Category Archives: trà đàm

Sự có mặt — quà tặng quý giá

sadness
“Tặng phẩm quý giá nhất ta có thể dâng tặng cho người khác là sự có mặt của chúng ta. Khi sự quan tâm chia sẻ của chúng ta bao bọc những người ta yêu thương, họ sẽ rộ nở như những đóa hoa tươi thắm”

Ý nghĩa đích thực của từ có mặt trong lời dạy trên của Thiền sư Thích Nhất Hạnh là gì? Và bằng cách nào sự có mặt là một tặng phẩm ta dành cho người khác?

Và câu hỏi cuối cùng ta tự đặt cho mình là mỗi ngày trong đời, ta đã thực sự tặng cho những người ta yêu, ta quý, những người sống, làm việc bên ta hay những người ta gặp, sự có mặt của mình đúng nghĩa hay chưa?

Chắc chắn mỗi chúng ta đều có câu trả lời, nhưng trước hết mời các bạn suy nghĩ về câu trả lời của Sunada. Bà Sunada sinh ra ở Nhật, nhưng sống tại Mỹ từ năm lên 3 cho đến nay. Bà đã có 16 năm làm việc trong lĩnh vực công nghệ cao (high tech), quản lý các chương trình phát triển phần mềm . Trong khoảng thời gian đó thường xuyên đối mặt với áp lực rất lớn, bà đã phải chịu đựng những thương tổn nặng là hậu quả của stress . Bà bắt đầu nghiên cứu Phật pháp và thực hành thiền định từ 1995, có 3 năm giảng dạy các lớp tu học và thiền tại Boston (Mỹ), hiện đang tham gia giảng dạy các lớp tu học thiền qua mạng Internet với Wildmind và tư vấn cho những ai cần giúp đỡ về tu học. “Khi tôi bắt đầu thực hành chánh niệm, lĩnh vực đầu tiên của tôi là chánh niệm trong mỗi hoạt động hàng ngày quen thuộc. Tôi “nhìn “ lại những gì đang diễn ra trong đầu tôi trong một bữa ăn trưa cùng một người bạn đồng nghiệp. Tôi giật mình sửng sốt nhận ra rằng tôi không đang chú ý đến bạn. Trong khi anh ấy đang say sưa nói về một dự án chung của chúng tôi, tôi thấy mình đang suy nghĩ về ý tưởng của tôi. Rồi sau đó tôi thấy mình đang lập kế hoạch cho cuộc họp chiều hôm đó. Tóm lại, tôi đang theo đuổi những vấn đề, một chương trình tương lai của tôi, và tôi không thực sự đang có mặt trong hiện tại cùng anh ấy. Bây giờ tôi mới nhận ra rằng thật đáng buồn chúng ta hiếm khi thực sự có mặt cùng người khác.”

gia-dinh

Các bạn có thấy mình giống hệt Sunada không? Tôi cũng không phải là ngoại lệ. Trong cuộc sống hàng ngày, bộn bề với công việc đủ loại: việc công, việc tư, chuyện cơ quan, chuyện gia đình con cái… với đủ áp lực, chúng ta đi đâu, ngồi ở đâu, với ai vẫn không thoát ra khỏi những gì đang đè nặng lên tâm trí của chúng ta. Những ý tưởng, kế hoạch, các hợp đồng kinh doanh, hay chuyến đi nghỉ lễ sắp tới, quà sinh nhật cho người yêu,…. là những rào cản che mất khiến ta không thực sự nhìn thấy người khác, hoặc thấy rõ họ dù họ đang ngồi cạnh ta. Ta có tập trung lắng nghe người khác chăng? Ta có hiểu người ấy muốn gì ở ta?

Chẳng hạn chúng ta có một người bạn bị ốm, hay đang gặp chuyện không hay, cần giúp đỡ. Tùy theo mức độ thân tình mà ta quan tâm và giúp đỡ theo khả năng của mình. Ta có thể giúp được rất nhiều từ vật chất đến tinh thần cho người bạn thân thiết ấy. Nhưng với một người lạ qua đường xin ta giúp đỡ, có bao nhiêu người trong chúng ta nghi ngại và do dự?

Và thử suy nghĩ xem có bao nhiêu phần trăm trong cách đáp ứng của chúng ta là do ý muốn giúp đỡ, gỡ rối, điều chỉnh sự khó khăn ấy theo cách của riêng ta? Hoặc giả ta làm việc gì đó chỉ để làm giảm bớt nỗi lo âu và buồn phiền của ta khi nhìn thấy người ta đau đớn hay bất hạnh? Cũng có thể ta đang tỏ ra tốt đẹp như chân dung tự họa của mình là một người tốt bụng, nhân ái, và sẵn sàng giúp đỡ. Có hay chăng việc ghi điểm với hi vọng rằng nếu ta giúp người lúc này, mai mốt họ sẽ đền đáp cho ta? Những động cơ rất vị kỷ để giúp đỡ ai đó được khoác tên lòng vị tha. Mà nếu ta thực sự có một ước muốn chân thành giúp người, hầu như không tránh khỏi những động cơ lẫn lộn ấy len lỏi ít nhiều vào suy nghĩ và hành động của ta.

Với những trợ giúp đến do nghề nghiệp, lại có thêm mức độ phức tạp. Nếu chúng ta quá chú trọng đến hình ảnh của chính mình với vai trò chuyên môn, ta có thể đang liên hệ với người khác qua lớp mặt nạ của nghề nghiệp. Thực sự chính ta với tư cách là một con người đang có mặt, hay chỉ là một y tá, bác sĩ., luật sư, giáo viên đang lên tiếng một cách máy móc theo chức trách nghề nghiệp?

Có khi sự giao tiếp giữa người với người trong lĩnh vực này còn tệ hơn Các bạn đã bao giờ chứng kiến một vị bác sĩ không buồn nghe bệnh nhân khai bệnh, và rất tiết kiệm lời han hỏi dù mới đầu buổi khám bệnh? Tôi đã không ít lần chứng kiến những cảnh này trong bệnh viện công và cả trong phòng khám tư. Một buổi chiều nọ tôi đi cùng một người bạn là bác sĩ ở tỉnh lẻ đưa một người thân, mắc một căn bệnh tim mạch nghiêm trọng đến phòng khám của một vị bác sĩ giáo sư chuyên khoa nổi tiếng ở Sài Gòn. Vì ở xa, chúng tôi vào muộn hơn nên có số phiếu hẹn khám cuối cùng của ngày hôm ấy. Sau khi chờ rất lâu mới đến lượt, người bạn là bác sĩ (vốn là học trò cũ từ xưa, chắc thầy không nhớ) đưa người thân của tôi vào khám. Tôi ngồi ở ngoài và có lẽ đến khi ấy vị bác sĩ đã quá mệt mỏi nên rất tiết kiệm lời. Ông ta nghe khai bệnh và hỏi không quá 3 câu với vẻ gắt gỏng, rồi lập tức ghi đơn cho thuốc, không thèm liếc mắt đến những hồ sơ kết luận bệnh án trước đó. Ra về người thân của tôi rất buồn rầu. Không phải vì tiền khám bệnh và thuốc mua tại đó rất đắt, nhưng thực sự người bệnh cảm thấy mình bị coi thường, không được giúp đỡ, trấn an khi vị bác sĩ ấy đang có mặt, và mất cả niềm tin vào cái gọi là “lương y như từ mẫu” của vị giáo sư bác sĩ đó.

sadness
Phải chăng ta đang sử dụng vai trò nghề nghiệp của minh như một cách tránh giao tiếp liên hệ với người khác theo nghĩa từ trái tim đến trái tim?

Một tình huống khó khăn khác là khi ai đó đang làm gì sai quấy, phạm pháp hay thiếu đạo đức, họ đang làm một điều gì khiến người khác bị tổn hại và đau khổ hay chính họ cũng đau khổ. Khi chúng ta tin rằng ta đúng và người khác sai, chúng ta sẽ phân hóa, phân cực, và rơi ngay vào cái bẫy của thói quen tự cho mình là chính trực, là đạo đức. Chính cách suy nghĩ này đã ngăn trở ta đặt mình vào hoàn cảnh của người và cảm thông với họ. Ví dụ, một người ăn cắp một số tiền của ta, ta có tìm hiểu lý do nào thúc đẩy anh ta làm như thế? Để tiêu xài thỏa thích, hay để mua thuốc cho đứa con bị ốm nặng…?

Thế thì chánh niệm có nghĩa là thụ động và để cho người khác tiếp tục đớn đau, hay tiếp tục gây ra rắc rối khó khăn trong cuộc đời họ? Tất nhiên là không!

Chánh niệm có vai trò vô cùng quan trọng vì chánh niệm làm sự sống có mặt trong giây phút hiện tại.. Chánh niệm là thành phần thứ bảy trong Bát Chánh Đạo. Chánh niệm là sự nhớ nghĩ chân chánh, là sự quán chiếu bốn đối tượng: thân, thọ, tâm, pháp, hay nói cách khác Chánh niệm chính là sự ý thức về tất cả các hiện tượng từ vật lý đến tâm lý đang xảy ra ở đây ngay trong giây phút hiện tại. Trong số các đặc tính của chánh niệm, xin nêu ra ở đây:

Chánh niệm là ý thức không có một cái ngã
Chánh niệm là một ý thức về sự thay đổi. (Thích Nhất Hạnh)

Theo Sunada, chánh niệm phải bắt đầu bằng sự tôn trọng nhân phẩm và lý luận của người khác. Như thế có nghĩa dù cho ta rất không đồng tình với việc làm của họ, ta vẫn phải cố gắng để hiểu xem tại sao họ làm như thế và hoàn cảnh nào đưa đẩy họ đến đó. Có nghĩa là tạm dừng quan điểm của mình và thực sự hiểu hoàn cảnh của người ta- không chỉ bằng trí óc mà bằng trái tim.

Có mặt trong chánh niệm cũng có nghĩa là loại bỏ những động cơ vị kỷ của ta đi. Hay nếu ta không thể làm được như thế, ít nhất ta có thể cố gắng tránh không dùng đến chúng như những tấm kính lọc qua đó chúng ta nhìn vào và xem xét hoàn cảnh, vấn đề của một người khác. Như thế cũng dẹp bỏ những nỗi sợ hãi của chúng ta. Cái gì đã ngăn cản ta mở lòng ra với người khác? Ta sợ mình bị tổn thương chăng? Hay ta sợ mắc phải sai lầm về nghề nghiệp? Thực sự, cái gì dựng lên một bức tường ngăn cách ta và người mà cơ bản rất giống ta?
giadinh

Tất nhiên có những lúc điều tốt nhất ta phải làm là bắt tay hành động trước khi có thêm những tổn hại nặng nề hơn. Ta cần làm việc này theo cách nào gây ra ít tổn hại nhất cho người trong cuộc, có liên quan. Và có lẽ ta cần hành động mạnh đối với người đó để ngăn cản họ không gây thêm điều xấu tổn hại nào hơn. Nhưng trước hết ta hãy đặt mình vào hoàn cảnh, thân phận của người ấy trong chốc lát, để suy nghĩ và hiểu người ta hơn.

Và trên hết, chánh niệm là kiên nhẫn. Phải thừa nhận rằng mọi thay đổi đều cần thời gian, và ta không thể bắt sự việc vận hành theo thời gian biểu của ta. Và có một số sự việc xảy ra vượt quá dự kiến và khả năng thay đổi của ta như thường thấy. Chẳng hạn, ta không thể bắt hoa nở theo ý muốn; có khi hoa chẳng nở mà còn héo úa. Nhưng chúng ta có thể vun xới tạo điều kiện tốt cho cây tốt và hoa nở thắm tươi. Như thế ta nên bón phân cho đất, cho cây hoa có nước và ánh sáng, dưỡng chất… Rồi ta kiên nhẫn chờ đợi…

Trở lại với sự có mặt như một tặng phẩm mà Thiền sư Nhất Hạnh đã nói. Phải chăng ta hãy luôn chánh niệm về sự có mặt thực sự của mình bên người khác trong từng giây phút, trong mỗi hoàn cảnh và vị trí. Ta cho đi sự có mặt trọn vẹn của ta khi đang đứng, ngồi ở đâu, làm việc gì với một hay nhiều người khác. Ta ngồi ở bàn, ăn một bữa cơm bình thường của gia đình. Ta đang chăm chú nghe một người thân giải bày tâm sự. Ta đang đứng trong lớp học giảng bài cho học sinh, hay đang bên giường bệnh nhân… Dẫu trong vai trò nào, ta cũng có thể dâng tặng sự có mặt của ta theo cách vun xới cây hoa, cho ánh sáng, nước và dưỡng chất… Và tiền đề quan trọng hơn cả, ấy là hãy rộng mở lòng mình, dẹp bỏ những thành kiến, nghi kỵ và trao tặng trái tim chân thực dễ bị tổn thương của chính ta cho người khác.

Huỳnh Huệ

Đam mê tuyệt vời

Chào các bạn,

Mấy năm về trước (2004) mình có viết một bài trong diễn đàn VNBIZ, nhan đề là Passion for Excellence. Sau đó một thời gian, bài này được chuyển đi rộng rãi trong giới sinh viên học sinh trên mạng và được một số bạn chuyển sang tiếng Việt.

Gần đây có một bạn gửi mình một bản tiếng Việt. Hôm nay gửi đến các bạn cả bản tiếng Việt lẫn bản tiếng Anh. Mình không biết bạn nào dịch bài tiếng Việt này, rất hay. Nếu các bạn nào biết, cho mình gửi lời cám ơn đến người dịch.

Các chữ in đậm trong này là từ trên mạng. Trong bài nguyên thủy tiếng Anh, mình không in đậm chỗ nào cả.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

________________

Các bạn thân mến,

Có điều này cứ khiến tôi trăn trở từ khoảng 10 năm nay. Giờ có lẽ chính là lúc để tôi chia sẻ với các bạn.

Thường thì khi chỉ ra một điểm yếu kém hay một vấn đề nào đó của quốc gia, sẽ có người phản biện rằng, “Chúng ta còn tốt hơn nhiều nước châu Phi,” hay “Nhiều nước đang phát triển còn tệ hơn chúng ta,” hay “Chúng ta là một nước nghèo.”

Đó là cái mà tôi gọi là “Tâm lý của kẻ thua cuộc.”

Thử tưởng tượng khi giáo viên nói với học sinh, “Em có thể học tốt hơn thế này, hãy cố gắng hơn nữa,” và cậu học sinh trả lời, “Thưa thầy, gia đình em nghèo, nhiều bạn học sinh nghèo khác còn học kém hơn em.”

Tại sao lại so sánh mình với những kẻ thua cuộc? Tại sao không đem mình ra so sánh với những người xuất sắc nhất? Thay vì so sánh chúng ta với những nước đang phát triển, hay những nước nghèo, tại sao không nói, “Chúng ta muốn sẽ đánh bại Pháp và Mỹ trong lĩnh vực công nghệ và kinh doanh.”

“Anh điên à? Đó là hai trong số các cường quốc lớn nhất trên thế giới. Thật là hão huyền và viển vông!”

“Người anh em, nếu tôi nhớ không nhầm, chúng ta đã đánh bại hai nước này trên mặt trận quân sự. Vậy thì kinh doanh hay công nghệ có là gì?”

Thử tưởng tượng 70 năm trước, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói với cả nước, “Thưa Đồng bào, Pháp là một trong những cường quốc mạnh nhất thế giới. Chúng ta không thể đọ được với súng ống và đại bác của họ. Các vị thật quá điên rồ khi nghĩ đến chuyện chiến đấu với họ, chưa nói đến việc đánh bại họ.” Nếu Người đã nói như vậy, giờ chúng ta sẽ ra sao?

Thật không may, sau chiến thắng trên mặt trận quân sự, những thế hệ tiếp theo sống đớn hèn, không nghị lực, không ý chí, không khát khao chiến thắng, không hoài bão vượt trội.

Mấy năm trước, khi tôi bay về Việt Nam, vài người bạn của tôi ở Bộ Ngoại giao đón tôi ở sân bay. Tôi đã rất bức xúc trước thực trạng cán bộ Hải quan đòi tiền Việt kiều ở sân bay, nên tôi nói với bạn mình, “Cậu biết không, mấy thằng trong kia chỉ chăm chăm đòi tiền dân chúng.” Một người bạn của tôi nói rằng, “Ồ, các anh có hàng đống tiền cơ mà. Anh nên chia bớt cho những người anh em nghèo khó mới phải.”

Nghe đến đó, tôi rất thất vọng, nên im lặng không trả lời. Đó là tâm lý của kẻ thua cuộc, tâm lý chấp nhận chất lượng hạng ba, và lý luận bảo vệ sự cam chịu đó. Người bạn này của tôi về sau trở thành đại sứ ở nhiều nước, anh ta không hề thấp kém. Vậy bạn có thể hình dung bao nhiêu người ở nước ta có tâm lý của kẻ thua cuộc như thế.

Nếu có nhiều đến thế những người mang tâm lý của kẻ thua cuộc, Việt Nam sẽ đi về đâu?

Chúng ta, thế hệ này, nên cảm thấy hổ thẹn với cha ông. Cha ông ta đã không nói, “Pháp và Mỹ quá mạnh, chúng ta không thể chiến thắng.” Cha ông ta chỉ có một điều duy nhất trong suy nghĩ – chiến thắng hay là chết. Đó chính là hoài bão vượt trội, khát vọng chiến thắng, khao khát không chấp nhận đứng thứ hai (bởi vị trí thứ hai đối với họ chính là cái chết).
the-thao

Nếu muốn chiến thắng, cần phải tư duy như một người thắng cuộc. Và đó là, “Chúng ta muốn thắng những người mạnh nhất. Chúng ta muốn là vô địch. Và chúng ta sẽ tạo ra con đường của mình từ đây đến chiến thắng cuối cùng.” Tâm lý của người thắng cuộc đó sẽ tự động buộc tâm trí ta vào trạng thái không chấp nhận làm kẻ tầm thường, không chấp nhận biểu hiện kém cỏi, không chấp nhận bất cứ cái gì thấp hơn nỗ lực cao nhất, phấn đấu lớn nhất, làm việc chăm chỉ nhất, và tư duy tích cực nhất.

Ai đó có thể nói, “Nhưng chiến đấu vì sinh tồn khác với cạnh tranh để làm giàu. Nền văn hóa của chúng ta chưa bao giờ coi trọng sự giàu sang. Trong nền văn hóa truyền thống, một thầy giáo nghèo là người được coi trọng nhất.”

Câu trả lời của tôi sẽ là:

(1) Khi chúng ta chiến đấu chống lại Pháp và Mỹ, đó không chỉ là chiến đấu để tồn tại. Chúng ta vẫn có thể sống dưới ách đô hộ của Pháp và Mỹ. Nhưng đó là một cuộc sống không có danh dự. Chúng ta chiến đấu vì danh dự, không phải vì sinh tồn.

(2) Ngày nay, chiến đấu để làm giàu và chống đói nghèo cũng là chiến đấu vì danh dự, bởi bất cứ ai trên thế giới cũng đều khinh thường công dân của một nước nghèo.

(3) Nền văn hóa truyền thống tôn vinh cái nghèo là hoàn toàn sai lầm. Là thuốc phiện. Đối với một cá thể, có thể sự giàu sang là vấn đề ý thích cá nhân, và không ảnh hưởng nhiều đến người khác. Nhưng đối với một quốc gia, đói nghèo là cái tội, sự giàu sang là sức mạnh và độc lập. Nếu Việt Nam giàu và mạnh từ một ngàn năm trước, thì Trung Quốc, Pháp, Mông Cổ, Nhật, và Mỹ đã chẳng dám tấn công chúng ta. Nếu thế, ta đã chẳng mất một ngàn năm chiến tranh. Đối với một quốc gia, nghèo nghĩa là yếu, là mở cửa cho những kẻ khác tấn công, là để bị đô hộ và giày xéo bởi các quốc gia khác, là bị khinh thường bởi người dân của các nước giàu có hơn. Hãy đi ra thế giới và bạn sẽ hiểu.

Đói nghèo là căn bệnh của một quốc gia. Đói nghèo cần phải bị xóa bỏ.

Bất kể triết lý cá nhân của mỗi chúng ta về sự giàu sang ra sao, đối với đất nước, làm giàu là mục tiêu chính yếu. Vì vậy hãy nhắc nhau đòi hỏi nhiều hơn nữa ở bản thân mình, ở bạn bè, thầy cô, chính phủ, và những nhà lãnh đạo. Hãy nhìn cách những nước giỏi nhất thế giới, như Nhật, Anh, Úc làm việc, học hỏi từ họ với quyết tâm về sau sẽ vượt qua họ (và họ sẽ vui lòng lắng nghe bạn, các bạn sinh viên, nói lên điều này, bởi bất cứ một giáo viên chân chính nào cũng muốn nhìn thấy cái ngày học trò đánh bại mình). Hãy ngừng suy nghĩ “Chúng ta là một nước nghèo, nên thế này là tốt rồi.” Không, sẽ là không đủ cho tới khi ta có thể đánh bại những người xuất sắc nhất trên thế giới.

Hãy tin vào chính mình. Nếu ta nghĩ ta có thể làm được, thì ta sẽ làm được

Đừng chấp nhận làm kẻ tầm thường. Đừng chấp nhận đứng ở vị trí thứ hai.

Hãy chấp nhận là người xuất sắc nhất.

Luôn đòi hỏi bản thân và dân tộc vượt trội nhất.

Và chúng ta có lịch sử hỗ trợ bên mình, rằng chúng ta có thể làm được những gì mà các dân tộc khác cho là không tưởng.

Hãy có một ngày thật tuyệt vời, bạn nhé!

Hoành

Bài tương tự: Hoa trái đầu tiên

.

the-thao-vu-thi-thu-thuy1
Dear các anh các chị,

There is this thing that has been bothering me seriously for, well, probably 10 years or so. Now I’ve thought that probably I should share it with you all.

Very often, when we point out some weakness, some problem in our nation or our system, I would hear a response like “We do much better than many countries in Africa” or “There are many developing countries doing worse than us” or “We are a poor country.” That is what I call “The Loser’s Mentality.”

Imagine a teacher tells a student, “You can do better than this, try harder,” and the student responds, “Teacher, my family is poor, many poor students do worse than I do.”

Why compare ourselves with the losers? Why can’t we compare ourselves with the best and the brightest instead? Instead of comparing ourselves with other developing countries, other poor countries, why don’t we just say “We want to eventually beat the France and beat the American in technology and business”?

“Are you crazy? These are two of the most advanced countries in the world. You are so day dreaming and unrealistic.”

“Brother, if I remember correctly, we did beat these two countries on the military battlefield already. What’s the big deal about business and technology?”

Imagine that 70 years ago president Ho Chi Minh told the nation, “You guys, France is one of the most advanced nations on earth. We cannot compete with their guns and cannons. You will be crazy to think about fighting them, not mentioning defeating them.” Had he said that, where are we now?
Unfortunately, after we won the military battles, the succeeding generations act like wimps, no back bone, no will, no aspiration to win, no passion for excellence.

Several years ago, when I got out of the airport in Vietnam, several friends from Ministry of Foreign Affairs picked me up at the airport. I was upset at seeing the custom officers asking for Vietkieu’s money at the airport, so I told my friends: “You know, these guys in there just ask for people’s money blatantly.” One of my friends said: “Oh, you guys have a lot of money. You can give some to your poor brothers.”

I was very disappointed when I heard that, so I didn’t respond. That was the loser’s mentality, the mentality of accepting the third-grade quality and coming up with rationale to support such acceptance. This friend of mine later became ambassador to several countries, so he is not low in ranking. You can imagine how many people in our country have such loser’s mentality. If so many of us have such a loser’s mentality, where will Vietnam go?
the-thao-hoang-anh-tuan

We, this generation, should be ashamed to our father’s generation. Our fathers did not say, “The French and the American are so powerful, we cannot beat them.” They had only one thing in mind —- win or die. That is the passion for excellence, the passion for winning, the passion for not accepting to be second (because second to them meant death).

If we want to win, we just have to think like a winner. And that is, “We want to beat the best. We want to be champion. And we will work our way, from here to championship.” Such winner’s mentality will automatically forces our mind into the state of not accepting mediocrity, not accepting low quality performance, not accepting anything less than the best effort, the best trial, the hardest work, the hardest thinking.

Some may say, “But fighting for survival is different than competing to be rich. In our culture, richness is never a big thing. In our traditional culture, being a poor teacher is the best position of all.”

My response would be:

(1) When we fought against the French or the American, that was not fighting for survival. We still could live under the French and the American. It was just not a very honorable way of living. So we were fighting for honor, not survival.

(2) Today, fighting against poverty and for wealth is also fighting for honor, because people around the world always look down on citizens of poor nations.

(3) Our traditional culture of glorifying poverty is just wrong. To use the communist terminology, it is opium. As an individual, probably wealth is a matter of personal taste and may not matter much to some of us. But as a nation, poverty is a sin, wealth is strength and independence. Had Vietnam been wealthy and powerful a thousand years ago, the Chinese, the French, the Mongolian, the Japanese, the American would not have had the guts to attack us. Then we hadn’t had to spend a thousand years fighting. As a nation, poverty means you are weak, you open yourself to attack by other guys, to be dominated and stepped upon by other nations, to be looked down upon by citizen of richer nations. Go around the world, and you will see this point clearer than the day light.

Poverty is a disease of the nation. Poverty has to be erased. Regardless what our personal philosophy about wealth, for the nation, wealth is a major goal.

So we need to tell each other to be more demanding of ourselves and our fiends, our teachers, our government, our leaders. Look at how the best of the world, the Japanese, the British, the Australian work, learn from them with the determination to outdo them later on. (And they will love to hear you, the student, say this, because every good teacher would love to see the day the student can beat him).

Stop thinking that “We are so poor, so this is good enough.” No, it won’t be enough until we can beat the best of the world.

Believe in ourselves. If we think we can do it, then we will do it. Don’t settle for mediocrity. Don’t settle for second. Settle for the best. Demand the best of ourselves and our people. And we have our history to back us up, that we can do what other peoples think impossible.

Have a great day!

Tran Dinh Hoanh
(Washingon DC, September 2004)

Similar article: The first fruit

Stumble It!

© Copyright 2009, TDH
Licensed for non-commercial use

Thời tiết

dsc01416

Thời tiết

“Bất cứ ngày nào tôi đứng thẳng
đó là ngày tốt lành”
…như tôi vẫn hằng nói.

Nếu bạn hỏi tôi,
“Khỏe không?”

Tôi sẽ đáp: “ TUYỆT VỜI !”
bởi vì khi nói thế,
tôi sẽ làm được thế.

Khi Đời cho mưa giông
và mây đen bao phủ,
tôi biết ơn những giọt nước
làm tóc tôi mềm cong,

Khi Đời cho nắng đẹp,
tôi ngẩng mặt tri ân,
cảm nhận ấm áp trên má.

Khi Đời mang lại mù sương,
tôi kéo áo choàng chặt lại,
tạ ơn những bóng râm bí mật
đã làm cho những điều quen thuộc
trở thành khác lạ và hấp dẫn.

Khi Đời đem tuyết trắng,
tôi lao ra nếm những bông tuyết đầu tiên,
tận hưởng cái lạnh diệu kỳ của hoa tuyết.

Những sự kiện và trải nghiệm cuộc đời
giống như thời tiết–
chúng đến rồi đi,
chẳng kể tôi ưa thích gì.

Vậy nên nào có hề chi!
Tốt hơn là cứ ưa thích chúng.

Vì thực ra,
luôn CÓ một thời cho từng mục đích
dưới vũ trụ mênh mang.

Và mỗi mùa đều ban phúc riêng của mùa ấy …
.

Huỳnh Huệ dịch
huynh_hue2001@yahoo.com.

.
lightning

Weather Report

“Any day I’m vertical
is a good day”
…that’s what I always say.

If you ask me,
“How are you?”
I’ll answer, “GREAT!”
because in saying so,
I make it so.

When Life gives me dark clouds and rain,
I appreciate the moisture
that brings a soft curl to my hair.

When Life gives me sunshine,
I gratefully turn my face up
to feel its warmth on my cheeks.

When Life brings fog,
I hug my sweater around me
and give thanks for the cool shroud of mystery
that makes the familiar seem different and intriguing

When Life brings snow,
I dash outside to catch the first flakes on my tongue,
relishing the icy miracle that is a snowflake.

Life’s events and experiences
are like the weather –
they come and go,
no matter what my preference.

So, what the heck?!
I might as well decide to enjoy them.

For indeed,
there IS a time for every purpose
under Heaven.

And each season brings its own unique blessings
.

BJ Gallagher

Cho người

Spiritual Symbols

Rồi một người giàu nói, Giảng cho chúng tôi về Bố thí.

Và Tiên tri trả lời:

Bạn cho chỉ một tí khi bạn cho tài sản.
Khi cho chính mình bạn mới thực sự cho.
Bởi vì tài sản là gì nếu không là những thứ bạn canh giữ vì lo sợ mình có thể cần đến ngày mai?
Và ngày mai, ngày mai sẽ mang lại gì cho con chó quá cẩn thận đã giấu những khúc xương dưới lớp cát không dấu vết, trên đường theo chân đoàn hành hương đến thành phố linh thiêng?
Và lo sợ cho nhu cầu là gì, nếu không phải chính nó là nhu cầu?
Khi giếng bạn vẫn đầy, phải chăng sợ khát chính là cơn khát chẳng nguôi?

Có những người cho một tí tài sản lớn họ có—và họ cho để được vinh danh, và ham muốn thầm kín đó khiến quà tặng của họ bất toàn.
Và có những người chỉ có một tí nhưng cho tất cả.
Đây là những người tin vào cuộc đời và phần thưởng của cuộc đời, và kho chứa của họ không bao giờ cạn.
Có những người cho với sướng vui, và sướng vui là phần thưởng của họ.
Và có những người cho với đớn đau, và đớn đau rửa tội họ.
Và có những người cho nhưng không biết đau khi cho, cũng không tìm vui sướng, và cũng chẳng cho vì quan tâm đến đức hạnh;
Họ cho như cây hoa đào trong thung lũng kia thở hương vào không gian.
Qua bàn tay của những người như thế, Trời lên tiếng nói, và từ thẳm sâu trong đôi mắt của những người như thế, Trời mỉm cười với Đất.

omkar

Cho khi được hỏi đã là tốt, nhưng tốt hơn là, cho khi không ai hỏi, chỉ do thấu hiểu;
Và với người có bàn tay rộng mở, đi tìm người nhận còn vui sướng hơn cả việc cho.
Và bạn không còn gì để giữ lại sao?
Một ngày nào đó, mọi thứ bạn có sẽ bị cho đi;
Vì vậy, hãy cho bây giờ, để mùa cho có thể là mùa của bạn và không phải là mùa của những người kế thừa gia tài của bạn.

Bạn thường nói, “Tôi sẽ cho, nhưng chỉ cho những người xứng đáng.”
Đám cây trong vườn không nói thế, và đàn thú trên cánh đồng cũng không nói thế.
Chúng cho, để chúng có thể sống, vì giữ lại là diệt vong.
Chắc chắn là, ai xứng đáng nhận được ngày và đêm, cũng xứng đáng nhận được những gì bạn có.
Và ai đã xứng đáng uống biển đời, cũng xứng đáng lấy một cốc nước từ con suối nhỏ nhoi của bạn.
Và còn xứng đáng nào lớn hơn là xứng đáng từ lòng can đảm và lòng tự tin, ồ không, lòng nhân đạo, khi nhận quà?
Bạn là ai mà người ta phải xé lòng ra, mở toạc tự ái ra, để bạn thấy được giá trị trần truồng của họ, và lòng kiêu hãnh sống sượng của họ?
Trước hết, hãy xem lại bạn có xứng đáng là người cho, là khí cụ của đức bố thí, hay không.
Bởi vì sự thật là, chính cuộc đời cho cuộc đời—trong khi bạn, dù tự xem mình là người cho, cũng chỉ là một nhân chứng mà thôi.

Và hỡi những người nhận—và tất cả các bạn đều là người nhận—đừng biết ơn quá nặng, nếu không, bạn sẽ đặt gông cùm lên chính bạn, và lên cả người cho.
Tốt hơn là, hãy cùng người cho bay trên quà tặng như trên đôi cánh;
Bởi vì, quá quan tâm vào món nợ tức là nghi ngờ lòng rộng rãi của người cho, là người có mẹ là Đất với tâm thức tự do và cha chính là Trời.

Tiên tri, Kahlil Gibran.

Trần Đình Hoành dịch

.

8_auspicious_signs_combined
Then a rich man said, Speak to us of Giving.

And he answered:

You give but little when you give of your possessions.
It is when you give of yourself that you truly give.
For what are your possessions but things you keep and guard for fear you may need them tomorrow?
And tomorrow, what shall tomorrow bring to the overprudent dog burying bones in the trackless sand as he follows the pilgrims to the holy city?
And what is fear of need but need itself?
Is not dread of thirst when your well is full, the thirst that is unquenchable?

There are those who give little of the much which they have—and they give it for recognition and their hidden desire makes their gifts unwholesome.
And there are those who have little and give it all.
These are the believers in life and the bounty of life, and their coffer is never empty.
There are those who give with joy, and that joy is their reward.
And there are those who give with pain, and that pain is their baptism.
And there are those who give and know not pain in giving, nor do they seek joy, nor give with mindfulness of virtue;
They give as in yonder valley the myrtle breathes its fragrance into space.
Through the hands of such as these God speaks, and from behind their eyes He smiles upon the earth.

yin-yang

It is well to give when asked, but it is better to give unasked, through understanding;
And to the open-handed the search for one who shall receive is joy greater than giving.
And is there aught you would withhold?
All you have shall some day be given;
Therefore give now, that the season of giving may be yours and not your inheritors’.

You often say, “I would give, but only to the deserving.”
The trees in your orchard say not so, nor the flocks in your pasture.
They give that they may live, for to withhold is to perish.
Surely he who is worthy to receive his days and his nights, is worthy of all else from you.
And he who has deserved to drink from the ocean of life deserves to fill his cup from your little stream.
And what desert greater shall there be, than that which lies in the courage and the confidence, nay the charity, of receiving?
And who are you that men should rend their bosom and unveil their pride, that you may see their worth naked and their pride unabashed?
See first that you yourself deserve to be a giver, and an instrument of giving.
For in truth it is life that gives unto life—while you, who deem yourself a giver, are but a witness.

And you receivers—and you are all receivers—assume no weight of gratitude, lest you lay a yoke upon yourself and upon him who gives.
Rather rise together with the giver on his gifts as on wings;
For to be overmindful of your debt, is to doubt his generosity who has the freehearted earth for mother, and God for father.

The Prophet, Kahlil Gibran.

Stumble It!

© Copyright 2009, TDH
Licensed for non-commercial use

Ngôn ngữ thân thể–Mới gặp nhau

Phụ nữ học bắt tay
Phụ nữ học bắt tay

Chào các bạn,

Bắt đầu từ hôm nay chúng ta sẽ đi sâu vào thân ngữ, thỉnh thoảng một bài. Bài đầu tiên chúng ta đã nhắc đến thân ngữ là Ngôn ngữ của cơ thể , sau đó là một ít trong bài Phỏng vấn tuyển việc. Chúng ta sẽ bắt đầu dùng từ “thân ngữ” song song với “ngôn ngữ thân thể”, vì “ngôn ngữ thân thể” là một cụm từ quen thuộc, nhưng quá rườm rà. Hy vọng mọi người sẽ dần dần quen với từ “thân ngữ” ngắn gọn hơn. Trong bài này, chúng ta nói đến thân ngữ sữ dụng trong buổi gặp mặt đầu tiên.

Hôm nay, bạn đóng vai chị Xuân, giám đốc tiếp thị của công ty quảng cáo Rền Vang đến gặp ông Cường, giám đốc điều hành công ty đồ trang trí nội thất Nhà Đẹp , tại văn phòng của ông. Cuộc họp đã được lên lịch cho 9 giờ sáng ngày hôm nay. Nhiệm vụ của bạn là tìm hiểu nhu cầu quảng cáo của Nhà Đẹp và trình bày một số đề nghị quảng cáo. Bạn và ông Cường chưa gặp nhau bao giờ.

• Nếu văn phòng thường mở cửa 8 giờ sáng, thì 9 giờ sáng là giờ làm việc mạnh nhất. Lúc này bụng còn no nhờ ăn sáng, và cũng đã có được 1 tiếng đồng hồ để “nóng máy” rồi, nên làm việc rất tốt. Giờ sau khi ăn trưa cũng tốt, nhưng giờ hẹn trước giờ nghỉ trưa, hoặc trễ vào buổi chiều khi mọi người đã mệt, thì không nên.

• Bạn nên đến trước 5 phút, và nói với cô thư ký của ông Cường là bạn có hẹn 9 giờ, bạn chỉ đến sớm một tí để tránh kẹt xe mà thôi. Mục đích là để cô thư ký và ông Cường không cảm thấy bị bạn hối thúc, trong khi thầm cảm ơn bạn đã rất quan tâm vào cuộc họp. Nhớ là nên lễ độ với cô thư ký. Trong việc nhận xét người, các giám đốc luôn luôn coi trọng ý kiến của thư ký vì “Hmm… bà ấy xem ra rất lễ độ với mình, nhưng thực ra xem thường những người không quyền hành.”

Nếu cô thư ký mời trà, thì nên cám ơn là không khát, để cô ấy khỏi phải pha trà cho bạn (Thư ký không mấy say mê làm việc vặt cho người lạ). Trong khi ngồi chờ, đừng cắm cúi đọc sách, nhưng quan sát khung cảnh trong phòng, bởi vì các quan sát này có thể cho bạn ánh sáng sáng tạo, hơn nữa nó cũng làm cho bạn sống động và thân thiện hơn. Gặp bất cứ người nào đi ngang qua cũng gật đầu khẻ và mỉm cười, vì bạn không biết ai sẽ dự phần trong quyết định ký hợp đồng. Hơn nữa, biết đâu một trong những người đi qua là ông Cường.

• Khi ông Cường ra, theo lễ nghĩa đông phương, thì bạn nên nhường người chủ nhà (và nhất là người lớn tuổi hơn) chìa tay ra trước, rồi bạn mới chìa tay ra để bắt. Tuy nhiên nếu người ấy có vẻ như không bắt tay, thì bạn nên chủ động đưa tay ra bắt, vì bạn phải chứng tỏ là bạn có bản lĩnh làm quân sư, và vì bắt tay thường có hiệu lực kéo người ta lại gần nhau hơn. Nếu là ông Cường là người tây phương (Mr. Smith), thì bạn nên chủ động đưa tay ra trước.

Bắt tay

Chỉ bắt một tay lúc này, nhất là giữa hai người Việt, và nhất là khi bạn là phụ nữ. Tí nữa ta sẽ nói khi nào có thể bắt hai tay, nhưng lúc này là lúc phải một tay. Tay bắt chặt, miệng mỉm cười, mắt nhìn vào mặt hay tốt nhất là vào mắt ông Cường, hơi gật đầu và khom lưng (chỉ một chút xíu) thì tốt. Khi gật đầu và khom lưng (một tí) thì mắt liếc xuống theo đầu, vì gật đầu khom lưng nhưng mắt cứ nhìn vào mắt đối phương là mắt của con nhà võ, không tin đối thủ, không rời mắt đối thủ một giây. Đợi ông Cường buông lỏng tay trước khi bạn buông, để tỏ lòng thân thiện. Đừng buông tay trước.

• Vào phòng, ta là khách thì cái gì cũng để chủ nhân đi trước; điều này đúng ở mọi nơi trên thế giới. Đừng ngồi sớm. Đợi khi người chủ bước đến ghế ngồi của ông ta, và vì là chủ, ông ta sẽ mời bạn ngồi trước, lúc đó mới nên ngồi. Và nếu ông ta mời trà, lúc đó nên, “Cám ơn anh. Cho em xin.” Mời trà mà từ chối là rất thất lễ, dù là người ta hoàn toàn không nghĩ thế thì trong tiềm thức người ta cũng có thể cảm thấy bị “chối bỏ.” Hầu như trong tất cả các nền văn hóa trên thế giới, khi người chủ mời các nghi lễ thân thiện, như trà nước, người khách không nên từ chối. Trong một số nền văn hóa, từ chối là một xúc phạm rất lớn. Lúc này, ông Cường có thể sẽ gọi cô thư ký của ông pha trà cho bạn, nhưng thực ra cô ấy pha trà cho ông chủ cô ấy, chứ không phải cho bạn, cho nên cô ấy sẽ rất vui vẻ pha trà.

• Tất cả các lối xưng hô ta không dùng hàng ngày mà chỉ dùng trên các công văn đọc rất chán, như tôi, ông, giám đốc, thưa ông, v.v… là ngôn ngữ không thể dùng trong giao tiếp hàng ngày. Văn hóa Việt Nam là văn hóa xưng hô gia đình — anh, chị, em, cô, chú, dì, cháu, mình, v.v… Tùy tình thế mà lựa chữ. Tuy nhiên, nếu gặp người lớn tuổi hơn nhưng không chắc là phải gọi là gì, thì cứ mạo hiểm “chị” hoặc “anh” là chắc ăn nhất, vì thà là lầm từ chú cô xuống anh chị, hơn là lầm anh chị thành cô chú. Gọi bằng chức vị, như là “Chào ông giám đốc”, theo ý mình, là người rất kém ngoại giao, không nên cho làm tiếp thị.

Ngay cả khi gặp người ngoại quốc mới lần đầu, mình cũng chỉ nên chào bằng tên họ, như là “Good morning, Mr. Smith. How do you do?” chứ không nên dùng chức vị. Nếu bạn nói tiếng Anh, thì nên có “How do you do?” trong câu chào như trên. Đây là cách chào trịnh trọng và quí phái, không phải là câu hỏi, nên không có câu trả lời. Ví dụ: Ông Smith và cô Brown gặp nhau. Ông Smith chào, “Good morning, Miss Brown. How do you do?” Cô Brown chào lại, “Good morning, Mr. Smith. How do you do?” Ngay cả khi người ta không nói “How do you do?” mình cũng có thể nói được.

Và khi một người ngoại quốc chào mình bằng tên họ, “Good morning, Ms. Trần,” mình nên cho phép họ gọi mình bằng first name cho thân mật, “Good morning, Mr. Smith. My first name is Xuân. Please call me Xuân, just plain Xuân.” Ngay khi người ta gọi mình bằng first name, nhưng lại có Mr. hay Miss trước, thì mình cũng có thể dùng câu trên để cho phép họ gọi mình chỉ là “Xuân” thân mật. Nhưng đừng tự động gọi họ bằng first name, cho đến khi họ cho phép mình rõ ràng. Và cũng đừng nên hỏi “May I call you by your first name?”

• Trong các cuộc họp đông người với quan chức Việt Nam có một lễ nghi đặc biệt, là mới gặp nhau bắt tay xong, hoặc ngồi xuống xong, là mọi người trao đổi danh thiếp. Điều này có lẽ sinh ra từ tiện nghi—phải làm thế thì mọi người mới biết ai là ai. Tuy nhiên, trong những cuộc họp ít người không nên làm thế. Dùng thời gian quý hóa “ban đầu” để nói chuyện “hâm nóng” một tí như là “Cám ơn anh. Em biết anh rất bận. Anh dành thời giờ cho em như thế này thật là quí hóa.”

Bắt tay

• Ngồi thì nên ngồi thoải mái, vắt chân thường rất tốt, nhưng không bao giờ nên tựa ra sau như là “tôi muốn tránh xa ông”, mà nên chồm người về phía trước theo kiểu “tôi muốn gần ông, tôi muốn chăm chú nghe ông nói.”

• Dù là loại họp nào thì mình cũng phải quan tâm đến điều người ta cần–nhu cầu gì, khó khăn gì, giới hạn gì–rồi sau đó mới tìm cách giải quyết được. Điều thân chủ cần trước tiên luôn luôn là một quân sư biết lắng nghe và hỏi. Chưa nghe kỹ và hỏi kỹ, mà đã cho câu trả lời và giới thiệu sản phẩm, thì đó là bán hàng rong, chứ không phải là việc của quân sư. Tất cả mọi thân chủ chỉ thích một loại quân sư—loại nghe kỹ và hỏi kỹ.

• Nếu thân chủ nói một câu có vẻ thử thách, “Sao em thấy trẻ quá vậy? Em ra trường lâu chưa?” thì trước hết là phải để ý rằng người bị thử thách hay rung đùi, hoặc nhịp bàn tay, hoặc vân vê các ngón tay, hoặc mỉm cười lạnh lùng, hoặc liếc mắt xuống đất. Phải tránh các điều này. Tập nghe các câu thử thách một cách tích cực, với ý nghĩa, “Anh muốn biết thêm một tí về em. Em nói đi.” Và mỉm cười trả lời rất vui, “Cám ơn anh. Em đi đâu cũng được khen trẻ. Em rất thích. Thực ra em ra trường cũng … năm rồi, và em đã làm một số dự án lớn cho FPT, Canon, Sony. Mấy dự án nầy đều có trong website của công ty em. Và em cũng không làm một mình anh ạ. Lại có cả một đội làm việc với em trong mọi dự án.”

• Khi nói chuyện thì để ý đến thân ngữ của thân chủ. Nếu ông ta không chú ý nhìn mình, mà lại liếc ngang liếc dọc, nhất là nhìn đồng hồ, thì hãy ngưng mọi chuyện và hỏi, “Hình như anh đang đợi gì đó ạ? Em có làm phiền anh không?” Câu này có rất nhiều ý. Thứ nhất, em xin lỗi nếu em đã phiền anh. Thứ hai, em rất ý tứ. Thứ ba, khi em nói thì anh phải lắng nghe, nếu không thì em không nói nữa. Thứ tư, nếu lúc này anh không nghe em được, thì em muốn biết để em xin cái hẹn khác, hoặc nói chuyện với với phụ tá của anh vậy. Dù là ý nào đi nữa, thì đó là một xi-nhan rất đứng đắn và chuyên nghiệp.

• Trước khi đứng dậy ra về, nhớ trao đổi danh thiếp. Nếu thân chủ đứng dậy bước ra, hãy chờ ông ta đến bước cửa trước, mình theo sau. Và đến cửa, thì người chủ thường đứng đó, mời mình bước ra cửa trước, lúc đó hãy bước ra. Các cử chỉ này chứng tỏ là, “Tôi thích ở lại đây càng lâu càng vui.”

• Cái bắt tay cuối cùng có thể như là cái bắt tay ban đầu. Nhưng bây giờ đã thân mật hơn được một tí, ta có thể dùng cách bắt hai tay rất hay của người Việt Nam—bắt một tay như bình thường, chắc chắn, và dùng bàn tay kia đặt lên trên chổ hai bàn tay đang bắt, rất ấm áp. Cách này nếu dùng với người tây phương thì cực hay. Dùng với người Việt cũng rất tốt, và dùng được cho cả người lớn hơn và nhỏ hơn.

Không nên, tay này bắt và tay kia nắm cổ tay người nọ. Cách bắt tay đó chỉ có thể dùng với bạn thân, hoặc là người dưới mình. Nếu thân chủ bắt tay kiểu đó, có nghĩa là ông ta xem mình như người dưới ông ta. Đó chưa hẳn là điều xấu, vì nó có thể là “em sẽ làm việc cho tôi” hay “tôi xem em như em của tôi.” Cứ theo hướng đó mà suy nghĩ.

• Nếu gặp người Thái Lan, thay vì bắt tay, nên chắp tay cúi đầu theo lối nhà Phật thì tốt hơn.

Nếu gặp phụ nữ Trung Đông, mà mình là đàn ông, thì nên hỏi trước: “May I shake your hand?” bởi vì Hồi giáo cấm phụ nữ bắt tay đàn ông. Và khi chào người Trung Đông, kể cả người không phải Hồi giáo, ta nên nói, “Assalamu Alaikum” (phát âm như tiếng Việt) (Bình an ở cùng anh), và người kia sẽ trả lời, “Wa alaikum assalam” (Và ở cùng anh).

• Dù là làm gì đi nữa, thì cũng nên nhớ câu “thần chú” đã nói trong bài Ngôn ngữ của thân thể: “Tất cả mọi điều ta làm ở bên ngoài đều phải được điều khiển từ trong tâm, thì mới có sức mạnh.” Trước khi vào gặp thân chủ, ta phải tập trung tư tưởng để nghĩ rằng, “Đây là người muốn mình cố vấn giúp đở, nhiệm vụ của mình là xem ông ta như là chủ của mình, phải hiểu được tất cả những khó khăn của ông ấy để giúp ông ấy.” Tức là, xem như mình là phụ tá tay phải của thân chủ; đừng nghĩ mình là người bán hàng. Chính tư tưởng này sẽ điều khiển mọi lời nói và cử chỉ của mình, kể cả ngôn ngữ thân thể.

Chúc các bạn một ngày vui vẻ,

Mến,

Hoành

Stumble It!

© Copyright 2009, TDH
Licensed for non-commercial use

Sinh trưởng của tri thức

growth
Chào các bạn,

Nhan đề đầu tiên mình dùng cho bài này là Trưởng thành của tri thức. Viết một tí mới thấy là “trưởng thành” chưa đủ nghĩa, mà phải là “sinh trưởng.” Ta không thể “trưởng” nếu ta không “sinh”. Sống mà như là “tử” thì không thể “trưởng” được (Dù là có trưởng tử 🙂 . Nhưng trưởng tử không sinh, thì cũng chỉ là tử trương có sình 🙂 ). Vì vậy, phải đổi nhan đề lại là Sinh trưởng của tri thức. Trưởng thành thực sự có nghĩa là sinh và trưởng. Nhưng, đâu là căn bản của sinh trưởng? Continue reading Sinh trưởng của tri thức

Giữ mình làm lãnh đạo

Gandhi -- The leader leads
Gandhi -- The leader leads

Chào các anh chị,

Chúng ta thường nghe “trưởng thành thành lãnh đạo” như là tiến trình của một người tăng kinh nghiệm và tăng chức vụ dần dần, và đến một lúc nào đó thì thành lãnh đạo. Như vậy, người ta nói đến một tiến trình “trưởng thành” như là “trưởng thành thành người lớn.” Nhưng mà, để mình nói cho các bạn nghe. Không có điều gì xa sự thật hơn thế. Ta không “trưởng thành” thành lãnh đạo. Ta phải giữ gìn bản tánh hiện tại của ta, như lúc này, để làm lãnh đạo.

Khi còn trẻ, ta năng động, lạc quan, thành thật và can đảm. Những điều này chính là các đặc tính lãnh đạo.

Và khi ta “trưởng thành”, ta được những người khác dạy những điều như “Phải khôn ngoan để sống”, (nghĩa là, phải biết tham ô như những kẻ tham ô quanh ta), hay “Một con én không làm được mùa xuân”, (nghĩa là, bạn chẳng có kilogram nào hết), hay “Đừng ngây thơ. Trưởng thành lên”, (nghĩa là, hãy học nói dối và gian lận), hay “Tốn thời giờ làm gì? Chẳng ai quan tâm cả !” (nghĩa là, hãy ích kỷ và lạnh lùng như nhiều người khác), và hàng triệu câu nói tiêu cực khác liên tục rót những quả bom công phá vào tai và vào tim óc chúng ta hằng ngày, cho đến lúc chúng ta “trưởng thành” thành một đám người tầm thường, tiêu cực, lờ đờ, hay, tệ hại hơn, thành một đám lãnh đạo ích kỷ, tham ô.

Nelson Mandela
Nelson Mandela

Vì vậy , khi được dạy ta sẽ “trưởng thành” thành lãnh đạo, chúng ta đã được dạy điều rất sai. Chúng ta phải giữ gìn bản tánh hiện tại của chúng ta—năng động, lạc quan, thành thật, can đảm—để trở thành lãnh đạo.

Thử thách là, làm thế nào để chúng ta đi trong đời mà không bại trận trước những giảng dạy tiêu cực thường xuyên của đời sống và của những người quanh ta, để giữ gìn con tim và khối óc nguyên vẹn như lúc ta còn học trung học hay đại học. Điều này nói dễ hơn làm. Rất nhiều sinh viên đại học nhiều tài năng và lý tưởng đã trở thành tiêu cực và lờ đờ những năm sau đó. Giữ gìn quả tim trẻ thơ để đi suốt cuộc đời là một nghệ thuật siêu việt, không mấy người đạt được.

Nếu bạn đã tốt nghiệp đại học nhiều năm trước, có lẽ là bạn không cần “học thêm” điều gì mới, nhưng cần “học bỏ” tất cả những tư tưởng tiêu cực đã thấm nhập lâu ngày, hầu trở thành một lãnh đạo tốt.

Thanh niên xung phong
Thanh niên xung phong

Nói đến đây tự nhiên mình nhớ đến câu trong Thánh kinh, “Phải như trẻ em mới vào được thiên đàng.” Thiên đàng, hoặc là niềm vui trong tâm mình, hoặc là cái đẹp trong mình làm cho người khác muốn theo, thì cũng chỉ đến từ trái tim trẻ thơ—năng động, tích cực, lạc quan, can đảm. Vì vậy, muốn thắng được phần thưởng cuối cùng, hãy gột bỏ các thấm nhuần “người lớn” và trở về với quả tim thơ trẻ.

Mình không có ý nói các bạn nên sống trong đời một cách ngớ ngẩn. Ta nên hiểu mọi trò xấu người ta làm, mọi siêu thủ đoạn người ta dùng để gạt nhau, mọi lời nói dối người ta có thể chế tạo, mọi phương thức trơn tru người ta dùng để đẩy một áp phe tham ô. Ta muốn hiểu tất cả các điều này, để khi bước trên mặt đất, ta biết được nơi nào có thể có bẫy, nơi nào có thể có gai. Nhưng ta muốn đối xử với tất cả những quỉ quái đó bằng quả tim dịu dàng, thành thật, can đảm và đầy tình yêu của một trẻ thơ.

Chỉ có các vị thầy siêu phàm mới làm được như vậy—Mahatma Gandhi, Nelson Mandela, v.v… Và họ là những thiên tài lãnh đạo.

Chúc các bạn một ngày vui vẻ.

Mến,

Hoành

PS: Bài này viết từ bài “Staying to be a leader,” bằng tiếng Anh, trên VNBIZ forum ngày 12 tháng 3 năm 2007.

Stumble It!

© Copyright 2009, TDH
Licensed for non-commercial use

Con đường hỏi gì?

trail-speak-1

Mỗi ngày chúng ta đi trên đường–đến trường, đi làm, tới văn phòng, đi chợ. Con đường có nói gì với bạn không?

Ở một thị trấn nhỏ bé tại Mỹ, anh Chapin Spencer và chị Rebecca Granis đặt tấm biển ngộ nghĩnh này “Điều gì bạn cho là tốt nhất để thị trấn Burlington của chúng ta tốt đẹp hơn” . Anh chị thu thập câu trả lời và đăng tại website: http://trailspeak.blogspot.com/

trail-speak-2

Đây là một câu chuyện đang diễn ra, ngay lúc này. Và có rất nhiều người tham gia trả lời 🙂

“Điều cụ thể nào tốt nhất để thành phố ta ở tốt đẹp hơn?”, “Điều gì để căn nhà ta ở tiện dụng hơn?”, “Điều gì để trường học ta tốt đẹp hơn?”.

Ta hãy bắt đầu bằng những câu hỏi tích cực, và ta sẽ có những câu trả lời tích cực. Đôi khi, câu trả lời không đến ngay tức thì. nhưng bạn đã thành người tích cực hơn chỉ với một câu hỏi. Và câu trả lời sẽ đến, đôi khi rất bất ngờ nếu ta tiếp tục hỏi.

Ngày hôm nay, chúng ta hãy hỏi một câu hỏi tích cực, bạn nhé.

“Điều cụ thể nào hay nhất để làm thành phố của bạn tốt hơn?”

Câu này đang là Câu Hỏi Tích Cực trên trang nhà của dotchuoinon.

Bạn có thể click vào đây để trả lời.

Chúc bạn một ngày tươi hồng!

Nguyễn Minh Hiển

Nhỏ và ấm

Thành phố Okazaki, tỉnh Aichi
Thành phố Okazaki, tỉnh Aichi

Tôi đến Nhật vào khoảng thời gian gần cuối mùa xuân. Lần đầu đi Nhật cũng là lần đầu tôi rời Việt Nam và sống xa gia đình. Chưa bao giờ rời Việt Nam, chưa bao giờ có kinh nghiệm sống ở nước ngoài, nên tâm trạng tôi đầy ắp hồi hộp, bồn chồn và lo lắng…

Ngày đầu tiên đến Nhật, tôi thật sự bị sốc văn hóa (culture shock). Cái gì cũng mới mẽ, lạ lẫm và xa lạ. Nơi tôi đến: một thành phố tỉnh lẽ , rất yên tĩnh – khác hẳn với không khí ồn ào náo nhiệt của Sài gòn. Ký túc xá tôi ở: xung quanh chỉ toàn người Nhật. Trông họ thật lanh lùng, và chẳng ai quan tâm đến việc tôi là ai, từ đâu đến.

Tàu Shinkansen Komachi đi Akita
Tàu Shinkansen Komachi đi Akita

Trường học rất đông các bạn nước ngoài, đa số đến từ Hàn Quốc, Hồng Kông, Đài Loan…nhưng không có người Việt (Có lẽ tôi là người Việt duy nhất lúc đó). Không bạn bè, không người thân, nên tuần đầu tiên tinh thần tôi xuống rất nhiều. Tuần thứ hai đúng vào kỳ nghỉ Tuần Lễ Vàng (Golden Week). Chẳng biết làm gì, tôi quyết định đi lên tỉnh Akita (một thành phố tỉnh lẽ miền núi, thuộc vùng Đông Bắc nước Nhật, cách nơi tôi ở khoảng 970km) gặp vài người quen (mà tôi quen biết trong thời gian họ ở Việt Nam), nhằm rủ bỏ tâm trạng nặng nề và tìm kiếm một chút ấm áp, chia sẻ.

Đến ga Tokyo vào buổi sáng, tôi rời tàu điện thường, và lên tàu Shinkansen Komachi để đi Akita. Sau một đêm di chuyển từ Nagoya lên Tokyo, tôi khá mệt mỏi và ủ rũ. Ngồi cạnh tôi là một anh người Nhật xa lạ. Nhìn thấy vẻ mặt mệt mỏi, buồn bã thiếu sức sống của tôi, đột nhiên anh ấy chủ động bắt chuyện, hỏi tôi từ đâu đến, là người nước nào (Từ lúc đến Nhật, đây là lần đầu tiên có một người Nhật bắt chuyện với tôi). Chỉ qua vài ba câu chào hỏi, anh ấy đưa tôi một bánh cơm nắm Onigiri và mời ăn sáng cùng. Cuộc trò chuyện dù ngắn ngủi nhưng làm tinh thần tôi phấn chấn hẳn lên. Tuy nhiên, để di chuyển đến Akita, tôi lại phải chuyển sang tàu khác. Biết tôi chẳng rành đường đi nước bước, anh ấy đã hướng dẫn tận tình, đưa tôi đến đúng chuyến tàu đi Akita rồi mới quay về…

Tĩnh Akita
Tỉnh Akita

Ngồi trên tàu đi đến Akita, tôi vẫn chưa hết ngạc nhiên về việc vừa xảy ra. Nó là một cái gì đó rất nhẹ nhàng, dịu dàng, giúp tôi trút hết mọi mệt mỏi và buồn chán. Ngày hôm ấy, đường đi Akita xa lắm, nhưng tôi cảm thấy rất gần và quen thuộc. Bên ngoài trời lạnh lắm, nhưng tôi lại cảm thấy lòng mình thật ấm áp vì nhận được sự chia sẻ rất tình người từ một người Nhật không quen biết, trên đất Nhật xa lạ.

Và rồi…cách đây một tuần, khi tôi đọc bài “Những giọt nước hôm nay” của anh Trần Đình Hoành, tôi lại nhớ lại câu chuyện ngày xưa trên tàu Komachi đi Akita. Tôi rất tâm đắc và thích câu trong bài viết của anh: “Small is beautiful – Nhỏ thì đẹp”.

Loan Subaru

Tranh luận là gì?

tranh luận Chào các bạn,

Trong thời đại @ có lẽ sinh hoạt tri thức nổi bật nhất là tranh luận trên Internet. Ngày trước, muốn tranh luận thì ta phải gặp nhau trong quán cà phê, và tranh luận cũng có giới hạn, vì còn phải vui vẻ uống cà phê với nhau. Ngày nay ta có thể tranh luận bất kỳ giờ nào trên mạng, và nhiều khi cũng bạo miệng (à không, bạo ngón tay) hơn, vì không có nhu cầu phải tĩnh lặng uống cà phê với người đang tranh luận. Điều này có nhiều hậu quả sâu xa. Các trao đổi thường xuyên trên Internet giúp cho kiến thức của ta gia tăng với vận tốc kỷ lục, và kiến thức mới mở thêm những chân trời mới cho mỗi người chúng ta cũng như cho đất nước. Trong bài này chúng ta sẽ lược qua vài điểm chính trong nghệ thuật tranh luận.

• Tranh luận là gì? Không nhất thiết cứ cãi nhau là có tranh luận. Tranh luận (argument) là (1) một chuỗi những câu nói (statements) liên hệ chặt chẽ nhau, (2) câu sau liên hệ lý luận chặt chẽ với câu trước, và (3) cả chuỗi câu nói nhằm mục đích chứng minh kết luận cuối cùng là đúng.

Cứ tung những câu nói bừa bãi qua lại, mà không cần đúng sai, đó không phải là tranh luận, mà là cãi nhau như con nít. Ví dụ: Reagan là tổng thống tồi. Không, ông ta là tổng thống hay nhất trong lịch sử Mỹ. Thôi đi, ông ấy chỉ là tài tử đóng phim hạng ba…

Điều quan trọng nhất cho người tranh luận là kết luận cuối cùng—tức là, quan điểm. Người đó phải có một quan điểm rõ ràng và tranh luận để bảo vệ quan điểm đó. Ví dụ: Cần phải tăng thuế VAT. Hay, cần đặt việc nâng cấp giáo chức như là ưu tiên một trong chính sách giáo dục. Người tranh luận đứng đắn luôn luôn có quan điểm và thường báo cho độc giả (hay khán giả) biết rõ lập trường của mình ngay từ lúc mình mới bắt đầu tranh luận. Ví dụ: “Tôi ủng hộ việc tăng thuế VAT vì những lý do sau đây.” Đây là “kết luận” hay “quan điểm”được đưa ra ngay từ đầu cuộc tranh luận, và các lý lẽ trình bày là những lý luận nhằm ủng hộ kết luận (quan điểm) đó.

Tại sao ta lại nói kết luận ngay từ đầu, mà lại không đợi đến kết cuộc mới kết luận. Thưa, vì lý do ta đã nói trong vài bài trước đây: Một tư tưởng hay một câu nói tự nó không có nghĩa lý gì cả; nó chỉ thực sự có ý nghĩa khi nó được dùng để phục vụ một mục đích, một kết luận, nào đó. Ví dụ: “Thống kê cho thấy các công ty của ta có mức lợi tức cao hơn các công ty tại các quốc gia lân cận.” Câu này tự nó chẳng có nghĩa lý gì hết (cho nên người nghe hay hỏi “Rồi sao?” hay “So what?”). Tuy nhiên, nếu người nghe đã biết trước là “anh này chủ trương tăng thuế lợi tức công ty,” thì người nghe hiểu ngay được sự quan trọng của câu nói này. Vì vậy, nếu ta không muốn bị “mất” khán/độc giả, và không muốn để họ “bị lạc” một giây đồng hồ nào, ta phải nêu rõ kết luận (quan điểm) ngay từ đầu, để họ hiểu rõ được từng lời mình nói. Đó gọi là “tập trung tư tưởng khán/độc giả.”

• Những người có tiếng nói trong một cuộc tranh luận nhưng không có lập trường rõ ràng, thường thuộc 2 nhóm. Nhóm thứ nhất là nhóm khán giả. Đôi khi một vài người nghe cần mình giải thích thêm một tí, họ có thể hỏi mình giải thích rõ thêm. Nhóm thứ hai là nhóm phá đám. Họ chỉ muốn tấn công người nói bằng đủ loại câu hỏi, chỉ để làm cho người nói mệt mỏi và người nghe lạc đường, hoặc chỉ để lòe người khác là họ “thông thái”, chứ không có lập trường nào khác. Nếu bạn gặp một người cứ ném vào bạn thường xuyên các câu tấn công như “Anh định nghĩa chữ này dùm”, “anh làm ơn cho thống kê chứng minh câu anh vừa nói”, “tại sao?” … đó là dấu hiệu anh ta là người phá đám. Dĩ nhiên, đây có thể là các câu hỏi rất hay, nếu chúng không bị lạm dụng. Nhưng chúng rất dễ bị lạm dụng để phá đám.

tranh luận Khi có cảm tưởng bị phá đám, ta có 3 cách để đối phó. Cách thứ nhất, ta chỉ cần hỏi lại: “Tôi thấy anh hỏi đã nhiều rồi. Trước khi tôi trả lời tiếp, anh làm ơn cho biết lập trường của anh là gì để chúng ta có thể bàn luận dễ dàng hơn? Anh ủng hộ tăng thuế hay giảm thuế?” Nếu người kia trả lời rõ lập trường, ví dụ “tôi chủ trương giảm thuế,” ta có thể tiếp theo ngay, “Vậy anh làm ơn cho biết những lý lẽ anh có để ủng hộ lập trường của anh.” Như vậy anh ta sẽ bận rộn bảo vệ lập trường của anh ta và không còn thời giờ để phá đám.

Thứ hai, đôi khi có người có lập trường và thích tranh luận, nhưng lập trường của họ hoàn toàn khác với lập trường của mình, và họ chỉ tranh luận để mình không yên ổn làm việc được. Ví dụ, một nhóm bạn thơ chỉ muốn uống cà phê thưởng thức thơ văn êm đềm, nhưng có một bạn nhất định phải đưa các vấn đề chính trị vào thơ và biến thơ thành tranh cãi chính trị. Ta nên nhắc nhẹ bạn ấy vài câu, nêu bạn ấy còn tiếp tục thì mời bạn ấy ra khỏi nhóm.

Thứ ba, đối với người chuyên môn phá mà không bao giờ muốn tranh luận với một lập trường rõ rệt, (thông thường là vì muốn chứng tỏ cái “thông thái” của mình), ta cứ lờ họ đi. Và nếu họ cứ nhất định lải nhải, ta đành mời họ ra ngoài.

• Một trong những quy luật căn bản nhất để tranh luận có hiệu quả tốt, là tranh luận phải nằm trong khung cảnh tương kính lẫn nhau. Cũng như lớp học phải có trật tự và yên lặng, nếu khung cảnh tương kính không có trong tranh luận, tranh luận sẽ trở thành những lạm dụng rẽ tiền, chẳng lợi gì cho ai cả, nếu không nói là có hại.

• Về phương diện kỹ thuật, dĩ nhiên là mỗi câu chúng ta nói ra phải hợp luận lý và tuân thủ các công thức lý luận cổ điển. Ta sẽ đi vào các công thức luận lý trong một dịp khác. Hôm nay ta chỉ nói đến công thức thông dụng nhất mà ai trong chúng ta cũng sữ dụng hằng ngày. Đó là tam đoạn luận, gồm 3 mệnh đề, như thí dụ sau. (1) Mọi người đều chết; (2) ông X là người; (3) vì vậy ông X sẽ chết. Đây là một tam đoạn luận suy diễn, tức là suy từ chuyện chung (“mọi người”) đến chuyện riêng (“ông X”). Hai câu đầu là 2 tiền đề , câu thứ ba là kết luận.

Mỗi ngày, ai trong chúng ta cũng dùng tam đoạn luận suy diễn rất nhiều, dù là ta nói gọn hơn và ta cũng không để ý đến. Ví dụ: “Dĩ nhiên là bà mít ướt rồi.” Câu này thực ra là cả một tam đoạn luận rút gọn lại chỉ còn một câu. Nếu bị hỏi ngược lại, “Tại sao anh nói tui mít ướt?” thì đương nhiên là ta phải trình bày rõ ràng thành ba câu, “(1) Đàn bà ai cũng mít ướt; (2) chị là đàn bà, (3) đương nhiên chị cũng mít ướt.” Dĩ nhiên, ai cũng thấy lý luận này sai vì tiền đề đầu tiên (“đàn bà ai cũng mít ướt”) không đúng. Vì vậy, thường là ta sẽ bị hỏi lại, “Ai nói với anh đàn bà ai cũng mít ướt?” Tới lúc này, nếu bạn là người thông thái, thì nên “Xin lỗi chị. Tui đùa hơi lỡ lời. Mai mốt sẽ không làm vậy nữa,” và không nên giải thích gì thêm nữa, vì càng giải thích thì bạn càng tự đào sâu cái hố cho chính mình. (Ở Mỹ, lầm lỗi về kỳ thị giới tính kiểu này là lầm lỗi cực lớn. Bạn sẽ bị đánh giá là rất thiếu giáo dục. Chỉ có xin lỗi thành khẩn ngay lập tức mới chứng tỏ được là mình người đứng đắn và trí tuệ).

tranh luận • Thí dụ trên cho thấy lầm lỗi thông thường nhất trong sữ dụng ngôn ngữ và lý luận là tổng quát hóa quá đáng—tức là dùng các từ có tính cách tuyệt đối. Người Việt ta gọi là “vơ đũa cả nắm.” Những từ nói đến “tất cả”, “mọi”, “toàn thể” thường là sai, không đáng tin. Các từ này làm cho người ta nghĩ rằng người nói rất ngớ ngẩn và không thể tin cẩn. Ví dụ: Hãy tưởng tượng một vị tổng thống nói trước 10 ngàn dân, “Tất cả công dân đều ủng hộ chính sách của tôi.” Chỉ cần một người la lớn lên, “Tôi không ủng hộ,” thì câu nói của ngài tổng thống trở thành ngớ ngẩn ngay. Vì vậy, ta nên đổi các từ này thành các từ có số lượng nhỏ hơn một tí như “đa số”, “phần đông”, “phần nhiều.” Như vậy vừa an toàn hơn, vừa đáng tin hơn.

Các từ liên hệ đến chữ “nhất” cũng thế. Ví dụ: Đây là người nổi tiếng nhất, quyển sách hay nhất, người đẹp nhất, hành động anh hùng nhất, v.v… Đây cũng là các từ tuyệt đối. Ngoại trừ quảng cáo thương mại thì không ai thèm bắt bẻ, người dùng từ các này thường được xem là ngớ ngẩn và không đáng tin. Hãy đổi lại thành “một trong những quyển sách được xem là hay nhất”, “một trong những người nổi tiếng nhất” v.v…

• Trong môn luận lý học, các giáo sư sẽ nói với bạn rằng những câu nói nhằm khích động cảm tính con người là những câu “sai luận lý” (fallacy), vì thường chúng chẳng liên hệ đến chuỗi luận lý tí nào cả (irrelevancy). Ví dụ: “Chúng ta không thể có những loại người gian ác ức hiếp người nghèo như thế. Phải kết tội hắn tối đa.” “À … à… ông công tố viên à. Câu hỏi ở đây là thân chủ tôi có vi phạm luật giao thông hay lái xe bất cẩn gây tai nạn không, chứ ăn nhập gì đến chuyện giàu nghèo?”

• Trên bình diện xã hội, khác với luận lý học thuần túy, ai trong chúng ta cũng biết là cảm tính của con người thường có tính cách quyết định. Nếu bạn nói mà nhiều người thương, thì nhiều người sẽ đồng ý với bạn. Nếu bạn nói, dù là hợp luận lý cách mấy, mà đa số không ưa bạn thì mọi người sẽ bất đồng ý.

Vì vậy, yêu người và người yêu mình rất quan trọng trong công tác biện luận. Nói đúng luận lý chỉ là bước sơ đẳng. Trình bày luận lý đó trong ngôn ngữ gần gũi với người nghe, với một cung cách gần gũi với người nghe, và có thể làm người nghe cùng cảm xúc với mình, đó mới thực sự là công việc thuyết phục.

• Tóm lại, hôm nay ta nói đến 4 điểm quan trọng nhất trong tranh luận. Thứ nhất, người tranh luận phải có một quan điểm rõ ràng, và nên cho mọi người (người tranh biện với mình và khán/độc giả) hiểu rõ quan điểm của mình ngay từ đầu. Thứ hai, tranh luận cần một khung cảnh tương kính lẫn nhau. Thứ ba, tránh các từ có tính cách tuyệt đối. Thứ tư, cần mọi người cùng xúc cảm với mình.

Một điều quan trọng nữa là, ta không chỉ tranh luận với người bất đồng ý kiến, mà thực ra ta tranh luận với người cùng ý kiến với mình thường xuyên hơn. Đó là chính là phản biện (counter-arguing). Muốn thực sự hiểu rõ một vấn đề, ta cần phải lý luận từ mọi hướng—hướng của ta và hướng đối nghịch. Trong một vụ kiện, hai luật sư của một bên thường tranh luận nhau, một người phe ta, một người đóng vai phe địch, chẳng khác gì võ sĩ tập trận. Nếu không tập đấu tranh như thế thì không thể nào thấy được điểm mạnh và điểm yếu của mình ở đâu. Hiện nay chúng ta thường nghe than vãn là vấn đề phản biện chính sách ở nước ta còn rất yếu. Đó cũng chính là lý do mà chính sách thường có khuyết điểm. Vậy thì, bạn có giúp được gì không? Dĩ nhiên là được. Hãy bắt đầu tích cực hơn trong các thảo luận về các vấn đề xã hội. Bắt đầu rất dễ dàng–chỉ cần lâu lâu ta nói một câu “cám ơn” và một chữ “tại sao.” Dễ quá, phải không các bạn?

Chúc các bạn một ngày vui vẻ.

Mến

Hoành

Stumble It!

© Copyright 2009, TDH
Licensed for non-commercial use

Xóa bỏ rào cản

Mặt nạ (Indonesia)
Mặt nạ (Indonesia)

Chào các bạn,

Khi người ta phải dập mình xin xỏ điều gì, người ta hay nói “xin mở lòng từ bi.” Khi nàng sầu đời, con tim của nàng “khép kín.” Khi nàng chưa có ai, nàng mang sợi giây chuyền với con tim và chìa khóa lủng lẳng bên cạnh. Thế nghĩa là, con tim của ta có cửa và có khóa, phải không các bạn? Vậy thì, con tim của bạn có cửa có khóa không? Nếu có, thì chúng đang mở hay đóng? Và, thực ra cửa và khóa là cái gì? Bạn hãy thử trả lời đi. Nếu không trả lời được thì nguy. Bởi vì nếu chính con tim của mình mà mình không hiểu rõ, thì phiền quá phải không?

Có lẽ là ta nên dùng một khái niệm khác dễ thấy hơn là cửa và chìa khóa. Hãy nói đến hàng rào phòng thủ vậy. Mỗi người chúng ta có đủ loại hàng rào phòng thủ cho đủ mọi loại người. Gặp người lạ thì ta đưa hàng rào ra, không nói nhiều. Có nói thì cũng chỉ là chuyện chung chung, không tiết lộ thông tin cá nhân. Gặp người ghét, thì đẩy hàng rào lên rất cao, không muốn nghe gì, cũng không muốn nói gì. Gặp người có lập trường khác mình, thì chỉ nói chuyện khi nằm dưới chiến hào, sau mấy lớp kẽm gai.

Đương nhiên là khi đứng sau hàng rào để nói chuyện với nhau, ta hiểu ý nhau theo kiểu “đối thoại qua rào”, từ hai chiến tuyến. Rất khó để hiểu nhau như đôi uyên ương đang thủ thỉ. Có nghĩa là, trong những giao tiếp sau hàng rào, cơ hội để người ta hiểu nhau và gần gũi nhau xuống gần đến zero, và cũng rất có thể là số âm, tức là con số của các hiểu lầm trong liên hệ hằng ngày.

Các điều này rất dễ hiểu, nhưng đến một mức tế nhị hơn, thì khó thấy hơn một tí. Ví dụ, nhiều người ở trong một diễn đàn Internet cả bao nhiêu năm, nhưng không ai biết người đó hiện diện. Hàng rào ảo (cyber-fence, virtual-fence) quá cao, cho nên có mặt đó, nhưng không thể cho ai thấy mặt. Có người thì cũng thảo luận thường xuyên nhưng hầu như người ta chẳng biết gì về anh ta cả, vì anh ta không bao giờ nói gì về mình. Có nói thì chỉ là nói chuyện khác-mình, như là chính trị, xã hội, kinh tế. Giống như là môt computer nói chuyện.

Internet là một ví dụ sống động vì nó cho chúng ta thấy ta rất gần nhau nhưng cũng rất xa nhau. Bên ngoài Internet thì tình trạng chẳng khá hơn. Bao nhiêu người trong chúng ta nói gì với anh hàng xóm sâu xa hơn là ai thắng trận bóng hôm nay? Hay câu hỏi công thức, “Chào anh, anh khỏe không?”

Mặt nạ (Da Đỏ)
Mặt nạ (Da Đỏ)

Và bao nhiêu lần trong một tuần, chúng ta có chuyện hiểu lầm trong công việc chỉ vì ông nói gà bà hiểu vịt? Và trên Internet, dĩ nhiên là mức độ hiểu lầm, hoặc không chịu hiểu nhau, còn cao hơn đời sống bên ngoài rất nhiều.

Sở dĩ thế là vì các hàng rào có khả năng ngặn chận sự hiểu biết và gia tăng hiểu lầm giữa các cá nhân. Tại sao vậy? Thưa, tại vì mỗi câu nói tự nó không có nghĩa lý chính xác. Nghĩa lý của mỗi câu nói lệ thuộc nặng nề vào ai nói, và nói trong hoàn cảnh nào. Ví dụ: “Tôi không thích chuyện đó.” Nếu câu này đến từ miệng một cô bé đi xe máy mới bị bạn chạm nhẹ ở bánh sau, nó hoàn toàn khác với cùng một câu nói nhưng phát ra từ miệng của một tên cướp đang dí dao vào cổ bạn khảo tiền.

Những người luôn luôn tự gói mình bên trong hàng rào, thường rất yếu về truyền thông (communication). Trong lúc đối thoại, họ thường không hiểu đúng ý người nói, và cũng không nói ra được chính xác điều họ muốn nói. Vì vậy người đối thoại với họ rất hay hiểu lầm ý họ. Cái yếu của những người này có hai lý do. Thứ nhất, thiếu thực tập. Những người nhiều hàng rào thường ít nói chuyện, nên khi nói thường hay gây hiểu lầm, vì không giỏi sử dụng ngôn ngữ. Thứ hai, không có đồng cảm. Đồng cảm thì dễ hiểu nhau. Nhưng người nhiều hàng rào thì không đồng cảm được với mấy ai.

Vì vậy muốn gia tăng khả năng truyền thông ta phải gia tăng hai điều: (1) Đồng cảm , và (2) khả năng sử dụng ngôn ngữ–tức là khả năng (a) nói và (b) nghe. Tất cả các điều ngày có thể đạt được bằng cách xóa bỏ hàng rào quanh ta, và trò chuyện với người chung quanh thường xuyên hơn và cởi mở hơn.

Xóa bỏ bằng cách nào?

1. Rất giản dị, chỉ cần bạn nói nhiều hơn về những cảm xúc trong lòng bạn, với mọi người chung quanh. Cách hay nhất và dễ nhất mà tất cả mọi chúng ta đều nên thực tập là những câu khen tặng và cám ơn, vì những lời này không những là dễ nói mà còn là hoa trái cuộc đời. Chúng làm cho người nghe vui thêm và người nói vui thêm. Chúng làm cho cuộc đời đẹp thêm, và ảnh hưởng đến mọi người như vitamin trong ngày. Trong văn hóa Việt, trừng phạt và phê phán xảy ra thường xuyên hơn khen tặng. Sao lại thế? Chúng ta cần phải thay đổi con người của mình và góp phần tích cực, mỗi phút trong mỗi ngày, đưa văn hóa nước nhà đến một hướng tích cực hơn.

2. Cao hơn một tí, ta chia sẻ xúc cảm của ta với người chung quanh. Cái gì làm mình buồn? Cái gì làm mình vui? Mình bất bình về việc gì và vui với việc gì trong xã hội? Nói chung là làm cho người khác hiểu lòng mình hơn. Chỉ có một cách kéo mọi người đến gần mình là mở lòng mình ra để họ hiểu mình hơn. Chẳng còn có cách nào khác. Mình càng nhiều rào cản, thì người quen càng phải đứng xa mình, ngoài rào. Giản dị thế thôi.

Tâm sự
Tâm sự

Nhưng mở rộng lòng mình là một thử thách, phải không các bạn? Bởi vì chúng ta thường có ấn tượng là nếu chúng ta mở lòng, chúng ta sẽ dễ bị tổn thương, dễ bị tấn công. Đa số chúng ta nấp sau chức vị và công việc. Đã là giám đốc, đi đâu cũng phải “ăn nói như ông giám đốc.” Hay là luôn luôn nấp sau khuôn mặt nghiêm trọng, lạnh lùng, ít nói ít cười. Hay là đằng sau những cười nói giả tạo. Tại sao mình cứ không là mình? Tại sao mình ở nhà và mình ở sở là hai người hoàn toàn khác nhau? Dĩ nhiên là ở sở thì không tự do ở trần như ở nhà, và ăn nói cũng chặt chẽ hơn một tí. Nhưng một người, với hai cách hành xử hơi khác nhau ở sở và nhà, vẫn không phải là hai người biệt lập, khác nhau hoàn toàn, phải không các bạn?

Hơn nữa lý thuyết rằng, càng mở lòng ta càng dễ bị tấn công, không đúng trong thực tế, vì hai lý do. Thứ nhất, những người mở lòng thường xuyên với mọi người, thường rất giỏi về truyền thông và liên hệ, họ không dễ bị đả thương. Thứ hai, họ có nhiều bạn hơn thù. Rất khó đả thương người có nhiều bạn hơn thù.

Mình không có ý nói là đi đâu cũng không giữ ý, giữ tứ, bạ đâu nói đó vì “tui thẳng như ruột ngựa.” Thành thật không có nghĩa là ăn nói thiếu lịch sự và tế nhị. Người ăn nói tế nhị ý tứ, dùng ngôn ngữ làm mát lòng người, khác với người lúc nào cũng lặng câm sau mớ rào cản, hay là người đi đâu cũng xúc phạm người khác.

Mình cũng không có ý nói là bạn phải lớ ngớ đến mức gặp ai cũng tin, ai nói gì cũng tin. Xã hội có nhiều người không thành thật. Bạn không nên đi xe ôm ban đêm qua những con đường vắng. Không nên cho người lạ địa chỉ nhà. Nhưng, không tin người không có nghĩa là mình không dịu dàng và thân ái với mọi người.

3. Một mức cao hơn nữa để mở lòng mình là tham dự vào các thảo luận công cộng và các dự án cộng đồng. Nhưng mức này thực sự chỉ có thể tốt nếu chúng ta đã làm được 2 bước đầu. Nếu trong liên hệ với những người chung quanh, ta lạnh lùng, đóng kín và thiếu thành thật, thì có lẽ là các tham dự của ta vào các công việc cộng đồng chỉ có hại nhiều hơn là xây dựng. Con người chúng ta không thể thân ái với xã hội khi ta không thể thân ái với những người quanh ta hằng ngày.

Nói thì dài nhưng vấn đề thực ra rất đơn giản. Muốn thành công ở đời, chúng ta phải có nhiều bạn, và giỏi truyền thông. Muốn giỏi truyền thông ta phải truyền thông nhiều, tức là nói chuyện với mọi người nhiều. Muốn có nhiều bạn ta phải mở lòng mình ra, đừng kéo bao nhiêu dãy hàng rào bao bọc quanh mình. Người Việt ta gọi đó là “người cởi mở.” Và tính cởi mở liên hệ trực tiếp đến óc thông minh. Nếu bạn cởi mở và thân thiện với mọi người, người ta nói 1 bạn hiểu 10. Ngược lại, với người đứng sau hàng rào, người ta nói 10 mình hiểu 1. Thành ra, người cởi mở luôn luôn thông thái và nhanh nhẹn hơn người không cởi mở. Vì vậy, họ dễ thành công hơn. Và trên phương diện xã hội học, mỗi người chúng ta càng có nhiều bạn thân, xã hội chúng ta càng thêm cường thịnh.

Chúc các bạn một ngày vui vẻ.

Mến,

Hoành

Stumble It!

© Copyright 2009, TDH
Licensed for non-commercial use

Bản chất của thành công

Hà Minh Ngọc
Hà Minh Ngọc
Chào các bạn,

Đây là câu chuyện về một bài văn đã làm xôn xao dân mạng và báo chí Việt Nam 3 năm về trước. Bài văn do Hà Minh Ngọc, một cô bé 15 tuổi, viết. Mình được hân hạnh là người đầu tiên giới thiệu bài văn đó cho thế giới trên mạng Internet, và từ đó bài văn trở thành một huyền thoại tự chính nó. Nhân Ngày Quốc Tế Phụ Nữ, mình muốn kể lại câu chuyện này, để làm quà đến các chị, và đến cả các anh, vì trong bài văn Ngọc có nói đến các anh và ngày Quốc Tế Phụ Nữ.

2 tháng mười 2006

Anh Hà văn Thúy, thành viên diễn đàn VNBIZ (do mình sáng lập và điều khiển) gửi mình một lá thư:

Dear Anh Hoành,

Anh Hoành ơi, tôi rất thích bài viết của Anh. Tôi cũng hay đọc và giữ một số bài viết tôi thấy thích, nhân dịp này tôi xin gửi Anh một bài của một bạn còn rất trẻ. Anh thấy thế nào?

Rất mong được gặp Anh trong những ngày tới, khi Anh ở Việt Nam.

Kinh chúc Anh nhiều sức khỏe và hạnh phúc.

• Nhận được thư mình đọc ngay, và vài phút sau, mình trả lời anh Thúy:

Chào anh Thúy,

Cám ơn anh đã gửi cho mình bài viết rất hay. Cô bé (hay cậu bé) này có trình độ ngôn ngữ rất cao, và sự suy nghĩ thật là sâu sắc. Minh Ngọc có sự hiểu biết rất sâu về tinh cảm và liên hệ con người. Amazing!

Sao anh không gửi lên VNBIZ để chia sẻ với các bạn? Hay là mình forward lên đó vậy. Được không, anh Thúy?



• Khoảng 7 tiếng đồng hồ sau anh Thúy trả lời (nửa tiếng Anh nửa tiếng Việt—các từ tiếng Anh đã được chuyển sang tiếng Việt dưới đây):


Cám ơn anh đã trả lời rất nhanh. Tôi mới nói chuyện với Minh Ngọc, học sinh 15 tuổi. Tôi đã thuyết phục và cháu đồng ý nếu tôi gửi lên VNBIZ, nhưng bẽn lẽn nói rằng không phải ý kiến của cháu đề nghị gửi lên web.

Tôi thấy rằng gửi để chia sẻ với các bạn sẽ tốt … Vì vậy tôi nhờ anh Hoành nhé.


• Mình liền gửi ngay bài văn của Minh Ngọc lên VNBIZ, với lời giới thiệu (bằng tiếng Anh):

Chào các anh chị,

Mình rất vui thích được giới thiệu đến các anh chị bài văn tuyệt vời có tên “Bản chất của thành công.”

Thành công là gì? Làm thế nào để ta định nghĩa thành công cho chính ta? Qua một số tình cảnh khác nhau, tác giả của bài văn này định nghĩa thành công một cách rất tự chủ và tích cực. Cô ấy biểu hiện một hiểu biết sâu sắc về cảm tính của con người, các giá trị nhân bản, và các liên hệ giữa con người. Thật là một quả tim rộng và một trí óc lớn kết hợp nhau.

Các anh chị sẽ ngạc nhiên thích thú khi biết rằng tác giả là một học sinh lớp 10 mới 15 tuổi. Tên của cô bé là Hà Minh Ngọc, con của anh Hà văn Thúy, một thành viên thâm niên của VNBIZ. Anh Thúy làm việc cho Bộ Y Tế, phụ trách các vấn đề y tế tại Tây Nguyên. Bài văn của Minh Ngọc là để trả lời đề thi ở trường: “Một bài học sâu sắc, ý nghĩa mà cuộc sống đã tặng cho em.”

Người phụ nữ trẻ trung này chắc chắn có mầm mống của một nhà tư tưởng lớn và một nhà văn lớn. Tôi rât trông mong thấy ngày cô bé bùng phát cao thâm.

Cám ơn anh Thúy đã cho phép mình chia sẻ với các bạn. Mình biết Minh Ngọc e thẹn về việc này, nhưng đây là một bài văn rất hay, nên được chia sẻ với mọi người.

Vì Minh Ngọc không có địa chỉ email, anh chị nào muốn viết cho cô bé, xin gửi đến anh Thúy tại …
Bài văn viết bằng tiếng Việt và đính kèm đây trong 4 jip files.

Hãy tận hưởng nó!

Hoành

Sau đó:

Những ngày sau đó bài văn được chuyền tay ồ ạt trên mạng Internet, cho đến 22 ngày sau đó…

24 tháng 10, 2006

Báo Tuổi Trẻ: Bài văn làm xôn xao dân mạng

Báo Tuổi Trẻ: Những lời cám ơn cho một bài văn

25 tháng 10, 2006

Báo Tuổi Trẻ: Gặp tác giả bài văn làm xôn xao dân mạng

Sau đây là nguyên bản của bài văn, viết tay trong lớp học.

Chúc các bạn một ngày vui vẻ.

Mến,
Hoành
.

Lý luận phân tích: Tổng hợp

Nhà lego
Nhà lego
Chào các bạn,

Ta đã lược qua phân tích, hôm nay ta nói đến gian đoạn cuối của tiến tình phân tích, tức là tổng hợp. Tổng hợp có thể tạm gọi là “kết luận.” Đó là câu nói mà người ta hay nói trong cuối mỗi buổi hội thảo: “Tóm lại…”

Nhiều người thường tưởng lầm rằng tổng hợp là một loại suy luận khác với phân tích, nhưng thực ra nó là một phần của tiến trình phân tích vì, cũng như sau khi rã máy thì người kỹ sư phải ráp máy lại, người làm công việc suy tưởng phải tổng hợp tư tưởng sau khi đã phân tích. Nếu phân tích mà không tổng hợp, thì nó thường là nói nhăng nói cuội, mà ta hay thấy trong nhiều cuộc tranh luận.

• Tư tưởng hoạt động giống như các khối Lego mà trẻ em hay dùng để chơi trò chơi xây dựng—ráp các khối lego lớn nhỏ đủ màu thành nhà, xe, máy bay, tàu ngầm, và tất cả hình thù gì các em có thể tưởng tượng ra. Tổng hợp chính là mang những tư tưởng rời rạc mà ta có trong giai đoạn phân tích và ráp nó thành một sản phẩm. Sản phẩm đó có thể là một một kết luận về một sự thực, như ai có lỗi trong vụ này và lỗi nhiều hay ít ra sao, hay các nguyên do gây ra một cơn bệnh. Sản phẩm đó có thể có thêm đề nghị về các phương thức giải quyết vấn đề. Sản phẩm đó cũng cũng có thể là một mô hình hoàn toàn mới cho một dự án hoàn toàn mới.

Vấn đề rất nhiều người gặp phải là trong tiến trình phân tích họ đã đi qua hằng chục cây số đường quanh co, thu nhặt hằng ngàn mảnh vụn tư tưởng lớn nhỏ, và giờ đây trong đầu họ chỉ là một đống tư tưởng hỗn độn vĩ đại, không biết phải làm gì với những mảnh vụn đó. Và đây cũng là vấn đề ta thường gặp trên Internet, khi vài vị tranh luận từ Bangkok qua Paris, Moscow, Dubai, vô đến các rừng rậm Amazon, rồi ngưng ngang, sau khu đã đủ mệt và đã làm cho rất nhiều người khó chịu, và chẳng ai, kể cả người viết, có được kết luận gì hết, hay hiểu được gì hết.

• Nói thế để chúng ta thấy, tổng hợp, giai đoạn cuối cùng của phân tích, mới thực sự là sáng tạo. Các phân tích trước đó chỉ là khám phá và lượm nhặt. Tổng hợp là dùng những gì mình nhặt được để làm ra một sản phẩm mới. Vậy thì, điều quan trọng nhất của tổng hợp là ta muốn có sản phẩm gì. Ta muốn dùng các khối lego để xây cái gì—nhà, xe, hay máy bay? Ý muốn về một sản phẩm là chính là yếu tố quyết định tổng hợp. Nếu ta không biết ta muốn cái gì—theo kiểu lâu lâu thẩy một câu hỏi ra để có chuyện cãi nhau với thiên hạ–thì mọi phân tích đều chỉ tốn thời giờ vô ích.

Lâu đài Excalibur bằng lego
Lâu đài Excalibur bằng lego
Ví dụ về tệ nan mãi dâm, ta muốn gì trong tiến tình phân tích? Ta muốn viết một tờ trình lên thủ tướng về các nguyên nhân mãi dâm? Môt tờ tình vừa kể nguyên nhân vừa đề nghị giải pháp? Hay ta muốn viết một bài tấn công các quí vị đàn ông mua hoa? Hay một bài phê bình thái độ không công bình của xã hội về việc khắt khe với nữ giới và rộng rãi với nam giới về các vấn đề tình dục? Hay một bài kể tội công an? Hay kể tội chính quyền địa phương? Hay viết bài ủng hộ việc hợp pháp hóa kỹ nghệ mãi dâm? Hay đề nghị dự án hướng nghiệp cho chị em ta? Hay sửa đổi hình luật để chú trọng vào khách mua hoa hơn? Nói chung, ta có thể có cả hằng trăm mục đích khác nhau. Và dù là mục đích nào đi nữa, thì ta cũng chỉ dùng một nguồn nguyên liệu, đó là đống tư tưởng ta đã thu lượm được trong tiến trình phân tích.

• Vậy thì, các mảnh vụn tư tưởng mà ta tìm được trong tiến trình phân tích tự chúng không có ý nghĩa gì cả. Chúng chỉ có ý nghĩa khi được sắp xếp để phục vụ mục đích của tổng hợp. Ví dụ: Cùng một dữ kiện “mãi dâm càng ngày càng gia tăng”, người thì dùng nó để cổ vũ việc gia tăng ngăn chận mãi dâm, người lại dùng nó để cổ vũ việc hợp pháp hóa mãi dâm. Cả hai người này có mục đích gần chỏi nhau 100%, nhưng lại dùng cùng một dữ kiện để lý luận. Một khối lego tự nó chẳng có ý nghĩa gì cả–nếu dùng xây nhà thì nó là lego xây nhà, nếu dùng để xây cầu thì nó thành lego xây cầu.

• Bởi vì vậy, ta phải có mục đích trước, sau đó ta mới thực sự hiểu được nghĩa lý của tư tưởng. Ví dụ: Kho lưu trữ thống kê của nhà nước chẳng có nghĩa lý gì hết. Nếu ta dự định đọc tài liệu thống kê để tìm ra biện pháp gia tăng phát triển kinh tế, thì các thống kê sẽ sống dậy như một đoàn quân giúp ta phát triển. Ngược lại, nếu ta có chủ đích tìm thống khê để phê phán nhà nước bất tài, thì thống kê cũng sẽ đứng dậy giúp ta làm việc này.

• Hơn thế nữa, không phải là đợi đến khi phân tích xong, mà trong nhiều trường hợp, ta phải có mục đích của tổng hợp ngay cả trước khi phân tích. Ví dụ: Ta mở một cuộc họp cho một số viên chức các bộ để tìm phương thức ngăn chặn mãi dâm. Trong cuộc họp này, mọi người phân tích vấn đề với chủ đích ngăn chận mãi dâm, cho nên các phân tích về hướng khuyến khích mãi dâm, hay xa đề quá như vai trò mãi dâm trong các tôn giáo thời cổ sử, sẽ xem như nằm ngoài chương trình thảo luận (để khỏi tốn thời gian). Một cuộc họp như vậy sẽ không bị tốn thời gian nói lòng vòng quá nhiều, ngược lại nó cũng có thể giới hạn óc sáng tạo phần nào, vì nó giới hạn tự do “lang thang” của phân tích. Đây là quyết định quản lý, muốn dành thời giờ bao lâu cho phân tích “lang thang.”

Cá mập lego
Cá mập lego

• Dĩ nhiên ngưởi ta có thể để tư tưởng đi lang thang trong một tiến trình phân tích vô chủ đề và vô giới hạn về thời gian, và chẳng quan tâm đến tổng hợp hay không—khi nào nó đến thì đến. Cách suy tư này thường gặp trong các triết gia và thi sĩ (là các quí vị không biết quí thời gian :-)). Nhưng trong các vấn đề xã hội hằng ngày, ta cần một muc đích để tập trung tư tưởng và để quản lý thời gian. Vì vậy, mục đích của toàn tiến trình tư tưởng phân tích và tổng hợp thường được đặt ra ngay từ đầu.

• Thông thường trong thế giới thương mại, phân tích và tổng hợp thường được sử dụng như sau: (1) Trưởng nhóm gọi một cuộc họp để mọi người động não (brainstorm) về, chẳng hạn, sáng tạo một đồ chơi mới cho trẻ em 6 tuổi cho mùa giáng sinh tới. Trong cuộc động não này, chỉ có phân tích và không có tổng hợp. Thành viên tha hồ nói ra bất kỳ ý tưởng nào đến trong đầu, không cần biết đúng sai, tốt xấu. Hoàn toàn không có vấn đề định giá. Cứ nghĩ đến điều gì là nói ra, và ai nói ra điều gì mọi người khác ghi lại điều đó. Động não như thế có thể kéo dài nhiều buổi họp. (2) Bắt đầu làm tổng hợp đầu tiên, lấy ra giữa hàng chục đề nghị vài ba đề nghị có vẻ hay nhất, rồi tiếp tục động não (phân tích), tập trung vào các đề nghị đó. (3) Tổng hợp một lần nữa bằng cách định giá vài đề nghị còn lại để lựa ra đề nghị xem là tốt nhất. Rồi tiếp tục động não (phân tích) về đề nghị cuối cùng này. (4) Tổng hợp để viết lên một chương trình làm việc cụ thể để tạo ra sản phẩm mẫu đầu tiên.

• Nói chung là phân tích và tổng hợp nối tiếp nhau trong một tiến trình suy tư sáng tạo. Và tiến trình này thường được hướng dẫn bằng một mục tiêu đầu tiên. Tiến trình phân tích tổng hợp càng tiến xa thì mục tiêu đầu tiên càng được cụ thể hóa. Cho đến cuối tiến trình thì mục tiêu—là ngôi sao hướng dẫn tiến trình—lại được tiến trình làm cho cụ thể hơn và sáng sủa hơn. Có nghĩa là mục tiêu hướng dẫn tiến trình, nhưng tiến trình cũng hướng dẫn mục tiêu. Cả hai đều rất uyển chuyển trong suốt tiến trình sáng tạo.

Chúc anh chị một ngày vui vẻ.

Mến,

Hoành

Stumble It!

© Copyright 2009, TDH
Licensed for non-commercial use

Lý luận phân tích: Tại sao?

Why?
Why?

Chào các bạn,

Hôm qua chúng ta nói đến 6 câu hỏi căn bản của tiến trình phân tích lý luận: 5W1H—what, where, when, who, why và how. Hôm nay chúng ta sẽ bàn đến câu hỏi quan trọng nhất trong 6 câu này—Why? Tại sao?

Nhiều năm về trước, ngày nào cũng có một cô bé láng giềng bốn tuổi, tên là Jenny, vào nhà mình chơi. Cô bé này chỉ nói có một chữ “why”, cho nên mỗi lần nói chuyện với cô bé là một thử thách trí tuệ cực kỳ lớn. Chào Jenny. Why? À tôi muốn hỏi em hôm nay thế nào. Why? Vì tôi quan tâm đến em. Why? Vì em dễ thương. Why? Vì trời làm em dễ thương. Why? Vì trời thích làm như thế. Why? Hmm… hmm… cũng chẳng biết tại sao trời thích thế. Why? Hmm… vì chẳng nghe ông ấy nói gì. Why? Hmm… vì có gặp ông ấy đâu. Why? Chẳng biết cách gặp. Why? Chưa tìm ra cách gặp. Why? ….

Đại khái là các cuộc đàm thoại thường xảy ra như thế. Mình hay nói đùa lúc đó: “Cô bé này là Socrates tái sinh, hằng ngày vào nhà thử thách mình đây.” Ai đó đã định nghĩa triết gia là người nhìn cuộc đời với đôi mắt bỡ ngỡ của một bé thơ. Thật là chính xác! Bao nhiêu nghìn năm tư tưởng triết lý và khoa học của con người chung quy cũng bắt đầu bằng một câu hỏi—Tại sao? Tại sao tôi ở đây? Tại sao có trời? Tại sao có đất? Tại sao bệnh? Tại sao gầy? Tại sao béo? Tại sao em học giỏi? Tại sao em học dốt? Tại sao nước ấy giàu? Tại sao nước ta nghèo? Tại sao thế giới nhiều chinh chiến?

“Tại sao” là câu hỏi cốt lõi nhất của tư duy con người, vì nó là mặt trái của một đồng tiền cắc, mà mặt kia là định luật căn bản chi phối tất cả các hiện tượng khoa học, kinh tế, xã hôi, triết lý, tâm lý… của con người—liên hệ giữa nguyên nhân và hậu quả (the causal relationship, the relationship between cause and effect): Bất kỳ điều gì trên đời cũng có nguyên nhân của nó. Muốn sửa chữa hay thay đổỉ một tình trạng hay một vấn đề nào đó, ta phải biết rõ nguyên nhân đã sinh ra nó. Nếu không thì cũng như người bị mặt mụn vì gan yếu nhưng cứ mua calcium uống hằng ngày (cho khỏe xương).

Why!
Why?!!

Biết được cái gì là nguyên nhân của cái gì, không phải là một việc dễ. Hỏi các thầy thuốc thì biết ngay. Vì thế mà có thầy thuốc hay và thầy thuốc dở. Có 2 loại khó khăn trong việc tìm liên hệ nhân quả. (1) Thứ nhất là không thấy được nhuyên nhân. Rất nhiều khi ta nghe các bác sĩ nói, “Bệnh này thì chúng tôi đành bó tay vì không biết cái gì sinh ra nó.” (2) Thứ hai là lẫn lộn giữa nguyên nhân và hậu quả. Con gà có trước cái trứng, hay cái trứng có trước con gà? Giáo chức làm hỏng chính sách giáo dục, hay chính sách giáo dục làm hỏng giáo chức? Vấn đề lại càng phức tạp hơn khi nguyên nhân và hậu quả có thể ảnh hưởng hỗ tương trong một vòng tròn, như thường xảy ra trong các hiện tượng xã hội: Chính sánh có chỗ hơi yếu vì thế làm yếu giáo chức, giáo chức yếu làm chính sách càng tồi thêm, chính sách tồi tệ lại làm cho giáo chức càng thêm xuống dốc, giáo chức càng xuống dốc lại càng phá hoại chính sách. Cái vòng lẩn quẫn cay nghiệt này cứ xoay quanh người ta như một vòng tù và người ta không thể nào thoát ra được.

Rất thường khi ta lại bị choáng ngợp vì thấy có quá nhiều nguyên nhân cho một vấn đề, cho đến nỗi không biết giải quyết cách nào. Ví dụ, tệ nạn mãi dâm sinh ra vì các cô ít học vô nghề, các cô bị dẫn dụ, các cô bị bắt cóc bán, dễ làm ra tiền, khách mua dâm nhiều, khách mua dâm không bị trừng phạt, văn hóa kết án người bán nhưng không kết án người mua, đạo đức sinh lý của các ông thấp, công an bị các mạng mãi dâm mua, không có nơi thuê các cô làm việc lương thiện với mức lương sống được, v.v… Tìm ra được tất cả nguyên nhân, biết được nguyên nhân nào mạnh nhất, nguyên nhân nào yếu nhất, nguyên nhân nào xa, nguyên nhân nào gần, nguyên nhân nào cần gì để giải quyết… không phải là một việc dễ.

Tất cả mọi hiện tượng của con người—chính trị, xã hội, kinh tế, giáo dục, tâm lý, triết lý, văn hóa, nghệ thuật—đều có thể sửa đổi được theo hướng ta muốn nếu ta tìm ra đúng nguyên nhân, hay nói đúng hơn là tìm ra đúng liên hệ nhân quả. Và thực ra, mọi bất đồng của con người, thường thì cũng chỉ là những bất đồng về giải pháp—người này đảng này thì cho là giải pháp này đúng, người kia đảng kia thì cho là giải pháp kia đúng. Và các bất đồng về giải pháp thực ra cũng chỉ là bất đồng về phân tích liên hệ nhân quả–cái gì mới thực là nguyên nhân, và cái gì mới là nguyên nhân mạnh nhất.

Why huh?
Why huh?

Tất cả mọi điều này đến chỉ từ một chữ “tại sao?” Và tất cả các câu hỏi khác (chuyện gi? ở đâu? lúc nào? ai? thế nào?) thực ra là cũng chỉ hỗ trợ cho “tại sao?”. Ví dụ: Anh nói với tôi lúc 5 giờ chiều (when) anh đang chơi bi da ở Bình Minh (where) với một ngưởi bạn tên Bằng (who), TẠI SAO bà Bình Minh (who) không có trong sổ sách là anh chơi ở đó, anh cũng không biết tên Bằng giờ ở đâu, và cô chủ tạp hóa Hồng (who) cách nơi bị trộm 5 căn nhà (where) [cách bida Bình Minh 5 km] nói là anh có vào mua gói 555 lúc 5 giờ 5 phút (when)? Ta thấy, trong câu hỏi này “tại sao” là móc nối giữ hai hiện tượng khác nhau để cho ta thấy chúng có thể ăn khớp nhau (nhân quả) một cách hợp lý, hay là phản nhau một cách phi lý. Và nhờ đó ta biết được thật giả, đúng sai.

Vì vậy tât cả lý luận phân tích có thể dồn vào một câu hỏi “tại sao ?” “Tại sao” là con đường khám phá sự thật, là giềng mối của sáng tạo. Chỉ một chữ “tại sao” có thể cho ta khám phá biết bao vấn đề và biết bao giải pháp. Tại sao sinh viên học sinh thiếu sáng tạo? Tại sao giáo chức thiếu năng động? Tại sao quan chức hay lạm quyền? Tại sao báo chí thiếu sức mạnh? Tại sao trong chiến tranh ta đánh đâu cũng thắng? Tại sao ta không sợ chết? Nhưng ta hay sợ bị cười?

“Tại sao” là cánh cửa mở vào chân lý và sáng tạo. Cho nên ta cần khuyến khích sinh viên, học sinh, nhân viên, thuộc cấp, con cái dùng nó hằng ngày. Không hỏi tại sao, không thấy được chân lý, không thấy được vấn đề, không thấy được giải pháp, không có cả được ánh lửa sáng tạo của chỉ một que diêm.

Tuy nhiên, như câu chuyện về bé Jenny từ đầu, “tại sao” có sức mạnh đẩy người ta đến tận cùng của lý luận, phải đối diện với giới hạn của chính mình. Cho nên những người có quyền nhưng thiếu tự tin thường không muốn nghe câu này. Trong truyền thống “không khuyến khích hỏi” của nước ta, “tại sao” hầu như là từ cấm kỵ. Bố mẹ, thầy cô, quan chức, quản lý, không muốn nghe chữ “tại sao” từ miệng người cấp dưới. Ta thường nói đến “tự do ngôn luận”. Nếu cần giản dị hóa, ta chỉ cần tự do hỏi “tại sao?” Đó là ngưỡng của của trí tuệ, của tiến hóa, của thịnh vượng, của phát triển. Công ty nào mà nhân viên hay hỏi tại sao, công ty đó sẽ chiến thắng. Quốc gia nào mà người dân hay hỏi tại sao, quốc gia đó sẽ cường thịnh.

Chúc các bạn một ngày vui vẻ.

Mến,

Hoành

Stumble It!

© Copyright 2009, TDH
Licensed for non-commercial use

Lý luận phân tích

Phân tích
Phân tích

Chào các bạn,

Trong các kỹ năng suy nghĩ và lý luận thì có lẽ kỹ năng phân tích (analytical skill) được xem là quan trọng hơn cả. Hầu như bất cứ quảng cáo tìm chuyên gia hay quản lý nào ở Mỹ cũng ghi điều kiện “good analytical skill.” Vậy , kỹ năng phân tích là gì? Và tại sao nó quan trong đến thế?

Phân tích có nghĩa là chẻ vấn đề ra thành từng mảnh nhỏ, để hiểu từng chi tiết, từng khía cạnh nhỏ, hiểu được vấn đề từ ngoài vào trong, từ trong ra ngoài, cũng như người thợ máy rã cái máy khổng lồ thành trăm mảnh vụn để tìm và chữa bệnh bên trong lòng máy. Người ta thường dùng chỉ một từ phân tích, nhưng trong thực tế, phân tích còn bao hàm ý tổng hợp. Tổng hợp là ngược lại của phân tích, là ráp trăm mảnh phụ tùng lặt vặt lại thành chiếc máy. Nếu rã máy mà không lắp lại được, thì đó là phá máy chứ không phải là phân tích, phải không? Tuy nhiên, người ta ít chú tâm và ít nói đến tổng hợp, vì người giỏi phân tích tự nhiên là giỏi tổng hợp, cũng như người rã máy thường xuyên thì đương nhiên là sẽ biết ráp trở lại.

Trên phương diện lý luận, kỹ năng phân tích có thể gom vào một chữ–“hỏi.” Người phân tích là người biết đặt câu hỏi, như chuyên viên điều tra. Nghe bất cứ điều gì cũng có thể đặt câu hỏi. Nói tóm tắt là “Hỏi cho ra lẽ.” Trong các chương trình giảng dạy về điều tra cho nhân viên an ninh, ký giả, luật sư, v.v… người ta dạy một công thức hỏi giản dị–5W1H–what, where, when, who, why và how. Chuyện gì xảy ra, ở đâu, lúc nào, xảy ra với ai, tại sao xảy ra, xảy ra cách nào. Ví dụ:

“Trời ơi, ngoài đường Lê Văn Sỹ cháy dữ lắm!”
1. “Vậy hả? Cái gì cháy.” (what)
“Xe hơi.”
2. “Chỗ nào” (where)
“Cổng số sáu?”
3. “Đang cháy hả?” (when)
“Ừ, đang cháy. Tui mới ở đó về.”
4. “Cháy sao?” (how)
“Thấy cháy đầu máy, lan ra giữa xe rồi. Chắc nổ thùng xăng quá.”
5. “Tại sao cháy vậy?” (Why)
“Không biết. Chắc hết dầu máy, xe nóng quá. Hay là gì đó.”
6. “Có ai bị thương không?” (who)
“Thấy có ông tài xế với một bà đứng đó. Không thấy ai trong xe. Không thấy ai bị thương.”

Trong nghề ký giả, một bản tin vắn tắt cũng phải có tối thiểu là 6 yếu tố này mới được xem như hội đủ tiêu chuẩn. Dĩ nhiên, mỗi câu trả lời trong này lại có thể đẻ ra 6 câu hỏi khác, và mỗi câu trả lời mới lại có thể đẻ ra 6 câu hỏi mới. Chỉ trong một lúc thôi, là 6 câu hỏi đầu tiên có thể đẻ ra hằng trăm câu hỏi mới, và cứ tiếp tục như thế cho đến khi người điều tra thấy không cần phải hỏi thêm nữa. (Vì vậy các luật sư luôn luôn khuyên các thân chủ trong các vụ kiện là “không nói gì với ai hết.” Nói môt câu là trả lời một năm chưa xong).

Động não
Động não

Trong nghệ thuật lý luận và hùng biện, phương pháp này còn gọi là phương pháp Socrates, vì triết gia Socrates của Hy Lạp thường biện luận bằng cách dựa vào câu nói của đối thủ rồi bắt đầu hỏi ông ta, cho đến khi ông ta phải công nhận là điều ông ta nói không đúng. Ví dụ:

“Đàn ông xấu.”
“Chị nói sao?”
“Tui nói đàn ông xấu.”
“Vậy tui xấu sao?”
“Anh ngoại lệ. Anh là bạn tốt của tui.”
“Vậy ba của chị thì sao?”
“Ba tui ngoại lệ.”
“Ông nội cũng ngoại lệ?”
“Ừ.”
“Vậy chị còn nói đàn ông xấu nữa không?”
“Thôi. Tui nói, đàn ông xấu, ngoại trừ một thiểu số.”
“Thiểu số đó là những ai vậy?”

Và cứ thế mà tiếp tục.

Trong đời sống tri thức, cái nhìn phân tích là cái nhìn đánh dấu hỏi trên mọi giả thuyết, mọi định đề, mọi câu nói, mọi từ ngữ, cho đến khi người hỏi thỏa mãn với mọi câu trả lời. Vì vậy, khả năng phân tích (analytical skill) chính là cốt lõi của tư duy phê phán (cirital thinking) mà ta đã nhắc qua trước đây trong bài “Tư duy tích cực.” Tư duy phê phán có nghĩa là không chấp nhận điều gì là đúng cho đến khi ta đã nghiên cứu mọi khía cạnh lớn nhỏ của vấn đề, để kết luận và phê phán cái gì đúng cái gì sai. Và trong tiến tình nghiên cứu đó, kỹ năng phân tích là kỹ năng số một, nếu không phải là kỹ năng duy nhất.

Ta có thể thấy ngay là trong một cuộc biện luận dùng phân tích, người ta có thể đi hoài đến vô tận, không bao giờ ngừng, Một cuộc nói chuyện có thể bắt đầu từ trung tâm thành phố Nha Trang và chỉ một lúc sau đã có thể lang thang trên những đỉnh tuyết trắng trên dãy Alps của Âu châu hay những thảo nguyên hừng hực nóng ở Châu Phi. Vì vậy, kỹ năng phân tích rất hữu ích trong những buổi động não (brainstorm) tìm ánh sáng sáng tạo.

Lý sự cùn
Này, này, ông lý sự cái này này!

Và dĩ nhiên là trong nhiều cuộc tranh luận ta hay thấy trên Internet, nó có thể làm cho tất cả mọi người, từ người tranh luận cho đến người đọc, lạc sâu trong những cánh rừng rậm hoang vu. Cho nên, trong thực tế ta phải biết khi nào thì ngưng, hay tạm ngưng, phân tích vì những lý do thực tiễn—không thể cứ ngồi đó phân tích hoài, hoặc phân tích quá xa so với chủ đề ban đầu.

Hơn nữa, chúng ta phải biết giới hạn của ngôn ngữ và lý luận. Ngôn ngữ và lý luận có rất nhiều giới hạn. Ta không thể cứ tin vào ngôn ngữ 100% để giải quyết mọi vấn đề. Ví dụ: Cái bàn là gì? Một mặt phẳng và bốn cái chân. Thế cái gường cũng là cái bàn sao? Không, cái bàn để ngồi và ăn uống. Vậy cái sập gụ các ông đồ ngồi dạy học có phải là cái bàn không? Không, người ta không ngồi trên bàn. Vậy nhà tôi có ông Phật ngồi trên bàn, nó là cái gì? Cứ như thế, nếu ta lấy ra bất kỳ một từ nào trong tự điển và bắt đầu phân tích, thì từ đó cũng đều không hoàn toàn chính xác. Vì vậy, ngôn ngữ và lý luận có rất nhiều hạn chế. Ta phải biết các hạn chế đó.

Ngoài ra, đa số vấn đề trong đời sống, không thể cứ mang lời nói và lý luận ra mà giải quyết. Ví dụ: Một nhóm dân quê có thể nói với nhà nước như thế này: “Đây toàn là đất hương hỏa ông cha chúng tôi đã cả trăm năm để lại. Mấy ông đừng mang luật lệ, lý sự cùn, hay súng ống ra dọa. Chúng tôi không dời đi đâu hết. Chúng tôi sẵn sàng chết trên mảnh đất của chúng tôi.” Những trường hợp đó phải được giải quyết từ từ bằng đối thoại, cảm thông, và thuyết phục bằng tình cảm.

Kỹ năng phân tích, cũng như, mọi kỹ năng khác, được phát triển nhờ thực tập hằng ngày. Hiện nay, không có cách nào thực tập hay hơn là tranh luận trên các diễn đàn Internet. Cho nên nếu các bạn siêng tranh luận trên Net, trong những diễn đàn có quản lý tốt để các tranh luận được diễn ra lễ độ, thì đó là cách rất hay để phát triển.

Tuy nhiên có hai điều quan trong nhất trong việc phát triển kiến thức, các bạn cần ghi nhớ–đó là sự can đảm và tính thành thật trí thức (intellectual honesty).

1. Can đảm: Nếu ta sợ người ta cười tư tưởng của ta, ta sẽ không dám nói gì, và ta sẽ không bao giờ biết được chỗ yếu và chỗ mạnh của tư tưởng mình. Đó là chưa kể còn khối chuyện khác có thể làm ta sợ — sợ nói thì mất việc, mất tiền, mất sở.

2. Tính thành thật trí thức. Nếu chúng ta sợ chuyện gì đó—như sợ ông giám đốc—hay tham chuyện gì đó—như tham được lên chức—tiềm thức của ta sẽ điều khiển ta lúc nào cũng nghĩ hay và nói tốt về ông giám đốc, và không thấy được cả những quyết dịnh rất tồi của ông ta. Điều này ta gọi là “thiếu thành thật trí thức,” vì có thể là trong lòng chúng ta rất thành thật, nhưng tri thức của chúng ta đã thiếu thành thật vì bị quyền lợi cá nhân che mờ.

Dĩ nhiên, người tư duy tích cực luôn luôn chú trọng vào cái hay, cái tốt của người, và luôn luôn sống hòa ái. Điều cần nói ở đây là, trong khi chú trọng vào điều tốt, ta vẫn phải đủ sáng suốt để thấy mọi vấn đề, và khi thấy vấn đề nào cần giải quyết thì tìm cách giải quyết một cách tích cực và hòa ái. Người thiếu thành thật trí thức, không thấy được cả vấn đề.

Vấn đề lớn trong giáo dục đại học trên thế giới ngày nay là người ta dạy kỹ năng, nhưng không dạy đức hạnh. Cũng như thầy dạy kiếm thuật nhưng không cần biết học trò sẽ dùng kiếm để cứu người hay giết người. Kỹ năng, như là kỹ năng phân tích, chỉ là khí cụ như kiếm. Dùng kiếm thế nào trong cuộc đời mình là do mình có đủ can dảm và thành thật không.

Chúc các bạn một ngày vui vẻ.

Mến,

Hoành

Stumble It!

© Copyright 2009, TDH
Licensed for non-commercial use