thì anh biết tạ ơn người, biết xin lỗi người, yêu em ta được nhiều mà như mất, li rượu cuộc đời chưa thôi say đắm, ruổi một cành hông, ruổi một câu thơ, có biết sau lưng thầm một tiếng thở dài.

Thôi thì biết tạ ơn người, ta xem cuộc đời như thơ mà em thì quí cuộc đời như thực. Ta ruổi theo niềm vui bè bạn tội nghiệp em mừng cho con từng con điểm chín mười.

Thôi thì lấy nhẫn nại làm vui, yêu ta em mất nhiều mà như được. Nợ em một đời nhan sắc chưa hoàn trả, nợ em một hẹn thề, nợ em một ngày mộng ảo… Ta liều lĩnh mà em cả tin, ta thế chấp mà không gia tài, em phá sản mà tưởng mình chủ nợ.

Mà thôi, lấy tình yêu và trách nhiệm làm vui. Giờ yêu người mới biết mình vô dụng, trăm câu kinh chưa làm được một câu tử tế, ta “ nhất sinh từ phú tri vô ích”, em nôm na giản dị mà hạnh phúc bình thường lại đến từ em.cò

Anh cảm ơn sách vở nào đã dạy cho em biết giản đơn xếp lại ngày thiếu nữ, biết làm con cò lặn lội bờ sông, biết thuận theo lẽ chồng là đầu của vợ, biết canh cánh bên lòng lời xưa mẹ dặn về nhà người chăm dậy sớm thức khuya.

Bao nhiêu năm rồi làm mẹ các con anh, tấm áo miếng cơm đã đành là nỗi niềm canh cánh. Có cơn mưa chiều nao cho đường quê lầy lội, cho người mẹ trẻ thắt lòng nghĩ nẻo về con nhỏ đường xa.

Có ngày hè nắng nôi, nhẫn nại bàn tay đưa gió mát, có đêm con trẻ ấm mình khó ngủ, anh người chồng tính đoản, nỗi khuya chăm ẳm chỉ vợ thôi.

Bao nhiêu năm rồi làm mẹ của các con anh để yên lòng người chồng cao đàm khoác luận. Thôi thì một chiều xếp bút nghiên sách vở, giản dị một điều: Anh biết cảm ơn em!

Thôi lấy an lạc làm vui, đất nước mình rồi giàu rồi mạnh, rồi văn minh âu hóa. Anh rất lạc quan tin rồi sẽ không còn những người vợ khổ, như tin vào lẽ công bằng dân chủ văn minh.

Riêng có một điều mong rằng đừng bao giờ thay đổi: Rằng vợ cứ ngoan cứ hiền, cứ cúc cung thầm lặng, cứ một đời phụ nữ Á đông, giữa thăng trầm cuộc đời với anh em cứ là bến đỗ bình yên. MeRuCon

Giờ thì đã cuối ngày rồi đó, nắng đã tắt và mưa núi sắp về giăng mắc, cánh cò của anh còn lặn lội nơi nào. Về đi thôi, về đi!

NGUYỄN TẤN ÁI.

Những lối về ấu thơ

Tôi ở Sài Gòn hơn mười năm, vậy mà thật lạ, trong những giấc mơ của tôi chưa bao giờ xuất hiện những con đường thành phố, mà luôn luôn, là những con đường đất quê nhà. Trong giấc mơ của tôi, những con đường không bao giờ thay đổi. Từ những đám cây bụi hàng rào cho đến những vạt cỏ dại ven đường.
langque
Nơi tôi lớn lên vốn là một giáo khu, vị linh mục già đầu tiên đã chia đất theo mô hình văn minh nhất cho đến nay, những lô đất vuông vức, và những con đường thẳng tắp cắt nhau theo hình bàn cờ. Tuổi thơ tôi lặn lội trên những con đường ấy, đến trường, đến nhà thờ, đến nhà bạn, nhà dì, nhà bà ngoại… Những con đường rợp bóng cây xanh, mượt mà cỏ dại, gió thổi êm êm giữa những xóm thôn tĩnh lặng yên bình. Cát miền duyên hải trắng mịn dưới chân.

Mỗi lần về quê, tôi vẫn thường một mình đi bâng quơ khắp các ngả, từ nhà bước ra rồi rẽ dọc, rẽ ngang, rẽ vô tình tuỳ hứng. Vậy mà rẽ đến đâu cũng chạm vào ký ức.

Con đường này thân thuộc lắm những đêm tôi đi xem ti vi ké ở xóm trên. Những ngày chưa có điện, cả xóm có độc một chiếc tivi đen trắng, xem bằng bình ắc quy. Tội cho chủ nhà, cứ bảy giờ tối dù chưa kịp ăn cơm xong cũng phải mở cổng đón khách, người lớn trẻ con ngồi từ trong phòng khách tràn ra đến ngoài hàng rào, mê mẩn với phim hoạt hình Hãy đợi đấy, đến Maika, Con bạch tuộc, Tình sử Angelic…Tôi xem phim xong có khi mười một giờ đêm. Mọi người túa ra thật đông rồi rẽ dần các ngả, tan dần những tiếng lao xao, tôi đơn độc một mình trên đường về, sợ ma ghê lắm nên không dám đi chậm. Co cẳng chạy mà có cảm giác tim mình không nằm trong lồng ngực, chân mình không chạm đất, nhảy qua cục đá này, tránh bụi cây chỗ này, tránh hố sụt bên kia…hoàn toàn theo quán tính. Tôi thuộc lòng từng hòn đá, từng vết đất nứt toác, từng hố sâu trên con đường đất đã bị mưa xói thành lồi lõm. Đêm không trăng, không sao, trời đen kịt, bóng tối lấp đầy sau lưng trước mắt, những cành xoài hai bên đường rủ xuống đầu, gió thối sau lưng như ai đuổi. Con đường ban ngày quen thuộc vậy, ban đêm vẫn sợ…Những đêm có trăng có khi càng sợ, bởi bóng lá rung rinh tứ phía. Có những đêm mưa, đường trơn ướt, đất hoá nhão. Một chiếc dép bị đất sét níu lại dứt không ra, tôi không dám dừng lại để gỡ, vẫn phóng như bay về nhà…Sáng mai đi tìm thì nước đã cuốn dép trôi nơi nào. Con đường này, suốt tuổi thơ tôi đã giữ lại đến bốn năm chiếc dép như vậy.

Ấy thế mà đêm nào tôi cũng đi xem tivi.

Từ đây rẽ phải là con đường tôi theo đám bạn hàng xóm đi đập chuồn chuồn. Mùa mưa, chuồn chuồn bay ngay vai tôi thành từng đàn rập rờn đông đặc. Chúng tôi hái cỏ bó thành bó như chổi, vừa chạy vừa đập tới tấp vào không trung, chuồn chuồn thi nhau rớt xuống đất, bọn con trai đem về cho gà ăn. Cũng con đường ấy, những ngày mưa, lũ trẻ chúng tôi chạy ùa ra tắm, thỉnh thoảng lại ghé vào nhà ai đó có máng nước, tranh nhau chỗ đứng cho nước xối. Rồi rủ nhau đi bắt ễnh ương. Con đường đất đọng nước thành nhiều vũng nhỏ. Ễnh ương và ếch nhái không biết từ đâu trôi về trong đó. Sau mỗi cơn mưa đầu mùa lại nghe chúng kêu gào ỏm tỏi…

Nếu rẽ trái ngay ngã tư này, sẽ là con đường dẫn xuống ruộng lúa, tôi hay đi dọc theo đó hái lá về cho thỏ ăn. Rồi có khi quên mất nhiệm vụ mà lang thang theo chúng bạn hái lá để chơi đá gà, hái những hạt nổ hoa tím bỏ vào miệng nhấm nghe nổ tách, tìm bắt những con cào cào châu chấu giấu mình trong cỏ. Ham chơi đi lạc, có lần tôi lạc vào một đám ruộng trồng hoa cúc, cúc tím, cúc đỏ…đẹp ngỡ ngàng như chốn thiên đường…Tôi ngồi đó ngắm suốt cả chiều, để cả nhà đổ tìm khắp chốn.
lang-que
Những con đường dọc ngang vuông vức, xanh mát và vắng người. Tôi có thể nhặt nhạnh thời thơ ấu của mình ở bất kỳ ngã tư nào. Đây là con đường đầy những cây dầu mà người lớn cảnh cáo là có trái độc, phải tránh xa. Những đêm trung thu, đôi khi không có đèn ông sao, lũ trẻ nghèo hái trái dầu khô xỏ thành dây rồi đốt. Còn con đường này có bãi cát trắng tinh. Những đêm trăng sáng cả xóm tụ tập về đó. Người lớn tụm năm tụm ba trò chuyện mùa màng. Trẻ con chơi rồng rắn lên mây, giật cờ…ngay giữa ngã tư, cười la khản giọng, đêm về ngủ tha hồ nói mớ. Thắng trước mặt là con đường có nhiều cây chùm rụm. Mùa thi, tôi bận học bài nên không đưa bò ra ruộng ăn cỏ, chỉ tranh thủ chiều dắt bò dọc hàng rào cho nó gặm ít lá xanh. Ông hàng xóm tếu tạo chọc “mi cứ cho Bò mi ăn chay rứa răng hắn có sức cày?”…

Những con đường xóm đều có bề ngang bằng nhau, trừ con đường chính dẫn từ Quốc lộ vào nhà thờ, ngang qua trường tiểu học của tôi có bề ngang tới hai mươi lăm mét. Vì vậy tên của nó là…đường Hăm lăm. Nó đủ rộng cho xe cộ, phơi phóng khoai lúa và cả chơi đùa. Trên con đường đó tôi theo bà đi lễ những sáng mờ sương, đeo cặp sau lưng đến trường mỗi ngày. Buổi chiều, sau khi giúp mẹ nấu cơm xong, tôi thường chạy xuống đường Hăm lăm để chơi với chúng bạn trong khi đợi ba đi rẫy về trên chiếc cộ bò quen thuộc. Tôi có thể nhận ra con bò nhà mình và chiếc nón của Ba tôi từ rất xa. Ba ngồi trước, tay vung vẩy cây roi. Con bò vàng dù vậy vẫn lững thững đi không vội vã. Những cây mía non lòa xoà ra phía sau.

Khi ba đến gần, tôi sẽ chào đám bạn và sung sướng nhảy lên cộ bò, ngồi lọt thỏm giữa rơm rạ, cày cuốc, thúng mủng, và bi đông nước. Cùng ba về nhà. Lòng rộn rã niềm vui hầu như không lý do, tôi nghe bụng đói, và mơ màng nghĩ về chén cơm nóng hổi với món trứng chiên mẹ đã dọn ở nhà.

Tôi nhớ những chiều ấy biết chừng nào. Ráng vàng ráng đỏ hắt lên từ phía núi. Và gió lồng lộng thổi từ phía biển. Bầu trời trên đầu ngả màu lam đậm, sâu thẳm. Mùi củi cháy trong bếp nhà ai lách tách. Và đâu đó giữa những vòm cây vươn lên một sợi khói xám mỏng manh.

Một lần, ba tôi bảo rằng cứ theo đường này đi về phía Tây mãi sẽ gặp núi. Đi về phía Đông mãi là gặp biển. Tôi gật gù nói lớn lên con sẽ đi hết đường này, từ biến đến núi. Ấy vậy mà tôi chưa đi trọn con đường quê mình – để đến núi và đến biển – thì đã vội rẽ theo đường quốc lộ để đi xa…

Có phải vì vậy mà những con đường ấy cứ theo tôi mãi…

Trong những giấc mơ, tôi vẫn thường thấy mình lon ton như trẻ nhỏ, tha thẩn đâu đó bên những rào chùm rụm quê nhà.

Đặng Nguyễn Đông Vy

Người Xa Lạ

“Người xa lạ” vốn là của Albert Camus nổi tiếng.
Còn người xa lạ này thì xoàng thôi, sử dụng những chiêu thức xoàng xĩnh, ai cũng gặp được, nhưng chẳng ai chịu nhận người quen, hóa thành người xa lạ.

lovers
Có hai người yêu nhau, hoặc quá yêu, hoặc chẳng còn yêu, mà cha mẹ lại cấm đoán, họ rủ nhau đi tự tử.
Địa điểm chung kết đời khốn nổi lại là nơi quá đỗi thơ mộng: Một chiếc cầu với những nhịp cong cong vắt ngang đôi bờ hoang dại.
Họ dắt nhau từ một bờ hoang dại đến đúng giữa cầu.
Họ hôn nhau lần cuối, lần này đúng là lần cuối thật, nụ hôn lành lạnh mùi thần chết.
Họ định ôm nhau và cứ thế lao xuống dòng sâu, quyết định này thì quá ư dại dột. Và thiếu kinh nghiệm.
Ôm nhau thì không nhảy xuống cầu được. Ôm nhau thì bận bịu lắm, làm sao mà chết được.
Mà phải chết. Họ chia tay. Mỗi người về một bờ sông. Mỗi người sẽ làm việc của mình.

Họ để lại giữa cầu một đôi giày và một đôi dép. Hàng xịn, vừa mua từ siêu thị, nơi đôi tình nhân đưa nhau đi ăn bữa trần gian cuối cùng. Có mặc cả hẳn hoi.
Họ để làm tin. Người nào nhìn thấy sẽ biết họ từ giã cõi đời từ dòng sông này.
Về thế giới của mình, chàng trai nghĩ: Dại ngộ, thiếu gì con gái, tội gì mà chết.
Và cũng là suy nghĩ của bờ bên kia.
Chàng quẳng xuống sông một táng đá lớn làm vật thế thân. Bùm.
Bùm, có tiếng từ bờ bên kia đáp lại.
Chàng nghĩ: Quay trở lại lấy đôi giày.
Và đó cũng là suy nghĩ của bờ bên kia.
Họ gặp nhau giữa cầu! cầu
Câu chuyện đến đó là hết.

Và hết như vậy thì chẳng có hậu bao giờ. Mời mọi người viết thêm lời kết.
Ví dụ như:
Họ chào người kia: Chào người xa lạ, cô từ thế giới nào đi đến?
Tôi từ sông hồ, tên tôi là Thủy Khấu.
Chào người xa lạ, anh từ thế giới nào đi đến?
Tôi từ núi rừng, tên tôi là Lâm Tặc.
Một con bói cá đậu trên thành cầu vọng lời góp chuyện:
– Các vị đến từ thế giới loài người, tên là Dối Trá!

Vậy đó các bạn ạ, trong thế giới của chúng ta, xấu nhất không phải là thủy khấu, không phải là lâm tặc, mà là những con người dối trá.
Người dối trá làm đau những người sống quanh mình.
Đến cơ quan, họ làm cho cơ quan thành bè phái.
Về hàng xóm, họ biết cách làm cho hàng xóm thành ganh đua.
truth lie
Vào nơi hội họp, họ làm cho nơi hội họp thành trường cãi lẫy.
Họ làm người, bất chính. Làm quan, bất liêm. Làm dân, tà vạy.
Dĩ nhiên, họ chẳng đồng chí với ai. Giữa họ với họ cũng chẳng là đồng chí.
Và khi hai người dối trá yêu nhau, tình yêu biến thành một trò cười.

Để cho thế giới này lạc quan hơn thì cần dọn dẹp cho sạch sẽ mầm dối trá.
Mà dối trá mọc lên từ đâu, làm thế nào để dọn dẹp sạch mầm dối trá?
Luận đề lại là của một diễn đàn và là một hệ thống mở.
Mời các bạn góp cho một kinh nghiệm, một lời bình, một châm ngôn, để khu vườn này bớt đi những chà chôm gai góc là ta đã chung tay dọn cỏ vườn trần. vuon5

Riêng người kể chuyện vẫn đau đáu về câu chuyện mình đang kể.
Nếu được phép phán quyết thì tôi sẽ tổ chức để đôi tình nhân ấy chết đi, chết thật.
Trong trường hợp này ta cần một bi tình hơn là một chuyện tiếu lâm.

Quế Sơn.
Nguyễn Tấn Ái.

Nhớ Khoai Mì

Đọc về mùa khoai mì ở quê Đông Vy, tôi lại nhớ đến củ khoai mì ở quê tôi! củ mì

Thật ra, tôi không hề có kỷ niệm gì sâu sắc hay ấn tượng gì đặc biệt với khoai mì, khi tôi còn nhỏ. Thậm chí tôi còn không biết cây khoai mì ra sao! Quê ngoại tôi ở vùng ven Sài gòn. Ngày nhỏ, khi về Bình Chánh, tôi chỉ thấy ruộng là ruộng. Những thửa ruộng xanh ngút ngàn, với những cánh cò nhỏ điểm trắng đây đó, là hình ảnh gợi nhớ nhất khi tôi đi xa, nhớ ngoại… Chung quanh nhà ngoại không có nhiều đất vườn. Tôi chỉ thấy rất nhiều dừa. Những thân dừa uốn cong, nghiêng ngã là nơi tôi và các anh chị họ, các bạn nhỏ đồng lứa túm tụm mỗi trưa hè với bao nhiêu câu chuyện ngộ nghĩnh, kể hoài không hết. ruongco
Tôi không biết lúc nhỏ tôi có hay ăn khoai mì không? Có chăng, khoai mì qua bàn tay khéo léo của ngoại tôi đã trở thành món ăn hấp dẫn chứ không chỉ là món khoai mì luộc chân chất như bây giờ tôi rất thích. Tôi nhớ hoài những buổi sáng thức dậy, được ngoại để dành một dĩa bánh tằm chan nước cốt dừa thơm ngậy. Hay buổi chiều ngồi trước sân vừa hóng ngoại đi chợ xa về muộn, vừa nhấm dần từng chút một miếng bánh khoai mì dẻo ngọt. Đó là một trong những món ngon từ khoai mì mà tôi còn nhớ. banhtammi

Quê nội tôi ở Quảng Nam. Trước ngày giải phóng, hè nào tôi cũng được về thăm quê và sống với cô tôi một tháng. Có lẽ khi tôi vào lớp đệ thất trường Gia Long, ba tôi nghĩ là tôi đã đủ lớn nên năm nào ba cũng cho tôi đi Đà nẵng một mình. Ba tôi muốn tôi về quê để biết mồ mả ông bà, biết họ hàng thân thuộc. Tiếng là về quê, nhưng thời tao loạn đâu còn ai ở quê. Tôi chỉ biết Đà nẳng thôi. Những chuyến bay Sài gòn – Đà nẳng chỉ cho tôi thấy dải bờ biển dài uốn khúc với màu nước biển đa sắc, thay đổi rõ rệt theo độ nông sâu của từng vùng. Tôi vẫn chưa biết gì về ngôi chợ nhỏ Vĩnh Điện, về dòng Thu Bồn mát rượi trong trí nhớ ba tôi…

Mãi đến sau ngày giải phóng, tôi mới được về quê cùng ba trên một chuyến xe đò. Thời đó, xe cộ rất khó khăn. Từ Sài gòn ra Đà nẳng, tôi và ba phải trải qua hai ngày một đêm. Bao nhiêu là vất vả với vô vàn bất tiện! Nhưng đó là một trong những chuyến đi cho tôi nhiều ấn tượng nhất. Đó cũng là lần đầu tiên tôi biết cây khoai mì. Qua cửa sổ xe, tôi nhìn thấy một loại cây thân gầy, mảnh khảnh, lá chia nhánh, mọc thành luống san sát nhau. Tôi hỏi ba “Ba ơi, cây đu đủ ở đây nhỏ ghê Ba ha?”. Ba tôi bật cười “Không phải đu đủ đâu con. Đó là cây khoai mì đó”.

regrowforest_khoaimi
Rồi tôi phiêu bạt đến vùng đất Tây nguyên. Nhà tôi ở trên một triền đồi rộng, là một trong bốn căn nhà nhỏ nằm sát bìa rừng. Ở nơi đó, tôi có thể thấy bạt ngàn khoai mì, bất kể mùa nào. Khoai mì ở đây được đào lên rất trễ. Thân cây to, vững vàng, chứ không mảnh khảnh như tôi đã từng thấy. Và củ khoai mì rất lớn. Dân làng trồng khoai mì chủ yếu làm thực phẩm. Loại trắng, ngon để độn cơm. Loại thâm, dở dành cho gia súc. Khi đào khoai mì lên, người ta cũng lột vỏ, xắt khoai thành từng khoanh mỏng. Rồi phơi. Nhưng không có cảnh “mùa khoai mì”. Vì khoai mì trồng được quanh năm, không phụ thuộc thời tiết, như là một cách tận dụng nguồn đất, nên mỗi nhà trồng và dỡ khoai mì theo nhu cầu riêng của gia đình mình.

Tôi bắt đầu gắn bó với củ khoai mì. Thời buổi cơm gạo khó khăn, hàng ngày lũ sinh viên chúng tôi phải ăn cơm độn khoai mì. Thật ra cũng chẳng có khoai mì để ăn đâu! Mấy cô cấp dưỡng, không biết vô tình hay cố ý, thường cho khoai mì vào chảo cơm rất trễ nên gần như toàn bộ khoai mì đều còn sống. Cơm nấu cho tập thể không nấu bằng nồi như trong gia đình mà nấu bằng những chảo lớn, đặt lọt thỏm vào những bệ xi măng. Các cô cấp dưỡng đi quanh bệ với cái xẻng lớn để xới cơm. Chỉ có các bạn nam, sức ăn mạnh, mới có đủ can đảm nghiền luôn những khoanh khoai mì sống. Bọn con gái chúng tôi chỉ liếm láp ít hạt cơm bao quanh khoanh khoai mì. Toàn bộ khoai mì bị bỏ lại ấy, theo như tôi biết, được các cô cấp dưỡng mang về nuôi heo!

bánh cayNhững món ăn ngon bấy giờ cũng khác. Món bánh cay, là những viên nhỏ được vo lại từ sợi khoai mì có nêm gia vị cùng một ít ớt bột rồi đem chiên phồng, là một trong những món ngon vừa túi tiền của bọn con gái. Buổi chiều, trong cái lạnh se sắt của Ban Mê, bọn tôi đi thành từng nhóm nhỏ hai ba đứa từ ký túc xá ra chợ, chỉ để mua bánh cay nhâm nhi dọc đường về. Bánh đúng là cay, chảy cả nước mắt với con bé không biết ăn ớt là tôi! Nhưng điều đó làm tôi hạnh phúc! Khi tôi mường tượng mình cũng đang leo lên một con dốc dài, tay đút vào túi áo ấm, đang tận hưởng mùi vị của mùa đông Ban Mê, tôi tưởng như tôi là một nhân vật nào đó trong truyện của Đinh Tiến Luyện hay Từ Kế Tường. Điều đó nuôi dưỡng chút lãng mạn trong tôi, giúp tôi vượt qua được một trong những giai đoạn đầy khó khăn một cách thi vị!

Bây giờ, những buổi sáng trời Sài gòn se lạnh, tôi lại nhớ Ban Mê da diết. Và thèm làm sao một củ khoai mì luộc, củ khoai mì đã đồng hành cùng tôi trong giai đoạn khó khăn và tràn đầy hạnh phúc! Tôi nhớ những thâm tình khoai sắn của tôi, đã cùng tôi qua bao nhiêu tháng năm và cho tôi bao kỷ niệm ngọt ngào của một thời khốn khó mà mộc mạc chân tình!

Tặng Ban Mê của tôi.

Phạm Kiêm Yến.

Kể chuyện tôi

Ai cũng bảo xòe bàn tay ra, trong ấy có cả quá khứ vị lai.

Tôi thì không tin rằng chỉ cần ngồi lẩm nhẩm với mình mà đọc được cái gì chưa đến.

Còn quá khứ thì đâu chỉ nằm trong lòng bàn tay.

Tôi vay ngân hàng ba mươi triệu, quá khứ của tôi nằm ở ngân hàng.

Tôi vay của người hàng xóm đôi lời chì chiết. Quá khứ giờ đang nằm ở nhà hàng xóm.

Tôi vay em một thời yêu thương. Chuyện này thì cầu mong quá khứ còn náu mình đâu đó nơi em.

Cánh tay trái của tôi có một vết sẹo dài 2cm, cũng là dấu tích của quá khứ. Mà dễ thương lắm, vết sẹo của tuổi thơ, chứ không phải vết tích buổi lang bạt giang hồ.

giadinh-chuctetThuở nhỏ, đâu trước năm 1975, kí ức thanh bình là vườn nhà với bụi mía mưng. Tôi với cái câu liêm, loay hoay thế nào không biết, chẳng chặt được cái ngọn mía, lại băm vào cánh tay mình. Khóc tóe lên. Mẹ hết hồn. Mẹ nhai nắm ngọn lá sắn với ít muối đắp vào. Vậy mà khỏi. Rồi thành sẹo.

Giờ thì cái sẹo đã qua hai chế độ, nó vẫn cứ là cái sẹo, chẳng nên tích sự gì, mà với tôi đó là tuổi thơ, tinh nghịch và dại ngộ, có buổi trưa nắng, có bụi mía mưng, có mẹ tôi. Một trang kí ức.

Rồi liên tiếp những vết sẹo trong đời.

Ngày chị tôi đi có chồng. Không hiểu sao tiễn chị đi, cả nhà khóc, chị tấm tức, tôi cũng rống lên. Tình cảm hay tục lệ gì đó mà ngày xưa con gái đi có chồng là khóc, (ba tôi giải thích rằng phải khóc vì thương ba mẹ rồi đây không người phụng dưỡng). Thật khác với bây giờ, các cô đi có chồng mặt cứ tươi như hoa, sướng như cầm vi sa đi xuất khẩu lao động.

Vậy là mất chị.

Ngày ba tôi đi. Năm tôi mười hai tuổi. Ông đi vội trong một ngày cận tết, chưa kịp đón xuân. Khi chị tôi nấu xong một nồi cháo gà, đùm túm băng bộ đúng năm cây số đường đồi về vừa đến nhà thì ông vừa đi khuất. Nồi cháo gà tung tóe giữa sân. Một cái tết buồn hiu. Rồi mãi mãi không còn dáng ông khề khà li tiếp bạn, khề khà một câu thơ nghịch nghịch:

Cả năm nuốt sắn có lườn
Để ba ngày tết lo đường lo heo.

Rồi ngày mẹ tôi đi. Bà đi vào trước lễ giáng sinh. Tôi tuổi đã bốn mươi. Nhìn mấy đứa con bịt khăn tang mà lòng tôi dài dại. Ngồi bên mẹ mà nhẩm hoài câu thơ của Đồng Đức Bốn:

Đưa mẹ lần cuối ra đồng
Ba hồn bảy vía con mang vào mồ
Mẹ nằm như thuở còn thơ
Mà con trước mẹ già nua thế này.

Những vết sẹo buồn, mà mỗi lần soi vào tôi lại thấy tôi với ngày, với tháng, với năm…

Gia đình hạnh phúcCũng có những vết sẹo vui vui.

Như cái ngày đểnh đoảng thế nào đi nhậu tôi lại để điện thoại di động ở nhà. Vừa về đến nhà, vợ yêu đã giọt ngắn giọt dài cầm cái điện thoại tế thành văn: Anh ơi là anh…

Mắt vợ nhìn chăm chăm vào danh bạ có dòng mật mã “ người tình trăm năm”.

Tôi hồn vía thăng thiên. Vợ đã bắt tận tay day tận cánh. Có chạy đằng trời. Nàng thì hiền, nhưng những khi đang cảnh vệ tuần tra thì cũng rất ư là cảnh sát.

Tôi định thần nhìn kĩ, hú ba hồn bảy vía, mật mã giành cho vợ! Số ĐT: 0982…

Vỡ chuyện, xác minh đúng số của mình. Nàng cười, rồi không hiểu sao lại khóc, rồi lại cười, lại tíu tít: Anh hà, anh hí…

Tôi thật không phải khi cứ lôi cái tôi của mình mà kể, cà kê dê ngỗng, còn nhiều chuyện lắm, nhưng lịch sự nên dừng lại.

Mà nói thực, không có những chuyện dấm dớ ấy thì chẳng có đời tôi, thì chẳng biết kể gì.

Nói cho nghiêm túc thì mấy ai có cái phúc lớn là vĩ nhân để mỗi ngày mỗi tháng mỗi năm đều là những cột mốc đánh dấu lịch sử nhân loại, dân tộc.

Chờ cho đến cái sự trọng đại e hết một đời, khi lại hờ hững với mình của những ngày qua, khéo lại thành tập hợp rỗng mất.

Một lần nhớ lại mẩu chuyện xưa, tôi lại giật mình, chuyện chàng rể làm văn tế bố vợ.

Nhiệm vụ thì trọng đại, mà nhớ hoài chẳng biết viết gì, cậu rể đâm liều viết sảng:

Ông này bác mẹ sinh ra
Lọt lòng ông khóc oa oa
Sau này ông trở về già
Bây giờ ông hóa ra ma.

Cười mà đau, mà thương một đời người không ngày, không tháng, không năm.

Nhân vật của câu chuyện ấy hẳn không là vĩ nhân, vì sách giáo khoa lịch sử không nhắc đến.

Và nhân vật ấy chắc chắn là tội nhân, chí ít là tội đồ với chính mình bởi quá hờ hững với mình đến độ ngay cả những người thân cũng không biết tí gì về mình cả.

Tôi cũng vừa học được cái lẽ sống chí tình từ một người chưa quen, rằng: Muốn yêu người thì phải biết yêu mình.

Nhatky Tôi nghĩ mọi người cũng thế, cũng có quyền yêu mình bằng một vài dòng nhật kí, là kiểu bắt buộc mình phải có ý nghĩa với mình. Mà đó cũng là quyền dân chủ, cũng nên tận dụng.

Biết chừng đâu rồi một ngày lại nhận ra khi không hờ hững với mình thì cũng đã tích cực lắm với cuộc sống rồi.

Là thực hành cái nguyên lí biết yêu mình.

Thì yêu mình, bạn cứ kể chuyện mình, còn tôi kể chuyện tôi.

Nguyễn Tấn Ái

Như chờ tình đến rồi hãy yêu

Sáng nay tôi nhìn thấy em ở ngã tư. Đèn đỏ còn sáng và đồng hồ đang đếm ngược. Ba mươi chín giây. Em đang vội, chiếc xe đạp điện màu đỏ cứ nhích dần lên. Không chỉ mình em, nhiều người khác cũng vội. Những chiếc xe máy cứ nhích dần, nhích dần lên…Sống là không chờ đợi. Dù chỉ mấy mươi giây.

Tôi nhớ có một hôm nào đó, em đã nói với tôi rằng đấy là một triết lý hay, ta phải tranh thủ sống đến từng giây của cuộc đời.
nhan
Nhưng em biết không, đừng vì bất cứ một triết lý hay nào mà gạt bỏ đi ý nghĩa của sự chờ đợi. Bởi chờ đợi ở đây không phải là há miệng chờ sung, mà chờ đợi là một phần của bài học cuộc đời. Em sẽ bằng lòng đợi chứ, nếu em đã học biết về điều sẽ xảy ra?

Đợi khi xếp hàng ở siêu thị, vì biết rồi sẽ đến lượt mình và rằng đó là sự công bằng. Đợi tín hiệu đèn xanh trước khi nhấn bàn đạp, vì biết đó là luật pháp và sự an toàn cho chính bản thân. Đợi một người trễ hẹn thêm dăm phút nữa, vì biết có bao nhiêu việc có thể bất ngờ xảy ra trên đường. Đợi một cơn mưa vì biết rằng dù dai dẳng mấy, nó cũng phải tạnh. Đợi một tình yêu đích thực vì biết rằng những thứ tình yêu “theo phong trào” chỉ có thể đem đến những tổn thương cho tâm hồn nhạy cảm của em…

Vì vậy mà hãy cứ bình tâm, em nhé. Cuộc đời ta cũng như rượu vang vậy. Có những loại vài tháng là uống được. Nhưng cũng có loại phải lưu giữ rất nhiều năm để đạt độ chín cần thiết. Điều quan trọng không phải là sớm hay là muộn, mà là đúng lúc. Bởi mọi thứ đều có thời điểm của riêng mình. Vị rượu ngon chính là phần thưởng của tháng năm.

Cũng như câu chuyện về hai chú sâu kia. Sâu anh nằm trong cái kén cảm thấy bực bội vô cùng, nên cố vùng vẫy thật mạnh để mong thoát ra ngoài. Vùng vẫy ngày này qua ngày khác, sâu mọc đôi cánh bé. Nó lại cố ra sức đập cánh, đôi cánh dần lớn ra, cứng cáp. Và cuối cùng, sâu anh hóa bướm, rũ bỏ cái kén chật chội để bay lên cao. Khi đã thoát ra rồi, nó mới thấy sâu em vẫn còn mắc kẹt trong kén. Nó hăm hở lao đến giúp em phá vỡ cái kén và đưa sâu em ra ngoài.

Thế nhưng, em biết không, sâu em mới chỉ có một đôi cánh mỏng manh bé xíu. Nó không thể bay lên như anh và cũng không còn chiếc kén để bảo vệ thân mình. Bướm anh khóc ròng nhìn em bị đàn kiến tha đi.
wait
Tôi nhớ có một câu danh ngôn, đại ý rằng “Bạn sẽ có được con gà con lông vàng mũm mĩm bằng cách ấp trứng, chứ không phải bằng cách đập vỡ cái trứng ra”. Vậy thì đó là lý do tại sao con sâu phải nằm trong kén đủ ngày rồi mới được hoá thân. Cũng như con người phải chín tháng mười ngày mới nên rời lòng mẹ. Đó cũng là lý do của ba mươi chín giây đèn đỏ, của mười hai năm miệt mài trên ghế nhà trường, của một mối tình thiết tha còn chưa chịu hé lộ. Và của rất nhiều khoảnh khắc chờ đợi trong cuộc đời.

Mọi vật đều có thời điểm của mình. Em đừng cố rút ngắn thời gian. Nếu trái chưa chín thì đừng nên hái. Nếu nhộng chưa chín thì đừng phá vỡ kén tằm. Nếu chưa gặp được một tâm hồn đồng điệu thì đừng trao gửi trái tim. Đừng để thế giới này tác động.

Xuân qua hè tới. Đông sang thu về.

Đừng nôn nóng khi nhìn thấy những loài cây khác đã khoe lá khoe hoa. Hãy cứ bình tâm. Hãy đợi thời điểm của mình, em nhé. Hãy tận dụng khoảng ngừng lặng này để bồi đắp cho chính mình và học cách khám phá điều sẽ xảy ra. Nếu em biết suy tư, khoảng thời gian chờ đợi không bao giờ là vô nghĩa.

Vì thế, dù cuộc sống có trôi nhanh biết mấy, em nhớ để dành trong đời mình những khoảng lặng thời gian cho sự đợi chờ. Không chỉ như chờ đèn xanh bật sáng ở ngã tư, mà như chờ rượu chín rồi hãy uống.

Như chờ tình đến rồi hãy yêu.

Phạm Lữ Ân

Giải Mã Ẩn Số “Chữ Người Tử Tù”

Nguyễn Tuân đã chọn cho siêu phẩm của mình cái tựa đề đích đáng. “Chữ người tử tù” là chuyện một viên quan cai ngục bất chấp luật vua phép nước, ngầm thách đố với nhục hình tử tội mà tìm cầu một bức lụa trắng trên đó tung hoành nét chữ vuông tươi tắn của người tù Huấn Cao.
thu phap tam_2
Cái nét chữ của người tử tù tài hoa ấy đã trở thành ẩn số có sức hút mãnh liệt, nó hội tụ mọi chú ý của người đọc khi hồi hộp theo dõi lịch trình tác phẩm. Để tạo được hấp lực ấy Nguyễn đã kì công đến bao nhiêu khi lúc gần, lúc xa; lúc đậm lúc nhạt mà tạo tác ấn tượng về con chữ.

Song kì lạ thay, đến khi ông Huấn “thay bút con đề xong lạc khoản”, người đọc mới bất ngờ nhận ra: Nguyễn Tuân đã không giúp cho người đọc biết nốt ông Huấn đã ban tặng cho người có cái nhã thú cao quí là ngục quan ấy chữ gì. Vậy là đến khi thiên truyện khép lại, chữ- người – tử – tù vẫn còn là một ẩn số. Và, vì kết trong một tư thế rất mở nên chữ người tử tù vẫn không ngừng khơi gợi liên tưởng của người đọc xưa nay.

Tôi cũng thuộc loại người chịu tác động dữ dội của lối kết lấy không gợi có, vẽ mây nẩy trăng rất tài tình kia.Và tập tành theo dấu người xưa, tôi đã quyết tìm thầy xin chữ, may ra gặp duyênngộ được ít nhiều.

Và để tìm một đáp số cho mình, tôi đã lần dò về phép chơi chữ của người xưa.
Các cụ xưa dạy:

Đệ tử tầm sư dị
Sư tầm đệ tử nan.

Trong phép chơi chữ, lời truyền phán ấy càng thể hiện mình ở một chân lí ghê người. Làm sao tìm đúng được người học trò có cái căn cơ cốt cách tìm ẩn năng lực của một đoá kì hoa dị thảo mà lĩnh hội cho bằng hết sở học vĩ đại của người thầy khi mọi uyên áo thâm sâu lại cứ kín đáo ẩn mình sau con chữ? Có thể xem phút giây người thầy cho chữ trò cũng là phút giây mà sư phụ chân truyền tuyệt học, trao luôn y bát cho người đệ tử thành tâm. Một chữ mà ngầm dấu cả một trăm năm công lực. Chính vì vậy mà phải hiểu đến từng công đoạn tu luyện của người thầy.

Trước là nét chữ.

Người xưa thường bảo: Nét chữ nết người. Người giàu nộ khí, nét cương ngạnh cứng cõi, phóng cao mà chọc sâu , như sẵn sàng gãy đổ, như ngàn núi lửa cuộn khí chỉ chực phun trào. Người khoan khoái ung dung, kinh mạch điều hoà, lòng không phiền não, nét chữ mềm mại khoan thai như hành vân lưu thuỷ, coi chỗ sắc mà đoán độ thâm trầm uyên áo, coi đường mềm mà hiểu được hàm dưỡng công phu.

Đọc được nét chữ là khởi đầu có thể chơi chữ.

Sau, chọn người mà cho chữ.

Cái chữ là cái nghĩa , còn hợp với tạng người.

Chữ sâu sắc cho người cạn cợt thì hoa nhài cắm bãi cứt trâu. Chữ vung vít cho người đứng đắn thì ngạo đời khinh mạn. Người nào chữ ấy thì mới hợp lí hợp tình. Chính vì vậy mà tác giả viết về ông Huấn là “tính khoảnh” nên “trừ chỗ tri kỉ ít khi ông chịu cho chữ”. Huấn Cao cũng tự nhận là “đời ta chỉ viết có hai bộ tứ bình và một bức trung đường cho ba người bạn thân”. Có phải cùng một lẽ ấy chăng mà đường đường một cụ Tam Nguyên đầy mình chữ nghĩa mà khi cho chữ những người hàng xóm, Nguyễn Khuyến lại chỉ dùng toàn những “xanh”, “đỏ”, ”tím”, “vàng” hay “lầm” , “than”, “rèn”, “cặp” …là những chữ nhặt nhạnh được từ rổ rau luống cày trong cái sở học bình dân.

Và như thế, nét chữ, nghĩa chữ thâu tóm cả hoài bão, ước vọng và quan hệ của người cho kẻ nhận.

Đến đây tôi hoài ngẫm nghĩ: ông Huấn trong cái đêm thiêng đến chưa từng có ấy đã ân cần trao cho thầy Quản chữ gì?

snowy_bambooNhân – nghĩa – lễ – trí – tín chữ giành cho người quân tử trọn tài vẹn đức đạt đạo ở đời, há có thể đặt vào tay thầy Quản ?

Đức lưu phương giành cho người đạo cao đức trọng danh để muôn đời; một viên quan cai ngục có chút lòng thành le lói thiên lương, hẳn ông Huấn cũng không khinh xuất mà tùy tiện ban tặng.

Hòa vi quí giành cho người cao niên lão thực, yêu người và lấy cái yêu người làm căn cốt để trọng mình xem chừng cũng không hợp với thầy Quản.

Chữ gì đây?

Tôi chợt nghĩ một Huấn Cao tài hoa khinh bạc vì cảm động trước tấm lòng thầy Quản mà cho chữ.

Tôi nghĩ một Huấn Cao lòng thành khi ban tặng cho người cai ngục cái chữ thì cũng ban luôn cả một huấn thị thiêng liêng.

Tôi nghĩ đến tấm lòng thành của viên cai ngục.

Trong tôi hài hoà đến hiển nhiên một Huấn Cao- một Cao Chu Thần một thời vang bóng.

Tôi nghĩ mãi lời khuyên “thay đổi chỗ ở”, “tìm về nhà quê” để “giữ thiên lương cho lành vững” mà ông huấn chân thành khuyên thầy Quản. Chao ôi! Phải chăng đó là khát vọng ẩn cư để tịnh cái tâm giữa đời hỗn loạn xô bồ mà danh sĩ họ Cao đã ngầm dấu trong hai chữ Cúc Đường. Phải chăng đêm trước ngày ra pháp trường ông Huấn đã ân cần trao gửi lại cái khát vọng một đời cho người quản ngục? Là ban cho, là trao gửi, là dặn dò…

Ôi, cái chữ người xưa!

Bất giác tôi cũng vái người tù một cái, nói một câu mà dòng nước mắt rỉ vào kẽ miệng làm cho nghẹn ngào:

Kẻ mê muội này xin bái lĩnh!

Quế Sơn
Nguyễn Tấn Ái.

Lời Quê Chắp Nhặt Dông Dài Mua Vui

Những trang sách bọc bằng con chữ rồi qua đi, ngôn từ xênh xang rồi qua đi. Rồi chữ rồi câu sẽ thối rữa, sẽ mục ruỗng theo thời gian. Lẽ dĩ nhiên chữ cũng chịu thăng trầm hưng phế.
Mà cũng đúng thôi, cái hiển ngôn hữu hình thì hữu hạn.
Rồi đi mất, rồi đi tuốt.
bencau_resize
Thỉnh thoảng cũng có quay về, bằng vô hình, bằng vô ngôn. Là khi vô ngôn lên tiếng, là khi cái chưa trọn vẹn cựa quậy đòi quyền trọn vẹn
Là khi rùa vàng lập phiên tòa trên các kể tội An Dương Vương chủ quan mà vô trách nhiệm, mà giết oan đứa con gái tội nghiệp Mỵ Châu, và đế vương đứng vào vị trí kẻ nghiệt đồ.
Là khi nàng Vân kể hoài nỗi đau cũng một đời xuân sắc mà chẳng được yêu đển một sân quế hòe để một thân cù mộc cô quả.
Là khi một cuồng sĩ ngang tàng đòi tước hộ khẩu và đuổi tuốt cái hoa sen ra khỏi gia đình ca dao bởi là đồ vong ân bội nghĩa, hắn từ bùn đen mọc lên lại ngoa ngoắc mắng mỏ đồ hôi tanh bùn đất.

Và chàng Thúc Sinh của truyện Kiều chừng cũng hàm oan, và tôi cũng liều mình vì chàng đệ một đơn khiếu kiện. Ấy là quyền dân chủ.
Chàng giàu có đại gia, “ trăm nghìn đổ một trận cười …”
Chàng có thế thăng tiến, rể nhà họ hoạn danh gia.
Tiền ấy, thế ấy bét ra cũng là một tay thầu khoán đủ cơ khuynh loát.
Tiền ấy , thế ấy bét ra cũng nhà hàng khách sạn năm sao ra vào vênh váo như Cao, như Quỳ.
Vậy mà con người ấy đã vứt bỏ tất cả để lặn lội vào chốn lầu xanh cầu lụy chút nhan sắc tàn phai, cầu lụy chút tài tình thi tứ ở Kiều.
Lại còn vì Kiều kêu oan ở chốn công đường nữa.
Ứng xử ấy kể vào hàng nghĩa khí, mà suốt hai thế kỉ qua, dễ chừng mấy thế kỉ Thúc Sinh vẫn còn chịu treo lơ lửng cái án “bỏ của chạy lấy người”.

Ừ thì họ Thúc không dám đặt mình ngang hàng với bậc tài danh Kim Trọng.kieu
Họ Thúc cũng biết điều chẳng dám ngang bằng với đấng anh hùng Từ Hải.
Song ngoại cái đẳng cấp đấng bậc kia, thế nhân dễ thường mấy ai bằng Thúc?
Hai trăm năm sau dễ thường mấy ai bằng Thúc.
Hai trăm bốn mươi năm sau dễ thường thế nhân mấy ai bằng Thúc.
Bằng, ừ thì bằng, mà bằng ngang cái chỗ họ Thúc không lấy làm đắc chí.
Bằng cái tiền, cái thế, cái trăng hoa…
Mà kém lại kém ngay cái chỗ họ Thúc bị danh gia mắng mỏ, kém cái tình si, kém cái thực lòng.
Đành rằng cũng chốn lầu xanh.
Đành rằng cũng phường trăng gió.
Mà phẩm chất cái chữ người thì khác nhau nhiều quá.
Kẻ hèn này may mà không quyền không thế, thôi thì cũng thanh thản mà thẹn cùng họ Thúc:

Kiều của anh ơi, xa rồi anh vẫn nhớ
Vẫn trách mình chẳng đáng mặt Thúc lang.

Ừ, đôi lúc học làm người thanh cao mà cứ thấy mình rơi tự do vào vòng tục lụy, kể cũng ngậm ngùi!
Thôi thì trăm lạy cụ Nguyễn Du!
Hiền như cụ, lành như cụ, kiệm lời như cụ ,đến bậc quân vương Nguyễn Ánh một tay giành giựt cơ đồ oai phong lẫm lẫm mà cụ chẳng chịu phụng lấy nửa lời, mà sao cụ nỡ mắng thế nhân, mà mắng khéo thế.
Thôi thì nghìn lạy cụ Nguyễn Du!
nguyendukieu-01 Kì kinh nghĩa cụ qua rồi.
Kì chế biểu cụ qua rồi.
Kì thi phú cụ cũng qua rồi.
Cụ xứng bậc tam trường.

Mà cái kiểu trọng chữ tình như cụ hẳn không qua nỗi kì văn sách, đánh hỏng cái cử nhân, thôi đành mang vác cái nghiệp võ biền ở sở Thái Nguyên.
Cụ luận thế nào mà để cho chàng Kim cũng nòi thế phiệt ,cũng giống thi thư mà suýt gây ra cuộc mây mưa đánh đổ đá vàng?
Cụ luận thế nào mà để cho đấng anh hùng dọc ngang trời đất là Từ Hải cũng đành hụt hẫng cái ngai vàng cũng bởi lời Kiều thỏ thẻ?
Cụ luận thế nào mà trong danh sách tình nhân của bậc danh kĩ kia có đủ văn thần ,danh tướng cùng kẻ trăng hoa?
Mà xét cho cùng kẻ vật vờ trăng gió lại kín đáo điểm đôi phần nhân cách.
Kể thì cụ nhạo đời cũng quá đáng.
Mà cụ đã không quản áo cơm gia cảnh nuôi cho Kim ăn học nên người, cũng bảng vàng bia đá chứ nào phải kẻ nột nho, hẳn ý đã vì Kiều mà lặn lội mười lăm năm thuê mướn cho được một trạng sư có đủ văn bằng để biện lí cho Kiều qua khỏi tiếu đàm nhân thế:

Như nàng lấy hiếu làm trinh
Bụi nào cho bẩn được mình ấy vay.

Mà cụ liều đáo để trong lời ấy. Chừng non hai trăm năm sau, một bậc túc nho đã nghiêng quá nửa mình sang phần Tây học, ba phần cựu một phần tân, mà cái phần cựu trụ một chân vẫn vững vàng thế tấn trong lời phán quyết: “ Ngạ sử nữ bất tục, thất tiết bất thông”( Phan Khôi ).

Phải chăng giàu lời châu ngọc cho Kim để giấu vào sách vở.
Phải chăng giàu lời tôn tạo cho Từ để cất trong tủ kính.
Cụ nôm na quăng quật họ Thúc giữa đời để Thúc mãi cựa quậy với đời nôm tạp.
Kim dừng bước khi Kiều thôi lưu lạc.
Từ cũng cáo chung khi sự nghiệp tan tành.
Mà họ Thúc thì đa đoan lặn lội đến mai sau để đem tấm thân lấm láp của mình mà cật vấn đời sau, mà căn dặn đời sau đã yêu thì yêu cho thật..

Kẻ hậu sinh lạm nhận mình cũng nòi tình, cũng lụy tình, cũng cái án tình đeo đẳng có dư mười lăm năm ấy nên yêu chàng họ Thúc.
Xét Kiều ba cuộc tình đã phải lận đận đến ba bận chia li.
Kim Trọng biệt Kiều vì tang chú, đã đành. Mà vẫn cười khan Kim khi khật khù treo ấn từ quan thì đã muộn.
Từ Hải giã Kiều ruổi theo cuộc công danh, một lần phụ tình mà chưa một lần tình phụ kể cũng tốt đường tình của khách viễn phương.
Thúc Sinh bịn rịn xa Kiều, muôn dặm xa xôi vì mệnh lệnh tình yêu ủy thác. Một chia li đáng thành thi tứ!
Thế nhân khó có quá hai Kiều.
Mà dễ thường hiếm hoi một Thúc.
Khen không đúng chỗ khéo lại phàm phu, khéo làm cụ giận, rằng: Thúc Sinh mới là cái chí tình của Tố Như!

Kẻ hậu sinh tối nay nhân trời mưa gió, không ngao du bè bạn được, đành cạn khan một chén trà, ngồi buồn ngẫm lại cõi người ta trăm năm, liều lĩnh thưa cùng cụ đôi lời, cũng liều lĩnh mà thiếu đi chữ “lễ”.
Miền trung kì này mưa bão liên miên, lũ lụt cuốn trôi, sách vở thánh hiền thất thoát chẳng còn gì, làng Tiên Điền của cụ hẳn cũng cùng cảnh ngộ miền Trung.
Dám mong cùng cảnh ngộ mà cụ thương cháu xót con, mà cười xòa đánh cho hai chữ “ĐẠI XÁ”.

Quế Sơn .
Nguyễn Tấn Ái.

Hãy luôn mở cửa

The_Open_Door
Ngôi nhà được “khởi công” vào một ngày cuối năm 1978, trước khi tôi ra đời đúng hai tháng tròn và hoàn tất sau 52 ngày. Ông Nội đã tích góp từng tấm tôn, từng bao xi măng, từng thiên gạch…từ nhiều vụ lúa trước, và mặc dù nguyên liệu chưa được bao nhiêu nhưng ông vẫn quyết định bắt tay xây dựng ngôi nhà. Vì đứa cháu Nội đầu lòng của ông sắp chào đời. Mùa lạnh thì đang đến, và căn chòi trống lốc quây bằng cót, lợp bằng lá dừa nằm chơ vơ giữa rẫy mì mà ba mẹ tôi đang ở chắc chắn không thể che chở nổi cho sinh linh bé nhỏ (là tôi) qua những cơn gió buốt da tháng Chạp.

Thế là, trong khi ba tôi đi cày, mẹ tôi đi dạy, bà Nội đi chợ thì ông Nội hì hục một mình đào móng, trộn vữa, đặt từng viên gạch…trên mảnh đất mà ông khai phá được từ nhiều năm trước. Và rồi căn nhà hoàn thành, rất đơn giản, chỉ là hai gian phòng chữ nhật ghép vào nhau thành hình L, lợp tôn, vách bằng gạch, quét vôi màu mỡ gà, những cánh cửa sơn xanh…và một chái bếp nhỏ chìa ra như cái đuôi xấu xí. Đối với ba mẹ tôi, món quà của ông là một thiên đường. Ông chỉ dặn một câu: “Trong ngôi nhà này, các con hãy yêu thương nhau, và hãy luôn mở rộng cửa!”

Trong ngôi nhà ấy, tôi đã lớn lên. Những ngày thơ ấu êm đềm. Ban đêm, tiếng mưa xối, tiếng gió đưa những cành xoài ràn rạt trên mái tôn, cả tiếng xe chạy qua lại ngoài đường quốc lộ, những âm thanh quen thuộc dỗ tôi vào giấc ngủ. Buổi sáng mở mắt, chạy ra sân đã thấy những hàng bắp, những luống dưa leo tươi nõn, xanh ngắt mà ông Nội trồng quanh sân. Cỏ lóng lánh sương. Chim ríu rít trên cành ổi sau nhà…Con bò vàng cất tiếng “ụm bò… ò” bên cạnh cây rơm.

Lớn lên một chút, ngôi nhà cùng chúng tôi trải qua những sự kiện đáng nhớ. Nhà tôi ở ngay mặt đường quốc lộ, lại có vườn xoài râm mát nên nhiều xe tải, xe khách Bắc Nam dừng lại cho khách nghỉ ngơi hoặc bị hỏng xe cả hai ba ngày trời. Sau một thời gian phải trả lời cho quá nhiều khách vào hỏi xin nước uống, tắm giặt, nấu ăn…Ba tôi quyết định dỡ cả hàng rào, chặt bớt cành xoài để xe có thể vào đậu hẳn trong sân. Đồng thời, đóng một tấm biển đề chỉ dẫn đến nhà bếp, nhà vệ sinh, giếng nước, và chua thêm câu : “Miễn phí!”. Tôi nhớ mãi những buổi trưa, mấy chị em ngồi chơi trước hiên, nhìn ra sân la liệt người trải chiếu, tấm nilông nằm ngồi dưới bóng xoài đợi sửa xe, nói chuyện ồn ào với đủ giọng…
openheart
Cũng một buổi trưa như thế, khi mẹ tôi đang nấu ăn trong bếp thì có người đàn bà mang bầu chạy vào kéo tay: “Chị ơi làm ơn làm phước. Em sắp sanh rồi!” Những người khách lỡ đường rỗi rãi liền nhao nhao chạy vào xem và la lên, bảo mẹ tôi đưa người phụ nữ ấy ra gốc xoài ngay, chứ để bà ấy đẻ rớt trong nhà mình thì…xui lắm! Mẹ rất bình tĩnh, lịch sự mời mọi người yên lặng ra ngoài, đóng cửa lại, lấy khăn gối sạch trải lên tấm phản gỗ cho người kia nằm, bảo tôi chạy đi gọi cô mụ gần đó. Cô mụ đến chưa được 10 phút thì đứa bé oe oe chào đời, ngay trên tấm phản mà chị em tôi vẫn ngủ trên đó. Cảm giác lạ lẫm mà tôi trải qua buổi trưa hôm ấy chưa bao giờ tan biến.

Vài năm sau sự kiện đó, ba tôi mua giường mới cho mấy chị em, còn tấm phản thì mang ra hiên để ngủ trưa cho mát. Đêm nọ, một ông lão hành khất đột nhiên xuất hiện, xin được tá túc trên chiếc phản. Mẹ mang ra cho ông thêm cái gối và tấm mền. Cứ sáng sớm, ông xếp chăn gọn gàng rồi tay bị tay gậy mà đi cho đến tận khuya, khi cả nhà tôi đã ngủ, ông mới về. Đến khi trời trở lạnh, và đột ngột đổ mưa xối xả, mẹ đi qua đi lại ngó ra hiên vài lần, rồi bảo ba mời ông lão vào ngủ luôn trong nhà. Sáng mai, tỉnh dậy thì ông lão đã đi, không lời từ biệt, để chăn gối lại, chỉ mang theo… chiếc áo len của ba tôi vẫn treo ở đầu giường.

Nhiều năm sau, gia đình tôi thỉnh thoảng vẫn nhắc lại những chuyện xưa cũ ấy. Tôi cười rằng: “Mẹ gan thật, chẳng may ông ấy không phải là người tốt và khiêng hết đi thì sao”. Mẹ cười hiền lành: “Ừ, cũng có thể. Nhưng để ông ấy ngủ ngoài mưa thì mẹ không chịu được. Con không biết cái cảnh đó khổ sở như thế nào đâu. Ông Nội cũng đã luôn nói là “hãy mở rộng cửa”. Mà mẹ nghĩ, mình đối xử như vậy, lẽ nào…”

Cái triết lý đó của ba mẹ tôi, cũng đơn sơ giản dị như ngôi nhà vậy, cứ thế mà qua bao thăng trầm cuộc đời. Và cứ mỗi năm, cho đến gần 20 năm sau, đứa bé tên Rớt ngày nào bây giờ đã thành chàng trai chững chạc, vẫn theo cha (mẹ của cậu bé thì không bao giờ đến vì…mắc cỡ) trở lại cám ơn ba mẹ tôi và rất áy náy khi thấy gia đình tôi vẫn cứ thế, vẫn ngôi nhà cũ, khu vườn xưa, chứng tỏ chẳng làm ăn “lên” được, trong khi gia đình họ thì khá giả hơn xưa rất nhiều.

Thật ra, mẹ nói, bây giờ ba mẹ đã có dư khả năng xây một căn nhà mới. Nhưng mỗi lần nhìn lại tường vôi loang lổ, cánh cửa gỗ sơn xanh, mẹ lại nhớ ông Nội nay đã về với đất mà không đành lòng. Vả lại, mẹ nhấn mạnh : “Ba mẹ vẫn thấy mãn nguyện khi sống trong căn nhà này!”. Tôi hiểu mẹ, bởi tôi cũng vậy, ngay cả khi đã lấy chồng, và đến sống trong một ngôi nhà khác, tiện nghi và đẹp đẽ hơn rất nhiều, nhưng chỉ khi về lại ngôi nhà cũ, tôi mới có được những giấc ngủ thật sâu. Ngôi nhà không chỉ là ngôi nhà, mà là tổ ấm thương yêu, là kỷ niệm. Nó cũ kĩ đơn sơ vậy, nhưng đã chở che cho cả một gia đình, từ khi đưá con đầu lòng của ba mẹ tôi ra đời cho đến khi đứa con út tốt nghiệp đại học. Nó nhỏ bé chật chội vậy, nhưng luôn mở rộng cửa, để chở che cả những mảnh đời nào đó tình cờ ghé ngang.

Đông Vy