El Choclo hay “Kiss of Fire” có lẽ là bản Tango kinh điển nhất của mọi thời đại. Giai điệu El Choclo hát bật lên từng bước nhảy trên mỗi góc phố của Buenos Aires, thủ đô Argentina, ngân lên tất cả những gì thuộc về điệu Tango mê say rực lửa.
Anh Angel G. Villoldo, một nhà soạn nhạc Argentina là tác giả của bản El Choclo bất hủ này. Bản nhạc được trình diễn đầu tiên ở nhà hàng ‘El Americano”, Buenos Aires vào năm 1903.
El Choclo không lời được thu âm rất nhiều ở những buổi hòa nhạc khiêu vũ, đặc biệt ở Argentina. Tới năm 1952, một số phiên bản có lời được thu âm. Nổi tiếng nhất là bản do chị Georgia Gibbs hát, đứng thứ 2 trong xếp hạng của Billboard.
Theo thời gian, rất nhiều ca sĩ nổi tiếng hát El Choclo, như Louis Armstrong, Nat King Cole, Connie Francis. Ở nhiều đường phố Nam Mỹ, Mỹ và Châu Âu, giai điệu El Choclo đem niềm vui và hứng khởi cho bao người đi đường.
Năm 2000, nhạc sĩ Helmut Lotti người Bỉ đã sáng tác lời mới của ông cho El Choclo. Hiện nay, nhiều sàn khiêu vũ ỏ Mỹ và Việt Nam hay chơi bản El Choclo với lời mới này.
Dưới đây chúng ta có 3 videos. Video đầu tiên là piano solo với phụ họa của dàn nhạc. Video thứ hai là Georgia Gibbs hát lời Anh ngữ, Kiss of fire, năm 1952. Video thứ ba là biểu diễn guitar cổ điển do Roland Dyens hòa âm và trình tấu. Hai lời nhạc khác nhau theo sau video links.
El Choclo, piano với dàn nhạc phụ họa
.
El Choclo – Kiss Of Fire, do Georgia Gibbs hát năm 1952
.
El Choclo — Roland Dyens biểu diễn guitar cổ điển do chính anh soạn hòa âm
.
Kiss of Fire
Music by A. G. Vilodo and English Words by Lester Allen and Robert Hill
I touch your lips and all at once the sparks go flying
Those devil lips that know so well the art of lying
And though I see the danger, still the flame grows higher
I know I must surrender to your kiss of fire
Just like a torch, you set the soul within me burning
I must go on, I’m on this road of no returning
And though it burns me and it turns me into ashes
My whole world crashes without your kiss of fire
I can’t resist you, what good is there in trying?
What good is there denying you’re all that I desire?
Since first I kissed you my heart was yours completely
If I’m a slave, then it’s a slave I want to be
Don’t pity me, don’t pity me
Give me your lips, the lips you only let me borrow
Love me tonight and let the devil take tomorrow
I know that I must have your kiss although it dooms me
Though it consumes me, your kiss of fire
Since first I kissed you my heart was yours completely
If I’m a slave, then it’s a slave I want to be
Don’t pity me, don’t pity me
Give me your lips, the lips you only let me borrow
Love me tonight and let the devil take tomorrow
I know that I must have your kiss although it dooms me
Though it consumes me. your kiss of fire!!!
.
Music by A. G. Vilodo and English Words by Helmut Lotti
I hear the music in the streets of Buenos Aires
And I go down the road to find where people play it.
When I arrive I see the lovers dance a tango
And what I never heard before, their bodies say it.
I feel the music and I see the lovely lady –
The kind of music that can make a man go crazy –
She’s dancing all her cares away:
She’ll dance forever and a day;
For every tango tells the story of her soul.
Because the tango, it moves like burning fire:
It shows the secret passion, the power of desire.
And when she dances, it will always take her higher –
The tango rhythm is the rhythm of her heart.
I want to to tango . . . . . .
The dance of fire . . . . .
To feel the beating of the heart of Argentina
I have to dance with that senorita.
I want to tango . . . . .
Tango Argentino . . . .
One single tango with the lovely senorita –
A souvenir of Argentina in my heart.
Hôm nay Tố Uyên xin giới thiệu đến các bạn Cổ Cầm, một nhạc cụ rất cổ nhưng có âm hưởng rất phong phú và hai bản nhạc cổ cầm.
Cổ Cầm (hay còn gọi đàn Cầm,đàn bảy dây) là một trong những loại đàn khảy cổ nhất của Trung Quốc hiện nay. Từ thời Khổng Tử đàn Cầm đã là một trong những loại nhạc cụ thông dụng và được nhiều người ưa thích, âm thanh của đàn thanh cao, âm vang nên người xưa thường thông qua tiếng đàn để gửi gắm tình cảm và những lý tưởng vào trong đó.
Đến đời Đường, Cổ Cầm đã có pháp ký phổ chuyên riêng, trong pháp ký phổ có lưu lại vị trí của dây đàn, cách khảy đàn bằng tay trái tay phải …nhưng không trực tiếp ghi chép âm cao.
Pháp ký phổ dùng bộ thủ của chữ Hán, các chữ số, chữ giảm thể hợp thành và được gọi là Giảm Tự Phổ. Cho đến nay Ngũ Tuyến Phổ (năm dòng kẻ, hiện đang sử dụng) vẫn không thể thay thế được cách ghi chép tỉ mỉ và tính khoa học của Giảm Tự Phổ. Theo thống kê thì dùng Giảm Tự Phổ để ghi chép và lưu truyền các tác phẩm của Cổ Cầm có khoảng hơn 150 loại và hiện được coi là kho âm nhạc quý hiếm cần được bảo tồn.
Sau đây là một vài giới thiệu về cấu tạo của đàn Cổ Cầm:
Cổ Cầm dài khoảng 120-125cm, rộng khoảng 20cm, dày khoảng 6cm. Hình dáng của đàn được mô phỏng theo hình dáng Phượng Hoàng, toàn thân đàn tương ứng với thân Phượng Hoàng ( cũng có thể nói tương ứng với thân người ) bao gồm: đầu đàn, cổ đàn, vai đàn, lưng đàn, đuôi đàn, chân đàn. Phần phía trên đầu đàn được gọi là phần trán , đoạn dưới phần trán có nạm gỗ cứng để buộc dây đàn, gọi là Nhạc Sơn (hay Lâm Nhạc ) là phần cao nhất của đàn. Phần đáy đàn có hai rãnh âm, nằm ở phần giữa đáy đàn kích thước lớn gọi là Rãnh Long, nằm ở phần đuôi của đáy đàn kích thước nhỏ hơn gọi là Rãnh Phượng, đây gọi là trên núi dưới biển vừa có Rồng lại vừa có Phượng , tượng trưng cho đất trời vạn vật .
Nhạc Sơn giáp với trán đàn có nạm một thanh gỗ cứng gọi là Thừa Lô , phía trên Thừa Lô có 7 mắt dây dùng để cột dây đàn, phía dưới Thừa Lô có 7 Chẩn Cẩm dùng để điều chỉnh dây đàn. Phía ngoài cùng của đầu đàn có mắt Phượng và phần bảo vệ Chẩn Cẩm.
Phần đuôi đàn cũng được nạm bằng gỗ cứng , trên mặt gỗ được khắc những rãnh nông dùng để cột dây đàn ( được gọi là Long Lợi ) , hai bên Long Lợi là Quán Góc ( hay còn gọi Tiêu Vĩ ).
7 dây của đàn được cột từ phần Thừa Lô, mắc qua phần Nhạc Sơn, Long Lợi, sau đó chuyển hướng xuống đôi Túc Nhạn nằm ở phần đáy đàn. Còn phần mặt của đàn có 13 Cầm Huy, tượng trưng cho một năm có 12 tháng và một tháng nhuận.
Phần hộp đàn của Cổ Cầm là cả một khúc gỗ được khoét rỗng tạo thành , thành hộp khá dày và ghồ ghề , do đó âm thanh của đàn thanh cao , ý vị .
Phần đầu của bụng đàn có 2 rãnh âm là Thiệt Huyệt và Thanh Trì , phần đuôi của bụng đàn có một rãnh âm được gọi là Ý Chiểu. Đối ứng với Long Trì và Phượng Chiểu đều có phần nạp âm riêng. Phần đầu của nạp âm Long Trì có Thiên Trụ, phần đuôi có Địa Trụ, làm cho khi khảy đàn âm phát ra bị giữ lại không thoát đi được.
Vì đàn không có Phẩm (cột) nên khi khảy đàn sẽ linh động hơn, lại có những ưu điểm sau: dây đàn khá dài, độ rung của dây đàn lớn, dư âm dài … do đó Cổ Cầm mang những nét đặc sắc riêng của thủ âm.
Sau đây mời các bạn thưởng thức 2 bản Cổ Cầm. Bản đầu có cổ cầm, sáo và giọng ca. Bản sau là Nước Chảy, do Qong Yi độc tấu cổ cẩm.
Beatbox là nghệ thuật dùng âm thanh miệng để tạo âm thanh như các nhạc cụ. Mời các bạn thưởng thức Naturally 7, vừa hát vừa beatbox, như là một dàn nhạc đầy đủ ca sĩ và các nhạc cụ.
Diana Ross,Diane “Diana” Ernestine Ross sinh ngày 26 tháng 3 năm 1944, là một ca sĩ, diễn viên và nhà sản xuất ghi âm người Mỹ gốc Phi.
Phong cách âm nhạc của bà đa dạng từ R&B, nhạc soul, pop cho đến disco và jazz.
Trong những năm 1960, Ross là một trong những người đã giúp định hình, phát triển nền âm nhạc đại chúng và âm thanh Motown, với vai trò là ca sĩ hát chính của nhóm The Supremes trước khi rời khỏi nhóm và trở thành ca sĩ hát đơn vào đầu năm 1970.
Kể từ lúc khởi đầu sự nghiệp với The Supremes cho đến nay, Diana Ross đã bán được tổng cộng hơn 100 triệu đĩa hát.
Trong những năm 1970 cho đến giữa thập niên 1980, Ross là nữ nghệ sĩ thành công nhất của kỷ nguyên nhạc rock, mở rộng sang cả các lĩnh vực điện ảnh, truyền hình và trên sân khấu Broadway.
Diana Ross là một trong số ít nữ danh ca đạt được 12 đề cử giải Grammy cao quí về âm nhạc của Hoa Kỳ
Năm 1976 tạp chí âm nhạc Billboard dành tặng bà danh hiệu nữ ca sĩ thành công nhất của thế kỷ 20 với tổng cộng 18 đĩa đơn đầu bảng tại thị trường Mỹ: trong đó 12 lần khi ở nhóm Supremes và sáu lần khi là ca sĩ solo.
Ross là nữ ca sĩ solo đầu tiên có được 6 đĩa đơn quán quân. Bà cũng là một trong số những người có được hai ngôi sao trên Đại lộ Danh vọng Hollywood – một với vai trò nghệ sĩ solo và một với vai trò thành viên tam ca The Supremes.
Vào tháng 12 năm 2007, bà nhận được giải thưởng vinh danh của Kennedy Center.
Cho đến nay, Ross đã ghi âm được tổng cộng 57 album, bao gồm cả những album của nhóm Supremes. Bà đã nhận một đề cử Giải Oscar cho nữ diễn viên chính xuất sắc nhất cho vai diễn Billie Holiday trong bộ phim Lady Sings the Blues năm 1972, cùng một giải Quả cầu vàng cũng cho vai này. Ngoài 12 đề cử Grammy, Ross cũng giành được giải American Music Awards, và nhận được một giải Tony Award cho chương trình riêng của bà, An Evening with Diana Ross năm 1977.
Năm 1981 Diana Ross phối hợp với nam ca sĩ rất nổi tiếng của ban nhạc The Commodores là Lionel Richie (sẽ giới thiệu sau) để thu âm ca khúc Endless Love. Bài hát chủ đề của phim này nhảy lên đầu bảng, xếp hàng số một trong năm,đồng thời được đề cử giải Oscar giành cho bài hát hay nhất trong phim Endless Love. một phim ca kịch lãng mạn của Mỹ 1981. Diana Ross cũng đã vinh dự nhận giải thưởng cao quí nhất:Thành Tựu về Sự Nghiệp Trọn Đời
Nhạc Xanh xin mời các bạn thưởng thức 4 bản nhạc sau
ENDLESS LOVE
Nhạc phẩm Endless Love, Tình Yêu Bất Tận qua phần trình bày song ca của Diana Ross và Lionel Richie. Bài hát được xếp số một năm 1981. Dù hãng Motown, là hãng bà ký hợp động đầu tiên, nhưng cảm thấy bị gò bó trong sáng tạo với hãng này, Diana Ross rời Motown sau khi hết hợp đồng và ký hợp đồng trị giá 20 triệu mỹ kim với hãng đĩa RCA, vào lúc này 20 triệu mỹ kim là hợp đồng đắt giá nhất trong lịch sử âm nhạc Hoa Kỳ, cho đến khi xuất hiện Michael Jackson, rồi Madonna… Đĩa hát Endless Love có bài hát được xếp hạng số một và đã đưa vị thế của Diana Ross trở thành nữ ca sĩ duy nhất trong lịch sử âm nhạc Hoa Kỳ có 6 bài hát xếp hạng nhất trong sự nghiệp âm nhạc vượt qua cả Barbra Streisand, Cher, Donna Summer và Olivia Newton John. Chỉ một thời gian ngắn sau khi ký hợp đồng với hãng RCA, Diana Ross trình làng đĩa hát đầu tay mang tên Why Do Fools Fall in Love, mùa hè năm 1981 và trở thành đĩa hát bán rất chạy cho hãng RCA.
MISSING YOU
Nhạc phẩm Missing You, Vắng Anh, phát hành năm 1985 và là bài hát xếp hạng số một trong thể loại nhạc R&B của người Mỹ gốc châu Phi. Liên tục vài năm sau các đĩa hát của hãng RCA đều đạt thành công từ nước Mỹ sang các quốc gia khác. Đến năm 1989 sau khi hết hợp đồng với RCA, Diana Ross mua lại một số cổ phần của Motown và trở về lại để quản trị công ty của mình. Cũng vào năm này, Diana Ross phát hành đĩa hát của hãng Motown đầu tiên sau 8 năm vắng bóng nhưng đã không tìm được thính giả nhạc Pop đương thời như trước đây. Liên tục 10 năm sau, đến năm 1999 dù phát hành đĩa hát liên tục nhưng Diana Ross đã không tạo được vị thế số một như trước, mặc dù có vài bài hát ngoạn mục như bài I Will Survive.
IF WE HOLD ON TOGETHER ( Nếu Chúng Ta Siết Chặt Vòng Tay)
Đây là bài hát nằm trong album The Force Behind the Power của Diana Ross, phát hành năm 1991; đồng thời đây cũng được chọn làm nhạc nền cho bộ phim hoạt hình nổi tiếng năm 1988 của Walt Disney, The Land Before Time. Bài này được giới yêu nhạc pop xưng tụng là pop kinh điển. Nhạc do nhạc sĩ James Horner và lời của Will Jennings , củng là đồng tác giả của bài hát đỉnh cao My Heart Will Go On cho Celine Dion trong phim bom tấn The Titanic
I WILL SURVIVE
Nhạc phẩm I Will Survive qua tiếng hát của Diana Ross đến nay vẫn được phát thanh và nhiều ca sĩ sử dụng để hát. Vì thất bại trong nỗ lực hồi phục tên tuổi và số bán, năm 2002, Diana Ross từ giã Motown lần thứ nhì và chuyển sang đóng kịch truyền hình. Khán giả ái mộ không chỉ ngưỡng mộ tiếng hát mà còn khả năng đóng phim của bà. Diana Ross nhận được đề cử giải Quả Cầu Vàng. Dường như mệt mỏi và thất vọng với thành quả đạt được trong 10 năm, Diana Ross bắt đầu tìm đến rượu để giải sầu, với kết quả là bà bị bắt ở tiểu bang Arizona trong lúc uống rượu lái xe năm 2002. Nghỉ ngơi trong 3 năm, năm 2005 Diana Ross trở lại sân khâu với bài hát I Got a Crush on You chung với ca sĩ Rod Stewart nhưng chỉ đạt được hạng 19 của Billboard. Năm 2006 bà phát hành đĩa hát I Love You, với bài hát trữ tình The Look of Love
( Tổng hợp- dịch từ Wikipedia và nguồn Internet)
Thân ái chúc các bạn một ngày vui – tươi hồng – đầy ắp các giai điệu nhạc, và những nụ cười
DIANA ROSS & LIONEL RICHIE – ENDLESS LOVE
My love
There’s only you in my life
The only thing that’s right
My first love
You’re every breath that I take
You’re every step I make
And I
I want to share
All my love with you
No one else will do
And your eyes
They tell me how much you care
Oh, yes you will always be
My endless love
Two hearts
Two hearts that beat as one
Our lives had just begun
Forever
I’ll hold you close in my arms
I can’t resist your charms
And love
I’ll be a fool for you
I’m sure
You know I don’t mind
You know I don’t mind
‘Cause you
You mean the world to me
Oh, I know
I know I found in you
My endless love
Oh
And love
I’ll be that fool for you
I’m sure
You know I don’t mind
You know I don’t mind
And yes
You’ll be the only one
‘Cause no one can’t deny
This love I have inside
And I’ll give it all to you
My love
My endless love…
MISSING YOU – DIANA ROSS
Since you’ve been away
I’ve been down and lonely
Since you’ve been away
I’ve been thinking of you
Trying to understand
The reason you left me
What were you going through?
I’m missing you
Tell me why the road turns
Ooh ooh
I’m missing you
Tell me why the road turns
As I look around
I see things that remind me
Just to see you smile
Made my heart fill with joy
Ill still recall
All those dreams we shared together
Where did you run to, boy?
I’m missing you
Tell me why the road turns
Ooh ooh
I’m missing you
Tell me why the road turns
Sometimes I’ve wondered
I didn’t understand
Just where you were trying to go
Only you knew the plan
And I tried to be there
But you wouldnt let me in
But now you’ve gone away boy
I feel so broken hearted
I knew the day we started
That we were meant to be
If only you’d let me!
Ive cried so many tears
Gotta face now all my fears
We let time slip away
I need you boy
Here today!
There was so much you gave me
To my heart
To my soul
There was so much of your dreams
That were never told
You had so much hope
For a brighter day
Why were you my flower
Plucked away
I’m missing you
Tell me why the road turns
Ooh ooh
Im missing you
Tell me why the road turns
I WILL SURVIVE LIVE 96
At first I was afraid, I was petrified
Kept thinkin I could never live without you by my side
Then I spent so many nights thinking how you did me wrong
And I grew strong
And I learned how to get along
And so you’re back from outer space
I just walked in to find you here, with that sad look upon your face
I should have changed that stupid lock
I should have made you leave your key
If I had known for just one second youd be back to bother me
Go on now, go walk out the door
Just turn around now
coz you’re not welcome anymore
Weren’t you the one who tried to break me with goodbye?
Did you think I’d crumble?
Did you think I’d lay down and die?
Oh no not I, I will survive
For as long as I know how to love, I know I’ll stay alive
I’ve got all my life to live
And I’ve got all my love to give
I’ll survive
I will survive
Hey hey
(I, I will survive)
Hey hey
((I, I will survive)
Every day
(I, I will survive)
Oh yeah
It took all the strength I had not to fall apart
Just trying hard to mend the pieces of my broken heart
And I spent oh so many nights just feeling sorry for myself
I used to cry, but now I hold my head up high
And you see me, somebody new
I’m not that chained up little person still in love with you
And so you felt like dropping in and just expect me to be free
But now I’m savin all my lovin for someone whos lovin me
Go on now, go walk out the door
Just turn around now
You’re not welcome anymore
Weren’t you the one who tried to break me with goodbye?
Did you think I’d crumble?
Did you think I’d lay down and die?
Oh no not I will survive
Oh as long as I know how to love, I know Ill stay alive
I’ve got all my life to live
And I’ve got all my love to give
I’ll survive
I will survive
Hey hey
Go now, go walk out the door
Just turn around now
coz youre not welcome anymore
Werent you the one who tried to break me with goodbye?
Did you think I’d crumble?
Did you think I’d lay down and die?
Oh no not I,
I will survive
Oh as long as I know how to love, I know I’ll stay alive
I’ve got all my life to live
And I’ve got all my love to give
I’ll survive
I will survive
Hey
(I, I will survive)
Every day
(I, I will survive)
Yeah yeah
(I, I will survive)
Oh
(I, I will survive)
(I, I will survive)
(I, I will survive)
I’ve got all my love to give
(I, I will survive)
Ive got all my life to live
(I, I will survive)
My loving is not in vain, oh no
(I, I will survive)
(I, I will survive)
(I(I, I will survive)
(I, I will survive)
I will survive)
(I, I will survive)
Hey
IF WE HOLD ON TOGETHER
Don’t lose your way
With each passing day
You’ve come so far
Don’t throw it away
Live believing
Dreams are for weaving
Wonders are waiting to start
Live your story
Faith, hope & glory
Hold to the truth in your heart
If we hold on together
I know our dreams will never die
Dreams see us through to forever
Where clouds roll by
For you and I
Souls in the wind
Must learn how to bend
Seek out a star
Hold on to the end
Valley, mountain
For you and I There is a fountain
Washes our tears all away
Words are swaying
Someone is praying
Please let us come home to stay
If we hold on together
I know our dreams will never die
Dreams see us through to forever
Where clouds roll by
For you and I
When we are out there in the dark
We’ll dream about the sun
In the dark we’ll feel the light
Warm our hearts, everyone
If we hold on together
I know our dreams will never die
Dreams see us through to forever
As high as souls can fly
The clouds roll by
Hôm nay mình xin giới thiệu với các bạn một đoan video clip với tiết mục vẽ tranh bằng cát (và chiếu lên máy chiếu) rất ngoạn mục và độc đáo. Tiết mục vẽ tranh cát này do một họa sĩ tài hoa người Hungary Ferenc Cakó biểu diễn trong Liên hoan phim hoạt hình quốc tế Seoul (gọi tắt là SICAF) vào năm 2003. Đây cũng là một trong những tiết mục đặc sắc và ấn tượng nhất trong liên hoan SICAF 2003 này (SICAF là liên hoan phim hoạt hình quốc tế được tổ chức hàng năm tại Seoul, Hàn Quốc, kể từ năm 1995).
Trong đoạn video clip này, ngoài phần vẽ tranh cát độc đáo của Ferenc Cakó, phần nhạc nền cũng cực kỳ ấn tượng, làm tăng sự hấp dẫn của đoạn video clip. Nếu bạn nào thường xuyên nghe nhạc của Kitaro thì sẽ nhận ra ngay nhạc nền sử dụng trong đoạn video clip là 2 bài: Hajimari và Sozo, trích trong album Kojiki của Kitaro. Mời các bạn thưởng thức nhé!
Qi Yang hiện đang học thạc sĩ về âm nhạc tại Trường Âm Nhạc Thornton của Đại Học Nam California (University of Southern California’s Thornton School of Music) và đã chiếm nhiều giải âm nhạc quốc tế. Cô là thiên tài về đàn organ. Trong buổi trình diễn sấm chớp này, Qi Yang biểu diễn “Ridiculous Fellows” trong giao hưởng “The Love for Three Oranges” của Prokofiev. Đàn organ cô sử dụng ở đây là đàn Yamaha Electone Stagea, một cây đàn nhập cảng rất hiếm, do chính tay cô lập trình.
.
Trong chuyên mục Nhạc Xanh ngày hôm nay, xin giới thiệu với các bạn một nhạc cụ rất độc đáo. Đó là cây sáo Duduk. Vậy bạn có bao giờ nghe cái tên Duduk chưa nhỉ? Thật ra, mình cũng mới biết nhạc cụ này gần đây thôi. Ngay khi vừa nghe tiếng sáo Duduk, mình đã bi mê hoặc ngay lập tức bởi những âm thanh sâu lắng, bay bổng và trầm buồn phát ra từ Duduk.
Duduk là cây sáo truyền thống, nổi tiếng của nước Công Hòa Armenia (từng được sử dụng trong phim Gladiator vào năm 2000), có tuổi đời 3.000 năm. Chất liệu chủ yếu để làm ra cây sáo duduk là gỗ mơ. Duduk có 2 lưỡi gà được làm bằng cây trúc. Lưỡi gà trong Duduk khá rộng, nhằm tạo ra âm thanh rất đặc trưng và khá buồn. Rất khó để học thổi Duduk, và đòi hỏi người thổi dùng rất nhiều hơi.
Có lẽ các bạn bắt đầu tò mò và muốn nghe giai điệu sâu lắng của Duduk rồi phải không. Vậy thì, ngay sau đây, các bạn có thể thưởng thức tiếng sáo này qua 2 video clip: 1) Video clip do nghệ sĩ Duduk Ruben Harutyunyan (người Armenia) biểu diễn và 2) Video clip bài “Prelude & Nostalgia” thật tuyệt vời do dàn nhạc Yanni biểu diễn (nghệ sĩ duduk trong dàn nhạc Yanni là Pedro Eustache, người Venezuela). Chúc các bạn một ngày thật vui!
Michael Jackson vừa mới qua đời hôm nay (thứ năm, 25.6.2009) ở Los Angeles vì tim ngừng đập (cardiac arrest). Hiện tại vẫn chưa có thông tin điều gì đã gây ra ngừng tim. Michael Jackson thọ 50 tuổi. Được biết đến khắp thế giới như là King of Pop, người ca sĩ trình diến luôn luôn với những bước nhảy nóng bỏng, và là người sáng tạo ra bước vũ moon walk.
Để tưởng niệm Michael, chúng ta hãy xem lại một vài videos nổi tiếng. Vài videos chỉ có thể xem trực tiếp trên Youtube. Mời các anh chị click vào các links dưới đây.
Click vào đây để xem chùm ảnh Michael Jackson
Theo yêu cầu của một fan thường xuyên đóng góp những câu dịch danh ngôn cho ĐCN, hôm nay Nhạc Xanh giới thiệu với các bạn một cây đại thụ trong nền văn hoá Mỹ: Barbra Streisand. Streisand nổi tiếng như một nghệ sĩ đa tài:một nhà sáng tác nhạc, nữ diễn viên điện ảnh, kịch và ca sĩ, nhà sản xuất phim và đạo diễn phim. Trong chuyên mục Nhạc Xanh về nam danh ca Neil Diamond các bạn đã nghe nhạc phẩm “You Don’t Bring Me Flowers”, bài hát được yêu chuộng nhất tại Hoa kỳ và trên thế giới cuối thập niên 1970, do đôi bạn thân Diamond và Streisand song ca.
Về người ca sĩ huyền thoại này, các bạn sẽ không thể không thú vị khi biết Streisand là một người ủng hộ nhiệt tình, quan trọng cho Barack Obama bằng các chương trình hát gây quỹ cho ứng cử viên này trong chiến dịch tranh cử tổng thống Mỹ. Bên cạnh sự nghiệp diễn xuất và ca hát, bà còn là một nhà hoạt động chính trị tự do rất tích cực làm công tác từ thiện. Báo chí thường đưa tin về những hoạt động từ thiện lớn của diva Streisand và xếp bà đứng thứ tư trong số những người đóng góp nhiều nhất với số tiền lên đến 11 triệu đô la ( chỉ sau nữ hoàng truyền hình Oprah Winfrey, tổ chức Oprah’s Angel Network, nhà soạn nhạc Herb Alpert). Gần đây, tháng 4/2008, bà đã quyên tặng 5 triệu USD cho một trung tâm nghiên cứu vấn đề tim mạch của phụ nữ.
Streisand có tên khai sinh Barbara Joan Streisand, sinh ngày 24/4/1942 ở Williamsburg, Brooklyn, thành phố New York, trong một gia đình bố mẹ là người Mỹ gốc Do Thái. Cha của Barbra là một giáo viên tại một trường trung học và đã qua đời lúc cô bé mới 15 tuổi; cô bé đã có một mối quan hệ cơm không lành canh không ngọt với dượng ghẻ Louis Kind. Cô có một em gái tên là Roslyn Kind cũng là một nghệ sỹ biểu diễn. Mẹ cô, Diana Ida Rosen, một thư ký tại trường phổ thông, cho rằng Barbara không đủ sức hấp dẫn, đã không khuyến khích con gái mình theo đuổi nghề ca hát ,
Streisand theo học tại Erasmus Hall High School, nơi cô tốt nghiệp hạng thứ 4 trong lớp vào năm 1959, và tại đây cô hát trong giàn đồng ca của trường với Neil Diamond, nhưng cô không học đại học.
Sau một cuộc thi ca nhạc, Streisand đã trở thành một ca sỹ hộp đêm khi cô còn tuổi teen. Ban đầu cô muốn trở thành một diễn viên xuất hiện ở Off-Off-Broadway, nhưng bạn trai cô đã giúp cô có một buổi biểu diễn tại hộp đêm. Lần đầu biểu diễn ở một quán bar ở Greenwich Village của Manhattan năm 1960 — cô đã thành công như một ca sỹ có tài. Vào lúc này, cô đã rút gọn tên mình thành Barbra để dễ phân biệt hơn. Barbra Streisand nhờ tài năng thiên phú và chất giọng cao vút đã giúp bà dành được nhiều vai trong các cuốn phim nổi tiếng và hợp đồng thu đĩa trị giá nhiều triệu mỹ kim, ngay khi chập chững bước vào nghiệp ca hát và điện ảnh. Năm 1961 Streisand đã ký một hợp đồng với Winnipeg, nhà hàng “Town and Country” của Manitoba. Năm 1962 Streisand lần đầu xuất hiện ở Broadway, trong một vai nhỏ nhưng lại tạo nên danh tiếng trong vở nhạc kịch I Can Get It for You Wholesale (1962). Cô cũng đã ký hợp đồng ghi âm đầu tiên năm đó với hãng Columbia Records. Album đầu tiên của cô, The Barbra Streisand Album, đã giành được hai Giải Grammy năm 1963. Thành công trong sự nghiệp âm nhạc của cô tiếp tục, và 3 album đầu tiên của Streisand đã đồng thời xuất hiện ở top 10 Album nhạc pop Billboard – một thành công bất thường vì lúc đó nhạc rock and roll và ban nhạc The Beatles chiếm lĩnh bảng xếp hạng này.
Streisand đã nổi tiếng thế giới từ thập niên 1960 với tài ca hát cũng như diễn xuất trong bộ phim âm nhạc cổ điển “Hello Dolly” (1969) đã đem về cho ngôi sao 27 tuổi này đề cử giải thưởng Quả Cầu Vàng. Cuộc đời nghệ thuật của Streisand trải dài hơn bốn thập niên với hơn 60 album và phim rất nhiều giải thưởng lớn: 2 giải Oscar, 5 giải Grammy tức là giải âm nhạc cao quí nhất của nước Mỹ, 8 giải điện ảnh Golden Globe, 3 giải People Choice Awards và nhiều giải truyền hình khác. Streisand là nữ nghệ sĩ có doanh số bán chạy nhất mọi thời đại được RIAA ( Recording Industry Association of America) xác nhận là hơn 71 triệu đĩa ghi âm. Tính đến nay, bà đã có 50 đĩa vàng, 30 đĩa bạch kim và 13 album bạch kim. Ngoài giọng hát, Barbra Streisand còn là một nhà đạo diễn tài ba với cuốn phim Yentil (1983, và gần đây bà xuất hiện trong cuốn phim hài hước “Meet the Fockers” năm 2005.
Đầu những năm 1980, người Việt mới biết đến Barbra Streisand nhờ tình khúc “Woman In Love” hát chung với ban nhạc The Beegees. Woman in Love xuất hiện ở Sài gòn và đã làm say mê mọi tầng lớp trong xã hội, đi đến quán cà phê nhạc nào, người ta cũng nghe thấy tiếng hát của Streisand.
Dù đã ở độ tuổi lục tuần, người ca sĩ huyền thoại này vẫn tiếp tục hát với tất cả xúc cảm nghệ thuật của mình và làm say mê biết bao người khắp thế giới. Có thể đơn cử sô lưu diễn đầu tiên của bà ở Anh ngày 18/7/ 2007, vé đã bán sạch ngay sau 20 phút dù giá cho một ghế hạng tốt nhất lên đến 600 bảng ( ngót 1200 đô la). Buổi biểu diễn tại Anh nằm trong chuyến lưu diễn châu Âu của Streisand, qua Paris, Vienna, Nice và Dublin. Tiền bán vé sẽ được chuyển vào Quỹ Streisand, hỗ trợ các hoạt động bảo vệ môi trường, nhân quyền và trẻ em bất hạnh.
Đóng góp của bà cho ngành âm nhạc và điện ảnh của nước Mỹ vô cùng to lớn và dù ở tuổi 67, bà vẫn chưa dừng chân. Có thể nói bà là một nghệ sĩ đa tài bởi Streisand vừa hoàn tất công trình xây dựng ngôi nhà mong ước của mình sau 5 năm và giờ là lúc để bà bắt đầu nghĩ về những dự án mới.Bà tâm sự : “Đối với tôi, thiết kế và xây dựng ngôi nhà của mình là một quá trình sáng tạo và biến đổi”
Bà cũng vừa ký hợp đồng với nhà xuất bản Viking – thuộc tập đoàn Penguin (Mỹ) – để viết A Passion For Design, cuốn sách nói về đam mê kiến trúc của bà có ảnh minh họa dự kiến phát hành vào mùa Thu năm 2010.
Mời các bạn thưởng thức 5 ca khúc tiêu biểu sau đây của Barbra Streisand : One Day, The Way We Were, If I Could, và Woman In Love.
1. One Day ( Bài hát cho ngày Earth Day )
One day
The fields will be green
And one day
The skies will be blue
And one day
The rivers will be bright silver ribbons
Running round the hills
Quiet hills
You’ll see
One day
The rains will be soft
And one day
The winds will be sweet
Oh sweeter than springtime
And the whisper of lilac, apple, pine and pear
Will fill the air
And one day
A child full of wonder
Won’t fear the dark sound of thunder
No dreams of danger
When a soldier is a stranger
From a distant time
Distant world
On that morning
You stand
with tomorrow
Safe in your hand
That will be the day
2. The Way We Were (1975 )
Memories
Like the corners of my mind
Misty watercolor memories
Of the way we were
Scattered pictures
Of the smiles we left behind
Smiles we gave to one another
For the way we were
Can it be that it was all so simple then
Or has time rewritten every line
If we had the chance to do it all again
Tell me – Would we? Could we?
Memories
May be beautiful and yet
What’s too painful to remember
We simply to choose to forget
So it’s the laughter
We will remember
Whenever we remember
The way we were
So it’s the laughter
We will remember
Whenever we remember
The way we were
3. Promises ( trong album Guilty )
Here by my side
Are you close enough to take me to your paradise
Or am I going down to my loneliness
Could you be loving me more or less
Do you know
Are you ready for the feeling
Can you learn to grow
Out in a world of tears we,
We’re hanging on
We come together,
We find the sun
(You all over me , all over)
You’re the light
I am the love don’t let me die away
(Die away)
I am forever we are born to make
Promises to be there
(Promises to be there)
Promises to be there
Life, where the few may not ever find a heaven
I could be with you
Out in a world where nights they don’t ever end
We got each other my love , my life, my friend
You all over me , all over
You’re the light
I am the love don’t let me die away
I am forever we are born to make
Promises to love me
(Promises to love me)
Promises to love me
Out in a world where nights they don’t ever ever end
We got each other my love, my life, my friend
You all over me , all over
You’re the light
I am the love don’t let me die away
I am forever we are born to make
Promises to be there
(Promises to be there)
Promises to be there
Yeah…Yeah…Yeeeeeeeeah
(Die away)
I am the love don’t let me die away
I am forever we are born to make
Promises…
Promises…
Promises…
Promises…
(Promises to be there
Promises to be there)
Promises to be there
Promises
Promises to be there
Promises
Promises to be there
Promises
Promises…Aaaah!
4. If I Could
If I Could
I’d protect you from the sadness in your eyes
give you courage in a world of compromise
yes I would
If I could
I would teach you all the things I’ve never learned
and I’d help you cross the bridges that I’ve burned
yes I would
if I could
I would try to shield your innocence from time
but the part of life I gave you isn’t mine
I’ve watched you grow
so I could let you go
if I could
I would help you make it through the hungry years
but I know that I can never cry your tears
but I would
if I could
if I live in a time and place where you don’t want to be
you don’t have to walk along this road with me
my yesterday won’t have to be your way
if I knew
how I’d try to change the world I brought you to
and there isn’t very much that I can do
but I would
if I could
if I could
I would try to shield your innocence from time
but that part of life I gave you isn’t mine
I watched you grow so I could let you go
if, if I could
I would help you make it through those hungry years
but I know that I can never cry your tears
but I would
if I could
yes I would
yes I would
if I could
5. Woman In Love – Barbra Streisand and Bee Gees
Life is a moment in space
Where the dream has gone
Its a lonelier place
I kiss the morning goodbye
But down inside you know we never know why
The road is narrow and long
Where eyes meet eyes
And the feeling is strong
I turn away from the wall
I stumble and fall
But I give you it all
CHORUS
I am a woman in love
And I’d do anything
To get you into my world
And hold you within
Is it right?
I defend
Over and over again
What do I do?
With you eternally mine
In love there is no measure of time
We planned it all at the start
But you and I live in each other’s heart
We may be oceans away
But you feel my love and I hear what you say
No truth is ever a lie
I stumble and fall
But I give you it all………………….
CHORUS
I am a woman in Love
And I’d do anything
To get you into my world
And hold you within
Is it right?
I defend
Over and over again
What do I do?
Ohhhhhh
CHORUS
I am a woman in love
And I’m talking to you
I know how you feel
What a woman can do
Is it right?
I defend
Over and over again……………….
And I’d do anything to get you into my world
And hold you within
Is it right?
I defend
Over and over again.
Thân ái chúc các bạn một ngày vui với những ca khúc Nhạc Xanh và sân chơi Đọt Chuối Non
Trong chuyên mục Nhạc Xanh ngày hôm nay, mình xin được giới thiệu với các bạn đôi nét về nhà soạn nhạc vĩ đại người Nga với cái tên rất quen thuộc – Tchaikovsky và một tiểu phẩm “Khúc hát người chèo thuyền”.
1) Tiểu sử (theo Wikipedia): Pyotr Ilyich Tchaikovsky (25/4/1840 – 25/10/1893) là một nhà soạn nhạc vĩ đại người Nga. Sống trong gia đình quý tộc bậc trung, ông được giáo dục toàn diện, rất yêu thích và có năng khiếu về âm nhạc từ nhỏ. Tuy nhiên, bố mẹ không muốn cho con theo con đường nghệ thuật nên gửi Tchaikovsky đến Petersburg để học ở trường Trung cấp luật (từ năm 1850 – 1859).
Theo lời khuyên của A.Rubinsten, Tchaikovsky bỏ nghề luật và thi vào nhạc viện Petersburg (1862). Sau ba năm học tập, Tchaikovsky tốt nghiệp với huy chương bạc và trở về hoạt động ở Mátxcơva rồi trở thành giáo sư của nhạc viện thành phố (1865). Tchaikovsky hoạt động rất hăng say trong lĩnh vực sáng tác, lý luận, giáo dục… Trong khoảng 12 năm (từ 1865-1877) ông đã sáng tác nhiều tác phẩm. Năm 1877 – 1885, tình hình xã hội có nhiều biến đổi và với cuộc hôn nhân không thành Tchaikovsky bị rơi vào tình trạng khủng hoảng tinh thần trong một thời gian. Giữa những năm 80, Tchaikovsky với tư cách là nhạc trưởng đã đi biễu diễn khắp nơi trong và ngoài nước. Năm 1893 ông nhận học vị tiến sĩ của trường đại học tổng hợp Cambrigde ở Anh. Tchaikovsky mất ngày 25/10/1893 ở Petersburg sau một tuần lễ chỉ huy bản giao hưởng cuối cùng của mình.
2) Tháng 6 “Khúc hát người chèo thuyền”:
Tháng 6 (Barcarolle) là một tiểu phẩm nằm trong liên khúc “Bốn mùa” của ông. “Bốn mùa” là tên một liên khúc gồm 12 tiểu phẩm viết cho cho piano. Trong các tiểu phẩm này Tchaikovsky đã vẽ nên những bức tranh phong cảnh với những khoảng không vô biên của những cánh đồng Nga, các phong tục tập quán ở nông thôn, các bức tranh đời sống thị thành ở Peterburg, những cảnh sinh hoạt âm nhạc của người dân Nga thời kỳ đó.
Barcarolle là một từ tiếng Ý chỉ khúc hát của người chèo thuyền trong âm nhạc dân gian. Các khúc ca này đặc biệt thịnh hành ở Venise, thành phố trên bờ những con kênh, và phương tiện giao thông chính là những con thuyền đặc chủng đi lại trên các con kênh này trong giai điệu trầm bổng rất đặc trưng của các bài hát. Nhịp điệu và nhạc đệm của chúng mô phỏng những động tác chèo nhịp nhàng và tiếng mái chèo khua nước. Các bài hát này trở nên rất phổ biến trong nền âm nhạc Nga đầu thế kỷ XIX, và trở thành một phần không thể thiếu của thanh nhạc trữ tình Nga, đi vào thi ca Nga và cả hội hoạ.
Notes: Dưới đây 12 tiểu phẩm trong liên khúc “Bốn mùa”.
1) Tháng giêng: “Bên lò sưởi”
Nat “King” Cole được mệnh danh là “bất tử’’ bởi giọng ca ngọt ngào êm ái như nhung làm say mê những người yêu nhạc pop của phương Tây vào thập niên 50 và đầu thập niên 60, tiếp tục vượt ra khỏi biên giới chính trị văn hoá của nước Mỹ để chinh phục biết bao con tim trên thế giới. Câu chuyện cuộc đời của người nghệ sĩ Mỹ da đen gốc Phi này thực sự là một bài học về thành công trong nghịch cảnh và tài năng đã chiến thắng vượt lên trên những hận thù do vô minh và thành kiến về chủng tộc màu da.
Nathaniel Adams Coles, sinh ngày 17/ 3/1919 tại Montgomery, Alabama, trong một gia đình có vị trí quan trọng thuộc cộng đồng người da đen. Cha ông là mục sư giáo hội Tin Lành. Năm ông 2 tuổi cả gia đình chuyển đến Chicago theo làn sóng di cư mong tìm cuộc sống tốt hơn trong thành phố phương Bắc phát triển về công nghiệp. Lên 4 tuổi, ông học đàn organ theo trí nhớ với mẹ, một trưởng ca đoàn trong nhà thờ của chồng mình, và cậu bé 4 tuổi đã biểu diễn rất thành công bài hát “Yes, We Have No Bananas”.
Năm 12 tuổi, ông học các bài nhạc cổ điển, nhạc gospel (hát trong nhà thờ của người da đen) và cả jazz vì say mê nhạc jazz.
Ông thôi học năm 15 tuổi để theo đuổi sự nghiệp của một nhạc công jazz – piano. Ban nhạc của Cole thường trình diễn ở các câu lạc bộ. Cái tên Nat King Cole đến với ông từ khi ông trình diễn ở câu lạc bộ nhạc jazz.
Ngoài tiếng tăm của một nghệ sĩ dương cầm điêu luyện, ông trở thành ca sĩ hát jazz, được mến mộ nhờ chất giọng nam trung ấm áp, mềm mại được ví như liễu tơ, làn gió đêm mát dịu, một sáng hè êm êm, và một đám tuyết rơi mềm. Năm 1937, trong một chuyến lưu diễn đến Long Beach, California, ông đã ở lại đó và tìm việc trong 1 hộp đêm.
Năm 1939, Cole lập ban nhạc 3 người với Oscar Moore (guitar), Wesley Prince (bass), không có tay trống. Ban nhạc của Cole đã nổi lên với nghệ thuật trình diễn đầy xúc cảm tinh tế thể hiện những khát vọng mới của cộng đồng người Mỹ gốc Phi. Trong một đêm trình diễn tại hộp đêm, một người khách say nằng nặc đòi nghe Cole hát một bài gì đó mà ông không biết. Để vừa lòng người khách, Cole đã hát bài “Sweet Lorraine; bài hát đã làm dịu cơn say của anh ta và Cole được thưởng 15 xu. Từ đó Cole dần dần từ chơi piano chuyển sang hát thanh nhạc và bắt đầu sự nghiệp ca hát huyền thoại của mình.
Năm 24 tuổi, chàng ca sĩ trẻ Cole bắt đầu thu âm cho hãng Capitol Records với bài “ Straighten Up And Fly Right” lấy cảm hứng từ một câu chuyện dân gian của người da đen được cha dùng giảng đạo; bài hát này liền chiếm lĩnh vị trí đầu bảng xếp hạng và khiến cho Cole rất được trọng vọng trong ngành công nghiệp âm nhạc với hãng Capitol Records.
Thập niên 40 bắt đầu thời kỳ nhạc trữ tình của Cole với những bài top hits như “The Christmas Song”, “It’s Only A Paper Moon” và “For Sentimental Reasons”. Get Your Kicks On, Route 66 (1946) nhảy lên hạng 3. Mona Lisa là bản ballad xếp hạng 1 và bán được 3 triệu bản.
Cole cũng có tham gia trong lĩnh vực điện ảnh trong thập niên 50 nhưng chính ca nhạc mới đem lại thành công và danh tiếng để đời cho ông như một người tiền phong, một nghệ sĩ lẫy lừng của nhạc pop kết hợp jazz và đặc trưng ballad.
Những năm 50 và 60 khi Cole biểu diễn với các ban nhạc lớn, ông vẫn không bỏ ban nhạc tam tấu của mình. Những bài “Nature Boy”, Mona Lisa” (1950), “Too Young” và bài Unforgettable (1951) đều là top hit xếp hạng 1. Các top hit của Cole tiếp nối nhau như ” Smile”, “Pretend”,”A Blossom Fell,” and “If I May.”
Có thể nói Cole là ca sĩ da màu đầu tiên có nhiều ca khúc top hit bán chạy nhất so với các ca sĩ cùng thời ông, là niềm tự hào của người da đen thời ấy.Tuy vậy ông vẫn phải chịu đựng nạn kì thị chủng tôc khi bị tấn công và bị thương ở lưng trên sàn diễn năm 1956 ở Birmingham, Alabama khi đang hát bài Little Girl, ( sau đó ông đã giữ lời thề không trở lại phương Nam). Cole đã rất dũng cảm đấu tranh với nạn phân biệt chủng tộc thời kỳ thập niên 50 và đầu 60 khi mà sự khinh bỉ và căm ghét người da đen trong xã hội Mỹ khi ấy còn hết sức nặng nề. Chương trình TV trên kênh NBC của ông, chương trình của Cole do một người Mỹ gốc Phi tài trợ, bắt đầu tháng 11-1956, đã gây rất nhiều quan tâm và tranh cãi vào thời điểm đó.
Trong một số chương trình TV này, Cole phải chịu sự sỉ nhục là đánh phấn trắng để khán giả da trắng có thể chấp nhận ông. Tuy nhiên, năm 1948, ông không chịu ra đi khi những người hàng xóm da trắng ở khu sang trọng Beverly Hill kịch liệt phản đối vì ông đã mua nhà ở đây và đảng The Ku Klux Klan vẫn tiếp tục đe doạ ông.
Chính là nhờ tài ca hát của ông và tính khiêm nhường của ông đã khiến ông rất được yêu mến với cả những người da trắng, nên khi ông qua đời ở độ tuổi còn rất trẻ để lại niềm thương tiếc vô hạn cho người yêu nhạc khắp thế giới.Do nghiện thuốc lá, hút đến 3 gói thuốc mỗi ngày, Cole mất vì bệnh ung thư phổi ngày 15/2/1965 khi mới 46 tuổi.
Người nghệ sĩ tài danh này để lại một di sản âm nhạc cho bao thế hệ. Tháng 3 năm 2000, Cole được vinh danh vào Bảo Tàng Âm Nhạc Rock and Roll với giải thưởng Thành Tựu Trọn Đời như một nghệ sĩ vĩ đại đã có ảnh hưởng sâu sắc tới nền công nghiệp âm nhạc nói chung và thể loại nhạc rock and roll nói riêng. Đến tận ngày nay, những bài ballad đậm đà chất thơ nhẹ nhàng, trữ tình, sâu lắng và tha thiết vẫn đi vào lòng người vào tận cùng sâu thẳm của cảm xúc, vượt thời gian và không gian xoá bỏ những ngăn cách dị biệt về địa vị, chủng tộc, tôn giáo trong thế giới diệu kỳ của âm nhạc.
Tiếng hát ngọt ngào của Nat “ King” Cole vẫn sống mãi cùng chúng ta.
Trong chương trình Nhạc Xanh hôm nay, xin giới thiệu 3 ca khúc của Nat King Cole để các bạn vừa thưởng thức vừa có thể chia sẻ lời dịch theo hứng thú của các bạn. Ngoài ra, do có yêu cầu từ một fan của Nhạc Xanh đề nghị nhạc ABBA
và cổ điển do Richard Clayderman biểu diễn (gửi về hộp thư của mình) nên xin post trước mấy bài mà Cole đã hát được chơi bởi Richard Clayderman. Nhạc sĩ dương cầm người Pháp này đã trình tấu hơn 1200 giai điệu trong đó có 267 đĩa vàng và 70 đĩa bạch kim, cũng là người mình rất yêu thích, nên sẽ giới thiệu với các bạn vào kỳ tới.
Mời các bạn nghe các bài Smile, Autumn Leaves, Mona Lisa, và Pretend.
Smile là bài hát chủ đề trong bộ phim câm cuối cùng “Modern Times” năm 1936 của vua hề Charlie Chaplin, do chính Charplin là tác giả của giai điệu. Nó chính thức có tên Smile khi được John Turner and Geoffrey Parsons thêm lời năm 1954. Smile được Cole ghi âm lập tức thành hit. Smile nhắc chúng ta nhớ đến ý nghĩa của nụ cười trong cuộc sống của mỗi chúng ta, trong từng giây phút, thậm chí cả khi ta bị ngã quị trên đường đời, khi ta thấy buồn vì một vài điều bất ưng trong cuộc sống, gặp thất bại… Điều này nghe có vẻ hơi khó, nhưng chúng ta hãy cười, cười nhiều hơn, và tin rằng mọi nỗi buồn nếu có rồi sẽ qua và sau thất bại là thành công và niềm vui vẫn còn đó như với Nhạc Xanh- ĐCN.
Autumn Leaves: rất nổi tiếng, nguyên từ bài hát tiếng Pháp “Les feuilles mortes” ( The Dead Leaves), nhạc của Joseph Kosma, lời của nhà thơ Jacques Prévert, lời Anh do nhạc sĩ Mỹ Johnny Mercer viết.
Mona Lisa: bài hát của Ray Evans and Jay Livingston đạt được giải Oscar về bài hát hay nhất cho phim “Captain Carey, USA”, dẫn đầu bảng xếp hạng trong 8 tuần khi Cole hát bài này
Pretend: xếp thứ 2 trên Billboard 1953, nhạc và lời của Lew Douglas, Cliff Parman, and Frank Lavere
Thân ái chúc các bạn một ngày vui tươi bắt đầu tuần làm việc mới hiệu quả.
1. SMILE ( Charlie Chaplin- Nat King Cole )
Smile though your heart is aching
Smile even though it’s breaking
When there are clouds in the sky, you’ll get by
If you smile through your fear and sorrow
Smile and maybe tomorrow
You’ll see the sun come shining through for you
Light up your face with gladness
Hide every trace of sadness
Although a tear may be ever so near
That’s the time you must keep on trying
Smile, what’s the use of crying?
You’ll find that life is still worthwhile
If you just smile
That’s the time you must keep on trying
Smile, what’s the use of crying?
You’ll find that life is still worthwhile
If you just smile
2. AUTUMN LEAVES (Nat King Cole, 1955 )
The falling leaves drift by the window
The autumn leaves of red and gold
I see your lips, the summer kisses
The sun-burned hands I used to hold
Since you went away the days grow long
And soon I’ll hear old winter’s song
But I miss you most of all, my darling
When autumn leaves start to fall
AUTUMN LEAVES : RICHARD CLAYDERMAN (PIANO)
3. MONA LISA ( from the Nat King Cole Show , con gái Natalie của Cole nói về cha )
Mona Lisa, Mona Lisa, men have named you
You’re so like the lady with the mystic smile
Is it only cause you’re lonely they have blamed you?
For that Mona Lisa strangeness in your smile?
Do you smile to tempt a lover, Mona Lisa?
Or is this your way to hide a broken heart?
Many dreams have been brought to your doorstep
They just lie there and they die there
Are you warm, are you real, Mona Lisa?
Or just a cold and lonely lovely work of art?
Do you smile to tempt a lover, Mona Lisa?
Or is this your way to hide a broken heart?
Many dreams have been brought to your doorstep
They just lie there and they die there
Are you warm, are you real, Mona Lisa?
Or just a cold and lonely lovely work of art?
MONA LISA ( CLAYDERMAN )
4. PRETEND
Pretend you’re happy when you’re blue
It isn’t very hard to do
And you’ll find happiness without an end
Whenever you pretend
Remember anyone can dream
And nothing’s bad as it may seem
The little things you haven’t got
Could be a lot if you pretend
You’ll find a love you can share
One you can call all your own
Just close your eyes, she’ll be there
You’ll never be alone
And if you sing this melody
You’ll be pretending just like me
The world is mine, it can be yours, my friend
So why don’t you pretend?
And if you sing this melody
You’ll be pretending just like me
The world is mine, it can be yours, my friend
So why don’t you pretend?
Trong chuyên mục Nhạc Xanh lần trước, mình đã giới thiệu với các bạn những nhạc phẩm cổ điển khá nhẹ nhàng và tương đối dễ nghe. Tuy nhiên, hôm nay, để thay đổi không khí, mình xin được giới thiệu với các bạn phần âm nhạc trong vở ballet nổi tiếng “The Rite of Spring” qua phần biểu diễn hết sức ấn tượng và điêu luyện của của nghệ sĩ piano tài hoa người Thổ Nhĩ Kỳ – Fazil Say.
“The Rite of Spring” là một vở ballet nổi tiếng, công diễn lần đầu tiên vào ngày 29/5/1913 ở Pháp. Phần âm nhạc của vở ballet này được soạn bởi nhà soạn nhạc người Nga Igor Fyodorovich Stravinsky (người được coi là một trong những nhà soạn nhạc có tầm ảnh hưởng nhất thế kỷ 20). Âm nhạc trong vở ballet này có tiết tấu phức tạp, không hài hòa và rất nghịch tai. Vì thế, nó có thể gây cảm giác khó chịu cho những ai không quen nghe hoặc lần đầu tiên nghe nhạc kiểu này (Xin bật mí với các bạn là lần đầu tiên nghe “The Rite of Spring”, suốt đêm mình đã không ngủ được!)
Sau đây là 2 video clip: 1) Video clip Fazil Say biểu diễn piano 4 tay rất ngoạn mục và 2) Video Clip trích đoạn của vở Ballet “The Rite of Spring”. Mời các bạn thưởng thuc và cho ý kiến sau khi nghe! 😀
Tỉnh Quý Châu, Trung Quốc
Đã rất lâu rồi trong một lần đọc sách tại thư viện trường 广西医科大学 tôi có tìm được một cuốn sách liên quan đến Quý Châu, liên quan đến thị trấn cổ Trấn Viễn. Trong cuốn sách đó có lưu một vài bức ảnh về phong cảnh nơi đây và tôi đã bắt đầu thích thú tìm hiểu về Trấn Viễn từ hồi đó. Nhưng lúc đó còn phải đi học, phải bận bịu với thi cử và cũng chưa thật sự quyết tâm lắm nên tôi cũng chỉ biết đến Trấn Viễn qua sách báo mà thôi .
Thời gian gần đây vì tâm tư không được thoải mái tôi đã quyết định đi đâu đó để thay đổi không khí, không biết vì vô tình hay vì có duyên với Trấn Viễn mà tôi lại tìm được quyển sổ ghi chép về Trấn Viễn từ hồi còn học đại học. Tôi đã thuyết phục được một vài đồng nghiệp cùng mình đến đó trong mấy ngày cuối tuần vừa qua. Sắc tộc Miêu Sừng Dài ở Quý Châu Quý Châu là một tỉnh có nhiều núi và cao nguyên. Phía Bắc giáp Tứ Xuyên, Tây giáp Vân Nam, Nam giáp Quảng Tây và Đông giáp Hồ Nam. Quý Châu là một trong những tỉnh nghèo nhất Trung quốc và có nhiều dân tộc thiểu số nhất Trung quốc. Hơn 37% dân số Qúy Châu là các sắc tộc thiểu số, và 55% diện tích của tỉnh dành riêng cho các khu tự trị của các sắc dân thiểu số. Huyện Trấn Viễn nằm trong khu tự trị của dân tộc Miêu và dân tộc Đồng (Kiềm Đông Nam).
Một chuyến đi thật vất vả, chúng tôi phải ngồi ô tô một tiếng đồng hồ đến ga Tương Đàm, rồi lại nằm trên tàu mất 8h đồng hồ mới đến nơi. Khi đặt chân đến nhà ga Trấn Viễn ấn tượng của tôi không được tốt cho lắm. Đó là một nhà ga chật hẹp và cũ kĩ, lại chen chúc không biết bao nhiêu là người. Tôi hết bị đẩy về phía trước rồi lại bị xô sang trái, sang phải và thật vất vả mới có thể thoát khỏi khu nhà ga đầy khách du lịch ấy. Tôi lấy quyển sổ ghi chép của mình ra và bắt đầu cuộc hành trình của mình . Nguời Đồng trong lễ phục. Người dân tộc Đồng sống ở Quý Châu, Hồ Nam, Quảng Tây (Trung quốc) và Bắc Việt Nam
Địa điểm đầu tiên mà chúng tôi đến là khu phố cổ Miêu Cương. Miêu Cương được chia làm 6 khu nằm dọc hai bên bờ sông Vũ Dương. Khu 1 là khu phố đi bộ và cũng được coi là khu phố phát triển nhất tại đây, đa phần tầng một là những gian bán hàng lưu niệm hay quà đặc sản cho khách du lịch. Những trái kiwuy được cắt thành khoanh tròn, hay những trái cà chua nhỏ bằng đầu ngón tay được tẩm một lớp mật ong bên ngoài và sấy khô… được đựng trong những hộp kính trông rất hấp dẫn, bên cạnh đó là một sạp gỗ được xếp rất nhiều những ống tre bên trong có đựng rượu, còn sạp đối diện thì đặt rất nhiều những hộp đậu phụ thối, măng chua… Toàn cảnh trị trấn Trấn Viễn bên dòng Vũ DươngĐồ lưu niệm thì chủ yếu là những khung thêu phong cảnh Vũ Dương hay Động Thanh Long… và có một gian hàng mà tôi rất thích vì ở đó bán rất nhiều những đôi hài bằng lụa, bên trên được thêu bằng những sợi chỉ ngũ sắc trông rất lạ mắt .
Khoảng 12h trưa chúng tôi rời khỏi khu 1 và sang khu 2. Đây là khu nhà trọ dành cho khách du lịch, sau khi kiếm được phòng nghỉ với giá vừa phải, chúng tôi đã vứt đồ ở đó rồi tiếp tục cuộc hành trình của mình đến khu 3. Khu này bán toàn đồ ăn uống, đồ ăn ở đây cay lắm lại nhiều dầu nữa, vì họ cho rằng nhiều dầu là thể hiện tấm lòng quý mến khách. Trước Động Thanh Long
Ăn xong, chúng tôi đi bộ lang thang đến khu 4 và lên thuyền chạy dọc trên sông Vũ Dương。 Sông Vũ Dương được phân thành 394 địa điểm du lịch như: Thành cổ Trấn Viễn, Suối Thiết, Thượng /Hạ Vũ Dương, núi Vân Đài…
Thành cổ Trấn Viễn nằm ở đoạn cuối của sông Vũ Dương, đã có 2000 năm lịch sử và được liệt kê là một trong những thành cổ nổi tiếng của Trung Quốc. Trong thành có 5 cảnh quan nổi tiếng là: Động Thanh Long, Động Trung Nguyên, Động Ngô Vương, Thôn Hòa Bình, Điện Tứ Cung. Trong đó Động Thanh Long được cho là kiến trúc cổ có quy mô lớn nhất, kết cấu tinh xảo nhất và là đại diện cho quần trúc cổ của Qúy Châu . Nhà cổ ở thôn Hòa Bình
Động Thanh Long nằm trên vách núi cheo leo , trong động có sử dụng hạ điếu, nham thạch, trúc đài …các loại kiến trúc cổ, vì vậy Động Thanh Long luôn giữ được bản sắc “trong Động có Lầu” và “trong Lầu có Động”. Động Thanh Long bao gồm 6 cảnh quan chính là: Cầu Chúc Thánh, Thiền Viện Truy Nguyên, Cung Vạn Thọ, Nham Hương Lô… Đây cũng là nơi hội tụ của phật giáo kinh điện, đạo giáo miếu đường, viện nho giáo. Phố cổ Miêu Cương
Sau khi thăm hết Động Thanh Long chúng tôi đã vào một quán lẩu cá nằm ngay cạnh sông Vũ Dương , vừa giải quyết cái bụng đói meo vừa ngắm cảnh thành cổ vào buổi tối thật là sảng khoái. Ăn xong chúng tôi đi dọc phố và gặp rất nhiều những nhóm hát kinh kịch. Người già ở đây rất yêu thích môn nghệ thuật này vì vậy trên bất kì dãy phố nào bạn cũng có thể bắt gặp những nhóm như thế này. Lang thang về phía gần bến có rất nhiều sạp hàng bán đồ ăn đêm, chủ yếu bầy bán cá nướng, tôm nướng, đậu phụ thối rán… Người dân ở đây đàn ông thì thích ngồi quây quần thành từng bàn nhỏ để đánh cờ, phụ nữ thì tập chung thành một tốp để học nhảy…
Một ngày mệt mỏi cần phải được nghỉ ngơi ,chúng tôi đã quyết định quay trở về khách sạn và chuẩn bị cho chuyến đi của ngày hôm sau . Suối Thiết
Buổi sáng của ngày thứ 2 chúng tôi đã quyết định đi Suối Thiết , mất hơn 1 tiếng đồng hồ ngồi xe đến đó , rồi lại phải đi bộ men theo sườn núi mất 1 tiếng rưỡi mới đến đích cuối cùng。 Tổng chiều dài của Suối Thiết là 21km, vì chảy qua nhiều đoạn đất khác nhau nên có nhiều tên gọi khác nhau , từ đầu nguồn đến đoạn thôn Mã Lộ Hà được gọi là Suối Cam , đoạn từ thôn Mã Lộ Hà chảy đến Long Trì được gọi là Suối Mã Lộ Hà , từ Long Trì chảy đến kênh Hắc Đường gọi là Suối Long Đường, từ kênh Hắc Đường đến Động Tân Kiều gọi là Suối Ông Tử, và từ Động Tân Kiều đến đầu Suối Thiết gọi là Suối Thiết Sơn.
Vừa đi vừa tán chuyện nên chúng tôi đến đích rất nhanh ,đó là một hồ nước phẳng lặng như gương, người ta nói rằng hồ nước này sâu không xác định được đáy, bởi vậy mà nước hồ mang màu xanh ngọc trông rất đẹp. Chúng tôi dừng chân tại đây để chụp ảnh, nghịch suối, ăn uống, đánh bài, hát hò… và đến 3h chiều lại men theo con đường cũ quay trở lại bến xe và đi thẳng đến ga tàu để trở về Trường Sa.
Một trong những câu nói về âm nhạc trở thành danh ngôn được ưa thích là “ Tôi luôn nghĩ về âm nhạc như một cái gì đó chắp cánh cho ngôn từ bay bổng và âm nhạc thường đến trước mặc dù đôi khi tôi có ý niệm, một ý tưởng về tựạ đề bài hát, một ý tưởng về ca từ muốn viết, nhưng âm nhạc vẫn thường và sẽ đến trước. “
Tác giả của câu nói này chính là Neil Diamond mà Nhạc Xanh xin giới thiệu với các bạn như một ca sĩ kiêm nhạc sĩ người Mỹ 68 tuổi có sự nghiệp thành công dài lâu nhất thế giới, người vừa được tôn vinh là Nhân Vật của Năm 2009 bởi những hoạt động nhân đạo của ông.
Neil Diamond được vinh danh quốc tế như ca-nhạc sĩ tài năng thể loại Folk Pop, và Soft Rock của thập niên 60-70- 80. Trong buổi khai mạc lễ trao giải Grammy và tôn vinh ông bởi MusiCares vào tháng 2- 2009, người nghệ sĩ lớn 68 tuổi này đã cám ơn mẹ về cây đàn guitar thùng giá 10 đô la được tặng vào sinh nhật 16 tuổi, mà theo ông là một sự đầu tư tuyệt vời để tạo dựng cuộc đời cho ông vì cha mẹ ông chỉ có thể trả 1 đô la mỗi tuần. Cây đàn ấy đã thay đổi cuộc đời ông vì từ đó trở đi ông chuyên tâm tập nhạc rồi sau này bắt tay sáng tác.
Neil Leslie Diamond sinh ngày 24/1/1941 tại Brooklyn, New York trong một gia đình gốc Nga-Ba Lan-Do Thái. Khi nh ỏ ông theo gia đình chuy ển nh à s ống ở nhiều nơi, theo học trường Esramus Hall và Abraham High Schools. Tại Esramus Hall, ông hát trong ban nhạc trường cùng với Babra Streisand ( sắp tới Nhạc Xanh sẽ giới thiệu). Nhận được học bổng vào đại học New York nhờ môn đánh kiếm nhưng đến năm thứ ba, ông thôi học vì một hợp đồng viết nhạc ki ếm mỗi tuần 50 đô Sự nghiệp của Neil Diamond khởi đầu như một nhạc sĩ thànhdanh vào thập niên 60, nhưng những bản nhạc đầu tiên của ông phát hành năm 1962 không mấy thành công. Thành công đầu tiên của ông đến với ca khúc Sunday and Me ông viết vào cuối năm 1965, được xếp vào top 20 trên
bảng xếp hạng Billboard, và sau đó một loạt những bài hát khác như I’m A Believer, A Little Bit Me, A Little Bit You, Look Out, Love To Love, và đặc biệt Sweet Caroline (1969).
Mùa thu 1969, Neil Diamond dã trình bày ca khúc “Sweet Caroline” trên một số chương trình truyền hình. Bài này được vua nhạc pop Elvis Presley thu âm rất sớm vào năm 1970, và năm 1971 bài hát rất được yêu thích này xếp hạng 8 trên Billboard rồi leo lên hạng 4 với 1 triệu đĩa đơn được bán trở thành đĩa bạch kim. Có đến 3 bản phối cho bản nhạc này. Bản phối thứ nhất là bản phối đơn có một dàn nhạc giao hưởng lớn với đàn glockenspiel, một loại nhạc cụ thuộc bộ gõ. Bản phối thứ hai có âm thanh nổi được trình bày trong Brother Love’s Travelling Salvation Show. Bản phối thứ ba nằm trong một đĩa CD của Neil Diamond với tên gọi “His 12 Greatest Hits”. Trong đó bản phối với dàn nhạc giao hưởng là đáng chú ý nhất.
Đầu năm 1978, Neil được mời sáng tác ca khúc chủ đề cho một chương trình hài kịch truyền hình. Khi show diễn bị mạng lưới truyền hình loại bỏ, ông quyết định giữ lại ca khúc cho album tiếp theo. Một kỹ thuật viên đài phát thanh đã lắp ghép ca khúc “You Don’t Bring Me Flowers” trong album phóng tác của Neil với bài hát cải biên Barbra Streisand. Kết quả thật tuyệt vời, ca khúc thường xuyên được phát sóng. Neil quyết định tái thu âm ca khúc với chính Streisand và trong thời gian vài tuần sau khi trình làng, đĩa đơn đã chiếm ngay vị trí số 1 tại Mỹ.
“I’m Glad You’re Here With Me Tonight”, và “September Morn”, hai thu âm tiếp theo được RIAA chứng nhận là những album bạch kim, tiếp tục thời kỳ hoàng kim của Neil.
Năm 1980, Diamond không chỉ tham gia bộ phim kinh điển tái bản “The Jazz Singer” mà ông còn sáng tác và biểu diễn album nhạc phim đa bạch kim của bộ phim này bao gồm các hit “Love on The Rocks”, “America” và “Hello Again”. Tên ca khúc trong album năm 1982 của ông “Heartlight” là một top hit khác. Năm 1986 ông tiếp tục album đôi live thành công bất ngờ của mình, “Hot August Night” và “Hot August Night II”.
Thập kỷ 90 là thời kỳ mà Diamond tiến xa hơn trở thành một trong những nghệ sĩ biểu diễn hàng đầu thế hệ anh. Một album Christmas mang tên “Neil Diamond’s Christmas Special” ra đời. Anh là nghệ sĩ hoà nhạc có sức quyến rũ hàng đầu tại Mỹ năm 1992 ( Amusement Business) Năm 1994, Diamond phát hành “Live In America”, thu âm cung cấp tư liệu cho tour lưu diễn thế giới phá kỷ lục hai năm mang tên “Love In The Round”. “The Tennessee Moon”. The Tennessee Moon trở thành hit trên các bảng xếp hạng country, giành đỉnh cao ở vị trí thứ ba và đạt đĩa vàng trong vòng 6 tháng sau khi ra mắt.
Hợp tuyển 70 ca khúc đặc biệt “In My Lifetime” bao gồm 37 single đạt top hit, 16 ca khúc demo chưa từng được phát hành, nhiều phóng tác đan xen của những tác phẩm kinh điển nổi tiếng, nhạc phẩm mới được sáng tác và đã thu âm ra mắt người hâm mộ vào năm 1996 khiến tên tuổi Diamond càng toả sáng
Trong thiên niên kỷ 21, Neil Diamond, ca sĩ của nghệ thuật trình diễn đỉnh cao đã trở lại với những bộ phim như “The Movie Album — As Time Goes By”.
Đặc biệt ca sĩ kiêm nhạc sĩ tài hoa này ở độ tuổi lục tuần vẫn chưa thôi ôm đàn lưu diễn, và vẫn tiếp tục chinh phục th êm nhiều fan hâm mộ trên khắp thế giới.
Trên sân khấu, Diamond vẫn chẳng hề thay đổi, vẫn thể hiện các ca khúc bằng chất giọng nam trung đầy mãnh lực và khuấy động không khí với phong cách trình diễn độc đáo của mình
Tour diễn cuối cùng của Diamond năm 2005 đã thu về gần 80 triệu đôla từ 86 show diễn thu hút 1,2 triệu người xem ( theo Billboard Boxscore).
.
Tháng 5/ 2008, ông lần đầu tiên chiếm vị trí quán quân trong bảng xếp hạng Billboard với album Home Before Dark. Các buổi hòa nhạc trong chuyến lưu diễn thế giới vừa công bố của ông cho năm 2008 gần như đã bán hết vé
Năm ngoái ở tuổi 67 kiếm được 168 triệu đô la, Neil Diamond đã phát biểu:
“Tôi chưa bao giờ kỳ vọng rằng mình sẽ hoạt động lâu như vậy trong sự nghiệp. Đã hơn 40 năm trôi qua kể từ khi những ca khúc ăn khách đầu tiên của tôi ra đời, nhưng tôi chưa nghĩ đến việc dừng lại”.
Và ông cũng chia sẻ một tư tưởng rất tích cực :
“Tôi không hề cảm thấy mình già. Tôi cảm thấy mình còn rất trẻ. Thật thú vị khi vẫn có suy nghĩ như vậy trong thị trường tràn ngập người trẻ, hay nói một cách khác là nhắm vào giới trẻ…”
Nhạc Xanh xin mời các bạn thưởng thức bản nhạc Sweet Caroline, cả ca từ và giai điệu của nó vui tươi. Neil Diamond trong một cuộc phỏng vấn năm 2007 đã cho biết cảm hứng sáng tác bài này đến từ cô Caroline Kennedy năm 11 tuổi ( con gái Tổng thống Mỹ John Kennedy). Ông cũng đã hát bài này tại buổi kỷ niệm sinh nhật 50 tuổi của bà Caroline Kennedy.
Bài thứ hai là bài Song Sung Blue, ( 1972) bài hát thứ nhì của Diamond được xếp hạng 1 trên Billboard 100 của Mỹ và 2 đề cử cho giải Grammy 1973
Bài thứ ba : You Don’t Bring Me Flowers, top hit Billboard 100 năm 1978 hát chung với Babra Streisand.
1. SWEET CAROLINE
Where it began
I can’t begin to knowing
But then I know it’s growing strong
Was in the spring
And spring became the summer
Who’d have believed you’d come along
Hands, touching hands
Reaching out
Touching me
Touching you
Sweet Caroline
Good times never seemed so good
I’ve been inclined
To believe they never would
But now I
Look at the night
And it don’t seem so lonely
We fill it up with only two
And when I hurt
Hurting runs off my shoulders
How can I hurt when I’m with you
Warm, touching warm
Reaching out
Touching me
Touching me
Sweet Caroline
Good times never seemed so good
I’ve been inclined
To believe they never would
Oh, no, no
Sweet Caroline
Good times never seemed so good
I’ve been inclined
I believed they never could
Sweet Caroline
2. SONG SUNG BLUE
Song sung blue
Everybody knows one
Song sung blue
Every garden grows one
Me and you are subject to the blues now and then
But when you take the blues and make a song
You sing them out again
Sing them out again
Song sung blue
Weeping like a willow
Song sung blue
Sleeping on my pillow
Funny thing, but you can sing it with a cry in your voice
And before you know it, start to feeling good
You simply got no choice
Song sung blue
Everybody knows one
Song sung blue
Every garden grows one
3. YOU DON’T BRING ME FLOWERS ( With Barbra Streisand)
You don’t bring me flowers
You don’t sing me love songs
You hardly talk to me anymore
When you come thru the door
At the end of the day
I remember when you couldn’t wait to love me
Used to hate to leave me
Now after lovin’ me late at night
When it’s good for you, babe
And you’re feelin’ alright
Well you just roll over and turn out the light
And you don’t bring me flowers anymore
It used to be so natural to talk about forever
But “used to be’s” don’t count anymore
They just lay on the floor
‘Till we sweep them away
Baby, I remember
All the things you taught me
I learned how to laugh
And I learned how to cry
Well, I learned how to love
And I learned how to lie
So you’d think I could learn
How to tell you goodbye
You don’t bring me flowers anymore
Well, you’d think I’d could learn
How to say tell you goodbye
You don’t say you need me
You don’t sing me love songs
You don’t bring me flowers anymore
Thân ái chúc các bạn một ngày vui tươi với giai đi ệu xanh của chàng nghệ sĩ trẻ mãi không già Neil Diamond
Trong dịp Tết Kỷ Sửu vừa rồi, một trong những trải nghiệm thú vị nhất trong chuyến đi du lịch Malaysia – Singapore của mình và mẹ mình là được đi xe xich lô Singapore (gọi là Trishaw) dạo vòng quanh khu Bugis, Phố Ấn Độ, Phố Tàu ở Singapore. Thú vị hơn nữa là vừa ngồi lên xe, anh chàng lái xe bật ngay một bản nhạc rock đồng quê mà mình rất thích. Chưa bao giờ mình cảm thấy hạnh phúc, thanh thản như hôm đó. Ngày hôm đó trời rất đẹp, ít nắng và nhiều gió. Vừa ngồi trên xe nghỉ ngơi, vừa ngắm cảnh đường phố Singapore, vừa được nghe bản nhạc mình yêu thích thì thật là tuyệt vời, phải không các bạn?
Và để thay đổi không khí, hôm nay mình xin được giới thiệu với các bạn bản nhạc rock đồng quê đó, có tên gọi là “California Dreamin’” của ban nhạc The Mamas and The Papas.
Ban nhạc The Mamas and The Papas là ban nhạc gồm các thành viên như: John Phillips (nhạc sĩ sáng tác, qua đời năm 2005), Denny Doherty (qua đời năm 2007), Michelle Phililips (vợ của John), Cass Elliot, Scott McKenzie, Jill Gibson. Ban nhạc này nổi lên vào năm 1966 với thành công vang dội của “California Dreamin” khi nó lọt vào top 10. Ca khúc này được phát hành lần đầu tiên vào tháng 11, năm 1965 và được xếp hạng thứ 89 trong 500 ca khúc vĩ đại nhất của mọi thời đại.
Qua tiếng hát của The Mamas and The Papas của thập niên 60, ca khúc kinh điển “California Dreamin” đã trở thành nhạc phẩm thịnh hành được nhiều người yêu chuộng. Vào giữa thập niên 90, nhạc phẩm “California Dreamin” lần nữa được dùng làm ca khúc chính trong phim “Chungking Express”, một trong 100 cuốn phim được tuần báo Time của Mỹ chấm là hay nhất. Trong phim này, đạo diễn Wong Kar Wai đã mượn nhạc phẩm này để nói lên ước mơ về vùng trời xa xăm của cô bồi bàn trong một tiệm ăn nhỏ ở Hong Kong.
Sau đây là 2 video clip: 1) Video clip do ban nhạc The Mamas and the Papas biểu diễn, và 2) Video clip do nhóm River City People cover lại. Mời các bạn thưởng thức và chúc các bạn một ngày thật vui!