Category Archives: Văn Hóa

Lĩnh Nam Chích Quái – Truyện Đầm Một Đêm (Nhất Dạ Trạch – Tiên Dung và Chử Đồng Tử)

Hùng Vương truyền tới đời thứ ba sinh được một Mỵ Nương (1) đặt tên là Tiên Dung, đến tuổi 18 dung nhan đẹp đẽ, không muốn lấy chồng, thích chu du vui chơi khắp nơi trong thiên hạ. Vua đành chịu vậy, không cấm đoán được. Mỗi năm vào khoảng tháng hai tháng ba Tiên Dung lại sắm sửa thuyền bè chèo chơi ở ngoài biển, vui quên trở về.

Hồi đó ở làng Chử Xá ven sông, có người dân tên là Chử Vi Vân sinh được một người con trai là Chử Đồng Tử. Cha từ, con hiếu, nhà gặp hỏa hoạn, của cải sạch không, chỉ còn lại một khố vải duy nhất, cha con ra vào thay nhau mà mặc. Tới lúc cha già lâm bệnh gần chết bảo con rằng: “Cha chết cứ để trần mà chôn, giữ khố lại cho con, để khỏi xấu hổ”. Con không nỡ làm theo, liệm khố rồi đem chôn. Đồng Tử thân thể trần truồng đói rét khổ sở, đứng ở bên sông cầm cần câu cá; hễ nhìn thấy có thuyền buôn qua lại thì đứng ở dưới nước mà xin ăn.

Bất ngờ thuyền của Tiên Dung xốc tới, chiêng trống nhã nhạc, cờ lọng huy hoàng, kẻ hầu người hạ rất đông. Đồng Tử rất kinh sợ, không biết chạy trốn đi đâu. Trên bãi cát có khóm lau sậy, lưa thưa dăm ba cây, Đồng Tử bèn nấp trong đó, bới cát thành lỗ nằm xuống phủ cát lên mình. Lát sau, Tiên Dung cắm thuyền dạo chơi trên bãi cát, ra lệnh đào hố, lấy lau vây màn làm chỗ tắm. Tiên Dung vào màn, cởi áo dội nước, cát trôi mất để lộ ra thân hình của Chử Đồng Tử. Tiên Dung hổ thẹn hồi lâu, thấy là con trai bèn nói: “Ta vốn không muốn lấy chồng, nay lại gặp ngươi, cùng ở trần với nhau trong một hố, đó chính là do trời xui khiến vậy. Ngươi hãy mau đứng dậy tắm rửa”. Tiên Dung ban cho quần áo mặc rồi cùng xuống thuyền mở tiệc vui chơi. Người trong thuyền đều cho đó là cuộc giai ngộ xưa nay chưa từng có. Đồng Tử kể lại tình cảnh của mình, Tiên Dung ta thán, muốn nên vợ chồng. Đồng Tử cố từ chối, song Tiên Dung nói rằng: “Đây do trời chắp nối, sao lại cứ chối từ?”.

Người theo hầu vội về tâu lại với Hùng Vương. Vua giận nói: “Tiên Dung không thiết tới danh tiết, không màng tới của cải của ta, ngao du bên ngoài, hạ mình lấy kẻ nghèo khổ, còn mặt mũi nào trông thấy ta nữa, rồi cấm không cho Tiên Dung trở về”. Tiên Dung nghe sợ không dám về, bèn cùng Đồng Tử mở chợ búa, lập phố xá, cùng dân buôn bán, dần dần trở thành phố chợ lớn (nay là chợ Thám). Thương nhân nước ngoài tới lui buôn bán, kính nể tôn Tiên Dung và Chử Đồng Tử làm chủ.

Có người lái buôn giàu có nói với Tiên Dung rằng: “Người bỏ một dật (2) vàng, cùng tôi ra ngoài bể mua vật quí, sang năm có thể thành mười dật”. Tiên Dung cả mừng bảo Đồng Tử: “Vợ chồng chúng ta do trời tác thành, đồ ăn thức mặc do người làm nên, vậy nên đem vàng cùng phú thương ra biển buôn bán làm ăn”. Đồng Tử bèn cùng lái buôn đi buôn bán. Đến núi Quỳnh Vi, trên núi có am nhỏ, bọn lái buôn thường ghé lại đó lấy uống nước. Đồng Tử lên am chơi, trong am có sư tên gọi Phu Quang truyền phép cho Đồng Tử, Đồng Tử ở lại học phép, giao tiền cho lái buôn mua hàng. Sau bọn lái buôn quay lại am chở Đồng Tử trở về. Sư bèn tặng Đồng Tử một cây trượng và một chiếc nón mà nói rằng: “Linh thiêng ở những vật này đây”.

Đồng Tử trở về, giảng đạo lại cho Tiên Dung. Tiên Dung giác ngộ, liền bỏ phố phường, chợ búa cơ nghiệp, rồi cả hai đều tìm thầy học đạo. Có lần, trên đường đi xa, trời tối chưa về kịp nhà, tạm nghỉ ở giữa đường, cắm trượng che nón mà trú thân. Đến canh ba, thấy hiện ra thành quách, lầu ngọc, điện vàng, đền đài, kho tàng, xã tắc, vàng bạc, châu báu, giường chiếu, chăn màn, tiên đồng, ngọc nữ, tướng sĩ, thị vệ, la liệt trước mắt. Sáng hôm sau, ai nấy trông thấy cũng kinh ngạc lạ lùng, đem hương hoa, lễ vật tới dâng xin làm bề tôi, có văn võ trăm quan, chia quân túc vệ, lập thành nước riêng.

Hùng Vương nghe tin, cho rằng con gái làm loạn, bèn sai quân tới đánh. Quần thần của Tiên Dung xin đem quân ra chống giữ. Tiên Dung cười mà bảo: “Điều đó ta không muốn làm, do trời định đó thôi, sống chết tại trời, há đâu dám chống lại cha, chỉ xin thuận theo lẽ chính, để mặc cho cha chém giết”. Lúc đó, dân mới tới theo đều kinh sợ tản đi, chỉ có dân cũ ở lại với Tiên Dung. Quan quân tới, đóng trại ở bãi Tự Nhiên, chỉ còn cách con sông lớn thì trời tối không kịp tiến quân. Nửa đêm, bỗng nhiên gió lớn nổi lên, cát bay, cây đổ, quan quân hỗn loạn. Tiên Dung cùng thủ hạ, thành quách phút chốc bay bổng lên trời. Đất chỗ đó sụt xuống thành cái đầm lớn. Ngày hôm sau, dân chúng không thấy thành quách đâu cả, đều cho là linh dị. Về sau, dân lập miếu thờ, bốn mùa cúng tế, gọi đầm là đầm Nhất Dạ (Nhất Dạ Trạch, nghĩa là đầm một đêm), gọi bãi là bãi Tự Nhiên, còn gọi là bãi Mạn Trù (hố tắm), và gọi chợ là chợ Hà Thị (chợ Hà).

Sau đến đời tiền Lý Nam Đế, bọn nhà Lương đem quân sang xâm lược, vua Lý Nam Đế sai Triệu Quang Phục làm tướng cự địch. Quang Phục đem quân ẩn nấp trong đầm. Đầm sâu rộng lớn, bùn lầy, rất khó ra vào, Quang Phục dùng thuyền độc mộc, dễ bề đi lại, quân giặc khó biết tung tích ở đâu. Đêm đến dùng thuyền độc mộc lẻn ra đột kích, đánh cướp lương thực, cầm cự lâu ngày làm cho quân giặc mệt mỏi, trong ba bốn năm không hề đối diện chiến đấu. Bá Tiên than rằng: “Ngày xưa, nơi đây một đêm mà thành đầm nhà trời, đúng vậy!” (3). Nhân gặp loạn Hầu Cảnh, vua nhà Lương bèn gọi Bá Tiên về, cho tì tướng là Dương Sàn thống lĩnh sĩ tốt, Quang Phục ăn chay lập đàn ở giữa đầm, đốt hương cầu đảo, bỗng thấy thần nhân cưỡi rồng bay vào trong đầm mà bảo Quang Phục rằng: “Ta tuy đã lên trời, nhưng linh hiển còn đó, ngươi có lòng thành cầu tới, ta đến để giúp đánh dẹp giặc loạn”. Dứt lời, tháo vuốt rồng trao cho Quang Phục, bảo: “Đem vật này đeo lên mũ đâu mâu (4), đánh đâu diệt đó”. rồi bay mất lên trời. Quang Phục được vuốt rồng, xông ra đột kích, quân Lương thua to, chém được Dương Sàn ở giữa trận, giặc Lương phải lùi. Quang Phục nghe tin Nam Đế mất, bèn lên ngôi lấy hiệu là Triệu Việt Vương, xây thành ở Trâu Sơn, huyện Vũ Ninh (5).

Chú thích:
1) Con gái của Vua Hùng gọi là Mỵ Nương (xem truyện Hồng Bàng).
2) Dật: Một đơn vị đo lường thời xưa.
3) Bản A 2914 còn có thêm câu: “Ôi, mà ngày hôm nay, đêm đêm đồn quân án giữ mà chẳng biết giặc núp nơi đâu”
4) Mũ đâu mâu: Đâu mâu兜鍪 là cái mũ trụ, mũ quân lính đội lúc ra trận.
5) Nay là Bắc Ninh

(Nguyễn Hữu Vinh dịch)
.

Bình:

• Đa số các truyện trong Lĩnh Nam Chích Quái nói đến đời Hùng Vương thứ 3, như truyện này. Số 3 là số thiếu dương trong Dịch học. Thiếu dương là bắt đầu khởi động, bắt đầu đi lên, cho nên là con số quan trọng, dù chỉ là nhỏ (“thiếu”).

Thực ra số 3 rất quan trọng cho tâm thức con người, hầu như trong tất cả mọi nền văn minh trên thế giới. Có một điều gì đó làm cho con người mê chuộng số 3: Trời đất người, body mind spirit, chúa ba ngôi, bố mẹ con, đầu mình tứ-chi, bắc trung nam, tam bảo Phật Pháp Tăng…

• Lòng hiếu thảo của Chử Đồng Tử với cha thì rất rõ — nhường cái khố duy nhất cho cha.

Nhưng điều này còn nói lên sự quan trọng của việc tiễn người ra đi. Cho đến ngày nay người Việt vẫn tin người chết ở cõi âm cần dùng nhiều thứ, cho nên tục đốt vàng mã vẫn còn rất mạnh. Cái khố cho bố không phải chỉ để mai táng cho trịnh trọng, mà vì bố còn cần dùng nó hàng ngày ở cõi âm.

Cho đi cái khố duy nhất còn là để chuẩn bị cho đoạn sau—một Chử Đồng Tử hoàn toàn trần trụi.

• Con người trần truồng là con người thật sự, chính hắn ta, như là trời sinh, không một mảnh vải để làm cho hắn nhìn khác đi một tí. Con người không trau chuốt, không giả tạo, không dối trá, không ảo tưởng… Khi chúng ta đến với nhau bằng con người thật của mình, chúng ta dễ gần gũi nhau hơn, dễ “kết” nhau hơn.

Con người trần truồng còn là biểu tượng của cái tâm nguyên thủy của con người. Tâm trong sáng chưa bị lu mở bởi mọi chấp trước thế gian.

Con người trần truồng, về mặt vật thể, còn có nghĩa là người nghèo nhất trong thiên hạ, thực sự nghèo đến mức không có khố che thân.

• Chử Đồng Tử câu cá ở bờ sông, và phải đứng dưới nước để xin ăn: Văn hóa “nước” của người Việt mà ta đã nói đến trong Truyện Hồng Bàng. Nước là quê mẹ, nước là tổ quốc. Liên hệ tâm thức giữa người Việt với quê hương tổ quốc, ít ra là trên bình diện ngôn ngữ, có lẽ mạnh nhất trên thế giới, vì chẳng có gì quan trọng cho đời sống con người bằng nước, và ta dùng từ đó để gọi tổ quốc.

• Tiên Dung và Chử Đồng Tử gặp nhau là duyên tiền định: Số lấy con vua thì nghèo rớt mồng tơi vẫn lấy con vua. Số lấy chồng nghèo thì mình là con vua vẫn lấy anh chàng nghèo nhất nước. Đây là thuyết nhân duyên của nhà Phật. Nghiệp của các kiếp trước dự một phần lớn trong việc định đời sống của ta kiếp này. Tâm hiếu thảo của Chử Đồng Tử kiếp này cũng dự một phần trong việc định đời sống của chàng kiếp này.

• Tiên Dung và Chử Đồng Tử gặp nhau khi cả hai cùng trần truồng cũng là biểu tượng của tâm nguyên thủy của con người. Trong vũ trụ quan Phật giáo, tâm nguyên thủy của ta và nền tàng nguyên thủy của vũ trụ là một—là Không. Khi chúng ta giác ngộ, tâm ta không còn si mê, trở về trạng thái tinh tuyền nguyên thủy—Không. Ta và Không là một. Hai người trần truồng (Tiên Dung và Chử Đồng Tử) là biểu tượng cho hai tâm nguyên thủy, mà hai tâm nguyên thủy thì chỉ là một—là Không—biểu tượng của sự kết hợp thành vợ chồng, hai thành một.

• Lấy nhau làm vua cha cả giận. Đây nói lên tính tự chủ của Tiên Dung, tự định đoạt đời mình. Tiên Dung là người nổi bật nhất về tự chủ trong truyện này. Về sau ta thấy Tiên Dung cũng chủ động trong việc làm ăn buôn bán. Dấu vết của chế độ mẫu hệ rất mạnh trong văn hóa Việt, như đã nói trong Truyện Hồng BàngTruyện Trầu Cau.

• Ở đây chúng ta thấy có sự phối hợp của “duyên tiền định” và “ý chí” của con người. Thực ra dây không phải là hai điều khác nhau và trái ngược nhau như nhiều người lầm tưởng. Ý chí của con người cũng là một “nhân/duyên” trong hàng triệu “nhân/duyên” khác ảnh hưởng đến đời sống của hắn ta. Nhân duyên gồm có (1) nhân duyên của bao kiếp trước, (2) nhân duyên của các sự việc trong kiếp này và (3) ‎ý chí và nỗ lực của ta.

• Thay vì cùng nhau ở ẩn, Tiên Dung và Chử Đồng Tử lại mở chợ búa buôn bán. Đây là triết lý nhập thế rất tích cực.

• Nhờ ra bể buôn bán và gặp thầy học đạo: Đây là triết lý‎ hướng ngoại trong việc trị quốc. Mở rộng ra ngoài, liên hệ với bên ngoài, giao thương với bên ngoài, thì trí tuệ mới mở rộng được.

Đương nhiên là điểm này còn nói đến việc Phật giáo du nhập vào nước ta qua đường biển, trực tiếp từ Ấn độ như nhiều sử gia Phật sử đã nói đến (cùng với đường từ Trung quốc ở hướng Bắc sang).

• Thầy cho Chử Đồng Tử cây gậy và cái nón: Đây rõ ràng là các vật để đi đường. Tức là triết l‎‎ý nhập thế, “đạo vào đời”, của các thiền sư. Sơ tổ Bồ Đề Đạt Ma thường xuất hiện với cây gậy mang một chiếc dép; Phật Di lặc, gọi là hotei ở Nhật, là vị sư thường mang cây gậy và một bao (đồ chơi trẻ em).

Nón thì che nắng, cây gậy là để bảo vệ và chống thú dữ trên đường đi, v. v… Nhưng chúng còn là biểu tượng gì?

— Nón là một vòng tròn lớn, trống rỗng, trên đầu, là biểu tượng của Không–chân tánh của chính mình và của toàn thể vũ trụ–chân lý tối hậu của Phật pháp. “Không” bao trùm tất cả, như nón che toàn thân ta. (Đây cũng tương tự như một chiếc dép của Bồ Đề Đạt Ma thường được xem là biểu tượng của Một. Tất cả là Một, và một đó là Không).

— Cậy gậy chống đở thường xuyên là biểu tượng cho giáo pháp—giới , định, tuệ–mà ta phải tu tập hàng ngày, để chống chọi lười biếng, si mê và thoái hóa.

• Thành quách xuất hiện trong một đêm, trên đường học đạo: Chuyện này rất giống với phẩm Hóa Thành Dụ trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, khi một đạo sư làm thành quách giả cho các đệ tử nghĩ tạm trên đường tu học gian nan.

Phật giảng tam thừa–Thanh Văn thừa (giác ngộ thành Alahán), Duyên giác thừa (giác ngộ thành Bích Chi Phật), Bồ Tát thừa (giác ngộ thành Bồ tát)–cũng chỉ là các “hóa thành” để tạm nghĩ, trên cùng một con đường Phật thừa (thành Phật).

• Thành quách hiện ra một đêm, biến mất một đêm, cũng nói đến lẽ vô thường của đời sống—thành quách lâu đài vương giả cũng chỉ là phù du, hiện mất mất hiện chỉ một đêm.

Tên “Đầm Một Đêm” (Nhất Dạ Trạch) nhấn mạnh đến lẽ vô thường đó.

• Truyện này rõ là huyền thoại và triết lý 100 %, ngoại trừ việc Triệu Quang Phục sau này dùng Đầm Dạ Trạch làm căn cứ kháng chiến chống quân Lương là lịch sử. Truyện vuốt rồng và mũ đầu mâu của Triệu Quang Phục, nếu có vào thời Triệu Quang Phục, thì hẳn nhiên đó là mưu kế chiến tranh tâm lý.

(Trần Đình Hoành bình)

Nhà thơ Hữu Loan qua đời

Chào các bạn,

Nhà thơ Hữu Loan, tác giả của tuyệt tác Màu Tím Hoa Sim, đã qua đời tại quê nhà ở Thanh Hóa, ngày 18 tháng 3, 2010, lúc 21 giờ, hưởng thọ 95 tuổi.

Màu Tím Hoa Sim, ai đọc qua mà không buồn da diết!
Cuộc tình trong thời nhiễu loạn phân ly…

Nhưng không chết người trai chiến sĩ
Mà chết người gái nhỏ hậu phương…

Chiến tranh không có quy luật phân ly!

Chiều hành quân qua những đồi sim
Những đồi sim dài trong chiều không hết
Màu tím hoa sim tím chiều hoang biền biệt…

Tiểu sử

Hữu Loan tên thật là Nguyễn Hữu Loan, sinh năm 1916 tại làng Vân Hoàn, xã Nga Lĩnh, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Ông học Thành chung ở Thanh Hóa, đậu tú tài Tây năm 1938 tại Hà Nội (vì vậy ở quê thường gọi là cậu Tú Loan). Thời đó, bằng tú tài rất hiếm, rất ít người có nên ông được mời vào làm trong Sở Dây thép (Bưu điện) Hà Nội nhưng ông không làm mà đi dạy học và đã từng là cộng tác viên của các tập san văn học xuất bản tại Hà Nội. Năm 1939 ông tham gia Mặt trận Bình Dân rồi về tham gia Mặt trận Việt Minh tại thị xã Thanh Hóa.

Năm 1943, ông gây dựng phong trào Việt Minh ở quê nhà, và khi cuộc Cách mạng tháng Tám 1945 nổ ra, ông làm Phó chủ tịch Ủy ban khởi nghĩa huyện Nga Sơn, rồi được cử làm Ủy viên Văn hóa trong Ủy ban lâm thời tỉnh Thanh Hóa, phụ trách các ty: Giáo dục, Thông tin, Thương chính và Công chính.

Trong kháng chiến chống Pháp, Hữu Loan tình nguyện đi bộ đội, phục vụ trong sư đoàn 304 và làm chính trị viên tiểu đoàn, đồng thời làm chủ bút tờ Chiến Sĩ của sư đoàn.

Tháng 2 năm 1948, lúc ấy ông 32 tuổi, được nghỉ phép hai tuần lễ, về quê cưới cô Lê Đỗ Thị Ninh là người học trò cũ mới 16 tuổi, con gái của ông bà tham Kỳ, một gia đình nền nếp, gia sản có tới hàng trăm mẫu ruộng ở Thanh Hoá mà trước đây ông đã từng làm gia sư dạy kèm cho các con của ông bà suốt nhiều năm liền. Cô Ninh yêu ông bằng một tình yêu kỳ lạ, nửa như người anh, nửa như người thầy. Ông cũng coi cô bé xinh đẹp 16 tuổi đó nửa như em gái, nửa như cô học trò vì khi ông mới đậu tú tài, được ông bà tham Kỳ nhờ đến dạy học cho hai người anh của cô Ninh thì cô mới 8 tuổi. Sau, ông cũng làm gia sư cho cô luôn.

Cưới nhau xong, ông lại lên đường ra mặt trận. Sư đoàn lúc ấy ở vùng Tuyên Quang, Cao Bằng, Lạng Sơn. Ba tháng sau, tháng 5 – 1948, từ ngoài mặt trận, ông được tin người vợ trẻ tuổi ở nơi quê nhà vắn số: cô giặt đồ ở ngoài sông, xảy chân ngã xuống sông, bị nước cuốn đi, chết đuối. Ông quá đau khổ, định sẽ ở vậy suốt đời, đồng thời đem nỗi lòng mình viết thành những câu thơ rồi dần dần thành bài Màu tím hoa sim đầy kỷ niệm. Mấy năm sau – khoảng các năm 1951-1953 – bài thơ này nổi tiếng, được lưu truyền trong dân chúng nhưng bị phê bình là “ủy mị, mang tính chất tiểu tư sản”!

Năm 1954, sáu năm sau ngày vợ chết, hoà bình lập lại nhưng chuyện đấu tố diễn ra. Bộ đội đóng ở Nghệ An, ông về nhà chơi, được biết ở làng bên có một gia đình địa chủ ngày trước vẫn tiếp tế lương thực cho sư đoàn của ông, nay bị đấu tố chết rất thê thảm, chỉ trừ cô gái 17 tuổi tên Phạm Thị Nhu thì được tha chết nhưng bị đuổi ra khỏi nhà, cấm không cho ai được phép liên lạc. Ông nhớ tới ơn xưa, bèn đi tìm xem cô ta ra sao thì gặp cô đang đói khát, mặt mũi lấm lem, quần áo rách rưới, đang đi mót những củ khoai người ta bới xong còn sót lại ở ngoài cánh đồng, chùi sơ rồi bỏ vào miệng ăn sống. Thấy ông, cô khóc rưng rức vì cảnh khốn cùng của mình và cho biết ban đêm cô ngủ trong một ngôi miếu hoang, chỉ sợ có kẻ làm bậy và không hiểu mình sẽ tồn tại được bao lâu. Ông rất thương xót, đồng thời cũng nhớ tới những kỷ niệm mà hồi trước, khi cô còn nhỏ, ông dạy học ở xã bên ấy, cô thường núp nghe ông giảng truyện Kiều.

Ông quyết định đem cô về nhà cha mẹ và lấy cô làm vợ. Cấp trên không đồng ý. Ông là đảng viên, lại trưởng phòng Tuyên huấn kiêm chính trị viên tiểu đoàn, không được lấy con cái địa chủ, nếu lấy thì sẽ bị đuổi khỏi quân đội và bị khai trừ khỏi đảng. Tính ông ngang bướng, ông chấp nhận điều kiện thứ hai và cô Phạm Thị Nhu trở thành người vợ sống với ông cho đến bây giờ, sinh cho ông được 10 người con cùng với 37 đứa cháu như chúng ta sẽ biết.

Đầu năm 1955, ra khỏi quân đội, ông về Hà Nội xin vào làm việc tại báo Văn Nghệ. Trong thời gian 1956-1957, ông tham gia Phong trào Nhân Văn-Giai Phẩm do nhà văn Phan Khôi chủ trương. Ông sáng tác những tác phẩm lên án quyết liệt những tiêu cực của các cán bộ nịnh hót, đố kỵ, ám hại lẫn nhau vv… Như trong tác phẩm Cũng những thằng nịnh hót và trong truyện ngắn Lộn sòng, ông coi mình là nạn nhân và phê phán một cách gay gắt.

Phong trào Nhân Văn Giai Phẩm bị dập tắt vào năm 1958, nhà thơ Hữu Loan bị đi cải tạo mấy năm rồi được thả, cho về địa phương và bị quản chế tại địa phương. Hiện nay tất nhiên lệnh quản chế đó đã hết từ lâu nhưng ông vẫn sống tại quê nhà.

Các tác phẩm

Hữu Loan chưa xuất bản tập thơ nào. Một số bài thơ đã được phổ biến trên các báo chí của ông: Màu tím hoa sim, Đèo Cả, Yên mô, Hoa lúa, Tình Thủ đô…

Tại miền Nam, bài Màu tím hoa sim đã được các nhạc sĩ Dũng Chinh, Phạm Duy, Anh Bằng và Duy Khánh phổ nhạc… Trong đó bài của Dzũng Chinh và Phạm Duy là nổi tiếng nhất.

Vào tháng 10 năm 2004, Màu tím hoa sim đã được Công ty Cổ phần Công nghệ Việt (viết tắt: vitek VTB) mua bản quyền với giá 100 triệu đồng. (Nguồn: datviet.com)

Để tưởng niệm Hữu Loan, sau đây là:

1. Nguyên văn bài thơ Màu Tím Hoa Sim

2. Bản dịch bài thơ sang tiếng Anh (“Berryflower Violet”) của TĐH.

3. Video bài thơ Màu Tím Hoa Sim, do Quốc Anh ngâm.

4. Video bản nhạc “Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà”, Phạm Duy viết, do Elvis Phương hát.

5. Video bản nhạc “Những Đồi Hoa Sim”, Dzũng Chinh, do Phương Dung hát.

6. Audio link “Những Đồi Hoa Sim” của Dzũng Chinh, do Hương Lan và Duy Quang hát.

7. Video bản “Chuyện Hoa Sim” của Anh Bằng, do Như Quỳnh hát.

8. Audio link bản “Màu Tím Hoa Sim” của Duy Khánh, do chính Duy Khánh hát.

9. Audio link bản “Màu Tím Hoa Sim” của Duy Khánh, do Giao Linh hát.

10. Tiếp theo đó là lời kể của Hữu Loan về cuộc tình đã tạo nên bài thơ này.

Các bài thơ khác của Hữu Loan có thể đọc tại linh này.

Cầu xin cho linh hồn Hữu Loan được an lạc nơi chín suối.

Hoành

Màu Tím Hoa Sim

Nàng có ba người anh đi bộ đội
Những em nàng
Có em chưa biết nói
Khi tóc nàng đang xanh.
Tôi người vệ quốc quân
xa gia đình
Yêu nàng như tình yêu em gái.
Ngày hợp hôn
Nàng không đòi may áo mới
Tôi mặc đồ quân nhân
đôi giày đinh bết bùn
Đất hành quân
Nàng cười xinh xinh
bên anh chồng độc đáo.

Tôi ở đơn vị về
Cưới nhau xong là đi.
Từ chiến khu xa
Nhớ về ái ngại
Lấy chồng thời chiến chinh
Mấy người đi trở lại
Lỡ khi mình không về
thì thương
người vợ chờ
bé bỏng chiều quê…

Nhưng không chết
Người trai khói lửa
Mà chết
Người gái nhỏ hậu phương.
Tôi về
không gặp nàng
Má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối
Chiếc bình hoa ngày cưới
thành bình hương
tàn lạnh vây quanh

Tóc nàng xanh xanh
ngắn chưa đầy búi
Em ơi giây phút cuối
không được nghe nhau nói
không được nhìn nhau một lần.

Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím
áo nàng màu tím hoa sim
Ngày xưa
một mình
đèn khuya
bóng nhỏ
Nàng vá cho chồng tấm áo
ngày xưa…

Một chiều rừng mưa
Ba người anh trên chiến trường Đông Bắc
Biết tin em gái mất
trước tin em lấy chồng;
Gió sớm thu về rờn rợn nước sông
Đứa em nhỏ lớn lên
ngỡ ngàng nhìn ảnh chị
Khi gió sớm thu về cỏ vàng chân mộ chí.
Chiều hành quân
Qua những đồi sim
những đồi sim dài trong chiều không hết
Màu tím hoa sim
tím chiều hoang biền biệt
Nhìn áo rách vai
Tôi hát
trong màu hoa
(áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh mất sớm, mẹ già chưa khâu…).

Hữu Loan

Berryflower Violet

She had three brothers in the army
The younger ones
some weren’t yet talking
When her hair was still soft

I was a soldier
away from home
Loving her as a little sister
The wedding day
she didn’t ask for a new dress
I wore army uniform
The hobnail boots
Battlemud-smeared
Lovely she smiled
beside the odd husband

I came back from the front
Wedding done, I left.
From the far war zone
I thought of her, uneasy
Marrying in war time
Who leaves and would return?
If I don’t come back
how pitied would it be
for the little wife waiting
in the country evenings…

Yet the boy in the firing lines didn’t die
but died
the little girl behind
I came back
seeing her not
My mother sat by her tomb in darkness
The wedding day’s flowerpot
had become an incense vessel
besieged in expired coldness

Her hair was soft
too short to pin up
O my beloved, the last minute
we couldn’t hear each other
we couldn’t see each other even once
Those days she loved violet berryflowers
Her dress was berryflower violet
Those days
night lamp
small shadow
She mended for her husband the shirt
those days…

An afternoon
rain over the forest
the three brothers in the northeastern front
received words of the sister’s death
before the wedding news
An early autumn wind
made the river waters creep
The little brother grew up
lost
looking at the sister’s picture
When came the early autumn wind
the grass withered by the tombstone

In the afternoons
my platoon passes through berry hills
berryflower hills infinitely long in the afternoons
Berryflower violet
endlessly purples the desolate afternoons
Looking at the torn shirt shoulder
I sing
in the flower’s color
“My shirt is torn by the seam
My wife died
My mother has not yet mended it.”

TĐH translated
(June 13, 1998, March 2, 2000; March 18, 2010)

 

Bài thơ Màu Tím Hoa Sim – Quốc Anh ngâm


.

Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà – Phạm Duy – Elvis Phương


.

Những Đồi Hoa Sim – Dũng Chinh – Hương Lan & Duy Quang (Nhấn chuột vào đây)

.

Chuyện Hoa Sim – Anh Bằng – Như Quỳnh


.

Màu Tím Hoa Sim – Duy Khánh (nhấn chuột vào đây)
.

Màu Tím Hoa Sim – Duy Khánh – Giao Linh (nhấn chuột vào đây)

Đôi lời tự thuật của chính tác giả bài thơ nổi tiếng trên:

Phần 1: Mà chết người gái nhỏ hậu phương…

Tôi sinh ra trong một gia đình nghèo, hồi nhỏ không có cơ may cắp sách đến trường như bọn trẻ cùng trang lứa, chỉ được cha dạy cho dăm chữ bữa có bữa không ở nhà. Cha tôi tuy là tá điền nhưng tư chất lại thông minh hơn người. Lên trung học, theo ban thành chung tôi cũng học tại Thanh Hóa, không có tiền ra Huế hoặc Hà Nội học. Đến năm 1938 – lúc đó tôi cũng đã 22 tuổi – Tôi ra Hà Nội thi tú tài, để chứng tỏ rằng con nhà nghèo cũng thi đỗ đạt như ai. Tuyệt nhiên tôi không có ý định dấn thân vào chốn quan trường. Ai cũng biết thi tú tài thời Pháp rất khó khăn. Số người đậu trong kỳ thi đó rất hiếm, hiếm đến nỗi 5-6 chục năm sau những người cùng thời còn nhớ tên những người đậu khóa ấy, trong đó có Nguyễn Đình Thi , Hồ Trọng Gin, Trịnh văn Xuấn , Đỗ Thiện và …tôi – Nguyễn Hữu Loan.

Với mảnh tú tài Tây trong tay, tôi rời quê nhà lên Thanh Hóa để dạy học. Nhãn mác con nhà nghèo học giỏi của tôi được bà tham Kỳ chú ý, mời về nhà dạy cho hai cậu con trai. Tên thật của bà tham Kỳ là Đái thị Ngọc Chất ,bà là vợ của của ông Lê Đỗ Kỳ , tổng thanh tra canh nông Đông Dương, sau này đắc cử dân biểu quốc hội khóa đầu tiên. Ở Thanh Hóa, Bà tham Kỳ có một cửa hàng bán vải và sách báo, tôi thường ghé lại xem và mua sách, nhờ vậy mới được bà để mắt tới.

Bà tham Kỳ là một người hiền lành, tốt bụng, đối xử với tôi rất tốt, coi tôi chẳng khác như người nhà. Nhớ ngày đầu tiên tôi khoác áo gia sư, bà gọi mãi đứa con gái – lúc đó mới 8 tuổi- mới chịu lỏn lẻn bước ra khoanh tay, miệng lí nhí: “Em chào thầy ạ!” Chào xong, cô bé bất ngờ mở to đôi mắt nhìn thẳng vào tôi. Đôi mắt to, đen láy, tròn xoe như có ánh chớp ấy đã hằn sâu vào tâm trí tôi, theo tôi suốt cả cuộc đời. Thế là tôi dạy em đọc, dạy viết. Tên em là Lê Đỗ Thị Ninh, cha làm thanh tra nông lâm ở Sài Gòn nên sinh em trong ấy, quen gọi mẹ bằng má. Em thật thông minh, dạy đâu hiểu đấy nhưng ít nói và mỗi khi mở miệng thì cứ y như một “bà cụ non”.  Đặc biệt em chăm sóc tôi hằng ngày một cách kín đáo: em đặt vào góc mâm cơm chổ tôi ngồi ăn cơm lúc thì vài quả ớt đỏ au, lúc thì quả chanh mọng nước em vừa hái ở vườn, những buổi trưa hè, nhằm lúc tôi ngủ trưa, em lén lấy áo sơ mi trắng tôi treo ở góc nhà mang ra giếng giặt …..

Có lần tôi kể chuyện ” bà cụ non” ít nói cho hai người anh của em Ninh nghe, không ngờ chuyện đến tai em, thế là em giận! Suốt một tuần liền, em nằm lì trong buồng trong, không chịu học hành… Một hôm bà tham Kỳ dẫn tôi vào phòng nơi em đang nằm thiếp đi. Hôm ấy tôi đã nói gì, tôi không nhớ nữa, chỉ nhớ là tôi đã nói rất nhiều, đã kể chuyện em nghe, rồi tôi đọc thơ… Trưa hôm ấy, em ngồi dậy ăn một bát to cháo gà và bước ra khỏi căn buồng. Chiều hôm sau, em nằng nặc đòi tôi đưa lên khu rừng thông. Cả nhà không ai đồng ý: “Mới ốm dậy còn yếu lắm, không đi được đâu” Em không chịu nhất định đòi đi cho bằng được.  Sợ em lại dỗi nên tôi đánh bạo xin phép ông bà tham Kỳ đưa em lên núi chơi …..

Xe kéo chừng một giờ mới tới được chân đồi. Em leo đồi nhanh như một con sóc, tôi đuổi theo muốn đứt hơi. Lên đến đỉnh đồi, em ngồi xuống và bảo tôi ngồi xuống bên em.Chúng tôi ngồi thế một hồi lâu, chẳng nói gì. Bất chợt em nhìn tôi, rồi ngước mắt nhìn ra tận chân trời, không biết lúc đó em nghĩ gì. Bất chợt em hỏi tôi:
-Thầy có thích ăn sim không ?
Tôi nhìn xuống sườn đồi: tím ngắt một màu sim. Em đứng lên đi xuốn sườn đồi, còn tôi vì mệt quá nên nằm thiếp đi trên thảm cỏ….Khi tôi tỉnh dậy, em đã ngồi bên tôi với chiếc nón đầy ắp sim. Những quả sim đen láy chín mọng.
-Thầy ăn đi.
Tôi cầm quả sim từ tay em đưa lên miệng trầm trồ: -Ngọt quá.

Như đã nói, tôi sinh ra trong một gia đình nông dân, quả sim đối với tôi chẳng lạ lẫm gì, nhưng thú thật tôi chưa bao giờ ăn những quả sim ngọt đến thế!
Cứ thế, chúng tôi ăn hết qủa này đến qủa khác. Tôi nhìn em, em cười. Hai hàm răng em đỏ tím, đôi môi em cũng đỏ tím, hai bên má thì….tím đỏ một màu sim. Tôi cười phá lên, em cũng cười theo!

Cuối mùa đông năm ấy, bất chấp những lời can ngăn, hứa hẹn can thiệp của ông bà tham Kỳ, tôi lên đường theo kháng chiến. Hôm tiễn tôi, em theo mãi ra tận đầu làng và lặng lẽ đứng nhìn theo. Tôi đi… lên tới bờ đê, nhìn xuống đầu làng ,em vẫn đứng đó nhỏ bé và mong manh. Em giơ bàn tay nhỏ xíu như chiếc lá sim ra vẫy tôi. Tôi vẫy trả và lầm lũi đi…Tôi quay đầu nhìn lại… em vẫn đứng yên đó … Tôi lại đi và nhìn lại đến khi không còn nhìn thấy em nữa…

Những năm tháng ở chiến khu, thỉnh thoảng tôi vẫn được tin tức từ quê lên, cho biết em vẫn khỏe và đã khôn lớn. Sau này, nghe bạn bè kể lại, khi em mới 15 tuổi đã có nhiều chàng trai đên ngỏ lời cầu hôn nhưng em cứ trốn trong buồng, không chịu ra tiếp ai bao giờ …

Chín năm sau, tôi trở lại nhà…Về Nông Cống tìm em. Hôm gặp em ở đầu làng, tôi hỏi em , hỏi rất nhiều, nhưng em không nói gì, chỉ bẽn lẽn lắc hoặc gật đầu. Em giờ đây không còn cô học trò Ninh bướng bỉnh nữa rồi. Em đã gần 17 tuổi, đã là một cô gái xinh đẹp….

Yêu nhau lắm nhưng tôi vẫn lo sợ vì hai gia đình không môn đăng hộ đối một chút nào. Mãi sau này mới biết việc hợp hôn của chúng tôi thành công là do bố mẹ em ngấm ngầm ” soạn kịch bản”.
Một tuần sau đó chúng tôi kết hôn. Tôi bàn việc may áo cưới thì em gạt đi, không đòi may áo cưới trong ngày hợp hôn, bảo rằng là: ” yêu nhau, thương nhau cốt là cái tâm và cái tình bền chặt là hơn cả”. Tôi cao ráo, học giỏi, Làm thơ hay…lại đẹp trai nên em thường gọi đùa là anh chồng độc đáo. Đám cưới được tổ chức ở ấp Thị Long,huyện Nông Công, tỉnh Thanh Hóa của gia đình em, nơi ông Lê Đỗ Kỳ có hàng trăm mẫu ruộng. Đám cưới rất đơn sơ, nhưng khỏi nói, hai chúng tôi hạnh phúc hơn bao giờ hết!

Hai tuần phép của tôi trôi qua thật nhanh, tôi phải tức tốc lên đường hành quân, theo sư đoàn 304, làm chủ bút tờ Chiến Sĩ. Hôm tiễn tôi lên đường, em vẫn đứng ở đầu làng, nơi chín năm trước em đã đứng. Chỉ có giờ em không còn cô bé Ninh nữa mà là người bạn đời yêu quý của tôi. Tôi bước đi, rồi quay đầu nhìn lại…..Nếu như chín năm về trước, nhìn lại chỉ thấy một nỗi buồn man mác thì lần này, tôi thật sự đau buồn. Đôi chân tôi như muốn khuỵu xuống.

Ba tháng sau, tôi nhận được tin dữ: vợ tôi qua đời! Em chết thật thảm thương: Hôm đó là ngày 25 tháng 5 âm lịch năm 1948, em đưa quần áo ra giặt ngoài sông Chuồn (thuộc ấp Thị Long, Nông Cống), vì muốn chụp lại tấm áo bị nước cuốn trôi đi nên trượt chân chết đuối! Con nước lớn đã cuốn em vào lòng nó, cướp đi của tôi người bạn lòng tri kỷ, để lại tôi tôi nỗi đau không gì bù đắp nỗi. Nỗi đau ấy, gần 60 năm qua, vẫn nằm sâu thẳm trong trái tim tôi.

Tôi phải giấu kín nỗi đau trong lòng, không được cho đồng đội biết để tránh ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu của họ. Tôi như một cái xác không hồn….Dường như càng kềm nén thì nỗi đau càng dữ dội hơn. May sao, sau đó có đợt chỉnh huấn, cấp trên bảo ai có tâm sự gì cứ nói ra, nói cho hết. Chỉ chờ có thế, cơn đau trong lòng tôi được bung ra. Khi ấy chúng tôi đang đóng quân ở Nghệ An, tôi ngồi lặng đi ở đầu làng, hai mắt tôi đẫm nước, tôi lấy bút ra ghi chép. Chẳng cần phải suy nghĩ gì, những câu những chữ mộc mạc cứ trào ra:
Nhà nàng có ba người anh đi bộ đội
Những em nàng có em chưa biết nói “Khi tóc nàng đang xanh …” …Tôi về không gặp nàng…

Về viếng mộ nàng, tôi dùng chiếc bình hoa ngày cưới làm bình hương, viết lại bài thơ vào chiếc quạt giấy để lại cho người bạn ở Thanh Hóa… Anh bạn này đã  chép lại và truyền tay nhau trong suốt những năm chiến tranh. Đó là bài thơ Màu Tím Hoa Sim.

Đến đây, chắc bạn biết tôi là Hữu Loan, Nguyễn Hữu Loan, sinh ngày 2-4-1916 hiện tại đang “ở nhà trông vườn” ở làng Nguyên Hoàn – nơi tôi gọi là chổ “quê đẻ của tôi đấy” thuộc xã Mai Lĩnh, huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hóa.

Em Ninh rất ưa mặc áo màu tím hoa sim. Lạ thay nơi em bị nước cuốn trôi dưới chân núi Nưa cũng thường nở đầy những bông hoa sim tím. Cho nên tôi viết mới nổi những câu : 
Chiều hành quân, qua những đồi sim
Những đồi sim, những đồi hoa sim
Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết
Màu tím hoa sim, tím cả chiều hoang biền biệt
Và chiều hoang tím có chiều hoang biết
Chiều hoang tim tím thêm màu da diết.

Mất nàng, mất tất cả, tôi chán đời, chán kháng chiến, bỏ đồng đội, từ giã văn đàn về quê làm ruộng, một phần cũng vì tính tôi” hay cãi, thích chống đối, không thể làm gì trái với suy nghĩ của tôi”. Bọn họ chê tôi ủy mị, hoạch hoẹ đủ điều, không chấp nhận đơn từ bỏ kháng chiến của tôi. Mặc kệ! Tôi thương tôi, tôi nhớ hoa sim của tôi quá!  Với lại tôi cũng chán ngấy bọn họ quá rồi!

Đến vụ Nhân văn Giai phẩm

Đó là thời năm 1955 – 1956, khi phong trào văn nghệ sĩ bùng lên với sự xuất hiện của nhóm Nhân Văn Giai Phẩm chống chính sách độc tài, đồng thời chống những kẻ bồi bút đan tâm lừa thầy phản bạn, dốc tâm ca ngợi cái này cái nọ để kiếm chút cơm thừa canh cạn. Làm thơ thì phải có cái tâm thật thiêng liêng thì thơ mới hay. Thơ hay thì sống mãi. Làm thơ mà không có tình, có tâm thì chả ra gì! Làm thơ lúc bấy giờ là phải ca tụng, trong khi đó tôi lại đề cao tình yêu, tôi khóc người vợ tử tế của mình, người bạn đời hiếm có của mình. Lúc đó tôi khóc như vậy họ cho là khóc cái tình cảm riêng….Y như trong thơ nói ấy, tôi lấy vợ rồi ra mặt trận, mới lấy nhau chưa được hơn một tháng, ở nhà vợ tôi đi giặt rồi chết đuối ở sông … Tôi thấy đau xót, tôi làm bài thơ ấy tôi khóc, vậy mà họ cho tôi là phản động. Tôi phản động ở chổ nào? Cái đau khổ của con người, tại sao lại không được khóc?

Bọn họ xúc phạm đến tình cảm thiêng liêng của tôi đối với người vợ mà tôi hằng yêu quý, cho nên vào năm 1956, tôi bỏ đảng, bỏ cơ quan, về nhà để đi cày. Họ không cho bỏ, bắt tôi phải làm đơn xin. Tôi không xin, tôi muốn bỏ là bỏ, không ai bắt được! Tôi bỏ tôi về, tôi phải đi cày đi bừa, đi đốn củi, đi xe đá để bán. Bọn họ bắt giữ xe tôi, đến nỗi tôi phải đi xe cút kít, loại xe đóng bằng gỗ, có một bánh xe cũng bằng gỗ ở phía trước, có hai cái càng ở phía sau để đủn hay kéo. Xe cút kít họ cũng không cho, tôi phải gánh bộ. Gánh bằng vai tôi, tôi cũng cứ gánh, không bao giờ tôi bị khuất phục. Họ theo dõi, ngăn cản, đi đến đâu cũng có công an theo dõi, cho người hại tôi…

Nhưng lúc nào cũng có người cứu tôi! Có một cái lạ là thơ của tôi đã có lần cứu sống tôi! Lần đó tên công an mật nói thật với tôi là nó được giao lệnh giết tôi, nhưng nó sinh ở Yên Mô, thường đem bài Yên Mô của tôi nói về tỉnh Yên Bình quê nó ra đọc cho đỡ nhớ, vì vậy nó không nỡ giết tôi.
Ngoài Yên Mô, tôi cũng có một vài bài thơ khác được mến chuộng.  Sau năm 1956 , khi tôi về rồi thấy cán bộ khổ quá, tôi đã làm bài Chiếc Chiếu, kể chuyện cán bộ khổ đến độ không có chiếc chiếu để nằm!

Phần 2: Định mệnh đưa đẩy, dắt tôi đến với một phụ nữ khác, sống cùng tôi cho đến tận bây giờ…

Vợ nhà thơ Hữu Loan – Bà Phạm Thị Nhu

Định mệnh đưa đẩy, dắt tôi đến với một phụ nữ khác, sống cùng tôi cho đến tận bây giờ. Cô tên Phạm Thị Nhu, cũng là phụ nữ có tâm hồn sâu sắc. Cô vốn là một nạn nhân của chiến dịch cải cách ruộng đất, đấu tố địa chủ năm 1954, 1955.

Lúc đó tôi còn là chính trị viên của tiểu đoàn. Tôi thấy tận mắt những chuyện đấu tố. Là người có học , lại có tâm hồn nghệ sĩ nên tôi cảm thấy chán nản quá, không còn hăng hái nữa. Thú thật, lúc đó tôi thất vọng vô cùng. Trong một xã thuộc huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa, cách xa nơi tôi ở 15 cây số, có một gia đình địa chủ rất giàu, nắm trong gần năm trăm mẫu tư điền.

Trước đây, ông địa chủ đó giàu lòng nhân đạo và rất yêu nước. Ông thấy bộ đội sư đoàn 304 của tôi thiếu ăn nên ông thường cho tá điền gánh gạo đến chổ đóng quân để ủng hộ. Tôi là trưởng phòng tuyên huấn và chính trị viên của tiểu đoàn nên phải thay mặt anh em ra cám ơn tấm lòng tốt của ông, đồng thời đề nghị lên sư đoàn trưởng trao tặng bằng khen ngợi để vinh danh ông .

Thế rồi, một hôm, tôi nghe tin gia đình ông đã bị đấu tố. Hai vợ chồng ông bị đội Phóng tay phát động quần chúng đem ra cho dân xỉ vả, rồi chôn xuống đất, chỉ để hở hai cái đầu lên. Xong họ cho trâu kéo bừa đi qua đi lại hai cái đầu đó cho đến chết. Gia đình ông bà địa chủ bị xử tử hết, chỉ có một cô con gái 17 tuổi được tha chết nhưng bị đội Phóng tay phát động đuổi ra khỏi nhà với vài bộ quần áo cũ rách. Tàn nhẫn hơn nữa, chúng còn ra lệnh cấm không cho ai được liên hệ, nuôi nấng hoặc thuê cô ta làm công.  Thời đó, cán bộ cấm đoán dân chúng cả việc lấy con cái địa chủ làm vợ làm chồng.

Biết chuyện thảm thương của gia đình ông bà địa chủ tôi hằng nhớ ơn, tôi trở về xã đó xem cô con gái họ sinh sống ra sao vì trước kia tôi cũng biết mặt cô ta. Tôi vẫn chưa thể nào quên được hình ảnh của một cô bé cứ buổi chiều lại lén lút đứng núp bên ngoài cửa sổ nghe tôi giảng Kiều ở trường Mai Anh Tuấn.
 
Lúc gần tới xã, tôi gặp cô ta áo quần rách rưới, mặt mày lem luốc. Cô đang lom khom nhặt những củ khoai mà dân bỏ sót, nhét vào túi áo, chùi vội một củ rồi đưa lên miệng gặm, ăn khoai sống cho đỡ đói. Quá xúc động, nước mắt muốn ứa ra, tôi đến gần và hỏi thăm và được cô kể lại rành rọt hôm bị đấu tố cha mẹ cô bị chết ra sao. Cô khóc rưng rức và nói rằng gặp ai cũng bị xua đuổi; hằng ngày cô đi mót khoai ăn đỡ đói lòng, tối về ngủ trong chiếc miếu hoang, cô rất lo lắng, sợ bị làm bậy và không biết ngày mai còn sống hay bị chết đói.

Tôi suy nghĩ rất nhiều, bèn quyết định đem cô về làng tôi, và bất chấp lệnh cấm, lấy cô làm vợ. Sự quyết định của tôi không lầm. Quê tôi nghèo, lúc đó tôi còn ở trong bộ đội nên không có tiền, nhưng cô chịu thương chịu khó , bữa đói bữa no….Cho đến bây giờ cô đã cho tôi 10 người con – 6 trai , 4 gái – và cháu nội ngoại hơn 30 đứa!

Trong mấy chục năm dài, tôi về quê an phận thủ thường, chẳng màng đến thế sự, ngày ngày đào đá núi đem đi bán, túi dắt theo vài cuốn sách cũ tiếng Pháp, tiếng Việt đọc cho giải sầu, lâu lâu nổi hứng thì làm thơ, thế mà chúng vẫn trù dập, không chịu để tôi yên. Tới hồi mới mở cửa, tôi được ve vãn, mời gia nhập Hội Nhà Văn, tôi chẳng thèm gia nhập làm gì.

Năm 1988, tôi ” tái xuất giang hồ” sau 30 năm tự chôn và bị chôn mình ở chốn quê nghèo đèo heo hút gió. Tôi lang bạt gần một năm trời theo chuyến đi xuyên Việt do hội văn nghệ Lâm Đồng và tạp chí Langbian tổ chức để đòi tự do sáng tác, tự do báo chí – xuất bản và đổi mới thực sự.
 
Vào tuổi gần đất xa trời, cuối năm 2004, công ty Viek VTB đột nhiên đề nghị mua bản quyển bài Màu Tím Hoa Sim của tôi với giá 100 triệu đồng. Họ bảo đó là một hình thức bảo tồn tài sản văn hóa. Thì cũng được đi. Khoản tiền 100 triệu trừ thuế đi còn 90 triệu, chia “lộc” cho 10 đứa con hết 60 triệu đồng, tôi giữ lại 30 triệu đồng, phòng đau ốm lúc tuổi già, sau khi trích một ít để in tập thơ khoảng 40 bài mang tên Thơ Hữu Loan.
 
Sau vụ này cũng có một số công ty khác xin ký hợp đồng mua mấy bài thơ khác , nhưng tôi từ chối, thơ tôi làm ra không phải để bán.

© Hữu Loan

Những bộ phim ý nghĩa

1. Life is beautiful

Thông tin phim : http://www.imdb.com/title/tt0118799/

Phim kể về “quá trình hình thành và phát triển” của 1 gia đình, kể từ khi 2 vợ chồng quen nhau và cưới được nhau, đến khi có con, rồi trọng tâm là lúc gia đình bị bắt về trại tập trung Do Thái của phát xít Đức. Và người cha đã làm mọi cách, kể cả hy sinh mạng sống của mình để không những giữ được tính mạng cho con trai mình, mà còn giữ cho tâm hồn của cậu bé được trong vắt, không bị vởn đục bởi tội ác phát xít, bởi chiến tranh. Và cách của người cha là gì, anh ta đã nói với đứa con rằng bị bắt vô đây chỉ là 1 trò chơi, mỗi ngày sẽ có tính điểm, và phần thưởng sẽ là 1 chiếc xe tăng. Xem phim mới thấy cuộc sống vẫn luôn tươi đẹp ngay cả khi nó khắc nghiệt đến cùng cực, vấn đề là ở thái độ của mình với nó. Diễn viên đóng vai người cha cực kỳ hay. Phim này đã giành 3 giải Oscar vào năm 1999, trong đó có giải phim nước ngoài hay nhất và nam diễn viên chính xuất sắc nhất.

2. The Shawshank Redemption

Thông tin phim : http://www.imdb.com/title/tt0111161/

Andy, một nhân viên ngân hàng tài năng, bị kết tội giết vợ và tình nhân của cô, và bị kết án tù chung thân tại nhà tù Shawshank khét tiếng. Cuộc sống ở nhà tù cay nghiệt và khốn khổ, tuy nhiên, niềm tin, hy vọng, và sự bình thản, mạnh mẽ trước mọi khó khăn của Andy đã mang đến một sinh khí mới cho các tù nhân. Andy kết thân với Red – 1 “kỳ cựu” ở nhà tù này.  Tình bạn của hai tù nhân mang lại những câu chuyện bất ngờ, thú vị và vô cùng cảm động về tình người, về niềm tin và sự vươn lên. Phim tuy không được giải Oscar do chiến dịch quảng bá yếu ớt, và không được công chúng đón nhận lúc ra mắt (vì đã bị “Forrest Gump” cùng thời điểm làm lu mờ), nhưng sau đó, phim đã lấy lại được sự yêu mến của giới phê bình và khán giả, là một trong những DVD được mua và thuê nhiều nhất và luôn đứng đầu trong danh sách phim hay trên trang web uy tín IMDB

3. Love Actually

Thông tin phim : http://www.imdb.com/title/tt0314331/

Một bộ phim giản dị, như câu slogan giản dị của nó vậy : “Love is actually around us”. Lấy bối cảnh Mùa Giáng sinh, Mùa yêu thương, phim xoay quanh câu chuyện của nhiều nhân vật, xoay quanh TÌNH YÊU. Tình yêu ở đây không chỉ là tình yêu nam nữ, mà còn là tình gia đình, tình bạn bè, tình người…Tình yêu trong phim không phải lúc nào cũng trọn vẹn, nó cũng có những nước mắt, những hy sinh, những đau đớn…LOVE ACTUALLY mang lại những nụ cười hài hước, những nhói đau khe khẽ, những giọt nước mắt chia sẻ,  hay nước mắt hạnh phúc. Hãy xem cùng gia đình, cùng bạn bè, cùng người yêu, hay đơn giản là cho một buổi tối một mình, để suy nghĩ về TÌNH YÊU và nhận thấy rằng nó thực sự ở quanh ta đấy bạn ạ.

4. My sister’s keeper

Thông tin phim : http://www.imdb.com/title/tt1078588/

Bạn nghĩ gì khi một cô con gái đi kiện cha mẹ của mình vì đã “xâm phạm” cơ thể của cô bé khi không được sự cho phép. Đừng vội nghĩ xấu nhé. Vì cô con gái đó được sinh ra một cách cố ý, để cứu sống người chị bị ung thư máu của mình. Từ nhỏ, cô bé đã phải chịu đau, chịu mổ, chịu rút tủy để chữa trị cho chị mình, và đang đứng trước tương lại không thể chơi thể thao mạnh, không sinh hoạt bình thường vì cần thay thận cho chị. Phim bắt đầu như thế. Xoay quanh sự kiện ấy, ta được du hành từ quá khứ đến hiện tại của gia đình nhỏ bé ấy, từ lúc cô con gái đầu bị chứng bệnh ác nghiệt kia. Và qua những tâm sự, những suy nghĩ của các thành viên trong gia đình, những hồi ức, kỷ niệm, những biến cố, ta càng hiểu hơn về tình cảm khắng khít họ dành cho nhau, và phải bật khóc vì cảm động, vì đau xót, tiếc nuối…Tuy rằng hoàn cảnh khắc nghiệt, nhưng ta vẫn cảm nhận được khát vọng, tình yêu, và niềm lạc quan trong gia đình nhỏ ấy. Phim được làm từ cuốn tiểu thuyết ăn khách cùng tên của nhà văn Jodi Picoult

5. The Holiday

Thông tin phim :

Một bộ phim nhẹ nhàng, nhưng không kém phần ý nghĩa. Phim nói về hai cô gái – một ở Mỹ, một ở Anh – đang gặp “trục trặc” trong tình yêu,họ  gặp nhau trên Internet qua trang web đổi nhà, và quyết định đổi nhà cho nhau một thời gian. Chính trong chuyến đi này, hai người đã tìm lại được niềm vui, niềm tin yêu trong cuộc sống và  tìm được một nửa đích thực của đời mình.

6. Forrest Gump và The Curious Case of Benjamin Button

Thông tin phim : http://www.imdb.com/title/tt0109830/

Thông tin phim : http://www.imdb.com/title/tt0421715/

Tại sao tôi lại đưa hai phim này vào cùng một mục, đó là vì những điểm tương đồng giữa chúng. Nhân vật chính của phim đều là những người “không bình thường”. Nếu như Forrest Gump là một người bị thiểu năng, thì Benjamin Button lại là một dị nhân – sinh ra trong một thân thể của ông già, và khi số tuổi càng tăng, thì thân thể của Benjamin lại ngày càng trẻ lại. Hai người đều lạc loài trong xã hội, nhưng họ không vì thế mà buồn phiền, mà họ luôn vươn lên, tìm cách sống sao cho ý nghĩa và trọn vẹn nhất đời mình. Benjamin Button còn cho ta bài học về thời gian – thời gian không bao giờ đủ, chính vì thế ta cần quý trọng từng giây từng phút của cuộc sống này.

Thế giới điện ảnh rất bao la và còn rất nhiều bộ phim ý nghĩa chờ bạn khám phá.

Còn bạn, bộ phim nào để lại ấn tượng sâu sắc đối với bạn và “nhắc nhở” mình cần “Tư duy tích cực mỗi ngày” ?

Trần Thị Thu Hiền

Đường hầm

Zenkai, con trai của một người hiệp sĩ đạo, đến Edo và được nhận vào làm hầu cận cho một quan chức lớn. Zenkai yêu vợ viên quan này và bị khám phá. Để tự bảo vệ, Zenkai giết viên quan. Rồi bỏ trốn cùng với vợ ông ta.

Cả hai sau đó trở thành ăn trộm. Nhưng người đàn bà quá tham lam đến nỗi Zenkai dần dần ghê tởm bà ta. Cuối cùng, Zenkai rời bà ta và đi thật xa, đến thành phố Buzen, nơi Zenkai trở thành một vị sư khất thực.

Để chuộc lại tội lỗi quá khứ, Zenkai quyết định làm một việc thiện nào đó trong đời. Biết có một con đường nguy hiểm băng qua đỉnh núi làm nhiều người chết và mang thương tật, Zenkai quyết định đào một đường hầm xuyên núi tại đó.

Ban ngày khất thực, ban đêm Zenkai đào đường hầm. Sau 30 năm, đường hầm dài 2280 feet (695 m), cao 20 feet (6,1m), và rộng 30 feet (9,15m).

Hai năm trước ngày hoàn thành, người con trai của vị quan Zenkai đã giết, nay là một kiếm sĩ tài giỏi, tìm ra được Zenkai và đến để giết thiền sư trả thù cha.

“Tôi sẽ tình nguyện trao mạng cho cậu,” Zenkai nói. “Chỉ để tôi làm xong việc này đã. Ngày nào xong, cậu có thể giết tôi.”

Vậy cậu con đợi ngày đó đến. Vài tháng trôi qua và Zendai vẫn tiếp tục đào. Cậu con chán ngồi không chẳng làm gì và bắt đầu phụ Zenkai đào. Khi đã giúp Zenkai được một năm, cậu con bắt đầu ngưỡng mộ ý‎ chí và tính cách của Zendai.

Cuối cùng đường hầm hoàn thành và mọi người có thể dùng nó và đi lại an toàn.

“Bây giờ chặt đầu tôi đi,” Zendai nói. “Việc của tôi đã xong.”

“Làm sao tôi chặt đầu của thầy của tôi được?” cậu trai trẻ hỏi với đôi mắt đẫm lệ.
.

Bình:

• Đồ tể buông đao thành Phật.

Nếu bạn chưa cướp vợ giết chồng, thì bạn vẫn còn nhiều hy vọng. Hãy vững tin vào Phật tánh tiềm tàng trong mình.

Nếu bạn đã “xóa sổ” một người vì xấu xa tội lỗi gì đó, hãy nghĩ đến Phật tánh tiềm tàng trong người đó. Nếu bạn nghĩ là người đó không có Phật tánh, thì bạn cũng không có Phật tánh.

• Tâm Phật tự nhiên chuyển hóa tâm sân.

• Trong khi đào đường hầm để giúp người đi từ bên này núi qua bên kia núi, Zenkai cũng giúp độ chàng kiếm sĩ trẻ đi từ bên này bờ đến bên kia bờ của giòng sông sân hận đau khổ

(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.

The Tunnel

Zenkai, the son of a samurai, journeyed to Edo and there became the retainer of a high official. He fell in love with the official’s wife and was discovered. In self-defence, he slew the official. Then he ran away with the wife.

Both of them later became thieves. But the woman was so greedy that Zenkai grew disgusted. Finally, leaving her, he journeyed far away to the province of Buzen, where he became a wandering mendicant.

To atone for his past, Zenkai resolved to accomplish some good deed in his lifetime. Knowing of a dangerous road over a cliff that had caused death and injury to many persons, he resolved to cut a tunnel through the mountain there.

Begging food in the daytime, Zenkai worked at night digging his tunnel. When thirty years had gone by, the tunnel was 2,280 feet long, 20 feet high, and 30 feet wide.

Two years before the work was completed, the son of the official he had slain, who was a skillful swordsman, found Zenkai out and came to kill him in revenge.

“I will gived you my life willingly,” said Zenkai. “Only let me finish this work. On the day it is completed, then you may kill me.”

So the son awaited the day. Several months passed and Zenkai kept digging. The son grew tired of doing nothing and began to help with the digging. After he had helped for more than a year, he came to admire Zenkai’s strong will and character.

At last the tunnel was completed and the people could use it and travel safely.

“Now cut off my head,” said Zenkai. “My work is done.”

“How can I cut off my own teacher’s head?” asked the younger man with tears in his eyes.

# 60

I Like the Flowers

Chào các bạn,

Buổi sáng nghe một bản nhạc vui vui dễ thương để bắt đầu một ngày. 🙂

“I love the Mountains” (Tôi Yêu Núi Rừng) là một bản dân ca Mỹ rất giản dị và dễ thương.

Tôi yêu núi rừng
Tôi yêu những dãy đồi cuồn cuộn
Tôi yêu hoa
Tôi yêu thủy tiên
Tôi yêu ngồi bên lửa
Khi trời sẫm tối

Gần đây công ty nhạc trẻ em Beat Boppers Children’s Music phát hành bản nhạc này dưới tên I Like the Flowers (Tôi Thích Hoa), đổi chữ Love thành Like, và đảo ngược hai câu hát từ dưới lên trên, để mở đầu bằng I like the flowers thay vì I love the mountains.

Thế là bản nhạc dân ca người lớn, trở thành thịnh hành cho trẻ em!

Dưới dây là lời ca cho trẻ em, sau đó là lời dân ca nguyên thủy, và video rất vui và dễ thương cho trẻ em và những người lớn với quả tim con nít 🙂 Mời các bạn thưởng thức.

Chúc mọi người một ngày tươi trẻ ! 🙂

Hoành
.

I Like the Flowers

I like the flowers
I like the daffodils
I like the mountains
I like the rolling hills
I like the fireside
When the lights are low
Boom de-ah-da
Boom de-ah-da
Boom de-ah-da
Boom de-ah-da

Lời dân ca nguyên thủy “I Love The Mountains”

I love the mountains I love the rolling hills, I love the fountains, I love the daffodils, I love the fireside, When all the lights are low. Boom-dee-a-da, Boom-dee-a-da, Boom-dee-a-da, Boom-dee-a-da, Boom-dee-a-da, Boom-dee-a-da, Boom-dee-a-da, Boom-dee-a-da.

I love the Rockies I love the lakes and plains, I love the desert, I love the falling rains, I love the redwood firs, The golden eagle and all the birds. Boom-dee-a-da, Boom-dee-a-da, Boom-dee-a-da, Boom-dee-a-da, Boom-dee-a-da, Boom-dee-a-da, Boom-dee-a-da, Boom-dee-a-da.

I love Mt. Rushmore, I love Niagra Falls, I love the Grand Canyon, I love when thunder calls, I love the starry night, When Lady Liberty Shines her light. Boom-dee-a-da, Boom-dee-a-da, Boom-dee-a-da, Boom-dee-a-da, Boom-dee-a-da, Boom-dee-a-da, Boom-dee-a-da, Boom-dee-a-da. Boom.

I Like the Flowers – by Beat Boppers Children’s Music

Cồng chiêng Tây Nguyên sẽ ra sao?

Chào các bạn,

Cồng Chiêng và một nét văn hóa thiêng liêng của Tây Nguyên và là di sản văn hóa nhân loại như UNESCO công nhận.  Văn hóa Tây Nguyên thường được viết và đọc như là vấn đề riêng của các bộ tộc Tây Nguyên.  Nhưng, Tây Nguyên là Việt Nam và văn hóa Tây Nguyên là văn hóa Việt Nam.  Chúng ta cần cùng quan tâm với anh chị em Tây Nguyên.

Bài tường trình về buổi thảo luận sau đây có nhắc đến chị Linh Nga của chúng ta trong đó–một tiếng nói chính cho Tây Nguyên.  (Cám ơn, chị Linh Nga)

Sau đó là một câu chuyện cảm động mình tình cờ đọc được trên Nhân Dân về  tình cảm cả  đời cho đến lúc chết của  Già E Mướt ở  Chư M’gar (Đắc Lắc) đối với cồng chiêng.

Mến,

Hoành

.


Sau festival này, cồng chiêng sẽ ra sao?

(VietNamNet)-Nhà nước chi nhiều tiền để bảo tồn cồng chiêng, nhưng đã có ai hỏi ý kiến bà con xem họ nghĩ thế nào chưa?

Mô tả ảnh.
Chiêng trong lễ bỏ mả ở làng Phung (xã Ia Mơ Nông, huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai)

Truyền dạy cồng chiêng để làm gì?

Cũng đồng thuận với việc phải bảo vệ các nghệ nhân, nhưng TS Lê Thị Minh Lý, Cục phó Cục Di sản văn hóa lại nhắc hội thảo nhớ đến một đối tượng trung tâm rộng lớn hơn nhiều là cộng đồng chủ thể của di sản, bởi chính họ mới quyết định họ muốn giữ cái gì và giữ như thế nào? Các nhà khoa học hay nhà quản lý đều không thể áp đặt họ nếu họ không muốn. Theo TS Lý, xu thế đi ngược lại quá khứ, cố tìm ra “nguyên gốc” của di sản rồi mới bảo vệ là sai lệch với tinh thần của công ước UNESCO về bảo vệ di sản phi vật thể. Việc tập huấn vì thế phải là tập huấn để cộng đồng nhận thức rõ về di sản của họ, cũng như việc kiểm kê di sản phải có sự tham gia của chính cộng đồng, để thông qua quá trình kiểm kê ấy, mỗi cộng đồng sẽ quyết định họ sẽ giữ không gian văn hóa cồng chiêng ra sao?

Ý kiến của TS Lê Thị Minh Lý được nhà nghiên cứu Linh Nga Niê Kdam bổ sung bằng một câu chuyện thực. Việc truyền dạy cồng chiêng diễn ra tại rất nhiều làng ở Tây Nguyên, già làng muốn truyền dạy, lớp trẻ cũng muốn học, nhưng học xong thì để làm gì? Không lẽ chỉ để khi nào có khách, có hội diễn mới đánh? Không còn môi trường cho cồng chiêng thì tôn vinh nghệ nhân hay truyền dạy cũng không khiến cồng chiêng sống được.

Không vì hại cồng chiêng mà không làm du lịch!

Nhiều đại biểu lên tiếng phản đối mạnh mẽ việc đưa nghệ thuật cồng chiêng phục vụ du lịch, nhất là việc đưa các lễ hội có tính thiêng như lễ bỏ mả, lễ đâm trâu… ra sân khấu. Chưa kể, việc trình diễn sẽ “làm hư” lớp trẻ, khi họ chỉ học vài bài để trình diễn, chứ không đi sâu tìm hiểu bảo tồn, phát huy vốn cổ. “Đừng biến cồng chiêng thành đơn điệu, vô hồn, sân khấu hóa” là lời kêu gọi của nhiều đại biểu trong hội thảo.

Không đồng tình với quan điểm trên, TS Nguyễn Văn Lưu (Bộ VH-TT-DL) lại cho rằng du lịch sẽ dẫn dắt con người đến với di sản, tạo ra việc làm, nguồn lực tài chính, góp phần nâng cao ý thức trách nhiệm của chính quyền, cộng đồng để bảo tồn phát huy văn hóa. “Không thể vì những tác hại của du lịch có thể tác động đến di sản (như suy giảm giá trị truyền thống, ô nhiễm môi trường văn hóa…) mà không làm du lịch. Chính quyền và cộng đồng chủ nhân di sản sẽ phải điều chỉnh để phát triển du lịch theo hướng bền vững“, TS Lưu kết luận.

Mặc quần jean, áo phông thì làm sao chơi cồng chiêng?

Chủ đề được thảo luận sôi nổi nhất của hội thảo là việc phải ứng xử ra sao với sự biến đổi không thể ngừng lại của không gian văn hóa cồng chiêng. TS Nguyễn Hữu Thông, phân viện Viện Nghiên cứu VHNT Huế cho rằng phải chấp nhận sự thật khách quan, rằng cồng chiêng đã mất đi giá trị vật chất, tinh thần. Khi xưa cồng chiêng là gia sản của dòng họ, là uy tín của làng bản, còn bây giờ những giá trị đó đã được thay thế bằng nhà cửa, xe máy, tủ lạnh… Giá trị nghệ thuật của cồng chiêng chỉ thật sự cao khi gắn với đời sống tâm linh, khi tạo ra sự thông thiên trời đất với con người. “Mất đi tính thiêng ấy thì riêng âm nhạc cồng chiêng lại không phải là đỉnh cao gì ghê gớm. Cồng chiêng thiếu không gian thiêng sẽ như cá bị tách khỏi nước, chỉ còn là cá ươn, cá khô, cá chết”, TS Thông mạnh mẽ.

Ông Nguyễn Đức Tuấn (Văn phòng Bộ VH-TT&DL tại Đà Nẵng) thẳng thắn thừa nhận, với những cộng đồng không còn không gian, việc tổ chức lễ hội sẽ không có tác dụng. Mặc quần jean, áo phông thì làm sao chơi cồng chiêng? Đường đi qua địa phương nào thì thanh niên ở đó không còn tha thiết với trang phục dân tộc, âm nhạc dân tộc nữa. “Ta có xây nhà rông văn hóa cho bà con thì họ cũng không chăm chút. Họ xem đó như nhà sinh hoạt của nhà nước thôi“, đó là ông Tuấn còn chưa nói thẳng việc nhà rông “văn hóa” lợp mái tôn khác xa với nhà rông của bà con. Có đại biểu còn thẳng thắn nêu câu hỏi: “Sau festival này, cồng chiêng sẽ ra sao? Không lẽ festival chỉ là dịp gặp gỡ để vui vẻ?”.

Nhà nước không vào cuộc thì các nhà khoa học chỉ bàn cho vui thôi!

Giải pháp mà nhiều đại biểu đưa ra là ngoài việc làm chậm lại sự thay đổi của không gian văn hóa truyền thống với rừng, làng, giọt nước…, phải tạo ra không gian mới cho nghệ thuật cồng chiêng. Bà Linh Nga một lần nữa nhấn mạnh việc phải có những người nghiên cứu bản địa am hiểu văn hóa, hướng dẫn bà con để các cộng đồng tự ý thức về di sản rồi tự mình khôi phục những gì bà con muốn, hoặc giúp bà con tạo ra môi trường mới. “Nhà nước chi nhiều tiền để bảo tồn không gian văn hóa cồng chiêng, nhưng đã có ai hỏi ý kiến bà con xem họ nghĩ thế nào chưa? Ta kiểm kê cồng chiêng, nhưng có kiểm kê nhà rông, nhà dài, kiểm kê nghệ nhân, kiểm kê làng nghề không?”, TS Nga chất vấn.

Các nhà nghiên cứu đến từ Nhật Bản, Hà Lan, Canada đều khẳng định không thể đề cập đến tính nguyên bản của di sản trong việc bảo tồn, phải chấp nhận sự thay đổi với môi trường và chỉ có cộng đồng chủ thể của di sản khi nhận thức đầy đủ mới quyết định được họ sẽ muốn cồng chiêng thay đổi thế nào.

Nhiều nhà nghiên cứu của ta thực tế hơn lại băn khoăn nhiều đến vấn đề kinh phí, “nếu cộng đồng không đủ ăn, không biết chữ thì khó hy vọng họ bảo tồn và phát huy cồng chiêng” như lời TS Trương Bi.

Ông Phạm Sanh Châu, Tổng thư ký Ủy ban quốc gia UNESCO Việt Nam đưa ra hai kiến nghị rất được chú ý: Hội nghị có thể làm bản kiến nghị gửi UNESCO đề xuất tài trợ cho công tác giáo dục và tuyên truyền (trích từ quỹ di sản phi vật thể). Ngoài ra, nếu ta đã có những mô hình “hứa hẹn” bảo vệ thành công di sản phi vật thể, UNESCO sẽ hỗ trợ khoản tiền lớn hơn. “Năm nay chỉ có 2 nước đề xuất thôi, còn 1.7 triệu Euro của quỹ đang… bỏ không”, ông Châu “bật mí”.

Thật tiếc vì những ý kiến tâm huyết của hội thảo lại không được lãnh đạo cấp cao của tỉnh, của Bộ lắng nghe đến phút cuối. Như GS Tô Ngọc Thanh khẳng định: “Nếu nhà nước không vào cuộc thì các nhà khoa học ngồi đây bàn chỉ cho vui thôi“.

  • Khánh Linh

.

Chư M’ga: tìm lại tiếng chiêng

NDĐT- Trước cuộc sống có quá nhiều biến chuyển như hiện nay, việc gìn giữ, kế thừa và phát triển các giá trị văn hóa truyền thống của cha ông để lại là điều không phải dễ dàng. Đối xử với những di sản văn hóa phi vật thể ở Tây Nguyên cũng vậy, rất cần những người có tâm huyết uốn nắn, định hướng… để nguồn mạch văn hóa của mỗi cộng đồng, dân tộc mình không mai một và đứt gãy.

Khi bí mật trên dầm nhà hé lộ

Những anh chị làm công tác văn hóa lâu năm ở huyện Chư M’gar (Đác Lắc) kể: Người dân ở buôn Rai (xã Ea Tal) chẳng bao giờ quên “chuyện nhà” ông E Mướt xảy ra hồi cuối tháng 7 vừa rồi.

Chuyện rằng: Già E Mướt tuổi đã hơn tám mươi mùa rẫy. Ông nằm liệt giường cả tháng trời, cơm cháo gì nuốt cũng không trôi, thế mà vẫn không chịu nhắm mắt để về với “thế giới ông bà”. Con cháu trong nhà phải cơ khổ vì ông cứ chết đi, sống lại không biết bao nhiêu lần. Họ phải chạy vạy đủ cách, kể cả việc cầu xin Yàng, khấn vái thần linh để làm sao cho ông ra đi được thanh thản. Thế mà vẫn không được như ý nguyện, đôi mắt ông E Mướt cứ mở trừng trừng nhìn lên dầm nhà như khẩn khoản một điều gì đó cơ mật mà không thể nói ra.

Đã ba ngày trôi qua vẫn thế, hoảng quá anh Y Tiếp, con trai ông bắc thang trèo lên dầm nhà xem thử thì mới phát hiện một bộ chiêng cổ (7 cái) được bọc trong những chiếc bao tải cất cẩn thận. Y Tiếp đem xuống và mở ra từng chiếc chiêng đã lên màu đen trũi. Đôi mắt người sắp chết nhìn theo như ngấn lệ.

Biết đây là điều mong mỏi cuối cùng của ông già trước khi từ giã cõi đời này, mọi người không ai nói với ai lời nào, họ chỉnh tề ngồi vào vị trí của dàn chiêng và bắt đầu diễn tấu. Những âm thanh thiêng liêng ngân lên lúc trầm, lúc bổng trong không gian tưởng chừng như đông đặc lại và vô cùng huyền hoặc. Lúc đó, đôi mắt già Y Mướt mới từ từ khép lại và “yên ngủ” như thể không còn điều gì vướng bận nữa…

Chị H’Hoa (cán bộ Phòng VH-TT huyện Chư M’gar-Đác Lắc) bảo, sau câu chuyện cảm động và có sức lay động sâu xa này, mọi người tìm hiểu ra mới biết cách đây cả chục năm, khi cồng chiêng bị người ta bán đi không thương tiếc vì nhiều lý do: hoặc là đời sống kinh tế khó khăn, lễ hội thưa vắng dần nên không có môi trường để diễn xướng; hoặc là một bộ phận theo đạo Tin Lành nên không cần nó nữa, vì thế cụ E Mướt âm thầm cất giữ bộ chiêng quí truyền đời của mình mà không ai hay biết.

Đến khi bí mật trên được phát hiện mọi người mới hiểu ra một điều: di sản của cha ông cũng có lúc thăng trầm, dâu bể… song, không vì một lý do thường nhật nào đó mà dễ dàng mất đi. Nó được những người như già E Mướt bảo tồn và gìn giữ cho đến hơi thở cuối cùng, dù bất kỳ dưới hình thức nào.

Anh Y Nan, Phó trưởng Phòng VH-TT huyện Chư M’gar nói rằng, đến bây giờ con cháu cụ mới hiểu ra và thấm thía điều đó. Tiếng chiêng cũng như các giá trị văn hóa truyền thống khác ở vùng đất này như được tiếp thêm nguồn xúc cảm mới để ngân vang và thăng hoa thêm.

Câu chuyện đầy xúc động của gia đình già E Mướt được những người làm công tác văn hóa ở đây lấy làm gương cho lớp trẻ trong việc tuyên truyền giáo dục, nâng cao ý thức bảo tồn và gìn giữ vốn văn hóa cha ông. Và thật không ngờ nó có sức lay động đến thế, hầu hết thanh niên nam nữ ở các buôn làng đều hiểu ra ý nghĩa sâu xa ẩn chứa trong câu chuyện, nên tự nguyện tham gia nhiều lớp dạy đánh chiêng được tổ chức thường xuyên trên địa bàn.

Đến nay, Chư M’gar là một trong những huyện dẫn đầu về phong trào bảo tồn, gìn giữ và phát huy vốn văn hóa truyền thống của tỉnh. Hầu hết các buôn làng đều thành lập được những đội chiêng trẻ để cùng với thế hệ cha anh họ, tự tin góp mặt trong những dịp hội hè của cộng đồng dân tộc mình tổ chức như một sự tiếp nối tiềm tàng và đáng trân trọng.

Ai sẽ lưu giữ ký ức?

H’Hoa tâm sự, đời sống kinh tế của bà con đã khá hơn trước rất nhiều. Vì thế qua nhiều lễ hội truyền thống được phục dựng, số thành viên trong từng cộng đồng cũng tham gia ngày càng nhiều, càng thân thiết với nhau hơn. Bên cạnh cồng chiêng cùng nhiều nhạc cụ khác được mọi người chăm chút, hồi sinh… thì những làn điệu dân ca, dân vũ – vốn đã trở thành ký ức của người già cũng đang được thế hệ trẻ có tâm huyết sưu tầm, biên soạn và phổ biến trở lại.

Chẳng hạn như điệu múa cổ T’Lang Grư (chim Grư bay lên), Khớt H’gơr (hát múa trong nghi lễ bọc trống)… đã được H’Hoa và các chị H’Duôn, H’Nhé, H’Yang ở xã Ea Tul lĩnh hội từ những người già, hoặc lục lọi lại trong ký ức thời thơ bé để truyền dạy lại cho nhiều thiếu nữ ở các buôn làng. Chính những thiếu nữ này là “hạt nhân” ươm mầm và nhân rộng ra cho bạn bè cùng trang lứa.

Cô bé H’Lina vui lắm khi được các cô, bà mình truyền dạy cho những điệu múa tưởng chừng đã thất truyền. Cô bé thành thật : “Vòng xoang bình thường trong các dịp lễ hội thì ai cũng biết và múa được. Nhưng điệu múa cổ như T’Lang Grư, hay Khớt H’gơr… thì gần đây em mới biết nhờ theo học những lớp dân ca, dân vũ do chị H’Hoa dạy cho. Hóa ra dân tộc mình có điệu múa đẹp và kiêu hãnh đến thế.”.

Những cô gái trẻ trung, xinh đẹp trong tư thế vươn mình và xòe đôi bàn tay mềm mại như cánh chim Grư đang bay lên, chở đầy khát vọng và mơ ước của mình, của cộng đồng trên nền chinh T’Lang Grư nhún nhảy, nhuốm chút mơ màng…thì quả thật không gì có men say hơn thế. Ngược lại, Khớt Hgơr thì thành kính, dịu dàng trong từng bước chân, nét mặt đều hướng về một tâm điểm như để chia sẻ, nhận lấy mối đồng cảm và tri ân với cộng đồng, khiến bất kỳ ai có mặt cũng được yên vui, vỗ về.

Những bước nhảy ấy, họ không chỉ học được từ những bài học của cha ông mình, mà họ còn tích lũy, kế thừa bằng cả niềm đam mê và vốn hiểu biết sâu sắc, cặn kẽ về dòng chảy liền mạch của đời sống văn hóa mỗi cộng đồng từ ngàn xưa cho đến hôm nay.

Nguyễn Đình

Chiến binh của nhân loại

Có lần một sư đoàn quân đội Nhật tập trận, và một số sĩ quân thấy cần phải lập bộ chỉ huy trong thiền viện của Gasan.

Gasan Jôseki (1276-1366)

Gasan bảo đầu bếp: “Cho các sĩ quan các món đơn giản như chúng ta ăn.”

Các sĩ quan tức giận, bởi vì họ quen được ưu đãi. Một sĩ quan đến gặp Gasan và nói: “Ông nghĩ chúng tôi là ai? Chúng tôi la chiến binh, hy sinh mạng sống cho tổ quốc. Tại sao ông không đối xử với chúng tôi tương xứng?”

Gasan trả lời cứng rắn: “Anh nghĩ chúng tôi là ai? Chúng tôi là chiến binh của nhân loại, nhắm vào cứu vớt tất cả mọi sinh linh.”
.

Bình:

• Gasan Jôseki (1276-1366) là một thiền sư quan trọng của dòng thiền Tào Động (Soto). Gasan đầu tiên học Thiên Thai Tông, nhưng sau khi gặp thiền sư Tào Động Keizan ở Kyoto, Gasan theo làm đệ tử của Keizan. Tuy nhiên Keizan có gởi Gasan đến học với các thiền sư khác, đặc biệt là thiền sư Lâm Tế Kyôô Unryô, trước khi truyền chức cho Gasan. Về sau Gasan là sư trụ trì thứ hai của chùa Sôjiji, trong 40 năm, và sau đó là sư trụ trì thứ tư của chùa Yôkôji trong một thời gian ngắn. Gasan đóng một vai quan trọng trong việc phát triển dòng thiền Tào Động tại Nhật.

• Thực ra thì các sĩ quan không nên ăn cơm của dân như thế, vì khi đánh trận thật không có ai nấu ăn sẵn cho ăn. Lẽ ra muốn tập trận tốt thì phải làm y như thật, là phải tự lo việc ăn uống.

Thái độ các sĩ quan này cho thấy đây là một nhóm quan binh hống hách chuyên hà hiếp dân. Chính vì vậy mà Gasan, dù lịch sự với họ, vẫn phải giữ thái độ cứng rắn.

• Câu trả lời của Gasan “Chúng tôi là chiến binh của nhân loại, nhắm vào cứu vớt tất cả mọi sinh linh,” chỉ có vị thầy đã đạt đạo mới nói được thế, vì đạt đạo rồi mới thấy được rằng điều mình đã trải nghiệm và liễu ngộ thì quan trọng cho mọi người trên thế giới đến thế nào.

Những người ngớ ngẩn thường nghĩ rằng sư sãi chẳng sản xuất gì cho xã hội và chỉ là gánh nặng cho xã hội vì sống nhờ cúng dường của người khác. Sư sãi chưa nắm được đạo cũng không thể thấy và tin vào vai trò quan trọng của mình cho thế giới. Chỉ có các bậc chân tu mới thấy được điều đó, và mới đủ tự tin để nói nó ra.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.

Soldiers of Humanity

Once a division of the Japanese army was engaged in a sham battle, and some of the officers found it necessary to make their headquarters in Gasan’s temple.

Gasan told his cook: “Let the officers have only the same simple fare we eat.”

This made the army men angry, as they wre used to very deferential treatment. One came to Gasan and said: “Who do you think we are? We are soldiers, sacrificing our lives for our country. Why don’t you treat us accordingly?”

Gasan answered sternly: “Who do you think we are? We are soldiers of humanity, aiming to save all sentient beings.”

# 59

Remember When – Alan Jackson

Có ai đó đã nói với tôi : “SỐNG là để làm được cái gì cho người đương thời và những kẻ hậu sinh để khỏi phụ cái công của bậc tiền bối.”

Trước đây, tôi luôn hỏi mình “SỐNG để làm gì?”, và sau nhiều lần ngồi một mình ở quán trà đá ^^ thả lòng trôi theo những đám mây, ngắm những dòng người vội vã bon chen trên đường, bất chợt tôi hiểu ra. SỐNG là để trải nghiệm, để tận hưởng niềm vui và cả nỗi buồn, để tận hưởng vị ngọt và đắng của cuộc đời. Có lẽ suy nghĩ của tôi thật đơn giản phải không bạn ^^

Sống làm sao để rồi, khi tuổi ta đã già, tóc ta đã bạc. Ta mỉm cười (dù có thể lúc đó không còn chiếc răng nào) nhìn lại những tháng ngày ‘đáng sống’ đã qua. ^^

Nhớ lúc anh còn trẻ
Và em còn trẻ
Thời gian ngừng trôi,
Ta chỉ biết đến tình yêu
Em là người yêu đầu, anh cũng vậy
Chúng ta yêu nhau và rồi em khóc
Nhớ lúc…

Hãy sống hết mình ‘mình nhé !’

Xin gữi đến các bạn bài hát : Remember When của Alan Jackson, biết đâu đấy, sau khi nghe bài hát này bạn lại có cùng suy nghĩ với tôi. ^^

Chúc các bạn một ngày an lành ! 🙂

Phan Thế Danh

Remember when I was young
and so were you
Time stood still,love was all we knew
You were the first, so was I
We made love and then you cried
Remember when

Remember when we vowed the vows
and walked the walk
Gave our hearts, made the start, it was hard
We lived and learned, life threw curves
There was joy, there was hurt
Remember when

Remember when old ones died and new were born
And life was changed, disassembled, rearranged
We came together, fell apart
And broke each other’s hearts
Remember when

Remember when the sound of little feet
was the music
We danced to week to week
Brought back the love, we found trust
Vowed we’d never give it up
Remember when

Remember when thirty seemed so old
Now lookn’ back it’s just a steppin’ stone
To where we are,
Where we’ve been
Said we’d do it all again
Remember when
Remember when we said when we turned gray
When the children grow up and move away
We won’t be sad, we’ll be glad
For all the life we’ve had
And we’ll remember when

Khau Vai

Có những con đường không thể tới thành Rome, nhưng Khau Vai thì tới…

Một người đi tìm một người
Bao nhiêu người đi tìm bao nhiêu người?
Khau Vai buồn như đá
Nước mắt người già mài trên đá
Đâu rồi thời rung reng vàng bạc lắc đồng?

Em kìa, những cây sa mộc lặng lẽ trong thung
Chúng đang nghĩ gì?
Em đang nghĩ gì?

Nếu một mai mình không lấy được nhau
Em có đi tìm anh
Qua điệp trùng đá sắc
Những Khau Vai bầm dập dấu chân người?
Trời ơi Khau Vai
Khau Vai nhìn qua nước mắt
Bao bong bóng về trời
Thương buồn gửi lại…

Những cuộc tình vụng dại
Những cuộc tình khôn ngoan
Đã sống và chết ở nơi này
Không khôn ngoan không vụng dại
Chỉ lặng chìm như đá
Chỉ bời bời như mây

Chúng ta sa mộc chiều nay
Em hai mươi thoắt thành ngàn tuổi
Em có anh xa xót thế này sao?

Quỳ trước núi mà tin thôi em ạ
Ai trong đời chẳng có một Khau Vai
Nhọn sắc đá tai mèo
Cứa vào thương nhớ
Hãy nhìn nhau nhìn nhau trước gió
Em sẽ thấy một Khau Vai trong số phận chúng mình.

Trần Hòa Bình
.

KHAU VAI

Some roads lead not to Rome, yet to Khau Vai …

Someone looks for someone
How many look for how many?
Khau Vai is as sad as stone
The elder’s tears corrode stone
Where is the time of clinking gold and silver and bronze bracelets?

Sweetheart, the quiet cunninghamias in the dell
What are they thinking?
What are you thinking?

If one day we coudn’t marry
Would you look for me
Over the immense sharp cliffs
In the Khau Vais crushed under people’s footsteps?
O Heaven! Khau Vai!
Khau Vai seen through tears
Balloons returning to heaven
Just sorrows left…

Innocent loves
Wise loves
Lived and died here
Neither wise nor innocent
Just quietly submerged as stones
Just chaotically piled up as clouds.

Us two – among the Cunninghamias this afternoon
You twenty turn suddenly into a thousand years old
You have me, why still this tormented?

Just kneel before the mountains and believe, sweetheart!
Who in the world doesn’t have a Khau Vai
Pointed sharp cat-ears rocks
Cutting into grief
Just look at each other, look each other in the wind
You will see a Khau Vai in our destiny.

Quan Jun translated

Lục bát và các dòng thơ lục bát

I. Lục bát

Lục bát, lâu nay ta hay có thói quen xem nó thuần Việt. Nhưng không. Đây là thể thơ gần như của chung của các dân tộc Đông Nam Á. Bởi cơ cấu ngôn ngữ dị biệt nên “lục bát” mỗi nơi phát triển mỗi khác. Ngay từ cuối thế kỉ XVI – đầu thế kỉ XVII được ghi nhận là thời điểm ra đời của sử thi Akayet Dewa Mưno, lục bát Chăm đã rất chuẩn mực. Trước đó nữa, trong panwơc pađit ca dao Chăm, lục bát là thể thơ được độc quyền sử dụng. Chăm gọi nó là thể ariya. Thử xét qua lục bát Việt và Chăm.

1. Lục bát Chăm gieo vần lưng. Chữ thứ sáu dòng lục hiệp với chữ thứ tư dòng bát:

Thei mai mưng deh thei o
Drơh phik kuw lo yaum sa urang
Ai đến từ đằng kia xa
Giống người yêu ta riêng chỉ một người


Hiện tượng này cũng thấy trong ca dao Việt:

Trèo lên cây bưởi hái hoa
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân

2. Ariya gieo cả vần bằng lẫn vần trắc. Ở trường hợp này, người Chăm gieo vần cũng khá linh hoạt, họ không nhất thiết cứ một cặp bằng rồi đến một cặp trắc. Có khi cả đoạn dài tác giả chỉ sử dụng độc vần bằng, nhưng đột hứng chúng ta thấy vần trắc xuất hiện:

Mai baik dei brei pha crong
Tangin dei tapong kauk luk mưnhưk
Bbuk ai tarung yuw harơk
Tangin dei pơk nhjwơh yuw tathi
Về đi em cho đùi gác
Bàn tay em vuốt, đầu xức dầu thơm
Tóc anh bù rối như rơm
Tay em vuốt thì mượt như lược chải

Đây là loại vần dù hiếm nhưng cũng có xuất hiện trong thơ ca dân gian Việt:

Tò vò mà nuôi con nhện
Ngày sau nó lớn nó quện nhau đi

Nhưng không như ở lục bát Việt, vần trắc tồn tại khá bình đẳng với vần bằng trong ariya Chăm. Thậm chí trong một bài thơ dài, nó gần như đứng xen kẽ.

3. Tiếng Chăm là ngôn ngữ đa âm tiết nên khác với lục bát Việt, số lượng tiếng được đếm trong ariya Chăm cũng khác. Có hai trường hợp xảy ra:

– Dạng đếm âm tiết: dòng lục gồm sáu âm tiết và dòng bát tám âm tiết, không lệ thuộc vào lượng chữ trong câu thơ.

– Dạng đếm theo lượng trọng âm của từ: Hiện tượng đọc lướt, nén chữ (compression), hay nuốt âm (elision) là chuyện bình thường gần như là thuộc tính của ngôn ngữ đa âm tiết, nhất là trong sáng tác thơ ca. Tiếng Chăm không là ngoại lệ. Dấu vết của cách đếm này cũng có mặt trong vài bài ca dao Việt xưa:

Mình nói dối ta mình hãy còn son
Ta đi qua ngõ ta thấy con mình bò
Con mình những trấu cùng tro
Ta đi xách nước tắm cho con mình

Nhưng khi lục bát Việt phát triển ổn định, nó dừng lại ở 6-8. Các cách tân sau này không quan tâm đến lượng âm tiết trong câu mà đặt nặng ở vắt dòng và nhất là ngắt nhịp. Thì lục bát Chăm vẫn phát triển theo kiểu trương nở.

4. Về thanh điệu: Cũng như thanh điệu trong lục bát Việt xưa, ariya Chăm phát triển khá linh hoạt. Linh hoạt cả khi thanh điệu của lục bát Việt ổn định ở: Bằng Trắc Bằng / Bằng Trắc Bằng Bằng. Lục bát Việt khi xưa có vần trắc. Và khi bài thơ hơn hai cặp lục bát có lối gieo cả vần bằng lẫn trắc thì chúng mang dáng dấp của thể song thất lục bát.

Tò vò mà nuôi con nhện
Ngày sau nó lớn nó quện nhau đi
Tò vò ngồi khóc tỉ ti
Nhện ơi nhện hỡi mầy đi đàng nào

5. Ngoài các thể lục bát kể trên, người Chăm còn có thể pauh catwai (biến thể từ ariya) mà mỗi cặp lục bát đều đứng biệt lập như một bài thơ hoàn chỉnh với đầy đủ ý nghĩa, được kết nối liên hoàn đến cả mấy trăm câu mà vẫn thống nhất qua giọng điệu, tư tưởng. Hình thức không khác mấy so với Choka (trường ca) của Nhật (Choka là Shika: 5-7 âm được kết nối liên hoàn).

6. Đến nay, các nhà nghiên cứu chưa thể khẳng định thời điểm ra đời của lục bát, càng không biết dân tộc nào khai sinh ra nó nữa. Nhưng điều chắc chắn là có sự ảnh hưởng và tác động qua lại. Từ thập niên 50 của thế kỉ trước, giới làm thơ Chăm có sáng tác theo thể lục bát thuần Việt: ổn định, chỉ gieo vần bằng và hiệp vần ở chữ thứ 6 dòng bát. Dù vậy, cái khung của ngôn ngữ đa âm tiết vẫn chưa hết “gò bó” thể ariya Chăm. Để nó không bao giờ hết là nó, nghĩa là đặc trưng Chăm.

(Phần I này lược tóm từ: “So sánh lục bát Chăm – Việt”, Tạp chí Văn hóa – nghệ thuật, số 9, 2001).

II. Các dòng/ khuynh hướng lục bát Việt

Không kể các tác phẩm cổ điển sáng tác theo thể lục bát như Truyện Kiều, Lục Vân Tiên,… lục bát hiện đại Việt Nam phát triển theo 4 dòng chính.

– Dòng lục bát dân gian, mà lục bát Nguyễn Bính là rất tiêu biểu. Nhịp thơ nhịp nhàng, ngôn ngữ dung dị dễ hiểu, hình ảnh thơ quen thuộc và gần gũi với đời sống thôn quê Việt Nam. Rất gần với ca dao. Sau Nguyễn Bính, đã có nhiều nhà thơ đi theo và phát triển xu hướng lục bát này, Đồng Đức Bốn đậm hơn cả.

– Dòng lục bát trí tuệ. Có thể xem Lửa thiêng của Huy Cận thời Thơ Mới là thành tựu mở đầu. Mới mẻ ở đề tài và ý tưởng, ngôn từ trí tuệ và chắt lọc bên cạnh là độ nén của ý thơ tạo nên thứ thi pháp rất hiện đại.

– Dòng lục bát huyền ảo. Dòng này nẩy nở và phát triển mạnh ở miền Nam thời sáng tác [và ảnh hưởng] Phật giáo thịnh hành: Huy Tưởng, Tuệ Mai và nhất là Phạm Thiên Thư với Động hoa vàng (1973) và Trại hoa đỉnh đồi (1975). Ngôn ngữ thơ mơ mơ hồ hồ bên cạnh hình ảnh mông lung, ý tưởng thiếu rành mạch, tạo một cảm giác miên man, mong manh, huyền ảo. Bài thơ đôi lúc chuyển nhịp khá bất ngờ.

– Dòng lục bát hậu hiện đại. Mở đầu bằng Bùi Giáng. Sáng tác của ông giai đoạn sau, nhất là các bài thơ mà tỉ lệ từ Hán Việt lấn át. Có khi bài thơ chỉ là một chuỗi liên hệ âm, thanh, vần, phép nói lái trong ngôn ngữ nối tiếp hoặc chồng chéo lên nhau, lồng vào nhau như thể một ma trận chữ vô nghĩa; rồi cả chuỗi hình ảnh, ý nghĩ dẫm đạp lên nhau, xô đẩy, nhảy cóc rối tù mù. Bài “Ngẫu hứng” đã được Nguyễn Hưng Quốc bình rất độc đáo.

Một hôm gầu guốc gầm ghì
Hai hôm gần gũi cũng vì ba hôm
Bôm ha? đạn hả? bao gồm
Bồm gao gạo đỏ bỏ gồm gạo đen
.

Sau Bùi Giáng, ta thấy Nguyễn Duy sáng tác theo xu hướng này, nhưng không đậm bằng. Các bạn trẻ Sài Gòn sau đó đẩy lục bát hậu hiện đại đi xa hơn nữa.

Bên cạnh bốn dòng trên, ta còn thấy sự thể Du Tử Lê đã cố ý cắt nát lục bát bằng các dấu chấm, phẩy, gạch chéo… để tạo nhịp mới, nhịp chỏi cho thể thơ vốn khá mềm mại này – một cố ý thuần kĩ thuật.

Nằm nghe – chăn gối rơi. Cùng
tháng năm bằn bặt.- Phật còn ở không
Tôi nhìn – tôi rất chon von
núi non âm bản. – rừng son vẽ.- Buồn

Hôm nói chuyện ở Lớp Cử nhân tài năng tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP Hồ Chí Minh vào năm 2006, một sinh viên tụng ca lục bát Đồng Đức Bốn, bị tôi hỏi vặn: bạn đã đọc lục bát Bùi Giáng, Phạm Thiên Thư chưa? Câu trả lời là – chưa! Tôi nói: thế thì bạn chưa thể bàn về lục bát được. Đơn giản, nếu là độc giả phổ thông, bạn có thể cảm [cúm, mạo] nhận hay khen chê tùy hứng, nhưng khi bạn đang ngồi giảng đường để trở thành người đọc chuyên nghiệp ở thì tương lai (nhà phê bình, giáo viên dạy văn,…) thì bạn cần đọc hệ thống, nghĩa là phải nhận diện thơ lục bát trong tiến trình của nó. Không thể khác.

Trên đây, tôi chỉ phân loại mang tính gợi ý. Đề tài gợi mở nhiều hướng nghiên cứu rộng và sâu hơn.

Inrasara

Sài Gòn, 8-7-2008.

Bắt ông Phật đá

Một thương gia mang 50 cuộn bông gòn trên vai, ngừng để tránh nắng dưới mái một căn chòi trong đó đứng một tượng Phật lớn bằng đá. Rồi anh ta ngủ thiếp đi, và khi anh tỉnh dậy hàng hóa của anh đã biến mất. Anh lập tức trình báo với cảnh sát.

Một quan tòa tên O-oka mở cuộc điều tra. “Chắc ông Phật đá này ăn trộm,” quan tòa kết luận. “Ông ta lẽ ra là phải lo lắng cho mọi người, nhưng đã không làm tròn nhiệm vụ. Bắt hắn.”

Cảnh sát bắt tượng Phật đá và khiêng tượng về tòa. Một đám đông ồn ào chạy theo tượng, tò mò muốn biết quan tòa sẽ ra hình phạt thế nào.

Khi O-oka ra ngồi ghế xử, ông mắng đám đông ồn áo. “Quí vị có quyền gì mà ra trước tòa cười giỡn thế này? Quí vị khinh thường tòa án và đáng bị phạt vạ và phạt tù.”

Mọi người lật đật xin lỗi. “Tôi sẽ phải phạt tiền quí vị,” quan tòa nói, “nhưng tôi sẽ bỏ qua nếu mỗi người mang đến cho tòa một cuộn bông gòn trong vòng ba ngày. Người nào không làm sẽ bị bắt.”

Một trong những cuộn bông mọi người nộp được người thương gia nhận ra ngay là cuộn bông của anh ta, nhờ đó tìm ra người ăn trộm ngay. Người thương gia tìm lại được hàng hóa, và tòa trả các cuộn bông lại cho mọi người.
.

Bình:

• Tượng Phật đá chỉ là cục đá vô tri, chẳng có quyền năng gì hơn một cục đá. Quan tòa xử tượng đá như thần thánh, chỉ là một phương cách để giúp người.

Tượng Phật trong chùa hay trong nhà ta cũng chỉ là tượng vô tri. Chúng ta cung kính với tượng, thực ra là để chúng ta tự giúp chúng ta. Tượng chẳng làm gì cả.

• Người tốt thì dùng tượng để giúp người. Người xấu cũng có thể giả vào “quyền năng” của tượng để lừa lọc người.

• Chính vì con người thường quên mất Chúa Phật trong tâm mình, mà hay tôn thờ các tượng gỗ tượng đá, nên 1500 trước công nguyên, trong Mười Điều Răn của Cựu Ước, điều răn thứ 2 có câu: “Các ngươi không được làm cho mình một hình tượng nào, dù theo hình dáng của bất kỳ điều gì trên trời hay dưới đất hay dưới đại dương.” Exodus 20:4.

(Ngày nay các chi phái Tin Lành – Protestantism – vẫn còn tuân theo điều răn này, nhưng các chi phái khác của Thiên Chúa Giáo thì đã dẹp bỏ nó cả hơn nghìn năm).

• Một câu chuyện thiền rất phổ biến là truyện Đan Hà thiền sư (739-824) chẻ tượng Phật gỗ:

Một lần khác khi Đan Hà thiền sư ghé lại một thiền viện, vì trời lạnh nên ông lấy pho tượng Phật trên chánh điện xuống đốt để sưởi ấm. Sư trụ trì trách ông bất kính với một pho tượng thiêng liêng, thì ông trả lời rằng ông đốt để lấy xá lợi, vị sư tưởng ông ngờ nghệch, bèn cười mà hỏi vặn lại ông làm sao tìm được xá lợi trong pho tượng gỗ, Đan hà bèn cười to mà rằng: “Thế sao sư lại trách ta đốt gỗ?”

(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.

Arresting the Stone Buddha

A merchant bearing fifty rolls of cotton goods on his shoulders stopped to rest from the heat of the day beneath a shelter where a large stone Buddha was standing. There he fell asleep, and when he awoke his goods had disappeared. He immediately reported the matter to the police.

A judge named O-oka opened court to investigate. “That stone Buddha must have stolen the goods,” concluded the judge. “He is supposed to care for the welfare of the people, but he has failed to perform his holy duty. Arrest him.”

The police arrested the stone Buddha and carried it into the court. A noisy crowd followed the statue, curious to learn what kind of sentence the judge was about to impose.

When O-oka appeared on the bench he rebuked the boisterous audience. “What right have you people to appear before the court laughing and joking in this manner? You are in contempt of court and subject to a fine and imprisonment.”

The people hastened to apologize. “I shall have to impose a fine on you,” said the judge, “but I will remit it provided each one of you brings one roll of cotton goods to the court within three days. Anyone failing to do this will be arrested.”

One of the rolls of cloth which the people brought was quickly recognized by the merchant as his own, and thus the thief was easily discovered. The merchant recovered his goods, and the cotton rolls were returned to the people.

# 58

Don’t Worry, Be Happy

Chào các bạn,

Từng đôi lúc bị xuống tinh thần? Thất nghiệp? Người yêu dỗi hờn? Ai chẳng có lúc nhỉ 🙂

Tất cả những tình huống có đều đã được dự tính trước, kiểu gì chúng cũng thỉnh thoảng lại xảy ra một lần. Vậy tại sao lại phải lo lắng nhỉ? 🙂

Lý luận như thế thì cũng có lý nhưng thực tế thì khó có thế không lo lắng được khi cơn lo lắng ấp đến. Nhưng, âm nhạc có sức mạnh lắm, nó sẽ giải tỏa tâm trạng của bạn với giai điệu cảm hứng hơn ngôn từ có thể truyền tải nhiều. Hôm nay chúng ta hãy nhẹ nhàng dậm chân theo nhịp bài hát  “Don’t worry Be happy” của Bobby McFerrin nhé 🙂 Bài hát cởi bỏ từng nút lòng rất hiệu nghiệm, dù bạn đang có lo lắng hay không 🙂

“Don’t worry be happy” được sáng tác bởi nhạc sĩ Bobby McFerrin vào năm 1988. Bài hát này đứng thứ nhất trong bảng xếp hạng Billboard 100 của năm 1988 trong 2 tuần liền và là bài hát của năm trong năm 1989. Điệp khúc của bài hát “Don’t worry be happy” được lấy từ lời của nhà hiền triết người Ấn Độ Meher Baba, “Do your best. Then, don’t worry; be happy in My love. I will help you”. 🙂

Dưới đây chúng ta có ba video. Video thứ nhất là Don’t worry be happy do Bob Marley thể hiện. Video thứ hai là đoạn phim cười vui do nhân viên của công ty Nature’s Sunshine quay. Thật tuyệt với nếu làm việc cho một công ty như thế nhỉ? Và bài hát thứ ba, do một anh hát rong hát vang đem cảm hứng cho những người đi trên đường phố Luân Đôn ở nước Anh. Sau đó là lời nhạc.

Chúc các bạn một ngày hạnh phúc không ưu tư,

Hiển.

Don’t worry, be happy!

Bobby McFerrin – Don’t Worry Be Happy (Official Music Video)

Bobby Mc Ferrin – Don’t Worry Be Happy

Here’s a little song I wrote
You might want to sing it note for note
Don’t worry, be happy.
In every life we have some trouble
But when you worry you make it double
Don’t worry, be happy.
Don’t worry, be happy now.

CHORUS:
Don’t worry, be happy. Don’t worry, be happy.
Don’t worry, be happy. Don’t worry, be happy.

Ain’t got no place to lay your head
Somebody came and took your bed
Don’t worry, be happy.
The landlord say your rent is late
He may have to litigate
Don’t worry, be happy.

CHORUS:
(Look at me — I’m happy. Don’t worry, be happy.
Here I give you my phone number. When you worry, call me,
I make you happy. Don’t worry, be happy.)

Ain’t got no cash, ain’t got no style
Ain’t got no gal to make you smile
Don’t worry, be happy.
‘Cause when you worry your face will frown
And that will bring everybody down
Don’t worry, be happy.

CHORUS:
(Don’t worry, don’t worry, don’t do it.
Be happy. Put a smile on your face.
Don’t bring everybody down.
Don’t worry. It will soon pass, whatever it is.
Don’t worry, be happy.
I’m not worried, I’m happy…)

Lễ hội tháng 3, 2010 trên toàn quốc

Chào các bạn,

Mình mới khám phá ra danh sách này trên vietnamtourism.com.  Dù là đa số chúng ta không có dịp tham dự đa số các lễ hội trong danh sách này.  Liếc qua danh  sánh một tí cũng cho ta một tí khái niệm toàn cảnh về một khía cạnh của văn hóa Việt Nam

Mình sẽ cố nhớ post nó mỗi tháng (trừ khi có cô cậu sinh viên nào đó muốn xung phong làm việc này.  Nếu vậy, thì cho mình biết nhé 🙂 )

Các links trong bài dưới đây không hoạt động ở đây, chỉ hoạt động trong site chính tại vietnamtourism.com 🙂

Chúc các bạn một ngày vui.

Hoành

Lễ hội tháng 3  2010


Lào Cai
Lễ cúng rừng của người Nùng

Thời gian: 29/1 âm lịch.
Địa điểm: Huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai.
Đối tượng suy tôn: Thần làng, thần cây.
Đặc điểm: Cúng 2 cây cổ thụ “cây bố và cây mẹ”, cúng những người hy sinh vì nước và vì bản làng. Các trò chơi thi leng hao, hát lán cô, đu, chơi cờ gỗ.    (Chi tiết)

Phú Thọ
Hội chọi trâu Phù Ninh

Thời gian: 12/2 âm lịch.

Địa điểm: Xã Phù Ninh, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.

Đối tượng suy tôn: Vua Hùng và các tướng lĩnh, Thành hoàng làng.

Đặc điểm: Diễn trò chọi trâu để tưởng nhớ vua Hùng theo tích xưa vua Hùng đi săn qua đây diệt hai con hổ đang đánh nhau.

(Chi tiết)


Lễ Cầu tháng Giêng

Thời gian: 27/1 âm lịch.

Địa điểm: Xã Đào Xá, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ.

Đối tượng suy tôn: Hùng Hải (tướng của vua Hùng), Trang phu nhân và Quế Hoa.

Đặc điểm: Rước kiệu, rước văn từ đình làng vào đền thờ, múa voi, thổi cơm thi.

(Chi tiết)


Vĩnh Phúc
Hội Đức Bác

Thời gian: 1/2 và 11 – 12/6.
Địa điểm: Xã Đức Bác, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc.
Đối tượng suy tôn: Thánh Ông, Bát Nàn công chúa (tướng của Hai Bà Trưng), ông tổ hát xoan.

Đặc điểm: Lễ cầu đinh, đua thuyền sang Phượng Lâu (bên kia sông) cướp giỏ thóc (bó mạ) mang về, hát xoan.

(Chi tiết)


Lai Châu
Lễ hội Xên Mường ở Lai Châu

Thời gian: Ngày Thìn Tháng 2 âm lịch.

Địa điểm: Xã Mường Than, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu.

Đặc điểm: Cúng người lập nên bản làng, dâng trâu, ném còn, múa các điệu dân gian.    (Chi tiết)


Điện Biên
Lễ hội Hoa ban của người Thái

Thời gian: Tháng 2 âm lịch.
Địa điểm: Tại núi rừng Tây Bắc, tỉnh Điện Biên.
Đặc điểm: Ngày hội hoa ban không chỉ là ngày hội của tình yêu của các chàng trai cô gái Thái mà còn là dịp để người Thái cầu mùa, cầu phúc; là dịp để bày tỏ đạo hiếu đối với ông bà, cha mẹ.    (Chi tiết)

Bắc Giang
Hội chùa Bổ Đà

Thời gian: 16-18/2 âm lịch.
Địa điểm: Xã Thượng Lan, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.
Đối tượng suy tôn: Phật, Thánh linh Thần tướng.
Đặc điểm: Hành hương lễ phật.    (Chi tiết)

Bắc Ninh
Hội làng Đức Vua Bà

Thời gian: 7/2  âm lịch.
Địa điểm: Làng Viêm Xá (làng Diềm), xã Hòa Long, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.
Đối tượng suy tôn: Đức Vua Bà (bà tổ của dân ca quan họ).
Đặc điểm: Lễ giỗ tổ quan họ có hát quan cầu đảo, quan họ trùm đầu, và trò chơi cướp quả cầu nước.    (Chi tiết)

Hội làng Yên Mẫn

Thời gian: 10 – 12/2 âm lịch.
Địa điểm: Phường Kinh Bắc, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.
Đối tượng suy tôn: Trương Hống, Trương Hát.
Đặc điểm: Cầu mùa, hát quan họ, chạy (kéo) chữ, chơi cướp cầu.    (Chi tiết)

Lạng Sơn
Lễ hội đền Kỳ Cùng – Tả Phủ

Thời gian: 22 – 27/1 âm lịch.
Địa điểm: Thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
Đối tượng suy tôn: Thân Công Tài, quan đầu phủ có công khai phá mở chợ Kỳ Lừa giao thương buôn bán với người Hoa.
Đặc điểm: Lễ rước kiệu từ đền Kỳ Cùng lên đền Tả Phủ, hát sli (dân tộc Nùng), hát lượn (dân tộc Tày).    (Chi tiết)

Thành phố Hải Phòng
Hội đình Tri Yếu

Thời gian: 7 – 10/2 âm lịch.
Địa điểm: Xã Đặng Cương, huyện An Dương, Tp. Hải Phòng.
tượng suy tôn: Cao Sơn, Quí Minh và Chàng Rồng – Thần bản trang sở tại giúp vua Hùng đánh Thục.

Đặc điểm: Tế thần, thi bánh chưng, bánh giầy, đấu vật.

(Chi tiết)


Hội đền Hạ Lũng

Thời gian: 16 – 18/1 âm lịch.
Địa điểm: Phường Đằng Hải, quận Hải An, TP. Hải Phòng.
Đối tượng suy tôn: Ngô Quyền, người mở đầu thời đại tự chủ cho nước ta, đại thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng vào năm 938.
Đặc điểm: Tế lễ, dâng hương, tham quan di tích lịch sử bãi cọc Bạch Đằng.    (Chi tiết)

Hội đền Nghè

Thời gian: 8 – 10/2 âm lịch.
Địa điểm: Quận Lê Chân, Tp. Hải Phòng.
Đối tượng suy tôn: Lê Chân, nữ tướng thời Hai Bà Trưng.
Đặc điểm: Lễ rước mũ, cỗ tế chay.    (Chi tiết)

Hội chèo bơi

Thời gian: 21/1 âm lịch.
Địa điểm: Thị trấn Cát Hải, huyện Cát Hải, Tp. Hải Phòng.
Đặc điểm: Đua thuyền rồng.    (Chi tiết)

Hải Dương
Lễ hội đền Cao

Thời gian: 22 – 24/1 âm lịch.

Địa điểm: Xã An Lạc, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương.

Đối tượng suy tôn: Thành hoàng làng và 5 anh em họ Vương giúp Lê Đại Hành phá giặc Tống: Vương Đức Minh, Vương Đức Xuân, Vương Đức Hồng, Vương Thị Đào, Vương Thị Liễu.

Đặc điểm: Rước 6 kiệu với đội múa rồng và múa lân đi đầu.

(Chi tiết)


Hưng Yên
Lễ hội Chử Đồng Tử

Thời gian: 10 – 12 tháng 2 âm lịch.

Địa điểm: Đền Đa Hoà và đền Dạ Trạch, huyện Khoái Châu, Hưng Yên.

Đối tượng tôn vinh: Chử Đồng Tử và hai vị phu nhân Tiên Dung Công chúa và Tây Sa Công chúa.
Đặc điểm: Lễ rước trên bộ của 9 xã từ các đình làng về đền Đa Hoà; 8 xã khác tổ chức lễ rước nước từ sông Hồng về đền Dạ Trạch; hát trống quân.    (Chi tiết)


Thành phố Hà Nội (mở rộng)
Hội đánh cá làng Me

Thời gian: 2 – 10/2 âm lịch. Chính hội 4/2 âm lịch.
Địa điểm: Xã Tích Giang, huyện Phúc Thọ, Hà Nội.
Đối tượng suy tôn: Đức Thánh Tản Viên.
Đặc điểm: Thi đánh cá tế thánh Tản Viên, làm tiệc cá,múa rối, hát đúm, đáo đĩa.    (Chi tiết)

Hội đình Ngũ Giáp

Thời gian: 2 – 4/2 âm lịch.
Địa điểm: Xã Liên Hà, huyện Đan Phượng, Hà Nội.
Đối tượng suy tôn: Thành hoàng Lữ Gia đại vương.
Đặc điểm: Trò đón ông đám, cướp bông.    (Chi tiết)

Hội đền Dầm

Thời gian: 5 – 7/2 âm lịch.

Địa điểm: Thôn Sâm Dương, xã Ninh Sở, huyện Thường Tín, Hà Nội.

Đối tượng suy tôn: Thủy Cung Thánh Mẫu.

Đặc điểm: Lễ rước nước, múa rồng, múa sư tử, kéo chữ, cờ người, hát quan họ, chọi gà.

(Chi tiết)


Hội đền Lộ

Thời gian: 4 – 6/2 âm lịch.

Địa điểm: Thôn Đại Lộ, xã Ninh Sở, huyện Thường Tín, Hà Nội.

Đối tượng suy tôn: Tứ vị thánh nương.

Đặc điểm: Tế, rước sắc phong, rước nước.

(Chi tiết)


Hội chùa Trầm

Thời gian: 2/2 âm lịch.
Địa điểm: Thôn Long Châu, xã Phụng Châu, huyện Chương Mỹ, Hà Nội.
Đặc điểm: Cúng (giỗ bà Trần), cầu kinh, múa rồng, múa rối nước.    (Chi tiết)

Lễ hội làng Sơn Đồng

Thời gian: 5 – 6/2 âm lịch.

Địa điểm: Xã Sơn Đồng, huyện Hoài Đức, Hà Nội.

Đối tượng suy tôn: Đông nhạc giáng thần.

Đặc điểm: Lễ tế trâu, rước và thi bánh giầy, trò cướp bông.

(Chi tiết)


Nam Ðịnh
Hội đền Đim

Thời gian: 30/1 – 2/2 âm lịch.
Địa điểm: Xã Nam Dương, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.
Đặc điểm: Lễ tế, lễ rước, đấu vật, tổ tôm điếm, hát chèo.    (Chi tiết)

Hội hoa Vị Khê

Thời gian: 20 – 30/1 âm lịch.

Địa điểm: Huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.

Đặc điểm: Hội chợ hoa và cây cảnh đẹp, thi vật, thi chạy.

(Chi tiết)


Hà Nam
Hội đình làng Võ Giàng

Thời gian: 15/2 âm lịch.
Địa điểm: Xã Thanh Thủy, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam.
Đối tượng suy tôn: Vũ Cố, một tướng tài của Lê Lợi đã tham gia đánh giặc Minh trên sông Đáy.
Đặc điểm: Tế thánh, đua thuyền, phóng lao, hát đối nam nữ trên thuyền, hát giao duyên.    (Chi tiết)

Thái Bình
Hội đình Đông Linh

Thời gian: 14/2 âm lịch.

Địa điểm: Thị trấn An Bài, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.

Đối tượng suy tôn: Lê Bôi (Phạm Bôi), người có công thời khai quốc triều Lê Thái Tổ, được ban Quốc tính.

Đặc điểm: Lễ tế thần.

(Chi tiết)


Hội An Cổ

Thời gian: 10/2 âm lịch.
Địa điểm: Thôn An Cổ, xã Thụy An, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.
Đối tượng suy tôn: Phạm Hải (Nam Hải đại vương).
Đặc điểm: Rước thần, tế, chơi đấu vật, cờ tướng, hát chèo.    (Chi tiết)

Hội Bổng Điền

Thời gian: 14/2 âm lịch.

Địa điểm: Xã Tân Lập, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình.

Đối tượng suy tôn: Thần Nông.

Đặc điểm: Rước nước cầu mưa, rước kiệu Thánh long trọng.

(Chi tiết)


Thanh Hóa
Hội Cổ Bôn

Thời gian: 20/1 âm lịch.

Địa điểm: Xã Đông Thanh, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

Đối tượng suy tôn: Thánh Cả (hiệu Đế Thích – vua cờ), Thánh Quỳnh, Thánh Phúc, Thánh Hẹ (Đặng Quận công Nguyễn Khải).

Đặc điểm: Lễ rước, cỗ cúng to “Bánh giầy xẻ cưa, bánh chưng trâu kéo”. Trò Bôn: Trò Tiên Cuội, Trò Hoa Lan, Trò Ngô, Trò Lăng ba khúc, Trò Thủy.

(Chi tiết)


Hội Rỵ

Thời gian: 9 – 10/2 âm lịch.

Địa điểm: Xã Thiệu Lý, huyện Thiệu Hóa , tỉnh Thanh Hóa.

Đối tượng suy tôn: 5 vị thành hoàng (Thánh Cả, Thiên Phúc, Đại Hạnh, Thái Tổ, Bạch Y  Long).

Đặc điểm: Chơi cờ trận (cờ rỵ). Cờ diễn xướng điệu bộ, có lời rao của tướng cờ, tương tự như tổ tôm điếm.

(Chi tiết)


Hội Xuân Phả

Thời gian: 10/2 âm lịch.

Địa điểm: Xã Xuân Trường, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa.

Đối tượng suy tôn: Đông Hải đại vương, âm phù vua Đinh, Lê.

Đặc điểm:  Lễ tế, thi chạy, diễn múa 5 trò: trò Chiêm Thành, trò Ai Lao, trò Hoa Lan, trò Tú Huần (Lục hồn nhung), trò Ngô Quốc.

(Chi tiết)


Nghệ An
Hội đền Quả Sơn

Thời gian: 19 – 21/1 âm lịch.

Địa điểm: Xã Bồi Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.

Đối tượng suy tôn: Ủy Minh Vương Lý Nhật Quang.

Đặc điểm: Lễ hội có tế thờ, rước 12 thuyền rồng lộng lẫy, đua thuyền.    (Chi tiết)


Hội Hang Bua

Thời gian: 21 – 23/1 âm lịch.
Địa điểm: Xã Châu Tiến, huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An.
Đặc điểm: Hội vui xuân của người dân tộc.    (Chi tiết)

Hội Thanh Đàm (rước hến)

Thời gian: 15 – 18/2 âm lịch.
Địa điểm: Làng Thanh Đàm, xã Nam Tân, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
Đối tượng suy tôn: Thủy thần.
Đặc điểm: Rước và thả hến.    (Chi tiết)

Lễ hội đền Cuông

Thời gian: 15 tháng 2 âm lịch.
Địa điểm: Xã Diẽn An, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
Đối tượng suy tôn: Thần Thục An Dương Vương.
Đặc điểm: có lễ yết cáo tại đền, lễ rước kiệu thần, tế thần, các sinh hoạt văn hoá: có hát ví, hát phường vải, hát tuồng, chèo, đốt pháo bông, thả đèn hoa.    (Chi tiết)

Hà Tĩnh
Lễ Tống Trùng

Thời gian: Tháng 2 âm lịch.
Địa điểm: Xã Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh.
Đối tượng suy tôn: Thành hoàng làng.
Đặc điểm: Cúng ở đình thờ Thành hoàng, cúng trời đất, cầu yên mùa màng.    (Chi tiết)

Thành phố Hà Nội
Hội đình Đông Phù

Thời gian: 6 – 7/2 âm lịch: Lễ nhập tịch.
Địa điểm: Xã Đông Mỹ, huyện Thanh Trì, TP. Hà Nội.
Đối tượng suy tôn: Thành hoàng: Sứ quân Nguyễn Siêu.
Đặc điểm: Lễ hạ đồ và thượng đồ.    (Chi tiết)

Hội đình An Phú

Thời gian: 13/2 âm lịch.
Địa điểm: Phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy, TP. Hà Nội.
Đối tượng suy tôn: Thần Nguyễn Bông và ngài Trần Toàn.
Đặc điểm: Hội làng có trò chơi “đi cầu noi”    (Chi tiết)

Hội đình Bà Tía

Thời gian: 8 – 10/2 âm lịch.

Địa điểm: Thôn Vĩnh Ninh, xã Vĩnh Quỳnh, huyện Thanh Trì, TP. Hà Nội.

Đối tượng suy tôn: Trương Tử Nương, tướng của Hai Bà Trưng.

Đặc điểm: Thi đấu vật, đánh cờ, đi cầu đập nồi niêu.

(Chi tiết)


Hội đình Bái Ân

Thời gian: 10/2 âm lịch.

Địa điểm: Làng Bái Ân, phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy, TP. Hà Nội.

Đối tượng suy tôn: Ông thánh Chú và ông Dầu, bà Dầu.

Đặc điểm: Rước kiệu quỳ, hát ca trù, cờ người.

(Chi tiết)


Hội đình Giàn

Thời gian: 9 – 11/2 âm lịch.

Địa điểm: Thôn Cáo Đỉnh, xã Xuân Đỉnh, huyện Từ Liêm, TP. Hà Nội.

Đối tượng suy tôn: Lý Phục Man, danh tướng thời Lý (Đánh quân Lương và Lâm ấp, giữ nước Vạn Xuân).

Đặc điểm: Rước kiệu, cờ người, võ, chọi gà, đấu vật.

(Chi tiết)


Hội đình Nhật Tân

Thời gian: 2/2, 10/2 và 8/8 âm lịch. Chính hội 10/2 âm lịch

Địa điểm: Phường Nhật Tân, quận Tây Hồ, TP. Hà Nội.

Đối tượng suy tôn: Uy Đô Linh Lang (hoàng tử nhà Trần).

Đặc điểm: Múa rồng.

(Chi tiết)


Hội đình Nhật Tảo

Thời gian: 11/2 âm lịch.

Địa điểm: Xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, TP. Hà Nội.

Đối tượng suy tôn: Trần Nguyễn Trác.

Đặc điểm: Thi bánh giầy, chè kho.

(Chi tiết)


Hội đình Thanh Liệt

Thời gian: 8 – 10/2 âm lịch.
Địa điểm: Phường Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, TP. Hà Nội.
Đối tương suy tôn: Phạm Tu (đình ngoại), Chu Văn An (đình nội).
Đặc điểm: Rước kiệu từ đình nội ra đình ngoại, diễn tuồng, chọi gà, đánh cờ bỏi.    (Chi tiết)

Hội đình Vạn Phúc

Thời gian: 9/2 âm lịch.
Địa điểm: 32 Đội Cấn, phường Đội Cấn, quận Ba Đình, TP. Hà Nội.
Đối tương suy tôn: Linh Lang đại vương (theo truyền thuyết là con thứ 4 của vua Lý Thánh Tông), Mẫu Thiên Tiên Lý Huệ Tông.
Đặc điểm: Rước, múa trống, cướp lụa đỏ. Có mười ba làng trại và nhiều cộng đồng khác như ở Đình Bảng (Bắc Ninh), Bồng Lai (Hà Tây) cũng về dự hội.    (Chi tiết)

Hội đình Vẽ

Thời gian: 9 – 11/2 âm lịch.
Địa điểm: Xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, TP. Hà Nội.
Đối tượng suy tôn: Thánh Độc Cước sơn tiên, Lê Khôi – công thần thời Lê, thổ thần.
Đặc điểm: Thi thả thơ, hát ca trù. Đặc sản có bánh khoái và hàng mây tre đan.    (Chi tiết)

Hội đền Đồng Nhân

Thời gian: 6/2 âm lịch.
Địa điểm: Đền Đồng Nhân, phường Ðồng Nhân, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.
Đối tượng suy tôn: Hai Bà Trưng    (Chi tiết)

Hội đền Bà Chúa Kho (Giảng Võ)

Thời gian: 12/2 âm lịch.
Địa điểm: Đình Giảng Võ, đường Giảng Võ, quận Đống Đa, TP. Hà Nội.
Đối tượng suy tôn:Bà Chúa Kho.
Đặc điểm: Lễ tế của 13 làng trại anh em. Trò chơi: cờ người, bắt vịt, múa rối cạn, rối nước.    (Chi tiết)

Hội bên núi Sưa

Thời gian: 19/1 âm lịch.

Địa điểm: Núi Sưa (Bách Thảo), phường Ngọc Hà, quận Ba Đình, TP. Hà Nội.

Đối tượng suy tôn: Huyền Thiên Hắc Công.

Đặc điểm: Xuất phát từ tục kết chạ xưa của ba thôn: Ngọc Hà, Hữu Tiệp, Xuân Biểu gặp gỡ vui chơi, ca hát, thi cây thế, thổi xôi.

(Chi tiết)


Hội chùa Nành

Thời gian: 4/2 âm lịch.
Địa điểm: Xã Ninh Hiệp, huyện Gia Lâm, Tp. Hà Nội.
Đối tương suy tôn: Phật Mẫu Man Nương, Pháp Vân (Bà Nành), Đức Phật Thích Ca, Đức Trần Hưng Đạo.
Đặc điểm: Tục cúng, nâng cây phan.    (Chi tiết)

Hội làng An Hòa

Thời gian: 10 – 12/2 âm lịch.

Địa điểm: Phường Yên Hòa, quận Cầu Giấy, TP. Hà Nội.

Đối tượng suy tôn: Lý Nhân Tông, Vạn Phúc phu nhân, Tứ Nàng phu nhân (con Lý Nam Đế), Bạch Hạc tam giang.

Đặc điểm: Tế nam quan, tế nữ quan, chơi cờ tướng, chọi gà.

(Chi tiết)


Hội làng Bát Tràng

Thời gian: 14 – 16/2 âm lịch.

Địa điểm: Đình Bát Tràng, Xã Bát Tràng, huyện Gia Lâm, TP. Hà Nội.

Đối tượng suy tôn: Hán Cao Tổ và Lữ hậu, Cai O Minh Chính tự đại vương, Phan Đại tướng, Hồ Quốc Thần, Bạch Mã thần.

Đặc điểm: Rước nước, tắm bài vị, thi sáng tác ca trù để hát thờ.

(Chi tiết)


Hội làng Cán Khê

Thời gian: 16/2 âm lịch.

Địa điểm: Xã Nguyên Khê, huyện Đông Anh, TP. Hà Nội.

Đối tượng suy tôn: Phù Đổng Thiên Vương.

Đặc điểm: Rước lớn 16 đoàn được tổ chức công phu. 60 thanh niên và hơn 100 cụ tham gia đám rước.

(Chi tiết)


Hội làng Cót

Thời gian: 12 – 15/2 âm lịch.
Địa điểm: Đình Cót, phường Yên Hòa, quận Cầu Giấy, TP. Hà Nội.
Đối tượng suy tôn: Các thần Cao Sơn, Diêm La, Mộc Tinh, hai vị bản thổ (hoàng cung Trịnh Thục phu nhân, Tràng Hán anh linh Đại tướng quân).
Đặc điểm: Rước lớn 7 kiệu (5 long ngai bài vị, một kiệu sắc – kiệu phù hương, một kiệu chum nước).    (Chi tiết)

Hội làng Hồ Khẩu

Thời gian: 13/2 âm lịch hội chính

Địa điểm: Phường Bưởi, quận Tây Hồ, TP. Hà Nội.

Đối tượng suy tôn: Dực thánh Đại vương (Cống Lễ), Vệ quốc Đại vương (Cá Lễ).

Đặc điểm: Múa bơi trải (múa cạn) với sự tham gia của 36 thanh niên gọi là giai bơi.

(Chi tiết)


Hội làng Mạch Lũng

Thời gian: 10/2 âm lịch.

Địa điểm: Thôn Mạch Lũng, xã Đại Mạch, huyện Đông Anh, TP. Hà Nội.

Đối tượng suy tôn: Tam vị Minh Mổ đại vương và bà thân mẫu Xoa Nương.

Đặc điểm: Rước nước, rước kiệu, bơi trải.

(Chi tiết)


Hội làng Nghi Tàm

Thời gian: 10/ 2 âm lịch.

Địa điểm: Đình Nghi Tàm, phường Quảng An, quận Tây Hồ, TP. Hà Nội.

Đối tượng suy tôn: Võ Trung, Võ Quốc, Bảo Trung, Công chúa Quỳnh Hoa, Thánh Minh Khiết, Tây Hồ thủy thần.

Đặc điểm: Bơi trải, thi hoa cây cảnh.

(Chi tiết)


Hội làng Trung Kính

Thời gian: 14/2 âm lịch.
Địa điểm: Thôn Trung Kính, phường Trung Hòa, quận Cầu Giấy, TP. Hà Nội.
Đối tượng suy tôn: Hùng Nộn công (thời vua Hùng).
Đặc điểm: Cúng lợn giống đen tuyền, hát ca trù, vật, bắt vịt trong ao, đi cầu treo, tổ tôm điếm, thi thổi cơm.    (Chi tiết)

Hội làng Yên Nội

Thời gian:10/2 âm lịch.
Địa điểm:Xã Liên Mạc, huyện Từ Liêm, TP. Hà Nội.
Đối tượng suy tôn:Bạch Hạc Tam Giang, Túc Chinh công chúa.
Đặc điểm:Ngày hội có kết chạ với các làng lân cận. Chỉ cúng bằng cơm tẻ, muối vừng. Chơi trò trận giả ném cát.    (Chi tiết)

Hội miếu Vũ, Xuân Đỉnh

Thời gian: 10/2 âm lịch.
Địa điểm: Xã Xuân Đỉnh, huyện Từ Liêm, TP. Hà Nội.
Đối tượng suy tôn: Vũ Phục (ông Dầu), Đỗ Thị Thiện (bà Dầu).
Đặc điểm: Kiệu bay, thi bánh giầy, chè kho.    (Chi tiết)

Hội năm làng Mọc

Thời gian: 9 – 11/2 âm lịch.
Địa điểm: Mọc Quan Nhân, Mọc Chính Kinh, Mọc Cự  Lộc, Mọc Giáp Nhất, Mọc Phùng Khoang, phường Trung Hòa, quận Cầu Giấy, TP. Hà Nội.
Đối tượng suy tôn: Đoàn Thượng, Lã Liệu, Hùng Lãng Công, Phùng Luông.
Đặc điểm: Rước kiệu qua 5 làng, múa rồng, múa sư tử.    (Chi tiết)

Hội Ninh Hiệp

Thời gian: 18/1 âm lịch.
Địa điểm: Làng Nành, xã Ninh Hiệp, huyện Gia Lâm, TP. Hà Nội.
Đối tượng suy tôn:Bà Lý Nhũ Thái Lão (tổ sư nghề thuốc nam).
Đặc điểm: Lễ dâng hương, dân đến lễ và xin thuốc.    (Chi tiết)

Hội thờ Thủy thần

Thời gian: 10/2 âm lịch.
Địa điểm: Thôn Linh Đàm, phường Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai, TP. Hà Nội.
Đối tượng suy tôn: Bảo Ninh (thủy thần).
Đặc điểm: Dâng cúng cỗ cá (bỏ đầu), chơi cờ người, bắt vịt, bơi thuyền.    (Chi tiết)

Lễ hội kén rể

Thời gian: 2/2 âm lịch.

Địa điểm: Làng Đường Yên, xã Xuân Nộn, huyện Đông Anh, TP. Hà Nội.

Đối tượng suy tôn: Nữ tướng Lê Thị Hoa thời Hai Bà Trưng.

Đặc điểm: Lễ hội độc đáo để chọn rể tài hiền cho nữ tướng Lê Hoa.

(Chi tiết)


Quảng Nam
Lễ hội bà Thu Bồn

Thời gian: 10 – 12/2 âm lịch.
Địa điểm: Xã Duy Tân, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam
Đối tượng suy tôn: Bà Thu Bồn (người Chăm).
Đặc điểm: Đua thuyền, rước cộ.    (Chi tiết)

Thành phố Hồ Chí Minh
Hội miếu Ông Địa

Thời gian: 2/2 âm lịch.

Địa điểm: 125 đường Lê Lợi, phường 3, quận Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh.

Đối tượng suy tôn: Thổ địa Phúc Đức Chính Thần và nhiều vị thần dân gian khác.

Đặc điểm: Hát bóng rỗi, diễn tuồng.

(Chi tiết)


Lễ kỳ yên đình Phú Nhuận

Thời gian: 16 – 18/1 âm lịch.

Địa điểm: 18 đường Mai Văn Ngọc, phường 10 quận Phú Nhuận, TP. Hồ Chí Minh.

Đối tượng suy tôn: Phật, thần, các vị tiền hiền, hậu hiền.

Đặc điểm: Tụng kinh cầu an, lễ tế, nghi thức tôn vương và hồi chầu

(Chi tiết)

Nhà thơ Y Phương

Tiểu sử:

Tên thật: Hứa Vĩnh Sước
Dân tộc: Tày
Sinh năm: 1948
Nơi sinh: Trùng Khánh, Cao Bằng
Bút danh: Y Phương
Thể loại: thơ, kịch

Các tác phẩm:

– Người núi Hoa (1982)
– Tiếng hát tháng giêng (1986)
– Lửa hồng một góc (1987)
– Lời chúc (1991)
– Đàn then (1996)
– Thơ Y Phương (2002)

Vài bài thơ của Y Phương:

Tên làng

Con là con trai của mẹ
Người đàn ông ở làng Hiếu Lễ
Ba mươi tuổi từ mặt trận về
Vội vàng cưới vợ

Ba mốt tuổi tập tành nhà cửa
Rào miếng vườn trồng cây rau
Hạnh phúc xinh xinh nho nhỏ ban đầu
Như mặt trời mới nhô ra khỏi núi

Con là con trai của mẹ
Người đàn ông ở làng Hiếu Lễ
Mang trong người cơn sốt cao nguyên
Mang trên mình vết thương
Ơn cây cỏ quê nhà
Chữa cho con lành lặn

Con là con trai của mẹ
Người đàn ông ở làng Hiếu Lễ
Lần đầu tiên ôm tiếng khóc lên ba
Lần đầu tiên sông núi gọi ông bà
Lần đầu tiên nhóm lửa trên mặt nước
Lần đầu tiên sứ sành rạn nứt
Lần đầu tiên ý nghĩ khôn lên

Ý nghĩ khôn lên nỗi buồn thấm tháp
Bàn chân từng đạp bằng đá sắc
Trở về làng bập bẹ tiếng đầu tiên

Ơi cái làng của mẹ sinh con
Có ngôi nhà xây bằng đá hộc
Có con đường trâu bò vàng đen đi kìn kịt
Có niềm vui lúa chín tràn trề
Có tình yêu tan thành tiếng thác
Vang lên trời
Vọng xuống đất
Cái tên làng Hiếu Lễ của con

Phố Xưa

Phố xưa
Bây giờ vẫn như xưa
Những mái nhà nâu
Những cột nhà đen
Đêm đêm lép bép ngọn đèn.

Tôi đi trên con đường xưa
Tránh đứa trẻ đang bò chơi bi
Tránh ông già lim dim sưởi nắng
Tránh người yêu xưa đầu đường áo trắng
Con trên vai đi thẳng chẳng nhìn ai

Giận nhau lâu
Nhớ nhau dài
Tôi trở về tìm người yêu xưa ở phố
Em gọi
Nhưng tôi không ngoái cổ
Giả vờ đi.

Mùa hoa

Mùa hoa
Mùa đàn bà
Mặt đỏ phừng
Thừa sức vác ông chồng
Chạy phăm phăm lên núi.

Mùa hoa
Mùa đàn ông
Mệt như chiếc áo rũ
Vừa vịn vừa đi vừa ngái ngủ.

Nói với con

Chân phải bước tới cha
Chân trái bước tới mẹ
Một bước chạm tiếng nói
Hai bước tới tiếng cười
Người đồng mình yêu lắm con ơi
Đan lờ cài nan hoa
Vách nhà ken câu hát
Rừng cho hoa
Con đường cho những tấm lòng
Cha mẹ mãi nhớ về ngày cưới
Ngày đầu tiên đẹp nhất trên đời.

Người đồng mình thương lắm con ơi
Cao đo nỗi buồn
Xa nuôi chí lớn
Dẫu làm sao thì cha vẫn muốn
Sống trên đá không chê đá gập ghềnh
Sống trong thung không chê thung nghèo đói
Sống như sông như suối
Lên thác xuống ghềnh
Không lo cực nhọc
Người đồng mình thô sơ da thịt
Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con
Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương
Còn quê hương thì làm phong tục
Con ơi tuy thô sơ da thịt
Lên đường
Không bao giờ nhỏ bé được
Nghe con

Y PHƯƠNG

Ngọc Lặc: Rượu ngon và canh lá đắng

Văn thư, sách vở, bản đồ ghi là Ngọc Lạc, nhưng đến nơi nghe gọi và thấy các bảng hiệu ghi là Ngọc Lặc. Cả hai tên cùng tồn tại.

Đền thờ Trung Túc Vương Lê Lai

Các xã trong huyện Ngọc Lặc đều có tên hai chữ Hán: Thạch Lập, Phúc Thịnh, Mỹ Tâm, Ngọc Sơn, Ngọc Khê vv…Các làng thì một số có tên hai chữ Hán như Lập Thắng, Điền Sơn…còn hầu hết là tên một chữ: Làng Ngán, làng Chạy, làng Nhớ, làng Quên, làng Thi, làng Mới, làng Mỏ, làng Móng, làng Chả, làng Thượng, làng Hạ, làng Vải, làng Mốc, làng Mí, làng Beo vv…Nghe rất vui nhưng tìm hỏi xuất xứ không ai biết rõ. Cũng như mọi người nói về vua Lê một cách kính cẩn, gọi là “cố Lê Lợi”, nhưng những chuyện xưa”năm tê năm tặc” chỉ còn truyền khẩu một cách mơ hồ. Những khe Sống, đồng Chó…người nói thế này, người nói thế nọ, rất khác nhau.

Thị trấn Ngọc Lặc nằm giữa cánh đồng, bốn bên là những dãy núi đỉnh nhọn đâm lên trời cao dáng vẻ trông thật hùng vĩ, đường bệ hơn hết là núi Sắt. Trung tâm thị trấn là chợ Phố Cống. Từ chợ đi ra có phố Lê Lợi rồi phố Lê Lai. Gọi là phố nhưng đường không rộng lắm, hai bên đường nhựa vẫn là bùn đất, rơm rạ vương vãi. Tuy vậy cũng đủ các mặt hàng: tạp hóa, quần áo, giày dép, xe máy…Và có dịch vụ trang trí nội thất, trang điểm cô dâu, quán cà phê vang tiếng nhạc. Thức ăn bày bán khá nhiều trong chợ là những thúng nhộng tằm, con nhộng lớn, màu xanh nhạt.

Nhiều loại nhà cửa xen lẫn nhau: nhà gác, nhà ngói, nhà lợp lá cọ – là thứ lá gồi trong thơ Tú Xương “Nhà gỗ năm gian lợp lá gồi”. Lá cọ làm kỹ lợp đến 20 – 30 năm chưa hư, sơ sài thì cũng phải 10 năm. Khi các bác sĩ đang làm cho chương trình Y tế cộng đồng tại đây đề nghị đồng bào cho biết về ngôi nhà mà họ mơ ước thì câu trả lời là những “nhà ngói bằng” – tức là nhà đúc. Giới thiệu kiểu nhà ngói ở miền xuôi, họ cười cười bảo: “Nhà xây mà có mái, lợp ngói thì đâu có hơn gì lợp lá cọ?” Ra khỏi trung tâm thị trấn vào các bản đồng bào Mường là nhà sàn với những cột bằng cây luồng, một loại cây họ tre, lớn hơn, dài hơn, suôn hơn tre. Cửa lên nhà cũng ở phía chái nhưng không chính giữa như nhà sàn Tây Nguyên mà dịch qua bên trái.

Xã Mỹ Tâm - Ru Mường

Sau lưng phố là ruộng chia thành nhiều luống nhỏ, luống này chín vàng, luống kia tươi xanh, luống nọ đã gặt. Trong một cánh đồng có thể thấy nhiều giai đoạn thời vụ trên những mảng màu khác nhau, nổi bật bên nhau. Vài ba con trâu đi trên đường phố, chiếc mõ mang ở cổ kêu lóc cóc lóc cóc, đến đoạn trống chưa có nhà trâu rẽ xuống ruộng.

Buổi sáng mùa đông ấy dứt mưa đã mấy hôm, trời chợt có gió hong khô và nắng lên ấm áp. Đường vào bản đã ráo, bước trên mặt đất mềm thấy bàn chân êm êm. Mặt hồ Đầm Thi gợn từng nếp sóng lăn tăn. Bãi sỏi bờ suối màu vàng sậm, hoa pháo nở đỏ từng xâu dài. Không khí thoáng đãng, hít thở thật nhẹ nhàng. Phong cảnh có nét gì đó rất thoáng và rất lạ giống như những truyện đường rừng của Lan Khai. Thỉnh thoảng có tiếng còi xe cũng dịu dàng. Trẻ em sạch sẽ, xinh xắn và lễ phép, gặp chúng tôi chào hỏi vui vẻ. Chỉ còn một ít người già mặc y phục dân tộc Mường, nam nữ thanh niên đều mặc Âu phục. Phụ nữ bới tóc cao, con gái để tóc dài, xõa ra hoặc kẹp lại bỏ sau lưng.

Ở đây rượu rất ngon và hình như người nào cũng sành về rượu. Ngồi uống rượu bỗng nhớ chuyện xưa. Thời Lê Lợi khởi binh, lực lượng nòng cốt ban đầu hẳn là đồng bào vùng Ngọc Lặc, Thọ Xuân. Biết bao nhiêu là gian khổ, “khi Linh Sơn lương hết mấy tuần, khi Khôi Huyện quân không một lữ” đã cùng chia nhau chén rượu nghĩa tình. “Đầu giao hưởng sĩ phụ tử chi binh nhất tâm…”, nguyên bản Bình Ngô đại cáo như thế và các dịch giả đã diễn nôm thành “Gắn bó một lòng phụ tử rót rượu ngọt để khao quân” hoặc ”Mở tiệc khao quân chén rượu ngọt ngào, khắp chiến sĩ một lòng phụ tử”… Đầu giao hưởng sĩ…Đem rượu được biếu đổ xuống lòng suối để ba quân cùng nếm, rượu hòa nước lã bỗng hóa ra chén rượu ngọt ngào…

Buổi tối đến Ngọc Lặc chúng tôi được thưởng thức ngay món canh lá đắng. Hôm sau có dịp nhìn tận mắt loại cây ấy. Lá đắng là tên gọi đúng vị của nó, mọc từ thân ra, có hình dạng giống như lá sắn mì. Từ cuống chính tỏa thành chín cuống phụ, mỗi cuống phụ một lá, thân lá dài từ 5,6cm đến 20cm, rộng độ 4-5cm, chỗ gần cuống tròn hơn, thân lá nhọn, hai mặt lá đều màu xanh đậm. Lá đắng nấu với thịt nạc băm nhỏ. Mới ăn vào đắng lắm. So với canh lá đắng thì canh khổ qua (không luộc chần) chẳng thấm thía gì. Vậy mà khi đã nuốt xong, vị đắng tan hết, còn lại vị ngọt. Ăn lần thứ nhất có thể chưa cảm nhận được canh lá đắng ngon thế nào, sau lần thứ hai đã thấy nhớ, lần thứ ba và những lần tiếp theo sẽ không quên món canh độc đáo này của Ngọc Lặc…

Trần Huiền Ân