Chúng ta đang bị cuốn theo nhịp sống rất nhanh vội của thế kỷ 21, ngay cả ở thành phố núi nhỏ ở miền cao nguyên này. Mỗi ngày từ khi thức dậy chuẩn bị để bước ra khỏi nhà đi làm, hay đi công việc gì đó, có phải hấu hết chúng ta đều rất vội, rất nhanh?
Ta dù muốn hay không phải hòa vào dòng xe cộ giao thông, trên xe riêng, hay các phương tiện công cộng: vội vàng và hối hả. Tại nơi làm việc với đồng nghiệp và công việc: bận rộn, căng thẳng. Rồi lại lên xe tất bật giờ cao điểm. Khi trở về nhà: một mình hoặc bên những người thân yêu, trong gia đình và bên bạn hữu: cùng ăn một bữa cơm… Chính bạn sẽ có nhiều trải nghiệm, cảm nhận khác nhau trong từng vai trò và thời khắc trong ngày.
Bạn sẽ mong mỏi điều gì và bạn cần điều gì nhất cho mỗi ngày trong đời bạn? Các bạn có thể nghĩ đến những khái niệm như may mắn, hay hạnh phúc? Câu trả lời về hạnh phúc có lẽ không sai, nếu quan niệm về hạnh phúc không phải chỉ là sự thụ hưởng vật chất hay các giá trị vật chất. Bởi nếu là thế không lẽ người đang làm việc miệt mài không đang thụ hưởng các giá trị vật chất như ăn ngon, diện đẹp … không có hạnh phúc sao?
Khái niệm hạnh phúc ở đây được hiểu như sự đạt đến các giá trị và mục tiêu tinh thần ta đặt ra cho đời mình. Và như thế những từ thuộc nhóm từ tích cực được xem là các sắc thái của hạnh phúc như vui sướng, hoan hỉ, thanh thản, lạc quan, phấn khởi, yêu thương… đều có thể được các bạn chọn cho các vai trò của bạn trong từng thời khắc khác nhau.
Nhưng để có được hạnh phúc như một mục tiêu cuộc sống của tất cả chúng ta, và cho cả thế giới này, có một yếu tố quan trọng mà Obama trong bài diễn văn tại Cairo ngày 4/6/2009 đã nhấn mạnh và nhiều lần nhắc đến. Đó là An Bình ( Peace ) với tư tưởng “An Bình bắt đầu từ trong bạn và tôi. Nếu muốn có một thế giới hòa bình, chúng ta trước hết phải bắt đầu từ sự an bình nội tâm mỗi chúng ta”.
An bình nội tâm chỉ trạng thái an bình của tâm hồn – tinh thần, với đầy đủ hiểu biết để giữ cho mỗi người mạnh mẽ đối mặt với những bất ổn hay căng thẳng. An bình tâm hồn là sự lành mạnh về tâm hồn và đối lập với âu lo, căng thẳng. An bình tâm hồn gắn với hạnh phúc.
Chúng ta không thể có hạnh phúc trong từng ngày từng giờ hay cả từng phút giây của hiện tại nếu không có được sự an bình trong tâm trí này. Mỗi buổi sáng thức dậy, được nghe tiếng chim hót từ cây khế bên hiên nhà, nhìn lên bầu trời vừa ráng hồng, hay được ngắm một nụ hoa mới hé còn ướt đẫm sương đêm… và bước ra đường nghe một câu chào nhìn lên đón một nụ cười quen, tươi rạng. Liệu ta có cảm nhận được vẻ đẹp của cuộc sống từ những thực thể đang tồn tại ấy không khi lòng ta rối bời nặng trĩu âu lo, hay đang bực dọc, tức giận?
Tác giả Babauta sẽ giúp chúng ta nhận thức sự quan trọng của an bình nội tâm, và chỉ cho ta một phương pháp hay để đạt đến trạng thái này
MỘT PHƯƠNG PHÁP HAY ĐỂ TÌM SỰ BÌNH AN TRONG TÂM HỒN Babauta
Đã bao nhiêu lần bạn tức giận bởi vì ai đó không làm việc của họ, vì con bạn không ngoan, vì người yêu hay người bạn không đạt được như mong muốn hay không làm theo thỏa thuận?
Đã bao nhiêu lần bạn bực bội khi ai đó không làm theo cách của bạn quen làm? Hay khi kế hoạch bạn hoạch định kỹ càng không thành như bạn đã hi vọng?
Kiểu tức giận và bực dọc này thường xảy ra với tất cả chúng ta- đó là một phần của trải nghiệm của con người.
Một chuyện làm tôi bực là người ta nói chuyện trong khi xem phim. Hay là cản đường tôi khi giao thông. Hoặc không rửa bát sau khi ăn. Thực sự, tôi có nhiều những nỗi bực dọc nho nhỏ này- chẳng phải mọi chúng ta đều thế sao?
Và không phải dễ dàng tìm thấy sự an bình khi bạn đang bực bội hay tức giận.
Để tôi tiết lộ một bí mật nho nhỏ tìm sự an bình cho tâm trí : chiếc ly đã vỡ .
“ Anh nhìn thấy chiếc ly có chân này chứ? Achaan cha, bậc thầy về thiền định người Thái hỏi. Đối với tôi chiếc ly này đã vỡ. Tôi ưa thích nó, tôi uống bằng ly này. Nó dùng đựng nước của tôi thực tuyệt, nhiều khi còn phản chiếu ánh mặt trời với nhiều họa tiết. Nếu tôi gõ vào thành ly, nó ngân rất hay.
Nhưng khi tôi để nó lên kệ, gió làm nó rớt khỏi vai tôi hoặc giả khuỷu tay tôi đụng phải nó rớt xuống sàn và vỡ nát. Tôi nói ” Phải, khi tôi hiểu rằng chiếc ly đã vỡ, mỗi giây phút với chiếc ly đều đáng quý.” – Mark Epstein
Bạn thấy đấy, nguyên nhân của sự căng thẳng, cơn giận và bực bội của chúng ta là do sự việc không diễn ra như ta muốn hay theo cách ta dự kiến. Hãy nghĩ xem điều này đúng với bạn bao nhiêu lần?
Và vì thế giải pháp cũng đơn giản: dự kiến sự việc sẽ trục trặc, sẽ khác với hi vọng hay hoạch định của ta, có sự bất ngờ sẽ đến. và chấp nhận nó
Một ví dụ dễ hiểu: trong một chuyến đi mới rồi của chúng tôi tới Nhật , tôi bảo các con sự việc có thể không như mình mong mỏi- chuyện thường xảy ra trong một cuộc du lịch. Tôi bảo các con: “ Cứ xem như đây là một phần của cuộc phiêu lưu.”
Và điều này rất hiệu quả. Khi chúng tôi bị nhầm tàu trên hệ thống xe điện ngầm chỉ dẫn bằng ngoại ngữ, hay khi trời mưa trên đường đến biển Disney, hay khi chúng tôi đón đến 3 chuyến tàu và đi bộ qua 10 khối nhà chỉ để thấy Cung Thiếu Nhi Quốc Gia đóng cửa vào thứ hai…. Bọn trẻ nói, “ Đây là một phần của cuộc phiêu lưu! Và cũng ổn thôi- chúng con không thấy buồn bực gì lắm.”
Vì thế khi chiếc ly đẹp bạn mua một hôm nào đó không tránh khỏi bị vỡ , bạn có thể buồn bực. Nhưng sẽ không thấy buồn nếu nhìn chiếc ly như thể nó vỡ rồi ngay từ lúc mua về. Bạn biết một ngày nào nó sẽ vỡ- vì thế từ lúc bắt đầu , hãy xem nó như đã vỡ. Hãy là người vượt thời gian, hay một người có cái nhìn vượt thời gian, và thấy tương lai của cái ly, từ giây phút này cho đến khi nó bị vỡ như một tất yếu.
Và khi nó vỡ, bạn sẽ không bực dọc hay buồn rầu. – vì nó đã bị vỡ rồi, từ cái ngày bạn có nó. Và bạn sẽ nhận ra rằng mỗi giây phút bạn có nó đều thực quí giá.
Nghĩ rằng con của bạn phạm lỗi – mọi trẻ con đều thế. Và đừng quá bực tức khi chúng sai sót, khi chúng không làm cái “phải” làm, vì chúng “phải” có sai sót.
Nghĩ rằng người yêu/ bạn đời của mình không hoàn hảo
Nghĩ rằng bạn của mình đôi khi không đến.
Nghĩ rằng sự việc không thành
Nghĩ rằng người ta đôi khi bất lịch sự
Nghĩ rằng đồng nghiệp đôi khi không hợp ý theo kế hoạch
Nghĩ rằng bạn cùng phòng đôi lúc không rửa bát hay thu dọn áo quần.
Nghĩ rằng ly sẽ bể
Và chấp nhận điều đó
Bạn sẽ có được sự bình an trong tâm hồn.
Và các bạn tôi ơi, điều đó là một sự ngạc nhiên thú vị.
Babauta ( A Beautiful Method To Find Peace of Mind)
Thân ái chúc các bạn một ngày an bình trong tâm hồn giữa dòng người xuôi ngược hay căng thẳng với bao áp lực công việc, dù bạn ở đâu và làm gì. 🙂
Bài này là để trả lời câu hỏi, Làm thế nào để viết giản dị và sâu sắc?
Giản dị và sâu sắc liên hệ rất mật thiết với nhau. Những gì sâu sắc thường rất giản dị. Ví dụ: Chàng nói với nàng, “Anh yêu em”—tất cả những bó hồng nhung của thế giới, tất cả thi ca của thế giới, tất cả âm nhạc của thế giới vẫn không làm đầy được ba chữ “Anh yêu em.”
Nhưng, sâu sắc và giản dị là hai kỹ năng khác nhau. Sâu sắc là suy tư. Giản dị là giải bày, hoặc bằng lời nói hoặc bằng lời viết. Trong phần sau đây, chúng ta sẽ nói đến sâu sắc trước, rồi sẽ nói đến viết giản dị sau.
I. Làm thế nào để suy tư sâu sắc?
Thực ra từ “sâu sắc” rất tương đối—sâu sắc với người này, vẫn có thể là nông cạn với người kia. Nhưng tại đây ta không cần quan tâm đến chuyện đó; chỉ cần biết là hôm nay ta sâu sắc hơn ta hôm qua là đủ rổi.
Muốn suy tư sâu sắc ta chỉ cần nắm vững 3 điều thôi: Suy tư 1. Càng suy nghĩ và kinh nghiệm về một việc gì, ta càng sâu sắc về việc ấy. Sâu sắc đến từ suy tư và kinh nghiệm. Nhưng, kinh nghiệm không phải là một cái gì nằm ngoài tiến trình suy tư, kinh nghiệm là 50% của suy tư, vận dụng não bộ để suy tư là 50% còn lại. Có những điều mình đọc năm 18 tuổi, đến 40 tuổi mới “ngộ” được nó, không phải là vì IQ của mình cao hơn ở 40, nhưng vì kinh nghiệm sống cao hơn.
Nhưng nói đến kinh nghiệm thì các bạn trẻ cảm thấy hơi thiệt thòi rồi. 😦 Nhưng không sao. Người lớn tuổi hơn thì đã phải “trả nợ đời” (pay their dues) nhiều lắm rồi, biết hơn một tí cũng là công bình thôi. Hơn nữa, mình trẻ hơn thì mình lại có sức mạnh khai phá của người tiền phong cầm rìu rựa phá rừng thành rẫy. Nếu mình làm việc với người lớn tuổi hơn, lấy kiến thức của họ về con đường cũ làm kiến thức tạm của mình, và mình dấn thân vào khai phá con đường mới, thì mình có thể nắm được cả quá khứ đến tương lai.
Dù sao đi nữa thì suy tư là suy tư và sống. Cho nên đọc sách, nghiên cứu, thảo luận là một chuyện; nhưng cũng cần phải “đi ra ngoài và làm gì đó” (Go out and do something!). 2. Phải vượt thoát các “công thức suy tư”
Chúng ta không tự nhiên mà biết suy tư. Từ bé ta đã được học hàng nghìn công thức suy tư cho hàng nghìn vấn đề. Ví dụ: Đi thưa về trình—không làm như thế là vô lễ. Con gái thì phải thùy mị, không chơi trò bắn súng đánh nhau. Chửi thề là quyền ưu tiên cho đám con trai. 😦 Đó là tiến trình “văn minh hóa” của một con người. Nếu không học được những công thức suy tư như thế thì chúng ta có lẽ là không khác gì chú khỉ trên rừng.
Nhưng những công thức suy tư cần thiết cho sự phát triển nhân cách, cũng có tiềm năng biến chúng ta thành những người máy robot khi lớn lên nếu chúng ta không biết cách “vượt lên tầng cao hơn” để suy tư thực sự tự do. “Vượt lên tầng cao hơn” không có nghĩa là phá bỏ mọi công thức, mà là biết khi nào dùng công thức, khi nào không, khi nào chính mình tạo ta công thức mới cho mình. Đó là mức sáng tạo của tất cả mọi loại nghệ thuật.
Ví dụ: Hoc vẽ thì lúc đầu là phải theo công thức màu gì trộn với màu gì ra màu gì, màu gì dùng để diễn tả tình cảm gì, cách nhìn và đo lường phối cảnh, luật quân bằng… Học viết thì văn phạm, chấm câu, bố cục… Học đàn thì ngồi thế nào, tay bấm thế nào, lúc nào mạnh yếu nhanh chậm ra sao… Học võ thì bước nào trước bước nào sau, một hai ba bốn thế nào… Một lúc nào đó người học trò đã thành thuộc các công thức và đã bắt đầu lên hàng thầy, thì hầu như là quên mất công thức, vì công thức đã vào máu mình rồi. Và bậc thầy thực sự là nguời có thể bỏ công thức và sáng tạo công thức mới khi thấy cần. Đây là mức sâu sắc của nghệ thuật.
Suy tư cũng thế thôi. Một lúc nào đó, ta cần có cái nhìn của một trẻ thơ để hỏi “tại sao?” trước những công thức suy tư đã giúp ta trưởng thành, để ta không bị ngục tù tư tuởng và có thể biến hóa sáng tạo. Ví dụ: Đi thưa về trình. Lúc còn nhỏ đó là công thức văn hóa. Nhưng bây giờ lớn một tí rồi thì “tại sao?” Lớn rồi có còn cần nó như hồi còn con nit hay không? À, có lẽ nó không còn mấy cần thiết như là một vấn đề lễ nghĩa, nhưng vẫn có thể cần đối với người trong nhà như là vấn đề an ninh. Thời đại này, đủ thứ bất an xảy ra ngoài đường, đi đâu nên nói cho ai đó trong nhà biết mình đang đi đâu và khi nào sẽ về, lỡ có chuyện gì người nhà còn biết đường mà mò. Về trễ thì gọi điện về báo tin để người nhà khỏi lo. Đó là suy tư sáng tạo. Hỏi “tại sao?” để thay đổi cái cũ thành cái mới, hoặc đôi khi xóa cái cũ nếu thấy nó thực sự chẳng cần thiết. (Các cô thư ký của mình luôn luôn biết mình ở đâu và khi nào về, kể cả khi mình đi restroom. Để nếu có thân chủ gọi đến, cô không phải trả lời: “Ông ấy ở đâu tôi cũng không biết và chẳng biết khi nào ông ấy về.” Thân chủ sẽ có cảm tưởng là văn phòng này chỉ lo du hí và chẳng ai biết “what is going on” hết).
Đừng bị đóng khung vào các công thức suy tư và ứng xử. Như vậy mới thực sự tự do sáng tạo. “Muốn vào nước thiên đàng thì hãy như trẻ thơ.” Muốn đến đỉnh cao thì hãy vượt khỏi khung công thức người lớn. Nhưng… nhưng… nhưng… một bậc thầy đã nhuần nhuyễn công thức nói là phải vuợt thoát công thức thì khác với một người học trò nhập môn chưa rành công thức nào. Chúng ta chỉ có thể vượt thoát công thức để sáng tạo khi đã nhuần nhuyễn công thức. Không học công thức nào và không rành công thức nào, mà đòi gạt bỏ công thức, thì chưa làm học trò được, đừng nói là sẽ thành thầy sáng tạo.
3. Chú tâm vào quả tim con người
Tất cả mọi vấn đề lớn nhỏ trên đời, ngoại trừ toán học và khoa học thiên nhiên, đều qui vào qủa tim con người và liên hệ giữa các con người—xã hội học, chính trị học, kinh tế học, thương mãi, nhân chủng học, khảo cổ học, đạo đức học, luận lý học, tôn giáo học, triết học v.v… Tất cả những sinh hoạt gì liên hệ đến con người đều có gốc rễ trong quả tim con người. Ví dụ: Chính trị cho người Việt. Nếu cứ lấy các thống kê và các công thức chính trị của Mỹ rồi giải thích chính trị Việt nam thì hỏng bét. Các thống kê đó phải được hiểu với hiểu biết tâm lý người Việt. Tượng tự như thế, các công thức mô hình chính trị các nước có thể là chẳng mấy liên hệ với khung cảnh và tâm lý người Việt. Kinh tế cũng thế, có thể có một tin chiến tranh ở đâu đó và giá vàng ở vài nơi trên thế giới xuống, nhưng giá vàng ở Việt Nam có thể lại lên, vì dân Việt có máu thích trữ vàng làm an ninh—cứ rục rịch là mua vàng.
Chú tâm vào quả tim con người là chú ý quan sát quả tim của chính mình thường xuyên. Nếu biết quả tim mình thì mình biết được 90% quả tim của mọi người trên thế giới, vì sự khác biệt thực sự giữa mọi người rất ít. Mà quan sát thì cần một tí tĩnh lặng và nhìn.
Ví dụ: Nhìn trời mưa và đang muốn làm thơ, tự động là một công thức suy tư nhảy ra: “Mưa rơi mang mang buồn.” Nếu viết công thức này xuống, thì bài thơ có thể nghe chán phèo vì mấy triệu người đã víết công thức này cả trăm năm rồi. Thay vì thế, quan sát tâm mình một tí, có thể là mình đang nhớ đến ngày mưa năm đó hẹn nàng ở quán Hoài, nhìn mưa đợi nàng, như thường lệ, trễ hẹn 😦 Vậy thì bắt đầu bằng, “Nước bay trước mặt quán Hoài, hàng xe lầm lũi bên ngoài phố mưa…” Hay hay dở thì chưa biết, nhưng chắc chắn là sáng tạo hơn công thức đã bị lạm dụng “Mưa rơi mang mang buồn.” Mà sáng tạo thì có tiềm năng sâu sắc. Ít ra là sâu sắc hơn công thức có sẵn.
Tất cả các vấn đề triết ly’ xã hội chính trị kinh tế cũng thế thôi. Dùng cái tâm mình làm thước đo trước, sau đó mang ra cho mọi người, không chính xác 100% vì người và ta khác nhau, nhưng ít ra cũng được 90%.
Tóm lại, muốn suy tư sâu sắc, ta nên chú trọng vào 3 điều: 1. Suy tư và sống. 2. Vượt thoát các công thức. và 3. Quán sát tâm mình.
II. Làm thế nào để viết giản dị
Trong các dịp huấn luyện các luật sư mới ra trường viết lách, mình luôn luôn nhắc đến 3 qui luật viết: 1. Giản dị. 2. Giản dị. Và 3. Giản dị.
Giản dị, vì viết là để chia sẻ với người khác, nếu không giản dị người đọc sẽ không hiểu mình viết gì, và như thế là mình đã thất bại trong việc chia sẻ. (Nếu viết chỉ để cho mình đọc, như là làm thơ chẳng hạn, thì không cần ai hiểu. Nhưng nếu đã đăng ra ngoài mà còn nói là tôi viết để chỉ cho tôi đọc, thì đó là không thành thật. Chỉ cho tôi đọc sao lại đăng ra ngoài?)
Nguyên tắc viết giản dị đòi hỏi ta chú tâm đến các điểm sau: 1. Biết người đọc mình nhắm đến là ai: Giản dị với các vị cử nhân thì khác với giản dị với các vị mới chỉ học xong lớp năm. Cho nên, nghĩ đến đọc giả mình nhắm đến, trong khi viết.
Nếu đọc giả có thể có đủ mọi trình độ, ví dụ từ lớp 10 đến tiến sĩ (như ĐCN chẳng hạn), thì ta phải viết đủ giản dị để người học lớp 10 cảm thấy mình hiểu hết bài viết, và người tiến sĩ cũng hiểu hết bài viết nhưng sâu hơn vài tầng. Điều này cũng không khó mấy, chỉ cần thêm vào bài cho người lớp 10 vài từ có vẻ vô thưởng vô phạt cho lớp 10, nhưng mang ly’ lẽ sâu xa cho người cấp tiến sĩ. Ví dụ: “Yêu người thì thường được người yêu lại.” Câu này thì lớp 10 hiểu được ngay, nhưng người mức tiến sĩ thì thấy sự quan trọng của chữ “thường”—À chị này nói thế có y’ là lâu lâu cũng có ngoại lệ, yêu người thì được nguời đâm sau lưng. 😦
Ngay cả khi viết cho người có trình độ cao, ta vẫn phải tưởng tượng là họ chẳng biết gì mấy, viết như viết cho người có trình độ thấp hơn một tí vì: (a) Người bận việc đọc rất nhanh và không muốn đọc lại. Viết càng giản dị càng giúp họ trong việc đọc. (b) Trong các việc ta đã suy nghĩ và nghiên cứu nhiều, người đọc không rành việc ấy bằng ta, cứ xem như là ta đang giải thích cho học trò là chắc ăn nhất. Ví dụ: Viết một về vụ án gửi lên thẩm phán, bạn đã tốn mấy tháng liền, mỗi ngày 12 tiếng, nghiên cứu vụ này. Trong vụ này bạn là thầy ông thẩm phán, ông ta chẳng biết ất giáp gì hết, vậy thì khi viết cho thẩm phán cứ viết thật giản dị như viết cho học trò của bạn.
2. “Nếu tôi viết, bạn đọc mà không hiểu, thì đó là do tôi viết tồi, chứ không phải vì bạn đọc tồi.” Luật này là luật viết quan trọng số 1.
3. Chỉ viết về một điểm chính cho một bài. Hai điểm chính, như bài này–suy tư sâu sắc và viết giản dị–là đã hơi quá nhiều. Ba điểm là giới hạn tối đa. Bốn điểm là no-no.
4. Dùng từ giản dị. Đừng dùng từ phức tạp, trừu tượng và chuyên môn.
Từ giản dị là từ dùng thường ngày. Ví dụ: “Đừng xả rác ngoài đường” thì dễ hiểu và mạnh mẽ hơn là “Phải đề cao y’ thức y tế cộng đồng.” (Nói gì vậy??). “Anh yêu em” thì rõ ràng hơn là “Anh xúc cảm tràn dâng trong tâm tưởng với ảnh hình dấu ái tuyệt vời của em.” (What is that?? Muốn gì thì nói thẳng ra đi cha nội :-))
Từ cụ thể thì dễ hiểu và mạnh mẽ hơn từ trừu tượng. Ví dụ: “Hãy vun trồng nước non sông núi này; hãy tưới nước cho hoa nở trên mọi cánh đồng” thì mạnh mẽ và dễ hiểu hơn là “hãy nâng cao lòng ái quốc và tình yêu xứ sở.”
Từ chuyên môn chỉ nên dùng với người cùng ngành chuyên môn. Ví dụ, thay vì “Độc quyền kinh tế làm tăng giá, giảm cầu và giảm hiệu năng kinh tế quốc gia” thì nên viết “nhà độc quyền có quyền bán ít hàng để có thể tăng giá đến mức cắt cổ, làm người tiêu thụ rất bị thiệt thòi.”
5. Viết câu ngắn. Ví dụ:
“Ai cũng bảo xòe bàn tay ra, trong ấy có cả quá khứ vị lai. Tôi thì không tin rằng chỉ cần ngồi lẩm nhẩm với mình mà đọc được cái gì chưa đến. Còn quá khứ thì đâu chỉ nằm trong lòng bàn tay. Tôi vay ngân hàng ba mươi triệu, quá khứ của tôi nằm ở ngân hàng. Tôi vay của người hàng xóm đôi lời chì chiết. Quá khứ giờ đang nằm ở nhà hàng xóm. Tôi vay em một thời yêu thương. Chuyện này thì cầu mong quá khứ còn náu mình đâu đó nơi em.” Kể Chuyện Tôi, Tấn Ái.
6. Dùng các dấu chấm câu để giảm vận tốc đọc của người đọc. Ví dụ:
“Nếu bạn hỏi tôi thích làm gì nhất, câu trả lời chắc chắn sẽ là: ‘Tôi thích chăn bò!’. Có thể bạn không tin, nhưng thật tình, tôi thích chăn bò lắm! Tôi rất thích nhìn vào đôi mắt to trong veo của con bò nhà tôi, đen láy và ướt át, chúng luôn khẽ khàng nấp dưới hàng mi dài cụp xuống. Trong đời, tôi chưa bao giờ nhìn thấy một đôi mắt nào buồn đến thế. Nó toát lên vẻ ẩn nhẫn, cam chịu, và hiền lành khiến cho tâm hồn trẻ thơ ngập tràn thương cảm. Một tình bạn thầm lặng bắt đầu từ đó!” Hãy đến tìm tôi giữa một cánh đồng, Đông Vy.
7. Dùng các từ nối kết—nhưng, và, vì thế, do đó, vậy thì, thế thì…– để nối kết những chuỗi lý luận với nhau. Ví dụ:
“Tư duy là bên trong và hành động là bên ngoài. Tư duy chi phối hành động. NHƯNG cuộc đời đưa ta đến bao tình huống khác nhau mỗi ngày, đòi hỏi những hành động khác nhau cho từng tình huống. Hành động thì khi nhanh khi chậm, khi như sâu lắng suy tư, khi như ánh chớp như thể không kịp suy tư, khi thì dịu dàng, khi thì dũng mãnh… VẬY THÌ tâm tư ta thế nào trong những tình huống như vậy? Tâm tư ta cũng biến chuyển vô thường như hành động theo từng tình huống hay sao?” Liên hệ giữa tư duy và hành động.
8. Đặt mỗi “đơn vị ý tưởng” (thought unit) trong một đoạn (paragraph) riêng. Nhưng nếu đoạn này quá dài thì cắt ra thành hai ba đoạn cho đỡ rậm mắt và nhức đầu người đọc.
Hoặc, nếu một câu nào đó mà ta muốn nhấn mạnh, thì tách câu đó ra thành một đoạn. Ví dụ:
“Tâm tính của mỗi người là một bộ máy tâm sinh lý đặc biệt, cứ như thế mà vui buồn yêu ghét. Không phải muốn đổi tâm tính là có thể làm xong trong một ngày, một tuần. Nếu cơ thể cần được tập luyện mỗi ngày, khá lên mỗi ngày một tí, vài ba năm mới được như vận động viên, thì tâm tính cũng thế, cũng phải được rèn luyện mỗi ngày, không, mỗi phút giây ta sống. Và phải kiên nhẫn một thời gian thì mới có được kết quả ‘trông thấy’.
Nhưng tại sao ta phải suy tư tích cực? Trời sinh sao để vậy không được sao?
Trước hết, tâm tính của ta không phải do trời sinh. Các yếu tố di truyền có dự phần một tí, như là sinh ra thì có hai tay hai chân, nhưng có đai đen Judo hay một cơ thể èo ọt bệnh hoạn là do ta. Trí lực và tâm lực cũng thế, trời sinh ra có tâm trí, tích cực hay tiêu cực là do ta.” Tư duy tích cực là gì?
9. Nếu được thì nên đánh số 1,2,3, a,b,c như dàn bài cho các đơn vị ý tưởng (như bài này đây).
10. Bất kỳ bài nào, dù là viết kiểu gì, đều có 3 phần: Mờ đầu, thân bài và kết luận. Có khác nhau là chỉ về hình thức một tí thôi. Mở đầu là để giới thiệu mình muốn nói về việc gì. Thân bài là phân tích, lý luận, giải bày. Kết luận là để mình muốn đọc giả nghĩ gì, cảm xúc gì, làm gì, chia sẻ gì. Ví dụ:
Mở đầu: “Nếu bạn hỏi tôi thích làm gì nhất, câu trả lời chắc chắn sẽ là: “Tôi thích chăn bò!”. Có thể bạn không tin, nhưng thật tình, tôi thích chăn bò lắm! …”
Kết luận: “Để bây giờ, rất nhiều khi thấy chán chường những con đường chen chúc người xe và khói bụi, mệt mỏi với cuộc sống vội vã đua tranh, tôi lại thèm quá những ngày huy hoàng cũ, khi tôi còn là một cô bé chăn bò. Bởi thế, nếu một ngày nào đó không tìm thấy tôi trong chốn đô thị bon chen, bạn hãy đến tìm tôi giữa một cánh đồng …” Hãy đến tìm tôi giữa một cánh đồng, Đông Vy.
11. Duyệt lại. Nếu bạn là chuyên gia về kinh tế viết một bài về kinh tế cho đọc giả không phải là dân kinh tế, thì sau khi viết xong, đưa bài cho một người bạn chưa biết đánh vần chữ “tiền” đọc lại. Nếu bạn này nói chỗ nào không hiểu thì viết lại chỗ đó, cho đến khi bạn đó nói là thực sự hiểu toàn bài.
Viết là một nghệ thuật. Càng viết nhiều thì nghệ thuật càng nâng cao và càng có nhiều kỹ năng để nghiên cứu thêm. Nhưng hy vọng các qui luật căn bản trên đây cũng có thể giúp các bạn đi được một đoạn khá dài.
Điều cuối cùng mình muốn nhấn mạnh trong liên hệ giữa suy tư sâu sắc và viết giản dị là: Chỉ khi bạn hiểu được một vấn đề rất sâu sắc bạn mới đủ khả năng để trình bày vấn đề đó rẩt giản dị. Nếu bị lúng túng quá trong việc giản dị hóa một vấn đề, có thể là bạn phải nghiên cứu và suy nghĩ thêm về vấn đề đó, cho đến lúc nắm vững đủ để trình bày đựợc cho cả các em bé tiểu học, nếu cần.
Chú bé thì thầm “Chúa, nói với con”
Và chú chiền chiện đồng đã hát.
Chú bé đã không nghe thấy.
Rồi chú bé hét “Chúa, nói với con!”
Và ngọn sấm lăn dọc tầng trời
Nhưng chú bé không lắng nghe
Chú bé nhìn quanh và nói,
“Chúa, cho con thấy ngài” và một ngôi sao lóe sáng
Nhưng chú bé đã không để ý.
Và chú bé la lớn,
”Chúa, cho con thấy một phép la!”
Và một sinh linh mới ra đời, nhưng chú bé không biết.
Vậy chú bé khóc lớn trong tuyệt vọng,
“Sờ vào con, Chúa ơi, và cho con biết Chúa ở đây!”
Lúc đó, Chúa với xuống
Và chạm vào chú bé.
Nhưng chú bé đuổi con bướm bay đi
Và bước đi mà chẳng biết gì.
(Nguyễn Minh Hiển dịch)
.
And A Meadow Lark Sang
The child whispered, ‘God, speak to me’
And a meadow lark sang.
The child did not hear.
So the child yelled, ‘God, speak to me!’
And the thunder rolled across the sky
But the child did not listen.
The child looked around and said,
‘God let me see you’ and a star shone brightly
But the child did not notice.
And the child shouted,
‘God show me a miracle!’
And a life was born but the child did not know.
So the child cried out in despair,
‘Touch me God, and let me know you are here!’
Whereupon God reached down
And touched the child.
But the child brushed the butterfly away
And walked away unknowingly.
(Ravindra Kumar Karnani
This poem was originally written in the Hindi language.)
Tư duy là bên trong và hành động là bên ngoài. Tư duy chi phối hành động. Nhưng cuộc đời đưa ta đến bao tình huống khác nhau mỗi ngày, đòi hỏi những hành động khác nhau cho từng tình huống. Hành động thì khi nhanh khi chậm, khi như sâu lắng suy tư, khi như ánh chớp như thể không kịp suy tư, khi thì dịu dàng, khi thì dũng mãnh… Vậy thì tâm tư ta thế nào trong những tình huống như vậy? Tâm tư ta cũng biến chuyển vô thường như hành động theo từng tình huống hay sao?
Một trong những điều làm mình suy nghĩ rất nhiều năm là trong tất cả mọi tôn giáo của thế giới, đạo Phật là hòa ái nhất. Điều này thì không cần phải nghiên cứu lịch sử tôn giáo; chỉ cần nhìn quanh thế giới hiện tại một vòng ta cũng thấy ra ngay. Nhưng mà cái nôi và kho tàng của võ học Trung quốc lại nằm trong Thiếu lâm tự. Tương tự như thế, đạo Lão là đạo rất vô vi và hòa ái, thì cũng có phái Võ Đang là đĩnh cao võ học về nhu quyền. Tại sao lại như vậy?
Dĩ nhiên là một tinh thần minh mẫn trong một cơ thể tráng kiện. Nhưng cuốc đất cũng tráng kiện, không nhất thiết phải là cao thủ võ lâm. Và đã đi tu thì cũng chẳng cần phải phòng thân, vì như trong truyện đời Phật Thích Ca cũng như nhiều vị bồ tát khác, thí thân mình là chuyện thường tình. Chỉ còn cách ly’ giải duy nhất là võ học thì giúp được người cô thế nhiều hơn, nhất là ngày xưa khi vũ thuật tự chính nó là môn vũ khí lợi hại.
Nghĩa là, ngay trong gốc rễ của các truyền thống đạo học lấy tĩnh lặng làm gốc, thì vẫn xem cái động bên ngoài như là một phần chính của cuộc sống thế gian, vì thực tế cuộc đời đòi hỏi hành động khi thì nhún nhường khi thì dũng mãnh.
Điều này thì chẳng có gì mới mẻ hay khó hiểu cả. Nhưng câu hỏi vẫn là: Thế thì tâm ta thế nào? Nó có xung động theo hành động bên ngoài không? Làm sao một cái tâm tĩnh lặng, điều khiển một vị cao tăng xuất chiểu đấm đá? Làm sao để ly’ giải hiện tượng xem ra là xung khắc này?
Những câu hỏi này đưa mình đến một liên hệ thâm sâu và chặt chẻ nhất trong tất cả các liên hệ con người—liên hệ mẹ con. Mẹ thì thương con thâm sâu, vô điều kiện, vô giới hạn thời gian và không gian, vô giới hạn ly’ lẽ, vô giới hạn đạo đức đúng sai. Mẹ luôn thưong con. Đơn giản thế thôi.
Nhưng mẹ hành xử với con đủ kiểu—khi thì ôm ấp vỗ về, khi thì ngăn cấm, khi thì nghiêm phạt, khi thì dịu dàng, khi thì cứng rắn. Nhưng dù hành động thế nào đi nữa, thì trong từng giây phút đó mẹ vẫn thương con.
Thế thì giữa những gì xem ra là xung động của hành động bên ngoài và cái hòa ái của tĩnh lặng bên trong vẫn có hòa hợp và vẫn có thể ly’ giải được. Như cây cổ thụ đầu làng, lá cành luôn xôn xao dao động với bao ngọn gió, nhưng thân và rễ vẫn luôn chắc chắn tĩnh lặng.
Và phải chăng chính cái tĩnh lặng chắn chắn của gốc rễ cho phép lá cành được xôn xao mà cây không vì đó mà ngã nghiêng tróc gốc?
Thế thì, những tình huống khác nhau trong ngày đòi hỏi ta có những hành động khác nhau. Làm thế nào ta biết được nên hành động thế nào?
Rất dễ để cho chúng ta có những quy luật rõ ràng và chắc chắn, như là “Nếu kẻ thù tát má này thì đưa thêm má kia.” Điều này thì cũng không khó, nếu kẻ thù tát mình thì nhịn một tí cũng chẳng có gì là khó khăn mấy.
Nhưng nếu kẻ thù tát người khác và tạo ra bất công xã hội thì sao? Đây không phải là tát mình, mà là tát vào cả xã hội?
Những người trộm cắp hà hiếp người khác thì sao?
Chắc chắn đó là những tình huống đòi hỏi ta phải làm gì đó, với con tim yêu ái, yêu người và yêu đời.
Đây là khi con tim tĩnh lặng và hòa ái của ta giúp ta quyết định phải làm gì trong tình huống này khi tình huống này đang xảy ra. Đó là là quyết định ta không thể tính trước được mà chỉ có thể quyết định ngay khi nó xảy ra. Vào lúc một tình huống đang xảy ra với những sự kiện đặc thù của nó–ai đang làm gì với ai, tại chỗ nào, trong không khí nào, cái hại cái lợi của hành động của họ thế nào, những điều gì mình nên làm để can thiệp, những điều gì mình có thể làm, những gì mình không nên làm… hàng chục câu hỏi như thế vận hành có thể chỉ trong vài tích tắc, và computer trong đầu của ta phải duyệt qua tất cả thông tin lúc đó và quyết định ngay lập tức ta phải làm gì.
Những lúc đó ta không có thời giờ để triết lý. Nhưng nếu con tim ta đã có sẵn tĩnh lặng và hòa ái, thì dù chỉ trong vài giây suy nghĩ, năng lượng tĩnh lặng và hòa ái vẫn là năng lượng mạnh nhất ảnh hưởng vào quyết định của não bộ.
Và cuối cùng, dù ta quyết định thế nào đi nữa, ta cũng có thể an tâm là quyết định của ta đã được đặt trên nền móng của một con tim thật sự tĩnh lặng và hòa ái.
Và dù là sóng có thiên hình vạn trạng, nhanh hay chậm, dịu dàng hay bão tố vì những ngọn cuồng phong bên ngoài, ta vẫn biết được bản chất của nước là trong suốt và tĩnh lặng thế nào.
Sức mạnh của người đàn ông
không thấy nơi bề rộng
của đôi vai,
Mà nơi bề rộng
của vòng tay quanh bạn..
Sức mạnh của người đàn ông
không ở nơi âm trầm
của giọng nói,
Mà ở những lời dịu nhẹ anh thì thầm… Sức mạnh của người đàn ông
không phải là bao nhiêu bạn thân anh có,
Mà ở chỗ anh là người bạn tốt thế nào
Với những đứa con…
Sức mạnh của người đàn ông
không ở chỗ anh được kính trọng thế nào ở sở,
Mà ở chỗ
Anh được kính trọng thế nào ở nhà…
Sức mạnh của người đàn ông
không ở chỗ anh đánh mạnh đến đâu,
Mà ở chỗ
Anh vuốt ve nhẹ nhàng đến thế nào…
Sức mạnh của người đàn ông
không ở nơi đám lông trên ngực,
Mà ở Trái tim
Trong lồng ngực của anh …
Sức mạnh của người đàn ông
không ở chỗ anh đã yêu bao nhiêu phụ nữ,
Mà ở khả năng của anh
chung thủy với một người…
Sức mạnh của người đàn ông
không nằm ở quả tạ anh có thể nâng,
Mà ở những gánh nặng
Anh có thể gánh gồng…
. The Strength Of A Man
The strength of a man
isn’t seen in the width
of his shoulders.
It’s seen in the width
of his arms that circle you..
The strength of a man
isn’t in the deep tone
of his voice.
It’s in the gentle
words he whispers…
The strength of a man
isn’t how many buddies he has.
It’s how good a buddy
he is with his kids…
The strength of a man isn’t
in how respected he is at work.
It’s in how respected
he is at home…
The strength of a man
isn’t in how hard he hits.
It’s in how tender
he touches…
The strength of a man
isn’t in the hair on his chest.
It’s in his Heart,
that lies within his chest…
The strength of a man
isn’t how many women he’s loved.
It’s in can he be
true to one woman…
The strength of a man
isn’t in the weight he can lift.
It’s in the burdens
he can carry…
Bài viết này đã đăng vài năm trước trong báo Nhà Quản Lý. Hôm nay đăng lại đây để chia sẻ với các bạn. Hình như bản này là bản đã được Nhà Quản Lý biên tập, vì đọc nghe khô khan, không thân thiện theo kiểu của mình 😦
Mến,
Hoành
_________
Lãnh đạo ở mọi cấp quản trị thường mắc một số sai lầm chung làm suy yếu tập thể của họ. Thực tiễn hoạt động trong các tập đoàn đa quốc gia cũng như những doanh nghiệp vừa và nhỏ cho thấy, các trưởng nhóm, các nhà quản lý thường mắc 6 lỗi phổ biến sau đây làm giảm hiệu quả hoạt động của nhóm và công ty 1. Chú tâm vào số lượng
Phần lớn các nhà quản lý thường mắc ảo tưởng rằng càng có nhiều nhân sự trong nhóm thì nhóm càng trở nên mạnh. Ảo tưởng này có mối liên hệ với cái tôi của nhà quản lý – dưới quyền tôi có nhiều người, chứng tỏ tôi quản lý tốt. Đây là một trong những sai lầm đầu tiên trong việc xây dựng và tổ chức hoạt động nhóm.
Chất lượng nên là yếu tố quan tâm hàng đầu. Trong công việc hàng ngày, tôi hay sử dụng “Nguyên tắc quản lý của The Beatles”. Có rất nhiều dàn nhạc giao hưởng với số lượng đông hàng trăm nghệ sĩ và đủ các loại dụng cụ âm nhạc. The Beatles chỉ có 4 thành viên. Tuy nhiên, mức ảnh hưởng của họ trong thế giới âm nhạc lớn hơn bất kỳ dàn nhạc khổng lồ nào khác, thậm chí còn hơn tất cả các dàn nhạc này cộng lại. Điều này chứng tỏ là một nhóm nhỏ với các thành viên hạng nhất vẫn hiệu quả hơn so với một nhóm đông những người trung bình. Do vậy, chất lượng chứ không phải số lượng là điều quan trọng.
2. Đếm đầu người
Một vài nhà quản trị có xu hướng định giá khả năng của nhóm thông qua việc đếm đầu người một cách đơn giản. Họ thường nói: “Nhóm tôi có 12 nhân viên, 8 nguời trong số này tốt, 2 trung bình, và 2 tồi. Nhóm của tôi nhìn chung là tốt vì số lượng người tốt chiếm đa số”.
Tuy nhiên, chúng ta hãy xem xét đội hình của một đội bóng. Cần bao nhiêu cầu thủ tồi để có thể hủy hoại thành quả của cả đội? Một là quá đủ. Nếu một cầu thủ không chơi theo lối chơi của đội, không phối hợp tốt với các cầu thủ khác, chơi ẩu, ích kỷ, không chịu chuyền bóng cho đồng đội lúc cần thiết… cả đội sẽ thua. Thực chất, để có một đội hình mạnh, tất cả các thành viên đều phải chơi tốt và giữ vững kỷ luật. Đó là mô hình của Real, Juve, AC, hay Chelsea, là các câu lạc bộ hàng đầu hiện nay. Một điều đơn giản, một quả táo thối có thể làm hỏng cả giỏ táo, vì vậy quả táo thối phải bị loại bỏ ngay.
3. Sử dụng “dân chủ” không phù hợp
Nhiều người nghĩ rằng để nhóm mạnh thì phải có dân chủ, tức là mọi người đều có tiếng nói và sức mạnh ngang nhau và việc ra quyết định sẽ theo phương thức biểu quyết. Điều này là sai lầm.
Hiệu quả hoạt động của nhóm chủ yếu phụ thuộc vào người đứng đầu. Trưởng nhóm là người ra quyết định và chịu trách nhiệm trước cấp lãnh đạo cao hơn về hiệu quả hoạt động của nhóm. Trưởng nhóm có thể dẫn dắt nhóm thảo luận một cách dân chủ, song anh ta phải là người ra quyết định cuối cùng. Trưởng nhóm có thể sử dụng biếu quyết để quyết định một vấn đề thay vì tự mình ra quyết định, nhưng anh ta vẫn là người chịu trách nhiệm cuối cùng về quyết định đó. Một người lãnh đạo không ra được quyết định hoặc tránh trách nhiệm ra quyết định là lãnh đạo tồi và tập thể do anh ta lãnh đạo sẽ không thể mạnh được. 4. Không phải lúc nào cũng nhẹ nhàng và ngọt ngào
Như là huấn luyện viên một đội bóng, trưởng nhóm luôn hỗ trợ các thành viên, song tùy từng thời điểm, đôi khi phải cứng rắn, đặc biệt với một số loại thành viên. Nhà quản lý không phải lúc nào cũng ngọt ngào và dịu êm.
Làm trưởng nhóm đòi hỏi năng lực và sức mạnh để có thể chỉ ra được các điểm yếu, điểm mạnh, các sai lầm mà các thành viên mắc phải. Đây là công việc khó và cần cứng rắn trong hành động. Ra quyết định là nhiệm vụ của nhà quản lý và quyết định cần khắc nghiệt trong những giai đoạn khó khăn. Tuy nhiên, cứng rắn thế nào để mọi người vẫn yêu quý mình, đó là một nghệ thuật.
5. Ngần ngại trong đòi hỏi chất lượng
Nhiều nhà lãnh đạo thường e dè khi nói với nhân viên về hiệu quả hoạt động kém của họ. Việc này thường được giải thích với nhiều lý do: “Tôi không muốn làm mếch lòng nhân viên, hoặc “Chúng ta trả lương họ chưa xứng đáng, vì vậy chúng ta không thể đòi hỏi chất lượng cao hơn” v.v…
Bào chữa như vậy là không có cơ sở. Khi một nhà quản lý ngần ngại đòi hỏi chất lượng cao, nhóm của anh ta sẽ trở nên xoàng xĩnh, chí khí của nhóm sẽ suy giảm, và cuối cùng nhiều thành viên sẽ ra đi. Ngược lại, khi nhà quản lý yêu cầu chất lượng cao, các nhân viên sẽ cảm thấy công việc của họ là có giá trị. Họ thấy hãnh diện về nghề nghiệp của mình, tôn trọng người quản lý và trở nên trung thành hơn với tổ chức.
6. Lo sợ đặt mục tiêu cao
Nhiều nhà quản lý cũng lo sợ khi đặt mục tiêu cao cho nhóm. Họ e dè khi nói những câu: “chúng ta là những người tốt nhất” hay “chúng ta sẽ trở nên tốt nhất”. Có người nói đây là sự nghiêm tốn và nhún nhường cần thiết. Tôi thì cho rằng đây là biểu hiện của sự thiếu tự tin.
Một nhà lãnh đạo tự tin sẽ nói với nhân viên để tiến lên vị trí số 1. Cách đặt mục tiêu này sẽ khuyến khích nhân viên luôn tự hoàn thiện mình, cảm thấy thử thách, vui vẻ, hãnh diện, và cảm thấy rằng họ là lực lượng để chiến thắng.
Trên đây là một số những sai lầm thường gặp ở những người lãnh đạo, với mục đích để phân biệt những nhà lãnh đạo xoàng xĩnh với những nhà lãnh đạo giỏi, những nhóm thành đạt với những nhóm thất bại… Hy vọng những kinh nghiệm này sẽ giúp ích phần nào cho các nhà quản lý của chúng ta trong công tác điều hành hiện nay.
Phải làm gì đây khi bị cô bạn gái mình đang để ý ngang nhiên “phán” rằng em là chàng trai “đã thành niên mà chưa trưởng thành”, trong khi cô ấy chào đời sau em tới…mười ba tháng?. Đau quá!
Ừ, tôi hiểu em. Đau lắm!
Đối với nam giới, được công nhận là “đã trưởng thành” chính là thành công đầu tiên cần phải đạt được, trước tất cả những thành công khác. Nghĩa là anh phải trở thành “một người đàn ông chân chính” trước khi trở thành bất cứ thứ gì khác trong đời.
Hoạ sĩ Nguyễn Đình Đăng, cũng là một nhà khoa học Việt sống tại Nhật đã viết về ngày trưởng thành của con trai mình như thế này:
Trong ngày trưởng thành, các bạn Nhật của con đeo cà vạt, vận kimono, tập trung tại toà thị chính,
nghe ông thị trưởng giảng đạo đức.
Sau đó chúng kéo nhau đi Shibuya và Harajuku
hát karaoke, rồi uống rượu say khướt.
Trong ngày trưởng thành, ký túc xá của con chìm trong đêm rét buốt,
tuyết dày một mét phủ ngoài sân.
Con ngồi trong phòng, trước laptop, thiết kế một toà nhà
dựng trên sa mạc Sahara.
Đối với người này, sự trưởng thành nghĩa là được phép uống rượu say khướt, còn với người khác nó nghĩa là bắt đầu hiện thực hoá một ước mơ.
Với em thì trưởng thành nghĩa là gì?
Thật tiếc là chúng ta không có một lễ trưởng thành như Nhật Bản và Hàn Quốc. Mười bốn tuổi, chúng ta có quyền làm chứng minh thư. Mười tám tuổi, được đi bầu cử và có đầy đủ quyền công dân. Mặc dù vậy, không có ai nghiễm nhiên được công nhận là đã trưởng thành vào tuổi mười tám. Cũng không ai làm lễ cho ngày nhận chứng minh thư hay lần đầu tiên đi bầu cả. Có phải vì không có dấu mốc rõ rệt nên chúng ta không có sự khao khát trưởng thành cũng như khao khát khẳng định sự trưởng thành của mình. Và vì thế mà có không ít thanh niên đến kỳ thi đại học vẫn không biết mình muốn học ngành gì. Tốt nghiệp xong vẫn không biết mình có ưa thích nghề này không. Bị công an giao thông phạt thì thưa rằng em không biết luật quy định như vậy. Và rất nhiều người khác dù đã vượt xa cái tuổi 18 mà vẫn hành xử như con trẻ.
Để chứng tỏ sự trưởng thành, em có thể học cách hành xử giống như những người trưởng thành. Tuy nhiên, sự trưởng thành không phải là để chứng tỏ. Thật ra, trưởng thành không phải là một thành tích có thể đạt được qua một đêm, mà là một quá trình diễn ra suốt cuộc đời. Chúng ta đạt đến sự trưởng thành ở từng khía cạnh khác nhau vào mỗi thời điểm khác nhau trong đời sống. Có thể em trưởng thành trong tiêu xài ở tuổi lên mười, khi đã biết trân trọng từng đồng bạc mẹ cho. Em có thể trưởng thành trong ứng xử ở tuổi mười lăm, khi biết bày tỏ thái độ tôn trọng người đối diện. Nhưng có thể đến năm ba mươi tuổi em vẫn chưa trưởng thành về tình cảm, nếu em còn tin rằng tình yêu không thể chỉ được cảm nhận mà luôn cần phải được chứng minh…
Dù sao thì việc bị gán cho cái mác “thành niên mà chưa trưởng thành” là thất bại đáng buồn đối với bất cứ ai. Tôi không biết vì sao cô bạn em khẳng định là em chưa trưởng thành và về phương diện nào. Nhưng nhìn từ một góc nào đó thì tôi cho rằng cô ấy đã nhận xét đúng. Có nhớ hôm kia em kể với tôi rằng từ miền Trung vào em “phải tự đi xe đò vào Sài Gòn, tự tìm nhà trọ, tự mua bản đồ và hỏi tìm đường đến điểm thi, không có ai đi theo cả”. Em kể với sự buồn bực không hề che giấu. Em trách cha mẹ mình đã không như hàng triệu người cha người mẹ khác, lặn lội đường xa để đưa con mình từ quê nhà ra thành phố dự kỳ thi đại học, theo xe ôm đưa con đến phòng thi, rồi ngồi vạ vật đợi con đến tận trưa ngoài cổng. Tôi lấy làm lạ. Đáng lẽ đó là điều em phải tự hào mới đúng, sao lại tủi thân? Mười tám tuổi và vẫn chưa muốn (hay chưa được phép?) tự đi thi một mình, lẽ nào em cũng là một trong những người trẻ đang tìm cách trì hoãn sự trưởng thành của mình?
Em có biết, cũng như tuổi già, trưởng thành là một quá trình không thể ngăn cản, trước hay sau, nhanh hay chậm chúng ta cũng buộc phải trưởng thành. Sự trưởng thành là kết quả của những biến cố, những vấp ngã, những va chạm, những kiến thức và những cảm nghiệm mà ta thu nhặt được trên đường đời. Nhưng cũng vì vậy mà sự trưởng thành có thể bị trì hoãn, cũng như có thể được thúc đẩy…một cách khách quan hay chủ quan.
Có người nói với tôi rằng con người chúng ta cũng như những cái cây, và có những người giống như cây bonsai vậy. Cây bonsai không phát triển về tầm vóc, nhưng nó vẫn trưởng thành.
Ở Mỹ, những trẻ vị thành niên trên 14 tuổi có thể trình Thỉnh nguyện thư lên Thẩm phán để xin hưởng Quyền trưởng thành. Người hưởng Quyền trưởng thành được hưởng một số quyền pháp lý của người lớn như ký hợp đồng, tự chọn nơi sinh sống, định đoạt tài sản riêng và tự ghi danh đi học…Tuy nhiên, người đó sẽ phải tự lo liệu tài chính cho bản thân, tự mua bảo hiểm y tế, nha khoa, xe cộ, tự trả các hóa đơn của mình.
Một người bạn của tôi tâm sự rằng, khi cha anh mất vào năm anh 13 tuổi, một phần con người anh đã chết theo ông, và phần còn lại trưởng thành gần như ngay lập tức, khi anh phải đối diện và xử lý tất cả những việc còn lại của gia đình, thay cha chăm sóc mẹ và hai cô em gái nhỏ. Không còn chọn lựa, vào năm 13 tuổi, anh buộc phải trưởng thành.
Em hỏi rằng làm sao để biết mình đã trưởng thành hay chưa ư? Tôi sẽ nói em nghe điều tôi nghĩ: em trưởng thành khi em đủ mạnh mẽ để trở thành một điểm tựa, dù là điểm tựa của bất cứ ai, kể cả chính bản thân mình.
“Amo Ergo Sum” nghĩa là “tôi yêu, do đó tôi hiện hữu.” Đây là một câu nói có lẽ phát sinh từ câu nói bất hủ của Descartes, 31.3.1596 – 11.2.1650), cha đẻ của triết học tây phương hiện đại: “Cogito ergo sum” — tôi suy tư, do đó tôi hiện hữu.
“Amo Ergo Sum” nằm trong tập thơ “The Year One 1952” của Kathleen Jessie Raine (14.6.1908-6.7.2003), nữ thi sĩ Anh quốc, người được phong hàm danh dự “Commander of the British Empire” (một người chỉ huy của vương quốc Anh) năm 2000.
Chúc các bạn một ngày yêu nhiều !!
Hiển 🙂
. Tôi yêu, do đó tôi hiện hữu
Bởi tôi yêu
Mặt trời rót tia nắng vàng sống động
Rót vàng và bạc xuống biển.
Bởi tôi yêu
Trái đất trên trục sao
Nhảy múa ngất ngây
Bởi tôi yêu
Mây đi trên gió suốt những bầu trời rộng
Những bầu trời rộng đẹp, xanh sâu
Bởi tôi yêu
Gió thổi những cánh buồm trắng
Gió thổi qua những cánh hoa, gió thổi ngọt ngào
Bởi tôi yêu
Dương xỉ thành xanh, làm xanh cỏ, và xanh
Hàng cây trong suốt ánh mặt trời
Bởi tôi yêu
Chiền chiện vút cao từ đồng cỏ
Và tán lá tràn đầy tiếng chim ca
Bởi tôi yêu
Không khí mùa hè chập chùng với muôn ngàn cánh
Ngàn đôi mắt châu rực cháy trong ánh sáng
Bởi tôi yêu
Những vỏ sò muôn sắc trên cát
Mang hình hài đẹp và phức tạp như tư tưởng
Bởi tôi yêu
Có một lối đi vô hình ngang qua tầng trời
Chim bay lối đó, mặt trời và mặt trăng
Và tất cả các vì sao đi lối đó ban đêm
Bởi tôi yêu
Có con sông chảy suốt đêm trường
Bởi tôi yêu
Suốt đêm dòng sông chảy vào giấc ngủ tôi
Hàng vạn sinh linh ngủ trong vòng tay tôi
Và ngủ gật, và trôi chảy được nghỉ ngơi.
(Nguyễn Minh Hiển dịch)
. Amo Ergo Sum
Because I love
The sun pours out its rays of living gold
Pours out its gold and silver on the sea.
Because I love
The earth upon her astral spindle winds
Her ecstasy-producing dance.
Because I love
Clouds travel on the winds through wide skies,
Skies wide and beautiful, blue and deep.
Because I love
Wind blows white sails,
The wind blows over flowers, the sweet wind blows.
Because I love
The ferns grow green, and green the grass, and green
The transparent sunlit trees.
Because I love
Larks rise up from the grass
And all the leaves are full of singing birds.
Because I love
The summer air quivers with a thousand wings,
Myriads of jewelled eyes burn in the light.
Because I love
The iridescent shells upon the sand
Takes forms as fine and intricate as thought.
Because I love
There is an invisible way across the sky,
Birds travel by that way, the sun and moon
And all the stars travel that path by night.
Because I love
There is a river flowing all night long.
Because I love
All night the river flows into my sleep,
Ten thousand living things are sleeping in my arms,
And sleeping wake, and flowing are at rest.
Kathleen Raine:
“Amo Ergo Sum”
The Year One (1952)
“Trong đấu trường” là câu quote rất nỗi tiếng của Theodore D. Roosevelt, (October 27, 1858 – January 6, 1919), tổng thống thứ 26 và, cho đến nay 2009, là tổng thống trẻ tuổi nhất của nước Mỹ–nhậm chức tổng thống lúc 42 tuổi. Theodore, hay Teddy, Roosevelt là một chiến binh, sử gia, người khai phá thiên nhiên, thích săn bắn. Ông có một cá tính rất mạnh mẽ và nóng bỏng, và một hình ảnh rất cao bồi. Từ tên ông, ngày nay chúng ta có búp bê gấu Teddy Bear.
Ông và tổng thống Franklin Roosevelt, (1882 – 1945), tổng thống thứ 32 của Mỹ, là họ hàng đời thứ 5. Teddy gả cháu gái là Eleanor cho Franklin năm 1905.
Bài quote “Trong Đấu Trường” là bài quote được những người phải chiến đấu ngày đêm rất ưa thích. Đầu thập niên 1980’s, lúc còn trong trường luật, mình làm việc cho một luật sư hình luật nổi tiếng. Trong phòng anh ấy có treo quote này. Mình thích quá, chép lại, và treo nó trong văn phòng mình rất nhiều năm.
Ngày nay không thích đánh nhau nữa, dù là vẫn không ngại chiến đấu khi cần. Tuy nhiên, cho các bạn, nhất là các bạn trẻ phải chiến đấu ngày đêm trong hào rãnh, đây là một câu quote rất tốt. Mình dịch ra tiếng Việt ở đây cho các bạn.
Một thời để chiến đấu, một thời cho hòa bình. Có lẽ ta sẽ không hiểu được hòa bình nếu ta đã không trưởng thành trong chiến trận.
Chúc các bạn một ngày vui.
Mến,
Hoành
. Trong đấu trường,
Kẻ phê bình không đáng kể,
Cũng không đáng kể kẻ chỉ ra anh hùng đã vấp ngã thế nào,
hay người hành động lẽ ra đã nên làm thế nào.
Bao công lao đều thuộc về người trong đấu trường,
Người mặt mũi lem luốc mồ hôi, máu me và bụi đất,
Người chiến đấu anh dũng,
Người làm lỗi và khiếm khuyết hoài hoài,
Người biết nhiệt tâm nóng bỏng, hiến dâng trọn vẹn,
Và sử dụng đời mình cho chính nghĩa,
Người, trên đỉnh cao, cuối cùng biết được vinh quang của thành tựu cao cả
Và, dưới đáy thấp, nếu thất bại, tối thiểu là thất bại với can trường đởm lược,
Để chốn của Người không phải là nơi của những linh hồn
lạnh lẽo và nhu nhược không hề biết đến chiến thắng cũng như chiến bại.
(Trần Đình Hoành dịch)
.
In The Arena
“It is not the critic who counts, not the man
who points out how the strong man
stumbled, or where the doer of deeds
could have done better. The credit belongs
to the man who is actually in the arena;
whose face is marred by the dust and sweat
and blood; who strives valiantly; who errs
and comes short again and again; who knows
the great enthusiasms, the great devotions
and spends himself in a worthy course; who
at the best, knows in the end the triumph of
high achievement, and who, at worst, if he
fails, at least fails while daring greatly; so
that his place shall never be with those cold and timid souls who
know neither victory or defeat.”
Chúng ta đều cảm thấy rằng những gì chúng ta đang làm chỉ là một giọt nước trong đại dương.
Nhưng đại dương sẽ ít đi một chút bởi vì thiếu giọt nước ấy.
“We ourselves feel that what we are doing is just a drop in the ocean.
But the ocean would be less because of that missing drop.” Mẹ Teresa
Trong cuộc sống hàng ngày nhiều áp lực và va đập, chúng ta thường khó tránh khỏi những bất đồng, va chạm trong công việc, sinh hoạt hàng ngày, và các mối quan hệ ở gia đình, nơi làm việc. Khi xảy ra tranh cãi, ta có thể không kiềm chế được và nổi nóng hay nặng lời, ta có thể thắng hay thua cuộc tranh cãi, thường không dễ giữ được hòa khí …
Kết quả là ta có thể làm tổn thương người khác, bị người khác làm tổn thương, hay chính mình cũng bị tổn thương, thấy đau đớn vì những mặc cảm thua cuộc, yếu thế, tự cho là mình kém cỏi, cay đắng vì thất bại. Thậm chí nhiều người trong chúng ta rồi sẽ cảm thấy ân hận trên chiến thắng, vì đàng sau cái gọi là chiến thắng ấy là những xa cách, mất mát và đổ vỡ nếu một trong hai bên đắm say với cái tôi ngã mạn, hay không biết cư xử đẹp.
Tất nhiên, chúng ta đều biết rằng điều hay nhất là chúng ta cố gắng trong ứng xử, giao tiếp và các mối quan hệ sao cho giữ được an bình trong tâm ta và an hòa với người: đối đãi với nhau bằng lòng biết ơn, tính chính trực, sự ôn nhu, nói những lời tử tế, …có nghĩa là tử tế với nhau. Làm được điều này không phải dễ! Vì thế chúng ta phải học cách sống an hòa với mình và với người gần như suốt đời, trong suốt quá trình hiện hữu của ta.
Có một câu nói rất hay của Abraham Joshua Heschel: “Ngày xưa còn trẻ, tôi thường khâm phục những người thông minh; giờ khi tôi lớn khôn hơn, tôi ngưỡng mộ những người tử tế.”
Albert Schweitzer cũng tin rằng: “Cứ luôn tử tế là có thể làm được rất nhiều. Như mặt trời làm băng tan, sự tử tế làm cho những ngộ nhận, bất tín, và thù địch tan biến “
Tuy nhiên tử tế với mọi người vẫn chưa đủ. Nếu chúng ta đôi lúc gặp những người chưa tử tế với mình, ta phải làm sao ? Chúng ta cần biết thương mình để có thể thương người. Và một trong những cách thương mình có thể dẫn đến an vui là biết buông xả và tha thứ. Bài viết sau đây của Leo Babauta trong Zenhabits sẽ cho ta một số ý tưởng về cách thực hành buông xả và tha thứ.
LÀM THẾ NÀO ĐỂ BUÔNG XẢ VÀ THA THỨ Leo Babauta
Một lúc nào đó trong đời, chúng ta đều đã từng bị một ai đó gây tổn thương-chúng ta bị đối xử tệ, niềm tin đổ vỡ, lòng ta đau đớn.
Và có khi nỗi đau này tuy không nặng nề lắm, nhưng nỗi đau kia lại hằn sâu và kéo dài quá lâu. Chúng ta lại khơi cho nỗi đau trở lại và rất khó khăn để nó qua đi.
Chính điều này gây ra những vấn đề. Thương tổn ấy không chỉ khiến ta đau khổ mà còn gây căng thẳng và hủy hoại các mối quan hệ, làm ta xao lãng công việc, xa rời gia đình và những điều quan trọng khác, khiến chúng ta miễn cưỡng không chịu mở lòng ra với những điều mới lạ và những người mới gặp. Chúng ta bị mắc kẹt trong chu trình của sân hận, đau khổ, và bỏ qua vẻ đẹp của cuộc sống diệu kỳ. Đối với một số người sẽ là thất vọng chán chường đến buông tay cay đắng.
Chúng ta cần phải học cách buông xả. Chúng ta cần phải tha thứ, để ta có thể tiếp tục bước tiếp và hạnh phúc. Tha thứ không chỉ với người mà còn với mình.
Đây là một điều mà tôi đã học một cách khó khăn- sau nhiều năm nuôi dưỡng sân hận với một người yêu thương phát sinh từ ấu thời và niên thiếu. Sau cùng tôi đã bỏ đi nỗi giận này ( khoảng 8 năm về trước). Tôi đã tha thứ, và điều này không chỉ cải thiện thật tốt mối quan hệ của tôi với người yêu thương ấy, mà còn giúp tôi hạnh phúc hơn.
Sự tha thứ không có nghĩa là bạn bôi xóa quá khứ, hay quên đi những gì đã xảy ra. Cũng không có nghĩa là người kia sẽ thay đổi hành vi- vì bạn không kiểm soát được điều đó. Tất cả chỉ có nghĩa là bạn đang buông xả cơn giận, hay cay đắng và nỗi đau, để chuyển sang một miền tốt đẹp an vui hơn.
Điều đó không dễ. Nhưng bạn có thể học làm điều đó.
Nếu bạn đang bám vào nỗi đau, làm nó sống lại, và không thể buông xả và tha thứ, xin hãy đọc một đôi điều tôi đã học
1/ Quyết tâm buông xả:
Bạn sẽ chẳng làm điều này trong một giây và có lẽ cũng không trong trong một ngày. Có thể cần thời gian để vượt qua một nỗi đau. Thế thì hãy toàn tâm ý với việc thay đổi, vì bạn thừa nhận rằng bạn đang bị tổn thương bởi nỗi đau.
2. Nghĩ về những thuận lợi và khó khăn:
Nỗi đau này gây ra cho bạn các vấn đề gì.? Nó có ảnh hưởng đến mối quan hệ của bạn với người này không? Với những người khác? Nó có ảnh hưởng đến công việc hay gia đình không? Nó có cản trở bạn theo đuổi những giấc mơ, hay trở nên một người tốt hơn chăng? Nó có làm cho bạn không hạnh phúc không? Hãy nghĩ về tất cả những vấn đề này và nhận ra bạn cần thay đổi. Rồi hãy nghĩ đến những lợi ích của sự tha thứ- tha thứ sẽ làm cho bạn hạnh phúc hơn, giải phóng bạn khỏi quá khứ và nỗi đau, cải thiện mọi điều về mối quan hệ và cuộc đời
3. Nhận thức rằng bạn có thể lựa chọn:
Bạn không thể kiểm soát hành động của người khác, và cũng không nên cố gắng. Nhưng bạn có thể kiểm soát không chỉ hành động của bạn, mà còn ý nghĩ của bạn. Bạn có thể ngừng làm sống lại nỗi đau, và chọn để đi tiếp. Bạn có năng lực này. Bạn chỉ cần học cách thực hiện.
4. Cảm thông
Thử điều này: hãy đặt mình vào địa vị người đó. Cố gắng hiểu tại sao người ấy làm như thế. Bắt đầu từ giả định rằng người đó không phải là người xấu, nhưng chỉ làm một việc sai. Điều gì người này đã từng nghĩ, điều gì đã xảy ra trong quá khứ khiến người ta làm thế. Khi làm thế người đó đã nghĩ gì, và làm gì sau đó? Bây giờ người đó cảm thấy ra sao? Bạn sẽ không nói rằng những gì người ấy làm là đúng, nhưng thay vào đó hãy cố gắng hiểu và cảm thông.
5. Hiểu trách nhiệm của mình.
Cố gắng để hiểu vì sao và bằng cách nào bạn phải chịu một phần trách nhiệm cho những gì đã xảy ra. Bạn đã có thể làm gì để ngăn điều đó, và bằng cách nào bạn có thể ngăn nó không xảy ra lần sau? Không phải là bạn chịu hết trách nhiệm, hay nhận trách nhiệm cho người kia, nhưng nhận biết rằng chúng ta không phải nạn nhân mà là những người trong cuộc và chịu trách nhiệm trong cuộc đời.
6. Tập trung vào hiện tại:
Vì bạn đã xem xét quá khứ, hãy biết nhận ra rằng quá khứ đã qua. Nó không diễn ra nữa , ngoại trừ trong tâm trí bạn.Và điều đó gây ra vấn đề – đau khổ và căng thẳng.Thay vì vậy, hãy tập trung trở về với giây phút hiện tại. Bạn đang làm gì? Bạn có thể tìm thấy niềm vui nào hiện tại? Hãy tìm ra niềm vui trong cuộc sống hiện tại, khi nó xảy ra, và đừng làm quá khứ sống lại. Tất nhiên bạn sẽ bắt đầu nghĩ về quá khứ, nhưng chỉ biết như thế, và nhẹ nhàng trở về với hiện tại.
7. Để an bình bước vào đời bạn
Vì bạn tập trung vào hiện tại, cố gắng tập trung vào việc thở. Tưởng tượng mỗi hơi thở ra là đớn đau và quá khứ, loại bỏ nó ra khỏi thân xác và tâm hồn bạn. và tưởng tương mỗi hơi thở vào là an bình đi vào và làm tràn đầy trong bạn. Loại bỏ nỗi đau và quá khứ. Để cho sự an bình đi vào đời bạn. Đi lên phía trước, không nghĩ về quá khứ nữa, chỉ nghĩ về an bình và hiện tại. 8. Cảm nhận tâm từ ái
Sau cùng, tha thứ cho người và nhận thức rằng khi tha thứ, bạn cho mình được hưởng hạnh phúc và bước tiếp. Làm điều này không dễ, nhất là khi ta nuôi dưỡng quá nhiều sân hận với một ai đó. Hãy chọn con đường đi đến hạnh phúc Hãy để tình yêu người và yêu đời lớn lên trong tim bạn. Có thể cần thời gian, nhưng nếu bạn kiên định điều này, tiếp tục thực hiện một số điều trên cho đến khi bạn có thể đạt đến lòng thương cảm. Babauta
Mong sao chúng ta đều có được niềm hạnh phúc của buông xả và tha thứ ít nhất một lần trong ngày hôm nay và nhiều hơn trong một tuần và một tháng ……
Đây là bức họa Starry Night (Đêm Sao) của họa sĩ Van Gogh. Mình từng được ngắm bức họa gốc ở phòng triển lãm tranh ở trường đại học Yale. Đẹp lắm. Đêm Sao lung linh, mờ ảo và sâu, khiến người xem cảm giác mình chỉ là một chấm nhỏ giữa bầu trời đêm với ngàn ngôi sao lấp lánh chiếu sáng xuống thôn xóm nhỏ, quên đi cả điểm đứng của mình.
Tại sao họa sĩ Van Gogh lại vẽ được bức tranh kỳ diệu trên? Tại sao anh có thể thu lại cả bầu trời sao xuống trên bức họa thật sống động như vậy? Cảm hứng sáng tạo của anh từ đâu tới?
Nếu bạn đọc những bức thư của họa sĩ Van Gogh, bạn sẽ nhìn thấy nguồn cảm hứng sáng tạo của anh. 🙂 Đơn giản như sau: (1) Anh thật yêu một điều gì, bầu trời. (2) Anh yêu thương con người. (3) Anh muốn diễn tả cho con người biết bầu trời kia đẹp ra sao. Vậy anh vẽ cho con người. Và đó là tất cả lý do. 🙂
Hồi đó, chàng thanh niên Van Gogh khoảng 22, 23 tuổi sống ở Luân Đôn để học làm cha xứ. Anh không có ý tưởng gì về làm nghệ sĩ. Trong căn phòng nhỏ bé, rẻ và tồi, anh viết thư cho cậu em trai yêu quý của anh đang ở Hà Lan. Anh nhìn qua cửa sổ, ngắm ánh sáng lung linh chảy như dòng suối , một cái cột đèn, một ngôi sao, và anh viết trong thư của anh “Bầu trời sao thật đẹp quá và anh phải cho em xem nó đẹp thế nào!”. Và rồi trên tờ giấy viết có kẻ lề, anh đã vẽ nên những nét vẽ đẹp, mềm mại, mảnh mai nhất về bầu trời sao sáng lung linh.
Đó là nghệ thuật. Đó là một cảm giác của tình yêu và nhiệt tình, theo một cách đơn giản, đam mê và chân thực.
Câu chuyện trên thật gây shock và thổi một luồng sáng trong veo vào quá trình sáng tác nghệ thuật.
Phải chăng, để tạo ra một tác phẩm nghệ thuật đẹp, phải nghĩ ngợi lâu, cân nhắc và học tất cả những gì các nghệ sĩ bậc thầy đã từng ghi lại trước đó?
Phải chăng, phải rất tỉ mỉ cẩn thận với những thiết kế và “các mặt phẳng” trong bức họa?
Phải chăng tiếp tục, các bạn cứ kể ra?
Nhưng cảm hứng sáng tạo của Van Gogh và của những tác phẩm vĩ đại thật đơn giản. Và nên đơn giản. Đó là cảm xúc của tình yêu, và nhiệt tình cho một điều gì đó – một chú cóc nhảy trên chiếc lá sen trên mặt hồ, giọt sương lăn trên mí mắt con mèo, một người hăng say lao động, một ý tưởng làm đường xá bớt bụi – một cách đơn giản, đam mê và chân thực – và cố gắng diễn tả vẻ đẹp của điều đó cho người khác, bằng cách viết văn, vẻ tranh, chơi nhạc, thiết kể một phần mềm, hay mở công ty.
Hôm nay chúng ta bàn đến điểm đầu tiên trong 9 điểm đã nói đến trong bài Du nhập văn hóa nước ngoài. Đó là: “Phải nắm vững văn hóa và định chế của nước mình trước. Trước khi biết cái hay cái dở của người, phải biết cái hay cái dở của mình đã.” Chúng ta sẽ khai triển câu nói này trên ba bình diện: Tư duy tích cực cá nhân, văn hóa quốc gia trong kinh tế toàn cầu hóa, và chính sách giáo dục phát triển văn hóa. Tư duy tích cực cá nhân
Trên bình điện tư duy tích cực, trước đây chúng ta đã nói đến khái niệm “thuộc về” (sense of belonging) . Ta càng cảm thấy ta “thuộc về” thế giới mình đang sống, ta càng tư duy tích cực. Nguời không cảm thấy mình thuộc về thế giới mình sống thường bị bệnh trầm uất.
Mà cảm tưởng “thuộc về” tùy thuộc vào yêu thích của ta với mọi người, mọi vật quanh mình. Nghĩa là, nếu ta là người Việt, ta càng dễ tư duy tích cực nếu ta càng yêu mến non sông đất nước, văn hóa nghệ thuật Việt. Người Việt sống trên đất Việt mà không thích những cái gì Việt thì nhất định là không thể tư duy tích cực được, vì sống như thế sẽ có cảm tưởng như đang ở tù.
Mà muốn yêu điều gì thì ta phải làm quen và hiểu rõ nó một tí. Ta không thể nào thích baseball nếu ta chẳng hiểu gì về baseball cả. Không cần phải biết chơi, nhưng ít ra phải hiểu luật chơi thì mới có thể thưởng thức trận bóng.
Văn hóa cũng thế. Phải biết thì mới yêu được. Chỉ có điều là chúng ta cứ lầm tưởng là nếu mình là người Việt thì đương nhiên mình đã biết văn hóa Việt rồi. Có thì cũng có đó, nhưng đôi khi xét lại thì chỉ mới được lớp da mỏng dính bên ngoài.
Đây là một số căn bản mình nghĩ là chúng ta cần biết:
* Một số nghĩa lýsâu sắc trong huyền sử Việt: Lạc Long Quân-Âu Cơ, Trọng Thủy Mỵ Châu, Phù Đổng Thiên Vương, bánh dầy bánh chưng, An Tiêm và quả hưa hấu v.v… Khi nhỏ ta học như chuyện thần tiên, ngày nay ta cần đọc lại đề hiểu sâu sắc một vài tư tưởng triết lý.
* Vài căn bản về tam giáo (Khổng, Phật, Lão). Các điều này đang có trong máu của ta và trong cách ta sống hàng ngày, cũng như trong bàng bạc tư duy của xã hội. Tốt hơn là ta nên biết chúng rõ hơn một tí để “biết mình.”
* Âm nhạc dân gian mọi miền
* Nghệ thuật dân gian mọi miền.
* Phong tục tập quán cổ truyền.
* Ca dao tục ngữ
* Văn hóa 53 dân tộc thiểu số anh em.
Đây chỉ là danh sách cách việc “cổ” và “thiểu” dễ bị bỏ rơi. Về các vấn đề ‘”tân” và “đại” có lẽ ai cũng biết hàng ngày, không cần nhắc đến.
Không cần phải giỏi, nhưng ít ra là cũng biết đủ để giải thích cho người khác, như là giải thích cho một người nước ngoài đủ rõ để người ta thích văn hóa mình. Biết mà chưa giải thích được, là chưa biết. Đây tạm là chuẩn mực để ta tự xét đoán mình đã tạm đủ chưa. Văn hóa quốc gia trong kinh tế toàn cầu hóa
Toàn cầu hóa kinh tế càng cao thì ta càng phải sử dụng văn hóa riêng của ta rất nhiều trong phát triển và cạnh tranh kinh tế. Người các nước chắc không tốn tiền đến Việt Nam du lịch để nghe nhạc Mỹ hay nhạc Pháp, hoặc mua áo quần DKNY, Calvin Klein, hay Nike.
Hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam không thể xuất cảng tốt nếu xem cứ như hàng Trung Quốc. Âm nhạc Việt Nam không xuất cảng được nếu nghe như nhạc Jazz.
Điều đầu tiên, nếu không là duy nhất, để sản phẩm của ta nỗi bật trên sản phẩm các nước là nó phải KHÁC. Mà cái khác tự nhiên nhất là từ văn hóa nghệ thuật quốc gia mà sinh ra. Nếu một cái ly có vài hình vẽ không giống Tàu không giống Tây, nói chung là “không giống ai,” thì đó là cái ly người ta mua về để chưng trong tủ kiếng. Bằng không thì nó chỉ là cái ly thường rẻ mạt như nghìn cái ly khác.
Thi ca nếu có hương vị Việt Nam, lại mang chiều sâu con tim vượt biên giới, đó mới là loại thi ca có thể xuất cảng.
Nhà hàng của bạn nếu trang trí dân gian Việt Nam một tí, nhưng sản phẩm và dịch vụ cao, lại có màn nhạc cổ truyền sống, thì có lẽ là thu hút du khách nước ngoài hơn là nhà hàng trang trí theo Tây và chơi nhạc Mỹ.
Thế giới đánh nhau ì đùng, viết sách về tư tưởng hòa bình của nhà Phật thì xuất cảng được hơn là viết triết lý tây phương (Chúng ta là thầy triết đông, nhưng là học trò triết tây).
Nếu chơi Nhạc Jazz thì âm hưởng của nó phải được người ta gọi là Vietnamese Jazz, như là Latin Jazz cho Nam Mỹ, thì mới có thương hiệu để cạnh tranh xuất cảng.
Tóm lại, thế giới càng thu nhỏ vì toàn cầu hóa, ta lại càng cần vững mạnh văn hóa nghệ thuật quốc gia để cạnh tranh kinh tế. Chính sách giáo dục phát triển văn hóa
Hiện nay, việc phát triển văn hóa hầu như nằm ngoài quyền hạn và tầm nhìn của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo. Và giáo dục trở nên rất nghèo nàn về văn hóa nghệ thuật dân tộc. Chương trình giáo dục nên bỏ bớt những giờ học không cần thiết và thay vào đó giờ văn hóa nghệ thuật dân tộc.
Các Đại Học nên có nhiều môn về triết lý, văn hóa, nghệ thuật dân tộc, như là môn nhiệm ý (elective course) cho sinh viên, dù bất kỳ khoa nào, cũng có thể lựa chọn.
Chúng ta cần phải có cái nhìn tổng thể về văn hóa. Văn hóa không chỉ để trình diễn trên TV hay nhà hàng cho du khách. Văn hóa là con người. Con người biết dùng cái mình có sẵn để phát huy nó thành sức mạnh, trong đời sống riêng của mình cũng như trên chính trường và thương trường thế giới.
Con người chúng ta liên tục phản ứng đáp lại tác động từ bên ngoài, một bông hoa đẹp, một làn gió mát, một câu hỏi thăm, một vấn đề thời sự, một bài toán khó, một lời khen, một lời chỉ trích.
Làm sao để ta có thể đáp lại các tình huống liên tục thay đổi tốt nhất được? Trả lời chính xác và tự nhiên cho một câu hỏi khó, cười vui khiêm tốn nhận một lời khen, hóa giải dịu dàng một người anh em cứ mở mồm ra là chê và giúp anh ta thấy được sự mê muội của mình thoải mái vui vẻ?
Phải chăng cần học các “chiêu thức” từ trước? Đọc thật nhiều sách? Tích lũy thật nhiều kiến thức?
Hôm nay, Wang Yang Ming, một triết gia Trung Quốc chia sẻ với chúng ta về tâm trí của người hiền triết. Tâm trong như mặt nước hồ phẳng lặng, tâm sáng như gương, tâm xanh và cao thượng như trời xanh, tâm nhẹ nhàng như ngọn gió.
Chúc các bạn một ngày thật sáng,
Hiển.
.
Tâm của một Hiền Triết
Cậu học trò hỏi:
“Phản ứng của một hiền triết đối với những tình huống luôn thay đổi thì vô giới hạn. Phải chăng vị hiền triết phải học hết từ trước?”
Người Hiền Triết trả lời: “Làm sao ông ấy có thể học hết mọi thứ được? Tâm của người hiền triết như một tấm gương sáng. Bởi tấm gương hoàn toàn sáng, tấm gương đáp lại tất cả những tác động khi chúng đến và phản chiếu lại tất cả. Không có chuyện một hình ảnh từ trước vẫn được lưu lại ở thời điểm phản chiếu hiện tại, hay một hình ảnh chưa được phản chiếu đã tồn tại ở đó từ trước…
Từ những điều này ta biết rằng một Hiền Triết làm một việc gì đó khi thời điểm của việc đó đến. Nỗi sợ duy nhất là gương không sáng, chứ không phải là gương không có khả năng phản chiếu sự vật khi chúng đến. Tuy nhiên, học trò thì phải tích cực làm sáng tấm gương. Học trò chỉ nên lo lắng về chuyện tâm của mình không được sáng, chứ không phải là không có khả năng đáp ứng lại tất cả những tình huống thay đổi.”
Nguyễn Minh Hiển dịch
.
On the Mind of a Sage
The student asked: “A sage’s response to changing conditions is unlimited. Does he have to study beforehand?”
The Sage replied: “How can he study everything? The mind of the sage is like a clear mirror. Since it is all clarity, it responds to all stimuli as they come and reflects everything. There is no such case as a previous image still remaining in the present reflection or a yet-to-be-reflected image already existing there. …
From these we know that a sage does a thing when the time comes. The only fear is that the mirror is not clear, not that it is incapable of reflecting a thing as it comes. The study of changing conditions and events is to be done at the time of response. However, a student must be engaged in brightening up the mirror. He should worry only about his mind’s not being clear, and not about the inability to respond to all changing conditions.”
— Wang Yang Ming (1472-1529),
Instructions for Practical Living (1518), Part I.21
Translated by Wing-tsit Chan, Columbia University Press, NY, 1963
Em không phải là Phật tử, nhưng em cùng bạn bè vừa trở về từ chuyến “du lịch Thiền” tổ chức trong bốn ngày tại Thiền viện Bát Nhã ở Bảo Lộc (Lâm Đồng) nhân dịp lễ Phật Đản LHQ.
Ở đó, người ta hướng dẫn về Phật pháp, và những tu tập khác nhằm giúp em thích ứng với đời sống hiện đại, nuôi dưỡng thân tâm, giúp em hóa giải cơn giận, sự buồn đau, sự cô đơn và trống trải, kết nối lại những sợi dây tình thân trong gia đình và với bạn bè…. Khi về lại Sài Gòn, em thấy lòng thật vui vẻ và thanh bình
Tôi biết điều đó khi nhìn gương mặt em. Rạng rỡ như một chùm hoa vô ưu vậy.
Tôi thích cái tên ấy. Hoa Vô Ưu.
Có người vẫn tin rằng hoa vô ưu chỉ là một loài hoa trong tâm tưởng và không có thật. Cũng như sự “vô ưu” (không buồn phiền) tuyệt đối là không thể có. Còn em, em có tin rằng trên thế gian này có một loài hoa tên là “vô ưu” không?
*
Thái tử Tất Đạt Đa được sinh ra dưới vòm cây Vô ưu đang trổ hoa chính là Đức Phật sau này. Vì thế mà loài hoa này gắn với ngày Phật Đản. Tên tiếng Phạn của nó là Asoca, tiếng Hán dịch ra là Vô Ưu Thọ (cây vô ưu), lá xanh ngắt, hoa nở từng chùm, màu cam đỏ rực rỡ, tỏa hương thơm ngát.
Thái tử Tất Đạt Đa, ngay sau khi chào đời, đã vùng đứng dậy và bước đi bảy bước, mỗi bước của cậu bé lại có một bông sen nở ra đỡ lấy bàn chân. Đứng trên toà sen thứ bảy, thái tử chỉ một tay lên trời, một tay xuống đất ý nói “Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn” (Trên trời và dưới trời thì ta là cao quý nhất).
Câu nói ấy đã khiến nhiều người băn khoăn. Phải chăng đó là sự kiêu căng, chấp ngã ?
Nhưng không, em ạ. Cũng như loài hoa kia, đừng chỉ vì cái tên mà tin rằng nó không có thật. Bởi hoa là do chính con người đặt tên. Đừng vì cái nghĩa đã biết của chữ “ngã” mà hiểu rằng “TA là trên hết”. Vì nghĩa của chữ cũng do con người đặt ra.
*
Trong những buổi tịnh tâm ngắn ngủi ở thiền viện, em chỉ làm một điều duy nhất, đó là nhìn thật sâu vào tâm hồn mình, tìm đến cái nguyên sơ của tính thiện, của sự vô ưu, của tình yêu thương thuần khiết. Và rồi cũng với đôi mắt đó, em nhìn bạn bè, người thân, em nhìn thế giới xung quanh. “Lắng nghe để hiểu, nhìn lại để thương”.
Có một câu thiền rất quen này: “Khi tôi chưa học đạo, tôi thấy núi là núi, sông là sông. Khi tôi học đạo, tôi thấy núi không phải là núi, sông không phải là sông. Sau khi học đạo xong, tôi lại thấy núi là núi, sông là sông.” Ta có thể đi khắp nhân gian, nghe muôn tiếng, thấy muôn điều. Nhưng ta chỉ có thể thấu hiểu khi nhìn và nghe với trái tim khiêm nhường và trong sáng, không hề mang theo bất cứ thành kiến hay sự cố chấp nào. Khi ta nhìn những người xung quanh dưới cái nhìn thuần khiết nhất, ta mới có thể nhận ra họ như chính bản thân họ, không phân biệt bởi giàu nghèo, đẹp xấu, giỏi dở, sang hèn, không phân biệt màu da, tôn giáo, giai cấp, chính kiến… Khi đó, ta mới có thể “lại thấy núi là núi, sông là sông”.
Tôi tin rằng chữ ngã trong câu “duy ngã độc tôn” của Thái Tử Tất Đạt Đa là nói về cái vốn dĩ đã ở trong mỗi con người từ khi mới sinh ra. Cái gọi là “nhân chi sơ, tánh bổn thiện”. Cái hồn nhiên, vô ưu, lương thiện, nhân ái, yêu thương. Cái cao quý nhất, đáng nâng niu và gìn giữ nhất. Đó chính là cái “ngã” thật sự, chung nhất của loài người. Đó là Tâm Phật mà ai cũng có. Đó là xuất phát điểm của cõi nhân sinh. Đó chính là chùm hoa vô ưu kỳ diệu của tâm hồn con người.
Nhưng trong đời sống xô bồ này, có khi ta tự chôn vùi nó, có khi ta lãng quên. Và có khi giống như hoa vô ưu, người ta không nghĩ là nó còn tồn tại. Nhưng em đã biết rằng, nếu ta chịu lắng nghe, chịu nhìn lại, chịu tìm kiếm, chắn chắn là ta sẽ tìm thấy nó, phải không em?
Chắc chắn ta sẽ tìm thấy một chùm hoa vô ưu trong tâm hồn mỗi người ta quen biết. Và trong chính bản thân ta.