Category Archives: trà đàm

Cởi bỏ lối nhìn cũ để hướng về tương lai – Giải sân hận

Hirsch cho rằng “đọc thơ là một cuộc phiêu lưu trong sự cách tân, một hành động mang tính sáng tạo, một sự khởi đầu mãi mãi, một cuộc tái sinh của niềm ngạc nhiên”. Stevens gọi người đọc là “học giả của một ngọn nến”. Chăm không đọc Glơng Anak với con mắt soi mói của nhà nghiên cứu cân đong đo đếm câu chữ. Đã có kẻ làm như thế và tuyên tất cả sai bét, riêng mỗi ta đúng. Ngay lối nói ngạo mạn này đã sai lạc tinh thần thông điệp Glơng Anak rồi.

Nếu nhà bác có khả năng giảng giải lang yah, tầm chương trích cú Glơng Anak ở câu, đoạn nào bất kì mà tâm bác chưa tận diệt ppalai tung tian mọi căm thù sâu kín, là nhà bác còn chưa hiểu Glơng Anak. Khi tâm hồn bạn còn trì nặng nỗi oán trách nhỏ bé, suy nghĩ nhỏ bé, hay bạn còn nuôi ý định âm u triệt tiêu ai đó, không biết cảm thông và tha thứ, là bạn chưa hiểu tinh thần Glơng Anak. Khi bạn chưa mở lòng với con người hèn yếu xung quanh, với mọi sinh thể trên thế gian mỏng manh này, là bạn chưa thể sẵn sàng đón nhận thông điệp Glơng Anak.

Inrasara

Trà sư và kẻ sát nhân

Taiko, một tướng quân ở Nhật vào thời Tokugawa, học trà đạo gọi là Cha-no-yu, với trà sư Sen no Rikyu, một vị thầy về loại nghệ thuật diễn tả an lạc này.

Cận tướng của Taiko là Kato xem sự say mê trà đạo của chủ là bê trễ công việc quốc gia, nên Kato quyết định phải giết Sen no Rikyu. Hắn giả vờ viếng thăm trà sư và được mời vào uống trà.

Trà sư, rất thành thạo trong nghệ thuật của thầy, liếc mắt qua là biết ngay ‎ý định của viên võ tướng, nên trà sư mời Kato để kiếm ở ngoài trước khi vào phòng cho nghi lễ trà đạo, giải thích rằng trà đạo chính là biểu hiện của an bình.

Kata không nghe theo. “Tôi là võ tướng,” hắn nói. “Tôi luôn luôn mang kiếm theo người. Trà đạo hay không trà đạo, tôi giữ kiếm với tôi.”

“Được. Cứ mang kiếm vào và uống trà,” Sen no Rikyu bằng lòng.

Ấm nước đang sôi trên bếp than. Đột nhiên Sen no Rikyu nghiêng ấm nước. Hơi nước bốc xì xèo, khói và tro bay đầy phòng. Viên võ tướng giật mình chạy ra ngoài.

Trà sư xin lỗi. “Đó là lỗi của tôi. Vào lại và uống tí trà. Kiếm của anh bị dính đầy tro, tôi có nó đây, sẽ chùi nó sạch sẽ và trả lại cho anh.”

Trong thế kẹt này, chàng võ tướng biết là mình không thể giết trà sư được, hắn bèn bỏ luôn ‎ý định đó.

.

Bình:

• Theo truyền thuyết, trà do thiền sư Nhật Eichu (永忠) mang về từ Trung quốc, và năm 815 Eichu dâng trà xanh sencha cho Thiên hoàng.

Đến thế kỷ 12, thiền sư Eisai, cũng từ Trung quốc về, giới thiệu cách dùng trà bột gọi là Matcha mà ngày nay vẫn còn dùng trong nghi lễ trà đạo. Nghi thức Matcha này được dùng đầu tiên trong các tu viện Phật giáo.

Đến thế kỷ 13, thời Shogun Kamakura, giới võ sĩ đạo (Samurai) nắm toàn quyền cai trị và trà đạo trở thành một dấu hiệu qúy tộc.

Đến thế kỷ 16, mọi người Nhật đều uống trà, và trà sư Sen no Rikyu trong truyện này, được xem là thầy về trà đạo cho đến ngày nay. Sen no Rikyu là học tò của Takeno Jōō’s, và đi theo triết l‎ý ichi-go ichi-e của thầy, dạy rằng mỗi cuộc gặp gỡ đều qu‎ý báu vì không bao giờ có thể lập lại được.

Sen no Rikyu thiết lập các nguyên lý của trà đạo gồm: Hòa (和 wa), kính (敬 kei), thanh (清 sei), và tĩnh (寂 jaku)—là các nguyên lý vẫn còn sử dụng trong trà đạo ngày nay. (Nguồn: wikipedia).

• Trà đạo là một hình thức thiền tập, và các thiền sư uống trà thường xuyên. Đây chính là trà thiền, tức là chánh niệm trong thiền học–tập trung tư tưởng vào việc mình đang làm, như là nấu nước, múc trà, khuấy trà, mời trà, uống trà… Bởi vậy, trong khi sửa soạn trà, chủ và khách chẳng ai nói gì cả, chỉ tập trung tư tưởng vào việc làm trà, và khi uống cũng rất ít nói. Đó là trà thiền.

• Các thiền sư thường là trà sư. Và dĩ nhiên là khi quen tĩnh lặng thì sự nhậy cảm của ta tăng lên rất cao. Sen no Rikyu nhận ra tâm ‎ý của Tako cũng chẳng có gì đáng ngạc nhiên.

Điều quan trọng là cách xử sự nhẹ nhàng lịch sự của Sen no Rikyu làm Tako biết là vị trà sư này đã đọc được hết ý nghĩ của mình. Mình không phải là đối thủ của ông ta. Rút lui là thượng sách.

• Điều quan trọng khác nữa là trà sư cho Tako con đường rút lui trong danh dự, không bóc trần ‎ý định của hắn ra ánh sáng để ép hắn vào đường cùng.

(Trần Đình Hoành bình)

.

The Tea-Master and The Assassin

Taiko, a warrior who lived in Japan before the Tokugawa era, studied Cha-no-yu, tea etiquette, with Sen no Rikyu, a teacher of that aesthetical expression of calmness and contentment.

Taiko’s attendant warrior Kato interpreted his superior’s enthusiasm for tea etiquette as negligence of state affairs, so he decided to kill Sen no Rikyu. He pretended to make a social call upon the tea-master and was invited to drink tea.

The master, who was well skilled in his art, saw at a glance the warrior’s intention, so he invited Kato to leave his sword outside before entering the room for the ceremony, explaining that Cha-no-yu represents peacefulness itself.

Kato would not listen to this. “I am a warrior,” he said. “I always have my sword with me. Cha-no-yu or no Cha-no-yu, I have my sword.”

“Very well. Bring your sword in and have some tea,” consented Sen no Rikyu.

The kettle was boiling on the charcoal fire. Suddenly Sen no Rikyu tipped it over. Hissing steam arose, filling the room with smoke and ashes. The startled warrior ran outside.

The tea-master apologized. “It was my mistake. Come back in and have some tea. I have your sword here covered with ashes and will clean it and give it to you.”

In this predicament the warrior realized he could not very well kill the tea-master, so he gave up the idea.

# 55

Cởi bỏ lối nhìn cũ để hướng về tương lai – Huyền nghĩa của XẢ


Xả là buông bỏ, một trong những đức hạnh quan yếu của đạo Phật. Xả, tâm thức ta vững như bàn đá. Xả, ta độc lập với vui buồn, sân hận.

Câu chuyện: Rija Nưgar vừa qua, vài bạn văn Chăm đề cập đến tính ích kỷ của Chăm. Không là ích kỷ sao, khi bí quyết xây tháp đã tiệt mất kỹ thuật cao cường? Không là ích kỷ sao, khi lớp học ngày xưa chỉ có mỗi thầy với một hay vài trò, như thể bí truyền? Hay lối viết giấu chữ ppadơp akhar, sách không cho ai mượn, v.v…, không gọi là tâm ích kỷ thì còn kêu là gì? Anh bạn viện dẫn tục ngữ:

Sunuw đơ bauh habei – Gru si brei đa ka abih.
Bùa bé chỉ bằng củ khoai – Thầy muốn cho ai, e là mất hết.

Kiến thức bé xíu thôi, nếu thầy cho hết thì cái bụng trống trơn, còn chi để ra oai thể hiện uy quyền. Một bạn phản đối quyết liệt lối hiểu này. Rằng Chăm rất nghệ sĩ tính, nghĩa là hào hoa, chịu chơi. Anh muốn dịch câu trên theo kiểu khác, qua dị bản khác, mang ý nghĩa khác:

Sunuw đơ bauh habei – Gru si brei đa ka o hacih.
Bùa bé chỉ bằng củ khoai – Thầy muốn cho sợ [ai] chưa sạch.

Nghĩa là, thầy muốn ban phát lắm, nhưng sợ đầu óc trò không mang vác nổi, hay tâm trò chưa tẩy sạch tham sân si, sẽ dùng chính cái bùa này làm điều bậy bạ. Ý này tôi đã một lần đề cập trong một bài viết. Ông Thành Tín được Nưbi ban cho bài thuốc trừ rắn độc, ông không truyền cho ai, ngay cả với con. Ví ông giấu kín bí quyết để trục lợi thì miễn bàn, đằng này, ông sẵn sàng bỏ buổi cày lặn lội qua chục cây số để chữa trị vô vị lợi cho người bị nạn. Không phải ông không tin người, nhưng biết sao bây giờ? Đã xảy ra bao nhiêu chuyện đau lòng nơi cõi nhân gian này, ai biết được?

Đúng sai không bàn, sự thể ở đây chứng tỏ ông không mang tâm ích kỉ.

Chăm ít cho sách mượn, có lí do chính đáng của nó: văn hóa Chăm chưa trải qua kỹ thuật in ấn, có được một bản chép tay là chuyện thiên nan vạn nan. Nơi đó không ít vị ppalơm tapuk mượn rồi giấu đi. Nên, nếu bác thích thì hãy qua nhà tớ mà chép. Không hợp tình sao?

Các vị đạo sư Bà-la-môn như Vivekananda, Chandra có bao giờ giấu bí quyết đâu! Họ nói tất đấy chớ. Nói và bỏ đi. Buông bỏ, chối bỏ, cắt đứt, thả đi, phóng thích, ra đi, từ bỏ, rời khỏi, triệt tiêu, xua đuổi, dứt bỏ, nhổ bật, bứt rời… là huyền nghĩa của XẢ. Thầy không truyền dạy cho bạn, e là bạn chưa chuẩn bị tâm và trí để đón nhận. Trí chưa thông, bạn bị tẩu hỏa nhập ma như chơi. Tâm chưa sạch, bạn dùng tri thức hay bùa phép lừa người, hại đời. Có thể lắm chứ! Hãy nghĩ đến truyện cổ: Đi tìm học bán vợ, cũng đủ biết Chăm đã quý mến tri thức như thế nào, người học phải trải nghiệm thử thách ra sao.

Xả có nghĩa là buông bỏ những gì mình có, mà không tính toán, không kể số.

Năm 1992, vào Sài Gòn, tôi vô cùng kinh ngạc khi hỏi mượn của một ông anh Ariya Glơng Anak, anh đã nói rất ngây thơ rằng: Sara có gì để trao đổi không? Tôi nói không phải tôi không có nó, chỉ vì vội vào nên quên mang theo. Tôi còn có cả đống bản chép tay ở phòng trọ, anh cần gì cứ sang lấy. Khi tâm hồn ta giàu sang thực sự, ta mới dám cho, dám buông bỏ. Giàu – ta luôn giữ bàn tay mở. Để cho mọi thứ đi vào và đi ra bàn tay ta. Bàn tay ta luôn mới mẻ, mới mẻ để phong phú hơn. Còn thái độ nắm chặt một dúm, thì một dúm đó cứ còn lại mãi thế, không giàu lên được.

Xả là tự do là sáng tạo. Tự do chắc chắn không đồng hành với vô trách nhiệm.

Tự do khỏi Chúa, Phật, khỏi tất cả ý thức hệ tôn giáo và chính trị, khỏi mọi vướng bận truyền thống và định kiến. Càng tự do ta càng trách nhiệm. Khi sai lầm hay phạm tội, ta không còn đổ lỗi cho hoàn cảnh, đổ tội cho thầy, quy trách nhiệm cho truyền thống giáo dục, ta hết còn bởi-tại-vì Chúa, Phật, Allah hay bất kì đảng phái hoặc cơ chế chính trị nào ta tự nguyện quy thuộc vào.

Buông bỏ để giải thoát khỏi vướng bận cũ, những triền phược nô lệ, để dấn mình vào chân trời mới đầy tự do và sáng tạo. Nghĩa là dám đối mặt với cái không biết, kiếm tìm thách thức mới, qua đó làm phong phú tâm hồn và cuộc sống mình. Gauguin từ bỏ cuộc sống hạnh phúc gia đình trong yên ngoài ấm, rời bỏ thành phố văn minh để lên tàu thẳng hướng hòn đảo Tahiti còn hoang sơ, quyết mở hướng đi mới cho nền hội họa phương Tây đang bế tắc và tù túng giữa bao nhiêu trào lưu, trường phái.

Sự buông bỏ có thể dẫn đến thất bại, thậm chí tại họa; nhưng chính nó làm nên sự thay đổi. Từ đó, nó thổi luồng gió đại dương vào lục địa đã quá già cỗi.

Inrasara

Di chúc

Ikkyu, một thiền sư nổi tiếng thời Ashikaga, là con của Thiên hoàng. Khi thiền sư còn nhỏ, mẹ của thiền sư rời bỏ cung điện và vào chùa học thiền. Bởi vậy hoàng tử Ikkyu thành thiền sinh. Khi mẹ của Ikkyu qua đời, bà để lại cho thầy một lá thơ, viết rằng:

Gởi Ikkyu:

Mẹ đã xong việc ở đời này và bây giờ mẹ trở lại với Vĩnh Hằng. Mẹ mong con thành một thiền sinh giỏi và sẽ đạt được Phật tánh. Con sẽ biết là mẹ ở trong địa ngục hay không và mẹ có luôn ở cùng con không.

Nếu con thành một người hiểu được rằng Phật và đệ tử của ngài là Bồ Đề Đạt Ma là tôi tớ của con, con có thể ngưng học và đi cứu nhân độ thế. Phật giảng 49 năm và trong khoảng thời gian đó thấy chẳng phải nói một chữ nào. Con nên biết tại sao. Nhưng nếu con không biết nhưng muốn biết, tránh suy nghĩ vô ích.

Mẹ,

Không sinh, không chết.

Ngày 1 tháng 9

Tái bút: Giáo pháp của Phật là cốt để giác ngộ người khác. Nếu con lệ thuộc vào bất cứ pháp môn nào, con cũng chỉ là một côn trùng dốt nát. Có đến 80 nghìn quyến sách về Phật học và nếu con phải đọc hết các sách này mà vẫn không thấy được tánh thật của con, con sẽ không hiểu được lá thơ này. Đây là di chúc của mẹ.
.

Bình:

• Bồ Đề Đạt Ma từ Ấn Độ sang Trung quốc truyền dạy Thiền và được xem là Tổ sư sáng lập Thiền tông của các tông phái đại thừa ngày nay (Mahayana).

Phật và Bồ Đề Đạt Ma là thầy. Nhưng các vị thầy này chỉ có một mục đich duy nhất là phục vụ học trò, giúp học trò đắc ngộ, các vị thầy này chẳng có mục đích gì khác cho chính các vị, nên nói là “Phật và Bồ Đề Đạt Ma là tôi tớ của con.”

Người thực sự nhận thức được điều này, thì:

1. Không tôn thờ Phật hay Tổ sư là người giải thoát mình; biết rằng chính mình phải tự mình giải thoát mình;

2. Thuyết gỉảng giáo pháp và giúp đở thế nhân với thái độ là mình là tôi tớ của họ;

3. Và như thế tức là đã đạt được “vô ngã”, tức là đã ngộ.

Cho nên lúc này là lúc có thể ngưng học để ra đời cứu nhân độ thế.

Phật thuyết giảng 49 năm nhưng chẳng nói lời nào: Trong Kinh Đại Niết Bàn, trước khi nhập diệt, Đức Phật nói: “Như Lai thường không thuyết pháp… vì pháp vốn vô tánh. Như Lai dầu giảng nói tất cả pháp nhưng thường không chỗ nói.” (Phẩm Quang Minh Biến Chiếu Cao Qúy Đức Vương Bồ Tát, thứ 22).

Ngôn từ không bao giờ chính xác để nói lên điều gì. Nói chỉ là nói tạm, vì chẳng cách nào khác để truyền đạt tư tưởng cho đa số người. Vì vậy, dù là Phật đã giảng thuyết 49 năm, nhưng không có lời nào là tuyệt đối đến mức mọi người cứ khư khư nắm giữ nó. Tùy nghi liệu thế mà hiểu. Cho nên, giảng thuyết nhiều mà lại chẳng nói lời nào là thế.

Muốn đắc ngộ, phải rời bỏ văn tự, không mắc kẹt vào ngôn từ: “Vì Như-Lai và chánh giải thoát rời danh tự. Do đó nên đức Như-Lai đối với tất cả pháp, không chướng ngại, không đắm-trước mà đặng chơn thật giải thoát.” (Kinh Đại Niết Bàn, Phẩm Văn Tự, thứ 13).

• Nếu hiểu điều này thì tốt. Nếu không hiểu được, thì “tránh suy nghĩ vô ích”, vì đã suy nghĩ thì phải suy nghĩ bằng văn tự trong đầu mình, tức là lại càng kẹt vào văn tự, không thoát ra được.

• Mẹ “không sinh không chết”: Vì mẹ, cũng như tất cả mọi thứ khác trong vũ trụ, là một biểu hiện của Sự Thật, Chân Như, Như Lai, Phật tính, Vĩnh Hằng… như sóng là biểu hiện của đại dương. Sóng có và mất, nhưng đại dương luôn ở đó. Biểu hiện phù du thấy đó mất đó, nhưng Sự Thật thì thường hằng, luôn ở đó, không sinh không diệt.

Cho nên lấy cái nhìn bằng mắt mà nói thì mẹ có sinh có tử, nhưng lấy Sự Thật mà nói thì mẹ là (một phần của) Sự Thật, mẹ không sinh không tử, “mẹ đã xong việc ở đời này và bây giờ mẹ trở lại với Vĩnh Hằng.”

Giáo pháp cũng chỉ là văn tự và lời nói, tức là không tuyệt đối được, và ta không thể mắc kẹt vào, chấp vào giáo pháp. Giáo pháp chỉ là phượng tiện giúp ta qua sông. Qua sông bỏ bè.

Tánh thật (chân tánh) của con, cũng như của mẹ và của tất cả mọi thứ khác trong vũ trụ, là Phật, là Sự Thật, là Chân Như, là Như Lai, là Vĩnh Hằng. Nếu con không biết được điều này, con chẳng hiểu được mẹ nói gì trong thơ.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.

The Last Will and Testament

Ikkyu, a famous Zen teacher of the Ashikaga era, was the son of the emperor. When he was very young, his mother left the palace and went to study Zen in a temple. In this way Prince Ikkyu also became a student. When this mother passed on, she left him a letter. It read:

To Ikkyu:

I have finished my work in this life and am now returning into Eternity. I wish you to become a good student and to realize your Buddha-nature. You will know if I am in hell and whether I am always with you or not.

If you become a man who realizes that the Buddha and his follower Bodhidharma are your own servants, you may leave off studying and work for humanity. The Buddha preached for forty-nine years and in all that time found it not necessary to speak one word. You ought to know why. But if you don’t and yet wish to, avoid thinking fruitlessly.

Your Mother,

Not born, not dead.

September first.

P.S. The teaching of Buddha was mainly for the purpose of enlightening others. If you are dependent on any of its methods, you are naught but an ignorant insect. There are 80,000 books on Buddhism and if you should read all of them and still not see your own nature, you will not understand even this letter. This is my will and testament.

Suy nghĩ “ra ngoài cái hộp”

Chào các bạn,

Tiếng Anh có thành ngữ “thinking outside the box” hay “thinking out of the box”, tạm dịch là “suy nghĩ ra ngoài cái hộp”, tức là suy nghĩ tự do, suy nghĩ sáng tạo. Đây là cụm từ nghe rất thường xuyên trong quản l‎ý và thương mãi, và các công ty quảng cáo cũng thường tìm trăm phương nghìn cách để dùng cụm từ trong các quảng cáo thương mãi hàng ngày.

Nhưng suy nghĩ trong hộp là gì? Thưa, đó là suy nghĩ chật hẹp, tù túng, ngạt thở như… nằm trong hộp.

Và khi mọi người thúc nhau “suy nghĩ ra ngoài cái hộp”, điều đó có nghĩa là chúng ta thường suy nghĩ trong hộp, cũng như khi ta nghe thấy báo chí và diễn văn hay nói đến “đổi mới tư duy”, điều đó có nghĩa là tư duy ta đang già hơn trái đất.

Vậy thì, điều gì là cái hộp tư duy của ta?

Mỗi cái hộp có 6 mặt, vậy ta thử xét qua 6 mặt đó là gì.

1. Thói quen: Đây là cung cách mỗi người chúng ta suy nghĩ hàng ngày theo thói quen như: dân da đen thì lười, dân Thái thì dốt, dân Lào thì khờ, Á châu thì đạo đức, Mỹ châu thì đồi trụy, dân Tàu thì xấu, dân Thụy Điển thì tốt, anh chàng A thì xạo, cô B thì kiêu, bà C thì tham lam…

Đây là những hàng viết kết thành lập trình cho cái đầu của ta. Ta có thể gọi là thói quen, hay thành kiến, đều như nhau. Đây là đáy hộp, nặng nề nhất, cứng rắn nhất, khó chọc thủng nhất.

2. Phe nhóm:

Đảng phái, nhà thờ, nhà chùa, sở làm… Cứ là đảng viên một đảng phái thì phải nói theo đảng, dù là đảng dốt vì các cấp lãnh đạo dốt. Tương tự như thế, hội viên của các giáo hội, nhà thờ, nhà chùa, hay một cơ quan/công ty… thì cứ nhắm mắt nói theo kiểu của tổ chức của mình mà không cần biết đúng sai.

Gia đình: Sinh ra trong gia đình từ bé, ta quen lề lối suy nghĩ của mọi người trong gia đình.

Bè bạn: Chơi chung với bạn thì lây cách suy nghĩ của bạn, và đôi khi mất luôn cả suy nghĩ độc lập, cứ suy nghĩ và ừ theo các bạn để “hòa đồng.”

3. Tham lam: Tham tiền, tham tiếng, tham chức tước thì cứ gật gật dạ dạ cười cười với những người có thể mang tiền bạc, chức tước, danh vọng cho mình, mà không cần biết đúng sai.

4. Thù hận: Ghét ai đó thì hắn nói trắng đương nhiên là mình nói đen; hắn nói đỏ đương nhiên là mình nói xanh, khỏi cần suy nghĩ mất công.

5. Dốt: Chẳng khi nào biết đúng sai gì cả. Thấy đông người nói gì tôi nói theo cho chắc ăn.

6. Sợ: Đây là nắp hộp. Đây không hẳn là người dốt mà là người thiếu dũng khí. Biết đúng sai nhưng không dám tỏ lộ tư tưởng của mình, mà chỉ nói theo người khác, vì sợ mất công việc, mất sở làm, mất an ninh, sợ bị chụp mũ là phản động, phản đạo, phản quốc…, sợ bị khai trừ, sợ mất bạn, sợ mất đồng minh, sợ bị chống đối truy tố, sợ bị nhạo báng chê cười…

Nếu bạn nhìn kỹ một tí thì nhận ra ngay là sáu mặt hộp này không phải bằng giấy, mà là bê tông cốt sắt, hay là thép ròng… không phải dễ dàng.

Đại đa số người, ít nhất là 90% dân số thế giới, suy nghĩ trong hộp. Số người suy nghĩ ra ngoài hộp luôn luôn là một thiểu số rất nhỏ. Dù họ là ai, có ai biết đến họ hay không,thì họ vẫn đương nhiên nằm trong nhóm rất nhỏ đưa thế giới về phía trước. Phân còn lại của thế giới là chỉ đi theo họ.

Và bạn đừng nghĩ là những người có bằng cấp cao, đi học nhiều là những người suy nghĩ ra ngoài hộp. Chẳng có gì bảo đảm điều này cả. Suy nghĩ sáng tạo hay không là do nơi cái tâm của một người, chẳng liên hệ gì đến bằng cấp cả. Bạn có thấy ai đang làm lớn với rất nhiều bằng cấp, lảm nhảm toàn những chuyện hoàn toàn không nghĩa lý gì cả, hàng ngày?

Tuy là 6 mặt hộp mặt nào cững cứng chắc, bạn không cần phải nằm trong hộp và cố phải đục thủng từng mặt mà ra. Chỉ cần đừng đậy nắp là bạn có thể thong thả ở ngoài hộp thường xuyên.

Ta đã nói nắp hộp là “sợ”, thì đừng đậy nắp là “không sợ.” Nếu bạn có dũng khí, có can đảm, bạn sẽ không ngại nói lên điều bạn nghĩ dù là bạn phải đi một mình (không bạn bè, không thân nhân, không bè đảng, không tổ chức), và những lời nói đó có thể đưa đến khó khăn cho bạn đôi khi.

Không sợ là đương nhiên dám nói, dám suy nghĩ. Đây là điểm khởi đầu. Từ đó tâm thức không bị trói buộc hoàn toàn của bạn sẽ đưa bạn đến những phương trời mới.

Chỉ cần lưu ‎ý thêm, đừng để tham lam, sân hận, và ngu dốt làm cho mình mờ mắt, là bạn có thể suy nghĩ độc lập và tự do.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

© copyright 2010
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Làm thế nào để duy trì động lực

Thomas Straub là một tác giả thành công. Ông cũng đồng thời là người sáng lập trang web http://www.Bonanzle.com, nơi bạn có thể tìm thấy mọi thứ về tự phát triển con người. Sau đây, tôi xin giới thiệu với mọi người về một bài viết của ông.

Làm thế nào để duy trì động lực mà sống một cuộc đời như bạn muốn

Mỗi ngày, những yếu tố làm chúng ta phân tâm, những lời xin lỗi do chúng ta tự tạo ra, những lí do để chúng ta từ bỏ,… cùng rất nhiều những thứ khác đang chống lại chính chúng ta, làm sao vẫn giữ được động lực để đạt được những mục tiêu của chúng ta và có những điều chúng ta muốn khi đã rời xa cuộc sống?

Nếu mục đích của chúng ta là phát triển bản thân thì việc giữ được động lực sẽ giúp đảm bảo vươn tới những mục tiêu của chúng ta cũng như hoàn thành mọi thứ khác trong cuộc sống.

Câu nói “Dành toàn bộ cho công việc và không có giải trí” từ ngày trước chắc chắn không phải là cách để bạn sống cuộc sống của mình.

Cũng như trong tất cả mọi thứ, cân bằng chính là chiếc chìa khóa

Nếu bạn tập trung quá nhiều vào một khía cạnh duy nhất của cuộc sống, sau một thời gian, bạn sẽ nhận thấy rằng các khía cạnh còn lại bắt đầu trở nên tồi tệ và có thể sẽ bị hất ra lề đường.

Sự mất cân bằng trong cuộc sống khiến con người bị áp lực và căng thẳng, cuối cùng kết thúc trong một cảm giác rằng từ bỏ sẽ thich hợp hơn là kiên trì đi tiếp trong cuộc sống.

Và khi đó có thể bạn sẽ thấy rằng việc tìm cách giữ động lực và tránh những cái bẫy do sự mất cân bằng trong cuộc sống gây ra là điều vô cùng quan trọng.

Hãy tự thưởng cho chính bạn

Công nhận bạn đã làm việc chăm chỉ và những thành quả bạn đã đạt được bằng cách thỉnh thoảng dành thời gian để thưởng cho chính mình là một điều quan trọng

Nếu trong cuộc đời, không có ai muốn làm điều đó cho bạn thì hãy trở thành người hâm mộ cuồng nhiệt nhất của chính mình, người ủng hộ mạnh mẽ nhất của chính mình và người bạn tốt nhất của chính mình.

Tự dành cho mình những phần thưởng nho nhỏ để kỉ niệm những thành quả của mình sẽ giúp làm tươi mới lại tâm hồn bạn, giữ cho bạn một nguồn năng lượng tinh thần mạnh mẽ và tích cực.

Hãy giải phóng trí tưởng tượng của bạn

Ngay bây giờ, tôi muốn bạn ngồi xuống và suy nghĩ về tất cả những gì bạn có thể nói và làm trong suốt cả ngày để thúc đẩy chính bạn. Ví dụ như, những thứ có thể thúc đẩy bạn đến nơi làm việc, lau dọn nhà cửa, và nói chung là về bất cứ thứ gì.

Rõ ràng rằng kĩ năng thúc đẩy bản thân đang ẩn sâu bên trong con người bạn, chính nó đã kéo bạn đọc bài báo này!

Bạn đã có chìa khóa … và giờ đây bạn chỉ cần dùng nó để giải phóng khả năng của chính bạn! Chỉ cần luyện tập và sau đó thực hành kĩ năng này nhiều lần cho đến khi nó trở thành một thói quen tự động.

Một vài ý tưởng có thể giúp bạn thúc đẩy bản thân

Hãy thử nhắc nhở mình về phần thưởng cuối cùng

Hãy đi và tạo động lực cho những người khác. Điều này sẽ củng cố thêm kĩ năng để thúc đẩy chính bạn khi bạn thực hiện.

Hãy tự khen về những gì bạn đã hoàn thành. Điều đó tăng cường tính tự trọng và lòng tự tin của bạn.

Sự mạo hiểm chẳng bao giờ là dễ bắt đầu cả! Có thể làm được điều này đã là đáng khen rồi.

Sự thật đáng buồn của thế giới này là quá nhiều người dành cả cuộc đời họ để ước họ có thể chiến thắng nỗi sợ cố gắng một vài bước đi dũng cảm có thể khiến cuộc đời họ trở nên tốt đẹp hơn.

Hãy học thói quen tự thúc đẩy bản thân. Hãy để những phần thưởng và kết quả của tương lại mở ra phía trước bạn.

Thật không đáng để phải kết thúc cuộc đời trong vô vàn những điều nuối tiếc.

Nguyễn Hồng Hải dịch
.

How to Stay Motivated to Live the Life You Want

By Thomas Straub

Distractions, excuses, reasons to quit… with so much working against us everyday, how do we stay motivated to achieve our goals, to get what we want out of life?

If our goal is to improve ourselves, then surely staying motivated will help ensure our success in reaching our goals, as well as in accomplishing everything else in life.

The old adage “All work and no play” is certainly not the way to live your life.

As in all things, balance is the key.

When you focus on only one aspect of your life too much, you eventually find that other aspects in your life start to suffer and can get placed to the wayside.

Imbalance in your life causes one to feel pressure and stressed, eventually culminating in a feeling that giving up would be preferable to perseverance in life.

You can see then, that it is imperative to find ways to stay motivated and avoid the trap that is caused by imbalance in your life.

Reward yourself.

It is important to acknowledge your hard work and achievements by taking the time to reward yourself from time to time.

If you do not have anyone in your life who is willing to do it for you, then become your own biggest fan, your own biggest supporter, your own best friend.

Giving yourself little awards to celebrate your accomplishments will refresh your spirits and keep your mental energy high and positive.

Let your imagination go.

Right now I want you to sit back and muse over the things you say and do all day long to motivate yourself. For instance, the things that motivate you to go to your job, to clean up around the house, to just about anything at all.

Obviously, you already have this skill of motivating yourself deep inside you; after all it pushed you to read this article!

You already have the key… you just need to use it to unlock your potential! Just exercise this skill, and then practice it over and over until it becomes an automatic habit.

Some ideas that can help you motivate yourself.

Try reminding yourself of the final reward.
Go and motivate others! This reinforces the skill to motivate yourself when you do it.
Praise yourself for your accomplishments. This reinforces your self-esteem and self-confidence.
Big risks are not easy to take on! Being able to do this is praiseworthy in and of itself.
The sad fact of the world is that too many people live their whole life wishing they could conquer their fear of attempting some brave move that could change their lives for the better.

Learn the habit of motivating yourself and let a future of rewards and accomplishments open before you.

It’s not worth ending up with a pile of regrets later in life.

Cởi bỏ cái Tôi

Cái Tôi từ đâu đến?

Marianne Williamson định nghĩa rằng “Cái Tôi theo nghĩa đen là một suy nghĩ đầy lo sợ”.

Là những đứa trẻ, chúng ta được dạy trở thành những đứa con trai và con gái “tốt”, điều đó dĩ nhiên hàm ý rằng chúng ta đã không tốt. Chúng ta được dạy rằng chúng ta là người tốt khi mà chúng ta quét nhà, hay có điểm cao. Rất ít trong chúng ta được dạy rằng chúng ta cơ bản là người tốt. Rất ít trong chúng ta có được một sự chấp nhận vô điều kiện, một cảm giác rằng chúng ta giá trị vì những gì chúng ta vốn có, chứ không phải là những việc chúng ta làm. Đôi khi, trong thực tế, những người yêu thương chúng ta nhất là người cảm thấy có nhiều trách nhiệm nhất trong việc rèn luyện chúng ta cách đấu tranh.

Tại sao? Bởi vì thế giới như nó là thế, khó khăn, và họ muốn chúng ta trở thành người tốt. Chúng ta phải trở nên điên cuồng như thế giới, hoặc chúng ta không bao giờ vừa vặn với nó cả. Chúng ta phải phấn đấu, lấy điểm, đi học ở Havard. Điều kì cục là chúng ta đã không học nguyên tắc từ quan điểm của mình, và cũng như thế đó là một sự thay thế kì cục cảm giác về sức mạnh ra khỏi bản thân và phụ thuộc vào các nguồn lực bên ngoài. Cái mà chúng ta đánh mất là cảm giác về sức mạnh của riêng ta. Và cái mà chúng ta học là nỗi sợ hãi, sợ hãi rằng chúng ta không đủ tốt, theo cách mà chúng ta sống.

Trích A Return to Love: Reflection on the Principles of A Course in Miracles

Làm thế nào để từ bỏ được cái Tôi?

Chúng ta đều được dạy để cho tâm trí ra quyết định chứ không lắng nghe trái tim mình. Trí óc của bạn, cuối cùng, là một cỗ máy kinh khủng và có thể làm được mọi thứ. Sự càn thiết thể hiện quan điểm của bạn về một chủ đề được đưa ra bởi vì bạn biết là nó sẽ đúng, mặc cho mọi người có lắng nghe hay không. Bỏ qua cảm xúc của những người khác bởi vì hành động của bạn là “hành động đúng”. Đây là những ví dụ cho thấy sự thể hiện của cái Tôi, và cần bạn kiểm soát chúng. Tiếng nói của con tim không có một chỗ đứng nào.

Vì thế cởi bỏ cái Tôi là một quá trình khó khăn, thậm chí đầy sợ hãi. Nhưng không còn cái Tôi nữa là một điều tuyệt vời. Nó giúp chúng ta đến gần trái tim hơn và cho phép chúng ta cảm thấy nhiều hơn chúng ta đã từng.

Một cách để bắt đầu quá trình này đó là nhận ra khi nào cái Tôi của bạn bắt đầu diễn ra. Có thể đó là lúc bạn muốn sửa sai ai đó, giải thích quan điểm của họ là sai (theo cách nghĩ của bạn), nếu bạn cảm thấy tức giận ai đó về những hành động của họ đối với bạn. Hãy thừa nhận những cảm giác này với bản thân, dù đó là sự lẫn lộn, tức tối, ghen ghét, hoảng loạn, ở bất cứ hình thức nào. Hãy chỉ cảm thấy chúng chảy qua người bạn. Đừng hành động. Chỉ cảm nhận thôi. Không cho bản thân bạn phản ứng hay đánh giá. Hãy kệ chúng. Dần dần qua thời gian cái Tôi sẽ không trở nên mạnh nữa và sẽ bất đầu sự nắm giữ của nó trong trái tim bạn. Điều đó không chỉ giúp bạn nhận thức được cái Tôi của bạn xảy ra thường xuyên như thế nào, mà còn làm cho bạn ngạc nhiên vì bạn cảm nhận được bản thân mình nhiều hơn theo một cách hoàn toàn khác. Và an bình sẽ ở trong bạn khi mà cái Tôi dần biến mất.

Lisa C Moore, What is Ego, http://ezinearticles.com/?What-is-Ego&id=1465886

Hoàng Khánh Hòa tổng hợp

Cởi bỏ lối nhìn cũ để hướng về tương lai – Tuyên truyền và bạo động

Tuyên truyền áp đặt một chiều tức là đã “bạo động” rồi. Như thể con ngựa bị che kín hai bên để chỉ thấy một lối duy nhất ở phía trước, ta đòi hỏi đối tượng nhìn một chiều duy nhất về vấn đề, sự việc nào đó. “Bạo động” nguy cơ đẩy con người vào cuộc chiến đẫm máu hay chia rẽ nghiêm trọng. Trong khi tinh thần triết học luôn đòi hỏi cái nhìn mở, đa diện và đa chiều.

Con người sinh ra để sống, chứ không phải cúi đầu làm theo một điều gì đó, nhân danh một ý thức hệ nào đó, một tín điều hay chủ thuyết nào đó. Con người sinh ra để sống cuộc sống của mình, chứ không phải để nghe theo mệnh lệnh của bất kì đấng nào, lãnh tụ hay nhà cách mạng nào, dù ông/ bà ta có vĩ đại tới đâu đi nữa! Sinh chỉ một lần và sống chỉ một lần đời sống của chính mình.

Camus: “Một cuộc đời không là gì cả, một cuộc đời là tất cả”! Đó là biện chứng đẹp về ý nghĩa cuộc đời.

Vài nhà văn nghĩ rằng tôi cổ xúy cho trào lưu văn chương hậu hiện đại Việt, tôi nói: không! Sáng tác hậu hiện đại Việt xuất hiện trước khi tôi viết về nó. Đúng hơn, tôi “lập biên bản” khi nó đã có mặt. Như tôi đã ứng xử với các trào lưu, hệ mỹ học khác. Nghĩa là tôi đối xử công bằng với mọi trào lưu văn học. Ngay cả với mỗi trào lưu, tôi cũng đã xử sự rất công bằng với chính nó.

“Lập biên bản có nghĩa là chấp nhận mọi hiện tượng văn chương xảy ra trong thời đại ta đang sống. Bày nó ra như nó là thế, tìm hiểu triết lí trên đó thơ văn đó nảy sinh… Các quan điểm sáng tác ấy chưa hẳn đã cùng lối nghĩ của tôi hay tôi đã đồng tình hoàn toàn với nó, nhưng tôi cố gắng nhìn nhận nó như là thế”.

“Nhìn nhận nó như là thế”, chứ không phải bằng quan điểm độc đoán của tôi, để buộc người khác nhìn theo cách nhìn của tôi. Đó là cái nhìn công bằng và rộng mở. Độc giả chưa biết gì về tác phẩm, tôi dẫn họ đến với tác phẩm đó trong tâm thế mở, tránh diễn giải mang tính áp đặt, mà chỉ bày nó ra. Từ đó, độc giả thưởng thức nó theo kiểu của mình, mà không bị chi phối bởi các nhận định của tôi.

Trong cuộc sống, với con cái cũng vậy. Nếu có ghét ai (trong đời sống không thể tránh chuyện hỉ nộ ai lạc), bạn không phải lộ ra cho con cái biết. Chúng cứ đến với đối tượng đó, như tờ giấy trắng. Còn nếu bạn áp đặt cái nhìn của bạn lên tâm trí con cái, là bạn đã bạo động rồi. Con bạn sẽ nhìn đối tượng qua con mắt của bạn chứ không phải của chính nó. Làm như thế, xét về tính thực dụng thì có thể gây hại cho bọn trẻ. Vì nếu đó là kẻ xấu, con bạn sẽ bị lợi dụng. Còn đợi nó rút kinh nghiệm thì đầu nó bị sứt mẻ rồi. Thế nhưng, nhìn từ khía cạnh triết học và nhân văn, bọn trẻ sẽ học được rất nhiều điều, qua va chạm và tiếp xúc.

Tôi gọi đó là tinh thần phi tuyên truyền trong đời sống hàng ngày.

Tuyên truyền bất cứ về cái gì là diễn giải và áp đặt để gây nơi đối tượng một niềm tin. Hậu hiện đại chống lại tinh thần đó, và quyết giải tán nó. Đó là tinh thần dân chủ mới.

Inrasara

Người cho nên cám ơn

Lúc Seisetsu giảng dạy tại chùa Engaku ở Kamakura, thiền sư cần phòng ốc rộng hơn, vì nơi giảng dạy của thầy đã quá chật. Umezu Seibei, một thương gia ở Edo, quyết định là sẽ tặng 500 đồng vàng, gọi là ryo, vào việc xây trường rộng thêm. Umeza mang tiền đến cho thiền sư.

Tranh Tổ sư Bồ Đề Đạt Ma do thiền sư Seisetzu vẽ

Seisetsu nói: “Tốt lắm. Tôi sẽ nhận.”

Umezu trao bao vàng cho Seisetsu, nhưng không hài lòng với thái độ của thiền sư. Một người có thể sống cả năm với chỉ 3 ryo, nhưng thương gia này không nhận được cả một tiếng cám ơn.

“Trong bao đó có 500 ryo,” Umezu nhắc khéo.

“Anh đã nói cho tôi biết rồi,” Seisetsu trả lời.

“Dù tôi là một thương gia giàu có, 500 ryo vẫn là rất nhiều tiền,” Umezu nói.

“Anh muốn tôi cám ơn anh?” Seisetsi hỏi.

“Thầy nên làm vậy,” Umezu trả lời.

“Tại sao tôi nên cám ơn?” Seisetsu thắc mắc. “Người cho nên cám ơn.”
.

Bình:

• Seisetsu Genjo Seki hay Seisetsu Genjyo Seki, (1877-1945), là thiền sư dòng Lâm Tế, từ thiền sư Hakuin Vậy À mà ra. Trong thập niên 1920, Seisetsu là sư trụ trì của chùa Tenryu ở Nhật.

Chùa Engaku trong truyện này là một chùa Lâm Tế rất lớn, và là một danh lam thắng cảnh nổi tiếng cùa Nhật ngày nay. Chúng ta đã nói đến chùa Engaku trong bài Không nước không trăng về ni cô Chiyono.

• Bố thí là một thực hành lớn trong nhà Phật. Con đường Bồ-tát (Bồ Tát Đạo) có 6 nhánh qua sông (lục độ ba-la-mật), tức là sáu phương cách thực hành (“hạnh”) để đến giác ngộ, trong đó Bố thí là “hạnh” đầu tiên–Bố thí, trì giới, tinh tấn, nhẫn nhục, thiền định, trí tuệ. Cho đi cái mình có là cách đương nhiên nhất để thực hành “vô ngã” (“không có cái tôi”).

Bố thí thế nào? Kinh Kim Cang, đoạn 4 viết: “Bồ tát đối với pháp nên không có chỗ trụ mà làm việc bố thí, gọi là chẳng trụ nơi sắc để bố thí, chẳng trụ thanh hương vị xúc pháp để bố thí. Này Tu-bồ-đề, Bồ tát nên như thế mà bố thí, chẳng trụ nơi tướng. Vì cớ sao? Nếu Bồ-tát bố thí chẳng trụ tướng thì phước đức không thể nghĩ lường.”

Câu này có nhiều tầng triết l‎ý rất sâu xa, tuy nhiên nói giản dị theo cách sống hàng ngày của chúng ta thì câu này có thể hiểu là bố thí mà chẳng cầu gì cả, chẳng để được thấy tên mình trong danh sách (sắc), hay nghe được tên mình (thanh), hay tiếng tăm lừng lẫy của mình (hương), hay để nếm vị vinh quang của mình (vị), hay sờ được tên mình khắc trên bia đá (xúc), hay vì bất kỳ điều gì trong vũ trụ (pháp).

Bố thí với một tâm hoàn toàn rỗng lặng. Ngay cả dùng đạo pháp làm chủ đích của bố thí cũng không. Đoạn 14, Kinh Kim Cang viết: “Nếu Bồ-tát trụ nơi pháp mà làm việc bố thì thì ắt như người vào trong tối không thể thấy. Nếu Bồ-tát tâm không trụ pháp mà hành bố thí thì như người có mắt lại thêm ánh sáng mặt trời chiếu soi, thấy các thứ hình sắc.”

(Ghi chú: Bố thí không vì mình mà vì đạo pháp thì hay lắm rồi, vẫn hơn không. Nhưng bố thí mà vượt qua được cả tầng “vì đạo pháp” này mới là chân ngộ của Bồ tát).

Bố thí tự nhiên như hít thở. Bố thí tự nhiên như khát nước thì uống nước mà chẳng hề suy nghĩ gì. Đó mới là bố thí hạnh của Bồ-tát.

• Đương nhiên là bố thí mà cần cám ơn như Umezu là không nên rồi. Và đương nhiên là một câu cám ơn cũng chẳng tốn công gì mà thiền sư Seisetsu lại không thể nói một tiếng cho vui vẻ cả làng. Nhưng, có lẽ là thiền sư biết tâm tính Umezu và cố tình im lặng để dạy cho Umezu một bài học về Phật pháp.

Nhưng tại sao thiền sư nói “Người cho nên cám ơn”?

Thưa, vì bố thí là hạnh Bồ tát, mà muốn thực hành hạnh này thì phải có người nhận. Nếu không có người nhận thì không thể làm việc bố thí được. Mang tiền ra vất ngoài sa mạc không phải là bố thí. Cho nên, người cho phải cám ơn người nhận đã tạo cho mình một cơ hội để thực hành hạnh bố thí.

Chú ý, câu đầu tiên thiền sư nói khi Umezu mang tiền vào: “Tốt lắm. Tôi sẽ nhận.” Tức là, tôi cho chú cơ hội làm việc bố thí.

• Không nên xem đây là một cuộc đấu tranh tư tưởng giữa hai người, Umezu và thiền sư, xem ai thắng.

Đa số mọi người trong chúng ta đều như Umezu, đều muốn nghe cám ơn khi bố thí–không những cám ơn mà còn phải cám ơn trên radio, TV, báo chí, Internet thì mới hả dạ. Umezu chẳng ai xa lạ hơn là cái tôi của mỗi người chúng ta.

Nhưng điều chúng ta không biết, và thiền sư Seisetsu muốn dạy, là: Người cho phải cám ơn người nhận.

Trần Đình Hoành dịch và bình
.

The Giver Should Be Thankful

While Seisetsu was the master of Engaku in Kamakura he required larger quarters, since those in which he was teaching were overcrowded. Umezu Seibei a merchant of Edo, decided to donate five hundred pieces of gold called ryo toward the construction of a more commodious school. This money he brought to the teacher.

Seisetsu said: “All right. I will take it.”

Umezu gave Seisetsu the sack of gold, but he was dissatisfied with the attitude of the teacher. One might live a whole year on three ryo, and the merchant had not even been thanked for five hundred.

“In that sack are five hundred ryo,” hinted Umezu.

“You told me that before,” replied Seisetsu.

“Even if I am a wealthy merchant, five hundred ryo is a lot of money,” said Umezu.

“Do you want me to thank you for it?” asked Seisetsi.

“You ought to,” replied Umezu.

“Why should I?” inquired Seisetsu. “The giver should be thankful.”

# 53

Tỏa sáng với Internet

Thế giới ngày nay trở nên nhỏ bé hơn bao giờ hết, khi mà bạn chỉ cần một chiếc máy tính nối mạng Internet, bạn có thể làm việc, nói chuyện với bạn bè hay đối tác ở khắp nơi. Khoảng cách địa lý đã được thu hẹp lại rất nhiều. Nếu biết cách tận dụng sức mạnh của Internet, bạn sẽ ngày càng có nhiều cơ hội gặp gỡ những người thú vị và nhiều người cũng biết đến bạn hơn.

Khi Internet chưa ra đời, bạn chỉ được biết đến qua cộng đồng nhỏ mà bạn có các giao tiếp trực diện hàng ngày: khu phố, công ty, trường học vv…Sẽ khó có thể tưởng tượng được là một bạn học sinh bình thường ở Việt Nam lại kết bạn với một bạn trẻ ở nước Úc xa xôi. Và đôi khi, thật khó khăn để tìm được một người bạn đồng quan điểm và chí hướng trong đám đồng nghiệp ở cơ quan hay bạn bè ở lớp. Nhưng ngày nay, Internet mang đến cho bạn rất nhiều cơ hội và lựa chọn.

Internet là một phương tiện tốt để bạn thể hiện con người mình đầy đủ hơn, và nhiều người sẽ biết đến bạn, hiểu được bạn thông qua những kinh nghiệm, kiến thức và cách mà bạn chia sẻ. Một người thầy của mình còn nói rằng, “bây giờ search tên mình trên google mà không có gì nghĩa là ta không tồn tại”, để thấy rằng sự hiện diện của bạn trên Internet quan trọng đến mức nào. Có thể nói đó là môi trường sống thứ hai của bạn.

Với Internet, bạn có thể hiện diện ở khắp mọi nơi trên thế giới này. Tham gia các forum có hàng ngàn thành viên. Chia sẻ các bài viết trên blog hay website riêng mỗi ngày với hàng trăm người đọc. Bằng cách đó, bạn không chỉ vẫn có được một cộng đồng vật lý quanh mình như trước, mà còn xây dựng một hình ảnh về bản thân ở nhiều góc độ khác nhau.

Vì thế, đừng lo rằng bạn không tìm được một đối tác ưng ý hay không có người đồng ý tưởng trong các dự án sắp tới. Đừng lo rằng bạn đang đi một mình trên con đường du học hay kinh doanh đầy chông gai.

Hãy để cho nhiều người biết đến bạn qua Internet và tỏa sáng như một ngọn nến lớn. Và nhớ rằng, những gì bạn nói ra ngày hôm nay trong thế giới Internet là hình ảnh phản chiếu con người thật của bạn.

Nếu bạn muốn chân thành, hãy nói lời chân thành. Nếu bạn muốn trí tuệ, hãy nói lời trí tuệ. Nếu bạn muốn vui vẻ, hãy nói lời vui vẻ.

Và bạn sẽ không chỉ còn được biết tới như một người thanh niên trẻ giỏi chuyên môn ở công ty, một người con hiếu thảo ở nhà, một công dân tốt ở khu phố. Hàng ngàn người khác ở khắp nơi sẽ còn biết đến bạn là một người yêu âm nhạc và biết nhiều bản nhạc hay, một người sâu sắc và tử tế thích giúp đỡ cộng đồng, một doanh nhân tiềm năng vì có nhiều ý tưởng táo bạo.

Trong số đó, chắn chắn là bạn sẽ tìm thấy những người bạn đồng hành tương lai.

Hãy tỏa sáng theo cách của mình và chúc bạn may mắn nhé.

Hoàng Khánh Hòa

Cởi bỏ lối nhìn cũ để hướng về tương lai – Tư thế độc lập

Không thấy mà tin, là sức mạnh của mọi tôn giáo độc thần; nói mãi vào tai riết rồi sẽ tin, là phương sách của người làm chính trị; thấy rồi mới tin, là điều kiện tiên quyết đặt ra với các nhà khoa học; nhưng triết học thì khác: thấy vẫn không tin. Thấy, biết,… nhưng vẫn cứ đặt câu hỏi về cái thấy, cái biết của mình. Còn ai suy tư điều đã được suy tư? Heidegger đã hỏi thế! Một câu hỏi mang tính vận mệnh của tư tưởng.

Nhưng con người, lạ – vẫn cứ tin. Từ mê tín đến bạo động chỉ cách nhau một bước chân. Cho dù không có nửa dấu vết bạo động trong hành vi, suy nghĩ, ta vẫn cứ bạo động, bao động đủ hình thái, cấp độ. Ở đây, thử xét bạo động theo nghĩa áp chế hay triệt tiêu óc phán đoán độc lập.

Thời hiện đại, giữ tư thế độc lập để có thể suy tư và đưa ra nhận định độc lập, là điều cực kì khó. Con người bị tác động bởi đủ chuyện, từ mọi phía đến không thể cựa quậy được, nói chi tự do suy tư hay hành động. Tôn giáo buộc ta đi theo khi ta lỡ sinh ra trong cộng đồng đó và ta đành phải mang vác nó, chịu đựng nó; chế độ chính trị của đất nước nơi ta sống; nền giáo dục và uy tín gia đình ta buộc phải bảo vệ; chủ trương bè phái phe nhóm mà ta đã lỡ rơi vào; cả lí lịch của ta nữa. Đó là các gò bó dễ nhận biết. Còn bao nhiêu triền phược khác khó nhận ra hơn: Dư luận cộng đồng, truyền thống văn hóa, tập khí từ xã hội và thiên nhiên,… Làm sao cá nhân có thể suy tư độc lập trong môi trường đó, hoàn cảnh đó?
Con người luôn sống trong sợ hãi. Ta sợ suy nghĩ lệch pha bị người đời chê cười, sợ bị cô lập khỏi cộng đồng, tập thể, hoặc thậm chí – sợ bị biến mất!

Làm được như Krishnamurti, từ bỏ vai trò Đấng Cứu thế của Dòng tu Ngôi sao với hơn bốn vạn tín đồ cùng bao nhiêu bất động sản giá trị, là điều thiên nan vạn nan trong xã hội này. Tôi không muốn đề cập chuyện to tát ấy mà, chỉ muốn nhấn ở làm thế nào có thể giữ được tinh thần độc lập trong một xã hội nhiều bất trắc, rủi ro? Từ đó có thể học biết suy tư độc lập, trong môi trường bạn đang sống.

Họ hàng bà con, anh chị em hay bằng hữu thường nghe theo nhau; khi ta từ bỏ hay hạn chế tối đa sự nghe theo một chiều ấy, là ta đã học biết suy tư độc lập. Người của phe nhóm ta nói sai, tôn giáo ta phán định trật, ta không còn nhắm mắt tin nghe theo, là ta khởi đầu cho tư duy độc lập. Nhận ra truyền thống văn hóa ta cổ hủ, phản tiến bộ, ta thoát ra khỏi nó để làm cái hay hơn, tốt đẹp hơn, là ta đã biết hành động độc lập. Không sợ dư luận khi dư luận đó vô ý tác hại, xâm phạm đến cá nhân hay cộng đồng, ta bình tâm tìm cách phơi bày nó ra để cho mọi người hiểu, là ta đã có tinh thần suy tư độc lập.

Có ai hôm nay sẵn sàng cho suy tư như thế?

Có ba loại trí thức: Trí thức công chức, không thể không lệ thuộc vào cơ quan chủ quản, vào thủ trưởng, không nhiều thì ít; và nếu trí thức đó có theo đảng hay tôn giáo nào đó, thì sự giải thoát càng khó hơn. Loại thứ hai: Trí thức khoa bảng thì luôn phải khép mình vào nền nếp và khuôn phép để “nêu gương sáng” cho thế hệ trẻ. Như vậy chỉ còn trí thức độc lập mới có điều kiện và khả năng suy nghĩ và hành động mà không ngại phạm quy ước hay điều lệ của tổ chức nào, tập thể nào bất kì. Bạn chỉ nghe theo lương tâm và trí tuệ mình. Bạn hành động không định kiến và vô vụ lợi.

Trong xã hội Chăm hôm nay, hỏi ai và bao nhiêu người là trí thức độc lập?

Trí thức độc lập là kẻ biết suy tư độc lập, một suy tư thoát khỏi mọi căm thù cá nhân, mọi vướng mắc quyền lợi phe nhóm, mọi tư tưởng tôn giáo hay ý thức hệ chính trị, mọi cổ hủ của truyền thống hay sai lầm của nền giáo dục ta từng tiếp nhận,… để có thể nhận định trên nền tảng tư duy chín chắn, tâm hồn rộng mở và lương tâm trong sáng. Chỉ khi nào đạt được tầm như thế, chúng ta mới có thể nói đến phản biện xã hội; còn không thì chỉ là những phát biểu hàm hồ, tai hại. Nếu không thể làm trí thức, tốt hơn cả là ta cứ ăn theo đường ngay nói theo lẽ lành – Bbơng twei tapak, hwak twei haniim, là đủ tư cách làm người lương thiện rồi.

Inrasara

Ánh sáng của con có thể tắt

Một học trò Tông Thiên Thai, một tông phái triết lý Phật giáo, đến thiền viện của Gasan học thiền. Vài năm sau cậu ra đi, Gasan cảnh báo cậu: “Học về sự thật bằng phỏng đoán thì lợi ích cũng chỉ như lượm lặt tài liệu giảng huấn. Nhưng nhớ rằng nếu con không thiền quán thường trực, ánh sáng chân l‎ý của con có thể tắt.
.

Bình:

• Gasan Jōseki (峨山 韶碩 1275–23.11.1366) là thiền sư dòng Tào Động Nhật Bản, mà ta đã nhắc đến trong bài Không xa Phật vị.

• Đây là cảnh báo về cách học triết lý lệ thuộc nặng nề vào lý luận và suy tư của Thiên Thai Tông. Trong bài Cỏ cây giác ngộ như thế nào chúng ta đã nói đến sự vô ích của các câu hỏi triết lý rắc rối của học trò Thiên Thai.

Khác biệt giữa “suy nghĩ” và “thiền quán”: Suy nghĩ hay suy tư là “nghĩ”. Thiền quán là chỉ “nhìn” (quán), nhìn sự vật như nó là (seeing thing as it is) mà chẳng “nghĩ” gì cả. Khác biệt về tính danh này đưa đến các khác biệt sau:

1. Khác biệt đầu tiên là tĩnh lặng về cảm xúc. Chúng ta có thể suy nghĩ với đủ loại cảm xúc trong đầu, nhưng thiền quán thì tâm ta phải rất tĩnh lặng,

Ví dụ: Suy nghĩ về cách trả đũa anh chàng chó chết mới chửi mình hồi chiều, vừa suy nghĩ vừa sôi máu. Nếu ta thiền quán về anh chàng này, thì tâm ta phải rất tĩnh lặng, không hờn giận không một gơn sóng, khi ta “nhìn” (quán) anh chàng.

2. Khác biệt thứ hai là tĩnh lặng về tư tưởng. Suy nghĩ thì có câu hỏi, và chạy theo dòng lý luận để tìm câu trả lời; thiền quán thì chỉ “nhìn” thôi, rồi cái gì nó đến thì đến, nó không đến thì không đến, chẳng chạy theo cái gì, nhắm vào câu trả lời nào cả.

Ví dụ: Suy nghĩ “Có thượng đế không?” À, có cái bàn là có ông thợ mộc. Có quả là có nhân. Có vũ trụ phải có người làm ra vũ trụ,. Vậy phải có thượng đế. Có thượng đế thì phải có người sỉnh ra thượng đế. Ai vậy?…

“Thiền quán” thì chỉ “nhìn.” Muốn quán cũ trụ thì cứ nhìn các tinh tú, không gian, các thiên hà, các giới hạn (hay không giới hạn) của vũ trụ… đến các phân tử, nguyên tử li ti của vật thể… rồi chân l‎ý nào đến với mình thì đến, không thì thôi, chẳng đeo đuổi theo ý gì trong đầu cả…

3. Khác biệt thứ ba là sự tập trung và tự do của tâm trí. Đây chỉ là hệ quả của khác biệt thứ nhất và thứ hai bên trên. Khi “suy nghĩ” ta có cả hàng trăm tư tưởng, cảm xúc, lý‎ luận, kết luận, phán đoán chạy tới chạy lui. “Thiền quán” thì ta chẳng có gì trong đầu cả, ngoài trừ một “hình ảnh” của cái mà mình đang quán, như nó là (as it is), mà chẳng có l‎ý luận, phán đoán, kết luận nào cả.

Vi dụ: Suy nghĩ về chuyện cãi nhau hồi chiều với người bạn thân (hay vợ, hay chồng mình), ta có thể suy nghĩ: Cô ấy nói câu này, nói như vậy là rõ ràng làm mình đau, tại sao cô ấy làm mình đau, vì cô ấy ghen tị với mình, cô ấy đang cạnh tranh ảnh hưởng với mình, bởi vậy câu nói của mình với boss bị cô ấy cố tình bẻ méo ‎ nghĩa của nó….

Nếu thiền quán về chuyện cãi nhau này thì tâm mình thật tĩnh lặng, không sóng giận, cũng chẳng suy nghĩ gì, chỉ “nhìn” hình ảnh cãi nhau hồi chiều… và thấy… khuôn mặt cô ấy thật buồn vời vợi khi nói với mình câu này… và mình đã không thấy được các nét ấy lúc đó, và mình đã vội vã thọc cho cô ấy một quả đấm ngôn ngữ kinh hồn… và cô ấy đã nhìn mình với khuôn mặt vừa kinh ngạc vừa buồn vô tận… và lặng lẽ ra ngoài… và mình đã cho là cô ấy khinh thường mình… và mình đã chửi ngóng theo một câu cuối…

Điểm quan trọng ở đây là khi suy tưởng các vấn đề trừu tượng, chúng ta thường theo một trường phái lý‎ luận triết lý nào đó, ví dụ: triết l‎ý hiện sinh, hay duy vật biện chứng pháp, hay Plato, hay Decartes, hay Thiên Thai Tông, hay Trung Quán Luận, hay cynicism… cho nên tư duy thường rất phiến diện, vì bị gò bó trong khung lý luận của trường phái ta đang dùng. (Chính vì vậy mà các triết gia hay cãi nhau, ông nói gà bà nói vit). Khi “quán” ta chỉ “nhìn sự vật như nó là” cho nên ta chẳng theo trường phái nào cả. Cứ nhìn thôi. Vì vậy tâm trí ta thực sự tự do và độc lập, và cái nhìn rõ ràng hơn rất nhiều.

4. Khác biệt thứ tư là kết luận. Đây là hệ quả đương nhiên của ba khác biệt trên: Suy nghĩ chấm dứt bằng một kết luận của suy tưởng lý luận, thường theo công thức của luận lý học.

Quán chấm dứt khi nào mình biết là mình đã nhìn thấy toàn thể, thông suốt hoàn toàn, điều mình nhìn, từ trong ra ngoài, ngoài vào trong, từ mọi hướng nhìn.

Ví dụ: Suy nghĩ về một tên trộm: Hắn vào nhà, lấy cái nhẫn hột xoàn bỏ túi, toàn vụ việc bị thâu vào hệ thống quan sát điện tử. Kết luận: Vậy hắn là tên trộm.

Quán về người này thì nhìn hắn, nhìn hình ảnh hắn lấy hột xoàn, nhìn thái độ đầu hàng dịu dàng của hắn khi bị bắt, nhìn khuôn mặt buồn rười rượi tuyệt vọng của hắn, dáng đi thểu não của hắn…

Trước khi “quán” thì tâm ta phải “định” (samadhi), tức là đứng yên. Nếu tâm còn nhảy choi choi thì không thể quán được. Vì vậy người ta thường phải dùng “thiền chỉ” (samatha), ví dụ tập trung vào hơi thở để định tâm trước, khi đã “định” được rồi, muốn quán (vipassana) gì thì “quán” (và trong khi quán, tâm mình vẫn “định”).

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

.

Your Light May Go Out

A student of Tendai, a philosophical school of Buddhism, came to the Zen abode of Gasan as a pupil. When he was departing a few years later, Gasan warned him: “Studying the truth speculatively is useful as a way of collecting preaching material. But remember that unless you meditate constantly you light of truth may go out.”

# 52

Niềm tin vào bản thân

Chúa ơi hãy trao cho con niềm tin vào bản thân
không chỉ vào những ngày con tuyệt vời và chiến thắng
và không có gì là không thể
nhưng cả vào những ngày khi cả thế giới trở nên tồi tệ
và con đang thất bại và con đường phía trước trở nên thật khó khăn.

Khi con nghĩ liệu mình có đủ dũng cảm, đủ thông minh
và con phải liều mình để thử,
đừng để con bỏ cuộc, xin Chúa, xin đừng bao giờ.

Hãy để con giữ niềm tin vào bản thân.
Dù có bao nhiêu người
làm nhụt chí con…
nghi ngờ con…
chê cười con…
đe dọa con…
nghĩ rằng con là đứa ngốc…
Đừng để con nghe thấy.

Hãy để con nghe một thứ tiếng khác nói với con
“Bạn có thể làm được và bạn sẽ làm được”
nếu không có ai trên thế giới này thèm để ý hay là tin con
hãy để con tin vào chính mình.

Con biết sẽ có những lúc con sẽ nghi ngờ khả năng của mình
Khi con trở nên nhụt chí và đứng trên bờ vực của tuyệt vọng,
đừng để con bỏ cuộc
nâng con lên.

Quạt những ngọn lửa để con thậm chí cố gắng hơn nữa
cho con nhiều niềm tin hơn vào bản thân mình.

Chúa ơi, Người là nguồn sống và sức mạnh
Người là nguồn khả năng và niềm tin của con
Cảm ơn Người đã củng cố.

Con biết rằng Người sẽ cho con cái mà con cầu xin…
Niềm tin vào bản thân.

Hoàng Khánh Hòa dịch
.

Faith in myself

God gave me faith in myself,
not only on days when I’m going great and winning
and nothing seems impossible
but on days when the whole world looks lousy
and I’m losing and the road ahead seems too hard.
When I wonder if I’m brave enough, smart enough
and I must be crazy to try,
don’t let me quit Lord, not ever.

Let me keep the faith in myself.
No matter how many people
discourage me…
doubt me…
laugh at me…
warn me…
think me a fool…
Don’t let me listen.

Let me hear another voice telling me,
“You can do it and you will!”
If nobody else in this world gives a darn or believes in me,
let me believe in myself.

I know there’ll be times when I will doubt my own abilities,
when I’ll be discouraged and on the verge of despair,
don’t let me give up,
hang onto me.
Fan the fires so that I’ll try even harder.
Give me more faith in myself.

Dear Lord, you are the source of life and power.
You are the source of my abilities and my faith.
Thank you for reinforcements.
I know that you will give me for what I ask…
Faith in myself.

Cởi bỏ lối nhìn cũ để hướng về tương lai – Sự cần thiết của triết học

Hai câu chuyện

Chuyện 1.
Năm 1977, ông thầy cũ ghé nhà tôi tại Caklaing thấy tôi đang ôm cuốn L’Être et le Temps của Heidegger, chợt nhăn nhó:

– Trời đất! Thiên hạ đang chết đói mà mầy lại đi đọc triết! Mầy sống bằng không khí à?

Thế là ông thầy lên lớp tôi một hơi về phải học biết thế nào là thực tế, thực tiễn. Tôi im lặng chịu đựng, không một lời cãi lại. Đợi cho ông qua cơn thuyết giáo, tôi mới thủng thẳng hỏi: Thầy có biết mình đang sống dưới chế độ nào không?

– Chủ nghĩa xã hội, đương nhiên.
– Thế chế độ này do ai lập nên? Không phải Hồ Chí Minh sao?
– Thì đúng rồi!
– Mà Hồ Chí Minh là ai? Ông có phải học trò của Lênin, và học thuyết Lênin chẳng phải xây dựng trên nền tảng triết học của Karl Marx? Mà Marx là ai chứ? Ông ta hẳn nhiên là đại triết gia rồi…

Ông thầy nín thinh, tôi tiếp: Con người là cây sậy suy tư… Chỉ cần một làn gió cũng đủ giết chết con người. Nhưng làn gió kia khi giết chết con người, nó không hiểu, còn con người thì hiểu. Pascal đấy, chắc thầy chưa quên. Đây là chế độ đang tác động đến chính cuộc sống của em và mọi người xung quanh em, em là con người, em cần hiểu nó. Hiểu đến nơi đến chốn. Vậy thôi.

Chuyện 2. Năm 1991, một trí thức Chăm từ ngoại quốc về, bên cạnh số người chạy theo cũng có không ít vị chống. Chống và nói xấu ông ta sau lưng. Sự việc vừa xót xa vừa buồn cười. Tôi thử im lặng quan sát. Sau một thời gian ngắn, không ít kẻ chạy theo ông quay lại nói xấu ông. Tôi nói với một bạn trẻ: Cả chạy theo hay nói xấu đều xuất phát từ thiếu hiểu biết. Trong khi trí thức là kẻ hiểu biết, kẻ biết để cho tâm TRÍ mình luôn ở tình trạng THỨC.

Đâu riêng Chăm, quần chúng nhân loại nói chung thiếu chất trí thức. Thiếu, nên dễ bị tuyên truyền làm lung lạc. Ngụ ngôn Trung Quốc: Mẹ Tăng Sâm dạy và rất tin con, khi lần đầu tiên có người đến báo: “Tăng Sâm giết người”, bà chỉ im lặng cười khẩy; lần thứ hai bà nghe ngờ ngợ; đến lần thứ ba thì bà phải bỏ dở công việc chạy ra ngoài xem thật hư thế nào? Ai dè, đó là tên trùng tên.

Các nhà chính trị hoạt đầu thường lợi dụng tính thiếu trí thức đó của công chúng, càng lợi dụng. Vô hình trung, chúng ta trở thành con rối lúc nào không hay.

Hai năm qua vài “trí thức” trong cộng đồng hay nhân danh dân tộc để kết án chú này phản bội truyền thống, bác kia xấu xa. Họ nói mãi, thế nào cũng có kẻ tin. Gặp trường hợp như thế, đòi hỏi trước hết là, bạn phải biết đặt câu hỏi với người phê phán: Anh/ chị là ai? Ai cấp giấy phép cho anh/ chị có quyền “nhân danh” dân tộc? Nguyên động lực nào anh/ chị phát biểu câu đó? Anh/ chị có quan hệ “nợ nần” gì với đối tượng bị phê phán không? Và phê phán với thâm ý gì?

Tôi gọi đó là tinh thần hoài nghi mang tính triết lí.

Hỏi như thế, là bạn đã đặt bản thân kẻ phê phán và vấn đề bị phê phán vào tư thế phải được xét lại; qua đó bạn khiến đối tượng mất tự tin và lúng túng. Bước tiếp theo là, bạn bình tâm tìm hiểu phía bên kia: Đối tượng bị phê phán đó có thật sự hành xử như thế không? Đâu là tang chứng vật chứng? Nếu có, sự thể có đáng bị lên án nặng nề như vậy không? Khi nghe sự phê phán đó, họ đã phản ứng hay tự biện minh thế nào? Bạn hãy lắng nghe họ giải minh.

Vậy là bạn không bị nhồi sọ một chiều mà nhận được thông tin từ cả hai phía. Dĩ nhiên, nếu sự thể động cập đến chuyên môn, bạn cũng cần sự hỗ trợ của các chuyên gia uy tín. Uy tín và đạo đức. Bạn tham khảo thông tin từ nhiều phía khác nữa. Sau cùng, qua tổng hợp và phân tích, bạn có thể đưa ra ý kiến của riêng bạn.

Đó chính là tinh thần tư duy độc lập. Bạn không phải nghe theo, tin theo, nói hùa theo bất kì ai cả! Bạn đủ khôn lớn để phán xét mọi việc.

Làm như thế, chẳng những bạn minh oan được cho đối tượng bị phê phán thôi mà còn giúp chính mình nữa. Bởi vì nếu không tự tạo cho mình tinh thần phản biện, thiệt thòi về phần bạn là chính. Bạn mất cơ hội để nhận biết sự thật, từ đó bạn luôn chịu thao túng của tuyên truyền một chiều. Của báo chí hay của dư luận. Bạn giống thứ thân cây mềm yếu nghiêng ngả theo chiều gió, thành nô lệ của tuyên truyền và không tránh khỏi bị lợi dụng. Không phải lợi dụng tiền bạc bạn mà lợi dụng tâm hồn bạn, lợi dụng sự ngây thơ của tâm trí bạn.
Chỉ khi nào bạn biết độc lập tư duy, bạn mới trở thành người lớn, trở thành chính bạn.

Sự thể này nói lên thái độ công bằng đối với mọi thành phần trong xã hội, tránh cho cá nhân bị nhìn một cách bất công. Sự bất công này dễ đẩy đối tượng đến tình trạng tuyệt vọng hay có phản ứng ngược lại, tác hại đến xã hội không ít. Nếu vài người học biết ứng xử như thế, mọi hiểu lầm to lớn đến đâu cũng được vượt qua dễ dàng.

Inrasara

Miso chua

Sư nấu bếp tại Dairyo, tu viện của thiền sư Bankei, quyết định là sư sẽ chăm sóc kỹ càng sức khỏe của lão sư phụ của mình và sẽ chỉ cho sư phụ ăn Miso tươi, làm từ đậu nành, lúa mì và men đánh nhuyễn và để lên men. Bankei, thấy là mình được phục vụ miso tốt hơn miso của các đệ tử, liền hỏi: “Ai là người nấu ăn hôm nay?”

Dairyo được gọi đến gặp thầy. Bankei nghe trình là theo tuổi tác và địa vị của thầy, Bankei chỉ nên ăn miso tươi. Cho nên Bankei nói với sư nấu ăn: “Vậy chú nghĩ là thầy không nên ăn gì hết.” Nói xong, Bankei bước vào phòng riêng và khóa cửa.

Dairyo, ngồi ngoài cửa, xin lỗi thầy. Bankei không trả lời. Cả bảy ngày, Dairyo ngồi bên ngoài và Bankei ở bên trong.

Cuối cùng, trong tuyệt vọng một đệ tử nói thật to cho Bankei: “Thầy có thể không sao, lão sư phụ, nhưng anh chàng đệ tử này phải ăn. Hắn không thể nhịn ăn mãi được!”

Đến lúc đó Bankei mở cửa. Thầy mỉm cười. Thầy nói với Dairyo: “Thầy nhất quyết ăn cùng loại thức ăn như những đệ tử thấp nhất của thầy. Khi chú trở thành sư phụ, thầy không muốn chú quên chuyện này.”
.

Bình:

• Bankei đây là Bankei yōtaku (eitaku), Bàn Khuê Vĩnh Trác, mà chúng ta đã nhắc đến trong truyện Giọng nói của hạnh phúc.

• Xem ra đây là một luật lệ ăn uống đã có sẵn trong tu viện nhưng Bankei không biết. Người đến tuổi nào đó và có chức vị nào đó thì được ăn uống loại thực phẩm nào đó. Đây là ăn uống theo “hệ cấp” và Bankei chống đối “hệ cấp”. Nếu Bankei yếu sức khỏe hay bệnh hoạn và đầu bếp nấu thức ăn đặc biệt để chữa bệnh, chắc là thiền sư không phiền hà gì.

• Xã hội con người là xã hội hệ cấp dày đặc tới nghẹt thở: Chức vị đi trước hay sau tên (bác sĩ, luật sư, tiến sĩ, thạc sĩ, giáo sư, giáo viên… cô, dì, chú, bác..); văn phòng (làm lớn văn phòng lớn, làm nhỏ văn phòng nhỏ), xe cộ (làm lớn đi xe có tài xế), áo quần (làm lớn mặc veston, làm nhỏ mặc quần jean), lương bỗng.…

Nói chung là các thứ trang điểm cho hệ cấp này như vài mươi lớp áo dày phủ kín người chúng ta. Rồi chúng ta có thể tự thêm vài tầng hệ cấp nữa bằng cách xưng hô ăn nói quan liêu từ trên nói xuống. Rốt cuộc, ta chỉ là một hình nộm to đùng đứng đuổi chim giữa đồng.

Khó ai thấy được con người thật của mình. Và rất có thể là mình cũng không biết được con người thật của mình, nếu mình không bao giờ trút bỏ các lớp vỏ.

Có lẽ là ta sẽ không bao giờ bỏ hết được tối thiểu là một bộ quần áo mặc trên người. Nhưng nếu ta có thể trút bỏ rất nhiều bộ đồ đang chất chồng không cần thiết trên cơ thể, thì ta sẽ dễ thở và thong thả hơn rất nhiều, và nhiều người sẽ thích thú con người thật của ta, hơn là một hình nộm tới 27 lớp áo quần.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

.

Sour Miso

The cook monk Dairyo, at Bankei’s monastery, decided that he would take good care of his old teacher’s health and give him only fresh miso, a paste of soy beans mixed with wheat and yeast that often ferments. Bankei, noticing that he was being served better miso than his pupils, asked: “Who is the cook today?”

Dairyo was sent before him. Bankei learned that according to his age and position he should eat only fresh miso. So he said to the cook: “Then you think I shouldn’t eat at all.” With this he entered his room and locked the door.

Dairyo, sitting outside the door, asked his teacher’s pardon. Bankei would not answer. For seven days Dairyo sat outside and Bankei within.

Finally in desperation an adherent called loudly to Bankei: “You may be all right, old teacher, but this young disciple here has to eat. He cannot go without food forever!”

At that Bankei opened the door. He was smiling. He told Dairyo: “I insist on eating the same food as the least of my followers. When you become the teacher I do not want you to forget this.”

#51