Category Archives: Văn Hóa

Woody Guthrie, người nghệ sĩ bình dân vĩ đại

This Land Is Your Land
Chào các bạn,

Có lẽ trong thế kỷ 20, ca sĩ-nhạc sĩ đặt nền móng và để lại ảnh hướng lớn nhất cho dòng nhạc folks của Mỹ là Woody Guthrie. Ông để lại cho nền âm nhạc Mỹ hàng trăm bài hát nhạc folks,nhạc chính trị, nhạc truyền thống và những bài hát trẻ em.

Woody Guthrie
Woody Guthrie
Khán giả Việt Nam sẽ  thấy ông thật gần gũi, bởi ông sáng tác rất nhiều bài bài  hát về những người lao động khổ cực, sự nỗ lực của họ, và bảo vệ quyền lợi cho họ. Ông hát về ao ước tự do. Ông cũng gắn bó với những nhóm cộng sản của Mỹ thời đầu thế kỉ 20.

Bài hát nổi tiếng nhất của ông là “This Land is Your Land” được hát thường xuyên ở các  trong các trường học của Mỹ. Bài hát nhắc nhủ rằng “mảnh đất này là của bạn, mảnh đất này là của tôi”, “chứ không phải mảnh đất này của bankers, politicians, billianaires, vua dầu hỏa hay những tập đoàn” như lời ca sĩ Night Watch Man hát và phản đối ở Newport Folk Festival năm 2007.

Woody Guthrie đi lang thang khắp các miền đất của Mỹ, từ bang này sang bang khác hát và sáng tác, từ Oklahoma tới California. Ông đi rất nhiều, chỉ một ba lô, cái mũ và cây ghita. Hồi mình ở Vermont mình cũng gặp một ông già hát rong tầm trên 50 tuổi, ông hát ở Vermont khoảng mấy tháng rồi sang bang khác biểu diễn tiếp. Giới hát rong và những người đi phố vẫn gọi ông già đó là “the Woodie Guthrie guy” 🙂

Ông có tất cả tám người con, trong đó có nhạc sĩ Arlo Guthrie đi theo sự nghiệp sáng tác-ca hát và phong cách mang ảnh hưởng nhiều của cha Woody. Những năm cuối đời, tuy ông mắc chứng rối loạn  thần kinh, ông vẫn giữ vị trí đầu tầu trong phong trào nhạc folks và truyền cảm hứng cho một thế hệ những nhạc sĩ nhạc folks mới lúc đó, bao gồm cả viện kèm cặp giúp Ramblin’ Jack Elliott và Bob Dylan trưởng thành.

Vào năm 1997, Woody Guthrie được đưa vào Oklahoma Music Hall of Fame. Các bạn có thế đọc thêm về ông tại trang Wikipedia về Woodie Guthrie.

Sau đây, mình giới thiệu với các bạn một số sáng tác nổi tiếng của ông.

Chúc các bạn một ngày Woody Guthrie 🙂

Hiển.
.

Woody Guthrie, This land is your land!

This Land Is Your Land

This land is your land This land is my land
From California to the New York island;
From the red wood forest to the Gulf Stream waters
This land was made for you and Me.

As I was walking that ribbon of highway,
I saw above me that endless skyway:
I saw below me that golden valley:
This land was made for you and me.

I’ve roamed and rambled and I followed my footsteps
To the sparkling sands of her diamond deserts;
And all around me a voice was sounding:
This land was made for you and me.

When the sun came shining, and I was strolling,
And the wheat fields waving and the dust clouds rolling,
As the fog was lifting a voice was chanting:
This land was made for you and me.

As I went walking I saw a sign there
And on the sign it said “No Trespassing.”
But on the other side it didn’t say nothing,
That side was made for you and me.

In the shadow of the steeple I saw my people,
By the relief office I seen my people;
As they stood there hungry, I stood there asking
Is this land made for you and me?

Nobody living can ever stop me,
As I go walking that freedom highway;
Nobody living can ever make me turn back
This land was made for you and me..

.

Oklahoma Hills

Oklahoma Hills

Many a month has come and gone
Since I’ve wandered from my home
In those Oklahoma hills
Where I was born

Many a page of my life has turned
Many lessons I have learned
And I feel like in those hills
Where I belong

CHORUS:
Way down yonder in the Indian nation
Ridin’ my pony on the reservation
In the Oklahoma hills where I was born

Way down yonder in the Indian nation
A cowboy’s life is my occupation
In the Oklahoma Hills where I was born

But as I sit here today
Many mile’s I am away
From the place I rode my pony
Through the draw

Where the oak and black-jack trees
Kiss the playful prairie breeze
And I feel back in those hills
Where I belong

CHORUS

Now as I turn life a page
To the land of the great Osage
In those Oklahoma hills
Where I was born

Where the black oil rolls and flows
And the snow white cotton grows
And I feel like in those hills
Where I belong

.

Take fishing home

Take fishing home

I went down to the fishing hole,
And I set down with my fishing pole;
Somethin’ grabb’d my hook and it got my bait
And Jerked me out in the middle of the lake.
Huh it was some jump boy,
I got sunk, kinda baptized on credit.

Fishin’ down on th’ muddy bank,
Felt a pull an’ give a big yank,
I drug out three old rubber boots,
A Ford radiator an’ a Chevrolet coop
(Nothin’ but Junk, so I handed it in
For National Defence).

Settin’ in a boat with a bucket of beer,
Hadn’t caught nuthin’ but didn’t much care,
I guess I was pretty well satisfied,
Had my little woman right by my side
(Takin’ it easy, just waitin’
Worm been gone off-a that hook for a couple of hours.
I was busy).

When you go fishin’, tell y’ what to do,
Go set down by the grassy dew,
Take a piece of string, tie it on yo’ pole,
Throw it way out in th’ middle of th’ hole.
Find you a good shady tree and then just set down.
(Go to sleep, forget all about it
Can’t catch nuthin’ here anyways.)

Well I walked out to a sandy bar,
And I caught myself a big alligator gar,
Drug him home across my back,
Tail was dragging a mile and a half,
Flippin’ an’ floppin’. I sold him for a quarter.
(Shot craps, got in Jall.)

Jumped in the river and went down deep,
There was a hundred pound cat-fish lying there asleep,
Well I jumped on his back and rode him all aroun’
Saddled him up and I came into town.
People came runnin’, lookin’, dogs a-barkin’
(Kids a-squallin’).

Early one mornin’ I took me a notion,
To go out fishin’ in the middle of the ocean,
Well, throwed me a line, I got me a shark,
I didn’t get him home till way past dark.
(Was he a man-eater, tough customer.
But he wasn’t quite tough enough.)

Late last night I had me a dream,
I was out fishin’ in a whiskey stream,
Baited my hook with apple-jack,
Threw out a drink, drug a gallon back.
(Done pretty good till the creek run dry.
I give the fish back to the finance company.)

.

Talking Dust Bowl Blues

Talking Dust Bowl Blues

Back in Nineteen Twenty-Seven,
I had a little farm and I called that heaven.
Well, the prices up and the rain come down,
And I hauled my crops all into town —
I got the money, bought clothes and groceries,
Fed the kids, and raised a family.

Rain quit and the wind got high,
And the black ol’ dust storm filled the sky.
And I swapped my farm for a Ford machine,
And I poured it full of this gas-i-line —
And I started, rockin’ an’ a-rollin’,
Over the mountains, out towards the old Peach Bowl.

Way up yonder on a mountain road,
I had a hot motor and a heavy load,
I’s a-goin’ pretty fast, there wasn’t even stoppin’,
A-bouncin’ up and down, like popcorn poppin’ —
Had a breakdown, sort of a nervous bustdown of some kind,
There was a feller there, a mechanic feller,
Said it was en-gine trouble.

Way up yonder on a mountain curve,
It’s way up yonder in the piney wood,
An’ I give that rollin’ Ford a shove,
An’ I’s a-gonna coast as far as I could —
Commence coastin’, pickin’ up speed,
Was a hairpin turn, I didn’t make it.

Man alive, I’m a-tellin’ you,
The fiddles and the guitars really flew.
That Ford took off like a flying squirrel
An’ it flew halfway around the world —
Scattered wives and childrens
All over the side of that mountain.

We got out to the West Coast broke,
So dad-gum hungry I thought I’d croak,
An’ I bummed up a spud or two,
An’ my wife fixed up a tater stew —
We poured the kids full of it,
Mighty thin stew, though,
You could read a magazine right through it.
Always have figured
That if it’d been just a little bit thinner,
Some of these here politicians
Coulda seen through it.

.

I Ain’t Got No Home

I ain’t got no home, I’m just a-roamin’ ’round,
Just a wandrin’ worker, I go from town to town.
And the police make it hard wherever I may go
And I ain’t got no home in this world anymore.

My brothers and my sisters are stranded on this road,
A hot and dusty road that a million feet have trod;
Rich man took my home and drove me from my door
And I ain’t got no home in this world anymore.

Was a-farmin’ on the shares, and always I was poor;
My crops I lay into the banker’s store.
My wife took down and died upon the cabin floor,
And I ain’t got no home in this world anymore.

I mined in your mines and I gathered in your corn
I been working, mister, since the day I was born
Now I worry all the time like I never did before
‘Cause I ain’t got no home in this world anymore

Now as I look around, it’s mighty plain to see
This world is such a great and a funny place to be;
Oh, the gamblin’ man is rich an’ the workin’ man is poor,
And I ain’t got no home in this world anymore.

.

Aginst Th’ Law

It´s aginst th´ law to walk, It´s aginst th´ law to talk
It´s against th´ law to loaf, It´s aginst th´ law to work
It´s aginst th´ law to read, It´s aginst th´ law to write
It´s aginst th´ law to be a black or brown or white.

Ever´thing’s aginst th´ law
I´m a low pay daddy singing th´ high price blues

It´s aginst th´ law to eat, It´s aginst th´ law to drink
It´s aginst th´ law to worry, It´s aginst th´ law to think
It´s aginst th´ law to marry or to try to settle down
It´s aginst th´ law to ramble like a bum from town to town

Ever´thing’s aginst th´ law
I´m a low pay daddy singing th´ high price blues

It´s aginst th´ law to come, It´s against th´ law to go
It´s against th´ law to ride, It´s against th´ law to roll
It´s aginst th´ law to hug, It´s against th´ law to kiss
It´s against th´ law to shoot, It´s against th´ law to miss

Ever´thing’s aginst th´ law
I´m a low pay daddy singing th´ high price blues

It´s aginst th´ law to gamble, It´s aginst th´ law to roam
It´s aginst th´ law to organize or try to build a home
It´s aginst th´ law to sing, It´s aginst th´ law to dance
It´s aginst th´ law to tell you th´ trouble on my hands

Ever’thing in Winston Salem is aginst th’ law
I’ma low pay daddy singin’ th’ high price blues.

.

Who’s Going To Shoe Your Pretty Little Feet

.

Who’s Going To Shoe Your Pretty Little Feet

 Who’s gonna shoe your pretty little feet?
Who’s gonna glove your hand?
Who’s gonna kiss your red ruby lips?
Who’s gonna be your man?

Papa’s gonna shoe my pretty little feetl,
Mama’s gonna glove my hand,
Sister’s gonna kiss my red ruby lips,
I don’t need no man.

I don’t need no man,
I don’t need no man,
Sister’s gonna kiss my red ruby lips,
I don’t need no man.

The fastest train I ever did ride,
Was a hundred coaches long,
And the only woman I ever did love,
Was on that train and gone.

On that train and gone, boys,
On that train and gone,
The only woman I ever did love,
On that train and gone.

Who’s gonna shoe your pretty little feet?
Who’s gonna glove your hand?
Who’s gonna kiss your red ruby lips?
Who’s gonna be your man?

Papa’s gonna shoe my pretty little feetl,
Mama’s gonna glove my hand,
Sister’s gonna kiss my red ruby lips,
I don’t need no man.

I don’t need no man,
I don’t need no man,
Sister’s gonna kiss my red ruby lips,
I don’t need no man.

.


Pastures Of Plenty

.


Pastures Of Plenty

It’s a mighty hard row that my poor hands have hoed
My poor feet have traveled a hot dusty road
Out of your Dust Bowl and Westward we rolled
And your deserts were hot and your mountains were cold

I worked in your orchards of peaches and prunes
I slept on the ground in the light of the moon
On the edge of the city you’ll see us and then
We come with the dust and we go with the wind

California, Arizona, I harvest your crops
Well its North up to Oregon to gather your hops
Dig the beets from your ground, cut the grapes from your vine
To set on your table your light sparkling wine

Green pastures of plenty from dry desert ground
From the Grand Coulee Dam where the waters run down
Every state in the Union us migrants have been
We’ll work in this fight and we’ll fight till we win

It’s always we rambled, that river and I
All along your green valley, I will work till I die
My land I’ll defend with my life if it be

Cause my pastures of plenty must always be free

.

1913 Massacre

Take a trip with me in nineteen thirteen
To Calumet, Michigan in the copper country
I’ll take you to a place called Italian Hall
And the miners are having their big Christmas ball

I’ll take you in a door and up a high stairs
Singing and dancing is heard ev’rywhere
I’ll let you shake hands with the people you see
And watch the kids dance ’round the big Christmas tree.

There’s talking and laughing and songs in the air
And the spirit of Christmas is there ev’rywhere
Before you know it you’re friends with us all
And you’re dancing around and around in the hall

You ask about work and you ask about pay
They’ll tell you they make less than a dollar a day
Working their copper claims, risking their lives
So it’s fun to spend Christmas with children and wives.

A little girl sits down by the Christmas tree lights
To play the piano so you gotta keep quiet
To hear all this fun; you would not realize
That the copper boss thug men are milling outside

The copper boss thugs stuck their heads in the door
One of them yelled and he screamed, “There’s a fire”
A lady she hollered, “There’s no such a thing;
Keep on with your party, there’s no such a thing.”

A few people rushed and there’s only a few
“It’s just the thugs and the scabs fooling you.”
A man grabbed his daughter and he carried her down
But the thugs held the door and he could not get out.

And then others followed, about a hundred or more
But most everybody remained on the floor
The gun thugs, they laughed at their murderous joke
And the children were smothered on the stairs by the door.

Such a terrible sight I never did see
We carried our children back up to their tree
The scabs outside still laughed at their spree
And the children that died there was seventy-three

The piano played a slow funeral tune,
And the town was lit up by a cold Christmas moon
The parents, they cried and the men, they moaned,
“See what your greed for money has done?”

.

Hard travelin’

.

Hard Travelin’

I’ve been havin’ some hard travelin’, I thought you knowed
I’ve been havin’ some hard travelin’, way down the road
I’ve been havin’ some hard travelin’, hard ramblin’, hard gamblin’
I’ve been havin’ some hard travelin’, lord

I’ve been ridin’ them fast rattlers, I thought you knowed
I’ve been ridin’ them flat wheelers, way down the road
I’ve been ridin’ them blind passengers, dead-enders, kickin’ up cinders
I’ve been havin’ some hard travelin’, lord

I’ve been hittin’ some hard-rock minin’, I thought you knowed
I’ve been leanin’ on a pressure drill, way down the road
Hammer flyin’, air-hose suckin’, six foot of mud and I shore been a muckin’
And I’ve been hittin’ some hard travelin’, lord

I’ve been hittin’ some hard harvestin’, I thought you knowed
North Dakota to Kansas City, way down the road
Cuttin’ that wheat, stackin’ that hay, and I’m tryin’ make about a dollar a day
And I’ve been havin’ some hard travelin’, lord

I’ve been working that Pittsburgh steel, I thought you knowed
I’ve been a dumpin’ that red-hot slag, way down the road
I’ve been a blasting, I’ve been a firin’, I’ve been a pourin’ red-hot iron
I’ve been hittin’ some hard travelin’, lord

I’ve been layin’ in a hard-rock jail, I thought you knowed
I’ve been a laying out 90 days, way down the road
Damned old judge, he said to me, “It’s 90 days for vagrancy.”
And I’ve been hittin’ some hard travelin’, lord

I’ve been walking that Lincoln highway, I thought you knowed,
I’ve been hittin’ that 66, way down the road
Heavy load and a worried mind, lookin’ for a woman that’s hard to find,

I’ve been hittin’ some hard travelin’, lord.

Ba Haiku

Chào các bạn,

Bài này mình đặt tên là “Ba Haiku” vì nó là ba bài Haiku biệt lập. Ghép chúng thành một bài cho vui.

Gọi là Haiku nhưng đây chắc phải là Haiku cải biên hay Haiku mới 🙂 vì mình không dùng qui luật Haiku cổ điển.

Ý thơ, viết theo dòng Haiku thiền.

Các bạn đọc như là 3 bài biệt lập (chẳng liên hệ gì với nhau). Rồi đọc lại thành một bài dài. Rồi cho mình biết cảm tưởng nhé. 🙂 Đang thí nghiệm mà 🙂

Chúc cả nhà một tuần vui.

Mến,

Hoành
.

Ba Haiku

Mảnh tuyết nhỏ
Rơi trên cọng cỏ
Trắng núi Rockies

Quạ đen
Đứng trên cột đèn
Mịt mù tuyết đổ

Tách cà phê
Bên lò sưởi
Bão trắng xóa đồi thông

    TĐH, Nov. 29, 2009
    Lake of the Woods, VA, USA

Múa Rối Nước

Chào các bạn,

Hôm nay mình giới thiệu đến các bạn một slideshow mới hoàn thành với các hình ảnh thật dễ thương, về nghệ thuật rối nước cổ truyền của nước ta.

Múa rối là một nghệ thuật khắp nơi trên thế giới, với nhiều hình thức khác nhau. Nhưng rối nước, có từ khoảng thế kỷ thứ 12, có lẽ là môn nghệ thuật rất đặc biệt của Việt Nam. Ngày nay, nói đến văn hóa đặc trưng của Việt Nam, khó mà quên nói đến rối nước. Thăm Việt Nam mà không thăm rối nước thì cũng như đến Việt Nam mà bỏ qua Vịnh Hạ Long.

Ngoài các hình ảnh và hoạt động của các con rối, âm nhạc trong rối nước cũng là âm nhạc truyền thống Việt Nam với các nhạc cụ và bài bản cổ truyền–chèo, lý, quan họ, ả đào… Thật là một di sản văn hóa lớn của chúng ta.

Mời các bạn click vào ảnh sau đây để xem sidleshow và download.

Chúc các bạn một ngày múa rối 🙂

Bình an và Sức khỏe,

Túy-Phượng
.

Vui, buồn từ Festival cồng chiêng quốc tế Tây Nguyên

Tôi háo hức đi Plei ku. Cồng chiêng Tây Nguyên thì xem mãi rồi , nhưng có dịp thưởng thức & thêm chút hiểu biết về cồng chiêng Đông Nam Á thì hay biết mấy.

19h ngày 12-11-09. Người ơi là người. Chen chúc đến ngộp thở, giơ thật cao tấm phù hiệu khách mời màu vàng, vào được đến quảng trường 17-3 thì mọi hàng ghế đã chật. Chẳng phân biệt được ai là dân, ai là khách; thôi thì ai ngồi cũng được, vì sao lại nỡ trách những người muốn được một lần tham dự một lễ hội quốc tế lớn như thế này chứ ? Chỉ tiếc rằng, mặc dù ban tổ chức đã đổ ba bậc đất cao hơn phía sau khán đài, nhưng mọi khán giả đứng sau các hàng ghế đại biểu chỉ có thể nhìn tới bốn tầng sân khấu xa tít tắp, chứ không thể thấy được lòng sân rộng của quảng trường.Khán giả bên ngoài lại càng ít hy vọng được xem, bởi hàng rào người đã chắn ở cả hai đầu đường dẫn vào sân khấu.

Tranh thủ lúc chờ khai mạc, tôi len lỏi khắp sân chào các nghệ nhân quen mặt, quen tên, nào các amí người Bih, ama Êđê Đăk Lăk phục sức vô cùng trang trọng; nào là già làng K’Bét nụ cười rung cả chòm râu bạc đứng giữa nhóm tộc người K’Ho Lâm Đồng ; anh bạn Kpă Na Nao người Jrai ở Gia Lai với chiếc trống luôn gắn trên vai, vòng hai chừng lớn hơn lần gặp năm ngoái ở Đà Lạt, trong Liên hoan hát dân ca; Điểu Mai và nhóm Mnông Đăk Song của cô ấy súng sính trong bộ váy áo thổ cẩm màu xanh lá cây; các chị em người Thái che dù duyên dáng đứng đợi bên Khua luống; Nhóm Ca Tu thị trấn Đông Giang khoe nửa bộ ngực trần ấm cả mắt; mấy chị em người Cor Quảng Nam áo trắng, váy đen, những chuỗi hạt cườm vàng đỏ thật lộng lẫy. Cô gái Hrê, chàng trai Bâhnar, già làng Vân Kiều, bà mẹ S’Tiêng kề bên nhóm Ta Ôi, Châu Ro…

Chật kín sân nghệ nhân của 45 đội cồng chiêng thuộc 25 tỉnh thành, từ bộ cồng núm 5 chiếc của người Thái đen ( mà cô gái nào cũng da trắng muôn muốt như hoa ban) tận Điện Biên địa đầu phía bắc; tới dàn cồng 16 chiếc và các nhạc cụ ngũ âm của các nghệ nhân Khơmer đạo mạo, đệm cho những chú khỉ Hanuman nghịch ngợm nhảy nhót, đến từ miền đồng bằng chín Rồng, bên cạnh những con rối lá, rối dây ngộ nghĩnh cười cợt……Hòa vào không khí náo nức đó là tâm trạng vui vẻ của các nghệ nhân Lào, Căm Pu Chia và Maiamy, Philipin cho dẫu kẻ đóng khố, người trong trang phục kín đáo (đoàn Indonesia hôm sau mới tới được). Không chỉ là nhịp điệu thanh thoát của những dàn ching chêng, mà còn cả tiếng kèn saranai réo rắt, tiếng trống sazam bập bùng hòa điệu …Người già, người trẻ, nữ, nam…chao ôi là tiếng cười, giọng nói ríu rít làm quen hay mừng gặp lại.Cả những tiếng nói to hơn thường ngày qua điện thoại di động, đua nhau kể với ở nhà ( vùng xa vùng sâu nào đó) không khí náo nức chờ đến giờ khai mạc ngày hội.…

Cái được nhất của Liên hoan có lẽ chính là sự gặp gỡ, không khí hồ hởi và thân mật này ( Ngoài việc biểu diễn ở bốn sân khấu lớn trong nội và ngoại thành Plei Ku, các nghệ nhân 6 nước còn có cuộc giao lưu với nhau tại khu du lịch Đồng xanh vào tối ngày 14/11 ).Sau nữa là sự xuất hiện của đa số các “ nghệ nhân” trẻ, thế hệ kế tục để bảo tồn “ di sản”, không chỉ múa mà còn diễn tấu ching. Không kể các bé em còn nằm trên lưng mẹ, thì nhỏ nhất có lẽ là hai thành viên Ksor Sia 6 tuổi & Siu Khái 8 tuổi của đội Jrai huyện Chư Sê, điêu luyện trong những bước nhảy theo nhịp ching, làm tốn không biết bao nhiêu phim của các nghệ sỹ nhiếp ảnh.

Đến với Festival cồng chiêng quốc tế lần đầu tiên này, có thể nhận thấy rất nhiều nét tương đồng và khác biệt giữa các dàn cồng chiêng của Việt Nam & các nước Đông Nam Á.

Ví dụ như dàn ngũ âm & trang phục của hai đội cồng chiêng Khơmer đến từ Bạc Liêu & Sóc Trăng không khác mấy so với cách trình diễn và cơ cấu dàn ngũ âm của Đoàn nghệ nhân CamPuChia : từ hàng chục chiếc cồng nhỏ xếp thành từng hai dàn một trên một chiếc giá đỡ hình vòng cung, cho đến bộ trống Sazam, trang phục xaroong của các nghệ nhân nam.

Hay đoàn nghệ nhân đến từ Philipin cũng cởi trần đóng khố, đep chuỗi vòng răng thú và xử dụng 7 chiếc chiêng không có núm, như một số tộc người Tây Nguyên thuộc nhóm ngôn ngữ Môn –Khơmer, nhưng lại dùng dùi cứng ( trong khi hầu hết các nhóm Tây Nguyên đều dùng dùi mềm). Hoặc nhóm nghệ nhân tộc người Prao của đoàn Lào, lại sử dụng 7 chiếc ching có núm, khác với nhóm Brâo ( một nhánh khác ở Kon Tum) chỉ có hai chiếc chiêng không có núm…

Hoặc cùng nhóm ngữ hệ Môn – Khơmer nhưng tộc người Châu Ro đến từ Đồng Nai, lại diễn tấu 8 chiếc chiêng có núm, không có chiêng bằng, như người anh em S’Tiêng, K’Ho cận kề…

Cho dù dưới hình thức diễn tấu nào, thì âm thanh và giai điệu của mọi dàn ching đều có sức lan toả,lôi cuốn bởi tính độc đáo riêng biệt của âm nhạc dân gian mỗi tộc người. Đối với những người nghiên cứu cồng chiêng, đây thật là một dịp thú vị để tìm hiểu.

Cũng không thể không nói tới tình cảm mến khách tuyệt vời của người dân Plei Ku, bởi tôi và nhiều bạn bè đã được hướng dẫn tận tình khi gặp bất cứ trở ngại gì trên đường phố.

Vui là thế, buồn là gì bạn biết không? Xin hãy cùng tôi quay trở lại với đêm 12-11. Sau màn khai mạc dài dòng, hơn 50.000 người ngồi kín quảng trường 17-3 ở thành phố Plei Ku, lẫn triệu triệu khán giả màn ảnh nhỏ chờ đợi, tiếng ching chêng đã vang lên rộn rã. 3.000 diễn viên & nghệ nhân trên quảng trường cùng rùng rùng chuyển động.

Có thể nói Tổng đạo diễn phần âm nhạc : nhạc sỹ Nguyễn Cường đã thành công khi chọn lọc và sắp xếp hài hoà giữa âm nhạc cồng chiêng, dân ca các dân tộc Tây Nguyên và phần nhạc – hát mới (dẫu phần âm nhạc Êđê được dùng làm âm hưởng chủ đạo trong cả hai đêm khai mạc lẫn bế mạc và có tới vài ca khúc của tác giả). Và trên bốn tầng sân khấu là các tiết mục múa Tây Nguyên, do các sinh viên Trường Đại học VHNT Quân đội trình bày tạo được vẻ đẹp của hình thể trong những động tác múa Tây Nguyên.

Nhưng chiếm trọn vẹn quảng trường và thời lượng đến hơn 60’/90’ của chương trình là các nam nữ thanh niên người mang hoa, kẻ mang khiêl, trống, lần lượt xuất hiện hết màn trình diễn này đến màn trình diễn khác, không có chút gì là Tây Nguyên, trong cả động tác múa lẫn trang phục với đặc trưng là vài trăm bộ váy đầm kiểu dạ hội. (May mà Camera của Đài Truyền hình Việt Nam chỉ hướng cố định lên sân khấu, nên khán giả màn ảnh nhỏ không phải “ thưởng thức” màn trình diễn này), còn những khán giả tại chỗ chỉ thấy ngợp vì ấn tượng ở số người quá đông chính diện ngay trước mắt mà thôi.

May nữa là bày voi 11 con từ Đăk Lăk sang, chỉ có một “ chú” không quen với ánh sáng, tiếng động dữ dội ở nơi đông người, nên một mình quay lưng lại khi cả đàn quỳ xuống chào khán giả và không gây nên sự hỗn loạn đáng tiếc nào ( bởi voi chỉ cách người ngồi bên lề chừng 3m). May nữa là trong những phút cuối của chương trình, với tài nghệ và sự hồn nhiên của mình, giọng hát của ca sỹ Siu Black đã lôi cuốn được người xem khi xuất hiện trên chiếc xe ngựa và trên sân khấu với ca khúc “ Đôi mắt Plei Ku” sôi động, kéo theo hàng ngàn bạn trẻ vào vũ điệu xoang kết thúc.

Vậy nên sau đêm khai mạc, đông đảo khán giả tại chỗ vừa giải tán, vừa than phiền vì thiếu sự ra mắt cụ thể một cách trang trọng theo đúng thông lệ, của cả 40 dàn chiêng trong nước và 5 dàn chiêng ngoài nước ( chắc các đạo diễn định thử tài tiên đoán của khán giả qua trang phục và cờ tổ quốc chạy như đuổi bắt trên sân khấu). Cũng như suốt 90’ của chương trình không hề thấy được sự tôn vinh xứng đáng các “di sản của nhân loại” , khi đạo diễn chỉ cho các đoàn diễn tấu ching và múa hai bên lề quảng trường, sau đó cuối chương trình chạy qua sân khấu chính được một vòng rồi xuống ngay. (Điều này Ban Tổ chức “để dành” vào đêm bế mạc: tất cả các đoàn đều diễu hành qua khán đài để chào quan khách, tuy nhiên không phải bằng chính âm nhạc ching chêng của họ, mà trên nền nhạc chung của lễ hội).

Chúng tôi tiếc hùi hụi vì đã không được xem trình diễn tại lễ khai mạc; lịch biểu diễn xoay vòng lại chỉ có mỗi ngày một buổi, tại những địa điểm cách nhau đến cả chục cây số, nên dẫu muốn lắm cũng không có dịp xem được các đoàn nước ngoài khác như Inđonesia, CamPuChia hay Maiamy… biểu diễn.

Chưa hết, Lễ đâm trâu mừng chiến thắng của các nghệ nhân Bâhnar huyện K’Bang, chỉ là nhảy nhót tượng trưng, vì Bộ trưởng cho rằng “khách nước ngoài phản đối việc sát sinh trâu”. Trong khi đó lại chấp nhận việc giới thiệu công khai “tác giả kịch bản, đạo diễn” Lễ đâm trâu là những cán bộ người Kinh của Sở Văn hoá.

Yang ơi, du khách đâu đến nỗi không hiểu rằng đó là nghi lễ truyền thống trong tín ngưỡng “Vạn vật hữu linh” của Tây Nguyên. Đồng thời họ cũng hiểu như các nghệ nhân rằng “giả dối với các vị thần linh nào phải chuyện đùa”. Cảm ơn các vị viết lời dịch tiếng Bâhnar từng công đoạn, từng câu khấn cho du khách hiểu, nhưng cho dẫu có trân trọng việc đã công tác ở Tây Nguyên hàng chục năm, nhờ văn hoá Tây Nguyên mà có học vị Thạc sỹ hay Tiến sỹ đi nữa, thì làm sao các vị “đạo diễn” lễ cổ truyền của “người ta” được?

Dẫu vui buồn lẫn lộn vậy, cũng phải công nhận rằng: hơn 1.500 nghệ nhân cồng chiêng từ khắp đất nước Việt Nam và năm nước anh em Đông Nam Á, đã hoàn thành sứ mệnh gửi tới nhân loại thông điệp của hòa bình và sự đoàn kết các dân tộc, bằng những âm thanh tuyệt vời của một trong những “ Di sản văn hoá phi vật thể truyền khẩu”. Và những hoạt động khác như Hội chợ hàng Việt Nam chất lượng cao, Hội chợ Làng nghề thủ công truyền thống, Làng ẩm thực, Triển lãm tranh – ảnh nghệ thuật và ảnh về Anh hùng Núp, Trưng bày sinh vật cảnh, Trưng bày văn hoá truyền thống Tây Nguyên, trình diễn chỉnh chiêng, tác tượng, phục dựng một vài lễ hội cổ truyền…đã thật sự góp phần làm nên thành công của Festival Cồng chiêng Quốc tế 2009 này.

Mong những Festival sau sẽ được tổ chức đúng nghĩa hơn và cồng chiêng Tây Nguyên được tôn vinh một cách xứng đáng hơn.

Linh Nga Niê Kdăm

Kinh Hoà Bình của Thánh Francis

Lạy Chúa,

Xin cho con được làm công cụ an hòa của Người;
Nơi có hận thù, con gieo hạt giống tình yêu;
Nơi có tổn thương, con đem những lời hối lỗi;
Nơi có nghi ngờ, con dựng lại niềm tin;
Nơi chỉ còn tuyệt vọng, con xây hi vọng;
Nơi phủ đầy bóng tối, con thắp sáng trời đêm;
Và nơi nỗi buồn vây phủ, con trao tặng niềm vui;


Đấng Toàn Năng,

Xin cho con tìm sự an ủi ít hơn những lời con an ủi,
Được cảm thông ít hơn con hiểu được tha nhân,
Được yêu thương ít hơn trao gửi yêu thương,
Vì chính trong sự cho đi là nhận lại,
Trong sự thứ tha mà ta được thứ tha,
Và trong khi chết đi được sinh vào cõi sống vĩnh hằng
Amen

Thánh Francis of Assisi

Huỳnh Huệ dịch

The Peace Prayer of Saint Francis

Lord, make me an instrument of Thy peace;
where there is hatred, let me sow love;
where there is injury, pardon;
where there is doubt, faith;
where there is despair, hope;
where there is darkness, light;
and where there is sadness, joy.

O Divine Master,
grant that I may not so much seek to be consoled as to console;
to be understood, as to understand;
to be loved, as to love;
for it is in giving that we receive,
it is in pardoning that we are pardoned,
and it is in dying that we are born to Eternal Life.
Amen.
Saint Francis of Assisi

Andrés Segovia – Guitar cổ điển

Chào các bạn,

Ai nghe nhạc guitar cổ điển cũng đều biết đến Andres Segovia, người mang cây guitar bình dân của Gypsies Tây Ban Nha trên đường phố vào thính phòng và những đại hí viện với những dàn đại hòa tấu, thành cây vương cầm, ngang hàng với violon và piano trong thính phòng.

Andrés Torres Segovia sinh ngày 21 tháng 2 năm 1893 ở Tây Ban Nha, học đàn Flamenco từ lúc 6 tuổi. Tuy nhiên khi lớn lên Segovia không chơi Flamenco, nhưng mang một số kỹ thuật Flamenco vào nhạc cổ điển, và do đó phong phú hóa kỹ thuật cũng như âm điệu guitar cổ điển. Kỹ thuật cao độ của Segovia cộng với các phát minh mới về kỹ thuật thu đĩa và thu băng, radio, và TV, giúp cho cây guitar cổ điển trở thành cây đàn được ưa chuộng và kính trọng khắp thế giới.

Năm 1958 Segovia được giải Grammy về Best Classical Performance (trình tấu cổ điển hay nhất), cho đĩa nhạc Segovia Golden Jubilee. Ngày 24 tháng 6 năm 1981, vua Tây Ban Nha Juan Carlos phong chức hoàng tộc cho Segovia “Marqués de Salobrena” (hầu tước của Salobrena).

Segovia vẫn trình diễn khi đã hơn 80 tuổi. Ông mất ngày 2 tháng 6 năm 1987, thọ 94 tuổi và được chôn cất tại lâu đài Casa Museo de Linares, ở Andalusia.

Một người bạn cùa mình, guitarist Trịnh Bách, là học trò yêu của Segovia. Bức ảnh cuối cùng của Segovia là do Trịnh Bách chụp một tháng trước khi Segovia qua đời.

Mình nhớ lúc mẹ Bách bị bệnh trong khoảng đầu thập niên 90, Bách bỏ tập và bỏ trình diễn guitar để lo cho mẹ. Những năm về sau này Bách về giúp phục dựng các hiện vật cung đình triều Nguyễn. Các bạn có thể theo dõi công việc phục hồi di sản văn hóa tốn kém tiền bạc và công sức này của Trịnh Bách tại đây. Hiện nay Trịnh Bách đang ở Hà Nội.

Sau đây mời các bạn xem một số video trình tấu của Segovia.

Chúc các bạn một ngày dịu dàng cổ điển.

Hoành
.

Andres Segovia – Asturias – Isaac Albeniz

.

Andres Segovia – The Song of the Guitar

.

Segovia plays Bach (Gavotte 1 & 2)

.

Frederico Moreno Torroba (1891-1982): Suite Castellana, I. Fandango.

.

Torroba Sonatina 1St Mov.mpg

Chào mừng Thanksgiving Day – Lễ Tạ Ơn

Chào các bạn,

Hôm nay, thứ năm cuối của tháng 11, là ngày Lễ Tạ Ơn ở Mỹ. Lễ Tạ Ơn có nguồn gốc từ năm 1621, thời điểm đầu tiên của những người tị nạn Âu Châu đến lập nghiệp ở Thế Giới Mới và tạo thành nước Mỹ sau này.

Năm 1620, 102 người của 8 giáo hội ly khai khỏi Anh giáo thuê một chiếc tàu tên là May Flower để sang Mỹ Châu, trốn chạy bách hại tôn giáo ở Anh. May Flower rời Southhampton, Anh quốc, ngày 6 (hay 16?) tháng 9, chở 102 hành khách và khoảng 25 đến 30 người thủy thủ đoàn. Sau 66 ngày hành trình gian khổ đến nỗi hai người đã thiệt mạng, tàu đến nơi (mà ngày nay là cảng Provincetown Harbor ở Cape Cod, bang Massachusetts) ngày 11 (hay 21?) tháng 11.

Thực ra điểm đến dự tính của tàu này là miệng sông Hudson ở New York, nhưng vì thời tiết xấu, tàu đã đi sai đường, lên phía bắc. Ngày 11 tháng 12, tất cả 100 người hành khách còn lại xuống tàu, ở vùng ngày nay gọi là Plymouth, bang Massachusetts.

Nhóm hành khách này được gọi là the pilgrims (những người hành hương) trong văn hóa nước Mỹ ngày nay. The pilgrims và tàu May Flower đóng vai rất quan trọng trong lịch sử nước Mỹ–mở đầu cho một prong trào di dân và lập nghiệp, tạo thành nước Mỹ tương lai.

Mùa đông đầu tiên, những người pilgrim sống thật đói khát khổ sở thiếu thốn. Chỉ vài tháng sau họ đã mất 46 người. May là họ được thổ dân da đỏ giúp đở, dạy họ cách sinh sống, và làm mùa, trong vùng đất mới.

Vụ gặt mùa thu năm 1621, the pilgrims được mùa tốt. Họ quyết định làm một lễ tạ ơn, lễ hội cùng nhau và cùng 91 người thổ dân da đỏ đã giúp đở họ, trong ba ngày liền. Gà tây, bắp (ngô), dâu cranberry, bí rợ (đỏ) là những thực phẩm có lúc bấy giờ, được dùng trong lễ hội, và từ đó tạo lập truyền thống về các món ăn trong ngày Lễ Tạ Ơn cho đến ngày nay.

Ngày 3 tháng 10 năm 1789, tổng thống George Washington, lần đầu tiên, chỉ định ngày Lễ Tạ Ơn cho quốc gia:

Vì lý do, nhiệm vụ của tất cả mọi Quốc Gia là công nhận quyền năng của Chúa Toàn Năng, vâng theo ý ngài, tạ ơn về các hồng phúc của ngài, và khiêm tốn khẩn cầu sự bảo vệ và yêu thương của ngài, và vì lý do cả hai viện của Quốc Hội, qua ủy ban lưỡng viện, đã yêu cầu tôi “đề nghị với toàn nhân dân Mỹ Quốc một ngày tạ ơn và cầu nguyện công, được tôn kính bằng cách công nhận với lòng biết ơn nhiều dấu hiệu yêu thương của Chúa Toàn Năng đã cho nhân dân một cơ hội hòa bình để thiết lập một hình thức chính quyền phục vụ an ninh và hạnh phúc của nhân dân.”

Vì vậy bây giờ tôi đề nghị và chỉ định ngày Thứ Năm, 26 tháng 11 tới là ngày của Nhân Dân Nước Mỹ hiến dâng cho Thượng đế vĩ đại và vinh quang, là đấng sáng tạo ra tất cả mọi điều phúc thiện trong quá khứ, hiện tại và tương lai. Tất cả chúng ta hãy kết đoàn để dâng lên ngài lời tạ ơn thành tâm và khiêm tốn, vì ngài đã lo lắng ân cần và bảo vệ Dân Tộc này trước khi thành lập Quốc Gia; vì các dấu hiệu và nhiều thương xót của ngài, và sự can thiệp của quyền năng của ngài, mà chúng ta đã trải nghiệm trong suốt cuộc chiến và tại điểm kết cục của cuộc chiến vừa qua; vì mức độ rất cao của tĩnh lặng, đoàn kết và phú cường mà chúng ta đã được tận hưởng từ sau cuộc chiến; vì chúng ta đã được cho khả năng để tạo ra luật pháp, một cách hòa bình và hợp lý, cho chính phủ để phục vụ an ninh và hạnh phúc của chúng ta, đặc biệt là chính phủ liên bang mà chúng ta vừa thiết lập; vì tự do dân sự và tự do tôn giáo chúa ban cho chúng ta; và vì những phương tiện chúng ta có được để thu lượm và truyền bá kiến thức; và nói chung là tất cả ân sủng lớn và đặc biệt Thượng đế đã ban cho chúng ta.

Và để chúng ta có thể kết đoàn trong việc hiến dâng một cách khiêm tốn nhất lời cầu nguyện và khẩn cầu của chúng ta đến Chúa Cao Cả và Người Cai Trị Tất Cả Mọi Quốc Gia và nài xin ngài tha thứ cho mọi lỗi lầm của quốc gia cũng như các lỗi lầm khác, để giúp tất cả chúng ta, dù là trong chức vụ công hay nhiệm sở tư, có thể thi hành tốt và đúng lúc mọi nhiệm vụ của mình, để biến chính quyền quốc gia thành một ân phước cho tất cả nhân dân, bằng cách luôn luôn là một chính phủ khôn ngoan và công bình, và luật đặt trên hiếp pháp được thi hành và tuân thủ một cách tế nhị và trung thực, để bảo vệ và dìu dắt mọi Vua Chúa và mọi Quốc Gia (nhất là các quốc gia đã tử tế với chúng ta), và ban cho họ chính phủ tốt, hòa bình và thân ái, để thăng tiến kiến thức và thực hành tôn giáo và đạo đức thật, và phát triển khoa học giữa các nước và chúng ta, và nói chung ban cho tất cả Loài Người phú cường vật thể mà chỉ Chúa biết rõ nhất.

Chính tay tôi ký ở New York ngày 3 tháng 10 năm của Chúa thứ 1789.


Đến năm 1863, tổng thống Lincoln ấn định ngày thứ năm cuối tháng 11 là ngày Thanksgiving hàng năm.

Các tổng thống Mỹ có thông lệ là đọc một bài diễn văn đặc biêt trong ngày Thanksgiving, gọi là Thanksgiving Proclamation. Bài diễn văn năm 2008 của tổng thống Bush có thể đọc được ở đây, và bài diễn văn năm 2010 của tổng thống Obama có thể đọc được ở đây.

Mỗi năm National Turkey Federation (hiệp hội nuôi gà tây của Mỹ) gởi tặng Nhà Trắng gà tây vào dịp Thanksgiving. Các tổng thống Eisenhower, Nixon và Johnson xơi các chú. Tổng thống Kennedy lần đầu tiên tha mạng các chú, không làm thịt. Và năm 1990, tổng thống George H.W. Bush (Bush cha) đã chính thức thành lập ngày tha tội cho gà tây, tặng các chú gà tây nhận được vào các thảo cầm viên, và ngày nay ta có truyền thống ân xá gà tây hàng năm tại Nhà Trắng. Ngày tha tội gà tây của Thanksgiving 2010 có thể đọc được tại đây.

Trong ngày Thanksgiving, mọi người trong gia đình thường tụ họp nhau ăn uống và chuyện vãn. Các món ăn chính là gà tây, dâu cranberry, bánh mì bí rợ, bánh ngọt bí rợ, bắp (ngô)…

Tuần Thanksgivings là một trong những tuần dân Mỹ di chuyển nhiều nhất trong năm, để về tụ họp gia đình.

Thanksgiving cũng là ngày đầu tiên của Mùa Lễ Hội (Holidays Season), kéo dài cho đến ngày đầu năm mới, mồng một tháng giêng.

Ngày thứ sáu sau Thanksgiving là ngày đầu tiên của mùa buôn bán Lễ Hội (Holidays season shopping), và thường được gọi là ngày Black Friday (ngày Thứ Sáu Đen), vì ngày đó người ta đi mua sắm kẹt xe đen cả đường phố. Các cửa tiệm đều có những món hàng hạ giá rất thấp để mời gọi mọi người mua sắm đầu mùa. Có nơi người ta sắp hàng từ đêm hôm trước, dài cả cây số, để chờ tiệm mở cứa khoảng 6 giờ sáng.

Ngày nay, Black Friday (Thứ Sáu Đen) còn có nghĩa là ngày các tiệm kiếm ra tiền, thống kế kế toán có số lời, màu đen, thay vì số lỗ màu đỏ.

Chúc cán bạn một ngày nhiều Tạ Ơn.

Sau đây mời các bạn xem vài videos vui về ngày Thanksgiving.
.

Heavy turkey

.

Crappy Canadian Thanksgiving (w. Ellen Page & Justin Long)

(TĐH: cập nhật post 24.11.2010)

Một bữa cơm Tạ Ơn đời thường ở Mỹ

Chào các bạn,

Hôm nay là ngày thứ 4 tuần thứ 4 ở Mỹ rồi. Thư viện ở các trường học bắt đầu đóng cửa, các bạn học sinh Mỹ đi học ở xa gia đình chuẩn bị về nhà dự lễ Tạ Ơn với gia đình vào ngày mai 🙂

Mình đi theo một người bạn tên là Noah đến thăm và dự lễ Tạ Ơn với gia đình cậu ở trị trấn Delmar, tiểu bang New York vào năm 2006. Mình kể với các bạn cảm nhận của mình về lễ Tạ Ơn trong một gia đình người Mỹ bình thường nhé, gia đình bạn Noah không theo đạo Thiên Chúa.

Sau khoảng 2 tiếng lái xe từ Vermont, chúng mình tới được nhà của Noah ở Delmar ở phía bắc tiểu bang New York. Đó là một trị trấn nhỏ bé lạc hút trong một cánh rừng và những rặng núi. Ở đây ít trường học tốt, nên khi trẻ con lớn lên, chúng thường phải đi sang những tiểu bang khác để học đại học. Thành phố cứ bình dị hoang vắng thế thôi.

Tới nhà, mình và Noah gặp bố mẹ của cậu, ông bà Robert-Roberta và em gái cậu Shirah. Ông bà Robert-Roberta đã nuôi lớn đến 3 người con trong ngôi nhà này đấy, Noah, chị gái và em gái Noah nên căn nhà chứa đầy kỷ niệm, rất nhiều ảnh hồi bé đến lớn của anh chị em Noah rất kháu khỉnh dễ thương. 🙂

Bếp của gia đình người Mỹ có rất nhiều cookbook – sách dạy nấu ăn. Những đồ nấu ăn cũng rất sẵn sàng. Mình chợt nhớ tới câu nói đùa của một anh bạn du học sinh, anh từng là niềm cảm hứng để mình kiếm học bổng du học hồi trước: “Nếu giả sử nhé, nhà bạn sắp cháy và bạn chỉ được mang hai thứ ra mà thôi, bạn sẽ mang gì ra?” Câu trả lời của anh ấy là “Savings account của ông nội tôi và cookbook của mẹ tôi”. Mình rất thích câu trả lời này vì sự sâu sắc, hiếu thảo về gia sản gia đình cũng như giá trị truyền thống trong thức ăn nuôi dưỡng mình của văn hóa người Mỹ 🙂

Tủ lạnh của những gia đình người Mỹ cũng có nhiều những tấm nam châm để đính ảnh của gia đình và ghi thông báo rất sống động 🙂

Vì bọn mình đang đói nên kiếm gì ăn trước vậy. Nhà có một chút thịt nai rừng, do người hàng xóm cho vì ở vùng hoang vu phía New York, rất nhiều nai đi lạc và va vào ô tô hay bị người săn. Thịt nai rất nạc, nhưng hơi nhạt một chút 🙂

Bà Roberta rất nhớ Noah và thể hiện tình cảm ấm áp. Nhớ là vậy, nhưng một năm cũng chẳng gặp nhau được mấy lần, vì con cái đi học và đi làm xa xăm suốt, bỏ những người già ở quê nhà, vì ở quê không có mấy cơ hội học tập và việc làm. Những dịp lễ, cả nhà lại quấn quít bên nhau.

Cả cùng chuẩn bị đồ ăn tối. Mình được giao nhồi thịt cho con gà Tây, Shirah làm bánh táo, bà Shirah và Noah cũng vào phụ bếp.

Sau đó, Noah và mình lái xe qua nhà bà ngoại của Noah để thăm bà và đón bà ngoại qua nhà ăn tối.

Bà ngoại Noah sống cách đó khoảng 10 phút lái xe. Bà đã trên 80 tuổi và sống một mình. Căn nhà bà sống được xây dựng hơn 50 năm về trước và chứa đầy kỷ niệm của gia đình. Trên tường nhà bà treo ảnh ông ngoại, các con của bà khi con bé và gia đình các con và các cháu của bà.

Bà cũng ngạc nhiên thấy mình từ một đất nước xa xôi đến. Bà kể anh trai của bà là người thiết kế về xây dựng cho tòa nhà World Trade Center bị sập. Rằng bà lớn lên qua thời Great Depression khổ cực.

Bà chậm rãi nhưng có đôi mắt tinh nhanh. Bà yêu nghệ thuật và vẫn chơi piano. Bà bảo Noah ra chơi một đoạn piano do bà dạy Noah hồi trước, và căn dặn rằng “hồi trước bà nói với cháu là chơi nhạc là phải improvise – ngẫu hứng”. Noah chơi nhạc, căn nhà rộng rất yên tĩnh chỉ có tiếng piano và sự sâu thẳm của thời gian.

Mọi thứ tĩnh lặng vô cùng. Những bức ảnh rất sạch những chúng cũng có dấu ấn thời gian. Mình gọi căn nhà đó là “the house of time”. Căn nhà làm mình cảm thấy rất khiêm tốn và nhỏ bé trước thời gian.

Bà Noah đã cao tuổi và chậm rãi nên Noah đỡ vào vào xe ô tô.  Cẩn thận đi từng bước vượt qua bậc tuyết. Tất cả trở về nhà bố mẹ Noah.

Shirah rủ thêm hai bạn trai cùng xóm tới ăn tối cùng cho vui. Cả nhà bắt đầu ăn và truyền tay nhau những đĩa thức ăn đi một vòng. Bánh mì đi một vòng, sa lát đi một vòng, cứ lần lượt như thế. Cả nhà nói đủ thứ chuyện rôm rả suốt 🙂

Sau đó, bạn Shiral và Shirah ra ghế chơi ghita và hát nhè nhẹ.

Bà Noah, ông bà Robert, Roberta cũng ra ghế ngồi chơi với mình và nói chuyện tào lao. Bà của Noah là một giáo viên dạy tiếng Anh hồi xưa nên bà kể chút chuyện về những tác phẩm kinh điển của William Faulkner như the Sound and the Fury. Bố Noah là một bác sĩ có mức lương cao nên ủng hộ Bush, mẹ Noah ở nhà đan quần áo và làm những việc bình thường để kiếm thêm chút tiền. Bà quan tâm đến Phật giáo của châu Á.

Sau đó mẹ Noah, Noah và mình lái xe trở bà ngoại Noah về nhà bà. Bà lại về căn nhà trống trải. Đó là thực tế buồn ở Mỹ vì cha mẹ sống tách biệt với bố mẹ gia để có tự do. Những người già thường sống riêng nhưng ở nhà gần con cái, hay sống chung với nhau ở các Nursing home ở vùng thời tiết ấm áp như Florida.

Mặc ngoài trời tuyết lạnh, trong nhà không khí rất ấm cúng.

Mình rất cảm ơn vì cơ hội được đi chơi lễ Tạ Ơn cùng Noah, bạn Mỹ ở cùng nhà mình khi đó ở trường Vermont. Chuyến đi giúp mình hiểu nhiều về lối sống gia đình người Mỹ.

Mình cũng cảm nhận được rằng những bạn sinh viên du học ở những nơi xa xôi hẻo lánh như nơi mình khi đó như những tiểu bang vùng Midwest, Maine, New Hampshire nếu không đi đâu mà ở lại ký túc xá, nhìn thấy cảnh hoang vắng tiêu điều và tuyết rơi liên miên chắc buồn lắm. Mong bình an ở cùng các bạn.

Chúc các bạn một dịp nghỉ lễ ấm áp,

Hiển.

Greenager – Bảo vệ môi trường xanh, và Michael Jackson’s Earth Song

Chào các bạn,

Hôm nay chúng ta cùng xem một tiểu phẩm về bảo vệ môi trường của các bạn học sinh trường Trung học Phổ thông Nguyễn Hiền ở thành phố HCM nhé 🙂

Trường THPT Nguyễn Hiền

Các bạn Hoàng Mai Trang, Nguyễn Ngọc Mạnh Cường, Tiến Lộc, Minh Quân, Hoàng Sơn, Thiện Phú, Huỳnh Phúc, Thái Lập Banh là Nhóm diễn viên tự phát của Văn Phòng Đoàn trường Nguyễn Hiền đã thực hiện video này.

Nhờ có video này, mình mới biết được trường THPT Nguyễn Hiền có một hồ sen xanh tươi rất đẹp giữa trường đấy 🙂

Trường rất đẹp, cũng như thành phố của chúng ta vậy, nhưng có một nhóm các bạn đẹp trai xinh gái làm hơi bừa một chút. Nếu có nhiều bạn đẹp trai xinh gái hơn, chúng ta có thể có một hồ rác. 🙂

Một tiểu phẩm nhỏ đưa câu chuyện đời thường ra ánh sáng rất dễ thương. Cám ơn các bạn diễn viên trường THPT Nguyễn Hiền nhé.  🙂

Nếu các bạn trong các tổ chức dân sự có những video clips vui nhộn về tuyên truyền những giải pháp, hãy gửi đến đóng góp với Nhạc Xanh trên ĐCN. Các bạn có thể gửi cho mình. Email của mình ở trong phần Giới Thiệu.

Sau đây mời các bạn thưởng thức video clip của các bạn Nguyễn Hiền, và video Earth Song của Michael Jackson. Lời nhạc theo sau video.

Chúc các bạn một ngày ý thức môi trường,

Hiển.
.
Greenager – Bảo vệ môi trường xanh, sạch đẹp

.

Michael Jasckson – Earth Song

.

“Earth Song”

What about sunrise
What about rain
What about all the things
That you said we were to gain…
What about killing fields
Is there a time
What about all the things
That you said was yours and mine…
Did you ever stop to notice
All the blood we’ve shed before
Did you ever stop to notice
The crying Earth the weeping shores?

Aaaaaaaaah Aaaaaaaaah
Aaaaaaaaah Aaaaaaaaah

What have we done to the world
Look what we’ve done
What about all the peace
That you pledge your only son…
What about flowering fields
Is there a time
What about all the dreams
That you said was yours and mine…
Did you ever stop to notice
All the children dead from war
Did you ever stop to notice
The crying Earth the weeping shores

Aaaaaaaaah Aaaaaaaaah
Aaaaaaaaah Aaaaaaaaah

I used to dream
I used to glance beyond the stars
Now I don’t know where we are
Although I know we’ve drifted far

Aaaaaaaaah Aaaaaaaaah
Aaaaaaaaah Aaaaaaaaah
Aaaaaaaaah Aaaaaaaaah
Aaaaaaaaah Aaaaaaaaah

Hey, what about yesterday
(What about us)
What about the seas
(What about us)
The heavens are falling down
(What about us)
I can’t even breathe
(What about us)
What about apathy
(What about us)
I need you
(What about us)
What about nature’s worth
(ooo, ooo)
It’s our planet’s womb
(What about us)
What about animals
(What about it)
We’ve turned kingdoms to dust
(What about us)
What about elephants
(What about us)
Have we lost their trust
(What about us)
What about crying whales
(What about us)
We’re ravaging the seas
(What about us)
What about forest trails
(ooo, ooo)
Burnt despite our pleas
(What about us)
What about the holy land
(What about it)
Torn apart by creed
(What about us)
What about the common man
(What about us)
Can’t we set him free
(What about us)
What about children dying
(What about us)
Can’t you hear them cry
(What about us)
Where did we go wrong
(ooo, ooo)
Someone tell me why
(What about us)
What about babies
(What about it)
What about the days
(What about us)
What about all their joy
(What about us)
What about the man
(What about us)
What about the crying man
(What about us)
What about Abraham
(What was us)
What about death again
(ooo, ooo)
Do we give a damn

Aaaaaaaaah Aaaaaaaaah

Về Quê Nghe Tiếng Chim Bắt Cô Trói Cột


Về quê nghe tiếng chim bắt cô trói cột
Ngỡ ai treo kí ức ở trên cành
Ta mòn gót đi cùng trời cuối đất
Tóc trên đầu hao hết nửa phần xanh
Ta xuống đồng, lúa mừng vui vẫy gọi
Cánh cò chao nghiêng ướm hỏi đôi điều
Ừ, nơi đây ta từng gieo kỉ niệm
Ai gặt hết rồi thuở tóc xanh yêu!?

Ta cứ ngỡ quê nhà xưa vẫn vậy
Còn người thương gội bồ kết ướt lưng ong
Trăng vẫn cũ – con đường xưa lại mới
Hết đá vấp chân- sao lại nhói đau lòng!
Biết sao được chuyện của đời dâu bể
Sông có tự ngàn xưa chừ cũng xoay dòng
Núi sừng sững cũng trọc đầu mỏi mệt
Sá chi ta chỉ một kiếp long đong.
Chim chỉ gọi- chẳng bắt ai trói cột
Mà sao ta vùng vẫy đến rã rời
Đứng giữa vườn xưa buồn vui khôn nói được
Kêu chi hoài não nuột lắm chim ơi!

Trích từ tập TRƯỚC SÔNG THU.- Thơ Dương Quang Anh

Cảm nhận:

Một lần đêm quê, ngồi chơi cữ rượu độ gần tàn, người hàng xóm hứng chí ngâm lên:

Về quê nghe tiếng chim bắt cô trói cột
Ngỡ ai treo kí ức ở trên cành
Ta mòn gót đi cùng trời cuối đất
Tóc trên đầu hao hết nửa phần xanh

Cả bàn rượu lặng im. Còn tôi, câu thơ thứ nhì cứ treo lơ lửng trong đầu. Về sau, tôi đã tìm đọc trọn vẹn bài thơ ấy. Bài thơ tôi giới thiệu ở trên.

Bài thơ có cái duyên ngầm bởi bắt được một điệu quê. Với đa phần người, cái hồn quê thường thức dậy từ cánh diều mùa thu hay điệu lí mỗi chiều. Với Dương Quang Anh, thật đến bất ngờ là cái hồn quê lại dóng lên khắc khoải từ một loài chim chẳng mấy khi được chọn làm thi liệu: Chim bắt cô trói cột.

Và theo âm vang của nốt nhạc lạc loài ấy, khách tình quê đi về với cánh cò, đồng lúa, mùa trăng xưa và con đường cũ. Những bước lang thang mà định hướng cho cả một mùa kí ức.

Bắt được giai âm, tác giả như tình cờ được tặng luôn cả một giai điệu. Toàn bài thơ tuy có đôi chỗ phá cách nhưng chung qui vẫn nền nả mặn mà bằng điệu thơ tám chữ có phần xưa cũ. Ấy vậy mà giọng điệu rất quen thuộc ấy, tôi nghĩ, mới thật là một chọn lọc.

Có tình, có điệu. Chưa hết, tôi muốn bàn đến cái tứ của bài thơ. Phải nói thơ anh vừa xúc cảm vừa chắc trong cấu tứ. Ở mỗi khổ thơ, tác giả đã biết để lại một câu hay, một ý đắc để làm những chiếc đinh giữ vững bộ khung của thơ mình.

Ngang đồng lúa, người thơ tự hỏi:
Ai gặt hết rồi thuở tóc xanh yêu!?

Và trên quê xưa, đường nhựa phẳng lì thay cho những bậc đá ngày nào còn mấp mô trong kí ức, sao lòng lại xốn xang:

Hết đá vấp chân sao lại nhói đau lòng

Và đây là thái độ của người đã quá cái ngưỡng tri thiên mệnh trước mọi ngã đời dâu bể:

Núi sừng sững cũng trọc đầu mỏi mệt
Sá chi ta chỉ một kiếp long đong

Và bài thơ kết lại đúng nghĩa trữ tình. Kết mà không mở ra một cục diện mới nào, kết trong một thủy chung cảm xúc:

Chim vẫn gọi chẳng bắt ai trói buộc
Mà sao ta vùng vẫy đến rã rời
Đứng giữa đường làng buồn vui khôn nói được
Kêu chi hoài não nuột lắm chim ơi!

Tôi cũng thế, vùng vẫy mãi mà chẳng thể thoát ra khỏi những sợi tơ chăng mắc bằng ngôn ngữ trữ tình ấy. Bỡi tôi cũng là một người quê. Cũng đôi lần đi về quê xưa mà nghe thời gian còn phảng phất một màu kí ức. Và như để trả nợ cho một tình quê, tôi giải tỏa bằng một vài cảm nhận. Hẳn cũng quê kệch như tiếng “bắt cô trói cột” kia. Song lại là một điệu quê, có ai người đồng điệu?

Nguyễn Tấn Ái

Nữ Thần Tự Do – Bài thơ “The New Collosus” của Emma Lazarus

Chào các bạn,

Hôm nay mình giới thiệu với các bạn bài thơ “New Collosus” của thi sĩ  Emma Lazarus. Bài thơ này được khắc trên một tấm biển ở dưới chân tượng Nữ thần tự do ở thành phố New York vào năm 1903.

Xa xa phía ngoài khơi, những đoàn người nhập cư mệt mỏi vượt biển đi đến thành phố New York qua hơn hai thế kỷ nay. Họ bỏ đi tất cả, quê hương, của cải, người thân để đem đánh cuộc tính mạng  mình trên một con tàu vượt đại dương đi tìm sự sống mới.

Họ là ai? Những người Ba Lan chạy sang Mỹ từ chiến tranh thế giới thứ nhất? Những người Tiệp chạy khỏi nhà độc tài Milosevic? Những người Âu sang đi tìm miền đất hứa? Những người tị nạn tôn giáo qua Mỹ từ thế kỷ 17? Những người muốn tìm cuộc sống kinh tế tốt hơn vì ở nước họ nghèo quá?

Hơn một thế kỷ qua, Nữ thần Tự do đứng đó nghiêm nghị trong gió buốt lạnh của hải cảng New York, đôi mắt bà nhìn xa xôi. Làn da bà đã phai màu vì gió và nước biển. Một tay bà cầm quyển hiến pháp nước Mỹ, và tay kia cầm một ngọn đuốc đỏ. Ngọn đuốc đó là tia sáng âm ỉ gần tàn, tia sáng bị đe dọa dập tắt trong con tim của bao thế hệ con người, tia sáng của Tự do.

Bài thơ “New Collosus” ở dưới chân tượng đó khiến mình suy nghĩ nhiều về ước vọng của con người. Sao một người ăn mày trên vỉa hè thành phố New York vất vả vô cùng mà mắt họ vẫn ánh lên vẻ sung sướng, và một anh đại gia trọc phú ở một nước xa xa bên kia bờ đại dương sao khuôn mặt u tối làm vậy? Phải chăng đó là Tự do? Hít thở được không khí của Tự do? Cái thứ không khí vào mọi  con đường, ngõ ngách, và lồng ngực con người.

Ở dưới đây, là đoạn nhật ký ngắn diễn tả cảm xúc của mình về bài thơ này và ngày mùng 4 tháng 7 năm 2009, và sau đó là bài thơ

”Bài thơ này nằm bên dưới suy nghĩ của mình vào ngày 4/7/2009 khi mình ngắm pháo hoa từ thành phố Jersey City. Ở đó, người ta có thể thấy cả tượng Nữ thần Tự do và Trung Tâm Macy, nơi mà những ngọn pháo hoa được bắn lên trời cao. Chúng đứng cạnh nhau (trung tâm Macy với pháo hoa và tượng Nữ thần Tự do). Thành phố đầy ánh sáng, tii đang bật và những talkshow đang chạy trên màn hình. Nữ thần đứng nghiêm, lạnh lẽo trong gió, và đưa cái nhìn của bà ra xa.

”Tượng khổng lồ mới” được khắc trên một tấm biển ở chân tượng Nữ thần Tự do. “

This poem underlined my thought on 7/4/2009 witnessing the fireworks from Jersey City. There, one could see both the Lady of Liberty and the Macy’s center where the fireworks were shot into the sky. They stood side by side. The city was full of light, television was on and and the talk was running. The lady stood sharp, cold in the wind, extending her look.

“The New Colossus” was engraved on a tablet in the pedestal on which the statue stands.
.

Tượng khổng lồ mới

    Emma Lazarus

Không giống như tượng đồng danh tiếng của Hy Lạp,

Với những cánh tay chinh phục sải dài từ xứ này sang xứ khác;

Nơi đây tại cửa biển hoàng hôn sóng vỗ

Đứng người đàn bà phi thường với ngọn đuốc, mà lửa đuốc

Là sấm sét bị cầm tù, và tên nàng

Di dân - Ellis Island (New York) - 1912

Mẹ Của Những Kẻ Tha Hương. Từ bàn tay cầm đèn hiệu đó

Sáng rực lời chào tỏa khắp thế giới; đôi mắt dịu hiền của nàng trị vì

Hải cảng lộng gió giữa hai thành phố. *

“Cứ giữ lấy những mảnh đất xa xưa, những cổ tích hoa lệ của các ngươi!”, nàng kêu gào.

Môi mím chặt. “Trao ta những kẻ mệt mỏi, nghèo đói của các ngươi,

Những đám đông chen chúc của các ngươi đang mong ước hít thở tự do,

Những rác rưởi khốn cùng trên bờ biển đông đúc của các ngươi.

Trao ta, những người vô gia cư, dập vùi trong bão tố,

Ta sẽ nâng đèn rọi bên cạnh cánh cửa vàng!”

(Nguyễn Minh Hiển dịch)

Chú Thích: (*) Hai thành phố là New York và New Jersey

.

The New Colossus

    by Emma Lazarus

Not like the brazen giant of Greek fame,
With conquering limbs astride from land to land;
Here at our sea-washed, sunset gates shall stand
A mighty woman with a torch, whose flame
Is the imprisoned lightning, and her name
Mother of Exiles. From her beacon-hand
Glows world-wide welcome; her mild eyes command
The air-bridged harbor that twin cities frame.
“Keep ancient lands, your storied pomp!” cries she
With silent lips. “Give me your tired, your poor,
Your huddled masses yearning to breathe free,
The wretched refuse of your teeming shore.
Send these, the homeless, tempest-tost to me,
I lift my lamp beside the golden door!”

Cư trần lạc đạo

Chào các bạn,

Trần Nhân Tông (1258-1308) là vua Đại Việt thứ ba của nhà Trần. Trước đó là Trần Thái Tông và Trần Thánh Tông.

Sau khi nhường ngôi cho con là Trần Anh Tông, vua Trần Nhân Tông, dưới sự hướng dẫn của Tuệ Trung Thượng Sĩ, lên núi Yên Tử tu thiền, và tập hợp ba dòng thiền tại Việt Nam lúc đó là dòng Tỳ Ni Đa Lưu Chi (Vinitaruci), dòng Vô Ngôn Thông, và dòng Thảo Đường, thành Thiền phái Trúc Lâm, còn tồn tại cho đến ngày nay với Trúc Lâm Thiền Viện ở Đà Lạt do thiền sư Thích Thanh Từ chủ trì.

Hôm nay chúng ta sẽ nghiên cứu một bài thiền thi ngắn nhưng rất sâu sắc của vua Trần Nhân Tông, là bài Cư trần lạc đạo, vừa đăng gần đây trong slideshow Thiền Thi.

Cư trần lạc đạo

Cư trần lạc đạo thả tùy duyên
Cơ tắc xan hề khốn tắc miên
Gia trung hữu báo hưu tầm mịch
Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền

    Trần Nhân Tông
    (Trần Khâm 1258-1308)


Sống đời vui đạo

Sống đời vui đạo cứ tùy duyên
Đói thì ăn no mệt ngủ liền
Trong nhà có của, đừng tìm nữa
Nhìn cảnh vô tâm, hỏi chi thiền

    TĐH dịch

Sống đời vui đạo cứ tùy duyên. Sống đời vui đạo. Không phải là “trốn đời vui đạo” theo kiểu “Lan và Điệp” như mọi người thường lầm tưởng. Đời và đạo là sống và vui.

“Đời đạo là sống vui. Đạo đời là vui sống.”

Có “sống đời” thì mới “vui đạo” được. Vì đời là đạo và đạo là đời. Ngoài đời không có đạo, ngoài đạo không có đời. Như thiền sư Vĩnh Gia Huyền Giác nói trong Chứng Đạo Ca :

Vô minh thực tính tức phật tính
Huyễn hóa không thân tức pháp thân

Giải thích:

Bản tính thực của vô minh (si mê) chính là tính phật
“Thân không thực” huyền ảo này chính là thân (thực) của tất cả mọi thứ

Đây cũng chính là “sắc bất dị không, không bất dị sắc” (sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc) của Bát Nhã Tâm Kinh.

• Muốn “sống đời vui đạo” thì phải “tùy duyên” Chữ “duyên” là chữ bao gồm toàn bộ tư tưởng Phật học.

“Duyên” là nhân quả. Những gì xảy ra bây giờ là kết quả của tất cả mọi nguyên nhân (mọi nhân duyên) trước đó—một tích tắc trước cũng như vô lượng kiếp trước—và là nguyên nhân của những gì sau đó—một tích tắc sau cũng như vô lượng kiếp sau.

(Chỉ cần hiểu hết được lý‎ lẽ của chữ duyên—thập nhị nhân duyên, mười hai bước nhân duyên của cuộc đời—là đã có thể giác ngộ thành Bích Chi Phật)

“Tùy duyên” là “theo duyên”. Nghĩa là chuyện gì xảy đến cũng có l‎ý do của nó, cứ thuận theo đó mà sống–không cần phải chống lại nó, không cần phải phàn nàn về nó, không cần phải lo âu về nó, không cần phải stress về nó, như là:

Đói thì ăn no, mệt ngủ liền.

Chẳng ai phàn nàn tại sao đói. Chẳng ai thắc mắc tại sao mệt. Chẳng ai đau khổ mỗi khi đói bụng hay buồn ngủ.

Vậy thì, bệnh thì tìm thuốc chữa, cần tiền thì đi làm kiếm tiền, cần thi đậu thì học, cần hết stress thì giải stress…

Việc gì phải làm thì làm, chẳng lý do gì phải stress, phải phàn nàn, phải trách móc, phải giận dữ, phải đau khổ, phải than thân trách phận, phải tiêu cực.

Trong nhà có của, đừng tìm nữa.

Cái gì là báu vật vậy? USD? Hột xoàn mười mấy cara?

Không. Báu vật đó là cái tất cả mọi người trong thiên hạ đi tìm: Hạnh phúc.

Hạnh phúc: Nhà Phật gọi là Niết Bàn—hoàn toàn tĩnh lặng, hoàn toàn an lạc, thành người tĩnh thức, thành Phật.

Nhưng Niết Bàn không nằm ngoài ta—Niết Bàn đã có sẵn trong tâm ta. Phật cũng không nằm ngoài ta, Phật đã nằm sẵn trong tâm. Mỗi người chúng ta là Phật đang thành, là Niết Bàn sắp hiện.

Đừng tìm Phật bên ngoài, đừng tìm Niết Bàn bên ngoài. Trong nhà có của, đừng tìm nữa.

Nhìn cảnh vô tâm, hỏi chi thiền.

Nhìn cảnh thì thấy cảnh, đừng “chú giải” thêm vào cảnh đó. Như là nhìn“mưa rơi trên mái hiên” thì thấy “mưa rơi trên mái hiên”, chứ đừng chú giải thêm là “mưa rơi trên mái hiên buồn tênh” hay “mưa rơi trên mái hiên như những bước nhảy nhót của người yêu.”

Phụ chú tình cảm chủ quan vào “cảnh” ta thấy, là có tâm ý.

Chỉ nhìn cảnh, thấy cảnh, nhưng không phụ chú, không tam quốc diễn nghĩa thêm vào, gọi là “không tâm ý”, tức là “vô tâm.”

“Nhìn cảnh vô tâm” tức là nhìn người chửi mình mà không nổi giận; nhìn bệnh tật đến với mình mà không sợ hãi; nhìn nguy hiểm trước mắt mà không kinh khiếp; nhìn đống vàng mà không hoa mắt; nhìn danh vị mà không ham hố; nhìn quyền lực mà không say mê; nhìn túi quần không một xu teng mà không mặc cảm; nhìn thân thể tật nguyền mà không tủi thân, nhìn thế lực địa vị trong tay mà không kiêu mạn…

Điều gì đến thì đến, điều gì phải làm thì làm. Đến thì đến, nhìn thì nhìn, làm thì làm, nhưng tâm luôn bình lặng, luôn thoải mái, luôn an lạc.

Đó là vô tâm.

Và đó là Hạnh phúc, là Niết Bàn, là Phật tính.

Đối cảnh vô tâm. Nhìn cuộc đời với con tim hoàn toàn tĩnh lặng.

Như thế thì không còn tham lan, sân hận, si mê, kiêu mạn, sợ hãi, làm cho tâm bị mù lòa nữa.

Lúc đó tự nhiên ta thấy được của báu đã có sẵn trong nhà—cái tâm tĩnh lặng của mình, Phật tính của mình, Niết Bàn của mình.

“Đối cảnh vô tâm” là Phật, là Niết Bàn, là an lạc, là Hạnh phúc.

Thế thì đâu cần phải hỏi chi đến thiền, hay tu, hay pháp?

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

© copyright 2009
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Johann Sebastian Bach – Jesus, Joy of man’s desiring

Chào các bạn,

Hôm nay chúng ta cùng nghe bản nhạc “Jesus, Joy of man’s desiring” của Johann Sebastian Bach, người mà Beethoven gọi là “một đại dương”. Đây là khúc thứ 10 trong cantana Herz und Mund und Tat und Leben của Bach.

J.S Bach
J.S Bach

Bản nhạc an bình ngợi ca chúa Giê-su này được ông viết vào lần đầu tiên ông tới thăm thành phố Leipzig, nước Đức, và đây là một trong những cantana sống mãi với thời gian của ông. Ngày nay, “Jesus, Joy of man’s desiring“ thường được chơi ở các lễ cưới trong nhà thờ. Những kênh truyền hình phổ thông và radio cũng thường chơi bản nhạc này ở phần nhạc nền.

Bản nhạc êm ái này khiến ta bị hút vào bởi sự an bình của nó, sự an bình của một đại dương. Hồi cấp ba, mình mượn được ở thư viện Hà Nội cuốn sách về cuộc đời của nhạc sĩ Beethoven, nhạc sĩ nhận xét về Bach là “Bach không phải là một dòng suối (Bach trong tiếng Đức có nghĩa là dòng suối), Bach là một đại dương”.

Dưới đây là 3 videos của “Jesus, joy of man’s desiring”.  Video thứ nhất là bài hát do Celtic Woman biểu diễn, video thứ 2 do dàn nhạc hòa tấu cùng hợp xướng, và video thứ 3 do David Qualey trình tấu bản nhạc ông chuyển soạn cho ghita.

Lời tiếng Anh theo sau các videos.

Chúc các bạn bình an và sức khỏe,

Hiển.
.

Celtic Woman – Jesus Joy of Man’s Desiring (live)

.

J.S. Bach – Jesus joy of man’s desiring, BWV 147

.

Jesus, joy of man’s desiring, David Qualey chuyển soạn và trình tấu cho ghi ta.

.


Jesus, joy of man’s desiring

Jesu, joy of man’s desiring,
Holy wisdom, love most bright;
Drawn by Thee, our souls aspiring
Soar to uncreated light.
Word of God, our flesh that fashioned,
With the fire of life impassioned,
Striving still to truth unknown,
Soaring, dying round Thy throne.

Through the way where hope is guiding,
Hark, what peaceful music rings;
Where the flock, in Thee confiding,
Drink of joy from deathless springs.
Theirs is beauty’s fairest pleasure;
Theirs is wisdom’s holiest treasure.
Thou dost ever lead Thine own
In the love of joys unknown.

Mùa Đông Phố Nhỏ


Ban Mê gió nhẹ bước vào đông

Trời đã ngủ quên ánh nắng hồng

Mưa phùn lất phất mềm lối cỏ

Phố nhỏ thơm nồng tách cà phê

Ban Mê giấu nắng để vào đông

Lữ khách đường xa xuyến xao lòng

Cái lạnh nhẹ nhàng như quyến rũ

Dệt ủ hương nồng giọt cà phê

Ban Mê phố nhỏ bước vào đông

Nắng ở mắt ai ấm cõi lòng

Góc phố thân quen dù mới gặp

Nhẹ từng giọt đắng, ngọt ngào rơi

Tách cà phê ấm đã dần vơi

Uống cạn bao lời trao thiện mỹ

Uống vơi tay ấm đón an bình

Uống say nốt nhạc ngày không nắng

Ban Mê giấu nắng bước vào đông

Phố nhỏ trong tôi mãi ấm nồng…

Minh Tâm

Ru Mùa


Về quê anh nghe em

Nắng miền trung trải vàng lên sỏi đá

Mưa phố núi nước tràn mọi ngã

Vai mẹ nghèo gồng gánh những riêng lo.

Về quê anh nghe tiếng gọi đò

Lời tha thiết nối đôi bờ thương nhớ

Đừng ngần ngại để tình ta lở dở

Tiếng đập chiếu trên sông bổi hổi gọi anh về.

Tháng năm dài phố thị mải mê

Anh rong ruỗi kiếm tìm hư ảo

Trong sấp ngửa của chợ đời nhốn nháo

Thèm sắc tím hoa sim, khát ngọn gió đồng.

Giã từ nơi phố chật người đông

Nhà sát vách ai nào quen biết

Đêm náo nhiệt, mảnh trăng gầy héo hắt

Về quê anh trăng gió hát ru mùa…

Quên đi em những được mất, bán mua

Về đắp đập, đào kênh đem nước về lấp loáng

Về bạt núi, ngăn sông khơi nguồn điện sáng

Mỗi bình minh chim hót dậy sau vườn.

Về quê anh ta hát khúc yêu thương

Ngày gánh lúa, gánh mùa lên rẫy

Đêm đốt lửa sưởi tình, trăng ấm mãi

Em nồng nàn trong điệu hát hò khoan…

Tháng 9 năm 2009

Lê Tấn Hiền