Category Archives: Văn Hóa

Sweet home Chicago

Thành phố Chicago

Chào các bạn,

Trận gió thổi giật rất mạnh ngày 26/1/2010 kèm với mưa ở trước cửa tòa nhà công ty chỗ mình làm việc vào buổi trưa khiến chiếc lều bạt ở hàng hiên bật tung lên một bên. Các anh chị cầm ô chạy qua ngoài cũng bị gió thổi bay cả ô, và người cũng bị nghiêng ngả vì gió.

Mình tò mò quá và chạy ra ngoài để hứng mưa chịu gió một chút 🙂  Quay vào phòng bếp công ty (lúc đó đang giờ ăn trưa), mình bảo anh Ken là “Trận gió này tiết kiệm cho mình một chuyến đi chơi tới Chicago, thành phố của  gió 🙂

Tối hôm đó mình qua thăm blog của anh Ngô Bảo Châu, cái tên mà bây giờ chắc bạn nào cũng đã rất quen thuộc. Anh post bài hát “Sweet home Chicago” mà mình rất thích.

Ngày 27/1/2010 báo Tuổi trẻ đăng tin anh Châu sắp chuyển tới trường đại học Chicago ở thành phố Chicago giảng dạy. Anh Bảo Châu có cách thông báo khéo quá. Chúc mừng anh. 🙂

Hôm nay chúng ta cùng nghe bài hát “Sweet home Chicago”, bài hát điệu blue đại diện cho thành phố Chicago tiểu bang Illinois nhé 🙂

Sweet home Chicago

Bài hát Sweet home Chicago là nhạc Blues, được viết ở điệu twelve bar form và được thu âm đầu tiên bởi huyền thoại ghi ta Robert Johnson. Theo thời gian, bài hát này trở thành bài hát chủ đề của thành phố Chicago, tuy lúc đầu lời nhạc của bài hát chỉ nhắc đến Chicago chút ít. Nhưng vì bài hát trở nên gắn bó với Chicago, các  phiên bản về sau của lời nhạc được sửa cho gần gũi với Chicago hơn.

Bài hát Sweet Home Chicago là niềm cảm hứng cho rất nhiều nghệ sĩ chơi theo cách ngẫu hứng riêng của mình. Dưới đây chúng ta có 3 video. Video thứ nhất do Eric Clapton, Buddy Guy và những người bạn chơi ở đại nhạc hội Crossroads Guitar Festival vào năm 2004; video thứ hai do Freddi King chơi và video thứ ba là video đầu tiên của Sweet home Chicago do huyền thoại Robert Johnson trình diễn. Theo sau là lời nhạc nguyên thủy của Robert Johnson.

Chúc các bạn một ngày cảm hứng blues,

Hiển.


Eric Clapton, Buddy Guy and friends – Sweet Home Chicago
At the crossroads guitar festival of 2004, the last song including Clapton, Jimmy Vaughan, Buddy Guy, Robert Cray, and the Howlin´ wolf guitarrist Humbert Sumlin.


Freddie King ” Sweet Home Chicago”


” Sweet Home Chicago”, ROBERT  JOHNSON

Sweet Home Chicago
Lyrics by Robert Johnson

Oh, baby don’t you want to go
Oh, baby don’t you want to go
Back to the land of California, to my sweet home Chicago
(Repeat)

Now, one and one is two, two and two is four
I’m heavy loaded, baby
I’m booked, I gotta go
Cryin’ baby, honey, don’t you want to go
Back to the land of California, to my sweet home Chicago

Now two and two is four, four and two is six
You gon’ keep on monkeyin’ ’round here, friend-boy
You gon’ get your business all in a trick
I’m cryin’ baby, honey, don’t you want to go
Back to the land of California, to my sweet home Chicago

Now six and two is eight, eight and two is ten
Friend-boy, she trick you one time
She sure gon’ do it again
I’m cryin’ hey, hey, baby, don’t you want to go
To the land of California, to my sweet home Chicago

I’m goin’ to California, from there to Des Moines, Iowa
Somebody will tell me that
You need my help someday
Cryin’ hey, hey, baby, don’t you want to go
Back to the land of California, to my sweet home Chicago

Mọi thứ đều nhất

Khi thiền sư Banzan đang đi ngang một khu chợ, thiền sư nghe một mẩu đối thoại giữa anh hàng thịt và khách hàng.

“Cho tôi miếng thịt ngon nhất anh có,” người khách hàng nói.

“Trong tiệm tôi mọi thứ đều nhất,” anh hàng thịt trả lời. “Chị chẳng tìm ở đây được miếng thịt nào mà không nhất.”

Nghe những lời này, Banzan tức thì giác ngộ.

Bình:

• “Mọi thứ đều nhất” tức là tâm không còn phân biệt. Tất cả chúng sinh đều như nhau—đều là Phật đang thành. Phải có tâm Phật mới “thấy” và “sống” được điều này.

Cho nên, Phật dạy từ tâm. Từ tâm với tất cả mọi người–thân sơ, tốt xấu.

Kinh Từ Tâm viết:

Tấm lòng nhân ái bao la,
Thật là thuần khiết, thật là cao thâm.
Hướng về tất cả chúng sinh,

Thương người quen lẽ tất nhiên,
Cũng thương những kẻ chưa quen bao giờ.
Xóa đi ngăn cách thân sơ,

Đủ lòng độ lượng, đủ lòng thương yêu.
Với người mưu hại đủ điều,
Bất nhân ác cảm gây bao hận thù.

Với người oán ghét bao đời,
Nguồn thương yêu ấy làm vơi tị hiềm.

Không những là yêu thương tất cả mọi người, mà là tất cả mọi loài, tất cả mọi sinh linh.

• (Và yêu tất cả mọi người không có nghĩa là tin tất cả mọi người. Trong đời sống hàng ngày, đôi khi ta phải thực tế trong việc tin người và dùng người. Nhưng yêu mọi người thì được. Cũng như bố mẹ có thể yêu tất cả các đứa con như nhau, nhưng tin mỗi đứa, và do đó hành xử với mỗi đứa, có thể khác nhau).

• Ở vào mức cao nhất, Bát Nhã Tâm Kinh nói: “Khi Bồ tát Quán-tự-tại thực hành trí tuệ Bát Nhã thâm sâu, soi thấy [tất cả] là Không, Ngài liền vượt mọi khổ nạn.” Tất cả là Không, tức là không còn phân biệt cái gì hơn cái gì.

• Ở một góc nhìn khác, thì không có gì là rác cả. Tất cả mọi thứ trên đời đều có thể dùng được vào việc nào đó. Tất cả mọi người trên đời đều có thể dùng được vào việc nào đó.

• Anh hàng thịt: Đối với Phật gia cấm sát sinh, thì có lẽ bán thịt là nghiệp tội nặng nhất nhì trên đời rồi. Vậy mà một lời nói của anh hàng thịt cũng “bật công tắc đèn” cho một thiền sư giác ngộ. Vậy thì, lời nói có thể giúp ta giác ngộ có thể đến từ bất kỳ ai. Ta không thể có thái độ kỳ thị, coi thường lời nói của ai, vì họ dốt, hay là người xấu, là kẻ thù, là kẻ tội lỗi, là người khác đạo… Bất kỳ lời nói đến từ đâu, từ ai, đều có thể làm cho ta giác ngộ, vào đúng lúc.

• Tâm vô phân biệt.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

.

Everything is Best

When Banzan was walking through a market he overheard a conversation between a butcher and his customer.

“Give me the best piece of meat you have,” said the customer.

“Everything in my shop is the best,” replied the butcher. “You cannot find here any piece of meat that is not the best.”

At these words Banzan became enlightened.

# 31

Người đàn ông chơi piano

Người nhạc sĩ buồn rầu vì album đầu tay của anh với hãng đĩa không thành công, và họ đang muốn hất cẳng anh ra khỏi hợp đồng thu âm.

Anh buồn rầu đi vào một quán bar. Hôm đó là thứ bảy, trong quán có một ông già, nhân viên pha chế rượu tên John, nhân viên chạy bàn, một tiểu thuyết gia tên Paul và anh chàng lính hải quân tên Dady. Tất cả họ đều chẳng mấy hài lòng với cuộc sống hiện tại.

Ông già ngồi say sưa với chai rượu và hồi tưởng lại thời trai trẻ
John kêu rằng công việc này đang giết chết tôi, và nếu có thể, tôi sẽ trở thành một ngôi sao điện ảnh nếu rời khỏi nơi này
Paul mải mê với công việc đến nỗi chẳng có thời gian dành cho vợ
Dady làm trong hải quân, có lẽ sẽ là suốt đời như vậy.

Và họ yêu cầu người nghệ sĩ piano hát một bài “Để chúng tôi thấy yên lòng”.

Sing us a song, you’re the piano man
Sing us a song tonight
Well, we’re all in the mood for a melody
And you’ve got us all feelin’ all right

Đây là bài hát mà nghệ sĩ Billy Joel viết câu chuyện có thật của anh khi anh đang buồn vì sự thất bại của album đầu tay. Bài hát này sau khi phát hành đã trở thành hit và là một trong những bài hát nổi tiếng nhất do Billy Joe sáng tác và cũng nằm trong top 500 bài hát hay nhất mọi thời đại do tạp chí Rolling Stone bình chọn.

Mời các bạn cùng thưởng thức giai điệu của Piano Man qua solo của Billy Joel,  và song ca cùng Sir. Elton John.   Lời nhạc theo sau videos.

Hoàng Khánh Hòa

Billy Joe solo

Hát cùng Elton John

Lời bài hát:

It’s nine o’clock on a Saturday
The regular crowd shuffles in
There’s an old man sitting next to me
Makin’ love to his tonic and gin

He says, “Son, can you play me a memory
I’m not really sure how it goes
But it’s sad and it’s sweet and I knew it complete
When I wore a younger man’s clothes.”

la la la, di da da
La la, di di da da dum

Chorus:
Sing us a song, you’re the piano man
Sing us a song tonight
Well, we’re all in the mood for a melody
And you’ve got us all feelin’ all right

Now John at the bar is a friend of mine
He gets me my drinks for free
And he’s quick with a joke and he’ll light up your smoke
But there’s some place that he’d rather be
He says, “Bill, I believe this is killing me.”
As his smile ran away from his face
“Well I’m sure that I could be a movie star
If I could get out of this place”

Oh, la la la, di da da
La la, di da da da dum

Now Paul is a real estate novelist
Who never had time for a wife
And he’s talkin’ with Davy, who’s still in the Navy
And probably will be for life

And the waitress is practicing politics
As the businessman slowly gets stoned
Yes, they’re sharing a drink they call loneliness
But it’s better than drinkin’ alone

Chorus
sing us a song you’re the piano man
sing us a song tonight
well we’re all in the mood for a melody
and you got us all feeling alright

It’s a pretty good crowd for a Saturday
And the manager gives me a smile
‘Cause he knows that it’s me they’ve been comin’ to see
To forget about their life for a while
And the piano, it sounds like a carnivore
And the microphone smells like a beer
And they sit at the bar and put bread in my jar
And say, “Man, what are you doin’ here?”

Oh, la la la, di da da
La la, di da da da dum

Chorus:
sing us a song you’re the piano man
sing us a song tonight
well we’re all in the mood for a melody
and you got us all feeling alright

Ảnh nghệ thuật – Nguyễn Hương Vượng (Đắk Lắk)

Chào các bạn,

Nghệ sĩ nhiếp ảnh Nguyễn Hương Vượng (Đắc Lắc) đoạt 4 giải thưởng cao tại cuộc thi ảnh nghệ thuật “64 rd Hong Kong International Salon of Photography 2009”.

Gửi 4 tác phẩm dự thi ở thể loại ảnh digital, NSNA Nguyễn Hương Vượng đã giành được 4 giải thưởng:

– Giải về bộ ảnh đẹp nhất (Best Set of Entries),

– Huy chương vàng của Liên đoàn Nhiếp ảnh nghệ thuật quốc tế (FIAP Gold Medal) cho tác phẩm “Mặt nạ”,

– Huy chương vàng của Hội Nhiếp ảnh Hoa Kỳ (PSA Gold Medal) cho tác phẩm “Chiếc dù đỏ”,

– Huy chương đồng Hồng Kông (PSHK Bronze Medal) cho tác phẩm “Bà nội”.

Xin giới thiệu đến các bạn bốn tấm ảnh này dưới đây, cùng một số các tấm ảnh nổi tiếng khác của anh Vượng.

Chúc mọi người một ngày tươi vui !

Trần Can

Tai Họa

Bà Nội

Dù Đỏ

Mặt Nạ

Xem thêm tại Ảnh Hướng Thượng >>>

Danh thiếp

Keichu, vị thiền sư lớn thời Minh Trị Thiên Hoàng, là sư trụ trì chùa Tofuku, một đại tự ờ Kyota. Ngày nọ, thống đốc Kyoto đến thăm thiền sư lần đầu tiên.

Người trợ lý thống đốc trình danh thiếp của thống đốc, có ghi: “Kitagaki, Thống Đốc Kyoto.

“Tôi không có chuyện gì để nói với một anh chàng như vậy,” Keichu nói với người trợ lý. “Bảo ông ta đì về đi.” Người trợ lý mang tấm danh thiếp trở lại với lời xin lỗi. “Đó là lỗi của tôi,” thống đốc viết, với dòng bút chì xóa cụm từ Thống Đốc Kyoto. “Hỏi thầy anh lần nữa.”

“Ô, Katagaki hả?” thiền sư reo lên khi thấy tấm danh thiếp. “Thầy muốn gặp anh ấy.”

Bình:

• Keichu Bundo (1824-1905) là thiền sư Lâm Tế, hạ nhân của thiền sư “Vậy à” Hakuin.

• Rõ là đại sư muốn dạy cho thống đốc (“anh chàng như vậy”) một bài học về khiêm tốn. Nhưng tại sao phải dạy thì ta không biết trong bài này. Có thể là có nhiều điều đã xảy ra thời đó làm cho thiền sư phải giảng dạy như thế.

• Bài này cũng cho thấy không thể lấy bụng tiểu nhân mà đo lòng quân tử. Không thể thấy việc đại sư xử với thống đốc như thế mà kết luận là đại sư kiêu căng. Cái nhìn bên ngoài có thể được l‎ý giải bằng đủ mọi cách tâm ta muốn. Nếu ta có tâm thanh thoát, ta sẽ thấy mọi điều thanh thoát.


• Điều quan trọng là, nếu ta là thống đốc, ta được đại sư cho một cơ hội bằng vàng để học cung cách khiêm tốn, ta có khiêm cung để nhận bài học không?

Ở đời gặp chuyện loại này cũng thường. Phản ứng của chúng ta thế nào khi ta nằm trong trường hợp gần như trường hợp của Thống Đốc Kyoto?

• Nhiều người đọc bài này có thể nghĩ rằng tác phong không sợ quyền hành của Kaichu là điểm chính. Nhưng đó không là điểm chính. Thầy dạy học thì có đủ cách dạy, từ dịu dàng đến dữ dội, chẳng có gì đáng ngạc nhiên hết.

Điểm chính là phản ứng khiêm tốn, yêu học hỏi, của Thống Đốc Kitagaki.

• Khi nào thì ta mang chức vụ ra để cư xử? Khi nào ta cư xử với nhau chỉ bằng cái tên bố mẹ đã cho ta?

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

.

Calling Card

Keichu, the great Zen teacher of the Meiji era, was the head of Tofuku, a cathedral in Kyoto. One day the governor of Kyoto called upon him for the first time.

His attendant presented the card of the governor, which read: Kitagaki, Governor of Kyoto.

“I have no business with such a fellow,” said Keichu to his attendant. “Tell him to get out of here.”The attendant carried the card back with apologies. “That was my error,” said the governor, and with a pencil he scratched out the words Governor of Kyoto. “Ask your teacher again.”

“Oh, is that Kitagaki?” exclaimed the teacher when he saw the card. “I want to see that fellow.”

# 30

Xuân Vẫn Sang Diệu Kỳ

Chào các anh chị và các bạn,

Trong số những bài hát về mùa xuân, có một bài hát mà tôi rất thích, đó là bài “Xuân vẫn sang diệu kỳ”, sáng tác của nhạc sỹ Đỗ Bảo. Bài này tôi nghe lần đầu trong một ngày xuân 2006, thực sự đã mang lại cho tôi một không khí tươi vui, mới mẻ, tràn ngập sức sống…

Mùa xuân, mùa bắt đầu của một năm mới, chính vì thế, mùa xuân đến luôn mang theo một luồng sống mới cho mọi người. Mùa xuân là mùa của niềm vui, của nụ cười, của tình yêu, của những ước mơ, những kế hoạch…. Mùa xuân là mùa của “những hàng cây ngào ngạt sắc hương”, của những “con phố tràn đầy nắng ấm”, mùa “gọi mời đàn chim muôn phương bay đến”… Nắng xuân ấm áp và sáng trong hơn, gió xuân mạnh mẽ hơn, hoa xuân rực sáng hơn….

Thiên nhiên tươi trẻ, rực rỡ như thế, con người làm sao có thể làm ngơ. Con người về mùa xuân cũng trở nên “hồi sinh” hơn. “Lòng người mùa xuân mang bao mơ ước”, “cuộc đời mùa xuân mang bao ngát xanh”. Mùa xuân đến mang bao ước mơ, hoài bão, khát khao, mong muốn của con người. Người ta đẹp hơn trong mùa xuân, người ta cười nhiều hơn trong mùa xuân, người ta yêu nhau hơn trong mùa xuân. Mùa xuân trở nên thật diệu kỳ. “Tâm hồn xuân mãi sáng trong” phải chăng vì khi xuân đến, người ta gạt đi mọi bụi bặm trong năm cũ, chuẩn bị cho mình một tâm hồn, một tinh thần trong sáng nhất, tươi mới nhất, để sẵn sàng bước vào một năm mới, có thể sẽ khó khăn hơn đấy, sẽ chông gai hơn đấy, nhưng chỉ cần “hồn ta luôn trẻ mãi”, “tình yêu luôn trẻ mãi” thì ta nhất định sẽ đi tiếp thật mạnh mẽ và vững vàng.

Xuân đến rồi, hãy để cho “tháng năm còn bên nhau luôn tươi mới”, hãy để “trái tim dành cho nhau luôn chân thành”. Mùa xuân “biết yêu cuộc đời”, thế nên mùa xuân “luôn tươi mới”, “luôn reo vui”, “luôn trẻ mãi”. Ta cũng sẽ như thế nhé, để mùa nào cũng sẽ là mùa xuân trong ta, tình xuân sẽ luôn thắp sáng tâm hồn ta.

Mời các bạn nghe Xuân Vẫn Sang Diệu Kỳ với giọng ca Nguyễn Ngọc Anh trong video sau đây.

Sau đó là audio link đến song ca của Hoàng Hải và Ngọc Anh.

Cuối cùng là lời nhạc.

Chúc các bạn một mùa xuân diệu kỳ !

Trần Thị Thu Hiền
.

Xuân Vẫn Sáng Diệu Kỳ – Nguyễn Ngọc Anh


.

Xuân Vẫn Sáng Diệu Kỳ – Hoàng Hải và Ngọc Anh song ca

http://mp3.zing.vn/mp3/nghe-bai-hat/Xuan-Van-Sang-Dieu-Ky-Hoang-Hai-Ngoc-Anh.IW6ZFBAB.html

Lời nhạc: Xuân Vẫn Sang Diệu Kỳ
Sáng tác: Đỗ Bảo

Điều gì làm mùa xuân luôn luôn tươi mới?
Điều gì làm mùa xuân reo vui khắp nơi?
Điều gì làm mùa xuân luôn luôn trẻ mãi?
Có phải mùa xuân biết yêu cuộc đời?

Về lòng người mùa xuân mang bao mơ ước
Về cuộc đời mùa xuân mang bao ngát xanh
Về rạng ngời để nhân gian kia chờ đón
Có phải mùa xuân biết yêu cuộc đời?

Điều gì làm con phố tràn đầy nắng ấm?
Điều gì làm hàng cây ngào ngạt sắc hương?
Điều gì làm cho em muôn phần tươi thắm?
Và điều gì cho ta nhìn nhau say đắm?

Về gọi mời đàn chim muôn phương bay tới
Gọi nồng nàn trong tim dịu dàng mắt môi
Về rạng ngời cho ta ôm đàn ca hát
Màu xanh bất tử dáng mùa xuân thần thánh
Lòng xuân trung thành với đời xuân đến
Lòng xuân lắng ở tâm hồn xuân sáng trong… mãi sáng trong…

Ước mơ hồn ta luôn trẻ mãi
Tháng năm còn bên nhau luôn tươi mới
Ước mơ tình yêu luôn trẻ mãi
Trái tim dành cho nhau luôn chân thành

“Xuân về tình yêu đôi ta lại được tung bay lên trong đôi cánh mới
Đôi cánh mùa xuân tươi…

Ước mơ hồn ta luôn trẻ mãi
Tháng năm còn bên nhau luôn tươi mới
Ước mơ tình yêu luôn trẻ mãi
Trái tim dành cho nhau
Sẽ mãi mãi luôn chân thành…

Lễ rước dâu độc nhất vô nhị bằng 20 chú voi

Mời các bạn đọc một bài viết về một đám cưới với lễ rước dâu vô cùng độc đáo được tác giả Hoàng Thiên Nga tường thuật, với những hình ảnh minh họa đẹp của Kỹ sư Nguyễn Quyền.

Về kỹ sư Nguyễn Quyền, những người dân Balme không mấy ai chưa nghe đến tên ông như Ông chủ nhà máy điện tư nhân đầu tiên ở Việt Nam, được giới thiệu trên báo Tiền Phong (2006).Đài THVN đã làm 2 chương trình Phóng sự Nhân Vật & Người Đương Thời về ông, Đài PTTH DakLak cũng có mấy chương trình phỏng vấn ông.

Hiện tuổi gần 70, ông vẫn làm việc không ngưng nghỉ, giải trí bằng niềm đam mê nhiếp ảnh, với bốn cậu con trai thành đạt, giỏi giang.

Các bạn sẽ biết thêm về người kỹ sư là chuyên gia hàng đầu VN về thủy điện vừa và nhỏ một ngày gần đây trong Mục Chứng Nhân của ĐCN.

Huỳnh Huệ
.

Lễ rước dâu độc nhất vô nhị bằng 20 chú voi

Chủ nhật 24-1-2010, tức mồng mười tháng chạp âm lịch Kỷ Sửu, tại huyện Lăk, tỉnh Đăk Lăk đã diễn ra một lễ cưới với nghi thức đưa dâu rất đặc biệt.

Gái huyện Lăk trai Bảo Lộc rất đẹp đôi trên lưng voi

Cô dâu Đặng Thị Họa Mi – kiều nữ huyện Lăk, nay là nhân viên Ngân hàng Đầu tư và phát triển Đà Lạt , chú rể Lê Mạnh Thắng – tài nam Bảo Lộc đang là cảnh sát giao thông tỉnh Lâm Đồng.

Cả hai đều là con đầu lòng, giỏi giang tài sắc, niềm tự hào của hai họ nên đã được cha mẹ đôi bên quyết định tổ chức một lễ cưới độc đáo, vui vẻ không đâu sánh bằng.

Đội voi đẹp nhất của tỉnh Đăk Lăk rước dâu

Bố của cô dâu in tên trên thiệp cưới là Đặng Vân Long, còn tên cúng cơm ít người biết là Đàng Năng Long, tổng quản 7 con voi trẻ khỏe, đàn voi gia đình hùng hậu nhất Việt Nam hiện giờ.

Ông nội cô dâu là Đàng Nhảy, chồng thứ hai của bà Sao Thong Chăn – người phụ nữ duy nhất làm nghề buôn voi (Phóng sự “Mỹ nhân buôn voi”), từng giúp Chính phủ Cách mạng mua voi tặng các nước có quan hệ ngoại giao. Gia phả phía cô dâu có hơn 5 đời làm nghề thuần dưỡng, nuôi dạy và mua bán voi.

Đoàn rước dâu diễu hành qua thị trấn Liên Sơn.

Chín giờ sáng, sau lễ gia tiên long trọng tổ chức tại nhà gái ở 27 N’Trang Lơng, thị trấn Liên Sơn, đoàn rước dâu khởi hành. Một đài voi chắc chắn được dựng sẵn trước sân, 20 con voi khỏe đẹp nhất của huyện Lăk xếp thẳng hàng, lễ phép cúi đầu chờ đợi.

Quan viên hai họ lần lượt thượng đài rồi từng đôi bước sang bành voi gắn trên chiếu lụa đỏ rực lộng lẫy.

Đoàn đưa dâu diễu hành hơn một cây số qua thị trấn, thẳng tiến tới khu du lịch buôn Jun ven hồ Lăk. Tại đó, phông rạp đã dựng sẵn, mâm bàn đã bày dưới gầm nhà sàn, âm thanh cồng chiêng tưng bừng rộn rã.

Trai tài gái sắc trong lễ cưới

Trong hơn 600 quan khách được mời dự tiệc, có Gru (thợ săn voi giỏi) Ay Ngơn xã Ea Rbin, huyện Lăk, Gru Ama Bích ở Buôn Đôn là rể trưởng thay mặt gia đình Vua Voi Ama Kông.

Còn ông Lê Văn Quyết người dân tộc M’Nông nguyên Phó Chủ tịch UBND tỉnh về hưu ở huyện Lăk, hiện cũng là chủ sở hữu 2 con voi thì vui vẻ thay mặt nhà gái tiếp quan viên hai họ.

Ông cho biết đồng bào M’Nông từ xa xưa đã có tục đưa voi đi rước dâu, tuy nhiên chưa bao giờ có đám cưới nào huy động tới 20 voi đông đúc như thế này!

Cồng chiêng không thể thiếu trong tiệc cưới

Tiệc cưới diễn ra thân mật, đầm ấm, gọn ghẽ, mang ấn tượng đẹp về văn hóa độc đáo của cả xứ Voi Đăk Lăk lẫn xứ Hoa Lâm Đồng. Tan tiệc, hai họ lại lên lưng voi tiễn dâu đến hết thị trấn. Tại đó, đoàn ô tô phía đàng trai đã chờ sẵn để đón dâu qua vùng đất bạt ngàn trà Bảo Lộc.

Phía sau những du khách thích thú cưỡi voi dạo chơi bên hồ Lăk trong nắng gió cao nguyên hào phóng, thấm đẫm phong vị yên vui thời đất nước thanh bình.

Hoàng Thiên Nga

Ảnh chụp ở Hồ Lăk chia sẻ với Vườn Chuối

HTN và con gái Thiên Thảo, 13 tuổi
Bên cạnh cây Kơ-nia - Nghệ sĩ nhiếp ảnh Nguyễn Quyền và Thiên Hải, lớp 1, con trai của HTN
Thiên Hải và mẹ

Tết Kinh

Thuở nhỏ, được nắm váy mẹ đi ăn Tết nhà ông Tỵ người Kinh ở dưới Từ Tâm, sướng không gì bằng. Vậy mà năm đó mẹ không cho đi. Không biết sao nữa. Năm ngoái mẹ còn dẫn đi mà. Đi, vừa được bữa no nê, vừa có tiền lì xì với lại được quà bánh xách về.

Từ năm 1961, cha hết làm ruộng ở Hiếu Thiện – Palau quê ngoại, mà về Caklaing làm ăn. Ông Tỵ dân Từ Tâm, có mấy đám ruộng Gađak cho cha làm rẽ. Ruộng gò khó theo nước, chỉ mỗi đất tốt nên sau vụ lúa người ta có thể gieo đậu. Cha làm hai vụ. Ngoài vụ chính, cha tranh thủ vài đám ruộng cạnh bờ sông làm chiêm. Lúa bareng (lúa chiêm, dường như xuất phát điểm từ Champa) hạt màu nâu vàng, nhỏ và khá thơm, chỉ cần ba tháng là thu hoạch được. Giống này năng suất rất thấp, có thể nói thấp nhất trong các loại giống. Lại gieo trái vụ, nên cần canh me chim chóc. Nhưng được cái là nó giúp cứu đói ngắn ngày. Sau khi gặt chiêm, cha gieo giống ba trăng, để kịp với vài đám gieo lúa mùa khác.

Ông Tỵ là giáo viên làng, say xỉn suốt. Mỗi lần ông có việc (hay nổi hứng) ghé qua nhà là mỗi lần dáng ông lảo đảo. Vậy mà ông cứ đòi. Mẹ phải chạy ra quán Bà Hai đong xị rượu gạo cho ông ăn cơm với cha. Cha hiền từ, ít nói. Cũng không rượu chè. Thế là có mỗi ông lai rai. Và nói. Đúng là một cực hình.

– Thế nào tết này anh chị cũng phải xuống tui. Ông Phó uống với tui chén rượu chi. Ông kéo dài chữ “chi” cuối câu rất ư là Từ Tâm.

Tôi chỉ mong có thế. Nhớ là dường như cha chưa lần đi Tết ông. Có mỗi mẹ. Kèm theo tôi với anh Đạm. Nhưng lần này mẹ đổi ý. Không hiểu sao. Chỉ nhớ là mẹ không cho đi. Rất dứt khoát. Tôi khóc, chạy theo ôm tảng đá to trước cổng nằm giữa đường nhà bà Cò, lăn lộn. Thằng này chăng dai, không dễ bảo như anh nó – mẹ hay bảo thế. Chắc không có áo mới. Mà không áo mới làm sao mà đi ăn Tết. Mấy đứa bạn được mẹ dắt đi kìa, tôi thì không. Tại sao không mua áo mới trước đó? Có lẽ tôi đã làm dữ lắm, nên cuối cùng, mẹ cũng chiều. Không dép cũng được, miễn là có áo mới. Mẹ mượn của ai đó.

*

Ở thị xã Phan Rang, người ta biết đến Tết khi dưới bãi sông Dinh ở cầu Đạo Long cắm đầy mấy trăm cây mai rừng do lính cộng hòa chặt trên núi chất lên chiếc GMC chạy thẳng vào phố. Chiến tranh mất an ninh, nên họ độc quyền. Gọi là bù lỗ, cũng hay.

Với sắp nhỏ chúng tôi, khi có đợt rét của gió bấc tới, đồng lúa vãn mùa, lũ trâu được thả bừa trên mênh mông cánh đồng đầy rạ. Là Tết đến.

– Ông bà người đằng quê thế mà thiêng, mẹ nói khi gió cứ vần làm cho bà khó giê hết đống lúa. Khiến trời đứng gió cho con cháu họ dựng nêu ấy mà.
– Năm sau mẹ sẽ lặp lại chính câu đó cho mà xem, tôi bảo anh Đạm.

Đó là mùa mai vạn thọ vàng rực núi đồi. Cả rừng mai vạn thọ. Kéo dài từ cánh rừng làng Văn Lâm sang tận khu rừng Vĩnh Hảo. Lên trên nữa là mai núi. Cũng bạt ngàn. Kể rằng, bên cạnh suối thiên nhiên, khi xưa chính Chế Mân cho trồng thả hai loại mai này để cùng công chúa Huyền Trân du xuân. Nhưng ông vua hào hoa này đã chẳng hưởng thụ được hơn một mùa mai, rồi đi biệt. Mang theo luôn bí ẩn cuộc tình đẹp nhưng đầy éo le vào đêm mờ lịch sử.

Ông đi, nhưng rừng mai ở lại. Ở lại cho đến cuối những năm tám mươi của thế kỉ thứ XX, khi kế hoạch triệt phá rừng đã hoàn tất, thì cây mai cuối cùng cũng làm cuộc chia li không hẹn ngày về.

Còn thuở học Pô-Klong, Tết – tôi ít khi về quê, mà tình nguyện ở lại Kí túc xá. Chúng tôi ăn Tết kiểu khác. Tuổi học sinh, quậy thì khỏi nói rồi. Hết giờ trực, hai ông anh lớp trên rủ tôi vào phố cà phê, không quên bảo tôi mang theo cái túi xách. Mãi mười giờ mới về. Anh Tr. kêu nhỏ: Trạm đứng đây chờ anh nhé. Anh chạy biến đi, mang về nải chuối, hộp bánh qui, miếng cốm,… Rồi cứ tiếp tục thế. Dọc đường bao nhiêu là đồ cúng! Anh lại bảo tôi chờ. Tôi hỏi anh:

– Không sợ ư?
– Ma ăn rồi mà, không sao đâu. Anh trấn an tôi.
– Nhưng đồ ma…!
– Chăm vẫn ăn đồ padơng đám ma đấy thôi. Nhưng ma Kinh không sao đâu, họ xơi nhanh lắm. Thế là đến lượt mình…

Về đến Kí túc xá thì túi xách tôi mang đã đầy cứng.

*

Bên cạnh Ramưwan (tức Ramadan) của người Chăm Bàni hay Hồi giáo cũ, Katê là Tết chung của cộng đồng Chăm, là dĩ nhiên rồi. Đầu tháng Bảy Chăm lịch, Chăm lên tháp cúng tế trời đất, ông bà tổ tiên. Rồi kéo nhau về làng ăn Tết. Nhưng từ lâu lắm rồi, người Chăm vẫn cứ xem Tết, cả Ramưwan, Nguyên đán,… tất tần tật đều là Tết của mình. Lạ, tôn giáo Chăm, Bàlamôn giáo, một tôn giáo rất cổ, tưởng khép kín, không ngờ lại rất mở. Văn hoá dân tộc Chăm cũng thế. Hãy tưởng tượng dân tộc cư trú dọc miền duyên hải Trung bộ nhìn mở ra biển Đông, suốt mười mấy thế kỉ.

Nói sang chuyện thờ cúng. Trước tiên ngay thế kỉ thứ II, Chăm xem Ppo Inư Nưgar – Bà Thiên Y Ana là người tạo lập xứ sở. Vị trí thờ phượng luôn được đặt ở hàng đầu. Sau đó, thế kỉ XIV, khi Hồi giáo nhập địa Champa, vị trí này được nhường lại cho Allah. Chăm coi Ngài là đấng sáng tạo vũ trụ, trong khi Ppo Nưgar chỉ được xem như người tạo lập xứ sở. Ai nhất thì tôi thứ nhì!

Trong các cuộc lễ, tôn giáo Bàlamôn Chăm mở ngõ cúng bái cả các vị thánh trong Kura-ưn (Koran). Rồi khi có xung đột ý hệ tôn giáo Hồi – Bàlamôn trong lịch sử, Chăm hóa giải và hòa giải bằng sáng tạo ra một giáo phái mới: Mưdwơn, phục vụ cho cả hai phía: Chăm Bàlamôn và cả Chăm Bàni. Vui vẻ.

Trong lễ lớn là Ramưwan (tháng Chín chay tịnh), hình ảnh mở đẹp nhất của tôn giáo-tín ngưỡng Chăm có lẽ là từng đoàn cô gái Chăm Bàlamôn đội ciet bánh trái cúng dường nhà Chùa Hồi giáo (sang mưgik). Thành kính và trang trọng. Các dịp lễ gia tộc khác cũng thế, Chăm Bàlamôn luôn mời các vị thầy Acar về tận nhà hành lễ. Lạ!
Lạ mà đẹp.
Với người Kinh – xen cư hay cộng cư trong khu vực có cộng đồng Chăm sinh sống – cũng vậy. Tết Nguyên đán gần như được người Chăm coi như Tết của mình, dù lâu nay người dân quê Chăm chưa xem nó là Tết chung cả dân tộc Việt Nam. Đây chỉ là hành xử rất ư tự phát, một tự phát có nguồn gốc từ ý thức (hay vô thức cộng đồng) rất mở của văn hóa Chăm suốt quá trình lịch sử, tồn tại mãi đến hôm nay. Người Chăm đội giạ nếp, cặp gà qua ăn Tết Kinh cùng hay khác làng có quan hệ quen biết hoặc làm ăn buôn bán. Ăn Tết đã đời rồi còn có quà bánh mang về nữa. Nhất là sắp trẻ, cũng háo hức đón Tết. Mừng dựng nêu, đốt pháo – xưa; hoặc đạp xe xuống phố, qua khu vui chơi giải trí – nay. Tết như có thêm ngày hội. Còn với người lớn, mùa Tết nhằm ngày vụ vừa xong nên người ta cũng không tiếc nhau lời chúc, quà tặng.

Chúng tôi nói đùa nhau Chăm hân hạnh đón đến bốn cái Tết mỗi năm là vậy.

*

Thế hệ trẻ con chúng tôi hưởng sái tinh thần mở ấy.

Lạ là tôi chưa lần nào thấy cha đi Tết. Cha ít được vui như mẹ, dù cha rất vô tư, mẹ hay la cha thế. Cha luôn ngủ ngon để hôm sau ra đồng sớm. Cha không văn nghệ, mẹ thì ưa nói chữ. Mẹ khoe mẹ học sáng. Khi có chuyện mắng chị Hai, mẹ thích đem vụ học sáng ấy ra dạy. Dân quê Chăm thuở đó ai biết chữ quốc ngữ đâu. Mãi đến thời Ngô Đình Diệm, ngoài vụ cấm Chăm mặc váy với vài thứ phong tục tập quán dân tộc, ông còn lệnh buộc tất cả công dân tối phải xách đèn theo lớp bình dân học vụ. Mẹ nói mẹ học
sáng nhất lớp.

Sau này khi có gia đình, quen biết và kết thân với nhiều bạn bè Kinh đủ lứa tuổi, tôi nhiều dịp Tết Kinh. Ông Thả ở Hải Sơn bạn vong niên tôi thuở nhà tôi làm rau muống xuống xóm biển nhờ ông sắm thuyền thúng. Mười năm và mãi lúc này, tình cảm hai bên vẫn khắng khít. Rồi ông Mười – Long Bình, bạn và là sư phụ câu của tôi. Ông với đứa con trai mỗi sáng sớm vác cần câu lội khắp mấy vùng sông nước mà mấy bạn tôi đùa không khác gì thầy trò Don Quichotte! Đi Tết mấy nhà này thì khỏi nói: ngon, no và vui vẻ.

Đấy là nói Tết nhà quê. Tết thành phố thì khác.

Ba mươi năm sau, tôi đèo Hani trên chiếc xe đạp cà tàng hơn mươi cây số qua ăn Tết nhà ông bạn tại Bình Chánh. Vẫn mâm cỗ đầy, hấp dẫn nhưng, chủ nhà chỉ dọn lên mà không mời khách. Lạ quá. Năm trước đó, tại nhà bạn văn ở Bình Thạnh “ăn Tết” cũng hệt vậy. Anh chỉ đãi vài chung rượu (rượu Tây, dĩ nhiên) với ít bánh mứt. Cả lời chúc tụng nữa. Ngoài ra: không gì cả! Bụng đói meo. Lẽ nào mình nhắc vở. Bà xã liếc mình mấy lượt, cười nhăn nhó.

Hay Tết ở thành phố nó thế? Hèn gì, Tết là mọi người đổ xô về quê.

Cứ nhớ cái Tết nhà quê. Có dựng nêu, có ngồi canh xoong bánh tét,… Và nhất là, có rất nhiều màu áo mới.

Inrasara (Trong Những mảnh đời chắp vá)

Mở kho tàng của bạn

Daiju đến thăm thiền sư Baso ở Trung Quốc. Baso hỏi: “Anh tìm gì?”

“Giác ngộ,” Daiju trả lời.

“Anh có kho tàng riêng của anh. Tại sao tìm bên ngoài?” Baso hỏi.

Daiju thắc mắc: “Kho tàng của tôi ở đâu?”

Baso trả lời: ‘Cái anh đang tìm là kho tàng của anh.”

Daiju mừng rỡ! Kể từ đó Daiju luôn luôn nói với bạn bè: “Mở kho tàng của anh và dùng nó.”

Bình:

Baso dōitsu (Mã Tổ Đạo Nhất, 馬祖道一, 709-788), là một Thiền sư Trung Quốc đời nhà Đường, và là môn đệ và người đắc pháp duy nhất của Thiền sư Nam Nhạc Hoài Nhượng. Sư có rất nhiều môn đệ đắc đạo như Bách Trượng Hoài Hải, Nam Tuyền Phổ Nguyện, Đại Mai Pháp Thường, Đại Châu Huệ Hải…

Mã Tổ Đạo Nhất thường được xem như người có ảnh hưởng mức thứ 3 trên Thiền tông, sau Tổ sư Bồ Đề Đạt Ma và lục tổ Huệ Năng.

• Bản tiếng Anh này nói “Daiju was delighted”, tức là mừng rỡ hớn hở, khi nghe Mã Tổ Đạo Nhất trả lời. Vài bản khác dùng từ “enlightened”, tức là “giác ngộ.”

• Giác ngộ, Niết Bàn, Phật… ở trong ta. Không nẳm ở ngoài ta đâu mà tìm.

Trần Nhân Tông, tức Trúc Lâm Đầu Đà, thủy tổ của Thiền phái Trúc Lâm, nói trong bài Cư trần lạc đạo:

Gia trung hữu báo hưu tầm mịch
Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền

(Trong nhà có của đừng tìm nữa
Nhìn cảnh vô tâm hỏi chi thiền)

Tâm ta vốn là tâm Phật, chỉ bị vô minh che khuất.

Vô minh là chấp trước—bám vào cái này, bám vào cái kia.
Bám vào tham, sân, si.
Bám vào cái tôi (ngã).
Bám vào thành kiến—cái này tồi, người kia tốt.
Bám vào đạo—phải là thế này mới là đạo, thế kia không là đạo.
Bám vào pháp tu—tu thế này mới đúng, thế kia là sai.
Bám vào Phật–người này là Phật, đi theo ngài thì sẽ giác ngộ.
Bám vào… Bám vào…
Bám vào cả quan niệm “đừng bám” (chấp ngay cả vô chấp).

“Nhìn cảnh vô tâm”–nhìn mưa thì thấy mưa, đừng diễn giải là “chia ly đầy nước mắt”, v.v….—thì đó là Thiền, là ngộ. Như Tanzan vô tâm mang kiều nữ qua vũng bùn.

“Nhìn cảnh vô tâm” là không còn bị chấp trước nào che khuất tâm ta. Lúc đó tâm sẽ sáng láng trở lại như thời ngyên thủy, tức là tâm trở lại “bản lai diện mục” (mặt mũi nguyên sơ) của nó. Đó là giác ngộ, là Niết Bàn.

• Kho tàng ở trong ta. Hạnh phúc, an lạc, an bình… đã có sẵn trong ta. Đừng tìm ở ngoài.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

.

Open Your Own Treasure House

Daiju visited the master Baso in China. Baso asked: “What do you seek?”

“Enlightenment,” replied Daiju.

“You have your own treasure house. Why do you search outside?” Baso asked.

Daiju inquired: “Where is my treasure house?”

Baso answered: “What you are asking is your treasure house.”

Daiju was delighted! Ever after he urged his friends: “Open your own treasure house and use those treasures.”

#28

Tết Nguyên Đán

Chào các bạn,

Đây là slideshow đế mọi người ăn Tết, cùng với PPS thơ Đón Xuân, hôm qua. Làm quà Tết sớm cho mọi người.

Hình ảnh gồm các ảnh do Phạm Kiêm Yến và phu quân là Trần Liệt Hùng, cộng với các hình ảnh trên Internet.

Nhạc nền là bản Khúc Nhạc Ngày Xuân do Thủy Tiên trình bày.

Chúc các bạn một mùa xuân tươi sáng !

Bình an & Sức khỏe,

Túy-Phượng 🙂
.

Các bạn click vào ảnh dưới đây để xem video và download

Nếu link từ ảnh (authorstream.com) bị trục trặc kỹ thuật, các bạn có thể click vào đây để download

Đón Xuân

Chào các bạn,

Hôm nay chúng ta đón xuân bằng lời thơ của các thi sĩ ĐCN và Lá Lành Đùm Lá Rách trong PPS mình mới làm xong:

Huỳnh Huệ
Phạm Kiêm Yến
Nguyễn Tấn Ái
Minh Tâm
Tôn Nữ Ngọc Hoa
Đàm Lan
Hà Diệp Thu
BS Lợi
Thuận
Mai Nguyệt
Quang
Phạm Luu Đạt
Túy-Phượng

Hình ảnh từ Phạm Kiêm Yến và Internet
Nhạc nền là bản Xuân Họp Mặt do các ca sĩ Như Quỳnh, Thủy Tiên, Lan Châu, và Bảo Hân trình bày.

Từ bây giờ đến Tết nếu còn bạn nào nối thơ vào bài Đóa Muộn, mình sẽ update PPS file này một lúc nào đó.

Chúc cả nhà một mùa xuân rạng rỡ ! 🙂

Bình an & Sức Khỏe,

Túy-Phượng
.

Xin các bạn click vào ảnh dưới đây để xem video và download

Ba ngày nữa

Suiwo, đệ tử của Hakuin, là một vị thầy rất giỏi. Vào một kỳ mở lớp riêng một thầy một trò (zazen) trong mùa hè, một đệ tử từ một hải đảo miền nam nước Nhật đến gặp thầy.

Hotei - tranh Hakuin

Suiwo cho cậu một công án: “Nghe tiếng vỗ của một bàn tay.”

Người đệ tử ở đó 3 năm nhưng không giải được. Một đêm nọ, nước mắt dàn dụa, cậu vào gặp Suiwo. “Con phải về nam, nhục nhã và xấu hổ” cậu nói, “Con không giải được công án này.”

“Đợi một tuần nữa và thiền liên tục,” Suiwo khuyên. Nhưng giác ngộ vẫn không đến được với cậu đệ tử. “Thử thêm một tuần nữa,” Suiwo nói. Người đệ tử vâng lời, nhưng cũng chỉ hoài công.

“Thêm một tuần nữa.” Nhưng lại cũng vô ích. Tuyệt vọng, người đệ tử năn nỉ xin về, nhưng Suiwo yêu cầu cậu thiền năm ngày nữa. Cũng chẳng có kết quả gì. Rồi Suiwo nói: “Thiền thêm 3 ngày nữa, nếu con không đạt được giác ngộ, thì con nên tự tử là hơn.”

Vào ngày thứ hai, cậu đệ tử giác ngộ.

Bình:

• Hakuin Ekaku (1686-1769 hay 1685-1768) là một trong những vì thiền sư có ảnh hưởng lớn nhất trên thiền tông Nhật Bản. Hakuin cải tiến và phát huy thiền Lâm Tế từ thời trì trệ và đốn mạt, chú tâm vào cách dạy dỗ khó khăn cổ truyền, và trộn lẫn thiền quán và công án thành cách luyện tập thường xuyên. Ảnh hưởng của Hakuin lớn đến mức tất cả các thiền sư Lâm Tế ngày nay đều là hậu nhân của Hakuin và dùng những phương cách luyện tập mà Hakuin đã dạy.

Cái bao của Hotei - tranh Hakuin

Hakuin chính là thiền sư “Vậy à” ta đã nói trước đây.

Suiwo vị thầy trong bài này là học trò của Hakuin.

• Bài này nói đến nỗ lực dữ dội để đạt giác ngộ. Không đạt giác ngộ được nếu ta không cực lực cố gắng để hiểu biết.

• Thường thì thầy biết khi nào trò sắp nắm được chân lý. Nên những lúc đó nếu trò muốn bỏ cuộc, thầy sẽ ép trò đi tiếp một tí nữa để đến thành công.‎

• Tại sao “giác ngộ” có vẻ gì thật là bí ẩn như thế? Cả bao năm người học trò cứ cảm thấy mình vẫn bế tắc ngu si trơ trơ như đá, đến mức cứ đòi bỏ cuộc. Rồi đùng một cái thì “hốt nhiên đại ngộ” như là trong tối tự nhiên có một công tắc bật đèn sáng choang, chứ không phải như học toán mỗi ngày hiểu thêm một tí, từ toán cộng, lên trừ, lên nhân, lên chia, lên phân số…?

Thưa, vì chúng ta có thói quen suy nghĩ với luận lý‎ con người: Có cái bàn, thì có ông thợ mộc. Có vũ trụ thì có người làm ra, gọi là Thượng đế. Vậy thì ai sinh ra Thượng đế? Bố TĐ. Lên đến ông nội TĐ, ông cố TĐ… không bao giờ ngưng, dù có suy nghĩ 100 năm.

Con gà có trước hay cái trứng có trước? Suy nghĩ 100 năm.

Trước khi tôi sinh ra, tôi đã từ đâu đến? Chết rồi tôi đi đâu? Suy nghĩ 100 năm.

Cho nên tư tưởng của người suy tư có thể chạy vòng tròn như kiến bò miệng đĩa, bế tắc hoài, không đi đâu được cả, muôn năm.

Cho nên lúc ta đã suy luận hết cách, biết là vô ích, và dẹp bỏ mọi suy luận đó đi, và bắt đầu cảm nhận bằng xúc cảm và trực nghiệm, tức là cảm nhận trực tiếp trong lòng mà không cần suy nghĩ, một điều gì đó sâu xa hơn là suy‎ luận, như là: “Thượng đế là tình yêu—trong ta, trong mọi người, và nối kết mọi người lại với nhau”, hay “tất cả mọi thứ chỉ đều là những lọn sóng của một đại dương Sự Thật mà ta gọi là Không”.

Những điều này ta có thể hiểu tí ti bằng suy luận, nhưng thực ra ta chỉ thực sự hiểu được bằng cảm nhận rất rõ trong lòng. Cũng như là tình yêu. Chỉ có yêu là hiểu được tình yêu; không thể diễn tả bằng ngôn ngữ hay l‎ý luận.

Tranh Hakuin Ekaku

Khi ta dẹp bỏ suy luận và bắt đầu cảm xúc và kinh nghiệm trực tiếp các điều này, tư nhiên ta bừng sáng trong đầu: “hốt nhiên đại ngộ”, như người mới khám phá được tình yêu: “Ồ, đây là tình yêu, vậy mà trước nay đọc sách hoài mà chẳng biết nó thế nào.”

• Ta đã nói về “Tiếng vỗ của một bàn tay” trước đây.

• Từ “giác ngộ” (enlightened, Satori trong tiếng Nhật) không có cùng nghĩ với từ giác ngộ nguyên thủy dùng trong Phật gia. Theo truyền thống, giác ngộ có nghĩa là đạt được tĩnh lặng và hiểu biết đến mức thành Bồ tát, thành Phật. Satori trong thiền tông Nhật Bản là một mức độ hiểu biết và trực nghiệm về “tĩnh thức” đủ để được thầy xác nhận là mình có thể làm thầy (Roshi). Đây là bước đầu tiên, trong nhiều bước giác ngộ, với bước cuối cùng là Niết Bàn.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

.

Three Days More

Suiwo, the disciple of Hakuin, was a good teacher. During one summer seclusion period, a pupil came to him from a southern island of Japan.

Suiwo gave him the problem: “Hear the sound of one hand.”

The pupil remained three years but could not pass the test. One night he came in tears to Suiwo. “I must return south in shame and embarrassment,” he said, “for I cannot solve my problem.”

“Wait one week more and meditate constantly,” advised Suiwo. Still no enlightenment came to the pupil. “Try for another week,” said Suiwo. The pupil obeyed, but in vain.

“Still another week.” Yet this was of no avail. In despair the student begged to be released, but Suiwo requested another meditation of five days. They were without result. Then he said: “Meditate for three days longer, then if you fail to attain enlightenment, you had better kill yourself.”

On the second day the pupil was enlightened.

# 25

Có một giấc mơ Voi

TP – Một sáng mùa xuân, chàng Gru Buôn Đôn có mặt ở Trung tâm bảo tồn Voi bên bờ Sêrêpôk để thuần dưỡng lũ voi con thông minh khỏe mạnh. Cạnh đó, đàn voi già được chăm sóc chu đáo trong bệnh viện.

Giữa đại ngàn Yok Đôn, các cô cậu voi trưởng thành thong thả dạo chơi, yêu đương, sinh nở… Đó là giấc mơ có khả năng trở thành hiện thực của dự án bảo tồn voi sắp trình lên chính phủ.


Đếm từng dấu chân voi...

Từ hơn bốn năm trước, tháng 5 – 2006, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 733, phê duyệt kế hoạch “Hành động khẩn trương đến năm 2010 để bảo tồn voi ở Việt Nam”, giao nhiệm vụ cho ba tỉnh Nghệ An, Đồng Nai, Đăk Lăk triển khai xây dựng dự án bằng nguồn ngân sách.

Được gọi là “Khu dự trữ sinh quyển thế giới”, nhưng dù rất cố gắng tìm kiếm, cho tới cuối năm 2008, dự án bảo tồn voi (BTV) do Vườn Quốc gia Phù Mát xây dựng cũng chỉ đếm được 15 con voi hoang qua ảnh chụp trong vùng rừng phía Tây Nghệ An.
Sau đó, phát hiện thêm hình như có 2 voi rừng con mới chào đời. Đầu năm 2009, lãnh đạo tỉnh Nghệ An đã thông qua và đồng ý với 5 phương án hành động BTV của dự án. Riêng tỉnh Đăk Lăk đã 2 lần triển khai lập dự án BTV.

Lần thứ nhất, đề án bảo tồn và phát triển đàn voi nhà do GS.TS Lê Huy Bá cùng nhóm cộng sự thuộc Trung tâm Sinh thái- Môi trường và Tài nguyên được Sở Thương mại – Du lịch tỉnh đặt hàng nghiên cứu trong thời hạn 1 năm, đã được lãnh đạo tỉnh nghiệm thu tháng 10-2007.
Đề án này còn nằm trên giấy thì Chi cục Kiểm lâm tỉnh lại được cấp trên giao nhiệm vụ lập dự án bảo tồn cả voi nhà lẫn voi rừng. Trên cơ sở đề án có sẵn, dự án lần hai được nhóm nghiên cứu của PGS.TS Bảo Huy trường Đại học Tây Nguyên đào sâu, mở rộng, mở hội thảo tham vấn cộng đồng vào giữa tháng 12-2009.

Bằng phương pháp điều tra theo tuyến, điểm habitat (nơi có sinh cảnh đặc biệt voi thường lui tới), đo đếm phân tích vết chân và phân voi để xác định số voi theo tuổi và giới dựa vào kinh nghiệm của đồng bào bản địa, lập sơ yếu lý lịch từng con… Nhóm nghiên cứu đã xác định trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk còn khoảng 83 đến 110 con voi hoang dã, và 61 voi nhà.

Ở tỉnh Đồng Nai, nhiệm vụ “hành động khẩn trương” còn trầy trật hơn. Suốt mùa khô 2009, trong lúc các sở ngành còn tranh cãi gay gắt xem khoản kinh phí 108 triệu đồng dành cho quy trình khảo sát thực hiện dự án BTV có thể lấy từ đâu, đã có tới 6 con voi rừng bị chết không rõ nguyên nhân và thủ phạm.
Kéo qua đầu năm 2010, cán bộ Chi cục vẫn còn miệt mài viết dự thảo, dự kiến sang tháng hai quá trình gọt giũa, bảo vệ dự án mới hoàn tất để trình lãnh đạo tỉnh.
Ông Lê Việt Dũng, Chi cục phó chuyên trách mảng Bảo tồn của CCKL tỉnh Đồng Nai cho biết, tại thời điểm này, trong hơn 100 nghìn ha rừng ở Đồng Nai lẩn khuất chừng 11 đến 14 con voi. Chi cục trưởng Nguyễn Văn Thịnh than xót: Tiếc quá, nếu chương trình BTV được triển khai sớm hơn, số voi hoang dã của Đồng Nai không tới nỗi giảm mạnh thế này.

Trông voi người, xót voi ta

Trong 8 nước có nghề săn bắt, thuần dưỡng voi rừng từ lâu đời ở khu vực châu Á là Ấn Độ, Sri Lanca, Bangladesh, Thái Lan, Myanma, Nepan, Việt Nam, hai quốc gia có công nghệ tiên tiến về chăm sóc nuôi dưỡng voi là Thái Lan và Sri Lanca.

Từ năm 1969, Thái Lan đã thành lập Trung tâm thuần dưỡng voi châu Á đầu tiên trên thế giới. Gần 10 năm qua, Viện Voi Quốc gia đặt ở tỉnh Lampang dưới sự bảo trợ thuận lợi của Hoàng gia Thái Lan, hoạt động mạnh với các dự án :
Bệnh viện voi, Đội cứu hộ voi, Đội khám chữa bệnh lưu động cho voi trên khắp đất nước, Đào tạo quản tượng, Dạy voi vẽ tranh và làm xiếc, Sản xuất biogar và giấy từ phân voi v.v…

Đặc biệt, Trung tâm nghiên cứu của Viện liên kết với khoa thú y trường đại học Chiang Mai và Kasetsart đã nghiên cứu thành công quy trình thụ tinh nhân tạo cho voi, mở ra hướng phát triển mới cho voi châu Á. Trên diện tích 122 ha của Viện Voi, hiện nay 83 con voi ngày ngày được nuôi dưỡng dạy dỗ cẩn thận để bảo tồn giống nòi và… trở thành nghệ sĩ!

Trại voi Pinnawela của quốc đảo Sri Lanca được xây dựng năm 1975, với nhiệm vụ ban đầu là chăm sóc 5 bé voi con hoang dã lạc bầy. Nay trại đã phát triển thành một Trung tâm sinh sản bảo tồn voi, với 86 con voi đa số trẻ khỏe, thu hút đông đảo du khách trong ngoài nước đến ngắm voi, xem voi con được cho bú dặm bằng sữa bình tới 5 lần mỗi ngày, hoặc cưỡi voi đi dạo thong dong dưới bóng mát vườn dừa.
Voi ốm được chăm sóc kỹ lưỡng bằng các phương tiện y tế chuyên dùng cho voi như máy chụp X-quang, siêu âm chẩn đoán, theo dõi thân nhiệt, chích vac xin, tẩy giun, cho uống kháng sinh, bôi thuốc sát trùng, nhỏ mắt…

Tại Malaysia, từ năm 1974 tới nay Ban Quản lý voi thuộc Sở Động vật hoang dã đã chuyên tổ chức các cuộc di chuyển voi từ nơi dễ xung đột với người đến các vùng rừng quốc gia rộng lớn phía đông. Nhờ vậy, khoảng 500 con voi được di cư thành công. Tại Ấn Độ, chính phủ cho thực hiện Dự án voi từ năm 1992 với 25 trung tâm BTV Ấn được thành lập.

Vương quốc Nepal ngoài việc xây dựng nhiều khu bảo vệ và nuôi voi, còn đầu tư huấn luyện voi nhà vào mục đích giám sát bảo tồn voi hoang dã. Các Trung tâm BTV của Indonesia vài năm gần đây đã bắt đầu lúng túng với việc trở nên quá chật chội, không còn đủ chỗ chứa voi…

Tiến sĩ Cao Thị Lý, giảng viên trường Đại học Tây Nguyên, trong dịp tập huấn 1 tuần về Sức khỏe và sinh sản voi châu Á tổ chức tại Sri Lanca đã thu thập được nhiều thông tin, kiến thức và các mối quan hệ quý giá cho dự án BTV Đăk Lăk.
Chị cho biết, bên cạnh cơ chế chính sách điều hành thông thoáng hiệu quả, Thái Lan và Sri Lanca còn chú trọng đào tạo đội ngũ cán bộ thú y chuyên về cứu hộ động vật hoang dã, làm việc với tinh thần đầy tâm huyết và trách nhiệm.
Bộ môn thú y ở ta trước chỉ giảng dạy về gia súc gia cầm, gần đây mới bổ sung 30 tiết kiểu cưỡi ngựa xem… voi về mảng kiến thức này cho sinh viên .
Nhớ chuyện bé voi Khăm Bun với cái chân thương tật suýt bị cưa, tới bây giờ vẫn tù đày trong xích xiềng trường kỳ giữa thủ đô mà tội nghiệp. Nhưng dẫu sao Khăm Bun còn may mắn chán so với nhiều đồng loại khác đã được, hay bị thuần dưỡng ở xứ mình, đang ngày càng mòn mỏi suy kiệt do thiếu dinh dưỡng, bị khai thác quá mức cho trình diễn, du lịch và lễ hội; bị cưa ngà và nhổ lông đuôi đầy đau đớn, thậm chí xúc phạm tận thâm sâu bản chất kiêu hãnh của những Ông Tượng chúa tể rừng già.

Bởi Khăm Bun nổi tiếng hơn cả với lý lịch trích ngang đặc biệt, là một trong vài chú voi con xinh xắn đáng yêu cuối cùng bị săn trái phép giữa Vườn Quốc gia, đánh động dư luận tới mức văn phòng Thủ tướng phải ký lệnh giao về cho Liên đoàn Xiếc trông nom…
100 tỉ đồng cho tương lai voi Việt
Dự án BTV Nghệ An dự trù kinh phí hơn 11 tỉ đồng trong 5 năm 2009 – 2013 cho các giải pháp bảo tồn giám sát, truyên truyền quảng bá, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, phục hồi sinh cảnh voi rừng, chống xung đột giữa người và voi.

Dự án BTV Đồng Nai dự kiến cần có 30 tỉ đồng trong 10 năm triển khai, ngoài những chương trình hành động tương tự Nghệ An còn chú trọng xây dựng các đội phản ứng nhanh, lập hàng rào điện tử ở vùng dân cư hay bị voi phá.
Riêng phương án mua khoảng bốn voi nhà từ Buôn Đôn về đồng bằng để xua đuổi voi rừng còn đang tiếp tục cân nhắc, trên cơ sở tiếp thu những ý kiến chắt lọc từ cuộc hội thảo BTV do Bộ Nông nghiệp & PTNT tổ chức ngày 26 – 11 – 2009 tại Vườn quốc gia Cát Tiên.
Giấc mơ voi hoàn hảo hơn trong dự án BTV Đăk Lăk, với khoản kinh phí dự trù hơn 58 tỉ đồng, dự kiến triển khai từ năm 2010 – 2014 nếu được lãnh đạo tỉnh và Chính phủ thông qua, bắt đầu từ việc xây 2 trạm BTV ở nơi voi thường xung đột với người ở 2 huyện Ea Súp và Lăk; đồng thời nhanh chóng gửi cán bộ đi đào tạo, học tập kinh nghiệm ở Thái Lan, Ấn Độ, Sri Lanca .

Một Trung tâm BTV Đăk Lăk được phác thảo trên diện tích 200 ha thuộc phân khu hành chính dịch vụ của Vườn Quốc gia Yok Đôn, giáp sông Sêrêpôk.
Trong đó, 100 ha rừng khộp được dành cho việc chăn thả và tạo môi trường tự nhiên kín đáo để voi tự do giao phối, phần diện tích còn lại sẽ xây dựng một bệnh viện voi, nhà cung cấp thức ăn và chăm sóc voi, ươm trồng bảo vệ khoảng bảy chục loại cây voi thích ăn để thực đơn voi thêm phần phong phú và tạo cảnh quan.

Tỉ lệ sinh sản quá thấp trong số voi nhà hiện có trong suốt ba thập kỷ trở lại đây, bình quân chỉ 0,6%/năm, ngoài lý do voi bị tận dụng phục vụ du lịch quanh năm, còn có phần do cơ chế phân chia lợi ích giữa các chủ voi chưa hợp lý.
Tập quán của đồng bào M’Nông: Voi con sinh ra thuộc về chủ voi cái, thế nhưng nếu voi cái bị thương trong quá trình giao phối thì chủ voi đực phải chịu phạt, cúng đền cả con trâu. Muốn khỏi rước vạ vào thân, chủ voi đực chỉ việc… cấm chúng nó gần nhau, thế là xong! Nghề săn voi bị cấm, voi nhà không đẻ, lại còn chết dần và bị bán ra ngoài tỉnh.

Ông Voong Nhi, Phó Bí thư huyện Ea Súp, đồng thời cũng là một trong những chủ voi sắp hết voi, từng đề đạt lên nhiều cấp nguyện vọng tha thiết của giới Gru (thợ săn voi giỏi):

Xin Chính phủ mở cơ chế cho đồng bào mỗi năm được mở vài cuộc săn voi với chỉ tiêu nhất định, để nghề săn bắt thuần dưỡng voi rừng không bị thất truyền, và để bản sắc văn hóa vùng miền, để biểu tượng voi Đăk Lăk còn sống mãi…
Ngay trong cuộc Hội thảo tham vấn cộng đồng do Chi cục kiểm lâm tỉnh tổ chức nhằm góp ý cho dự án BTV, Gru Ama Bích cũng đọc một “lá sớ” nắn nót viết sẵn : Nhân dân Bản Đôn chúng tôi đề nghị Nhà nước mỗi năm cho phép bắt 3 con voi rừng, giao cho nhà nước 1 con dân lấy 2 con để làm nhiệm vụ bảo tồn đàn voi nhà cho tỉnh…

PGS-TS Bảo Huy phân tích: Số voi rừng con hiện quá ít, chỉ khoảng 7-10 con trong tự nhiên, chưa phải là lúc có thể cho phép săn bắt. Tỉnh nên xem xét chuyển trả lại một số diện tích rừng đang kinh doanh khai thác thành rừng bảo tồn, tạo điều kiện cho đàn voi rừng phát triển ổn định.
Khi Trung tâm BTV ra đời, các chủ voi và nài voi cần được hưởng chính sách chi trả hợp lý để có thu nhập xứng đáng từ việc đưa voi về theo định kỳ để chăm sóc và thúc đẩy quá trình sinh sản tự nhiên.

Trả lời câu hỏi của báo Tiền Phong về giấc mơ voi Việt Nam liệu tới bao giờ mới trở thành hiện thực? ông Hà Công Tuấn, Cục trưởng Cục Kiểm lâm trầm ngâm:
Thẩm quyền duyệt dự án thuộc về UBND các tỉnh, sau đó mới đến phần trung ương quyết mức hỗ trợ thông qua ngân sách của từng địa phương. Tiến độ triển khai các dự án BTV hiện đã quá chậm, Cục rất nóng ruột đôn đốc nhưng tinh thần hành động khẩn trương theo lệnh Thủ tướng hơn 4 năm rồi vẫn chưa thấy!

Phải! Cứ lần chần mãi thế này, liệu tới lúc trăm tỉ rót về, chắc gì còn nổi trăm voi để nuôi lớn giấc mơ…
Từ năm 2004, nhóm chuyên gia voi châu Á thuộc tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế IUCN/SSC đã công bố bảng thống kê số voi rừng và voi nhà ở 13 nước trong khu vực.
Theo đó, voi hoang dã dao động từ 38 nghìn đến 52 nghìn con, tập trung nhiều nhất ở Ấn Độ, ít nhất ở Việt Nam. Voi nhà ước có khoảng từ 14,5 nghìn đến 15,3 nghìn con. Nhiều nhất ở Myanma , Việt Nam kế chót với 165 cá thể, chỉ hơn Bangladesh còn tròn 100.

Dẫu số liệu thống kê voi mang tính tương đối, nhưng rõ ràng sự cảnh báo tồn vong đã gióng lên dưới tán rừng nhiệt đới của nước ta.

Hoàng Thiên Nga

Lễ hội Tăm nghét

( Của người Mnông Đăk Nông)

Khi lúa đã ngủ yên trong kho , bắp treo lủng liểng đầy sà nhà, năm cũ với những buồn vui cũ đã bay đi cùng những cơn gió từ rừng đại ngàn tràn về. Mùa xuân mới sà xuống đậu trên búp non của những cành cây, người Pu Noong lại tổ chức lễ Tăm Nghét. Không phải là lễ ăn cơm mới như của tộc người Êđê, tổ chức sau khi gặt những gùi lúa đầu tiên , mà thu hoạch xong mùa màng, người ta làm thịt một con gà, buộc một ghè rượu nhỏ để xin Yang đóng cửa kho lúa. Rồi mới làm lễ tăm nghét để xin chính thức mở cửa kho xử dụng, hoặc sum họp gia đình vào đầu năm mới.

Hàng năm, lễ này chỉ này chỉ cúng rượu và heo. Chỉ khi thu được hơn 100 gùi lúa, sẽ phải ăn trâu. Sau khi thày cúng đã chọn ngày chính thức, gia đình cho người đi báo tin và mời họ hàng ở buôn xa ,buôn gần về dự lễ. Trai gái các bon cũng nhân lúc này mà có lời hẹn hò.

Gia chủ phải lo chuẩn bị cho lễ tăm nghét này từ hàng tháng trước đó, nhất là việc ủ những ghè rượu thật ngon, sau khi suốt được những gùi lúa đầu tiên.

Ngày đầu, những người đàn ông đi chặt cây Blang để làm cột mới buộc trâu. Cũng trong ngày này , đàn ông khéo tay trong gia đình phải dùng gỗ Blang thay những chiếc khung D’rang day vẽ hoa văn màu đen, nẹp chung quanh dàn kho lúa trên bếp lửa và chiếc giá để bầu cơm trong nhà, làm lại cho đẹp, cho mới để cúng vị thần coi sóc kho lúa, và còn đón khách quý các bon đến nhà nữa chứ .Đám phụ nữ trong nhà tíu tít chuẩn bị lương thực, thực phẩm, ai cũng có việc của mình.Chỉ riêng lũ con nít chộn rộn, hết chạy tới lại chạy lui vô ra ngắm nhìn. Xem cho kỹ nghe,những lễ hội sau là của các con đấy.

Dựng cột buộc trâu Gơng rga và cột nêu Gơng la là công việc quan trọng nhất trong ngày thứ hai.Việc này chỉ chọn người khéo tay.Từ khi mây mù còn vây bủa khắp thung lũng, tiếng chày giã gạo của lũ con gái đã len lỏi khắp trong bon lan. Thậm thịch thậm thịch tiếng chày nện xuống lòng cối.Lốc cốc, lộc cộc tiếng va nhau của chày đôi, chày ba.Cứ từng nhóm hai ba cô gái trẻ, váy na put n’rưng dệt đẹp dài ngang bắp chân thon, chuyện trò ríu rít, mắt sáng ngời, má hồng rạng rỡ, vồng ngực căng lên như những quả đồi đang thở vì luôn tay nhanh nhẹn nâng chày lên, giã xuống.

Người đàn bà chủ nhà – U ruanh – chỉ huy đám phụ nữ lớn tuổi lo phần nấu nướng.Những món gì ngon nhất của riêng gia đình mình hôm nay phải làm cho thêm ngon hơn nhé. đám đàn ông phân công nhau ai làm thịt heo, đi dắt trâu về, ai dựng cột . cây cột bằng gỗ Blang cao quá đầu người , có tượng Kon Nuih – một người đàn ông và một người đàn bà – ngồi hai bên, tay chống lên đùi, để chào tiễn biệt con trâu.Phía trước dựng một khung tre ngăn cách với chỗ người ngồi, lại thêm một cây cọc để ghì trâu cho chắc.Sát bên cạnh là cột nêu- Gơng la, trên đỉnh có chim kring giang cánh như sắp bay lên, sáu chùm lá cọ Lha sra xé tua rua trang trí như hoa dọc thân cột gơng, với bốn sợi dây prei jum – chỉ khi được mùa mới có- kết dài những hạt cườm , tượng trưng cho bày ong, và những mảnh gỗ vẽ hoa văn các màu.Khác với trong nhà dùng màu đen, tất cả ở đây chỉ dùng màu đỏ.Một chiếc dàn N’rơng rla buộc chắc ở lưng chừng cột, để người ngồi thổi kèn Rlet khi cúng và ngồi canh trâu.Tiếng chiêng đã nối lên từ lúc bắt đầu chôn cột.dựng xong, đội chiêng đi ba vòng quanh nhà như một hình thức thông báo cho các thần xung quanh, để chuẩn bị đón trâu về buộc. Váy, khố, áo đẹp cất kỹ trong gùi, nay thơm mùi nắng xuân mới phơi, đung đưa theo những bắp chân,cánh tay nâu bóng.Vồng ngực trần đàn bà mẩy hồng, đôi vai và bắp chân trai tráng rắn đanh trong ánh ban mai và trong hàng trăm ánh mắt long lanh ngưỡng mộ của cả bon lan.

Trâu đã dắt về, cột chắc bằng những sợi dây mây và da trâu bện xuắn vào nhau. Bà chủ nhà sẽ cất tiếng ca bài “ khóc trâu” , an ủi và sẻ chia :

“ Ơ Pô, ơ Pô!/ Lâu nay sống trong nhà/ Ta với mày thương nhau/ Hôm nay dâng trâu cúng lúa/ Cầu mọi điều an lành/ Mở cửa kho/ Cho chủ nhà no/ Ơ Pô ! ơ Pô”

Thày cúng bắt đầu phần nghi lễ của mình. ông hút rượu từ trong ché, hoà với huyết heo, lẩm bẩm khấn khứa, rồi bôi rượu huyết lên dàn kho lúa, cột nhà, cột buộc trâu, trong tiếng Rlét dìu dặt.Rlét này sau lễ cúng, sẽ mang cất lên gác bếp chiếc bầu, còn ống nứa Tưng kar phải chôn ngay xuống chỗ chân cột nêu ấy. Sang năm nếu Yang cho 100 gùi lúa nữa , được anư trâu, sẽ lại làm Rlét khác với chiếc bầu đó.Còn đây là rượu, này là huyết cúng dân lên các vị thần linh đó nhé.Cha, mẹ, vợ chồng, con gái đầu lòng cùng đứng vị tay vào cột Gơn rla, đọc lời khấn theo thày cúng. Này là cả gia đình chúng tôi cùng đồng lòng cầu khấn các Yang đây :

“ Ơ Yang , lúa đã ngủ kín trong kho! Hãy cho chúng tôi năm sau lúa bắp nhiều hơn năm trước, được thuận hoà năm mưa tháng gió,cây cối sinh sôi nảy chồi ,đâm lộc. Con người không bệnh tật ốm đau.Mở kho này cho cả năm no đủ, chúng tôi xum họp ở đây cầu xin các Yang. Ơ Yang ! ”

Mặt trời đã lên cao quá đỉnh núi Jôk Nghi Pran, cái nắng như mật ong trải vàng trên đồng cỏ hoe hoe, lốm đốm sáng dưới bóng lá cây cà phê xanh rậm rịt trong vườn, nhà, thắp sáng bừng những gương mặt hớn hở của cả Bon lan.Gần 100 mùa rẫy rồi, cả bon không nhà nào đủ lúa để được “ ăn trâu” mà. Dù đã có nhiều nhà trồng cà phê, làm ruộng nước , học người Kinh gieo giống lúa có năng suất cao theo kỹ thuật mới. Nhưng cái thơm , cái ngon của hương lúa bay xa ba Bon, bốn làng để cúng tế các vị thần linh, thì chỉ trong giống lúa cũ của ông bà ta để lại mới đậm đà thôi.

Tiếng chưng của các Bon lan xa gần đến dự hội đang vang lên thì thụp xa xôi đâu đó trong nắng. Bà chủ hối hả dục dàn chưng mau đi đón khách.Theo lệ của người Pu Noong, chủ nhà phải ra tận đầu bon , mang theo đĩa đựng trầu cau , thanh nứa dài cắm sẵn những miếng trầu đã têm sẵn, nhiều ống nứa khác cột dây đỏ đựng rượu cần, trong tiếng chưng rộn ràng đón khách. Trầu được mời trên môi, rượu được đổ vào tận miệng trong tiếng chưng bung boong, rồi cùng vừa tấu chưng , vừa đưa nhau vào Bon, vào nhà.Lại những hồi chiêng dài, những ống rượu nghiêng vào vai nhau mà uống cho đến cạn, miếng trầu cay ấm nồng như tấm lòng Bon lan thơm thảo, để rồi đến phần các dàn chưng đua tài. Này là bài Pep kon jun, hay bài Dôk khleng đảo nhịp vui đến khiến cả người chơi lẫn người nghe đều ngả nghiêng, nhún nhảy.Nào là bài T’rơ chưng pu pét chững chạc, tự tin trong địa vị chủ lễ. Hay bài “ Tiếng chim hót trong rừng” tiết tấu chầm chậm vừa phải mà thanh thoát và khắc khoải ?

Ngày thứ ba, ngày chính thức của lễ hội. Mọi lễ thức khẩn cầu lại được lặp lại, trước khi hiến tế. Người được chọn để đâm trâu phải thật sự thành thạo với nghi thức này. Bởi sau khi đã chặt hai khuỷu chân sau , mà lại đâm không trúng tim, trâu không chịu chết ngay, lồng lộn lên là bị xui xẻo đấy.Thịt trâu này sẽ chia đều cho mọi người đến cùng tham gia lễ hội,mỗi người một rẻo nhỏ. Vâng, rất nhỏ thôi , những là sự sẻ chia vui buồn, là sợi dây kết nối tình nghĩa cộng đồng , tồn tại mãi hàng bao đời nay trong các lễ hội Tây Nguyên.Phần xương và bộ lòng, bà chủ làm canh đãi đằng chủ khách. Bộ da sẽ được lóc sạch dùng làm mặt trống hay dây buộc rất chắc chắn.

Ngày thứ tư của lễ, gia chủ mang chiếc đầu trâu vẫn đặt trên dàn cúng xuống, nấu bữa ăn chia tay khách gần, khách xa. Tiêng chưng lại vang lên bài đưa tiễn. Hẹn gặp lại trong những lễ Tăm Nghét của bon nào thu 100 gùi lúa nhé.

Linh Nga Niê Kdăm

Giới thiệu bài hát Wind of change

Chào các bạn,

Có lẽ không ai trong chúng ta là chưa từng một lần nghe bài hát quen thuộc Wind of change của nhóm nhạc Đức Scorpions.

Tiếng huýt sáo dài như tiếng gió rít ngày đông, và đâu đó ta như cảm giác được tiếng bước chân rầm rập của từng đoàn lính đang hành quân trên đường đi chiến đấu.

Wind of change là bài hát do nghệ sĩ Klaus Meine sáng tác năm 1990 kỉ niệm ngày bức tường Berlin sụp đổ, kết thúc chiến tranh lạnh Nga – Mỹ và sau đó là sự sụp đổ của Liên Xô . “Cơn gió thay đổi” ở đây ám chỉ làn gió tự do tràn về khu vực Đông Âu sau sự kiện này và người nghệ sĩ như cảm thấy được một Matx-cơ-va đang chuyển mình khi đi dọc bờ sông Matx-cơ-va và công viên Gorky trong một đêm hè tháng 8.

I follow the Moskva
Down to Gorky Park
Listening to the wind of change
An August summer night
Soldiers passing by
Listening to the wind of change

Cơn gió đổi thay

Tôi theo dòng Moskva
Xuống công viên Gorky
Lắng nghe cơn gió đổi thay
Một đêm hè tháng tám
Binh lính đi qua
Nghe cơn gió đổi thay

Thế giới thu nhỏ
Có bao giờ bạn nghĩ
Chúng ta có thề thật gần nhau, như anh em
Tương lai ở ngay trên không
Tôi có thể thấy nó khắp nơi
Bay với cơn gió đổi thay

Điệp khúc:
Hãy đưa tôi đến thời huyền diệu
Đêm vinh quang
Khi những đứa con của ngày mai ươm mơ
Trong cơn gió đổi thay

Đi trên phố
Ký‎ ức xa xôi
Chôn vùi vĩnh viễn trong quá khứ

Tôi theo dòng Moskva
Xuống công viên Gorky
Lắng nghe cơn gió đổi thay

Hãy đưa tôi đến thời huyền diệu
Đêm vinh quang
Khi những đứa con của ngày mai chia sẻ giấc mơ
Với bạn và tôi

Hãy đưa tôi đến thời huyền diệu
Đêm vinh quang
Khi những đứa con của ngày mai ươm mơ
Trong cơn gió đổi thay

Cơn gió đổi thay thổi thẳng
Vào mặt thời gian
Như một cơn bão sẽ rung
Tiếng chuông tự do cho an bình tâm trí
Hãy để đàn balalaika của bạn hát
Lời đàn guitar của tôi muốn nói

Hãy đưa tôi đến thời huyền diệu
Đêm vinh quang
Khi những đứa con của ngày mai chia sẻ giấc mơ
Với bạn và tôi

Hãy đưa tôi đến thời huyền diệu
Đêm vinh quang
Khi những đứa con của ngày mai ươm mơ
Trong cơn gió đổi thay

    (TĐH dịch)

Bài hát đã trở thành bài hát bán chạy nhất trong lịch sử âm nhạc Đức với 6 triệu bản phát hành và được coi là bài hát chính thức kỉ niệm ngày nước Đức thống nhất.

Mời các bạn cùng quay lại một giai đoạn đáng nhớ trong lịch sử thế giới và cảm nhận bài hát Wind of change nhé!

Lời tiếng Anh có sau các videos.

Hoàng Khánh Hòa
.

Bản tiếng Anh

.

Bản tiếng Nga

.

Bản tiếng Tây Ban Nha

.

Wind of change

I follow the Moskva
Down to Gorky Park
Listening to the wind of change
An August summer night
Soldiers passing by
Listening to the wind of change

The world closing in
Did you ever think
That we could be so close,like brothers
The future’s in the air
I can feel it everywhere
Blowing with the wind of change

Chorus:
Take me to the magic of the moment
On a glory night
Where the children of tomorrow dream away
In the wind of change

Walking down the street
Distant memories
Are buried in the past forever

I follow the Moskva
Down to Gorky Park
Listening to the wind of change

Take me to the magic of the moment
On a glory night
Where the children of tomorrow share their dreams
With you and me

Take me to the magic of the moment
On a glory night
Where the children of tomorrow dream away
In the wind of change

The wind of change blows straight
Into the face of time
Like a stormwind that will ring
The freedom bell for peace of mind
Let your balalaika sing
What my guitar wants to say

Take me to the magic of the moment
On a glory night
Where the children of tomorrow share their dreams
With you and me

Take me to the magic of the moment
On a glory night
Where the children of tomorrow dream away
In the wind of change