Category Archives: trà đàm

John 8

Series on John:
(0)(1)(2)(3)(4)(5)(6)(7)(8)(9)(10), (11),
 (12)(13)(14),(15)(16)(17)(18), (19), (20), (21), (final)

but Jesus went to the Mount of Olives.

At dawn he appeared again in the temple courts, where all the people gathered around him, and he sat down to teach them. The teachers of the law and the Pharisees brought in a woman caught in adultery. They made her stand before the group and said to Jesus, “Teacher, this woman was caught in the act of adultery. In the Law Moses commanded us to stone such women. Now what do you say?” They were using this question as a trap, in order to have a basis for accusing him.

Continue reading John 8

John 7

Series on John:
(0)(1)(2)(3)(4)(5)(6)(7)(8)(9)(10), (11),
 (12)(13)(14),(15)(16)(17)(18), (19), (20), (21), (final)

Jesus Goes to the Festival of Tabernacles

After this, Jesus went around in Galilee. He did not want[a] to go about in Judea because the Jewish leaders there were looking for a way to kill him. But when the Jewish Festival of Tabernacles was near, Jesus’ brothers said to him, “Leave Galilee and go to Judea, so that your disciples there may see the works you do. No one who wants to become a public figure acts in secret. Since you are doing these things, show yourself to the world.” For even his own brothers did not believe in him.

Continue reading John 7

John 6

Jesus Feeds the Five Thousand

Series on John:
(0)(1)(2)(3)(4)(5)(6)(7)(8)(9)(10), (11),
 (12)(13)(14),(15)(16)(17)(18), (19), (20), (21), (final)

Some time after this, Jesus crossed to the far shore of the Sea of Galilee (that is, the Sea of Tiberias), and a great crowd of people followed him because they saw the signs he had performed by healing the sick. Then Jesus went up on a mountainside and sat down with his disciples. The Jewish Passover Festival was near.

When Jesus looked up and saw a great crowd coming toward him, he said to Philip, “Where shall we buy bread for these people to eat?” He asked this only to test him, for he already had in mind what he was going to do.

Continue reading John 6

John 5

The Healing at the Pool

Series on John:
(0)(1)(2)(3)(4)(5)(6)(7)(8)(9)(10), (11),
 (12)(13)(14),(15)(16)(17)(18), (19), (20), (21), (final)

Some time later, Jesus went up to Jerusalem for one of the Jewish festivals. Now there is in Jerusalem near the Sheep Gate a pool, which in Aramaic is called Bethesda[a] and which is surrounded by five covered colonnades. Here a great number of disabled people used to lie—the blind, the lame, the paralyzed. [4] [b]  —and they waited for the moving of the waters. From time to time an angel of the Lord would come down and stir up the waters. The first one into the pool after each such disturbance would be cured of whatever disease they had. One who was there had been an invalid for thirty-eight years. When Jesus saw him lying there and learned that he had been in this condition for a long time, he asked him, “Do you want to get well?”

“Sir,” the invalid replied, “I have no one to help me into the pool when the water is stirred. While I am trying to get in, someone else goes down ahead of me.”

Then Jesus said to him, “Get up! Pick up your mat and walk.” At once the man was cured; he picked up his mat and walked.

Continue reading John 5

John 4

Series on John:
(0)(1)(2)(3)(4)(5)(6)(7)(8)(9)(10), (11),
 (12)(13)(14),(15)(16)(17)(18), (19), (20), (21), (final)

Jesus Talks With a Samaritan Woman

Now Jesus learned that the Pharisees had heard that he was gaining and baptizing more disciples than John— although in fact it was not Jesus who baptized, but his disciples. So he left Judea and went back once more to Galilee.

Now he had to go through Samaria. So he came to a town in Samaria called Sychar, near the plot of ground Jacob had given to his son Joseph. Jacob’s well was there, and Jesus, tired as he was from the journey, sat down by the well. It was about noon.

Continue reading John 4

John 3

Series on John:
(0)(1)(2)(3)(4)(5)(6)(7)(8)(9)(10), (11),
 (12)(13)(14),(15)(16)(17)(18), (19), (20), (21), (final)

Jesus Teaches Nicodemus

Now there was a Pharisee, a man named Nicodemus who was a member of the Jewish ruling council. He came to Jesus at night and said, “Rabbi, we know that you are a teacher who has come from God. For no one could perform the signs you are doing if God were not with him.”

Jesus replied, “Very truly I tell you, no one can see the kingdom of God unless they are born again.[a]

Continue reading John 3

John 2

Series on John:
(0)(1)(2)(3)(4)(5)(6)(7)(8)(9)(10), (11),
 (12)(13)(14),(15)(16)(17)(18), (19), (20), (21), (final)

Jesus Changes Water Into Wine

On the third day a wedding took place at Cana in Galilee. Jesus’ mother was there, and Jesus and his disciples had also been invited to the wedding. When the wine was gone, Jesus’ mother said to him, “They have no more wine.”

“Woman,[a] why do you involve me?” Jesus replied. “My hour has not yet come.”

His mother said to the servants, “Do whatever he tells you.”

Continue reading John 2

John 1

Series on John:
(0)(1)(2)(3)(4)(5)(6)(7)(8)(9)(10), (11),
 (12)(13)(14),(15)(16)(17)(18), (19), (20), (21), (final)

The Word Became Flesh

In the beginning was the Word, and the Word was with God, and the Word was God. He was with God in the beginning. Through him all things were made; without him nothing was made that has been made. In him was life, and that life was the light of all mankind. The light shines in the darkness, and the darkness has not overcome[a] it.

Continue reading John 1

John

Series on John:
(0)(1)(2)(3)(4)(5)(6)(7)(8)(9)(10), (11),
 (12)(13)(14),(15)(16)(17)(18), (19), (20), (21), (final)

Chào anh chị em,

Mình đã viết rẩt nhiều về Phật pháp trong các bài trà đàm, và sẽ tiếp tục như thế. Minh là luật sư tranh tụng, tập trung vào lý luận trước tòa để thắng, và Phật pháp có trình độ lý luận siêu việt, nên mình thích nói về Phật pháp.

Tuy nhiên mình cũng muốn công bình và phong phú cho các bạn, nên mình muốn viết và gửi đến các bạn một chút về Thánh kinh Kitô giáo (Công giáo, Chính thống giáo và các nhánh Tin lành) với Do thái giáo là gốc rễ đầu tiên. Do thái giáo là một nửa đầu của Thánh kinh Kitô giáo, gọi là Cựu Ước, lời hứa hẹn cũ của Chúa – Thượng đế, Yahweh, YHWH, Adonai, Elohim – với Abraham là sẽ đưa con cháu của Abraham về vùng Đất Hứa. Tân Ước là nửa sau của Thánh kinh Kitô giáo là lời hứa hẹn của Chúa Giêsu (Jesus) cứu rỗi loài người.

Continue reading John

Tiểu luận về Bát Nhã Tâm Kinh – A brief exposition on the Heart Sutra (14)

Bài cùng chuỗi Tiểu luận về BNTK:
(1)(2)(3)(4)(5)(6), (7), (8), (9), (10), (11), (12), (13), (14). Done.

IV.  Năng lực của Bát Nhã đem đến Giác ngộ 

Trong câu mở đầu, chúng ta có Bồ tát Quán Tự Tại vượt qua mọi khổ ách nhờ thực hành Bát Nhã. Bây giờ trong phần kết thúc, chúng ta trở lại với năng lực của Bát Nhã đem đến giác ngộ. 

Dĩ vô sở đắc cố, Bồ-đề tát-đỏa y Bát-nhã-ba-la mật-đa cố tâm vô quái-ngại; vô quái-ngại cố vô hữu khủng-bố; viễn ly điên-đảo mộng tưởng; cứu cánh Niết-bàn. 

(Bởi chẳng có gì để đạt, Bồ tát nương tựa Bát nhã ba la mật đa, nên tâm không vướng mắc; vì không vướng mắc nên không sợ hãi, xa lìa mộng tưởng điên đảo, rốt ráo niết bàn).

Continue reading Tiểu luận về Bát Nhã Tâm Kinh – A brief exposition on the Heart Sutra (14)

Tiểu luận về Bát Nhã Tâm Kinh – A brief exposition on the Heart Sutra (13)

Bài cùng chuỗi Tiểu luận về BNTK:
(1)(2)(3)(4)(5)(6), (7), (8), (9), (10), (11), (12), (13), (14). Done.

Nhưng tại sao phủ nhận tất cả mọi giáo lý? Sự phủ nhận này có ý nghĩa gì?

Chúng ta cần nhớ rằng, trong Bát Nhã, phủ định và khẳng định là một—sắc tức thị không, không tức thị sắc; phủ định là khẳng định, khẳng định là phủ định. Và như ta đã thấy Bát Nhã khẳng định tất cả mọi thứ như chính nó là (Bát Nhã affirms every thing as it is).

Continue reading Tiểu luận về Bát Nhã Tâm Kinh – A brief exposition on the Heart Sutra (13)

Tiểu luận về Bát Nhã Tâm Kinh – A brief exposition on the Heart Sutra (12)

Bài cùng chuỗi Tiểu luận về BNTK:
(1)(2)(3)(4)(5)(6), (7), (8), (9), (10), (11), (12), (13), (14). Done.

Vô khổ tập diệt đạo. 

(Chẳng có khổ, nguyên nhân khổ, sự diệt khổ, và con đường diệt khổ.) 

(There is no suffering, no cause of suffering, no extinction of suffering, no path to extinction of suffering.) 

Đây là sự phủ nhận những giáo lý cơ bản quan trọng nhất trong tất cả các giáo lý Phật pháp: Tứ Diệu Đế (The Fourth Noble Truths) và Bát Chánh Đạo – the Noble Eightfold Path. 

Tứ diệu đế (The Four Noble Truths) là bốn sự thật cơ bản về đời sống: khổ tập diệt đạo (khổ, nguồn gốc của khổ, chấm dứt khổ, con đường dẫn đến chấm dứt khổ). Tứ Diệu Đế là giáo lý đầu tiên Đức Phật giảng dạy sau khi Người đạt giác ngộ, được viết trong Kinh Chuyển Pháp Luân (Dharma-Wheel Turning Sutra). 

  1. Khổ (Suffering): Đời chất chứa khổ đau. Một cách tổng quát, chúng ta có thể phân chia khổ thành khổ về thể xác và khổ về tinh thần. (a) Khổ về thể xác bao gồm sinh ra, già, bệnh, và chết (sinh lão bệnh tử). (b) Khổ về tinh thần bao gồm mất đi những gì ta thương yêu, gặp phải những gì ta ghét, và muốn những gì không có được. (c) Tuy nhiên, cũng có cái khổ gồm tất cả các nỗi khổ khác gộp lại – đó là cái khổ đến từ “chấp vào bản ngã” như một bản thể thường hằng vĩnh cửu. Tất cả chúng ta có thể tưởng tượng được một người sống như không bao giờ chết thì sẽ đau khổ như thế nào. 
Continue reading Tiểu luận về Bát Nhã Tâm Kinh – A brief exposition on the Heart Sutra (12)

Tiểu luận về Bát Nhã Tâm Kinh – A brief exposition on the Heart Sutra (11)

Bài cùng chuỗi Tiểu luận về BNTK:
(1)(2)(3)(4)(5)(6), (7), (8), (9), (10), (11), (12), (13), (14). Done.

Nếu không có bản ngã thường hằng (vô ngã, non-self, no permanent self), vậy thì cái gì sẽ tái sinh nhiều lần, sống qua nhiều kiếp sau khi chết? 

Luân hồi (samsara) và tái sinh (reincarnation) được giảng dạy trong Ấn giáo (Hinduism) trước khi Phật giáo xuất hiện. Trong Ấn giáo, mỗi con người có một linh hồn bất tử hay Tiểu ngã (tự ngã, Atman). Linh hồn này vẫn tồn tại sau cái chết và lại tái sinh vào kiếp sống mới, tùy theo nghiệp của người đó (karma). Nghiệp là kết quả những hành động của mỗi người và là nguồn lực quyết định tái sinh. Vòng tuần hoàn sinh-chết-tái sinh là luân hồi  (samsara). Khi một người đạt được tâm linh tinh khiết, người đó có được sự cứu rỗi và sẽ không bị tái sinh nữa. Khi đó, Tiểu ngã (linh hồn, Atman) của người đó hòa nhập cùng với Đại ngã (Brahman, Cái Toàn Thể, Một, Thượng Đế, the One, God) vĩnh viễn. 

Continue reading Tiểu luận về Bát Nhã Tâm Kinh – A brief exposition on the Heart Sutra (11)

Tiểu luận về Bát Nhã Tâm Kinh – A brief exposition on the Heart Sutra (10)

Bài cùng chuỗi Tiểu luận về BNTK:
(1)(2)(3)(4)(5)(6), (7), (8), (9), (10), (11), (12), (13), (14). Done.

Vô vô minh, diệc vô vô minh tận; nãi chí vô lão tử, diệc vô lão tử tận. 

(Chẳng có vô minh, cũng chẳng có chấm dứt vô minh; cho đến chẳng có già chết, cũng chẳng có chấm dứt già chết.) 

(No ignorance or ending of ignorance, up to and including no old age and death or ending of old age and death.) 

Ở đây, một giáo lý Phật giáo quan trọng khác bị phủ nhận —Thập Nhị Nhân Duyên (mười hai nhân duyên, the twelve links of cause and effect, or Law of Causation). Như chúng ta đã đề cập trước đây, mọi thứ đến và đi do nhân duyên. Thập nhị nhân duyên liệt kê mười hai nhân duyên để giải thích làm sao mà vô minh gây ra tuổi già, bệnh tật và cái chết, những cốt lõi của khổ đau. Thập Nhị Nhân Duyên cũng còn được gọi là duyên khởi hay duyên sinh (birth from law of causation, hay là dependent origination). 

Continue reading Tiểu luận về Bát Nhã Tâm Kinh – A brief exposition on the Heart Sutra (10)

Tiểu luận về Bát Nhã Tâm Kinh – A brief exposition on the Heart Sutra (9)

Bài cùng chuỗi Tiểu luận về BNTK:
(1)(2)(3)(4)(5)(6), (7), (8), (9), (10), (11), (12), (13), (14). Done.

Thị cố không trung, vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức; vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý; vô sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp; vô nhãn giới, nãi chí vô ý-thức-giới. 

(Cho nên, trong không chẳng có sắc, chẳng có thọ, tưởng, hành, thức; chằng có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; chẳng có màu sắc, âm thanh, hương thơm, vị nếm, xúc cảm, các pháp; chẳng có nơi để nhìn, cho đến chẳng có nơi để ý thức.) 

(Therefore, in emptiness there is no form, feeling, cognition,  formation, or consciousness; no eyes, ears, nose, tongue,  body, or mind; no sights, sounds, smells, tastes, objects of  touch, or dharmas; no field of the eyes, up to and  including no field of mind-consciousness). 

Từ câu này trở đi, Bát Nhã giới thiệu một bản liệt kê tất cả những giáo lý cơ bản mà chính Đức Phật đã thuyết giảng. Những lời giảng này là nền tảng của Phật giáo, tạo nên Phật giáo. Tuy nhiên, Bát Nhã Tâm Kinh bắt đầu phủ nhận mọi lời giảng, từng lời một.

Tại điểm này, chúng ta cần lưu ý những điểm sau:

Continue reading Tiểu luận về Bát Nhã Tâm Kinh – A brief exposition on the Heart Sutra (9)