Category Archives: Văn Hóa

Đàn tranh Koto Nhật Bản

kotoKoto là một loại đàn Tam thập lục. Nó đã từng được dùng như một nhạc khí chính trong dàn nhạc thính phòng, chơi theo lối nhạc cổ truyền Nhật Bản. Chiều dài của Koto vào khoảng 180cm. Một cậy đàn Koto truyền thống có 13 dây, được căng ngang qua 13 thanh ngựa đàn có thể dịch chuyển được ở suốt dọc chiều dài đàn. Người chơi điều chỉnh âm cơ bản của đàn bằng cách di chuyển 13 ngựa đàn này trước khi chơi.

kotostringsCác sử gia cho rằng Koto ra đời vào khoảng thế kỉ XV – XIII trước Công nguyên ở Trung Quốc. Ban đầu đàn chỉ có 5 dây, sao đó tăng lên 12, và cuối cùng là 13 dây. Đó là đàn Koto 13 dây được du nhập vào Nhật trong thời Nara (710-794). Thời gian đầu, loại đàn này chỉ được chơi trong cung đình, sau đó nó được chơi chủ yếu bởi những nhạc công mù (hầu hết những dòng nhạc Nhật tiền cận đại đều được những nhạc công mù, thầy tu và người trong hoàng cung chơi).

Vào thế kỉ XVII (thời Edo), Yatsuhashi Kengyo (1614-1685), một trong những bậc thầy chơi Koto trong giới nhạc công mù, đã thành công trong việc chuyển Koto thành nhạc cụ độc tấu. Và vì vậy ông được biết đến như cha đẻ của phong cách chơi Koto hiện đại. Đến thế kỉ XX, Michio Miyagi (1894-1956), cũng là một nhạc công Koto mù, đã đưa phong cách nhạc phương Tây vào âm nhạc của Koto.

koto-playingBan đầu, Koto thường được chơi cùng với các nhạc khí bộ dây và bộ khí khác, nhưng sau này, người ta đã dùng nó để độc tấu. Nó cũng thường được chơi với shamisen và shakuhachi (một loại sáo làm từ tre) hoặc để đệm hát.

Trong các loại nhạc cụ truyền thống của Nhật Bản, Koto có lẽ là loại nhạc cụ quen thuộc và phổ biến nhất. Trong những ngày lễ hội đầu năm, người ta thường song tấu với shakuhachi làm nhạc nền, và vào mùa hoa anh đào, mọi người thường được nghe giai điệu quen thuộc, chơi bằng đàn Koto.

Dưới đây là một đoạn video clip có nhạc nền được chơi bằng đàn Koto. Mời các bạn thưởng thức.

Thế giới kỳ diệu thay!

illustration_art_of_children_b10-psd-012Thói quen nghe nhạc của mọi người ở các độ tuổi rất khác nhau, như thời gian nghe, không gian, loại nhạc, giai điệu, nhạc sĩ và ca sĩ…. . Nhưng chắc chắn chẳng ai có thể phủ nhận giá trị của âm nhạc trong đời sống chúng ta. Từ những bài hát dân ca, những câu ca dao mẹ ru ngày ta còn bé tí teo, cho đến khi ta thành những cô cậu nhóc thiếu niên hát những bài thiếu nhi, và lớn hơn chút nữa ở tuổi bắt đầu thích nghe và hát những bài tình ca. Đó là chưa kể đến tác dụng của nhạc đỏ, còn gọi là nhạc cách mạng. “Các ca khúc nhạc đỏ thường để cổ vũ tinh thần chiến đấu của chiến sĩ, phục vụ kháng chiến , truyền đạt những chính sách của nhà nước, khuyến khích tình yêu lý tưởng, cũng có cả những bài hát trữ tình, thể hiện tình yêu quê hương đất nước hoặc cổ vũ lao động, xây dựng.” (Wikipedia)

Một trong những thói quen của tôi đầu ngày khi ngồi vào bàn làm việc, hay khi có chút thời gian giải lao giữa giờ làm việc là chọn một bản nhạc vui để nghe. Tôi thực sự thấy tác dụng tốt của một bản nhạc vui: rộn ràng và vui vẻ bắt đầu một ngày làm việc, và thư giãn giữa giờ để sau đó tiếp tục với công việc.

Hai bản nhạc sau sẽ đem lại cho người nghe sự sảng khoái, tươi vui, và yêu đời hơn chỉ với 1 cái click: WHAT A WONDERFUL WORLD!

Thế giới này thực sự kỳ diệu các bạn ạ, cho dù có những lúc lòng ta nặng trĩu ưu tư, có khi mọi việc không như ta mong muốn.

Thế giới này, và cuộc đời vẫn tuyệt vời vì ta được sống, vì ta có những thứ thiên nhiên ban tặng hào phóng: trời xanh, mây trắng, cầu vồng bảy sắc, chim xanh bay lượn, ánh dương rạng rỡ của ngày, và cả bóng đêm bí ẩn, hoa hổng thắm, những nụ cười trên khuôn mặt người trên đường, những câu chào của bạn bè, trẻ em khóc cười, lớn lên, hiểu biết, có gia đình yêu thương , và nhất là có những giấc mơ của mỗi chúng ta (có hay không các vì sao băng), những giấc mơ về một khát vọng, một nơi chốn bình yên đâu đó tít trên cao, cao hơn chiếc cầu vồng.

Và âm nhạc tuyệt vời nữa.

1/ BÀI THỨ NHẤT : WHAT A WONDERFUL WORLD

Bản nhạc này do Louis Armstrong trình bày. Ông là nghệ sĩ kèn trumpet và ca sĩ nhạc jazz, trưởng ban nhạc, được xem là một nghệ sĩ lớn có ảnh hưởng rất quan trọng đến lịch sử nhạc jazz của nước Mỹ. Chúng ta sẽ ngạc nhiên hơn khi biết người nghệ sĩ này đã lớn lên và vượt qua thời thơ ấu khốn khổ trong một gia đình có hoàn cảnh bi đát dường nào.

Ông sinh năm 1901, mất năm 1971, sinh ra và sống thời thơ ấu trong khu nghèo nhất, khu ổ chuột của New Orleans, bang Louisiana, Mỹ. New Orleans, một thành phố có đặc trưng văn hóa đa dạng, với sự hòa trộn độc đáo âm nhạc của người da màu, nhạc ragtime, các khúc quân hành, và nhạc blue buồn.

Ông nội của Armstrong là nô lệ gốc Phi. Cha mẹ ông không cưới nhau mà có con. Khi ông còn nhỏ, cha ông William Armstrong (1881–1922) bỏ nhà đi theo người đàn bà khác. Mẹ ông, Mayann Armstrong (1886–1942) sau đó bỏ ông cho bà nội nuôi. Khi Armstrong lên 5, mẹ ông về sống với gia đình, từ đó ông chỉ gặp cha mình những lần lễ lạc. Ông theo học trường Fisk School và bắt đầu thích nghe nhạc Creole (một loại nhạc của người da đen lai) . Louis Armstrong cố gắng kiếm tiền bằng cách bán báo, lượm thức ăn bán lại cho nhà hàng, nhưng gia đình ông quá túng thiếu đến nỗi mẹ ông phải làm nghề mại dâm. Armstrong làm nghề kéo xe chở than đến Storyville, và lai vãng các sàn nhảy, chổ chứa, để hóng nghe các ban nhạc trình tấu. Ông đã bắt đầu học nhạc như thế đó.

Mặc dù từ khi còn bé, ông đã có thể chơi nhạc chuyên nghiệp, nhưng ông chỉ chơi nhạc ở quê nhà. Đến năm 22 tuổi (1922), ông mới lên Chicago gia nhập ban nhạc của King Oliver. Sau đó vào năm 1925 , ông rời ban nhạc của Oliver và lên New York để gia nhập giàn nhạc giao hưởng Fletcher Henderson, và nhanh chóng nổi tiếng trong làng âm nhạc tại đây. Rất nhiều những bản nhạc thành công vang dội “bán chạy nhất“ của ông liên tục ra đời vào những thập niên 20, 30. Louis Armstrong bắt đẩu nổi tiếng từ thập niên 1920, sử dụng kèn cornet và trumpet điệu luyện. Ông đặt nền móng và tạo ảnh hưởng lớn cho phong trào nhạc jazz, chuyển hướng chơi nhạc từ trình diễn sáng tác tùy hứng chung sang hình thức trình diễn độc tấu. Ngoài cách bấm và thổi kèn độc đáo, ông còn có giọng hát khàn rất đặc biệt, thường uốn vặn âm điệu, lời ca của bài hát nhiều kiểu, với mục đích biểu cảm. Ảnh hưởng của Louis Armstrong không chỉ trong lãnh vực nhạc jazz mà còn lan sang nhạc pop trong thập niên 1960.

Theo bình luận gia âm nhạc Steve Leggett, Armstrong “có lẽ là người có ảnh hưởng lớn nhất trong nền ca nhạc Mỹ trong thề kỷ 20.”

Armstrong lớn lên từ giai cấp xã hội hèn mạt nhất, trong một thị trấn bị kỳ thị, nhưng lại có nền âm nhạc sâu đậm, nóng bỏng – lúc bấy giờ gọi là nhạc “ragtime” (thời đói rách) chứ chưa gọi là nhạc jazz. Tuy thời thơ ấu ông sống trong cảnh đói nghèo, Louis Armstrong không cho rằng đó là điều đáng buồn mà là nguồn cảm hứng vô biên, ông từng nói: “Mỗi khi tôi nhắm mắt thổi cái kèn của tôi – tôi nhìn thẳng vào trái tim của thành phố New Orleans xa xưa … Nó đem lại cho tôi một cái gì đó để tôi bám vào mà sống.

I see trees of green, red roses, too
I see them bloom for me and you
And I think to myself what a wonderful world.

I see skies of blue and clouds of white
Bright blessed days., dark sacred nights
And I think to myself what a wonderful world

The colors of a rainbow so pretty in the sky
Also on the faces of people going by
I see friends shaking hands saying how do you do
They’re really saying I love you.

I hear babies cry I watch them grow
They’ll learn much more than I’ll ever know
And I think to myself what a wonderful world

And I think to myself …..what a wonderful world
Yes I think to myself …….what a wonderful world.

Tôi nhìn thấy cây cối xanh tươi, và cả những đóa hồng đỏ thắm
Tôi thấy hoa nở cho tôi và cho bạn
Và tôi thầm nghĩ thế giới kỳ diệu biết bao

Tôi nhìn thấy bầu trời xanh… những đám mây trắng
Những ngày lành bừng sáng… những đêm tối thiêng liêng
Và tôi thầm nghĩ cuộc đời kỳ diệu biết bao!

Những sắc màu của chiếc cầu vồng trên trời sao đẹp thế!
Và cả trên nét mặt của những người đang bước qua tôi
Tôi nhìn thấy bạn bè bắt tay nhau chào hỏi
Họ đang thực sự nói câu: Tôi yêu bạn

Tôi nghe tiếng trẻ thơ khóc
Tôi nhìn các bé lớn lên
Các bé sẽ học – biết được nhiều hơn tôi có thể biết
Và tôi thầm nghĩ… thế giới kỳ diệu biết bao
Và tôi thầm nghĩ… thế giới này kỳ diệu biết bao

2/ BÀI THỨ HAI : SOMEWHERE OVER THE RAINBOW/ WHAT A WONDERFULWORLD

Somewhere Over the Rainbow là một bài hát do Harold Arlen viết nhạc, E.Y. Harburg soạn lời và được trình diễn lần đầu năm 1939 bởi ca sĩ-diễn viên Judy Garland cho bộ phim The Wizard of Oz. Tác phẩm này được coi là một trong những ca khúc đáng nhớ nhất của âm nhạc và điện ảnh Hoa Kỳ thế kỷ 20, nó được Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Hoa Kỳ bình chọn là bài hát của thế kỷ 20 và cũng được Viện Phim Mỹ xếp đầu tiên trong danh sách 100 ca khúc đáng nhớ nhất của điện ảnh Hoa Kỳ thế kỷ 20

Bài hát này do Alvin and the Chipmunks trình bày

Somewhere over the rainbow way up high
And the dreams that you dream of once in a lullaby
Somewhere over the rainbow blue birds fly
And the dreams that you dream of, dreams really do come true
Someday I’ll wish upon a star, wake up where the clouds are far behind me
Where trouble melts like lemon drops
High above the chimney tops is where you’ll find me
Somewhere over the rainbow bluebirds fly
And the dreams that you dare to, oh why, oh why can’t I?
Well I see trees of green and red roses too,
I’ll watch then bloom for me and you
And I think to myself, what a wonderful world
Well I see skies of blue and I see clouds of white and the brightness of day
I like the dark and I think to myself, what a wonderful world
The colors of the rainbow so pretty in the sky
are also on the faces of people passing by
I see friends shaking hands saying, How do you do?
They’re really saying, I, I love you
I hear babies cry and I watch them grow,
They’ll learn much more than we’ll know
And I think to myself, what a wonderful world
Someday I’ll wish upon a star, wake up where the clouds are far behind me
Where trouble melts like lemon drops
High above the chimney tops is where you’ll find me
Somewhere over the rainbow way up high
And the dreams that you dare to, oh why, oh why can’t I?

Ooooo oooooo oooooo

Ở một nơi nào đó đó trên chiếc cầu vồng
Trên cao
Và những giấc mơ bạn đã mơ
Một thời trong một bài hát ru
Ở nơi nào đó trên chiếc cầu vồng
Chim xanh bay
Và những giấc mơ bạn đã mơ
Những giấc mơ ấy thực sự thành hiện thực
Một ngày nào đó tôi sẽ ước có một ngôi sao
Thức dậy nơi những đám mây ở xa tít phía sau tôi
Nơi mà những ưu phiền chảy tan
Như những viên kẹo chanh
Bạn sẽ tìm thấy tôi trên cao bên trên chóp ống khói
Ở nơi nào đó trên chiếc cầu vồng chim xanh bay
Và giấc mơ bạn dám mơ, ồ, tại sao tôi không thể mơ nhỉ?
A, tôi thấy cây cối xanh tươi, và cả hoa hồng đỏ thắm nữa
Tôi sẽ ngắm hoa nở cho tôi và bạn
Và tôi thầm nghĩ .. cuộc đời kỳ diệu biết bao
A, tôi thấy những khung trời xanh biếc , và những đám mây trắng ngần
Và ngày tươi sáng
Tôi cũng thích bóng đêm và tôi thầm nghĩ
Thế giới này tuyệt vời biết bao
Những sắc màu của chiếc cầu vồng trên trời sao đẹp thế
Và cả trên nét mặt của những người đang bước qua tôi
Tôi nhìn thấy bạn bè bắt tay nhau chào hỏi
Họ đang thực sự nói câu: Tôi yêu bạn
Tôi nghe tiếng trẻ thơ khóc
Tôi nhìn các bé lớn lên
Các bé sẽ biết nhiều hơn tôi có thể biết
Và tôi thầm nghĩ .. thế giới kỳ diệu biết bao
Một ngày nào đó tôi sẽ ước có một ngôi sao
Thức dậy nơi những đám mây ở xa tít phía sau tôi
Nơi mà những ưu phiền chảy tan
Như những viên kẹo chanh
Bạn sẽ tìm thấy tôi trên cao bên trên chóp ống khói
Ở một nơi nào đó cao trên chiếc cầu vồng
Và giấc mơ bạn dám mơ, ồ, tại sao tôi không mơ được nhỉ?

Huỳnh Huệ dịch và tổng hợp

Tranh giấy cắt dân gian Trung Quốc

jinzu5bTranh giấy cắt được làm hoàn toàn bằng thủ công, chỉ cần một chiếc kéo, một tờ giấy màu là bạn đã có ngay những bức tranh bằng giấy với những hình ảnh thiên nhiên sống động. Tranh cắt giấy thể hiện tập quán, thẩm mỹ và thị hiếu khác nhau của các vùng miền trên khắp đất nước Trung Quốc

Tranh giấy cắt là một trong những nghệ thuật dân gian lưu hành nhất tại Trung Quốc. Cội nguồn tranh giấy cắt có từ bao giờ thì khó mà có thể tra cứu được. Thế nhưng, hơn nghìn năm trước, tranh giấy cắt đã được dùng để trang trí và tạo hình nghệ thuật. Theo sách sử ghi chép, phụ nữ thời nhà Đường từng lấy tranh giấy cắt để làm trang sức trên đầu, hoặc còn có tập tục dùng tranh giấy cắt hình cánh bướm để đón xuân. Đến thời nhà Tống thế kỷ thứ 12, có người dùng tranh giấy cắt nhỏ để trang trí cho lễ vật quà tặng, có người dán tranh giấy cắt lên rầm cửa và cửa sổ, hoặc trang trí tường, gương và đèn lồng. Từ đó đã xuất hiện nghệ nhân chuyên nghề tranh giấy cắt.

Tranh giấy cắt có đủ hình thù, đủ loại. Từ động vật nhỏ đáng yêu như con chim, con cá… đến những nhân vật trong truyền thuyết dân gian, những hình tượng trong tác phẩm văn học cổ điển, mặt nạ Kinh kịch …đều có trong tranh giấy cắt.

jianzhiDo tập quán, thẩm mỹ và thị hiếu của nhân dân các địa phương Trung Quốc khác nhau, phong cách tranh giấy cắt của các địa phương mang bản sắc riêng của mình. Tranh giấy cắt miền Bắc phóng khoáng, mạnh mẽ, mang nhiều đề tài quy mô, tranh giấy cắt miền Nam xinh xắn, thường có cảnh non nước. Người xưa thường dùng giấy màu đỏ để cắt, bởi họ tin rằng màu đỏ sẽ đem lại cho họ sự may mắn và hạnh phúc trong cuộc sống. Song bất kể là mang đề tài gì, tranh cắt giấy đều đòi hỏi phải truyền thần như thật.

pic1Với những người nghệ nhân tài hoa, để tạo ra một bức tranh giấy hoàn hảo, họ cần có đầy đủ dao kéo kích cỡ khác nhau để cắt. Tranh giấy cắt có thể cắt từng tờ một, cũng có thể một lần cắt nhiều tờ. Với những hình ảnh đơn giản có thể cắt trực tiếp, với những hình phức tạp thì thường phải thiết kế bản mẫu trước, rồi in lên mặt giấy, sau đó dùng mười mấy con dao khắc đường nét hình ảnh lên đó. Tranh giấy cắt đòi hỏi sự tỉ mẩn và kiên nhẫn đến từng chi tiết.

Hiện nay, tranh cắt giấy đã từ trang trí cho sinh hoạt hằng ngày, phát triển thành một loại hình nghệ thuật riêng biệt. Hình ảnh tranh giấy cắt cũng không ngừng phong phú theo thời đại phát triển, tô điểm thêm cho cuộc sống muôn màu.

Loan Subaru

 

Vietnam Veterans Memorial — Đài Tưởng Niệm Cựu Chiến Binh Việt Nam

Vietnam Veterans Memorial chụp từ vệ tinh
Vietnam Veterans Memorial chụp từ vệ tinh

Một trong những nơi thu hút khách du lịch nhiều nhất ở Washington DC là Vietnam Veterans Memorial–Đài Tưởng Niệm Cựu Chiến Binh Việt Nam, tưởng niệm các chiến binh Mỹ đã hy sinh trong trận chiến tại Việt Nam. Đây là chứng tích cho cuộc chiến lâu nhất trong lịch sử nước Mỹ. Mỗi năm trung bình có khoảng 3 triệu người thăm viếng.

VVM với Đài Tưởng Niệm Washington (Tháp bút chì) phía cuối ảnh
Vietnam Veterans Memorial với Đài Tưởng Niệm Washington (Tháp bút chì, trắng) phía cuối ảnh

Vietnam Veterans Memorial là một đài tưởng niệm đầy ấn tượng, bởi vì khác với những đài tưởng niệm khác thường đứng hùng dũng trên mặt đất và màu trắng, Vietnam Veterans Memorial là một hình chữ V dài bằng đá hoa cương đen, đứng thấp dưới mặt đất, trên đó khắc tên của 58.256 chiến binh Mỹ tử trận và mất tích tại Việt Nam, khoảng 1.200 người trong số này được ghi là mất tích.

Nếu từ ngoài công viên nhìn vào người ta không thể thấy Đài tưởng niệm này vì nó ở dưới lòng đất. Các cựu chiến binh Mỹ chỉ gọi Đài tưởng niệm này là “The Wall” (Bức Tường).
vietnammemorialwall

Đồ án chữ V này do May Ying Lin, một nữ sinh viên kiến trúc năm thứ 3 tại Đại Học Yale vẽ, thắng cuộc thi vẽ mẫu gồm 1.421 đồ án dự thi năm 1981. Vào lúc đó đồ án thắng cuộc của May Ying Lin gây rất nhiều tranh cãi vì đó là bài cô làm cho một bài tập trong lớp học về vẽ một kiến trúc tang chế (funerary design).

The Three Soldiers
The Three Soldiers

Bức Tường gồm có hai cánh của chữ V, dài tổng công 75 m. Hai cánh đều nằm dưới mặt đất, phía sau lưng là đất, vùng đất phía trước được vạt xuống để tạo khoảng trống cho Bức Tường. Hai đầu cánh của Bức Tường bắt đầu chiều cao khoảng 20 cm, cao từ từ đến điểm cao nhất là đỉnh chữ V — 3 m.

Bức Tường được khánh thành ngày 13 tháng 11 năm 1982, sau một cuộc diễn hành của các cựu chiến binh. Đến tháng 1 năm 1982, bức tượng The Three Soldiers (Ba Chiến Sĩ) được mang vào đặt gần Bức Tường, đề làm giảm bớt vẻ tang chế cùa đồ án nguyên thủy.

Vietnam Women's Memorial
Vietnam Women's Memorial

Các kỹ vật tại Bức Tường
Các kỹ vật tại Bức Tường

Ngày 11 tháng 11 năm 1983, Đài Tưởng Niệm Phụ Nữ (Phục Vụ Tại) Việt Nam — Vietnam Women’s Memorial — được khánh thành. Đài tưởng niệm này là môt bức tường các nữ y tá đang làm việc cứu thương, đặt gần Bức Tường.

Ngày nay Bức Tường được xem là “nơi chữa lành vết thương của những người bị ảnh hưởng bởi một trong những cuộc chiến gây chia rẽ nhiều nhất trong lịch sử nước Mỹ.” Hầu như ngày nào ta cũng thấy có người đặt dưới chân Bức Tường một lá thơ, một bó hoa, một lá cờ, hay một kỹ vật nào đó. Cơ quan quản lý Bức Tường có cả kho các thơ từ và kỹ vật này.

Đây là nơi người Việt cũng nên thăm viếng, vì Bức Tường vừa giúp ta hiểu thêm một tí về tâm thức người Mỹ vừa có thể giúp ta chữa lành một phần vết thương trong tâm thức của chính ta.

Dưới đây là video lễ khánh thành Bức Tường năm 1982, và video kỹ niệm 25 năm ngày thành lập Bức Tường–26 tháng 3 năm 2007.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành
.

.

Vương Quốc Bhutan

Quốc kỳ Bhutan
Quốc kỳ Bhutan

Bhutan có thể xuất phát từ từ ‘Bhu-Utthan’ trong tiếng Phạn có nghĩa “cao nguyên”. Một giả thuyết khác cho rằng nó là sự Phạn hóa, từ Bhoṭa-anta có nghĩa “nơi chấm dứt của Tây Tạng” hay “phía nam Tây Tạng”. Tuy nhiên, một số người Bhutan gọi đất nước họ là Druk Yul, còn người dân là Drukpa. Cái tên Dzongkha (và Tây Tạng) cho đất nước này là Druk Yul (Vùng đất của Rồng Sấm). Vì sự thanh bình và thanh khiết của đất nước, cũng như những phong cảnh tại đó, Bhutan ngày nay thỉnh thoảng được gọi là Shangri-La cuối cùng.

Bản đồ Bhutan
Bản đồ Bhutan

Vương quốc Bhutan là một quốc gia nằm kín trong lục địa tại Nam Á, nằm giữa Ấn Độ và Trung Quốc. Toàn bộ nước này đều là đồi núi ngoại trừ một dải đồng bằng cận nhiệt đới nhỏ ở vũng viễn nam bị phân cắt bởi các thung lũng được gọi là Duars. Độ cao tăng dần từ các đồng bằng cận nhiệt đới lên các đỉnh Himalaya băng tuyết vượt quá 7,000 m. Nền kinh tế truyền thống của Bhutan dựa trên lâm nghiệp, chăn nuôi, và nông nghiệp, nhưng chúng chưa chiếm tới 50% Tổng sản phẩm quốc nội hiện nay bởi Bhutan đã trở thành nước xuất khẩu thủy điện. Cây trồng, du lịch, và hỗ trợ phát triển (chủ yếu từ Ấn Độ) hiện cũng giữ vai trò quan trọng. Một cuộc điều tra dân số toàn quốc tiến hành tháng 4 năm 2006 cho thấy nước này có 672,425 người. Thimphu là thủ đô đồng thời là thành phố lớn nhất nước.

Bhutan là một trong những quốc gia cô lập nhất trên thế giới. Những ảnh hưởng nước ngoài và ngành du lịch bị nhà nước quản lý để bảo tồn nền văn hoá Phật giáo Tây Tạng truyền thống. Đa số người Bhutan hoặc học tại trường Phật giáo Tây Tạng Drukpa Kagyu hoặc trường Nyingmapa. Ngôn ngữ chính thức là Dzongkha (dịch nghĩa “ngôn ngữ của dzong”). Bhutan thường được miêu tả là nền văn hóa Phật giáo Himalaya truyền thống duy nhất còn sót lại.

Về lịch sử và văn hóa: Bhutan có liên hệ với vùng láng giềng Tây Tạng phía bắc, tuy nhiên về chính trị và kinh tế hiện vương quốc này có quan hệ gần gũi hơn với Ấn Độ.

taktshangBhutan đã trở thành một chế độ quân chủ từ năm 1907. Vua Jigme Singye Wangchuck, người từng có một số động thái hướng tới một chính phủ lập hiến, đã thông báo vào tháng 12 năm 2005 rằng ông sẽ thoái vị năm 2008 nhường chỗ cho người con trai lớn. Ngày 14 tháng 10 năm 2006, ông thông báo sẽ thoái vị ngay lập tức, và con trai ông – Jigme Khesar Namgyal Wangchuck, lên kế ngôi. Ngày 22 tháng 4 năm 2007, theo quyết định của hoàng gia, cuộc bầu cử nghị viện lần đầu tiên trong lịch sử đất nước được dự định tổ chức vào năm 2008.

Loan Subaru
.

Ngọn núi thiêng Kailash, Tây Tạng

 kailash_north2Kailash là đỉnh núi cao nhất trong dãy núi Gangdise to lớn, với độ cao 6,600m so với mực nước biển. Núi này nằm gần hai hồ thiêng: Manasarowa và Rakshastal. Với đặc điểm riêng, Kailash là địa điểm linh thiêng được tôn sùng nhất thế giới nhưng hiếm người thăm viếng, một siêu thánh địa của cả bốn nền tôn giáo: Đạo Phật, Đạo Hindu, Đạo JainsĐạo Bon, với hàng tỉ tín đồ. 

kailash_south_sideTuy thế, hàng năm không có hơn một nghìn người hành hương Kailash. Sự kỳ lạ này được lý giải vì ngọn núi nằm ở phía tây hẻo lánh của Tây tạng nên di chuyển rất khó khăn và đây thường là những chuyến đi đầy nguy hiểm. Thời tiết ở đây quanh năm buốt giá, có thể thay đổi đột ngột nên những người hành hương buộc phải mang theo rất nhiều đồ dự trữ cần thiết cho suốt cuộc hành trình. 

Kailash có nghĩa là Kho báu hay Vị thánh của núi tuyết. Đỉnh núi rất nhọn, trông như một kim tự tháp vươn lên chọc trời xanh. Nhìn từ phía Nam, những khối băng dựng đứng và những tảng đá đâm ngang trông giống như biểu tượng chữ thập ngoặc 卐 trong Phật giáo, thể hiện quyền năng bất diệt của Đức Phật. Kỳ diệu hơn, những đám mây sẽ tụ thành chòm ngay trên đỉnh núi vào những ngày đẹp trời khiến người ta nghĩ đến phúc lành.

Tín đồ Phật giáo tin rằng Đức Phật đã có chuyến viếng thăm kỳ diệu đến Kailash vào thế kỷ thứ 5 trước công nguyên, trong khi đạo Phật chỉ thâm nhập vào Tây Tạng thông qua Nepal và Ấn Độ vào thế kỷ thứ 7 sau công nguyên.

lake-manosaravar1Hầu hết những người hành hương đến Kailash đều nhúng mình xuống Hồ Manosaravar gần đó, một nơi cực kỳ linh thiêng và dĩ nhiên cũng vô cùng lạnh giá. Từ “manas” có nghĩa là trí tuệ hoặc tỉnh thức. Manasaravar có nghĩa là Hồ tỉnh thức và khai sáng. Kế bên Manasaravar là Rakshastal, hay còn gọi là Rakshas: Hồ ma quỷ. Cuộc hành hương đến ngọn núi thiêng và 2 hồ thần kỳ này là một trải nghiệm thay đổi cuộc sống và là một cơ hội để nhìn một số kỳ quan trên toàn bộ hành tinh.

Loan Subaru
.

Hãy tìm tôi giữa cánh đồng

Luận, Vy và con trai Thuyên
Luận, Đông Vy và con trai Thuyên

Chào các bạn,

Chị Đặng Nguyễn Đông Vy vừa gửi cho mình một số danh ngôn chị đã dịch từ tiếng Anh ra tiếng Việt để dùng cho Đọt Chuối Non. Chúng ta sẽ đăng các danh ngôn này từ từ. Hôm nay một câu.

Tuy nhiên mình muốn dùng cơ hội này để giới thiệu một tí về chị Đông Vy.

Đông Vy là phóng viên báo Sinh Viên Việt Nam, Hoa Học Trò, Trang Trí Nội Thất, một số tạp chí khác, và là tác giả tập truyện Hãy Tìm Tôi Giữa Cánh Đồng (Nhà xuất bản Trẻ, 20.11.2006). Lúc sách mới ra, mình và bà xã đang có mặt ở Việt Nam, nên có được một bản vừa đọc vừa thổi.

Đây là một tập truyện với đa số là chuyện có thật, những mẫu chuyện nhỏ trong đời, được tác giả, qua lời văn giản dị và trong sáng, trải cảm xúc và suy tư lên trên để thành những dấu ấn trong tâm thức.

Đối với mình, quyển truyện này rất khó cho mình đọc như các quyển khác, vì trong đó đa số là về những người mình biết và rất thân. Khi đọc truyện, mình đọc đến những mảnh nhỏ cuộc đời của những người mình phải rời xa và mất thông tin mấy mươi năm. Quyển truyện cho mình nhiều thông tin thất lạc của những tháng năm dài đó, cho nên nó như một cuộc hành trình tâm thức qua ba thập niên.

Sau khi đọc một mạch xong quyển truyện, mình có viết một bài giới thiệu trong diễn đàn VNBIZ, mà Đông Vy cũng là thành viên lâu năm. Bài viết đó mình có post lại dưới đây, để chia sẻ với các bạn.

Mình cũng tìm thấy trên Internet các bài báo nói về quyển truyện này: Việt Báo, Vietnamnet, krflim.net, VNExpress, và con nhiều links nữa.

Cám ơn Đông Vy đã gửi bài. I am so proud of you, dear. And I’m glad you are here with me.

Và sau đây là danh ngôn đầu tiên của Đông Vy trên Đọt Chuối Non.

Mến,

Hoành

.

If you have an apple and I have an apple and we exchange these apples then you and I will still each have one apple. But if you have an idea and I have an idea and we exchange these ideas, then each of us will have two ideas.

George Bernard Shaw
.

Nếu bạn có một quả táo, tôi có một quả táo và chúng ta trao đổi với nhau thì tôi và bạn mỗi người vẫn chỉ có một quả táo. Nhưng nếu bạn có một ý tưởng, tôi có một ý tưởng và chúng ta trao đổi với nhau, mỗi người chúng ta sẽ có hai ý tưởng.

Đặng Nguyến Đông Vy dịch

.

From: Trần ĐÌnh Hoành
To: VNBIZ
Date: December 14, 2006

[BOOK] Hay Tim Toi Giua Canh Dong by Dang Nguyen Dong Vy

Dear CACC,

A couple of days after the Saigon Gathering, while I was in Hanoiready to go to Philippines, Dong Vy sent a copy of her hot-off-the-press book to Phuong’s address in Tay Ninh—Hay Tim Toi Giua Canh Dong, Nha Xuat Ban Tre (Nov. 20, 2006). I sent a thank you note and said that I would read the book and write a review on VNBIZ.

Little did I know then that I would be in for such an intense emotional trip that would swirl me through different times and spaces and familiar names and faces that would rapidly fill the big vacuum of the missing years in my memory.

Although in this forum we address each other as anh/chi as the rule of decorum requires, Dong Vy is indeed the daughter of my best friend in highschool and college. Dong Vy’s father, Dang The Dung, was so close to me for many years that sometimes it was hard to say whether there was any difference between us other than the fact that he was taller than I. We were of the same age, both born in Quang Binh, lived in the same neighborhood (Cu Xa Kien Thiet close to Nha Tho Ba Chuong,Phu Nhuan, Saigon), studied together at St Thomas High School at Nha Tho Ba Chuong, then Dai Hoc Van Khoa Sai Gon. On the terrace of Dung’s home was a small room where we slept together with several other boys in the “gang.” I was there more than I was at my own home.

My parents knew Dung’s parents very well. Dung’s family was my family. I think we were even supposed to be related somehow, although my memory can’t remember anything so close as to requires only one cannon shot to reach.

Since 1975 we were separate. I got lost to the US (I mean “lost,” along story); Dung settled in Cam Ranh and built a family there. We did not communicate, although my heart was always with him. In those years, life was tough and telecommunicating with a friend on the other side of the globe was the last emotional luxury on everyone’s mind.

Twenty years later, in 1995, on our way between Da Lat and Nha Trang, Phuong and I stopped by Cam Ranh for a night to visit with Dung and his family. I think we met Dong Vy over dinner. I was busy talking with Dung and his wife that I rarely talked to his quiet girl at the table, who appeared to follow our conversation with interest. But I managed to learn that she was in 11th grade and she impressed me as a quiet, intelligent, confident and very mature girl.

Several years ago, I posted on both VNBIZ and Vern Weitzel’s Development list at UNDP a message on my experience in teaching a law seminar at the Ministry of Justice. A couple days later I got a message in Vietnamese: “Dear Chu Hoanh, I am a reporter at Bao Sinh Vien Viet Nam. Your message about education interests me. I would like to have your permission to translate that into Vietnamese for our magazine.” I responded: “Yes, as long as you keep my content intact.” The next day I got a thank-you note with a sentence: “You probably don’t remember me, but I think I met you once. My dad is Dang The Dung in Cam Ranh.” That is how we met again! Soon later Dong Vy joined VNBIZ.

The 224-page book is a compilation of many short writings, each a reflection about something, some event, with someone, that reveals to the author (and the readers) a small, beautiful piece of truth about the human heart. It is written in very simple and direct language, the kind of language that naturally flows into your heart like the plain “I love you” without the need for interpretation often required in the more colorful language. The book has two parts, tan van with 20 pieces of short writing, and truyen ngan with 10 short stories. But all these little pieces really integrate themselves well into a complete whole, for they all are written with the same simple direct language and the same style of thinking and reflection, which is simple, sharp, focused and ultimately gentle, about people and everyday’s events that are intimate to the author and to everyone of us–mom, dad, grand father, grand mother, brothers, sisters, uncles,
aunts, friends, teachers, the rice fields, the cassava plants, the fruits, poverty, love, hopes, dreams. Each subject is explored in a little story told with the soft and free voice of a girl lying in green pastures, talking to the cows, the grass, the flowers and the passing clouds.

For me personally, these writings go much deeper, because almost everyone in the book is someone I know and love. Of course, Dong Vy’s dad is my best friend; her mom is the wife of my best friend. Her grandfather is my best friend’s father, who I used to call “chu Linh,” the man I admired greatly but was scared to be close, because he worked hard and was serious with life (which was not something we kids could appreciate then). Dong Vy’s grandmother is my “thim Linh,” who loved me dearly and who I loved dearly. The house where the Dong Vy grew up in, I knew it before she was even around. When I was just finished Bacc I (11th grade) and that house was only a couple of years old, Dung and I went to Bai Gieng, Cam Ranh, to visit his mother. I stayed in that house for a week or so. The house was, and still is, on National Route 1. I would sit in front of the house watching buses (xe khach) go by. The scene of a xe khach on that long highway withthe distant engine sound fluttering over the open ocean sky always made me feel lonely and lost. Today, whenever seeing a xe khach on a stretch of open highway, the memory of that house and the same lost feeling still rush back to me with such an intensity.

So you can see how I feel when I read about all these folks, and these places, Bai Gieng, Cam Ranh, the parish church, the house, the yard, the trees, the fields, Nha Trang, Sai Gon, Da Lat, Nha Tho Duc Ba… I almost feel like I played a role in every event in the book. It filled a big gap in my memory– the years and the pieces of lives I have lost, have not got a chance to participate, even just to witness.

I read the book in one shot, from cover to cover, feeling an intense emotion that usually comes when your memory is hit by images that are so dear, so intimate and so far, so that you feel like you are floating in midair through an immense ocean looking down on dark waves and fog-covered islands while your heart is squeezed hard by such an intense nostalgia that comes whenever you remember a lost love.

Thank you, Dong Vy my dear, for such a beautiful gift.

Great day, Dong Vy and all.

Hoanh


Tran Dinh Hoanh, LLB, JD
Attorney of Law
Washington DC

Chào mừng lễ Phục Sinh

easteraroundtheworld
Chào các bạn,

Chúa nhật này,12.4.2009, là lễ Phục Sinh (Easter), ngày lễ quan trọng nhất trong Thiên Chúa Giáo (Công giáo—Catholicism, Chính thống giáo–Orthodox, và các giáo phái Tin lành—Protestantism).

Dù là người ta không mừng lễ Phục Sinh lớn và vui như Lễ Giáng Sinh (Christmas, 25 tháng 12), trên phương diện thần học, lễ Phục Sinh quan trọng hơn lễ Giáng Sinh, vì Thiên Chúa Giáo được xây dựng nên một điểm cực kỳ quan trọng—Chúa Giêsu chịu đóng đinh trên thập giá và chết, và ba ngày sau người sống lại. Phục sinh là sống lại. Lễ Phục sinh là lễ kỷ niệm sự sống lại của chúa Giêsu. Nếu không có sự sống lại, không có lễ Phục Sinh, không có Thiên Chúa Giáo.

Lễ Phục Sinh không có ngày nhất định trên lịch hàng năm. Nó là ngày chúa nhật thứ nhất từ 14 ngày sau ngày xuân phân, tức là ngày chính thức của mùa xuân ở Âu Mỹ. Xem ra có sự cố tình định ngày lễ Phục Sinh cùng lúc với sự sống lại của mùa xuân.

eastereggs

Trước lễ Phục Sinh 40 ngày là Mùa Chay hay Mùa Thương Khó (Lent), bắt đầu bằng thứ tư lễ Tro (Ash Wednesday); ngày đó các linh mục (thầy tế lễ) rắc một tí tro trên đầu, hay bôi một tí tro lên trán, giáo dân, như là nhắc nhở đến sự chết—Ta là bụi đất và sẽ trở về cùng bụi đất. Mùa chay là mùa của ăn chay, cầu nguyện, sám hối, bố thí và hãm mình.

Tuần trước Phục Sinh là Tuần Thánh (Holy Week), bắt đầu bằng chúa nhật lễ Lá (Palm Sunday, 5 tháng 4), kỷ niệm ngày chúa Giêsu đi vào thành Jerusalem và được hàng nghìn dân Do thái tiếp đón bằng cách lót lá trên đường chúa đi và phất lá trên tay.

Ngày thứ năm trước Phục Sinh (9 tháng 4), là lễ Vượt Qua (Passover), tức là lễ kỷ niêm ngày dân Do thái được thoát ách nô lệ ở Ai Cập, có lẽ ngày nay là biểu tượng của dân chúa thoát khỏi ách nô lệ của tội lỗi nhờ sự chết của chúa Giêsu.

Ngày thứ sáu (10 tháng 4) là ngày Thứ Sáu Tuần Thánh (Good Friday), tức là ngày chúa chết.

Và chúa nhật (12 tháng 4) là Phục Sinh.

easterbunnies

Sau lễ Phục Sinh 40 ngày là mùa Phục Sinh (Easter Season). Ngày xưa, mùa Phục Sinh chỉ có 40 ngày, từ Phục Sinh đến ngày Lễ Thăng Thiên, tức là ngày chúa Giêsu về trời.

Nhưng ngày nay Mùa Phục Sinh kéo dài 50 ngày, chấm dứt bằng ngày Pentacost (ngày thứ 50), tức là ngày Chúa Thánh Thần (Thánh Linh) đến với các đệ tử của chúa Giêsu. Ngày Pentacost (ngày lễ Chúa Thánh Thần, hay lễ Ngũ Tuần) là ngày chúa nhật 7 tuần sau Phục Sinh (7 X 7 =49, xem như 50).

Ở Âu Mỹ, người ta có truyền thống tô điểm trứng (gà, vịt, v.v..) với nhiều màu sắc sặc sở rất đẹp để trang trí cho lễ Phục Sinh, gọi là trứng Phục sinh (Easter eggs). Trò chơi Easter Egg Hunt (săn tìm trứng Phục sinh) thường được các nhà thờ tổ chức trong ngày Phục Sinh, trong đó người tổ chức đem trứng Phục sinh dấu quanh sân để mọi người săn tìm. Chúng ta có thể nhận thấy trứng là biểu tượng của tái sinh.

Thỏ Phục sinh (Easter Bunny) là thỏ với đủ mầu sắc sặc sở cũng là một biểu tượng của Phục Sinh. Có lẽ vì thỏ nổi tiếng là đẻ nhiều.

Nếu các bạn quá nhức đầu vì đủ thứ ngày nói trên, hãy đánh một giấc ngủ dài, rồi sẽ phục sinh hôm sau 🙂 Biểu tượng của Phục sinh là sự tái sinh thường xuyên trong ta, con người cũ chết đi và con người mới ra đời, ta luôn luôn trưởng thành, đổi mới, hay hơn, và tốt hơn. Đó cũng là sát-na vô thường, thay đổi không ngừng, của nhà Phật.

Chúc các bạn một mùa Phục Sinh an bình.

Hoành

Yosakoi

Sáng nay (10/4), lễ hội Hoa Anh Đào đã khai mạc rất hoành tráng tại Hà Nôi bằng một điệu múa truyền thống của Nhật – Yosakoi, được trình diễn bởi hơn 500 diễn viên không chuyên. Nhân dip lễ hội Hoa Anh Đào, mình cũng muốn giới thiệu với các bạn đôi nét về điệu múa này (bài giới thiệu về Yosakoi mình nhận được sáng nay!)

yosakoiYosakoi – là một loại hình nghệ thuật hiện đại đặc trưng của Nhật Bản được khai sinh từ tỉnh Kochi vào năm 1954, xuất phát từ một điệu múa truyền thống về mùa hè của Nhật. ‘Yosakoi’ là phương ngữ của Kochi, nghĩa là ‘Đêm nay mời bạn đến’. Điệu múa này là sự kết hợp giữa các động tác múa truyền thống, nền nhạc hiện đại cùng với dụng cụ múa đặc sắc Naruko tạo nên một Yosakoi rất sôi động và mạnh mẽ. Các điệu múa thường được dàn dựng cho những đội múa đông người. Ai cũng có thể tham gia múa Yosakoi, bất kể tuổi tác hay giới tính. Đây cũng là sự kiện nổi bật trong các kỳ lễ hội ở Nhật. Điệu múa đi kèm với các bài dân ca của Kochi với cái tên Yosakoi-Buchi.

yosakoi97Trang phục mặc khi biểu diễn Yosakoi rất phong phú, trong đó loại áo khoác truyền thống happi và áo yukata phối màu rực rỡ là hai thứ thường được sử dụng nhất. Các đội múa cũng thường tự thiết kế trang phục dựa trên các sự kiện lịch sử, theo xu thế thời trang thịnh hành hay theo y phục dân tộc.

Từ năm 1954, Yosakoi đã phát triển mạnh ở Nhật Bản với lễ hội hàng năm của các đội trên toàn quốc. Không những thế, sức mạnh của điệu múa đã vượt qua ngoài biên giới Nhật Bản và rất được yêu thích trên toàn thế giới, trong đó có Việt Nam.

Năm qua trong lễ hội hoa anh đào được tổ chức ở Việt Nam, tiết mục diễu hành Yosakoi là 1 trong những tiết mục được đón xem nhiệt tình nhất. Tất cả các đội, khuôn mặt tươi cười cùng với những điệu múa Yosakoi sôi động đã làm nên một ngày hội giao lưu văn hóa tuyệt vời.

Người nằm mơ rất đẹp

sleepingbeauty
Chào các bạn,

Beautiful Dreamer là bản nhạc rất nổi tiếng, do Stephen Foster viết trước khi ông chết năm 1864, lúc 37 tuổi. Stephen Foster viết tổng cộng khoảng 200 bản nhạc và được xem là “cha đẻ của âm nhạc Mỹ quốc”.

Bing Crosby (1903-1977) là một ca sĩ rất nổi tiếng của Mỹ, với rất nhiều tài, kể cả khiêu vũ. Chúng ta có video Bing Crosby hát bài Beautiful Dreamer dưới đây.

The Beatles cũng có bản Beautiful Dreamer, chuyển từ nhạc nhẹ nguyên thủy sang nhạc kích động. Chúng ta cũng có 2 video bản này của The Beatles, theo sau video của Bing Crosby. Video 1 có hình ảnh rõ ràng, vì vậy nhiều người thích xem. Video 2 hình rất mờ, nhưng là phim quay The Beatles hát bản Beautiful Dreamer có lẽ khi còn ở Liverpool, lúc chưa ai biết The Beatles là ai.

Chúc các bạn một ngày vui !

Hoành

.

Người nằm mơ rất đẹp

Hỡi người nằm mơ rất đẹp, hãy thức dậy với anh,
Ánh sao và sương khuya đang đợi chờ em;
Ồn ào thế giới cộc cằn nghe cả ngày,
Đã được ánh trăng ru ngủ, đi mất hết rồi !

Hỡi người nằm mơ rất đẹp, nữ hoàng của bài nhạc của anh,
Hãy nghe anh theo đuổi em bằng âm điệu dịu dàng;
Những lo lắng của đám đông trong đời đã rời xa.

Hỡi người nằm mơ rất đẹp, hãy thức dậy với anh !
Hỡi người nằm mơ rất đẹp, hãy thức dậy với anh !

Hỡi người nằm mơ rất đẹp, ngoài khơi
Ngư nhân đang hát bài truyện hoang sơ
Trên dòng suối nhỏ hơi nước đã đọng về
Đợi lúc dần tan khi ngày sáng đến.

Hỡi người nằm mơ rất đẹp, hãy chiếu sáng tim anh,
Như đầu ngày chiếu sáng suối con và biển cả;
Rồi tất cả đoàn mây sầu muộn sẽ lìa xa.

Hỡi người nằm mơ rất đẹp, hãy thức dậy với anh !

Trần Đinh Hoành dịch

.

Beautiful Dreamer

Beautiful dreamer, wake unto me,
Starlight and dewdrops are waiting for thee;
Sounds of the rude world heard in the day,
Lull’d by the moonlight have all pass’d away!

Beautiful dreamer, queen of my song,
List while I woo thee with soft melody;
Gone are the cares of life’s busy throng.

Beautiful dreamer, awake unto me!
Beautiful dreamer, awake unto me!

Beautiful dreamer, out on the sea,
Mermaids are chaunting the wild lorelie;
Over the streamlet vapors are borne,
Waiting to fade at the bright coming morn.

Beautiful dreamer, beam on my heart,
E’en as the morn on the streamlet and sea;
Then will all clouds of sorrow depart,

Beautiful dreamer, awake unto me!

Poem and lyric by Stephen Foster

Beautiful Dreamer sang by Bing Crosby

.

.

The Beatles — Beautiful Dreamer 1
.


.

The Beatles — Beautiful Dreamer 2
.

Vũ điệu Odissi

odissi

Lịch sử nghệ thuật Ấn Độ bao trùm khoảng 5.000 năm. Và như một hệ quả tất yếu, nó hết sức phức tạp và phong phú. Nghệ thuật Ấn Độ giàu có như chính các tôn giáo mà nó thể hiện, trong đó múa cổ điển được xem là tinh hoa, là đỉnh cao của nghệ thuật biểu diễn Ấn Độ. 

Odissi là một trong bảy điệu múa cổ điển của Ấn Độ (Bharatnatyam, Kathak, Kathakali, Manipuri, Kuchipudi, Mohinyiattam và Odissi). Vũ điệu này có nguồn gốc từ Bang Orissa – phía Đông Ấn độ.

Vũ điệu Odissi được xem là một trong những vũ điệu cổ xưa nhất còn tồn tại (dựa vào các bằng chứng về khảo cổ học). Điệu múa Odissi được đề cập rất nhiều trong những câu chữ khắc trên bia đá, hoặc được chạm trổ trên những công trình điêu khắc ở các đền đài Hindu Brahmeswara, và đền Mặt trời ở Konark.

odissi-002Theo luận thuyết Natya Sashtra, điệu múa Odissi đã có từ thế kỷ thứ 2 trước Công Nguyên. Odissi hiện nay là kết quả của một quá trình dài, tổng hợp và biên tập lại từ những điệu múa truyền thống của bang Orissa như Mahari, Gotipua và Bhandanritya. (Mahari là vũ nữ đền đài, bản sao của vũ nữ Devadasi ở phía Nam. Gotipua là nam giới trong trang phục nữ và múa giống vũ nữ Mahari. Theo qui định, sau 18 tuổi, những vũ nữ, vũ nam này không được phép vào đền thờ).

Sau thế kỷ thứ 17, vũ điệu Odissi bị sút giảm uy tín đáng kể. Có một dạo, các vũ nữ này bị mọi người khinh rẻ và coi thường. Vì thế, vào thời điểm này, không ai dám theo học múa Odissi. Tuy nhiên, đến năm 1950, vũ điệu Odissi được hồi sinh nhờ vào công của ông Kalicharan Pattanayaka.

Odissi rất giống điệu múa Bharatnatyam nổi tiếng ở Tamil Nadu (miền Nam Ấn Độ), với những động tác múa độc đáo được thể hiện chủ yếu ở hông, chân và nét mặt. Điệu múa biểu cảm với những đường cong của cơ thể, những chuyển động của mắt, các bước nhảy và xoay tròn kèm theo nhiều kiểu di chuyển bàn tay. Điều này tạo cho Odissi một nét khác biệt, độc đáo với những ngôn từ rất riêng.

Vũ điệu Odissi thể hiện một cách đầy đủ truyền thuyết về Thần Krishna – sự hóa thân lần thứ 8 của thần Vishnu (thần bảo hộ trong Ấn độ giáo và Bà La Môn giáo, đã giáng trần nhiều lần để cứu độ). Điệu múa Odissi nhẹ nhàng, trữ tình miêu tả khung cảnh của Orissa và triết lý liên quan đến vị thần được yêu chuộng nhất – thần Jagannath (hình thái khác của thần Krishna).

Đừng đứng trước mộ tôi và than khóc

cemetery
Do not stand at my grave and weep, là bài thơ của Mary Frye. Năm 2001, tiểu thuyết gia kiêm nhà soạn nhạc người Nhật, Arai Mitsuru, đã dịch sang tiếng Nhật, và phổ nhạc cho bài thơ này. Lúc đầu, ông chỉ phát hành 30 dĩa đơn để tặng cho bạn bè thân quen. Ngày 28/8/2003 bài hát tiếng Nhật này được đăng trên báo Asahi và bắt đầu gây được tiếng vang. Năm 2005, bài hát này được biểu diễn trong buổi hòa nhạc từ thiện, kỷ niệm 10 năm trận động đất thế kỷ ở Hanshin – Osaka. Năm 2006, ca sĩ Akikawa Masafumi xuất bản đĩa đơn bài hát này và gây được sự chú ý đặc biệt trên toàn nước Nhật. Ngày 22/1/2007, bài hát này đứng đầu trong bảng xếp hạng đĩa đơn hay nhất trong lịch sử nhạc cổ điển ở Nhật. Ngay khi giành được vị trí đầu bảng, tuần đầu tiên đã bán được 29,094 đĩa, tuần thứ hai (29/1/2007), 89,994 đĩa và tuần tiếp theo (5/2/2007), 101,532 đĩa.

Sau phần dịch tiếng việt của chị Loan Subaru, là lời nguyên thủy tiếng Anh, và link đến video bài hát do Akikawa Masafumi trình bày.

Mến,

Hoành

.
Đừng đứng trước mộ tôi và than khóc

Đừng đứng trước mộ tôi và than khóc;
Tôi không ở đó. Tôi không ngủ.
Tôi là ngàn cơn gió thổi qua.
Tôi là kim cương lấp lánh trên tuyết.
Tôi là nắng ánh trên cánh đồng lúa chín.
Tôi là cơn mưa thu dịu dàng.

Khi bạn thức giấc trong sớm mai tĩnh lặng,
Tôi là nét vút cao rất nhanh
Của bầy chim lặng lẽ lượn vòng
Tôi là ánh sao đêm dịu dàng.

Đừng đứng trước mộ tôi và than khóc;
Tôi không ở đó. Tôi không chết.

Loan Subaru dịch

.

Do not stand at my grave and weep

Do not stand at my grave and weep;
I am not there. I do not sleep.
I am a thousand winds that blow.
I am the diamond glints on snow.
I am the sunlight on ripened grain.
I am the gentle autumn rain.

When you awaken in the morning’s hush
I am the swift uplifting rush
Of quiet birds in circled flight.
I am the soft stars that shine at night.

Do not stand at my grave and cry;
I am not there. I did not die.

Mary Frye
.

Chào mừng ngày Quốc tổ

denhung-cong
Hôm nay, mùng 10 tháng 3 âm lịch là Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương, mặc dù nghiều nơi đã mừng Giỗ tổ vài ngày trước đây. Nhiểu nơi trong nước và trên thế giới (tại những thành phố đông người Việt) tổ chức Giỗ tổ, tuy nhiên nơi chính vẫn là Đền Hùng ở Phú Thọ, vì vậy ngày này còn gọi là Lễ hội Đền Hùng.

den-hung-thuong
Khu di tích Đền Hùng thuộc thôn Cổ Tích – xã Hy Cương – huyện Lâm Thao – tỉnh Phú Thọ, cách trung tâm thành phố Việt Trì 7 km về phía Bắc, cách thủ đô Hà Nội 90 km. Đền Hùng là di tích lịch sử văn hoá đặc biệt quan trọng của quốc gia, được xây dựng trên núi Hùng – thuộc đất Phong Châu – vốn là đất kế đô của Nhà nước Văn Lang 4.000 năm trước đây. Toàn bộ Khu di tích có 4 đền, 1 chùa và 1 lăng hài hoà trong cảnh thiên nhiên, có địa thế cao rất ngoạn mục, hùng vĩ, đất đầy khí thiêng của sơn thuỷ hội tụ. Chúng ta có thể đọc thêm chi tiết về Đền Hùng tại đây.

den-hung-trung
Lễ hội Đền Hùng là lễ hội truyền thống của dân tộc Việt Nam, và có một đặc thù riêng là: Phần lễ nặng hơn phần hội. Tâm tưởng người về dự hội là hướng về tổ tiên, cội nguồn với sự tôn kính và lòng biết ơn sâu sắc (Ẩm hà tư nguyên – Uống nước nhớ nguồn). 41 làng xã thuộc tỉnh Vĩnh Phú tham gia rước kiệu lễ dâng Tổ. Từ ngàn xưa, trên các cổ kiệu có bày lễ vật, đi kèm có phường bát âm tấu nhạc, cờ quạt, bát bửu, lọng che cùng chiêng trống. Những làng ở xa thường phải rước 2-3 ngày mới tới” . “Xưa kia, việc cúng Tổ (cử hành) vào ngày 12 tháng 3 (âm lịch) hằng năm. Thường khi con cháu ở xa về làm giỗ trước một ngày, vào ngày 11 tháng 3 (âm lịch)… Đến thời nhà Nguyễn định lệ 5 năm mở hội lớn một lần (vào các năm thứ 5 và 10 của các thập kỷ), có quan triều đình về cúng tế cùng quan hàng tỉnh và người chủ tế địa phương cúng vào ngày 10 tháng 3 (âm lịch). Do đó ngày giỗ Tổ sau này mới là ngày 10 tháng 3 (âm lịch ) hàng năm”.

lehoidenhung
Những năm hội chính thì phần lễ gồm: Tế lễ của triều đình sau đó là phần lễ của dân. Có 41 làng được rước kiệu từ đình làng mình tới Đền Hùng. Đó là những cuộc hành lễ thể hiện tính tâm linh và nhân văn sâu sắc. Các kiệu đều sơn son thếp vàng, chạm trổ tinh vi, được rước đi trong không khí vừa trang nghiêm vừa vui vẻ với sự tham gia của các thành phần chức sắc và dân chúng trong tiếng chiêng, trống, nhạc bát âm rộn rã một vùng. Phần hội gồm các trò chơi dân gian như đánh vật, đu tiên, ném còn, cờ người, bắn cung nỏ… và đặc biệt là các đêm hát xoan, hát ghẹo – hai làn điệu dân ca độc đáo của vùng đất Châu Phong.

Bàn thờ tổ, Đại sứ quán VN, Washington DC
Bàn thờ tổ, Đại sứ quán VN, Washington DC

Tại các liên kết này chúng ta có thể đọc thêm về lịch sử Lễ hội Đền Hùng và một số hình ảnh các tiết mục lễ hội dân gian.

Năm nay (2009) Bộ Văn Hóa, Thể Thao và Du Lich đã phát hành văn bản thống nhất nghi thức thực hiên Giỗ tổ cho cả nước.

Tại Đại sứ quán Việt Nam tại Washington DC, USA, có một bàn thờ tổ do sứ quán đặt đặc biệt tại Phú Thọ, do các nghệ nhân chuyên làmcác thiết bị thờ tự trong Đền Hùng. Chở qua Washington DC và ráp lại. Toàn thể bàn thờ rất lớn không dùng một chiếc đinh nào. Kiến trúc và lắp ráp hoàn toàn theo công thức cổ truyền. Sứ quán thường xuyên tổ chức Giỗ tổ, liên hoan Tết cũng như các lễ hội khác thường xuyên trong phòng lớn có bàn thờ tổ.

Trần Đình Hoành

Đền nổi Itsukushima

 

Đền nổi Itsukushima
Đền nổi Itsukushima

Đền Itsukushima (tên tiếng Nhật: 厳島神社) là ngôi đền Thần Giáo, nằm trên đảo Itsukushima (Miyajima) ở thành phố Hatsukaichi, tỉnh Hiroshima. Thực ra ở Nhật Bản có tới 500 ngôi đền mang tên Itsukushima, nhưng đền nói trên là ngôi đền chính. Năm 1996, đền này được UNESCO công nhận là di sản thế giới. Trong đền có nhiều kiến trúc và công trình nghệ thuật được Nhật Bản xếp vào hạng quốc bảo, tài sản văn hóa quan trọng, tài sản vật thể được xếp hạng, v.v…

Đền Itsukushima được xây dựng để thờ phụng ba vị thần biển: thần Ichikishima, thần Tagori và thần Tagitsu, được tin là đang ngự bên trong ngôi chính điện của đền. Ngôi đền đầu tiên được xây dựng vào thế kỷ thứ 6 (năm 593) và đã bị tàn phá nhiều lần. Kiến trúc hiện tại của ngôi đền có từ năm 1168. Năm 1871, đền này được xếp vào hàng đền miếu cấp quốc gia. Năm 1911 lại được thăng hạng thành đền miếu hoàng gia.

Cổng đền khi thủy triều lên
Cổng đền khi thủy triều lên

Một trong những điểm hấp dẫn nhất của đền nổi Itsukushima là chiếc cổng tuyệt đệp O-torri, đứng sừng sững trên mặt biển, hướng thẳng tới đền thờ Itsukushima và cũng là biểu tượng của đảo Miyajima. Chiếc cổng O-torii hiện tại là chiếc được xây dựng năm 1875, lần xây dựng thứ tám tính từ thời Heian (794-1192). Cổng cao 16 mét trên mặt biển, bộ mái dài 24 mét, và những cây cột chính, làm từ những cây gỗ nguyên, có đường kính 1 mét. Cổng O-torii tự đứng vững bằng kết cấu khung của mình, không hề có bộ phận nào chôn dưới mặt đất. Khi thủy triều lên, cổng Torrii bập bền trên biển, khi thủy triều xuống, cổng được bị bùn bao phủ và mọi người có thể đi vào đền mà không cần tàu, thuyền.

Theo ý nghĩa nguyên thủy, torii là cái giàn cho gà đậu. Nó được đặt trước các đền chùa để ghi nhớ truyền thuyết Thần đạo về Thái Dương Thần nữ – Amaterasu. Thần Amaterasu tức giận em trai mình là thần Bão. Do đó, thần lánh vào Thiên Nham động (Amano Iwato), không thèm soi sáng mặt đất nữa, làm cho tám vạn thần linh cũng điêu đứng. Thần Tư Tưởng Omoikane bèn nghĩ ra một kế. Thần dựng trước cửa hang một giàn cho gà đậu và để một con gà trống vào đó, bên cạnh gắn một tấm gương tròn. Khi gà trống cất tiếng gáy, theo thói quen, Amaterasu thức dậy. Nhìn ra ngòai nàng thấy trong chiếc gương tròn hình bóng mình, song lại tưởng đó là một mỹ nhân xa lạ. Điều ấy khơi gợi tính tò mò của phái nữ nên thần bèn ra khỏi hang để xem ai là kẻ dám cả gan cạnh tranh sắc đẹp với mình. Ngay lập tức cả thế gian lại được chiếu sáng và cuộc sống trở lại rộn ràng. 

Cổng đền khi thủy triều xuống
Cổng đền khi thủy triều xuống

Đền nổi Itsukushima là một trong những ví dụ khác thường nhất về kiến trúc tôn giáo trên thế giới. Tòan bộ quần thể bao gồm ngôi đền chính, nhiều đền thờ nhỏ khác bố trí bao quanh, một sân khấu kịch Noh, một phòng tấu nhạc và nhiều cây cầu cùng hành lang nối liền các khu vực khác nhau trong đền. Tổng chiều dài các hành lang lên đến 300 mét. Xây dựng trên bãi đất ven biển và dập dềnh trên mặt biển khi triều lên. Công trình hoàn toàn không sử dụng một chiếc đinh kim lọai nào trong khi xây dựng và những kẻ hở giữa các tấm sàn được tính tóan khéo léo sao cho có thể giảm bớt áp lực của triều cường khi có bão lớn. Một vài tấm gỗ cổ được dùng để làm ván sàn có kích thước tới 1,5 mét rộng và trên 10 mét dài, và những tấm gỗ khổng lồ này đã được vận chuyển vượt hàng trăm dặm từ miền Bắc Nhật Bản để tới Miyajima. Một trong những cây cầu nổi tiếng dẫn tới đền thờ là cầu Soribashi – Cầu Đại diện Hòang gia. Được xây năm 1557, cầu dành riêng cho những đại thần quý tộc đại diện cho Thiên hòang tới viếng đền. Chỉ vào những dịp đó, các bậc thang mới được lắp vào. Ngoài ra, cầu và lối vào đền không bao giờ được sử dụng.

Loan Subaru

Huyền sử dân tộc nói gì?

Lạc Long Quân (Đền Hùng)
Lạc Long Quân (Đền Hùng)

Chào các bạn,

Ngày giỗ tổ Hùng Vương là ngày lễ thiêng liêng nhất cho dân Việt. Mọi ngày lễ khác của dân tộc đều từ ngày này mà ra. Và đối với sử sách thì các vua Hùng và thời Hồng Bàng là một huyền thoại, một cái gì u linh, vừa bí ẩn vừa linh thiêng. Đó là cách con người thời cổ đại nói về mình, về nguồn gốc của mình, và về nguồn gốc vũ trụ. Đó là một suy tư mà trong đó cảm xúc và trực giác đóng vai trò quan trọng hơn lý luận, và thời gian không đi đường thẳng—quá khứ, hiện tại, tương lai—mà đi theo hình tròn–quá khứ của mình cũng chính là tương lai của mình, gốc rễ của mình cũng là cành lá của mình, điểm khởi hành của tổ tiên cũng là điểm đến của con cháu trong mai hậu.

Vì vậy, đối với một dân tộc, huyền sử của dân tộc không phải chỉ là chuyện thần tiên cho trẻ em, mà là nền tảng tinh thần xuyên thời gian, ở trên đó dân tộc hiểu được tổ tiên mình nghĩ gì và cảm xúc gì, và hiện tại mình muốn gì và đang đi đâu.

Hôm nay, nhân ngày quốc tổ, chúng ta sẽ dành một ít thời gian, thăm viếng lại những huyền thoại u linh đó, để gợi ý cho mọi người suy tư. Mỗi huyền thoại nói đến một số vấn đề, và nếu vào kỹ một tí, chúng ta phải cần một bài rất dài cho mỗi huyền thoại. Hôm nay chúng ta chỉ lướt rất nhanh qua một số huyền thoại trong phạm vi chỉ một bài để gợi ý cho các bạn về đọc lại các huyền thoại kỹ lưỡng và suy gẫm sâu xa hơn.

dongsondrumface
1. Âu cơ và Lạc Long Quân, tiên rồng. Tại sao ta không nói rồng tiên, mà lại nói tiên rồng? Phải chăng đây là một bằng chứng của chế độ mẫu hệ xưa kia,biểu hiện trong sự kiện các vị vua đầu tiên trong lịch sử Việt Nam (khác với huyền thoại tiền sử) là Hai Bà Trưng và Bà Triệu. Theo quyển Concise History of the World của National Geographic (USA), thì Hai Bà Trưng là hai vị lãnh đạo phụ nữ đầu tiên trong lịch sử thế giới. Ngày nay, một số bộ lạc dân tộc tại Việt Nam vẫn còn theo chế độ mẫu hệ. Phải chăng một số các bộ lạc này chính là vài nhánh tổ tiên ta còn sót lại?

Tiên và rồng tương khắc nhưng tương hợp. Đây rất rõ là phản ánh của triết lý âm dương có tự ngàn xưa–âm dương tương khắc, nhưng cũng tương sinh—tiên rồng, non nước, cao thấp. Ngoài ra, trên phương diện lịch sử, có thể đây là cuộc gặp gở giữa hai nhóm dân—một từ phương Bắc (miền nam sông Dương Tử) đi xuống và một nhóm có sẳn ở phương Nam?

tramcon
Và 100 đứa con. Người Mường cũng có truyền thuyết trăm con. 100 đương nhiên là chỉ số nhiều, nói đến phát triển và sinh sôi nẩy nở–đến 80 triệu ngày nay! Và 100 cũng là tổng số của các số trong Lạc Thư của dịch học, ám chỉ toàn thể.

Nhưng tại sao sinh ra trứng mà không sinh con ngay? Theo các hình khắc trên trống đồng Đông Sơn thì vật tổ ta là chim, mà chim thì đẻ trứng. Âu Cơ là tiên, tiên cũng là chim, dịu dàng bay bỗng. Đặc biệt, rồng cũng là linh vật có thể bay. Như vậy rõ ràng , chim, rồng và bay, rất linh thiêng đối với tổ tiên ta. Chim không cần manh mẽ như voi, dũng mãnh như hổ, nhưng chim yêu tự do, chim muốn có cả bầu trời. Chim là tự do, là sáng tạo, là khai phá.

Và dĩ nhiên là 100 con còn nói rất rõ ý niệm anh chị embình đẳng. Vợ chồng thì ly dị được, nhưng anh chị em thì không ly dị được. Sống hay chết, thích hay không thích, thì cũng vẫn là anh chị em. Đây là ý nguyện đoàn kết và bình đẳng rất rõ. Cho nên nếu anh chị em , vì bất kỳ lý do gì mà gọi nhau là kẻ thù, thì đó là cái tội cực kỳ nặng nề đối với tổ tiên và dân tộc.

yin-yang

2. Mười tám đời vua hùng vương. Con số 18 này rất đặc biệt. Các trống đồng Đông Sơn có 18 vành khắc và mỗi vành có 18 con chim. Đời vua Hùng Vương thứ 6 không truyền ngôi cho con trưởng mà cho Lang Liêu, con thứ 18, người tìm ra bánh dày bánh chưng. Vòng trong của thành Cổ Loa có 18 cái u hỏa hồi. Tục rước nõn nường cùa dân gian xưa ở miền trung du và đồng bằng Bắc bộ, rước 18 cái nõn và 18 cái nường (tượng trưng cho thịnh vượng).

Truyền thuyết Mường, cũng nói 100 con chia ra 50 người con về miền đồng bằng trở thành tổ tiên người kinh; 47 người đi lên miền núi, họ là tổ tiên của các dân tộc miền núi, còn lại 3 người sinh ra từ những trứng đầu tiên: Tá Cài, Tá Cần, và Dạ Kịt. Sau khi anh cả là Tá Cài bị rắn cắn chết, các mường mời Tá Cần lên ngôi vua. Tá Cần lấy bà Chu Bà Chương sinh được 18 con: 9 con trai và 9 con gái. Họ trở thành lang (thủ lĩnh) và chia nhau đi coi giữ các bản Mường.

Con số 18 rất rõ là 2 lần 9. Số 9 là số lớn nhất trong Hà Đồ của dịch học. Và là số mạnh nhất, vì đó là số thái dương. Cho nên 9 là lớn và mạnh. Và hai lần chín là tăng lên đến mức đa số của 9. Số 9 của văn hóa ta, xem ra giống như số 7 trong nền văn minh Do thái cổ, với 7 ngày tạo nên thế giới và tuần 7 ngày ta có ngày nay.

3. Tăng thưởng theo công sức. Điểm quan trọng rất đáng chú ý là khái niệm về tăng thưởng tùy theo công sức (meritology) đã nằm sâu trong tâm thức người Việt, cho nên người con nào tài giỏi thì được nối ngôi vua, chứ không nhất thiết là con trưởng. Vì vậy Lang Liêu là con thứ 18 vẫn được nối ngôi cha. “Tăng thưởng tùy theo công sức” là nền tảng của ý niệm dân chủ ngày nay.

banhchungbanhday
4. Bánh dày bánh chưng: là biểu tượng cha mẹ, trời đất, trời tròn đất vuông, trời dương đất âm. Đây lại cũng là khái niệm âm dương rất căn bản trong dịch học. Đồng tiền xu của người Việt khi xưa gọi là đồng âm dương vì nó tròn và có lỗ vuông chính giữa.

Điều rất quan trọng mà nhiều người không nắm được là âm dương là triết lý bình đẳng, không phải là dương thì tốt âm thì xấu, đàn ông (dương) thì tốt, đàn bà (âm) thì xấu như các quí vị không hiểu nguyên lý âm dương nói bậy bạ. Nếu các bạn nhìn vòng thái cực (mà các võ sinh Thái Cực Đạo mang trên áo, hay trên lá cờ Hàn quốc) thì âm dương (xanh và đỏ) hòa quyện với nhau như lượn sóng di động rất bình đẳng, nữa vòng là âm nữa vòng là dương. Hai điều khác nhau, như âm dương, như nam nữ, hòa hợp bình đẳng với nhau và cùng chuyển dịch thì tạo ra vũ trụ. Cho nên nếu nói âm dương, là trời đất, là cha mẹ, thì đó là khái niệm hòa hợp bình đẳng.

Và dĩ nhiên nói đến cha mẹ là nói đến hiếu thảo. Hơn nữa, lá chuối và gạo nếp để làm bánh là biểu tượng rất sâu đậm của đời sống nông nghiệp, tức là sức sống chính của nước ta nghìn xưa. Người biết được hiếu thảo và nước non sâu đến như vậy đương nhiên là có cái nhìn của người có thể gánh vác nước nhà.

dua-hau
5. Dưa hấu: Chuyện Mai An Tiêm có lẽ là câu chuyện đầu tiên mang tinh thần Phật học. An tiêm là người nước khác, được vua nhận làm con nuôi, và An Tiêm tin vào tiền kiếp và nhân quả. Như vậy An Tiêm có thể là biểu tượng cho văn minh Phật giáo du nhập vào Việt Nam.

An Tiêm sau này bị đày ra hoang đảo và được đàn chim từ phương Tây bay ngang nhả hột dưa xuống đảo. Phương Tây là phương Ấn độ và Nepal, tức là phương Phật, là phương mà Đường Tam Tạng đi thỉnh kinh trong Tây Du Ký. Phương Tây cũng là Tây phương Cực lạc, thế giới tịnh độ của Phật A-di-đà.

Và quả dưa hấu thì rất rõ là biểu tượng của lòng khiêm tốnsức mạnh bên trong. Dựa hấu xanh vỏ đỏ lòng. Bên ngoài chẳng có gì hấp dẫn cả–sống hay chín thì vỏ vẫn xanh, vẫn chẳng tí mùi vị gì cả. Chỉ khi bổ ra, người ta mới thấy bên trong đỏ, rất đẹp, rất ngọt, và rất mát.

Và dĩ nhiên, khi nói đến lấy cái tâm bên trong làm chính, thì đó là cốt tủy của Phật giáo.

traucau
6. Truyện trầu cau có vẻ gì như là sự luyến tiếc về chế độ mẫu hệ và tục lệ nào đó tương tự như tục “nối dây” vẫn còn tồn tại trong một số bộ lạc miền cao ở Việt Nam, trong đó người phụ nữ có quyền lấy em chồng hoặc anh chồng khi chồng chết.

7. Truyện Trọng Thủy Mỵ Châu là truyện nói lên tình cảm mạnh mẽ và hơi lạ lùng của người Việt ta. “Phe ta” là Mỵ Châu và An Dương Vương. Trọng Thủy và Triệu Đà là “phe địch.” Trọng Thủy là gián điệp cho địch, dối vợ, hại cha vợ, hại cả quốc gia nhà vợ. Nhưng dân ta lại rất yêu Trọng Thủy, trong văn hóa và nghệ thuật. Lại còn gọi chàng ta với một cái tên rất đáng yêu , rất đáng kính—Trọng Thủy, người quí trọng thủy chung. Và Mỵ Châu, người phụ nữ bị chồng lường gạt, thì bị xử chết. Tại sao có sự bất công lạ thường này?

Tượng Mỵ Châu (cụt đầu) tại am thờ
Tượng Mỵ Châu (cụt đầu) tại am thờ

Rõ ràng là nhiệm vụ bảo vệ quốc gia được đặt lên hàng đầu trong truyện này—trung thành và bảo vệ quốc gia đến mức tuyệt đối. Trọng Thủy làm đủ mọi thứ tội chỉ vì trung thành với quốc gia của chàng. Trung thành với quốc gia là nhiệm vụ tối cao. Vì nhiệm vụ đó mà mang các tội khác, thì các tội khác có thể được cảm thông.

Dĩ nhiên tội dối vợ, phản vợ , phản cha vợ và tổ quốc của vợ, dù là có lý do chính đáng vẫn là một tội, và tự tìm cái chết để rửa tội thì cũng có thể sạch tội và vẫn được hậu thế ca tụng .

Mỵ châu dù chỉ là nạn nhân của lường gạt, nhưng đã không làm tròn bổn phận đối với quốc gia–bảo vệ bí mật quốc phòng (về nỏ thần) tuyệt đối. Cho nên đã phải tội chém. Dù vậy ai cũng nhận ra được là Mỵ Châu chỉ là nạn nhân của những trò chơi chính trị, vì vậy nàng rất được yêu kính trong nền văn hóa Việt. Nhưng thực sự thì Mỵ Châu chẳng có một công đức gì trong truyện cả. Nàng được yêu và được thờ tự (đến tận ngày nay; am thờ Mỵ Châu nằm trong đền thờ An Dương Vương tại ở Cổ Loa), chỉ vì nàng là nạn nhân.

Yêu mến là một chuyện, nhưng thờ tự? Phải chăng đó là vì người ta quá yêu mến tính thành thật của nàng, dù là thành thật đến mức khờ khạo? Như vậy phải chăng dó là hệ quả của một hệ thống luân lý đặt giá trị rất lớn vào thành thật–thành thật là tính thánh, dù có bị gạt thì vẫn là thánh nhân?

Đằng nào đi nữa thì truyện Trọng Thủy Mỵ Châu nói lên lòng bao dung rất bao la của người Việt. Triệu Đà ban đầu là phe địch, đã giết vua ta. Sau lên cai trị ta, và lại được ta xem như là vua tốt của ta, vì gia đình họ Triệu chống lại nhà Hán ở Trung quốc. Chống lại kẻ ức hiếp ta là anh em, là gia đình ta.
thanhgiong

8. Có lẽ huyền thoại hấp dẫn nhất của ta là truyện Thánh Gióng, Phù Đổng Thiên Vương. Lúc quốc biến, vua cho đi tìm nhân tài trong thiên hạ, tức là vua trông cậy, hỏi nhờ đến dân. Cậu bé 3 tuổi mà không biết nói có nghĩa là dân thì ngày thường xem ra yếu ớt ngu dốt. Tuy nhiên, khi quốc biến, nếu vua (cho sứ giả) đến gặp dân trực tiếp, nghe dân nói, và tin vào lời dân, dù là nói nghe rất điên, như con nít lên ba nói làm ngựa sắt và roi sắt, nhưng cứ làm theo dân, thì dân sẽ biến từ đứa bé câm ba tuổi thành đại dũng sĩ giết giặc. Đó là cái dũng của dân, khởi động được nhờ đức khiêm tốn và lòng tin của vua.

Và xong việc rồi thì dân biến mất, mạnh ai về nhà nấy, như Thánh Gióng về trời, chẳng ai ngồi đó để đòi vua trả công. Tức là, để khởi động sức mạnh của dân thì dùng đức khiêm tốn và lòng tin, chứ không cần phải mị dân bằng lợi lộc.

Các huyền thoại của một dân tộc là những giấc mơ, những ước muốn, những cảm xúc, những khôn ngoan, những suy tư của dân tộc đó. Huyền thoại là một phần chính của cái mà ta có thể gọi là tiềm thức dân tộc. Chúng ta không thể hiểu dân tộc và văn hóa dân tộc nếu ta không suy tư sâu xa một tí về các huyền thoại dân tộc. Trong tương lai, chúng ta sẽ đi sâu vào mỗi huyền thoại trên Đọt Chuối Non. Tuy nhiên, trong thời gian chờ đợi, các bạn nên đọc thêm và suy tư thêm một tí, và có thể chia sẻ suy tư của các bạn trên trang web này.

Chúc các bạn một ngày vui !!

Mến,

Hoành

© Copyright 2009, TDH
Licensed for non-commercial use