Bản nhạc mở màn vở nhạc kịch William Tell, gọi là William Tell Overture, là một bản nhạc cổ điển của Gioachino Rosini rất phổ thông, nhất là đọan cuối. Gioachino Antonio Rossini
Gioachino Antonio Rossini (February 29, 1792 – November 13, 1868) người Ý, là một trong những soạn giả rất phong phú và sống động. Ông soạn nhạc cho 30 vở nhạc kịch, cùng một loạt thánh ca và nhạc thính phòng. Nhạc của Rossini thường mang âm hưởng “bài hát”, lên xuống trầm bổng thường xuyên, (khác với các bản nhạc cho khí cụ, hoặc có thể không lên xuống nhiều, hoặc lên xuống quá tầm giọng hát). Vì đặc tính này mà Rossini được gọi là Mozart của nước Ý. Vào thời ông, Rossini được xem là nhà soạn nhạc kịch lớn nhất trong lịch sử âm nhạc.
Các tác phẩm nỗi tiếng nhất của Rossini gồm Il barbiere di Siviglia (The Barber of Seville), La Cenerentola, La gazza ladra (The Thieving Magpie) and Guillaume Tell (William Tell).
Overture là một đoạn nhạc mở đầu một nhạc kịch. William Tell Overture có tất cả 4 đoạn:
— Prelude (mở đầu): Nhạc chậm và thấp, thường dùng cello (trung hồ cầm) và bass (đại hồ cầm).
— Storm (bão): Rất sống động, toàn dàn hòa tấu.
— Ranz des Vaches (gọi bò sữa): dùng English horn (còi Anh).
— Finale: Đoạn cuối, rất mạnh mẽ như đoàn kỵ binh tấn công trên chiến mã, nên thường gọi là đoạn galloping (ngựa phi), kèn trumpet đi đầu và toàn dàn hòa tấu theo sau.
Đoạn Galloping này được dùng rất nhiều trong văn hóa phổ thông: Nó là nhạc nền chính của series Lone Ranger, rất nổi tiếng, gồm một radio series kéo dài từ 1933 đến 1954 (21 năm), một TV series từ 1949 đến 1957, và một loạt các phim lẻ. Trong rất nhiều phim ảnh, nhạc kịch, đoạn Galloping được dùng như chính nó, hay là nhái lại hài hước, hầu như không thể kể hết được.
Năm 1838, nhạc sĩ Franz Liszt biên soạn William Tell Overture cho piano. Và ngày nay người ta chơi William Tell Overture với mọi khí cụ, đủ kiểu.
Sau đây chúng ta sẽ nếm một tí mùi vị phong phú của William Tell Overture qua các video sau đây:
(1) Dàn đại hòa tấu quốc tế Berliner Philharmoniker với nhạc trưởng khét tiếng Herbert Von Karajan.
(2) Hảo thủ số một thế giới về mandolin, Even Marshall, độc tấu
(3) Hai anh em Johnathan và Tom Scott song tấu trên một piano.
(4) Hảo thủ trống với một dàn trống rock vĩ đại.
(5) Gerry Phillips chơi William Tell Overture với chỉ hai bàn tay !!
(6) Lời mẹ nói, nhái William Tell Overture với giọng opera nữ (có phụ đề lời Anh ngữ).
Mời các bạn thưởng thức.
.
Đại Hòa Tấu: Gioachino Rossini (1792-1868) WILLIAM TELL OVERTURE (1829) Berliner Philharmoniker HERBERT VON KARAJAN (1908-1989) New Year’s Eve Concert, Berliner Philharmonie Dec 31, 1983
.
Mandolin: Mandolinist Evan Marshall performing the William Tell Overture
.
Piano: Scott Brothers Duo (Jonathan & Tom Scott) perform the Gallop from The William Tell Overture arranged for piano duet by Gottschalk.
.
Trống: Vadrum Meets William Tell (Drum Video)
.
Hai bàn tay: My name is Gerry (Jerry) Phillips and I have been playing songs on my hands for 38 years!
.
Lời Mẹ Nói: The Mom Song Sung to William Tell Overture
Trước Công Nguyên năm 770 Tần mới được phong làm một trong những Hầu Quốc phía Tây của Trung Quốc, lãnh thổ nhỏ, quốc lực không mạnh, luôn luôn bị Hầu Quốc Trung Nguyên khinh thường.Tần Thủy Hoàng Nhưng từ khi Tần tiến hành biện pháp Thương ưởng biến thì quốc lực ngày càng mạnh lên và rất nhanh đã trở thành cường quốc mạnh nhất trong 7 nước chiến quốc, sau khi Tần Vương Doanh Chính lên ngôi, đã phát động chiến tranh với quy mô lớn. Bắt đầu từ trước Công Nguyên năm 230, trải qua 10 năm lần lượt tiêu diệt Hàn (là một nước nhà Chu), Triệu, Ngụy, Sở, Yên, Tề, đến trước Công Nguyên năm 221 đã thống nhất 6 nước.
Doanh Chính luôn mơ tưởng Tần sẽ vĩnh viễn là nước thống trị, bởi vậy ông đã tự coi mình là “始皇帝” tức vị Hoàng Đế đầu tiên, và con cháu của mình sẽ là thế hệ thứ 2, thứ 3…Do đó, trong lịch sử đã coi ông là vị Hoàng Đế đầu tiên (trước Công Nguyên 259- trước Công Nguyên năm 210).
Sau khi Tần Thủy Hoàng thống nhất 6 nước đã áp dụng một loạt các biện pháp để củng cố nước Tần. Ví dụ như trong bộ máy chính quyền ông thiết lập Thừa Tướng, đại phu Ngự Sử, Thái Úy…Thừa Tướng giúp Hoàng Đế xử lý các việc triều chính, đại phu Ngự Sử giúp vua giám sát các quan trong triều đình, Thái Úy quản lý quân binh, đều do Hoàng Đế miễn nhiệm. Tượng binh tướng trong mộ Tần Thụy Hoàng
Tại các địa phương , bãi bỏ các chế độ phong kiến còn lưu lại từ thời nhà Thương (vua Thang thay Hạ lên làm vua gọi là nhà Thương, cách nay chừng 3650 năm) và nhà Chu. Thi hành chế độ phân nước thành nhiều quận huyện khác nhau, toàn quốc phân thành 36 quận (về sau tăng lên thành 40 quận), dưới quận thiết lập huyện. Trưởng quan gọi là quận thủ và huyện lệnh, đều do Tần Thủy Hoàng trực tiếp bổ nhiệm, phụ trách quản lý nhân dân.
Như vậy Tần Thủy Hoàng có thể thống trị cả nước Tần to lớn và nắm giữ quyền lực trong bàn tay mình. Sau khi thống nhất ông đã lập tức dùng những pháp luật, pháp lệnh sẵn có của Tần quốc để áp dụng đến từng vùng trong toàn quốc, làm cho pháp chế trong toàn quốc được thống nhất vào pháp chế của Tần quốc . Tượng binh tướng trong mộ Tần Thủy Hoàng
Thời kì chiến quốc, các đơn vị đo của từng nước không giống nhau, Tần Thủy Hoàng đã quyết định thống nhất đơn vị đo chiều dài, dung lượng, trọng lượng… từ đó thúc đẩy mạnh sự phát triển về kinh tế. Triều Tần còn thống nhất tiền tệ. Chính phủ Tần quy định, dùng đồng xu của Tần quốc (hình tròn có lỗ ở giữa) làm tiền tệ lưu thông trong toàn quốc. Việc này đã thúc đẩy việc giao lưu kinh tế giữa các dân tộc các khu vực khác nhau, và càng ngày càng chiếm vai trò quan trọng. Về sau, các triều đại kế tiếp đều mô phỏng theo tiền đồng xu của Tần Quốc để sản xuất.
Không những thế Tần Thủy Hoàng còn cho ra lệnh thống nhất chữ viết, ông quyết định dùng chữ triện làm chữ chuẩn và sử dụng thông dụng trong toàn quốc. Về sau, lại xuất hiện loại chữ viết đơn giản hơn thể chữ triện là thể chữ lệ. Hiện tại, đang sử dụng thể chữ khải, là từ chữ lệ biến hóa thành. Chữ viết được thống nhất đã thúc đẩy giao lưu về văn hóa giữa các vùng.
Trước Công Nguyên năm 213, Thừa Tướng Lý Tư cho rằng, nếu mọi người biết đọc thơ, sách… các loại cổ thư, sẽ biết cách vận dụng những quan điểm để phê phán các chính sách cai quản của triều đình và như vậy sẽ rất bất lợi cho Tần Thủy Hoàng. Theo ý kiến của ông thì ngoài những loại sách như sách y dược, trồng trọt và một vài sách nữa ra thì không nên lưu lại, đặc biệt là các sách lịch sử hay thư tịch của các nước đều cần phải đem đốt hết. Tần Thủy Hoàng đã nghe theo ý kiến của Lý Tư. Đến năm thứ 2, xuất hiện một vài phần tử trí thức dị nghị và bàn tán sau lưng Tần Thủy Hoàng là ngang ngược, ỷ quyền thế mà quyết đoán bừa bãi, lạm dụng hình phạt… Lời bàn tán đến tai Tần Thủy Hoàng, ông quyết định truy xét đến cùng, và cuối cùng đã chôn sống hơn 460 người, hai sự việc này được sử sách lưu lại với tên “Thiêu Thư Khang Nho”.
Tướng Mông Điềm đánh bại quân Hung Nô, Tần Thủy Hoàng vì đề phòng quân Hung Nô sẽ xâm chiếm lãnh thổ lần nữa nên đã ra lệnh xây sửa Vạn Lý Trường Thành. Tại phía Nam, lo qui phục Việt tộc, mở rộng sự giao lưu giữa các dân tộc.
Tần Thủy Hoàng đã hoàn thành thống nhất đại nghiệp, kết thúc trường kì chia cắt của các Hầu quốc, thiết lập một nhà nước nhiều dân tộc thống nhất đầu tiên của Trung Quốc (Lãnh thổ của triều Tần, đông đến giáp biển lớn, tây đến bờ tây, bắc đến dải trường thành, nam đến Nam hải, nhân khẩu khoảng 2000 vạn người).
Zorba the Greek là truyện dài của văn sĩ Hy Lạp Nikos Kazantzakis, xuất bản lần đầu năm 1946. Đó là câu chuyện của một trí thức trẻ phiêu lưu để chạy trốn cuộc sống mọt sách, gặp một người đứng tuổi, sống động, ham vui là Alexis Zorbas. Năm 1964 quyển truyện được làm thành phim do Anthony Quinn đóng vai Zorba, và năm 1968 thành ca vũ nhạc Broadway với tên Broad Zorba.
Nhạc nền trong phim Zorba the Greek do Mikis Theodorakis, nhà soạn nhạc nổi tiếng của Hy Lạp. Vũ điệu trong phim Zorba gọi là Sirtaki, được sáng tạo đặc biệt cho phim Zorba. Đây không phải là một vũ điệu Hy Lạp truyền thống mà là phối hợp của bước chậm và nhanh của bước vũ truyền thống Hy Lạp, hasapiko. Vũ Sirtaki còn gọi là vũ Zorba, và ngày nay Zorba dance đã lan truyền khắp thế giới. Continue reading Vũ điệu Zorba the Greek→
Hôm nay Nhạc Xanh xin giới thiệu với các bạn một ban nhạc được mệnh danh là ban nhạc của mọi thời đại. Thành công vượt bực của họ là minh chứng cho câu danh ngôn mới được nêu trên Đọt Chuối Non : “Thiên tài chỉ 1% là bẩm sinh còn 99% là do lao động”.
Bee Gees là một ban nhạc nổi tiếng gồm ba anh em nhà Gibb, người Úc gốc Anh, Barry, Robin và Maurice Gibb. Anh em nhà Gibbs được sinh ra trên đảo Man. Barry Alan Crompton Gibb sinh ngày 1 tháng 9 năm 1946, và hai anh em sinh đôi Robin Hugh Gibb and Maurice Ernest Gibb ra đời ngày 22 tháng 12 năm 1949. Tên của ban nhạc được cho là lấy từ hai chữ “B.G.”, viết tắt của Brothers Gibb (Anh em nhà Gibb).
Ban nhạc này với 40 năm cống hiến cho âm nhạc với 9 lần đoạt giải thưởng Grammy, trong đó có giải Thành Tựu Trọn đời năm 2000, khoảng 10 giải thưởng lớn khác của thế giới, về âm nhạc của nước Mỹ và các chương trình phát thanh và phát hình. Ngay trong những năm cuối thập niên 1960 và đầu thập niên 1970, họ được vinh danh là ban nhạc “soft rock” hòa âm, và là những ngôi sao hạng đầu của thời đại disco cuối thập niên 70. Sau những thành công sơ bộ ở Úc, nơi họ khởi nghiệp, họ trở về quê cha Manchester, nước Anh vào đầu thập niên 1950, và được ông bầu Robert Stigwood giúp bắt đầu ra mắt công chúng .
Với phong cách trình diễn mang bản sắc trẻ trung, Bee Gees rất được yêu mến bởi 3 giọng ca độc đáo hòa quyện vào nhau không lẫn vào đâu. Người anh Barry với chất giọng cao hát chính trong các ca khúc top hits đầu tay của họ. Robin phụ trợ bằng giọng rung; các nốt trung do Maurice hát. Cả 3 anh em cùng kết hợp không chỉ sáng tác phần lớn các ca khúc nổi tiếng của họ, mà còn viết khá nhiều bản nhạc cho các ca sĩ khác. Barry and Robin Gibb chấm dứt sự nghiệp của ban nhạc sau khi Maurice qua đời đột ngột ngày 12 tháng 1 năm 2003.
Năm 1960, Bee Gees được xuất hiện trên một số show truyền hình. Trong những năm từ 1963 đến 1966, họ đạt được một số thành tựu đáng kể với một số đĩa đơn hit đứng đầu các bảng xếp hạng tại Úc. Những đĩa đơn đầu tiên của họ là Spicks and Specks, bản ballad To Love Somebody và Holiday nhanh chóng lọt vào top 20 cả ở Anh và Mỹ. Album Bee Gees’1st của họ có những ca khúc này xếp thứ 7 ở Mỹ và thứ 8 ở Anh đã gây được ấn tượng tốt đẹp và nhận được sự ủng hộ của cả giới chuyên môn lẫn công chúng. Sau đó album thứ hai Horizontal mang nhiều chất rock cũng gặt hái nhiều thành công như Massachusette xếp hạng 1 ở Anh, World thứ 7, và The Sun Will Shine ….
Bee Gees được cho là “tài năng âm nhạc xuất chúng của năm 1967”. Họ bắt đầu lưu diễn ở Mỹ. Sau đó lt Odessa phát hành vào năm 1969, một album nhạc Rock phong cách mới pha trộn với dàn nhạc. Trong thời gian này, thường xuyên xảy ra những bất đồng quan điểm giữa Barry và Robin. Kết quả cuối cùng là Robin rời nhóm, còn Barry trở thành trưởng nhóm. Cuối năm 1970 ba anh em lại tái hợp với nhau, nhạc của họ giai đoạn này có sắc thái đau buồn và cô đơn nhưng vẫn ở top thứ 3 ở Mỹ như Lonely Days, và thứ nhất ở Mỹ như How Can You Mend A Broken Heart.
Album tiếp theo, Children of the World (1976), là sự kết hợp giữa Barry và Blue mà kết quả là một single mang tên “You Should Be Dancing” ra đời.
Bee Gees hợp tác xây dựng Saturday Night Fever – ca khúc trong bộ phim cùng tên, được xem là mốc quan trọng trong sự nghiệp âm nhạc của họ. Cả bộ phim lẫn ca khúc trong phim trở thành hiện tượng văn hóa không chỉ tại Mỹ mà còn trên toàn thế giới.
3 đĩa đơn của Bee Gees (“How Deep Is Your Love”, “Stayin’ Alive” và “Night Fever”) đạt vị trí thứ 1 tại Mỹ và ở hầu hết các quốc gia khác trên thế giới, mở đầu một kỉ nguyên mới. Trong 8 tháng mùa Giáng Sinh năm 1977, Anh em nhà Gibb viết tổng cộng 6 ca khúc xếp thứ 1 tại các bảng xếp hạng nước Mỹ trong suốt 25 tuần. Album liên tiếp phá vỡ nhiều kỉ lục, trở thành album bán chạy nhất trong lịch sử ngành thu âm đến thời điểm này. Saturday Night Fever bán được 40 triệu bản trên toàn thế giới với 6 singles liên tục dẫn đầu tại Mỹ trong 18 tháng.
Too Much Heaven được chọn để trình bày trong sự kiện âm nhạc lớn của tổ chức UNICEF Music for UNICEF Concert tại phiên họp của Đại Hội Đồng Liên Hiệp quốc tháng 1 – 1979, khiến Bee Gees càng nổi tiếng.
Thành công của nhóm lên cao như diều gặp gió nhưng cũng tụt dốc nhanh vì thể loại disco thời đó đang thành mốt. Cuối năm 1979, sự nghiệp âm nhạc của Bee Gees tại Mỹ sụp đổ nhưng trên trường quốc tế vẫn còn danh tiếng.
Những năm 1980 Robin và Barry Gibb phát hành các đĩa đơn solo nhưng không mấy thành công. Album Living Eyes cũng không vào được top 40 ở Mỹ. Năm 1983 bản nhạc trong phim Staying Alive, trong Saturday Night Fever này giành giải đĩa đơn bạch kim tại Mỹ. Năm 1987 họ bán được hơn 3 triệu bản của album E.S.P.
Ngày 10/3 /1988, người em út của họ là Andy qua đời đột ngột ở tuổi 30 vì bệnh viêm cơ tim, hậu quả của rượu và ma túy. One, album tưởng niệm dành cho Andy, được xếp vào top 10 ở Mỹ trong 1 thập niên
Tiếp đó họ có chuyến lưu diễn đầu tiên trên toàn thế giới trong vòng 10 năm trở lại. Sau đó là High Civilization (1991) , một album có ca khúc hit “Secret Love”. Trở về từ chuyến lưu diễn mệt mỏi, Barry Gibb bước vào trận chiến của những cơn đau lưng đến mức phải phẫu thuật. Còn Maurice thì nghiện rượu.
Trong vòng từ 1993-1997, họ có 2 album Size Isn’t Everything có bài For whom The Bell Tolls xếp thứ 5 và album , Still Waters, bán được hơn 4 triệu bản, xếp thứ 11 tại Mỹ. Cuối năm 1997, Bee Gees trình diễn một buổi hòa nhạc trực tiếp tại Las Vegas có tên One Night Only. Đĩa CD của buổi hòa nhạc này bán được hơn 5 triệu bản. Đây là động lực để nhóm thực hiện một chuyến lưu diễn vòng quanh thế giới . Tour diễn thu hút 56.000 người đến tham dự tại sân vận động Wembley của London. Ban nhạc khép lại thập kỉ 90 với buổi hòa nhạc cuối cùng dưới cái tên “BG2K” tổ chức vào ngày 31 tháng 12 năm 1999. Năm 2001, họ cho ra đời một album mới không ngờ lại là album cuối cùng của nhóm. This Is Where I Came In đem lại cho từng thành viên cơ hội tự sáng tác lẫn sáng tác chung. Buổi trình diễn live trước công chúng của ban nhạc là Live By Request thực hiện bởi mạng truyền hình cable và vệ tinh ở Mỹ.
Không may, Maurice, đạo diễn âm nhạc của Bee Gees, anh em song sinh của Robin, đột ngột ra đi vào ngày 2 tháng 1 năm 2003 vì bệnh tắc ruột.
Ngày 23/2/ 2003 Bee Gees được trao giải Grammy Huyền Thoại. Sau đó ít lâu Robin và Barry quyết định ngưng sự nghiệp chung của Bee Gees và không dùng tên Bee Gees nữa. Cả hai vẫn thu âm so lo hay với những nghệ sĩ khác. Cuối năm 2004, Robin thực hiện chuyến lưu diễn solo vòng quanh nước Đức, Nga và Châu Á.
Tháng 2/2006, Barry và Robin tái hợp trên sàn diễn trong một chương trình nhạc từ thiện ở Miami và tháng 5 cùng năm họ còn xuất hiện trong buổi hòa nhạc Prince’s Trust lần thứ 30 ở Anh. Tháng 10/ 2008, Robin đã biểu diễn một số bài hát ở Luân Đôn trong chương trình âm nhạc của BBC.
“How Deep Is Your Love” là bản nhạc thành công nhất của Bee Gees với hơn 400 phiên bản khác nhau đang tồn tại trong thế giới âm nhạc. Những ca khúc của họ thường được các nghệ sĩ khác cover lại trong đó có Elvis Presley, Janis Joplin, Al Green, Eric Clapton, Lulu, Elton John, Tom Jones, và Nina Simone.
Bee Gees đạt được thành công ngoài sức tưởng tượng. Ước tính có hơn 200 triệu album và đĩa đơn của ban nhạc này được bán ra trên toàn cầu khiến họ trở thành những nghệ sĩ có album bán chạy nhất và được vinh danh trong Bảo Tàng Danh Vọng Rock & Roll năm 1997với câu nói: “Chỉ có Elvis Presley, ban Beatles, Michael Jackson, Garth Brooks và Paul McCartney mới có thể bán được nhiều nhạc hơn Bee Gees”.
Sau đây mời các bạn thưởng thức 5 ca khúc của Bee Gees qua nhiều giai đoạn:
I Started A Joke, Word, Holiday, First of May, và How Deep Is Your Love
1. I STARTED A JOKE
I started a joke, which started the whole world crying,
But I didn’t see that the joke was on me, oh no.
I started to cry, which started the whole world laughing,
Oh, if I’d only seen that the joke was on me.
I looked at the skies, running my hands over my eyes,
And I fell out of bed, hurting my head from things that Id said.
Till I finally died, which started the whole world living,
Oh, if I’d only seen that the joke was on me.
I looked at the skies, running my hands over my eyes,
And I fell out of bed, hurting my head from things that I’d said.
Till I finally died, which started the whole world living,
Oh, if I’d only seen that the joke was one me.
2. WORDS
Smile an everlasting smile, a smile can bring you
Near to me.
Dont ever let me find you down, cause that would
Bring a tear to me.
This world has lost its glory, lets start a brand
New story now, my love.
Right now, therell be no other time and I can show
You how, my love.
Talk in everlasting words
and dedicate them all to
Me.
And I will give you all my life, Im here if you
Should call to me.
You think that I dont even mean a single word i
Say.
It’s only words, and words
are all I have, to take
Your heart away
3. HOLIDAY
Ooh you’re a holiday, such a holiday
Ooh you’re a holiday such a holiday
It’s something I think worthwhile
If the puppet makes you smile
If not then you’re throwing stones
Throwing stones, throwing stones
Ooh it’s a funny game
Don’t believe that it’s all the same
Can’t think what I’ve just said
Put the soft pillow on my head
Millions of eyes can see
Yet why am I so blind
When the someone else is me
It’s unkind, it’s unkind
De de de de de de de de de de de de de
De de de de de de de de de de de de de
Yet millions of eyes can see
Yet why am I so blind
When the someone else is me
It’s unkind, it’s unkind
Ooh you’re a holiday, ev’ry day such a holiday
Now it’s my turn to say, and I say you’re a holiday.
It’s something I think worthwhile
If the puppet makes you smile
If now then youre throwing stones
Throwing stones , throwing stones
4. FIRST OF MAY ( LIVE 2009)
When I was small, and Christmas trees were tall,
We used to love while others used to play.
Dont ask me why, but time has passed us by,
Some one else moved in from far away.
(chorus)
Now we are tall, and Christmas trees are small,
And you don’t ask the time of day.
But you and I, our love will never die,
But guess well cry come first of may.
The apple tree that grew for you and me,
I watched the apples falling one by one.
And I recall the moment of them all,
The day I kissed your cheek and you were mine.
(chorus…)
When I was small, and Christmas trees were tall,
Do do do do do do do do do…
Dont ask me why, but time has passed us by,
Some one else moved in from far away.
5. HOW DEEP IS YOUR LOVE
I know your eyes in the morning sun
I feel you touch me in the pouring rain
And the moment that you wander far from me
I wanna feel you in my arms again
And you come to me on a summer breeze
Keep me warm in your love and then softly leave
And its me you need to show
Chorus:
How deep is your love
I really need to learn
cause were living in a world of fools
Breaking us down
When they all should let us be
We belong to you and me
I believe in you
You know the door to my very soul
You’re the light in my deepest darkest hour
You’re my saviour when I fall
And you may not think
I care for you
When you know down inside
That I really do
And it’s me you need to show
Chorus
Repeat and fade
6. TOO MUCH HEAVEN
Chorus:
Nobody gets too much heaven no more
It’s much harder to come by
I’m waiting in line
Nobody gets too much love anymore
It’s as high as a mountain
And harder to climb
Oh you and me girl
Got a lot of love in store
And it flows through you
And it flows through me
And I love you so much more
Then my life..i can see beyond forever
Evrything we are will never die
Loving’s such a beautiful thing
Oh you make my world.. a summer day
Are you just a dream to fade away
Chorus..
You and me girl got a highway to the sky
We can turn away from the night and day
And the tears we had to pay(u had to cry)
You’re my life..
I can see a new tomorrow
Evrything we are will never die
Loving’s such a beautiful thing
When you are to me, the light above
Made for all to see our presious love
Chorus..
Love is such a beautiful thing
You make my world a summer day
Are you just a dream to fade away
Chorus..
Nobody gets too much love anymore
Its as wide as a river and harder to cross
Trong chuyên mục Nhạc Xanh ngày hôm nay, mình xin được giới thiệu với các bạn một tác phẩm guitar Tây Ban Nha rất nổi tiếng trong giới guitar cổ điển. Đó là bản “Asturias – Leyenda” của nghệ sĩ piano kiêm nhà soạn nhạc người Tây Ban Nha Isaac Albeniz. Chắc cạn bạn sẽ rất ngạc nhiên tại sao bản nhạc này lại được nhiều người biết đến như một tác phẩm guitar cổ điển, không phải là piano?
1) Tiểu sử:
Isaac Albeniz (29/5/1860 – 18/5/1909) là nghệ sĩ piano người Tây Ban Nha đồng thời là nhà soạn nhac nổi tiếng với các tác phẩm mang âm hưởng nhạc dân gian dành cho piano. Ông được xem là thần đồng bởi ông từng trình tấu ở độ tuổi lên 4.
Năm 1883 ông làm học trò của nhà soạn nhạc Felipe Pedrell, là người có công khuyến khích Albéniz viết các tác phẩm về Tây Ban Nha như Suite Espanola, Op. 47. Trong đó đoạn thứ 5 “Asturias – Legenda” là bài tập guitar cổ điển quen thuộc ngày nay, cũng như nhiều tác phẩm khác của Albéniz, mặc dù nguyên thủy nó được viết cho piano. Người chuyển soạn các tác phẩm của Albéniz sang cho guitar cổ điển nổi tiếng nhất là Francisco Tárrega.
Albéniz sống ở London va Paris trong thập niên 1890, chủ yếu viết các tác phẩm cho sân khấu. Từ 1900 ông trở lại viết nhạc cho dương cầm. Từ 1905 đến 1909, ông viết tác phẩm nổi tiếng nhất của mình, như tổ khúc Iberia (1908).
Albéniz mất ngày 18/5/1909 ở tuổi 48 tại Cambo-les-Bains được mai táng ở nghĩa trang Sudoest, Barcelona (Cécilia Sarkozy, vợ cũ của đương kim tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy là chắt của Isaac Albéniz)
2) “Asturias – Leyenda”:
Isaac Albeniz viết tác phẩm này vào đầu những năm 1890, hầu như là ở London (nơi ông đang sống, biểu diễn và sáng tác). Bản Leyenda (Asturias) của Albeniz là tác phẩm thuộc loại “hình tượng”, trong đó mô tả những câu chuyện thần thoại, từ những trận sấm sét trong Kinh Thánh cho tới những trận động đất có sức tàn phá ác liệt. Ẩn chứa trong “Asturias – Leyenda” của ông là nỗi nhớ quê hương tha thiết, những âm thanh của giai điệu Flamenco, sự cổ kính và những giá trị của người Moor vùng Andalucia.
Sau đây là video clip bài “Asturias – Leyenda” do nghệ sĩ guitar cổ điển trứ danh John Williams biểu diễn. Mời các bạn thưởng thức và chúc các bạn một tuần thật vui! 🙂
Hôm nay chúng ta hãy cùng nghe một bài hát từ trong lòng khu phố Chelsea ở New York City.
”Chelsea morning” hay Buổi sáng Chelsea do chị Joni Mitchell sáng tác.
Bài hát có cảm hứng bắt nguồn từ căn nhà của chị Mitchell ở khu phố Chelsea và nhịp sống của thành phố New York. Căn nhà chị được trang trí rất nghệ thuật, với những mảnh kính ngả màu được nhặt trên các đường phố, những tấm kính của một ngôi nhà đổ vỡ, của mắc dây treo quần áo.
Tưởng tượng nghệ thuật của bài hát rất cao, có lẽ xuất phát từ vốn kinh nghiệm của chị Joni Mitchell trong lĩnh vực nghệ thuật tượng hình. Tuy nhiên, sức mạnh của bài hát là do ở nó nói lên sự bình thường của cuộc sống–ánh nắng qua cửa sổ, bửa điểm tâm bình thường, người qua phố, bồ câu trên vĩa hè… Đây là New York bình thường của một ngưởi New Yorker, không phải là New York phồn hoa đô hội như du khách thấy.
“Chelsea morning” có hai phiên bản nổi tiếng, bản một của Joni Michell (tác giả) vào năm 1969 và bản hai của Judy Collins hát, vào mùa hè năm 1969.
Vợ chồng tổng thống Bill và Hillary Clinton, khi ở Luân Đôn, nước Anh nghe Chelsea morning do Judy Collins hát hay quá, đã quyết định đặt tên con gái, nếu họ sẽ có con gái là Chelsea, ngay giờ phút đó. Chelsea Morning
Music and lyrics by Joni Mitchell
Woke up, it was a chelsea morning, and the first thing that I heard
Was a song outside my window, and the traffic wrote the words
It came a-reeling up like christmas bells, and rapping up like pipes and drums
Oh, wont you stay
Well put on the day
And well wear it till the night comes
Woke up, it was a chelsea morning, and the first thing that I saw
Was the sun through yellow curtains, and a rainbow on the wall
Blue, red, green and gold to welcome you, crimson crystal beads to beckon
Oh, wont you stay
Well put on the day
Theres a sun show every second
Now the curtain opens on a portrait of today
And the streets are paved with passersby
And pigeons fly
And papers lie
Waiting to blow away
Woke up, it was a chelsea morning, and the first thing that I knew
There was milk and toast and honey and a bowl of oranges, too
And the sun poured in like butterscotch and stuck to all my senses
Oh, wont you stay
Well put on the day
And well talk in present tenses
When the curtain closes and the rainbow runs away
I will bring you incense owls by night
By candlelight
By jewel-light
If only you will stay
Pretty baby, wont you
Wake up, its a chelsea morning
Chelsea morning hát lên không khí vui tươi, hăng say sống động của thành phố New York, của một American morning.
Thành phố hào hứng, thành phố nhanh nhẹn, thành phố chính xác, thành phố hết mình. Thành phố hứng khởi làm việc không mệt mỏi.
Thành phố của những toa tàu điện ngầm cũ kỹ từ hơn 100 năm trước vui vẻ lao đi nghiêng ngả. Của anh nhân viên tài chính phố Wall óng mượt bước đi hối hả. Của chị phục vụ nhà hàng nhanh nhẹn, của cô đào diễn Broadway nhảy múa hết mình, của anh lái xe chuyển hàng hóa ra vào thành phố suốt đêm, của bác da đen hát vang to “Stand by me” không cần míc trước cửa bảo tàng nghệ thuật.
Của những bản nhạc rộn rã của phố xá và xe cộ từ sớm tinh mơ, đánh thức dậy thật nhanh anh bạn đang ngủ trên tầng 15 của một tòa nhà 80 tầng, với cánh cửa sổ nhìn ra những tòa nhà trăm tầng khác, và phố xá thoi đưa ở dưới.
Dưới đây là hai youtube movies của Chelsea morning. Bản một do Joni Mitchell trình diễn năm 1969 và bản hai do Judy Collins hát.
Chúc các bạn một ngày hứng khởi,
Hiển
.
Chelsea morning do chị Joni Mitchell hát vào năm 1969
Người Hoa thường coi trọng đến sự hòa hợp giữa con người và thiên nhiên, đến cách đối nhân xử thế của từng cá nhân và đặc biệt chú trọng đến ý thức tỉnh ngộ của từng con người, do đó trong truyền thống tư tưởng của người Hoa thì “无人合一” tức “Vô nhân hợp nhất” là chủ đề hay được bàn luận nhất.
Có thể nói , Trung Quốc có một hệ thống tư tưởng rất hoàn chỉnh đã được hình thành từ mấy nghìn năm nay và có ảnh hưởng sâu sắc đến người dân của họ, mà nòng cốt của hệ thống tư tưởng này phải kể đến: Khổng Tử, Mạnh Tử (đã sáng lập ra tư tưởng Nho giáo); Lão Tử, Trang Tử (đã sáng lập ra tư tưởng đạo giáo); và tư tưởng phật giáo. Trong đó, ảnh hưởng đến Trung Quốc nhiều nhất và sâu đậm nhất vẫn là tư tưởng Nho Giáo . Khổng Tử Khổng Tử :( Trước Công Nguyên 551- Trước Công Nguyên 479), họ Khâu, tên Trọng Ni, người Lỗ quốc. Là một trong những nhà tư tưởng, nhà giáo và là người sáng lập ra tư tưởng Nho giáo vĩ đại của Trung Quốc. Tổ tiên của Khổng Tử là dòng tộc cao quý thời Tống quốc, là hậu duệ của Ân Vương Thất. Cha Khổng Tử mất từ khi ông còn nhỏ, sau đó hoàn cảnh gia đình càng ngày càng sa sút. Mặc dù nghèo khổ nhưng ông lại rất quyết tâm học, ông đã từng nói: “三人行,必有我师焉” (Tam nhân đồng hành tất hữu ngã sư), tức “Trong 3 người bất kì cùng đi bộ với nhau, tôi nhất định sẽ tìm ra một điều gì đó của họ để học hỏi” .
Về sau, ông bắt đầu thu nhập học trò, tổng cộng khoảng hơn 3000 học trò, trong đó có không ít trẻ em thuộc gia đình nghèo khó, và chính ông đã làm thay đổi truyền thống chỉ có con em nhà quý tộc mới đủ tư cách đi học đã được lưu truyền trước đó. Về cuối đời ông có biên soạn cuốn Cổ Thư Tịch, trong đó có lưu giữ rất nhiều những dữ liệu thời cổ đại, và cho đến nay rất nhiều các tác phẩm mà chúng ta được đọc đều do thông qua ông biên soạn.
Rất nhiều tư tưởng của Khổng Tử cho đến nay vẫn rất giá trị, ví dụ : Khổng Tử làm phong phú nội hàm của từ :”仁”tức “nhân”. Ông cho rằng, “nhân” có nghĩa là phải biết quan tâm đến người khác, nếu những việc gì mà bản thân không thích thì cũng không nên ép người khác làm. Ông còn cho rằng trong việc xử lý quan hệ giữa con người với con người cần phải công nhận sự khác biệt giữa người với người, không nên dùng một chuẩn mực nhất định để đánh giá đối phương, có vậy mới tồn tại một xã hội công bằng và ổn định.
Trong lĩnh vực giáo dục, ông dùng phương pháp khêu gợi để rèn luyện tính độc lập suy nghĩ của học trò, ngoài việc học những kiến thức trong sách vở ông còn khuyến khích học trò của mình phải có những quan điểm riêng …
Tư tưởng của ông đã được người sau ghi nhận và đến nay đã trở thành một trong những luồng tư tưởng chủ yếu của người dân Trung Quốc, đồng thời tư tưởng này càng ngày càng được truyền bá rộng rãi đến các nước xung quanh. “Tứ Thư Ngũ Kinh” và Tư tưởng Nho Giáo
Tứ Thư: Thực ra “Tứ Thư” tồn tại từ thời đầu nhà Tần, nhưng lúc đó chỉ chưa tồn tại cách gọi “Tứ Thư” mà thôi. Tứ thư gồm 4 quyển sách: Đại Học, Trung Dung, Luận Ngữ, và Mạnh Tử.
Quyển Mạnh Tử là cuốn sách tóm tắt về Tư tưởng chính trị của Mạnh Kha. Còn Đại Học và Trung Dung là hai chương trong “Lễ Kí “, chủ yếu giảng về cách học hỏi và cách sửa chữa những khuyết điểm của bản thân . Đến thời Nam Tống, Chu Hi đem phân khai thành hai cuốn riêng biệt, đồng thời bổ sung chú giải thêm, và kết hợp với Luận Ngữ, hợp thành giáo trình sơ cấp cho những người học Nho Giáo, và lấy tên là “Tứ Thư”.
Đại Học vốn chỉ là một chương trong sách Lễ kí (Kinh Lễ sau này), được Tăng Sâm, học trò của Khổng Tử chế hóa thành. Tuy nhiên, nó chỉ thuộc bộ Tứ thư vào thời Tống, với sự xuất hiện cuốn Tứ thư tập chú của Chu Hi. Sách Đại học gồm 2 phần: Phần đầu có một chương gọi là Kinh, chép lại các lời nói của Khổng Tử. Phần sau là giảng giải của Tăng Tử (Tăng Sâm), gọi là Truyện, gồm 9 chương.
Đại học đưa ra ba cương lĩnh (gọi là tam cương lĩnh), bao gồm: Minh minh đức (làm sáng cái đức sáng), Tân dân (làm mới cho dân. Có khi viết là thân dân, nghĩa là gần gũi với dân), và Chỉ ư chí thiện (dừng ở nơi chí thiện).
Ba cương lĩnh này được cụ thể hóa bằng 8 điều mục nhỏ (gọi là bát điều mục), bao gồm:
— Cách vật (tiếp cận và nhận thức sự vật)
— Trí tri (đạt tri thức về sự vật)
— Thành ý (làm cho ý của mình thành thực)
— Chính tâm (làm cho tâm của mình được trung chính)
— Tu thân (tu sửa thân mình)
— Tề gia (xếp đặt mọi việc cho gia đình hài hòa)
— Trị quốc (khiến cho nước được an trị)
— Bình thiên hạ (khiến cho thiên hạ được yên bình).
Trung Dung do cháu nội của Khổng Tử là Tử Tư làm ra cũng trên cơ sở một thiên trong Kinh Lễ. Tử Tư là học trò của Tăng Tử. Tử Tư dẫn những lời của Khổng Tử nói về đạo “trung dung”, tức là nói về cách giữ cho ý nghĩ và việc làm luôn luôn ở mức trung hòa, không thái quá, không bất cập và phải cố gắng ở đời theo nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, cho thành người quân tử.
Sách Trung Dung chia làm hai phần:
* Phần 1: từ chương 1 đến chương 20, là phần chính, gồm những lời của Khổng Tử dạy các học trò về đạo lý trung dung, phải làm sao cho tâm được: tồn, dưỡng, tĩnh, sát; mức ở được gồm đủ: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín cho hòa với muôn vật, hợp với lòng Trời.
* Phần 2: từ chương 21 đến chương 33, là phần phụ, gồm những ý kiến của Tử Tư giảng giải thêm cho rõ ràng ý nghĩa và giá trị của hai chữ trung dung..
Luận Ngữ là sách sưu tập ghi chép lại những lời dạy của Khổng Tử và những lời nói của người đương thời. Sách Luận Ngữ gồm 20 thiên, mỗi thiên đều lấy chữ đầu mà đặt tên, và các thiên không có liên hệ với nhau. Sách Luận Ngữ dạy đạo quân tử một cách thực tiễn, miêu tả tính tình đức độ của Khổng Tử để làm mẫu mực cho người đời sau noi theo.
Mạnh tử: Do học trò của Tử Tư (cháu nội Khổng Tử) là Mạnh Kha và các học trò của Mạnh Kha biên soạn. Sách Mạnh Tử gồm 7 thiên, chia làm 2 phần: Tâm học và Chính trị học.
* Tâm học: Mạnh Tử cho rằng mỗi người đều có tính thiện do Trời phú cho. Sự giáo dục phải lấy tính thiện đó làm cơ bản, giữ cho nó không mờ tối, trau dồi nó để phát triển thành người lương thiện. Nhân và nghĩa vốn có sẵn trong lương tâm của người. Chỉ vì ta đắm đuối vào vòng vật dục nên lương tâm bị mờ tối, thành ra bỏ mất nhân nghĩa.
* Chính trị học: Mạnh Tử chủ trương “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” (Dân là quí, quốc gia kế tiếp, vua là thấp nhất). Đây là một tư tưởng rất mới và rất táo bạo trong thời quân chủ chuyên chế đang thịnh hành.
“Ngũ Kinh” gồm Kinh Dịch, Kinh Thi, Kinh Thư (“Thượng Thư”) , Kinh Lễ (“Lễ Kí”) và Kinh Xuân Thu, 5 bộ điển tịch.
1. Kinh Dịch: nói về các tư tưởng triết học của người Trung Hoa cổ đại dựa trên các khái niệm âm dương, bát quái,…
2. Kinh Thi: sưu tập các bài thơ dân gian có từ trước Khổng Tử, nói nhiều về tình yêu nam nữ. Khổng Tử san định thành 300 thiên nhằm giáo dục mọi người tình cảm trong sáng lành mạnh và cách thức diễn đạt rõ ràng và trong sáng.
3. Kinh Thư: ghi lại các truyền thuyết, biến cố về các đời vua cổ có trước Khổng Tử. Khổng Tử san định lại để các ông vua đời sau nên theo gương các minh quân như Nghiêu, Thuấn chứ đừng tàn bạo như Kiệt, Trụ.
4. Kinh Lễ: ghi chép các lễ nghi thời trước. Khổng Tử hiệu đính lại mong dùng làm phương tiện để duy trì và ổn định trật tự.
5. Kinh Xuân Thu: ghi lại các biến cố xảy ra ở nước Lỗ, quê của Khổng Tử. Khổng Tử không chỉ ghi chép như một sử gia mà theo đuổi mục đích trị nước nên ông chọn lọc các sự kiện, ghi kèm các lời bình, sáng tác thêm lời thoại để giáo dục các bậc vua chúa.
Thời kì Minh Thanh, mỗi lần thi cử đều dựa vào những câu văn trong “Tứ Thư Ngũ Kinh ” để ra đề, thí sinh bắt buộc phải dựa vào cuốn “Tứ Thư ” của Chu Hi để giải thích câu chữ trong bài. Và tất nhiên, “Tứ Thư Ngũ Kinh ” đã trở thành cuốn sách luyện thi quan trọng của các phần tử trí thức. Và cho đến nay, tư tưởng hàm ẩn trong “Tứ Thư Ngũ Kinh ” cũng vẫn còn ảnh hưởng đến con người thời nay . Lão Tử Lão Tử, Trang Tử và tư tưởng Đạo Giáo :
Lão Tử là người đầu tiên sáng lập ra tư tưởng Đạo Giáo của Trung Quốc (vào giai đoạn cuối của thời kì Xuân Thu ). Lão Tử, họ Lý, tên Nhĩ, ông đã từng làm người coi quản thư sách trong triều đình.Tác phẩm của Lão Tử, Đạo Đức Kinh, mặc dù chỉ có hơn 5000 chữ, nhưng có ảnh hưởng rất sâu đậm đến đời sau.
Lão Tử dùng “道” tức “đạo” để giải thích sự hình thành và diễn biến của vũ trụ, ông cho rằng tư tưởng và hành vi của con người cũng nên tuân theo đặc điểm và quy luật của chữ “đạo”, thuận theo tự nhiên, dùng nhu để trị cương, bởi vì những vật bề ngoài có vẻ yếu mềm nhưng bản chất lại thường rất cứng rắn.
Về sau Trang Tử đã gánh vác và tiếp tục phát triển tư tưởng của Lão Tử. Trang Tử tên là Chu, ông đã từng làm một quan nhỏ trong Sơn Viên tại Mông Cổ của Tống quốc. Trong tác phẩm của mình ông đã kế tiếp và phát triển quan điểm “道法自然” tức “Đạo Pháp Tự Nhiên” của Lão Tử, chủ trương đem vạn vật bên ngoài và bản thân tương đồng với nhau, hay đem sự sống và cái chết tương đồng với nhau.
Vì tư tưởng của Lão Tử và Trang Tử có nhiều điểm rất giống nhau cho nên mọi người có thói quen gọi tên :Lão Trang .
Tư tưởng Phật Giáo
Ngay từ triều Hán, sau khi Phật Giáo được hình thành tại Ấn Độ đã được truyền bá vào Trung Quốc. Trong quá trình phát triển tại Trung Quốc Phật Giáo đã không ngừng được Trung Quốc hóa , và có ảnh hưởng sâu sắc đến hệ thống tư tưởng Tôn Giáo của người Trung Quốc — Tư Tưởng Phật Giáo.
Tùy – Đường là thời kỳ Phật Giáo được Trung Quốc hóa phát triển nhất. Cùng với sự thống nhất của quốc gia, sự phát triển vượt bậc về văn hóa và kinh tế của nước nhà, Phật Giáo đã đạt được mức phát triển chưa từng có từ xưa đến nay. Phật Giáo trong quá trình hòa nhập với nền văn hóa truyền thống của Trung Quốc,đã kết nạp không ít tư tưởng Nho Giáo và Đạo Giáo, hình thành nên một vài Tôn phái Phật Giáo Trung Quốc hóa. Trong đó, Thiền Tông là phái mạnh nhất. Tư tưởng Phật Giáo đươc hình thành đã lấp kín những thiếu sót trong tư tưởng truyền thống và làm phong phú thêm nền văn hóa của Trung Quốc.
Hôm nay chúng ta sẽ nếm thử một tí vị âm nhạc Phật giáo. Trong nhiều ngàn năm, Phật giáo chú trọng đến lặng yên hơn là âm thanh, cho nên âm nhạc không phải là một phần của truyền thống Phật giáo. Tuy nhiên tụng kinh trầm bỗng cũng là một loại âm nhạc, nhằm mục đích làm cho tâm tĩnh lặng, hơn là cất cánh bay cao như âm nhạc tôn giáo Âu Mỹ.
Những năm gần đây âm nhạc đi vào Phật giáo nhiều hơn, và nhiều bài tụng trở thành trầm bỗng hơn và có nhạc cụ phụ họa, bên cạnh một số các bản nhạc hoàn toàn tân thời. Tại Viêt Nam, cổ nhạc, nhất là nhạc cải lương miền nam, cũng bắt đầu giữ một phần khá quan trọng trong sinh hoạt Phật giáo những năm gần đây. Thực ra, trong rất nhiều tuồng cải lương xưa nay, triết lý sống của Phật giáo đóng một vai trò rất quan trọng.
Sau đây chúng ta sẽ thưởng thức một số Video nhạc Phật giáo:
Video đầu tiên là bài hát tụng Bát Nhã Tâm Kinh bằng tiến Sanskrist. Bản này khởi đầu, với vận tốc rất nhanh, bằng câu thần chú Bát Nhã. Câu chú này thực ra nằm ở cuối kinh. “Gate gate paragate parasamgate bodhi svaha” — Qua rồi, qua rồi, qua bờ rồi, qua bờ hết rồi, giác ngộ rồi, vậy đó).
Video sau đó là tụng Bát Nhã Tâm Kinh bằng kỹ thuật rung tiếng từ lồng ngực. Đây là một kỹ thuật tu tập rất cổ điển của Phật giáo Tây Tạng. Loại phát âm này tạo rất nhiều rung động trong cơ thể và tâm trí con người, giúp tâm trở thành trống rỗng. (Tương tự như phát âm chữ “Om” thường xuyên trong thiền định Yoga).
Video thứ ba là bài tụng Chú Đại Bi bằng tiếng quan thoại phiên âm từ tiếng phạn Sanskrist. Chú Đại Bi được xem là bài chú gợi lên thần lực của Quán Thế Âm Bồ tát. Đại bi là great compassion. Từ Bi: Từ là yêu người, mang cái vui đến cho người. Bi là yêu người, làm cho người hết khổ. Từ bi là “ban vui, cứu khổ”. Bồ tát Quán Thế Âm là “Thiên thủ thiên nhãn vô ngại đại bi tâm.” Thiên thủ thiên nhãn là nghìn tay nghìn mắt; nghìn mắt để thấy được tất cả nỗi khổ của từng chúng sinh; nghìn tay để có thể nâng đở từng chúng sinh. “Vô ngại” là “không vướng mắc”, tức là “không phân biệt.” “Đại bi tâm” là “quả tim từ bi vĩ đại”, là the great compassionate heart.
Video thứ tư là Chú Đại Bi tụng bằng tiếng phạn Sanskrist trực tiếp.
Video thứ năm là hát tụng “Om Mani Padme Hum,” lời thần chú thông dụng nhất trong Phật giáo Tây tạng.
Video thứ 6 là một bản tân nhạc về 12 lời nguyện của Quán Thế Âm Bồ tát. Nhạc của anh Võ Tá Hân (hiện sống ở Singapore).
Video thứ bảy là một bản hát cải lương Phật giáo.
Video thứ tám là vũ khúc Thiên Thủ Quán Âm của các vũ công câm điếc Trung quốc.
Mời các bạn thưởng thức.
.
Bát Nhã Tâm Kinh (hát tụng bằng tiếng phạn Sanskrist).
.
Bát Nhã Tâm Kinh (tụng bằng rung tiếng từ ngực)
.
Chú Đại Bi (Tiếng Quan Thoại phiên âm từ tiếng Phạn)
.
Chú Đại Bị (Tiếng Sanskrist)
.
Om Mani Padme Hum (cầu nguyện của Phật giáoTây tạng, “The jewel in the lotus”)
.
Kinh Phổ Môn (12 lời nguyện của Quán Thế Âm Bồ Tát) (nhạc: Võ Tá Hân)
Có lẽ bản nhạc cổ điển nổi tiếng nhất ngày nay là bản Ave Maria của Franz Schubert. Thực ra có 3 bản Ave Maria cổ điển và cả 3 đều nổi tiếng. Ngoài bản của Schubert, còn một bản của Bach/Gounod (do Guonod dùng một đoạn nhạc của Bach sọan thành) và một bản của Giulio Caccini. Nhưng có lẽ bản của Schubert, và kế tiếp là của Bach, là được yêu chuộng nhất ngày nay.
Maria là mẹ của chúa Giêsu. Trong giáo hội cải cách, Tin Lành, Maria chẳng có một vai trò đặc biệt nào cả. Nhưng trong công giáo và chính thống giáo, Maria, gọi là Đức Mẹ, là hình ảnh người nữ đầy tình yêu và bảo bọc, như Bồ tát Quán Thế Âm trong phật giáo, hay Mẹ Việt Nam trong văn hóa Việt. Continue reading Ave Maria→
Hôm nay, mình giới thiệu với các bạn bài hát “Sing” – “Hát lên đi”.
Hát lên đi, hát về những điều tốt đẹp. Hát mạnh lên đi, về những điều làm bạn hạnh phúc. Hát đơn giản, để bài hát ngân suốt cuộc đời bạn. Sợ gì ư? Đừng sợ gì, bài hát là bài hát của bạn. Đơn giản là hát, hát lên đi.
”Sing” là bài hát phổ biến trong chương trình truyền hình giáo dục trẻ em Phố Vừng (Sesame Streeet), một chương trình tiên phong về giáo dục của Mỹ những năm 1960s. Về sau “Sing” được trình diễn bởi anh em nhà Carpenters và trở nên nổi tiếng. “Sing” đạt được thứ hạng 3 trong Billboard Hot 100.
Khởi thủy, “Sing” được viết bởi anh Joe Raposo của chương trình Phố Vừng. Về sau, chị Karen Carpenter mê thích bài hát bởi ca từ đơn giản đầy ước ao, anh em cô đã hòa âm bài hát theo kiểu nhà Carpenters.
Năm 1974, anh em nhà Carpenters biểu diễn và thu âm Album “Live in Japan” với bài “Sing” phiên bản tiếng Nhật cùng giàn đồng ca trẻ em Kyoto. Bài hát “Sing” sau đó rất phổ biến với trẻ em Nhật.
Sau phần lời nhạc, chúng ta có các video sau: Bài “Sing” đầu tiên trên Phố Vừng 1971, Karen Capenter hát tiếng Nhật ở Nhật (1974), Các em bé 5 tuổi ở trương mầm non quốc tế ở Nhật hát Sing, Keiko Touge (với giọng hát khá giống giọng Karen Carpenter) hát Yesterday Once More và Sing.
“Sing”
Sing, sing a song
Sing out loud
Sing out strong
Sing of good things not bad
Sing of happy not sad
(*) sing, sing a song
Make it simple to last
Your whole life long
Don’t worry that it’s not
Good enough for anyone
Else to hear
Just sing, sing a song
La la la la la
La la la la la la…
Sing, sing a song
Let the world sing along
Sing of love there could be
Sing for you and for me
.
Bài hát “Sing” đầu tiên, trên kênh truyền hình Phố Vừng năm 1971.
.
Karen Carpenter hát “Sing” bằng tiếng Nhật (1974)
.
”Sing” được biểu diễn bởi các em bé 5 tuổi tại trường mầm non quốc tế ở Nhật (200?)
.
Keiko Touge (Nhật) có giọng hát khá giống giọng Karen Carpenter trong Yesterday Once More, và Sing!
Mỗi lần đi thăm các Cung Điện Hoàng Gia hay các Viên Lâm trên đất nước Trung Quốc, tôi thường được nghe những thông tin thú vị về mối liên quan giữa kiến trúc xây dựng của các Cung đình và các con số nơi đây (đặc biệt là số 9 ). Cố cung ở Bắc Kinh
Người xưa cho rằng số lẻ là dương, số chẵn là âm, mà “9” là số lẻ lớn nhất, tức coi “9” là số cực dương. Do đó, số 9 thường được dùng để trang trí trong các Cung Điện nhằm tôn vinh vị trí cao nhất của Hoàng Đế. Ví dụ như trên các cửa ra vào trong Cung Đình đều được đóng đinh theo chiều dọc và ngang, mỗi chiều 9 đinh, tổng cộng là 81 đinh. Ngay cả Thạch Môn (cửa được làm bằng đá đặc) của Đinh Lăng Địa Cung (tại Bắc Kinh) cũng được khắc 99 đinh, hay khi đến Lạc Dương thăm Miếu Quan Đế cũng thấy trên cánh cửa Miếu được khắc 99 đinh. Dù là Quan Vũ không phải là hoàng đế, ngưởi ta tôn kính ông như vua, sau khi ông mất người dân đã đóng 99 đinh lên cánh cửa Miếu để tỏ lòng tôn kính ông).
Khi đến thăm các Hoàng Cung, nếu bạn chú ý một chút bạn sẽ phát hiện ra Hoàng Cung có kiến trúc 9 sân sướng, hay khi đến thăm Miếu Khúc Phụ Khổng (một trong những Miếu được xây dựng với quy mô lớn nhất tại Trung Quốc hiện nay) cũng có kiến trúc 9 sân sướng (thông qua đó có thể thấy Đế Vương rất coi trọng và ưu ái đại thánh Khổng Tử ).
Thông qua thống kê , Cố Cung của Bắc Kinh xây dựng khoảng hơn 9900 gian phòng (cũng có người thích nói quá đi một chút rằng Cố Cung có khoảng 9999 gian phòng).
Người Trung Quốc cho rằng hai số lẻ 9 và 5 khi kết hợp với nhau sẽ tượng trưng cho sự tôn nghiêm của Đế Vương . Do đó, Thành Lầu của Thiên An Môn được xây dựng rộng 9 gian và sâu 5 gian, hay cấu trúc xây dựng 9 dầm 18 trụ của Cố Cung Giác Lầu và kiến trúc 9 tường rồng của Cố Cung tại Đại Đồng và Bắc Hải …đều đại diện cho vận may và sự uy nghiêm của Hoàng Đế . Cầu đá 17 vòm của Di Hòa Viên
Di Hòa Viên (một Viên Lâm Hoàng Gia nổi tiếng của Trung Quốc ): Trong Viên có một chiếc cầu đá 17 vòm, chiếc cầu đá này cũng kết duyên với số 9 đấy các bạn ạ. Không tin các bạn có thể kiểm tra điều tôi nói bằng cách đếm từ bất kì đầu cầu nào đến vòm chính giữa của cầu, thì thứ tự của vòm chính giữa cũng đều là số 9 đấy.
Hoàn Khâu Đàn trong Thiên Đàn (là nơi ở của Hoàng Đế Tế Thiên , thời Minh Thanh) có thể coi là một tòa kiến trúc số 9 rất đặc biệt, Đàn được chia làm 3 phần: phần trên, phần giữa, phần dưới. Tầng trên do 9 tấm đá đồng tâm hợp thành, vòng tròn thứ nhất (tức vòng tròn trong cùng) do 9 miếng đá hình quạt tạo thành, vòng hai do 18 miếng đá (tức 9×2), vòng ba do 27 miếng đá (tức 9×3)… cho đến vòng thứ 9 do 81 miếng đá hợp thành (tức 9×9). Hoàn khâu đàn
Ngoài ra số 9 còn được dùng trong các buổi đại lễ hay các buổi yến tiệc của Cung Đình Đại Thanh, ví dụ số phẩm được chuẩn bị là 99 phẩm, hay sinh nhật của Đế Vương khi tổ chức các tiết mục giải trí đều phải đủ 81 tiết mục, nhằm ngụ ý chúc Đế Vương luôn gặp vận may và trường thọ .
Giờ khi đi thăm các Cung Đình hay các Viên Lâm của Trung Quốc các bạn hãy thử chú ý đến sự tồn tại của các con số đi nhé, chúc các bạn một ngày vui vẻ.
El Choclo hay “Kiss of Fire” có lẽ là bản Tango kinh điển nhất của mọi thời đại. Giai điệu El Choclo hát bật lên từng bước nhảy trên mỗi góc phố của Buenos Aires, thủ đô Argentina, ngân lên tất cả những gì thuộc về điệu Tango mê say rực lửa.
Anh Angel G. Villoldo, một nhà soạn nhạc Argentina là tác giả của bản El Choclo bất hủ này. Bản nhạc được trình diễn đầu tiên ở nhà hàng ‘El Americano”, Buenos Aires vào năm 1903.
El Choclo không lời được thu âm rất nhiều ở những buổi hòa nhạc khiêu vũ, đặc biệt ở Argentina. Tới năm 1952, một số phiên bản có lời được thu âm. Nổi tiếng nhất là bản do chị Georgia Gibbs hát, đứng thứ 2 trong xếp hạng của Billboard.
Theo thời gian, rất nhiều ca sĩ nổi tiếng hát El Choclo, như Louis Armstrong, Nat King Cole, Connie Francis. Ở nhiều đường phố Nam Mỹ, Mỹ và Châu Âu, giai điệu El Choclo đem niềm vui và hứng khởi cho bao người đi đường.
Năm 2000, nhạc sĩ Helmut Lotti người Bỉ đã sáng tác lời mới của ông cho El Choclo. Hiện nay, nhiều sàn khiêu vũ ỏ Mỹ và Việt Nam hay chơi bản El Choclo với lời mới này.
Dưới đây chúng ta có 3 videos. Video đầu tiên là piano solo với phụ họa của dàn nhạc. Video thứ hai là Georgia Gibbs hát lời Anh ngữ, Kiss of fire, năm 1952. Video thứ ba là biểu diễn guitar cổ điển do Roland Dyens hòa âm và trình tấu. Hai lời nhạc khác nhau theo sau video links.
El Choclo, piano với dàn nhạc phụ họa
.
El Choclo – Kiss Of Fire, do Georgia Gibbs hát năm 1952
.
El Choclo — Roland Dyens biểu diễn guitar cổ điển do chính anh soạn hòa âm
.
Kiss of Fire
Music by A. G. Vilodo and English Words by Lester Allen and Robert Hill
I touch your lips and all at once the sparks go flying
Those devil lips that know so well the art of lying
And though I see the danger, still the flame grows higher
I know I must surrender to your kiss of fire
Just like a torch, you set the soul within me burning
I must go on, I’m on this road of no returning
And though it burns me and it turns me into ashes
My whole world crashes without your kiss of fire
I can’t resist you, what good is there in trying?
What good is there denying you’re all that I desire?
Since first I kissed you my heart was yours completely
If I’m a slave, then it’s a slave I want to be
Don’t pity me, don’t pity me
Give me your lips, the lips you only let me borrow
Love me tonight and let the devil take tomorrow
I know that I must have your kiss although it dooms me
Though it consumes me, your kiss of fire
Since first I kissed you my heart was yours completely
If I’m a slave, then it’s a slave I want to be
Don’t pity me, don’t pity me
Give me your lips, the lips you only let me borrow
Love me tonight and let the devil take tomorrow
I know that I must have your kiss although it dooms me
Though it consumes me. your kiss of fire!!!
.
Music by A. G. Vilodo and English Words by Helmut Lotti
I hear the music in the streets of Buenos Aires
And I go down the road to find where people play it.
When I arrive I see the lovers dance a tango
And what I never heard before, their bodies say it.
I feel the music and I see the lovely lady –
The kind of music that can make a man go crazy –
She’s dancing all her cares away:
She’ll dance forever and a day;
For every tango tells the story of her soul.
Because the tango, it moves like burning fire:
It shows the secret passion, the power of desire.
And when she dances, it will always take her higher –
The tango rhythm is the rhythm of her heart.
I want to to tango . . . . . .
The dance of fire . . . . .
To feel the beating of the heart of Argentina
I have to dance with that senorita.
I want to tango . . . . .
Tango Argentino . . . .
One single tango with the lovely senorita –
A souvenir of Argentina in my heart.
Hôm nay Tố Uyên xin giới thiệu đến các bạn Cổ Cầm, một nhạc cụ rất cổ nhưng có âm hưởng rất phong phú và hai bản nhạc cổ cầm.
Cổ Cầm (hay còn gọi đàn Cầm,đàn bảy dây) là một trong những loại đàn khảy cổ nhất của Trung Quốc hiện nay. Từ thời Khổng Tử đàn Cầm đã là một trong những loại nhạc cụ thông dụng và được nhiều người ưa thích, âm thanh của đàn thanh cao, âm vang nên người xưa thường thông qua tiếng đàn để gửi gắm tình cảm và những lý tưởng vào trong đó.
Đến đời Đường, Cổ Cầm đã có pháp ký phổ chuyên riêng, trong pháp ký phổ có lưu lại vị trí của dây đàn, cách khảy đàn bằng tay trái tay phải …nhưng không trực tiếp ghi chép âm cao.
Pháp ký phổ dùng bộ thủ của chữ Hán, các chữ số, chữ giảm thể hợp thành và được gọi là Giảm Tự Phổ. Cho đến nay Ngũ Tuyến Phổ (năm dòng kẻ, hiện đang sử dụng) vẫn không thể thay thế được cách ghi chép tỉ mỉ và tính khoa học của Giảm Tự Phổ. Theo thống kê thì dùng Giảm Tự Phổ để ghi chép và lưu truyền các tác phẩm của Cổ Cầm có khoảng hơn 150 loại và hiện được coi là kho âm nhạc quý hiếm cần được bảo tồn.
Sau đây là một vài giới thiệu về cấu tạo của đàn Cổ Cầm:
Cổ Cầm dài khoảng 120-125cm, rộng khoảng 20cm, dày khoảng 6cm. Hình dáng của đàn được mô phỏng theo hình dáng Phượng Hoàng, toàn thân đàn tương ứng với thân Phượng Hoàng ( cũng có thể nói tương ứng với thân người ) bao gồm: đầu đàn, cổ đàn, vai đàn, lưng đàn, đuôi đàn, chân đàn. Phần phía trên đầu đàn được gọi là phần trán , đoạn dưới phần trán có nạm gỗ cứng để buộc dây đàn, gọi là Nhạc Sơn (hay Lâm Nhạc ) là phần cao nhất của đàn. Phần đáy đàn có hai rãnh âm, nằm ở phần giữa đáy đàn kích thước lớn gọi là Rãnh Long, nằm ở phần đuôi của đáy đàn kích thước nhỏ hơn gọi là Rãnh Phượng, đây gọi là trên núi dưới biển vừa có Rồng lại vừa có Phượng , tượng trưng cho đất trời vạn vật .
Nhạc Sơn giáp với trán đàn có nạm một thanh gỗ cứng gọi là Thừa Lô , phía trên Thừa Lô có 7 mắt dây dùng để cột dây đàn, phía dưới Thừa Lô có 7 Chẩn Cẩm dùng để điều chỉnh dây đàn. Phía ngoài cùng của đầu đàn có mắt Phượng và phần bảo vệ Chẩn Cẩm.
Phần đuôi đàn cũng được nạm bằng gỗ cứng , trên mặt gỗ được khắc những rãnh nông dùng để cột dây đàn ( được gọi là Long Lợi ) , hai bên Long Lợi là Quán Góc ( hay còn gọi Tiêu Vĩ ).
7 dây của đàn được cột từ phần Thừa Lô, mắc qua phần Nhạc Sơn, Long Lợi, sau đó chuyển hướng xuống đôi Túc Nhạn nằm ở phần đáy đàn. Còn phần mặt của đàn có 13 Cầm Huy, tượng trưng cho một năm có 12 tháng và một tháng nhuận.
Phần hộp đàn của Cổ Cầm là cả một khúc gỗ được khoét rỗng tạo thành , thành hộp khá dày và ghồ ghề , do đó âm thanh của đàn thanh cao , ý vị .
Phần đầu của bụng đàn có 2 rãnh âm là Thiệt Huyệt và Thanh Trì , phần đuôi của bụng đàn có một rãnh âm được gọi là Ý Chiểu. Đối ứng với Long Trì và Phượng Chiểu đều có phần nạp âm riêng. Phần đầu của nạp âm Long Trì có Thiên Trụ, phần đuôi có Địa Trụ, làm cho khi khảy đàn âm phát ra bị giữ lại không thoát đi được.
Vì đàn không có Phẩm (cột) nên khi khảy đàn sẽ linh động hơn, lại có những ưu điểm sau: dây đàn khá dài, độ rung của dây đàn lớn, dư âm dài … do đó Cổ Cầm mang những nét đặc sắc riêng của thủ âm.
Sau đây mời các bạn thưởng thức 2 bản Cổ Cầm. Bản đầu có cổ cầm, sáo và giọng ca. Bản sau là Nước Chảy, do Qong Yi độc tấu cổ cẩm.
Beatbox là nghệ thuật dùng âm thanh miệng để tạo âm thanh như các nhạc cụ. Mời các bạn thưởng thức Naturally 7, vừa hát vừa beatbox, như là một dàn nhạc đầy đủ ca sĩ và các nhạc cụ.