Category Archives: Văn Hóa

“Hoài niệm về thành Alhambra” — Francisco Tarrega

Chào các bạn,

Francisco_Tarrega_001Trong chuyên mục Nhạc Xanh lần trước, mình đã giới thiệu với các bạn một số nhạc phẩm được chơi bằng piano, violon, violoncell…Hôm nay, mình xin được tiếp tục giới thiệu với các bạn nhà soạn nhạc nổi tiếng cho đàn guitar Francisco Tarrega và nhạc phẩm lừng danh của ông – “Recuedos de la Alhambra” (Hoài niệm về thành Alhambra). Mình chắc rằng, những bạn nào chơi guitar cổ điển đều biết bài này vì nó rất nổi tiếng với kỹ thuật reo dây.

1) Tiểu sử (theo wikipedia):

Francisco de Asís Tárrega y Eixea, thường gọi tắt là Francisco Tárrega (18/11/1852 – 15/12/1909) là một nhà soạn nhạc nổi tiếng cho đàn guita người Tây Ban Nha. Ông được xem như là người đặt nền móng cho vị trí của cây đàn guitar là nhạc cụ dành cho độc tấu. Ngoài các bản nhạc do ông sáng tác cho đàn guitar, ông còn chuyển soạn một số tác phẩm của các nhà soạn nhạc khác sang trình tấu với đàn guitar. Francisco Tárrega đã đặt nền móng cho guitar cổ điển thế kỷ 20, đã đưa vào guitar cổ điển các kỹ thuật trước đây chưa từng có và vẫn được dùng đến ngày nay, chẳng hạn ông sử dụng cả ngón đeo nhẫn để gảy đàn trong khi trước đó người ta chỉ dùng ngón cái, ngón trỏ và ngón giữa. Kỹ thuật reo dây (tremolo) dành cho guitar cổ điển là phát minh của ông: dùng các ngón trỏ, giữa, đeo nhẫn gảy liên tục vào cùng một dây tạo nên cảm giác tiếng đàn ngân nga không dứt, một ví dụ điển hình cho kĩ thuật này chính là “Recuedos de la Alhambra” lừng danh.

alhambra2) Thành Alhambra và “Recuedos de la Alhambra”

Thành Alhambra (1238 – 1527) ở Tây Ban Nha là một di sản văn hoá thế giới, đã bị bỏ hoang cho tới cuối thế kỷ thứ 19. Trải qua bao biến động của lịch sử, cung điện Alhambra phần lớn vẫn giữ nguyên diện mạo thế kỷ 14 của mình, không có sự thay đổi nào đáng kể.

Cung điện Alhambra xây dựng trên đỉnh đồi nhìn xuống thành phố Granada. Tên cung điện lấy từ al-Qalat al Hamra, có nghĩa là “lâu đài đỏ”, vì màu gạch và đất lấy từ pháo đài trước kia. Điểm ấn tượng nhất của cung điện Alhambra là công trình trát vữa không xoa láng, trang trí bằng các mô típ thực vật và những câu đề khắc…Cung điện là nơi ở của các vị vua người Maure ở Grenade (thế kỷ XIII-XIV), rộng khoảng 4.000 m2, được tường kiên cố bao quanh với 13 tháp canh liên hoàn khiến nhìn từ bên ngoài vào, lâu đài có dáng dấp một pháo đài. Đây là một tập hợp kiến trúc gồm thành quách, dinh thự và các kiến trúc phụ cho gia nhân cùng nhiều khu vườn tráng lệ, lâu đài được đánh giá là tuyệt tác của đời sống dân sự, quân sự và nghệ thuật của Hồi giáo Bắc Phi. Có thể gọi Alhambra là một pháo đài lẫn dinh thự tiêu khiển. Đây là một cung điện mang quá nhiều sư tráng lệ trên nền mồ hôi nước mắt, sự đói khát và cả tính mạng những người dân Hồi giáo vương quốc Granada.

Recuedos de la AlhambraCung điện Alhambra được xây dựng để nhằm mục đích quảng bá nền văn hóa, sở thích và chấn chỉnh nền văn minh của Hồi giáo. Sự khẳng định đặc điểm này liên kết mật thiết với nền nhận thức yếu kém của riêng mình trên vương quốc Granada và có lẽ vì lí do này, cung điện Alhambra đã bị bao trùm một tâm trạng luyến tiếc quá khứ, không tưởng và thi vị. Chủ đề hồi tưởng quá khứ cũng có thể nhìn thấy rõ ràng trong kết cấu kiến trúc của cung điện, ngoài sự ám chỉ đặc biệt về đạo hồi, cung điện còn mang tư tưởng và nền văn hóa của Hy Lạp, La mã cổ đại, vì thế cung điện Alhambra còn mang chứa những kiến thức cực kỳ uyên bác về Hy-La cổ điển.

“Recuedos de la Alhambra” với tên dịch ra tiếng Việt là “Tưởng nhớ thành Alhambra”, được sáng tác vào năm 1896, ở Granada. Nét tuyệt vời của bài này là giai điệu tremolo, cùng với tiếng bass ban đầu rất trầm ấm, nhưng sau đó lại lên rất cao, bồng bềnh như miền sông núi nước non Alhambra.

Dưới đây là hai video clip: 1) Video clip do nghệ sĩ guitar Enno Voorhorst biểu diễn và 2) Video clip do ca sĩ Nana Mouskouri biểu diễn với những hình ảnh tuyệt đẹp của thành cổ Alhambra. Mời các bạn thưởng thức và chúc các bạn một ngày thật vui!

 Loan Subaru

 

Chào mừng Ngày Quốc Tế Thiếu Nhi

childrenday
Chào các bạn,

Ngày Quốc tế Thiếu Nhi 1 tháng 6 là ngày lễ hội vui cho các em thiếu nhi, nhưng lại có nguồn gốc không mấy vui. Ngày lễ này có nguồn từ hai cuộc thảm sát thiếu nhi trong thế chiến thứ hai–Lidice, Tiệp Khắc, và Oradour sur Glaine, Pháp.

Lidice, Czechoslovakia: 27.5.1942, Reinherd Heydrich, trưởng an ninh của Đức ở Czecholosvalia (Tiệp Khắc) bị ám sát. Để trả thù, rạng sáng 10 tháng 6 năm 1942, lính Đức vào làng Lidice, ngọai ô thủ đô Prague của Tiệp, nhân số 503 người, bắt tất cả đàn ông, đàn bà, trẻ em. Tất cả 197 người đàn ông bị xử bắn tại chổ. Phụ nữ bị đưa vào trại tập trung và nhiều người chết trong trại tập trung. 82 trẻ em bị giết bằng hơi ngạt. Lính Đức đốt làng thành bình địa, Tồng kết sau chiến tranh: 340 người bị giết, trong đó có 82 trẻ em.

Video về đền tưởng niệm các em bị thảm sát tại Lidice
.


.

Oradour sur Glane, Pháp: 2 giờ chiều ngày 10 tháng 6 năm 1944, 4 ngày sau khi quân Đồng minh đổ bộ Normandy, lính Đức bao vây làng Oradour sur Glane ở Pháp, giết hết mọi người giả trẻ lớn bé trong làng, tổng cộng 642 người. Và đốt làng thanh bình địa.

Video của Oradour sur Glane trước và sau ngày thảm sát.
.

Để xác nhận ý chí các bà mẹ và mọi người quan tâm đến trẻ em, tháng giêng năm 1949 Liên đoàn phụ nữ dân chủ thế giới tại Moscow đã nhận ngày 1 tháng 6 làm Ngày Quốc tế Thiếu nhi. Ngày nay nhiều quốc gia trên thế giới có lễ hội 1 tháng 6.

childrenday2
Ngày 20 tháng 11 còn là kỷ niệm Liên Hợp Quốc công bố Tuyên Ngôn Quốc Tế về Quyền Thiếu Nhi năm 1949 (Declaration of the Rights of a Child) và Hiệp Ước Quốc Tế về Quyền Thiếu Nhi năm 1989 (Convention on the Rights of a Child).

Liên Hợp Quốc còn có UNICEF (United Nations International Children’s Emergency Fund – Quỹ Quốc Tế Khẩn Cấp cho Thiếu Nhi của LHQ).

Năm 2000 đại diện rất nhiều quốc gia trên thế giới họp tại trụ sở LHQ ở NY, ký chấp thuận mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (Millennium Development Goals), gồm 8 mục tiêu: 1. Xoá đói, 2. giáo dục phổ thông, 3. bình đẳng giới tính, 4. quyền thiếu nhi, 5. sức khoẻ tâm thần, 6. chống HVI/AIDS, 7. môi trường bền vững, 8. hợp doanh toàn cầu. Sáu mục tiêu đầu trong số này đều liên hệ đến trẻ em.

Sau đây mời các bạn xem vài video vui, nhân ngày thiếu nhi.
.

Thử thách
.


.

Em bé cười

.


.

Bản nhạc “Tootin’ Bathtub Baby cousins”

.

The Sound of Music, Do-Re-Mi và Edelweiss

Nếu các bạn hỏi bất kỳ người nào yêu thích phim ca nhạc, hay ca khúc trong phim nước ngoài, trong đó có mình, về tên của 5 bộ phim ca nhạc hay nhất mọi thời đại, câu trả lời không thể thiếu The Sound of Music.

The Sound of Music (Giai Điệu Hạnh Phúc hay Tiếng Tơ Đồng) là một bộ phim ca nhạc năm 1965 của đạo diễn Robert Wise cùng các diễn viên Julie Andrews, và Christopher Plummer đóng vai chính. Bộ phim dựa trên vở nhạc kịch cùng tên của Broadway, trong đó có bài hát cùng tên do Richard Rodgers, Oscar Hammerstein II  viết, và dựa trên cuốn sách nhạc kịch của Howard Lindsay, Russel Crouse, kịch bản của Ernest Lehman.

Vở nhạc kịch này lấy ý tưởng từ quyển sách “ Câu Chuyện của Các Ca Sĩ Gia Đình Trapp “  của tác giả Maria von Trapp. Trong vở nhạc kịch này có nhiều bài hát nổi tiếng như  Edelweiss,  My Favorite Things,  Climb E’vry Mountain, Do-Re-Mi, Sixteen Going on Seventeen, cũng như bài hát cùng tên phim : The Sound of Music.

The Sound of Music

Phim được quay ở  Salzburg, Áo; Bavaria ở Nam Đức, và ở trường quay 20th Century Fox, California.  Bộ phim giành 5 giải Oscar cho phim hay nhất của năm 1965: Đạo diễn Hay Nhất, Kịch Bản Phim Hay Nhất, Nhạc Phim Hay Nhất,….   và là một trong những phim ca nhạc nổi tiếng nhất từng được  sản xuất. Album nhạc phim đã được đề cử giải Grammy của năm.  Giai điệu nhẹ nhàng, lời hát trong sáng. Chẳng có những triết lý sâu xa, chỉ là những gì gần gũi quanh ta, nhưng lại làm ta thêm yêu cuộc sống. Thư viện Quốc Hội Hoa Kỳ đã chọn The Sound of Music cho việc bảo tồn ở Kho Lưu Trữ Phim Quốc Gia Hoa Kỳ vào năm 2001.Phim này thu về được 1.022 tỉ đô la khiến nó được xếp thứ ba sau Cuốn Theo Chiều Gió và Chiến Tranh Các Vì  Sao ( Gone With The Wind, và Star Wars).

Truyện phim khá đơn giản, nhưng bộ phim lại làm rung động hàng nhiều triệu khán giả,  gợi  lên những cảm xúc cao đẹp với tình yêu thiên nhiên,  trẻ thơ, tình người, tình yêu đôi lứa, sự dũng cảm mưu trí trước kẻ thù, nhất là âm nhạc tuyệt vời. Maria, (do Julie Andrews đóng) một nữ tu yêu đời, chưa được ơn Thiên triệu,  yêu nhạc, thích ca hát, đến làm cô giáo cho 7 đứa con của gia đình Von Trapp.  Bằng tấm lòng yêu thương  và  tính cách chân thành giản dị, tài ca hát làm rung động lòng người, cô  gia sư trẻ đã  chinh phục đám trẻ  nghịch ngợm khó bảo.  Chúng chỉ  quen tuân phục tiếng còi  lệnh của cha, theo kỷ luật quân đội. Ông Georg nghiêm cấm cười đùa, nghiêm cấm âm nhạc, nghiêm cấm mọi  thứ  có thể gợi lại hình ảnh vợ mình. Maria đã thổi làn gió kỳ diệu của những giai điệu ngọt ngào vào 7 đứa bé, làm sống lại tâm hồn tưởng như đã chết của viên thuyền trưởng Georg. Và tình yêu như phép nhiệm màu đem lại  hạnh phúc cho họ. Cả gia đình sống bên nhau êm đềm, tươi vui, với thiên nhiên, với âm nhạc, giữa bao người dân bình dị.  Câu chuyện đẹp như cổ tích, nhưng cũng đầy chất kịch tính với  bối cảnh chiến tranh là Thế Chiến thứ  II và  quân Đức tràn vào Áo. Ông Georg bị buộc phải phục vụ cho Hải Quân Đức. Họ bàn tính cách bỏ trốn sang Thụy Sỹ. Cuộc đào thoát thành công ngoạn mục. Một kết cục có hậu làm khán giả yên lòng và mỉm cười với hạnh phúc của gia đình Von Trapp.

the sound of music 1

Giai Điệu Hạnh Phúc là bài hát chủ đề  do Julie Andrews hát với phần phụ hoạ điệp khúc của nhà Von Trapp trong bộ phim năm 1965.

Bài hát này được Viện Phim Mỹ  xếp thứ 10 trong danh sách  100 bài hát tuyệt vời nhất của mọi thời đại. Cảnh đầu tiên trong phim là cảnh đồng quê, núi non, thiên nhiên …, những hình ảnh tuyệt đẹp từ trái qua phải rồi lại dần đưa ta gặp Maria, cô gái yêu đời đứng giữa núi đồi và hát vang bài “The Hills Are Alive With the Sound of Music.” Bốn câu đầu của bài hát trong phim và trong album bắt đầu với :

The hills are alive with the sound of music
With songs they have sung for a thousand years.
The hills fill my heart with the sound of music
My heart wants to sing every song it hears.
My heart wants to beat like the wings

 

Những bài hát khác  trong phim đều rất hay. Hầu như mỗi cảnh đều có 1 bài hát. Ngoài bản nhạc chủ đề,  Nhạc Xanh xin mời các bạn thưởng thức  ba bài hát khác  thực dễ thương và rộn ràng khúc yêu đời. Bài My Favorite Things đã nhắc đến ở trên.

Bài Do-Re-Mi với 7 nốt nhạc đặc trưng bằng những hình ảnh ví von sinh động và dễ nhớ. Nhân một lần ông bố nghiêm khắc đi vắng, Maria dẫn đám trẻ đi picnic – điều kỳ diệu chúng chưa từng có theo khuôn khổ kỷ luật quân sự của người cha. Cô dạy bọn trẻ hát 7 note nhạc với bài hát tươi vui này.

Doe, a deer, a female deer, Ray, a drop of golden sun  

Me, a name I call myself, Far, a long, long way to run

Sew, a needle pulling thread, La, a note to follow So

Tea, a drink with jam and bread, that will bring us back to Do…

music 3

Và bài Edelweiss qua 2 giọng ca của Julia Andrews và John Denver.

 Edelweiss là hoa nhung tuyết,  được xem là hoa truyền thống tượng trưng cho nước Áo. (Austria’s national flower).

Đêm cuối cùng trên nước Áo, trước khi trốn sang Thụy Sỹ, gia đình Von Trapp trong 1 buổi liên hoan nhạc, có sự theo dõi, quản thúc của quân Đức, đã hát vang bài hát cho quê hương như một lời từ biệt này. Rồi mọi khán giả dự buổi biểu diễn cũng xúc cảm cùng hoà theo bài hát ngắn:

Edelweiss, Edelweiss
Every morning you greet me
Small and white, clean and bright
You look happy to meet me …..

Về  ngôi sao ca nhạc -diễn viên Julia Andrews, tên khai sinh là Julia Elizabeth Wells sinh ngày 1/10/1935 tại Walton-on-Thames, nước Anh, trong một gia đình kinh doanh giải trí. Julie Andrews đã nhận rất nhiều  giải thưởng lớn như  Quả Cầu Vàng, Emmy, Grammy, Oscar,  Giải Thưởng của Viện Hàn Lâm Anh cho Truyền Hình và Phim (British Academy of Film and Television Arts : giống như Oscar của Mỹ), Giải thưởng Sân Khấu Thế Giới….

Sự nghiệp ca hát của Julie Andrews bắt đầu ở tuổi 12 với chất giọng nữ cao ngọt ngào, trong trẻo đến lạ thường của cô. Năm 21 tuổi (1956), Julie trở thành ngôi sao trên sân khấu Broadway với vai diễn đầu tiên – Eliza Doolittle trong “Quý Bà Lịch Thiệp Của Tôi” (My Fair Lady). Tuy nhiên, cô chỉ  thực sự toả sáng khi vào vai Mary Poppins trong bộ phim ca nhạc cùng tên của Walt Disney (1964). Với phim này, Julie đã  được trao giải thưởng Oscar của Viện Hàn Lâm Điện Ảnh Mỹ – Nữ Diễn Viên Chính Xuất Sắc nhất.

Một năm sau đó, trong  vai cô bảo mẫu – gia sư Mary,trong “Giai Điệu Hạnh Phúc” (The Sound of Music,  năm 1965) – một trong những bộ phim thành công nhất của mọi thời đại, Julie đã trở thành một ngôi sao thực thụ, một hiện tượng mới  của Hollywood.

“Giai Điệu Hạnh Phúc” đã phá kỷ lục về số người xem tại tất cả các rạp chiếu phim trên toàn thế giới. Đặc biệt,  một phụ nữ tại Cardiff, xứ Wales,  đã xem bộ phim 300 lần và được coi là fan hâm mộ lớn nhất của mọi thời đại. Bộ phim đã giúp Julie xuất hiện trên trang bìa tạp chí Life, đồng thời là nhân vật chính trong bài báo “Nữ Hoàng Mới của Hollywood”.

john-denver-7

Theo Wikipedia, John Denver  ( 31 / 12/  1943 – 12 /10 /1997  là một ca sĩ kiêm nhạc sĩ folk và  folk rock của  Mỹ được xem là  một trong những nhạc sĩ lớn nhất của thập niên 1970.  Ông thu và phát hành vào khoảng 300 bài hát, trong đó gần một nửa do ông biên soạn; vào năm 1977, ông được chọn là Đệ Nhất Thi Nhân (Poet Laureate) của tiểu bang Colorado. Các bài hát của Denver tràn đầy tình yêu tự nhiên. Những bài hát như  Take Me Home Country Road, Leaving On a Jet Plane, Calypso, Annie’s Song, Thank God I’m A Country Boy, và Rocky Mountain High  nổi tiếng khắp thế giới. ( Nhạc Xanh sẽ giới thiệu John Denver trong một bài khác)

Ngoài ra có một bài rất hay do Mary hát : My Favorite Things với ca từ  sáng đẹp chất giản dị, lạc quan .

Maria nói với bọn trẻ về những điều  yêu thích giản dị của mình: những hạt mưa đọng  trên những đoá hồng, những chiếc ria mèo con, những ấm đun nước bằng đồng sáng choang, … đàn ngỗng trời bay cao tít, và cô bảo chúng rằng:

Khi nào cảm thấy buồn, cô chỉ nhớ đến những điều ưa thích của mình.Thế là nỗi buồn tan biến.                                                                                                                                                   

My Favorite Things   
( Link 4)                                                                                                                               

Raindrops on roses and whiskers on kittens
Bright copper kettles and warm woolen mittens
Brown paper packages tied up with strings
These are a few of my favorite things

Cream colored ponies and crisp apple streudels
Doorbells and sleigh bells and schnitzel with noodles
Wild geese that fly with the moon on their wings
These are a few of my favorite things

Girls in white dresses with blue satin sashes
Snowflakes that stay on my nose and eyelashes
Silver white winters that melt into springs
These are a few of my favorite things

 LINKS :

1    THE SOUND OF MUSIC TOUR ( Một số địa điểm nơi đã quay bộ phim )


.

The hills are alive with the sound of music
With songs they have sung for a thousand years
The hills fill my heart with the sound of music
My heart wants to sing every song it hears
My heart wants to beat like the wings of the birds that rise from the lake to the trees
My heart wants to sigh like the chime that flies from a church on a breeze
To laugh like a brook as it trips and falls over stones on its way
To sing through the night like a lark who is learning to prey
I go to the hills when my heart is lonely
I know I will hear what I’ve heard before
My heart will be blessed with the sound of music
And I’ll sing once more.

2.   DO RE MI  ( Julie Andrews  và  các ca sĩ nhí nhà Von Trapp)

 
Maria:
Let’s start at the very beginning
A very good place to start
When you read you begin with
Child (Gretyl): ABC
Maria: When you sing you begin with do re mi
Children:
Do re mi
Maria:
Do re mi
The first three notes just happen to be
Do re mi
Children:
Do re mi
Maria:
Do re mi fa so la ti
Oh let’s see if I can make it easier hmmm:
Doe- a deer, a female deer
Ray- a drop of golden sun
Me- a name I call myself
Far- a long long way to run
Sew- a needle pulling thread
La- a note to follow so
Tea- a drink with jam and bread
That will bring us back to do oh oh oh
Child: Do
Maria: A deer, a female deer
Children: Re
Maria: A drop of golden sun
Children: Mi
Maria: A name I call myself
Children: Fa
Maria: A long long way to run
All: So- a needle pulling thread
La
Maria:A note to follow so
Ti
Children: A drink with jam and bread
Maria: That will bring us back to do
Children:
Doe- a deer, a female deer
Ray- a drop of golden sun
Me- a name  I  call myself
Far- a long long way to run
All:
Sew- a needle pulling thread
La- a note to follow so
Tea- a drink with jam and bread
Maria:
That will bring us back to do
Do re mi fa so la te do so do
Now children do re mi fa so and so on
Are only the tools we use to build a song
Onces you have these notes in your head
You can sing a million different tones by mixing them up
Like this: so do la fa mi do re
Can you do that
Children: So do la fa mi do re
Maria:
So do la ti do re do
Children:
So do la ti do re do
Maria: Now put it all together
All: So do la fa mi do re, so do la ti do re do
Maria: Good
Child (Brigitta):
But it doesn’t mean anything
Maria: So we put in the words.
One word per every note.
Like this:
When you know the notes to sing
You can sing most anything
Together
All:
When you know the notes to sing
You can sing most anything
Maria: Doooooo
All: A deer, a female deer
Child: Reeee
All: A drop of golden sun
Child: Miiiii
All: A name I call myself
Maria:Faaaaa
All: A long long way to run
Maria: Soooo
All: A needle pulling thread
Child: Laaaa
All: A note to follow so
Child: Teeee
All:
A drink with jam and bread
That will bring us back to dooo
Do re mi fa so la ti do do ti la so fa mi re
Do mi mi
Mi so so
Re fa fa
La ti ti
Do mi mi)
Mi so so)
Re fa fa)
La ti ti)
Do mi mi)
Mi so so) When you know the
Re fa fa)
La ti ti)
Do mi mi)
Mi so so) notes to sing
Re fa fa)
La ti ti)
Do mi mi)
Mi so so) You can sing most
Re fa fa)
La ti ti)
All:
Anything things
Doe- a deer, a female deer
Ray- a drop of golden sun
Me- a name I call myself
Far- a long long way to run
Sew- a needle pulling thread
La- a note to follow so
Tea- a drink with jam and bread
That will bring us back to
So do la fa mi do re (Maria goes up scale DoReMeFa)
So do la fa (Maria SoLTiiiii) (la sooooo) (ti faaaa) (mi reeee) ti dooooo
So do

3. EDELWEISS  ( Julie Andrews và John Denver )

Edelweiss Edelweiss
Every morning you greet me
Small and white
Clean and bright
You look happy to meet me

Blossom of snow may you bloom and grow
Bloom and grow forever
Edelweiss Edelweiss
Bless my homeland forever

4. Nhiều bài hát  tổng hợp và cảnh trong phim

http://www.youtube.com/watch?v=qIHOJ2dq_UU&feature=related

Các  bạn có hứng thú  có thể dịch các bài  hát mình ưa thích sang lời Việt.

Thân ái chúc các bạn một ngày mới tươi hồng, rộn ràng những khúc nhạc xanh, trẻ trung, và một tuần  hiệu quả trong công việc và học tập.

 

Cung đạo – Nghệ thuật bắn cung Nhật Bản

kyudo-1Cung đạo là nghệ thuật bắn cung của Nhật (kyudo) còn gọi là xạ nghệ. Cung đạo mang một ý nghĩa triết lý sâu xa. Do vậy mục đích chính của người bắn cung không phải là bắn trúng đích mà là nắm vững cái nghệ thuật bắn cung. Khi cung thủ nắm vững đến mức hoàn thiện từng động tác của mình – thoát ra khỏi cái ý muốn thường ám ảnh là muốn tên phải bắn trúng đích – thì mũi tên sẽ tự lao đến đích. Người Nhật không coi Cung đạo là một môn thể thao mà coi nó như là một nghi thức tôn giáo. Do đó “đạo” của Cung đạo chẳng phải nói về thể thao gia tập luyện thân thể mà nói về năng lực phát huy từ việc rèn luyện tâm linh, với mục đích bắn trúng mục tiêu tâm linh. Cho nên, trên căn bản, cung thủ nhắm vào chính mình và thậm chí có thể thành công trong việc bắn trúng chính mình.

kyudo-2Như vậy, Cung đạo là những bài học luyện tập tâm linh, là phương pháp tu tập thiền định, người thực hành không thể thành tựu được điều gì ở bên ngoài bằng cung tên, mà chỉ có thể thành tựu trong nội tâm, với chính bản thân. Cung tên là một loại võ khí của thời xưa, nhưng nay thì nó là một phương pháp không chỉ riêng nhắm đến mục đích vị lợi hoặc thuần túy thỏa mãn óc thẩm mỹ, mà cốt để tu tâm dưỡng tính, hay nói đúng hơn là để tâm hội nhập với chân lý thâm cùng.Tinh tuý của Cung đạo ngày nay là đạt đến chân thiện mỹ, lấy trạng thái tâm linh làm nền tảng .

Cây cung dùng trong Cung đạo lớn hơn nhiều so với loại cung thường. Cây cung này cũng không được cân đối. Sợi dây của cây cung không được chạm vào vòng cung. Mũi tên cũng dài hơn thường lệ. Chiều dài của mũi tên cũng như tầm cao của cây cung tương xứng với vóc dáng của cung thủ. Cung thủ thường dùng cái găng tay bằng da để nắm cung. Khoảng cách và vòng tròn của cái bia xa gần, lớn nhỏ tuỳ thuộc vào người tổ chức. Thông thường, một cái bia tiêu chuẩn có 36cm đường kính, đặt cách cung thủ 28m và trên mặt đất 9cm .

kyudo3Rèn luyện bắn cung trước tiên là tu tập nội tâm. Cung tên chỉ là phương tiện cho những gì có thể xảy ra mà không cần tới chúng, chúng chỉ là con đường dẫn tới mục tiêu, chứ chẳng phải là chính mục tiêu, chỉ là những hỗ trợ cho bước nhảy vọt tối hậu. Giương cung, ngưng lại, buông tên đều phải tuân thủ theo những giáo huấn đặc biệt. Chỉ cần chú ý rằng thân thể phải thư giãn khi đứng, ngồi, hoặc nằm. Nếu cung thủ tập trung tâm lực vào hơi thở thì lúc ấy chỉ còn nhận biết mình đang thở. Như vậy là sai . Muốn tự tách mình ra khỏi cảm giác và tri thức này, người ta không cần tới một quyết tâm nào, bởi vì hơi thở sẽ tự nó đi chậm lại, trở thành mỗi lúc một tiết kiệm hơi thở hơn trước, cuối cùng biến thành mờ nhạt và hoàn toàn thoát ra khỏi sự chú ý của cung thủ.

Trong thuật bắn cung, cái bắn trúng và cái bị bắn không còn là hai đối tượng tách biệt nhau, mà hợp thành một thực thể duy nhất. Người bắn không còn ý thức gì về mình khi chăm chú vào tâm điểm trước mặt. Trạng thái không còn ý thức gì về mình hay “vô tâm”, “vô thức”, “phi tư lương” này chỉ có được khi cung thủ – người bắn – hoàn toàn vắng lặng, dứt bỏ cái tôi và nhập một với việc trao dồi để hoàn thiện tài năng kỹ thuật; mặc dù trong việc này có cái gì đó thuộc về một đẳng giới rất khác biệt không thể đạt đến bằng bất cứ sự học tập nghệ thuật theo cách tiệm tiến nào.

Tính toán quá kỹ sẽ sai lầm. Toàn bộ công trình bắn cung như vậy là thất bại. Tâm lăng xăng của cung thủ đã phản bội lại chính mình trong mọi hướng và trong mọi môi trường hoạt động. Để dễ nhập vào tiến trình giương cung và buông tên, cung thủ quì một đầu gối và bắt đầu nhập định, đứng lên, bước về phía tấm bia theo nghi thức nghiêm trang, kính cẩn dâng cung tên lên trước mặt giống như dâng hiến phẩm vật cúng tế, rồi lắp mũi tên, nâng cung lên, giương cung và chờ đợi với thái độ tâm linh vô cùng tỉnh thức. Sau khi mũi tên và sức căng được thả ra nhanh như tia chớp, cung thủ giữ nguyên tư thế đó, đồng thời chậm rãi thở ra hết hơi rồi hít hơi vào. Chỉ tới lúc đó cung thủ mới được buông thõng tay xuống, cúi chào cái bia và – nếu đã bắn hết tên – lặng lẽ lui về phía sau.

 Loan Subaru (Sưu tầm và tổng hợp)

Con gái Huệ An

HueAnWoman

Phúc Kiến
Phúc Kiến

HueAnwomen

HueAnWomen

HueAngirl

hueanwomen

hueanwoman1

Tại bán đảo Huệ Đông thuộc huyện Tuyền Châu tỉnh Phúc Kiến Trung Quốc có một quần tộc rất đặc biệt sinh sống, quần tộc đó mang tên Huệ An. Vì trang phục đặc biệt cộng thêm những tục hôn lễ rất kỳ lạ nơi đây nên danh tiếng của Huệ An đã trở nên nổi tiếng khắp trong và ngoài nước. Có người nói họ là dân tộc thiểu số, có người lại cho rằng họ là người dân tộc Hán. Họ sinh sống ven biển và chia thành 7 làng, với tổng nhân khẩu là gần 1 triệu người .

Vẻ đẹp của con gái Huệ An được miêu tả bởi 3 chữ ” Thật, Thiện, Mỹ “. Từ thời cổ xưa con gái nơi đây đã nổi tiếng với đức tính cần cù , tiết kiệm , chịu thương, chịu khó. Vì con trai Huệ An thường ra khơi đánh bắt cá dài ngày, trong nhà chỉ có người già, trẻ em và phụ nữ, vì thế họ phải dùng chân để dạp đất, dùng đầu để đội trời, dùng bờ vai mềm yếu của mình để gánh vác những công việc nặng nhọc trong cuộc sống như quán xuyến việc nhà, làm ruộng, đẽo đá, cưa gỗ, đan lưới, may vá, buôn bán… Còn con gái thời nay lại tỏ ra rất hoạt bát, sôi nổi trong mọi nghành nghề. Họ dùng trí thông minh, sự kiên cường, sức dẻo dai, tính chịu thương chịu khó để theo đuổi cuộc sống hạnh phúc và để thể hiện tính đa phong cách của mình .

Tục hôn lễ của người dân Huệ An phải nói là rất lạ lùng, nó khiến cho nhiều người không thể hiểu và tiếp nhận được. Sau đây tôi sẽ giới thiệu để các bạn cùng biết thêm nhé: Trong ngày cưới Tân Nương khoác trên mình một bộ đồ màu đen ( Người trong làng gọi là Áo Phượng Hoàng đen), tay cầm ô màu đen. Trước khi xuất gia Tân Nương phải bước qua bếp lò đã được đốt chuẩn bị sẵn. Đó là một trong những tập tục truyền thống của người dân Huệ An, vì họ cho rằng màu đỏ của ngọn lửa sẽ điềm báo trước về một cuộc sống thịnh vượng của hai vợ chồng.

Sau đó Tân Nương sẽ được bạn bè và gia đình nhà gái đưa đến nhà trai chứ bên nhà trai không cho bất kì ai đến đón. Trong đêm tân hôn thì Tân Nương không được phép lên giường ngủ mà phải đứng ở cuối mép giường suốt đêm. Sau khi cưới 3 ngày thì Tân Lang sẽ đưa Tân Nương về bên nhà ngoại định cư trong một thời gian dài. Sau một năm thì hai vợ chồng về bên nhà nội ngủ ở đó một đêm, và sáng hôm sau lại quay về nhà ngoại.

Chỉ có những ngày lễ tết truyền thống như Tết Nguyên Đán, tết Thanh Minh, tết Đoan Ngọ …hoặc khi nhà nội công việc đồng áng quá vất vả và bận rộn thì người chồng lại đón vợ về khoảng 1 đến 2 ngày. Vì Vậy thời gian định cư bên nhà ngoại ít nhất là 2 đến 3 năm, và số lần về bên nhà nội hàng năm không đến 10 lần, mỗi lần về không được ở quá 3 ngày. Trên đường về phải dùng khăn đội đầu che kín mặt, chỉ đến tối trước khi đi ngủ mới được tháo ra. Cứ lặp đi lặp lại như vậy cho đến khi người vợ sinh con (không được phép sinh bên nhà ngoại mà phải về bên nhà nội), lúc đó mới danh chính ngôn thuận được cùng chồng về bên nhà nội chung sống .

hueanwoman2

Thực ra tập tục sống định cư lâu dài bên nhà ngoại của con gái Huệ An đã mang lại không ít những mâu thuẫn và bất hạnh cho họ nhưng do con trai Huệ An thường ra khơi đánh bắt cá trong thời gian dài nên tập tục này vẫn được duy trì rất phổ biến nơi đây .

Trong ngày cưới cách trải tóc của Tân Nương rất cầu kỳ và cũng chỉ trong ngày hôn lễ của mình con gái Huệ An mới được phép cuốn kiểu tóc đặc biệt này. Kiểu tóc này cần đến 5, 6 người cùng lúc làm và phải mất đến 4 tiếng mới hoàn thành. Và nếu như Tân Nương không cẩn thận làm rối tóc thì rất khó chỉnh sửa lại như cũ.

hueanwomen2

Nhưng tại sao lại cần nhiều người giúp Tân Nương cuốn kiểu tóc cầu kỳ đến vậy , có phải chỉ vì ý nghĩa là làm đẹp thôi không? Thực ra kiểu tóc này mang một hàm ý rất sâu sắc là để giám sát Tân Nương trong 3 ngày cưới đầu . Nghe nói, Tân Nương sau 3 ngày cưới về bên nhà ngoại, nếu phát hiện tóc bị rối sẽ bị người già trách cứ, chị em cùng lứa tuổi chê cười, trẻ con bêu riếu. Do đó để giữ cho tóc không bị rối, thông thường Tân Nương trong 3 ngày cưới đầu không được phép nằm ngủ mà phải ngồi ở dưới đất hoặc đứng ở mép giường thông đêm.

Những tập tục trong hôn lễ của người dân Huệ An hiện nay đã có nhiều cải tiến, nhưng vẫn giữ được những nét độc đáo riêng của mình .

Chúc các bạn một ngày vui.

Kiều Tố Uyên
DHS, Hồ Nam, Trung Quốc

USA for Africa và We Are The World

Nhạc Xanh tiếp tục mời các bạn thưởng thức một bản nhạc thuộc dòng nhạc pop rock lừng danh thế giới, còn được mệnh danh là quốc tế ca thời hiện đại, hay bản thánh ca của thế kỷ 20: “We Are The World” (Chúng ta là thế giới), một ca khúc giàu tính nhân văn và đại đồng.
We-are-the-World.1

We Are The World cùng với Heal The World, và Earth Song là 3 ca khúc hay nhất về thế giới, hòa bình và nhân đạo.

Sự thực là đã hơn 24 năm qua từ ngày ca khúc ra đời, bài hát này vẫn còn nguyên giá trị cao đẹp vì ý nghĩa và mục đích ra đời của nó, tiếp tục vượt thời gian và không gian, đi vào trái tim của những người nhân ái, yêu hoà bình, chứ không chỉ là người yêu nhạc.

Mọi sự khởi đầu từ tháng 11 năm 1984, ca sĩ rock Bob Geldof, người Ireland, đáp lại một bản tin về trẻ em châu Phi bị chết đói, đã sang Ethiopia theo sự ủy nhiệm của Ủy Hội vì châu Phi (Commission for Africa). Bất ngờ và xúc động trước sự nghèo khó cùng cực và cuộc chiến sắc tộc đẫm máu ở xứ sở này, khi trở về, Geldof đã viết bài hát “ Do They Know It’s Christmas?” và vận động các ngôi sao nhạc Rock khác ghi âm và phát hành đĩa đơn này với số tiền cuối cùng thu được là hơn 8 triệu đô la để cứu trợ cho nạn nhân của nạn đói ở châu Phi và Ethiopia.

Sau đó ngày 13/7/ 1985 Geldof khởi xướng và tổ chức đồng thời 2 chương trình âm nhạc qui mô lớn có tên Live Aid ở sân vận động Wembley tại London và sân vận động John F. Kennedy ở Philadelphia, với sự tham gia của các ca sĩ lừng danh như Sting, Elton John, Eric Clapton, Bob Dylan, Madonna, Paul McCartney, Phil Collins, Tina Turner, Sade, Neil Young, Paul Young, Bryan Adams, v.v, và các ban nhạc tiếng tăm như U2, Who, Queen, Dire Straits, Heartbreakers, The Pretenders, … Chương trình từ thiện này được truyền trực tiếp qua truyền thanh và truyền hình với 9 vệ tinh nhân tạo cho khoảng hơn 1 tỉ khán giả hơn 100 nước. Tổng số tiền thu được để cứu trợ nạn đói là hơn 150 triệu đô la.

Tại chương trình này, ngoài bài hát nói trên của Bob Geldof, We Are the World là một sự kiện lớn gây chấn động cả thế giới vì sự truyền cảm và tác động sâu sắc của ca khúc.
Được sáng tác bởi Michael Jackson và Lionel Richie, 2 ca sĩ-nhạc sĩ đỉnh cao âm nhạc, ca khúc này do Quincy Jones chỉ đạo và sản xuất; sau đó nó được thu âm vào ngày 28-1-1985 bởi một nhóm các ngôi sao nhạc pop nổi danh thời bấy giờ, được mệnh danh là USA for Africa ( United Support of Artists for Africa) – nhóm những Nghệ Sĩ Ủng Hộ Châu Phi.
SP_USA_for_Africa_Front
Harold Belafonte ( sinh năm 1927), một ca sĩ Mỹ da đen, đã khởi xướng ý tưởng cho bài hát này, lấy cảm hứng từ ý tưởng của sự kiện âm nhạc từ thiện ở Châu Âu của Bob Geldof. Xuất thân nghèo khó, Belafonte hăng say tham gia hoạt động xã hội và từ thiện với UNICEF, và thành lập “USA for Africa”. Hơn 40 nghệ sĩ kiệt xuất của nhiều thế hệ ca sĩ Mỹ như Bruce Springsteen, Michael Jackson, Ray Charles, Stevie Wonder, Bob Dylan, Diana Ross, Tina Turner, Billy Joel… đã hợp lực thu thanh bài hát vĩ đại này đúng vào đêm trao Giải thưởng Âm nhạc Nước Mỹ (American Music Awards), 28-1-1985.
We are the world 4doc

Đĩa đơn có bài hát We Are The World lập tức nhảy lên vị trí 1 trong 4 tuần từ 17/ 4/ 1985 trên Billboard 100 ở Mỹ và cũng đứng đầu bảng xếp hạng ở Vương quốc Anh và ở vị trí đỉnh cao ở hấu hết các nước trên thế giới. Đĩa này sau đó bán được hơn 7 triệu bản, đoạt 4 giải Grammy năm 1986: “Ca Khúc của Năm”, “Bản Thu Âm của Năm”, “Trình Diễn Pop Xuất Sắc Nhất dành cho Tốp ca”, và giải thưởng “Video Âm Nhạc Hay Nhất, Thể Loại Clip Ngắn”. Số tiền thu được từ CD We Are The World, 63 triệu đô la Mỹ đã sung vào quỹ từ thiện cứu trợ đói nghèo ở châu Phi.

We Are the World đã được các ca sĩ và ban nhạc khác trình bày lại nhiều lần, với sự chỉnh sửa về lời và tên gọi để phục vụ cho nhiều mục đích khác nhau. Năm 1986, ca sĩ Nina Hagen đã hát lại một bản duy nhất bằng tiếng Đức – Wir sind die Welt – trong chương trình truyền hình Đức kỉ niệm 40 năm ngày thành lập Quỹ nhi đồng Liên hiệp quốc UNICEF. Cũng có một số người chỉ trích USA for Africa là nhằm vào mục đích quảng bá hình ảnh hơn là mục đích từ thiện, nhưng ngoài số tiền hơn 60 triệu đô la vì nạn đói châu Phi, bài hát này đến tận thế kỷ 21 vẫn còn giá trị biểu cảm và thẩm mỹ âm nhạc lớn, và tiếp tục làm lay động xúc cảm cao đẹp và khát vọng hòa bình của con người bất kể chủng tôc, màu da và tôn giáo. Khi nào trên thế giới này, những hiểm họa như nạn đói, bệnh tật, thiên tai, nghèo đói và chiến tranh vẫn là những mối đe dọa đến sự bình yên và hạnh phúc của con người thì những bài hát như We Are The World vẫn còn sức sống mãnh liệt.
weworld

Ngoài ra có thể nói thành công của bài hát đỉnh cao này còn bởi giai điệu tuyệt vời và ca từ sáng đẹp như :
There comes a time when we heed a certain call
When the world must come together as one
There are people dying
Oh, and it”s time to lend a hand to life
The greatest gift of all
Đã đến lúc chúng ta để ý đến một lời kêu gọi
Khi cả thế giới cần phải sát cánh bên nhau như một
Ngoài kia, những người đang chết dần mòn
Đã đến lúc chìa bàn tay giúp đỡ
Đó là một món quà tuyệt vời hơn tất cả

We can’t go on pretending day by day
That someone, somehow will soon make a change
We’ re all a part of God’s great big family
And the truth
You know love is all we need

Chúng ta không thể tiếp tuc giả vờ ngày lại ngày
Rằng một ai đó bằng cách nào đó sẽ thay đổi
Chúng ta đều là thành viên trong đại gia đình của Chúa / Thượng đế
Và sự thực là
Bạn cũng biết tình yêu là tất cả những gì chúng ta cần.

Ca khúc này với phần trình bày solo bởi giọng ca của các nghệ sĩ tài danh hàng đầu, dù hát đơn hay hát đôi trong một hai phút, chất giọng độc đáo của họ làm xúc động lòng người, chẳng hạn Lionel Richie, Stevie Wonder, Paul Simon, Kenny Rogers, Tina Turner, Billy Joel,Michael Jackson, Diana Ross, Willie Nelson , Al Jurreau và Dionne Warwick mà các bạn đã nghe qua Dionne Warwick & Friends và That’s What Friends Are For trong chuyên mục Nhạc Xanh (26/5/2009) . Sau đó họ hòa chung giọng hát với cả nhóm cùng hát đoạn điệp khúc 3 lần.

Links :
1. We Are The World- USA for Africa ( + with lyrics)

2. We Are The World – Live From Pavarotti & Friends

3. We Are The World – Michael Jackson

Sau đây là ca từ của bài hát kèm tên của ca sĩ trình bày theo bản 1985 ( USA for Africa)

There comes a time when we heed a certain call (Lionel Richie)
When the world must come together as one (Lionel Richie & Stevie Wonder)
There are people dying (Stevie Wonder)
Oh, and it’s time to lend a hand to life (Paul Simon)
The greatest gift of all (Paul Simon/Kenny Rogers)
We can’t go on pretending day by day (Kenny Rogers)
That someone, somehow will soon make a change (James Ingram)
We’ re all a part of God’s great big family (Tina Turner)
And the truth (Billy Joel)
You know love is all we need (Tina Turner/Billy Joel)
( CHORUS )
We are the world, we are the children
We are the ones who make a brighter day so let’s start giving (Michael Jackson)
There’s a choice we’re making we’re saving our own lives (Diana Ross)
It’s true we’ll make a better day just you and me (Michael Jackson/Diana Ross)
Well, send’em you your heart so they know that someone cares (Dionne Warwick)
And their lives will be stronger and free (Dionne Warwick/Willie Nelson)
As God has shown us by turning stone to bread (Willie Nelson)
And so we all must lend a helping hand (Al Jurreau)
( REPEAT CHORUS )
We are the world, we are the children (Bruce Springsteen)
We are the ones who make a brighter day so let’s start giving (Kenny Logins)
There’s a choice we’re making we’re saving our own lives (Steve Perry)
It’s true we’ll make a better day just you and me (Daryl Hall)
When you’re down and out there seems no hope at all (Michael Jackson)
But if you just believe there’s no way we can fall (Huey Lewis)
Well, well, well, let’s realize that a change can only come (Cyndi Lauper)
When we (Kim Carnes)
stand together as one (Kim Carnes/Cyndi Lauper/Huey Lewis)
(REPEAT CHORUS AND FADE )
(giọng phụ họa ứng khẩu : Bob Dylan, Ray Charles, Stevie Wonder, Bruce Springsteen, James Ingram)

Phần điệp khúc xin dành cho các bạn tự dịch.
Thân ái chúc các bạn một ngày vui và hạnh phúc cuối tuần.

Chào mừng Tết Đoan Ngọ

Doanngoduathuyen
Hôm nay, lễ tết Đoan Ngọ (mùng 5 tháng 5 âm lịch), hay còn gọi tết Đoan Dương , tết Ngũ nguyệt …mặc dù tên gọi khác nhau nhưng tập tục trong ngày này của các vùng lại đều giống nhau.

Tết Đoan Ngọ đã có lịch sử hơn 2000 năm, là lễ tết truyền thống dân gian lớn nhất vào mùa hè của người dân Trung Quốc. Trong ngày này mọi gia đình thường treo bức họa Chung Quỳ , treo lá Ngải Cứu, lá hoa Iris, treo gói Bội Hương, treo túi dệt ngũ sắc trong nhà, gói bánh trưng, uống rượu Hùng Hoàng, tổ chức đua thuyền rồng …

Khuất Nguyên
Khuất Nguyên

Tại sao tết Đoan Ngọ lại gọi là “Đoan Ngọ”? Thì ra “Đoan” có nghĩa “Mồng”. “Mồng 5” tức là “Đoan Ngọ”. Theo lịch TQ, tháng 5 là tháng “Ngọ”, vì vậy, mồng 5 tháng 5 tức là “Đoan Ngọ”.

Ở Việt Nam ta còn gọi tết Đoan Ngọ là tết Trừ sâu bọ, có lẽ vì tháng năm vừa nóng vừa đầu mùa mưa cho nên muỗi mòng phát triển mạnh, cộng với trời mưa, thường làm người ta hay bị bệnh.

Ý nghĩa của ngày tết Đoan Ngọ:

Tưởng nhớ đến Khuất Nguyên, thi nhân của Trung quốc. Nhà thơ khuất Nguyên sinh sống ở nước Sở trong thế kỷ 3, trước công nguyên, sau khi đất nước ông bị giặc xâm chiếm, ông hết sức căm phẫn nhẩy xuống sông tự vẫn, hôm đó đúng vào ngày mồng 5 tháng 5. Về sau, cứ đến ngày mồng 5 tháng 5, để kỷ niệm phẩm chất cao cả của nhà thơ Khuất Nguyên, ai nấy đều lấy bỏ gạo vào ống tre rồi thả xuống sông để tế ông. Về sau, ống tre đựng gạo lại được đổi thành bánh trưng.

Ngũ Tử Tư
Ngũ Tử Tư

Tưởng nhớ đến ngày giỗ của Ngũ Tử Tư. Vì báo thù cho Bố và anh trai (đều bị Sở Vương giết chết ) Ngũ Tử Tư đã chạy sang nước Ngô cùng cấu kết với Ngô Vương ( Hạp Lô ) lật đổ Sở Quốc. ,Sau khi chiếm được Sở Vương Thành và giết chết Sở Bình Dương trả thù cho Bố và anh trai mình, Ngũ Tử Tư đã trở thành đại thần được Ngô Vương Hạp Lô rất trọng vọng. Ngô Vương Hạp Lô chết, con trai (Phu Sai Hứa) lên kế vị. Lúc đó sĩ khí quân Ngô đang vang dậy khắp nơi, ở thế bách chiến bách thắng.

Việt Quốc sau khi gây chiến với nhà Ngô đã đại bại, Việt Vương liền lập mưu giảng hòa với Phu Sai Hứa, Ngũ Tử Tư khuyên Phu Sai Hứa nên diệt tận gốc Việt Quốc nhưng ông không nghe thậm chí còn trúng kế của Việt Vương nhận hối lộ và hãm hại Ngũ Tử Tư. Sau khi nhận bảo kiếm của Phu Sai Hứa ban cho để tự xử Ngũ Tử Tư vì quá uất ức nên trước khi chết đã nói rằng : “Sau khi ta chết, hãy moi mắt ta ra và treo ở Đông Môn của Ngô Thành, để ta có thể tận mắt nhìn thấy cảnh quân Việt tiến quân tiêu diệt Ngô Quốc”. Tin được lan truyền khắp nơi và đến tai Phu Sai Hứa, Phu Sai Hứa đã rất phẫn nộ, liền cho quân nhét xác của Ngũ Tử Tư vào trong bọc da và vứt xuống sông vào ngày mùng 5 tháng 5 âm lịch.

Tào Nga
Đền thờ Tào Nga

Tưởng nhớ đến lòng hiếu thuận của người con gái Tào Nga. Tào Nga là người Đông Hán, sinh ra trong một gia đình nghèo khổ. Bố của Tào Nga vì kiếm sống nuôi gia đình nên trong một lần mò cua bắt ốc đã bị chết chìm mấy ngày không thấy xác. Lúc đó Tào Nga mới có 14 tuổi, vì thương cha nên ngày đêm than khóc tìm cha ven sông. 17 ngày trôi qua kể từ khi cha của Tào Nga chết, vào mùng 5 tháng 5 âm lịch Tào Nga cũng nhảy sông tự vẫn. Sau 5 ngày thì người dân thấy xác của Tào Nga đang ôm chặt xác cha mình trong vòng tay nổi lên trên mặt sông.

Chuyện được lan truyền khắp nơi. Để tưởng nhớ đến tấm lòng hiếu thuận của Tào Nga người dân đã lập miếu thờ Tào Nga ven sông Triết Giang, và làng mà Tào Nga sinh ra lớn lên được đổi thành Làng Tào Nga, đoạn sông mà người dân phát hiện xác hai cha con được định danh là Đoạn sông Tào Nga.
doanngoduathuyenrong

Các phong tục tập quán Trung Quốc trong ngày tết Đoan Ngọ :

Đua thuyền rồng. Là tập tục chủ yếu trong ngày tết Đoan Ngọ. Tập tục này có nguồn gốc từ thời Sở Quốc. Do người dân không đành lòng trước cái chết của hiền thần Khuất Nguyên (và cũng là một thi nhân vĩ đại thời Sở Quốc), nên đã dùng thuyền bè để tìm kiếm xác ông trên Hồ Động Đình (vào ngày mùng 5 tháng 5 âm lịch), dùng cán thuyền khuấy động dòng nước để cá không rỉa xác ông nhưng vẫn không tìm thấy. Từ đó cứ vào ngày mùng 5 tháng 5 âm lịch hàng năm người dân lại tổ chức lễ hội đua thuyền rồng để tưởng nhớ đến Khuất Nguyên.

Bánh trưng (TQ)
Bánh trưng (TQ)

Gói bánh trưng và uống rượu Hùng Hoàng. Trong những ngày này người dân Trung Quốc thường tấp nập chuẩn bị ngâm gạo nếp, rửa lá rong để gói bánh trưng. Bánh trưng mỗi vùng lại có nguyên liệu và mùi vị khác nhau. Ví dụ người phía Nam thường chuẩn bị đỗ xanh, gạo nếp, thịt lợn, lạp xưởng, lòng trứng gà … còn người phía Bắc lại gói bánh nhân táo tàu và các nguyên liệu thuốc Bắc … Uống rượu Hùng Hoàng, tập tục này rất thịnh hành tại khu vực ven sông Trường Giang (Dương Tử).
doanngoboctheu

Treo gói Bội Hương trong nhà (Có tác dụng tránh tà đuổi ma ). Trong gói có Chu Sa , Hùng Hoàng, Hương Dược… thường đựng trong các túi nhỏ được thêu dệt cẩn thận và dùng chỉ ngũ sắc cột lại thành nhiểu hình thù khác nhau .
doanngoLaIrisVaNgaicuu

Treo lá Ngải Cứu và lá hoa Iris. Lá hoa Iris tượng trưng cho thanh kiếm, được người dân treo trước cửa nhà hoặc đầu giường cùng lá Ngải Cứu nhằm xua đuổi ma quỷ . Dùng lá Ngải Cứu để trừ tà, đuổi chướng khí. Một số nơi dùng lá Iris, lá Ngải Cứu, hoa lựu, củ tỏi, hoa Ĩxora kết thành vòng hoa, hình người, hình con hổ …

doanngochungquy

doanngovonghoa

Bánh ú tro
Bánh ú tro
Cơm rượu
Cơm rượu

Treo bức họa Chung Quỳ. Chung Quỳ là một nho sĩ đời Đường, nhưng vì dung mạo quá xấu nên bị nhà vua gạch tên.vvBất bình với lệnh của Vua Chung Quỳ đã nhảy lầu tự tử. Sau khi chết ông được giữ chức Quỷ Vương chuyên môn cai quản ma quỷ dưới âm phủ. Vì tháng 5 là khoảng thời gian thường hay xuất hiện dịch bệnh và nhiều người dân chết không rõ lí do nên từ đó cứ đến mùng 5 tháng 5 âm lịch nhà nhà lại treo bức họa Chung Quỳ, một phần vì tưởng nhớ đến ông, một phần vì ngụ ý tránh tà đuổi ma.

Dùng chỉ ngũ sắc cột vào cổ tay, cổ chân trẻ em. Trong lúc buộc phải dặn trẻ em không được hỏi han hay nói một câu gì, không được tự ý làm đứt chỉ hoặc tự tháo bỏ chỉ ra khỏi tay chân, chỉ đến tối khi đi tắm mới được phép tháo sợi chỉ đó ra và đem vứt xuống sông. Vì người xưa cho rằng trẻ em đeo sợi chỉ ngũ sắc trong ngày tết Đoan Ngọ sẽ tránh được nọc độc của rắn rết, vứt chỉ ngũ sắc xuống lòng sông nhằm ngụ ý nhờ dòng nước cuốn trôi đi hết dịch bệnh.

Việt Nam với bánh ú tro và cơm rượu. Hai món này không thể thiếu trong ngày Tết Đoan Ngọ.

Bánh ú tro. Theo truyền thuyết, đây cũng là tập tục từ Trung Quốc mang sang, để cúng Khuất Nguyên. Bánh ú có 4 cạnh nên khi thả xuống sông để cúng, cá không ăn được. Bánh ú tro đã trở thành tập tục khá quen thuộc ở miền nam, và rất mạnh ở Hội An. Muốn ngon phải gói bằng lá kè tại vùng núi ở tận xứ Huế. Nếp phải lựa kỹ không cho lộn gạo tẻ, đãi sạch ngâm với nước tro mè (cây mè đốt lấy tro, hoà với nước, lọc qua hồ cát) để qua đêm. Nước tro pha một ít phèn sa để bánh không bị bở. Nhờ nước tro mè mà hạt nếp nhuyễn thành bột. Để bánh không bị sống còn có một kinh nghiệm là khi bỏ bánh vào nồi chờ nước sôi thì thắp một nén nhang, đến khi hương vừa tàn thì cũng là bánh vừa chín tới.

Cơm rượu. Ăn cơm rượu sáng Đoan Ngọ để diệt trừ “sâu bọ” trong cơ thể có thể làm chúng ta bị bệnh. Đây cũng là một hình thức gần như uống rượu Hùng Hoàng. Các chất rượu làm nóng người, máu huyết lưu thông mạnh hơn, làm con người khỏe hơn. Có lẽ đây là lý do chính tại sao tết Đoan Ngọ lại gọi là tết Trừ sâu bọ ở nước ta.

Kiều Tố Uyên.
DHS, Hồ Nam, Trung Quốc

Charles-Camille Saint-Saëns và giai điệu “Thiên Nga”

Saint-SaënsChào các bạn,

Trong chuyên mục Nhạc xanh ngày hôm nay, mình xin được giới thiệu về nhà soạn nhạc nổi tiếng người Pháp Charles-Camille Saint-Saëns và nhạc phẩm “Thiên Nga”. Điều thú vị là người nhạc sĩ thiên tài này đã từng đến và sống ở Việt Nam.

Charles-Camille Saint-Saëns (9/10/1835 – 16/12/1921) là một nhà soạn nhạc, nghệ sĩ organ, nghệ sị dương cầm người Pháp rất nổi tiếng với các tác phẩm như “The Carnival of the Animals”, “Danse Macabre”, “Samson and Delilah”, “Havanaise”. Ông còn là nhà du hành lớn, từng đi đến Nga, các nước Châu Âu, Châu Mỹ, Cuba, Myanma, Đông Dương…

Tác phẩm của ông gồm 13 vở Opéra, 10 bản Concerto (trong đó có 5 bản viết cho piano), 3 bản giao hưởng, thánh ca và rất nhiều bài hát, trích đoạn piano. Ông được đánh giá là thần đồng âm nhạc bẩm sinh, có địa vị chói sáng trong nền âm nhạc Pháp và cả châu Âu.

SwanTháng 3 năm 1895, ông đến Côn Đảo – Việt Nam và được Chúa đảo Louis Jacquet dành ngôi biệt thự nằm biệt lập phía bên ngoài nhà Chúa đảo (nay là Bảo tàng Côn Đảo), mặt trông ra biển, đối diện với cầu tàu 914 – một vị trí hết sức thơ mộng…để ông lưu trú trong suốt 1 tháng. Chính trong căn nhà này ông đã hoàn tất 3 chương cuối của vở nhạc kịch bất hủ Brunehilda… Ngày nay, ngôi nhà trở thành Di tích Nhà Công Quán với Phòng Trưng Bày Lưu Niệm Nhạc Sĩ Camille Saint Saens với rất nhiều hình ảnh, tài liệu về người nhạc sĩ tài hoa. Bức tượng bán thân của ông được đặt trang trọng giữa nhà, còn trên vách là dòng chữ trích từ bức thư ông gửi cho Chúa đảo trước khi từ biệt: “Ở đâu cái đẹp được tôn trọng thì ở đó tội ác bị đẩy lùi, ở đó chẳng cần đến luật pháp” (trích thư gửi Chúa đảo Louis Jacquet tháng 4/1895).

The SwanSau đây, xin mời các bạn thưởng thức nhạc phẩm “Thiên Nga”, do nghệ sĩ violoncell Tanja Derwahl biểu diễn. Đây là một nhạc phẩm thuộc chương thứ 13, và nổi tiếng nhất trong tập nhạc 14 chương “The Carnival of The Animals” của ông. Bản nhạc được viết cho độc tấu Violoncell cùng với 2 cây piano. Giai điệu mượt mà, tuyệt đẹp của bản nhạc này được ví như con thiên nga đang lướt nhẹ nhàng và duyên dáng trên mặt hồ.

Loan Subaru

 

Dionne Warwick & Friends và That’s What Friends Are For

that'swhatfriendsarefor
Nhạc Xanh xin mời các bạn thưởng thức hai bản nhạc. Bài hát thứ nhất “That’s What Friends Are For” và bài thứ hai :”I Just Called to Say I Love You.”

Bài hát “That’s What Friends Are For” do Burt Bacharach và Carole Bayer Sager viết; Rob Stewart đã hát như bài hát chủ đề kết thúc bộ phim hài Night Shift vào năm 1982. Ba năm sau bài hát trở thành nổi tiếng khi được Dionne Warwick và những người bạn gồm Stevie Wonder, Gladys Knight, và Elton John trình bày lại để gây quỹ từ thiện ở Anh và Mỹ.

“That’s What Friends Are For” được thu âm để lấy tiền quyên góp cho Tổ Chức Nghiên Cứu Bệnh AIDS ở Mỹ ( American Foundation for AIDs Research) và thu được hơn 3 triệu đô la cho mục đích này. Bản nhạc này đứng ở vị trí số 1 suốt 4 tuần tháng 1/ 1986 trong bảng xếp hạng Billboard, và được Billboard chọn là đĩa đơn hay nhất của năm 1986. Sau đó nhóm nghệ sĩ này đoạt được giải Grammy dành cho “Nhóm Trình Diễn Nhạc Pop Hay Nhất “ và đoạt giài “ Bài Hát Của Năm “ vào năm 1986.

Bài hát này sau đó còn trở thành chủ đề cho một đêm nhạc từ thiện lớn lấy tên của bài hát tại thành phố New York nhằm quyên góp cho nạn nhân AIDS. Một tháng sau đêm nhạc được phát trên kênh truyền hình CBS với “That’s What Friends Are For” là bài hát kết thúc chương trình nhạc 2 giờ có sự tham gia của Warwick và tất cả nghệ sĩ khách mời danh tiếng. Đêm nhạc đã thu thêm được hơn 2,5 triệu đô la nữa cho các hoạt động cứu trợ nạn nhân AIDS.

“That’s What Friends Are For” được xếp hạng 51 trong danh sách Billboard cho Những Bản Nhạc Hay Nhất của Mọi Thời Đại.

Xin giới thiệu với các bạn đôi nét về 2 tài năng đã hát bài này : nữ danh ca Dionne Warwick và ca sĩ huyền thoại Stevie Wonder.

Dionne_That's_What_Friends_are_for_group_shot

Dionne Warwick sinh ngày 12/12 / 1940, tại East Orange, New Jersey, Mỹ. Bà là ca sĩ, diễn viên, nhà hoạt động phong trào rất nổi tiếng. Bà là Đại sứ Toàn cầu của Liên Hiệp Quốc cho Tổ Chức Lương Nông ( Food and Agriculture Organization), từng là Đại Sứ của Mỹ về Y tế và Nhân đạo. Theo tạp chí Billboard, Dionne Warwick là một tài năng âm nhạc, xếp thứ hai trong danh sách Billboard Hot 100 ( chỉ sau Aretha Franklin ) với 56 CD đạt đỉnh cao trong tổng số 100 của kỹ nguyên nhạc rock 1955-1999. Warwick cũng được xếp thứ 20 trong tổng số 200 ca sĩ hát nhạc Pop nổi tiếng được hâm mộ nhất.

Warwick bắt đầu hát solo từ năm lên 6 trong hát lễ nhà thờ, sau đó trong ban nhạc Drinkard Singers, và trong ban nhạc gia đình với người cô, em gái, và em trai của bà. Bà ra mắt lần đầu trên TV vào cuối thập niên 1950 ở đài truyền hình New Jersey và New York. Tốt nghiệp trung học East Orange năm 1959, bà được trao một học bổng đại học về âm nhạc ở Hatford, Connecticut, cũng tại trường đại học này bà được cấp bằng Tiến sĩ về Giáo dục Âm nhạc.

dionne-warwick

Bài thứ hai là bài hát được trao giải Oscar 1984. Bài hát Hay Nhất trong phim The Woman In Red với giọng ca huyền thoại của ca sĩ khiếm thị người Mỹ gốc Phi Steve Wonder.

Steve Wonder tên khai sinh là Steveland Hardaway Judkins, sinh ngày 13/5/ 1950, tại Saginaw, Michigan. Về sau ông đổi tên là Steveland Hardaway Morris. Ông viết nhạc, biểu diễn nhiều loại nhạc cụ, nhà sản xuất các chương trình ghi âm, và là một tài năng xuất chúng về nhạc pop trong nửa cuối thế kỷ 20.

Wonder có hơn 20 đĩa xếp hạng top 10 của Mỹ, đoạt 26 giải Grammy, ( là nghệ sĩ hát solo đoạt nhiều giải nhất trong lịch sử của giải này ), với 1 giải Thành Tựu Trọn Đời, Giải cho Bài Hát Hay Nhất, và được vinh danh trong Bảo tàng Âm Nhạc với dòng nhạc Rock and Roll và với tư cách nhạc sĩ. Một điều đặc biệt về Stevie Wonder là ông bị mù bẩm sinh, đến năm 11 tuổi bắt đầu hát nhạc ở góc phố rồi ký hợp đồng với Motortown Record, và tiếp tục biểu diễn và thu âm cho hãng này. Năm 12 tuổi, cậu bé Steveland Morris đã gây ấn tượng mạnh trong lòng khán giả khi xuất hiện trong chương trình American Bandstand.

Tuy bị khiếm thị, nhưng người nghệ sĩ tài hoa này đã tự học và có thể biểu diễn điêu luyện nhiều loại nhạc cụ như piano, harmonica, trống, guitar bass, đàn organ, trống nhỏ vỗ bằng tay, đàn clavinet, vv… Khi còn thơ ấu, Stevie Wonder nổi tiếng về tài chơi harmonica, nhưng sau này ông lừng danh với tài chơi piano và với giọng ca vàng được mệnh danh là huyền thoại nhạc pop của Mỹ.
stevie_wonder

Nhiều bài hát của Stevie Wonder trở thành top hit như “I Just Called to Say I Love You” đã đoạt giải Oscar 1984 cho bài hát hay nhất trong phim The Woman in Red. Từ bài hát Blowin’ in the Wind của Bob Dylan được ông trình bày lại, hay các sáng tác của chính mình như You Are the Sunshine of My Life, My Cherie Amour, Signed, Superstition, Higher Ground, L:iving For The City, Sesame Street, hay các bản ballad như Golden Lady và All In Love Is Fair đều giản dị nhưng rất được ưa chuộng và thành top hits. Album Innervisions năm 1973 của ông đạt được 3 giải Grammy, và thành album của năm.

Với 10 bản nhạc pop xếp hạng 1 và 20 bài R & B hạng 1 ( Rhythm and Blues), với tổng số album bán được trên 100 triệu bản, Stevie Wonder được xếp hạng như nghệ sĩ da màu thứ hai đoạt giải Oscar về Bài Hát Hay Nhất, và ở vị trí 11 trên tổng số nhạc sĩ lừng danh trên bảng tổng sắp của Anh (britishhitsongwriters.com).

Vốn là một nghệ sĩ rất được Obama yêu thích, Wonder đã biểu diễn vào ngày 18/1/ 2009 trong lễ nhậm chức của Tổng thống Barack Obama tại đài tưởng niệm Abraham Lincoln. Ông đã hát 2 bài, “Brand New Day, và bài hát mới “All About The Love Again,” và cùng các ca sĩ khác bài Signed, Sealed, and Delivered .

stevie_wonder_gal_obama

Gần đây nhất, ngày 23/2/ 2009, Stevie Wonder được trao giải thưởng Gershwin Prize của Thư viện Quốc hội Mỹ ( người thứ hai được trao giải này ) vì những bài hát của ông rất được hâm mộ trong lòng những người yêu nhạc toàn thế giới. Giải thưởng này nhằm vinh danh những nghệ sĩ có tác phẩm vượt biên giới âm nhạc để tạo nên sự hiểu biết giữa con người với nhau.

Bài 1 That’s What Friends Are For

Link1 : Dionne Warwick, Stevie Wonder, Luther Vandross & Whitney Houston
.


.

Link 2 : Stevie Wonder & Dionne Warwick
.

Verse 1

And I
Never thought I’d feel this way
And as far as I’m concerned I’m glad I got the chance to say
That I do believe I love you

And if I should ever go away
Well then close your eyes and try to feel the way we do today
And than if you can’t remember…..

Chorus
Keep smilin’
Keep shinin’

Knowin’ you can always count on me
for sure
that’s what friends are for

In good times
And bad times
I’ll be on your side forever more
That’s what friends are for

Verse 2

Well you came and open me
And now there’s so much more I see
And so by the way I thank you….

Ohhh and then
For the times when we’re apart
Well just close your eyes and know
These words are coming from my heart
And then if you can’t remember….Ohhhhh
(Repeat chorus 3x)

Bài 2 I Just Called To Say I Love You ( Stevie Wonder )
.


.

No new year’s day
To celebrate
No chocolate covered candy hearts to give away
No first of spring
No song to sing
In fact here’s just another ordinary day
No April rain
No flowers bloom
No wedding Saturday within the month of June
But what it is
Is something true
Made up of these three words that I must say to you

I just called to say I love you
I just called to say how much I care
I just called to say I love you
And I mean it from the bottom of my heart

No summer’s high
No warm July
No harvest moon to light one tender August night
No autumn breeze
No falling leaves
No even time for birds to fly to southern skies
No Libra sun
No Halloween
No giving thanks to all the Christmas joy you bring
But what it is
Though old so new
To fill your heart like no three words could ever do.

I just called to say I love you
I just called to say how much I care
I just called to say I love you
And I mean it from the bottom of my heart.

I just called to say I love you
I just called to say how much I care
I just called to say I love you
And I mean it from the bottom of my heart
Of my heart
Of my heart

Các bạn có thể tùy ý post lời dịch cho bài nào trong hai bài trên đều xin hoan nghênh và tán thưởng
Thân ái chúc các bạn một ngày mới tươi hồng và một tuần làm việc vui hiệu quả

Khúc nhạc chiều lãng mạn “Serenata”

Enrico-Toselli

Chào các bạn,

Lại bắt đầu 1 tuần mới rồi nhỉ? Đối với mình, ngày đầu tuần bao giờ cũng là ngày bận rộn với một loạt meeting và khá nhiều việc để xử lý. Không biết các bạn thì thế nào nhỉ? Chắc cũng không phải ngoại lệ? Thôi thì, để tâm trạng ngày đầu tuần sảng khoái, trước khi bắt tay vào công việc, xin được giới thiệu với các bạn bản “Serenata” trữ tình và lãng mạn của nhà soạn nhạc người Ý Erico Toselli! 🙂

Enrico Toselli (13/3/1883 – 15/1/1926) là nghệ sĩ dương cầm, nhà soạn nhạc nổi tiếng người Ý. Ngay từ lúc trẻ, ông đã bắt đầu sự nghiệp sáng chói của mình như là một nghệ sĩ piano cho các buổi hòa nhạc ở Ý, Châu Âu và Bắc Mỹ với danh tiếng lẫy lừng. Ông đã sáng tạc rất nhiều bài hát, cùng với hai vở nhạc kịch nổi tiếng (La cattiva Francesca – 1912 và La principessa bizzarra – 1913). Một trong những bản nhạc nổi tiếng nhất của ông là bản “Serenata” mà mình sẽ giới thiệu trong chuyên mục Nhạc Xanh ngày hôm nay.

Serenata“Serenade” (hay còn gọi là “Serenata”), nghĩa là khúc ban chiều – nhạc theo phong cách lãng mạn. Bản Serenade thường chơi vào buổi chiều tà, ở ngoài trời, và ngay dưới cửa sổ (chắc là dưới cửa sổ nhà người yêu 😀 :-D). Cho đến bây giờ, có hai bài viết theo thể Serenade nổi tiếng nhất mà chưa có bài nào vượt qua được hai bài bất hủ này. Đó là “Serenade” của Schubert và “Serenata” của Enrico Toselli.

Video clip dưới đây là bản Serenata của Enrico Toselli, do nghệ sĩ vĩ cầm kiêm nhạc trưởng nổi tiếng người Hà Lan Andre Rieu trình bày. Mời các bạn thưởng thức giai điệu mượt mà, trữ tình và lãng mạn của nhạc phẩm này. 

Chúc các bạn một tuần làm việc hiệu quả và vui vẻ! 🙂 🙂

Loan Subaru

Đàn vô hình Theremin

Theremin
Chào các bạn,

Theremin là một nhạc cụ điện tử không giây, không phím, không … đàn. Chỉ có hai ăngten và nhạc sĩ tạo ra âm thanh nhờ đụng tay vào các làn sóng điện giữ 2 ăngten này, như là các nhạc cụ thấy trong Star Wars. Đàn lấy tên của ngựời phát minh, giáo sư người Nga Léon Thérémin, lấy bằng sáng chế năm 1928.

Ngày nay môt số ít nhạc sĩ chơi nhạc cụ kỹ-nguyên-không-gian này. Dưới đây là hai videos hai nghệ sĩ trình diễn theremin. Video đầu tiên là Pamelia Kurstin, nghệ sĩ Theremin hàng đầu thế giới, trình diễn các bản nhạc nổi tiếng Autumn Leaves, Lush Life và Listen, Words Are Gone, với nhạc đệm piano.

Video thứ hai là bản nhạc chính của game “The Legend of Zelda” do Shigeru Miyamoto và Takashi Tezuka tạo ra, và Nintendo phát hành., với nhạc đệm synthersizer.

Pamelia Kurstin
.


.

The Legend of Zelda
.

Lời nhắn nhủ của các Già làng Hopi

hopi elder
Chào các bạn,

Ở xứ khô gió bờ Tây nước Mỹ, tiểu bang Arizona, bộ lạc da đỏ Hopi đã sống trong tinh thần đoàn kết, yêu thương, và can đảm từ rất xa xưa, từ trước khi Christopher Columbus đặt chân tới nước Mỹ.

“Lời nhắn nhủ của các Già làng Hopi” là lời nhắn nhủ rất lâu đời của bộ lạc Hopi, về sự tưng bừng, quyết buông mình trong dòng chảy xiết nhanh và mạnh của con sông chúng ta, xóa đi mọi cái tôi ảo tưởng, không bám vào bụi cỏ hay mỏm đá cạnh bờ mà bơi ra tận giữa giữa dòng kia. Có thật nhiều anh em đang vui mừng lễ hội ở đó 🙂

Ở giữa dòng chảy kia, chúng ta chính là chúng ta, tình yêu 🙂

Sau bài dịch của mình là 2 videos về bài này. Video đầu tiên có chữ viết nhưng không lời, và đa số hình ảnh là hình của bang Arizona với Grand Cannyon hùng vĩ và Sedona với núi đồi đỏ rực, hai thắng cảnh nổi tiếng của nước Mỹ, đã vào rất nhiều phim cao bồi viễn tây của Hollywood. Video thứ hai có nhạc da đỏ cổ truyền và lời đọc. Đây là cách đọc thơ của người Mỹ.

Chúc các bạn một ngày chảy xiết, 🙂

Hiển.
.

Ảnh (truyền thống) Người Hopi
Ảnh (truyền thống) Người Hopi

Lời Nhắn Nhủ Của Các Già làng

Các bạn thường nói với đồng bào rằng đây là Giờ Thứ Mười Một. Bây giờ các bạn phải quay lại và nói với đồng bào, đây là Giờ Đã Điểm.

Đây là những điều cần suy nghĩ:

Bạn đang sống ở đâu?
Bạn đang làm gì?
Bạn có các quan hệ gì?
Quan hệ của bạn có đúng không?
Vùng nước của bạn ở đâu?
Hãy biết về mảnh vườn của bạn.
Đã đến giờ nói về Sự Thật của bạn.
Hãy tạo ra cộng đồng của bạn.
Đối xử tốt với nhau.
Và không tìm người dẫn lối ở đâu ngoài chính mình.

Đây có thể là thời điểm tốt!

Có một dòng sông đang cuộn chảy rất nhanh.
Lớn và nhanh, đến nỗi sẽ có những người sợ hãi.
Họ sẽ cố bám vào bờ.
Họ sẽ cảm thấy như bị xé rách, và họ sẽ rất đau khổ.

Hãy biết rằng dòng sông có đích đến.
Các già làng bảo, chúng ta phải buông bờ, lao ra tận giữa dòng sông,
Mở mắt, và giữ đầu nổi trên mặt nước.

Xem ai đang ở đó với bạn và cùng mừng vui.

Người Hopi (ở Grand Canyon)
Người Hopi (ở Grand Canyon)

Ở thời điểm này trong lịch sử, chúng ta không coi gì là cá nhân, nhất là chính bản thân mình.

Vì khi tính toán cá nhân, sự trưởng thành tâm linh và cuộc hành trình của ta bị ngừng lại.

Thời gian cho sói cô đơn đã qua rồi.
Hãy họp lại.

Xóa đi chữ “đấu tranh” trong thái độ và ngôn ngữ của các bạn.

Mọi điều ta làm bây giờ phải được làm trong cung cách thiêng liêng và tưng bừng lễ hội.

CHÚNG TA LÀ NHỮNG NGƯỜI CHÚNG TA ĐANG CHỜ ĐỢI.

Các già làng.
Oraibi, Arizona
Bộ lạc Hopi

.

hopiwater
Hopi Elders’ Message

You have been telling the people that this is the Eleventh Hour.
Now you must go back and tell the people that this is The Hour.

Here are the things that must be considered:

Where are you living?
What are you doing?
What are your relationships?
Are you in right relation?
Where is your water?
Know our garden.
It is time to speak your Truth.
Create your community.
Be good to each other.
And do not look outside yourself for the leader.

Búp bê Kachina của Hopi
Búp be Kachina của Hopi

This could be a good time!

There is a river flowing now very fast.
It is so great and swift that there are those who will be afraid.
They will try to hold on to the shore.
They will feel like they are being torn apart, and they will suffer greatly.

Know the river has its destination.
The elders say we must let go of the shore, push off toward the middle of
the river,
keep our eyes open, and our heads above the water.

See who is there with you and celebrate.

At this time in history, we are to take nothing personally, least of all
ourselves!
For the moment we do, our spiritual growth and journey comes to a halt.

Vũ Hopi
Vũ Hopi

The time of the lonely wolf is over.
Gather yourselves!

Banish the word struggle from your attitude and vocabulary.

All that we do now must be done in a sacred manner and in celebration.

WE ARE THE ONES WE HAVE BEEN WAITING FOR.”

The Elders,
Oraibi, Arizona
Hopi Nation

Chùa Kyaiktiyo – kỳ quan huyền bí của vùng Đông Nam Á

Golden_Rock
Chùa Kyaiktiyo lúc hoàng hôn

Chùa Kyaiktiyo (còn gọi là Đá Vàng) là một trong 3 nơi hành hương rất nổi tiếng ở Myanma (xếp sau chùa Shwedagon, chùa Mahamuni). Chùa này chỉ cao 5.5m, và tọa lạc trên tảng đá lớn phủ bởi các lá vàng do những người hành hương dán lên khi đến viếng thăm chùa. Cả Chùa và tảng đá này nằm trên đỉnh của ngọn núi Kyaiktiyo. Chùa Kyaiktiyo được xây dựng vào năm 574 trước Công Nguyên và được xem như một trong những kỳ quan của vùng Đông Nam Á.

Theo truyền thuyết, Đức Phật trong một lần xuống hạ giới đã tặng một sợi tóc Golden leafcho vị ẩn sĩ tên Taik Tha. Vị ẩn sĩ này giữ gìn sợi tóc của Phật cẩn thận. Trước khi qua đời, ông trao sợi tóc lại cho người con nuôi là vua Tissa, cai trị Myanma thế kỷ XI, với lời trăn trối: hãy cất giữ xá lợi này trong một hòn đá có hình dáng như đầu của vị ẩn sĩ. Vâng lời cha, vua Tissa, với sự giúp đỡ của các thần linh, đã tìm đến hòn đá nằm trên đỉnh núi Kyaiktiyo, xây một ngôi chùa trên đỉnh để thờ cúng xá lợi Phật. Và người ta tin rằng, chính nhờ có sợi tóc của Đức Phật mà hòn đá này nằm yên trên một vị trí cheo leo hiểm hóc hàng trăm năm nay.

Golden-Rock-seaKhoảng thời gian kỳ ảo nhất trên đỉnh núi là hoàng hôn và bình minh, khi ánh mặt trời rực rỡ chiếu sáng hòn đá và những người hành hương bắt đầu cầu nguyện. Theo tục lệ, chỉ có những người đàn ông có thể lại gần khu vực Đá Vàng để có thể dán những miếng vàng dát mỏng lên, áp đầu vào hòn đá và cầu nguyện. Còn phụ nữ thì không được đi vào khu vực Đá Vàng này, nên họ chỉ có thể lặng lẽ dâng vật cúng lên các bàn thờ rồi quỳ trên nền đất, cầu nguyện hàng giờ trong khói hương mờ ảo.

 

Cái cưa gỗ – một loại nhạc cụ thật độc đáo

Nhạc cưa
Nhạc cưa

Các bạn có biết là cái cưa cũng có thể được sử dụng như một nhạc cụ không? Trên thực tế, người ta không thể tưởng tượng được cái cưa gỗ cũng có thể phát ra âm thanh hay như vậy. Âm thanh phát ra từ nhạc nhạc cưa nhẹ nhàng và cao vút, rất giống với Theremin (một trong những nhạc cụ hoàn toàn bằng điện tử, bao gồm 2 máy dao động tần số radio và 2 antenna kim loại).

Nhạc cưa đã xuất hiện hơn một thế kỷ. Có những cây cưa được làm từ loại thép bình thường cho đến những cây cưa tinh xảo được phủ vàng, trị giá hàng trăm đô-la.

ZingzaagKhi chơi nhạc cưa, thông thường, nhạc công ngồi trên ghế, kẹp cây cưa vào giữa hai chân và điều khiển bằng tay. Việc bẻ cong lưỡi cưa theo hình chữ S và kéo dọc sống lưng của lưỡi cưa, phần hình vòng cung chữ S nhằm tạo ra âm thanh. Có thể điều chỉnh cao độ bằng cách điều chỉnh vùng hình chữ S. Ngoài ra, để tạo âm thanh ngân nga, réo rắt, nhạc công có thể rung chân hoặc lắc cánh tay giữ chóp của lưỡi cưa.

Sau đây, xin giới thiệu với các bạn 1 video clip của một nhạc công nhạc cưa Nhật Bản – anh Hajime Sakita. Anh được xem là một trong những nhạc công nhạc cưa hàng đầu ở Nhật bản, từng giành được giải nhất trong liên hoan nhạc cưa Santa Cruz (Mỹ) vào năm 1997, giải nhì vào năm 2005, và lưu diễn khá nhiều nơi trên thế giới như: Cộng Hòa Sec, Hàn Quốc, Ý…Bản nhạc anh chơi trong video clip có tên là “VIOLA”. Mời các bạn thưởng thức giai điệu mượt mà, du dương và bay bổng của nhạc cưa này!