Category Archives: Nhạc Xanh

Dân ca dân nhạc VN – Hát Chầu Văn

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Tiếp theo “Hát Ống/Hát Ví – Bắc Giang”, hôm nay mình giới thiệu đến các bạn thể loại “Hát Chầu Văn” của miền Bắc, Việt Nam.

Hát Chầu Văn là lễ nhạc hát chầu Thánh nên có vai trò quan trọng trong lễ hầu đồng. Lời ca, tiếng nhạc của cung văn nhằm mời gọi các vị Thánh về. Hát văn làm cho buổi lễ sống động. Những người hát văn vừa chơi nhạc cụ vừa thay nhau hát trong một vấn hầu thường kéo dài từ 4-8 tiếng. Continue reading Dân ca dân nhạc VN – Hát Chầu Văn

Dân ca dân nhạc VN – Hát Ống/Hát Ví Bắc Giang

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Tiếp theo “Hát Xẩm”, mình giới thiệu đến các bạn “Hát Ống/Hát Ví – Bắc Giang” hôm nay.

Hát Ống/Hát Ví là một thể loại âm nhạc dân gian mộc mạc nhưng trữ tình luôn làm xao xuyến lòng người của cộng đồng nông dân thôn Hậu, xã Liên Chung (Tân Yên-Bắc Giang).

“Thôn Hậu hội tụ đủ các yếu tố của một làng quê thuần Việt, mang đậm nét truyền thống nông thôn Bắc Bộ với đình Ao Vường cổ kính, cổng làng, giếng nước còn phủ bóng thời gian, con ngõ nhỏ dài hun hút, những rặng tre bám dọc đường làng… Continue reading Dân ca dân nhạc VN – Hát Ống/Hát Ví Bắc Giang

Nguyện cho lòng tốt – May the kindness

Chào các bạn,

Mình có một người bạn và cũng có thể coi là học trò. Thời gian vừa rồi bạn mới tốt nghiệp Master ở cùng trường mình và đang xin việc ở một trong lĩnh vực cạnh tranh nhất là ngành tài chính.

Trước lúc mình chuyển nơi làm việc và chia tay, bạn báo cho mình tin vui hết sức là bạn được nhận vào một vị trí làm việc được coi là dream job – công việc ao ước của bất cứ sinh viên tài chính nào ở Châu Âu. Bình thường mọi người có 3 vòng phỏng vấn nhưng vì lý do gì đó bạn có đến 5 vòng! Mà phỏng vấn trong mấy ngành này không hề dễ chịu. Continue reading Nguyện cho lòng tốt – May the kindness

Dân ca dân nhạc VN – Hát Xẩm

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Tiếp theo “Hát Xoan Phú Thọ”, hôm nay mình giới thiệu đến các bạn “Hát Xẩm”, một trong những thể loại dân ca cổ xưa của Việt Nam chúng ta.

Hát Xẩm là hình thức hát rong có địa bàn hoạt động khắp cả nước. Nhưng chỉ trong Hát Xẩm cổ vùng đồng bằng Bắc bộ mới có làn điệu riêng. Khi biểu diễn, người Hát Xẩm thường vừa hát vừa đánh đàn bầu (còn gọi là đàn Xẩm) hoặc kéo nhị, phối hợp với người đánh sênh, vỗ trống mảnh-đây là những nhạc cụ thường sử dụng trong dàn nhạc Xẩm. Đôi khi có thêm cả trống đế, mõ, hoặc một số nhạc cụ khác. Continue reading Dân ca dân nhạc VN – Hát Xẩm

One Woman – Bài hát chính thức của Phụ Nữ Liên Hợp Quốc

Năm 2013, 25 ca sĩ và nhạc sĩ từ 20 quốc gia gặp nhau để có một tiếng nói thống nhất: One Woman, bài hát chính thức cho các Phụ nữ Liên hợp quốc (UN Women).

Lời do Beth Blatt, nhạc do Graham Lyle và Clay, và trình diễn bời Graham Lyle, Clay, Beth Blatt, Gemma Bulos, Tituss Burgess, Tracy McDowell, Country Reed và ban hợp xướng United Nations International School Choir.

Hà Nội có trong dòng 3 của bài hát.

ONE WOMAN

In Kigali, she wakes up,
She makes a choice,
In Hanoi, Natal, Ramallah.

In Tangier, she takes a breath,
Lifts up her voice,
In Lahore, La Paz, Kampala. Continue reading One Woman – Bài hát chính thức của Phụ Nữ Liên Hợp Quốc

Tình yêu của Mẹ – A Mother’s Love

Chào các bạn,

Hôm nay mình giới thiệu với các bạn bài A Mother’s Love – Tình yêu của mẹ.

Mình muốn tặng mẹ cũng như các mẹ, các bà, các chị, các bạn những supermoms, supergirls, supermen mình có được gặp, những người đã và sẽ đến và luôn ở bên mình mọi lúc.

….who fill my heart and my life with your love.

I love you much.

I thank God for mothers love Continue reading Tình yêu của Mẹ – A Mother’s Love

Dân ca dân nhạc VN – Hát Xoan Phú Thọ

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Tiếp theo “Lý Miền Bắc”, hôm nay mình giới thiệu với các bạn bộ môn “Hát Xoan” tỉnh Phú Thọ.

Hát Xoan là lối hát thờ thần, thành hoàng, thuộc dân ca nghi lễ, phong tục gắn với hội mùa của người dân ở Phú Thọ, một tỉnh thuộc vùng trung du Việt Nam.

Thường vào mùa xuân, có các phường xoan lần lượt khai xuân ở đình, miếu làng. Vào ngày mùng 5 âm lịch thường hát ở hội đền Hùng. Thời điểm hát được quy định tại một điểm nhất định, mỗi “phường” chọn một vị trí cửa đình. Hát cửa đình giữ cửa đình mục đích nhân dân địa phương kết nghĩa với nhau. Theo lệ dân tại chổ là vai anh, họ (làng khác) là vai em. Khi kết nghĩa rồi cấm trai gái hai bên dân và họ kết hôn với nhau do là anh em. Continue reading Dân ca dân nhạc VN – Hát Xoan Phú Thọ

Dân ca dân nhạc VN – Lý Miền Bắc

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Tiếp theo “Quan Họ Bắc Ninh”, hôm nay mình giới thiệu đến các bạn giai điệu Lý Miền Bắc.

, trong âm nhạc dân gian Việt Nam, là một trong rất nhiều làn điệu dân ca của người Việt. cùng với các làn điệu khác như hò, cò lả, nam ai, nam bình, hát xoan, hát xẩm, hát ru,… tạo những nét độc đáo của dân ca Việt Nam. Thể loại có mặt trên khắp 3 miền đất nước nhưng đặc biệt phát triển ở miền Trung và miền Nam. Continue reading Dân ca dân nhạc VN – Lý Miền Bắc

Dân ca dân nhạc VN – Quan Họ Bắc Ninh

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Tiếp theo “Ca Trù”, hôm nay mình giới thiệu đến các bạn “Quan Họ Bắc Ninh”.

Bắc Ninh là vùng đất sinh ra nhiều Hoàng Hậu và có nhiều dấu tích lịch sử quan trọng. Dân ca Quan Họ Bắc Ninh là hát đối đáp nam nữ. Hiện nay vẫn chưa có câu trả lời cuối cùng về thời điểm ra đời của Dân ca Quan Họ trong lịch sử. Đối chiếu lời của các bài quan họ trong sự phát triển của Tiếng Việt, có thể nghĩ rằng Dân ca Quan Họ phát triển đến đỉnh cao vào giữa thế kỉ XVIII, Chủ nhân của quan họ là những người nông dân Việt (Kinh), chủ yếu sống bằng nghề trồng lúa nước. Continue reading Dân ca dân nhạc VN – Quan Họ Bắc Ninh

Dân ca dân nhạc VN – Múa Rối Nước

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Tiếp theo “Ngâm Thơ miền Bắc”, hôm nay mình giới thiệu đến các bạn nghệ thuật Múa Rối Nước của người Việt chúng ta.

Múa Rối Nước (hay còn gọi là Trò Rối Nước) là một loại hình nghệ thuật sân khấu dân gian truyền thống độc đáo, ra đời từ nền văn hóa lúa nước. Từ một nghệ thuật mang yếu tố dân gian, Múa Rối Nước đã trở thành một nghệ thuật truyền thống, một sáng tạo đặc biệt của người Việt.

Múa Rối Nước đã ra đời chừng hơn 10 thế kỷ trước ở vùng châu thổ sông Hồng. Loại hình nghệ thuật này thường diễn vào dịp lễ, hội làng, ngày vui, ngày Tết, dùng con rối diễn trò, diễn kịch trên mặt nước. Trò Rối Nước cũng được coi là nét văn hóa phi vật thể đặc sắc của dân tộc Việt Nam.

Do tính đặc sắc, nên từ nghệ thuật mang yếu tố dân gian, Múa Rối Nước đã nhanh chóng trở thành nghệ thuật truyền thống, có thể sánh ngang với Tuồng, Chèo là những bộ môn nghệ thuật có vị trí cao trong nền sân khấu dân tộc. Múa Rối có ở nhiều quốc gia trên thế giới, nhưng Múa Rối Nước thì chỉ duy nhất có ở Việt Nam.

muaroinuoc7

Múa Rối Nước ra đời cùng nền văn minh lúa nước nhưng được hình thành và phát triển vào triều đại nhà Lý (1010 – 1225). Theo thời gian, nghệ thuật Múa Rối Nước được truyền từ đời này sang đời khác, dần dần trở thành một thú chơi tao nhã của người dân Việt Nam trong các dịp lễ hội.

Chứng cứ bằng văn tự đầu tiên ghi chép về Múa Rối Nước Việt Nam là bia tháp Sùng Thiện Diên Linh, dựng năm 1121, trong đó có đoạn viết: “Thả rùa vàng đội ba ngọn núi, trên mặt sóng dập dờn. Phơi mai vân để lộ bốn chân, dưới dòng sông lờ lững, liếc mắt nhìn lên bờ, cúi xét bầu trời lồng lộng. Trông vách dựng cheo leo, dạo nhạc thiều réo rắt. Cửa động mở ra thần tiên xuất hiện. Ðều là dáng điệu thiên cung, há phải phong tư trần thế. Vươn tay nhỏ dâng khúc Hồi phong, nhăn mày thúy ngợi ca vận tốt. Chim quý từng đàn ca múa, thú lành từng đội xênh xang.”

Nghệ thuật Trò Rối Nước có những đặc điểm khác với Múa Rối thông thường: dùng mặt nước làm sân khấu (gọi là nhà rối hay thủy đình), phía sau có phông che, xung quanh trang trí cờ, quạt, voi, lọng, cổng hàng mã… trên “sân khấu” là những con rối (được làm bằng gỗ) biểu diễn nhờ sự điều khiển của những người phía sau phông thông qua hệ thống sào, dây… Biểu diễn rối nước không thể thiếu những tiếng trống, tiếng pháo phụ trợ.

Con rối làm bằng gỗ sung, loại gỗ nhẹ nổi trên mặt nước, được đục cốt, đẽo với những đường nét cách điệu riêng sau đó gọt giũa, đánh bóng và trang trí với nhiều màu sơn khác nhau để làm tôn thêm đường nét tính cách cho từng nhân vật. Hình thù của con rối thường tươi tắn, ngộ nghĩnh, tính hài và tính tượng trưng cao.

muaroinuoc4

Phần thân rối là phần nổi lên mặt nước thể hiện nhân vật, còn phần đế là phần chìm dưới mặt nước giữ cho rối nổi bên trên và là nơi lắp máy điều khiển cho quân rối cử động.

Máy điều khiển và kỹ xảo điều khiển trong múa rối nước tạo nên hành động của quân rối nước trên sân khấu, đó chính là mấu chốt của nghệ thuật Trò Rối Nước.

Máy điều khiển rối nước có thể được chia làm hai loại cơ bản: máy sào và máy dây đều có nhiệm vụ làm di chuyển quân rối và tạo hành động cho nhân vật. Máy điều khiển được giấu trong lòng nước, lợi dụng sức nước, tạo sự điều khiển từ xa, cống hiến cho người xem nhiều điều kỳ lạ, bất ngờ.

Buồng trò rối nước là nhà rối hay thủy đình thường được dựng lên giữa ao, hồ với kiến trúc cân đối tượng trưng cho mái đình của vùng nông thôn Việt Nam.

Người nghệ nhân rối nước đứng trong buồng trò để điều khiển con rối. Họ thao tác từng cây sào, thừng, vọt… hoặc giật con rối bằng hệ thống dây bố trí ở bên ngoài hoặc dưới nước. Sự thành công của quân rối nước chủ yếu trông vào sự cử động của thân hình, hành động làm trò đóng kịch của nó.

muaroinuoc3

Sân khấu rối nước là khoảng trống trước mặt buồng trò. Buồng trò, sân khấu được trang bị cờ, quạt, voi, lọng, cổng hàng mã… Buổi diễn rất nhộn nhịp với lời ca, tiếng trống, mò, tù và, chen tiếng pháo chuột, pháo thăng thiên, pháo mở cờ từ dưới nước lên, trong ánh sáng lung linh và màn khói huyền ảo.

Trò Rối Nước là trò khéo lấy động tác làm ngôn ngữ diễn đạt, rối nước gắn bó với âm nhạc như nghệ thuật múa. Âm nhạc điều khiển tốc độ, giữ nhịp, dẫn dắt động tác, gây không khí với tiết tấu truyền thống giữ vai trò chủ đạo của trò rối nước, nhạc rối nước thường sử dụng các làn điệu chèo hoặc dân ca đồng bằng Bắc Bộ.

Theo các truyền thuyết, huyền thoại lịch sử, trò rối nước ra đời từ thời xây thành Cổ Loa, Kinh An Dương Vương, năm 255 trước công nguyên. Còn theo sử sách, văn bia Trò Rối Nước ra đời năm 1121 (đời Lý).

Trong kho tàng Trò Rối Nước của Việt Nam, có 30 tiết mục cổ truyền và hàng trăm tiết mục rối hiện đại kể về những sự tích dân gian và cuộc sống hàng ngày của người dân Việt. Các trò diễn thường được mở đầu bằng sự giới thiệu của chú Tễu, mô tả:

• Những sinh hoạt đời thường như: công việc nhà nông, câu ếch, cáo bắt vịt,
• Lễ hội: múa rồng, múa sư tử, rước kiệu, đấu vật, đánh võ, chọi trâu.
• Trích đoạn một số tích cổ: Thạch Sanh, Tấm Cám…

muaroinuoc2

 

Múa Rối Nước Đào Thục

Rối nước Đào Thục là môn rối nước có xuất xứ tại làng Đào Thục, xã Thuỵ Lâm, Huyện Đông Anh, Hà Nội.
Vào thời Hậu Lê làng Đào Thục có Ông Đào Tướng Công (Tự Phúc Khiêm) tên thật là Nguyễn Đăng Vinh quê ở Đào Xá, huyện Yên Phong, Bắc Ninh nay là Đào Thục, xã Thụy lâm, huyện Đông Anh, Hà Nội. Sau khi đỗ đạt Thám Hoa (Tiến sĩ) rồi làm quan Nội giám thời vua Lê Hy Tông, được nhà vua yêu mến ban cho nghệ thuật múa rối nước đem về quê hương xây dựng làng Đào Xá cùng với tâm huyết của mình. Vì có công lớn nên dân làng đã lập đơn đề nghị triều đình Hậu Lê phong thần lập bia đá năm 1735 (thời Lê Ý Tông).

Rối nước Đào Thục có màn đốt pháo bật cờ khai mạc và dùng nhân vật Ba Khí giáo trò (Ba khí là đại diện chung cho cả hình ảnh người nông dân Bắc Bộ và anh Ba Khía Miền Nam ) chứ không chỉ là chú Tễu – anh nông dân đồng bằng Bắc Bộ từ xa xưa như các phường rối khác.

Dưới đây mình có bài “Múa Rối Nước – một sáng tạo độc đáo của người Việt”, cùng với 4 clips tổng thể nghệ thuật Múa Rối Nước truyền thống Việt Nam, trong đó có nghệ nhân của các đoàn “Nhà hát Múa rối nước Hà Nội” và “The Golden Dragon Water Puppet Theatre of Saigon” biểu diễn để các bạn tiện việc tham khảo và thưởng thức.

Mời các bạn.

Túy Phượng

(Theo Wikipedia)

roi4

Múa rối nước – một sáng tạo độc đáo của người Việt

(Phương Dung)

Múa rối nước là loại hình nghệ thuật đặc sắc của văn hóa lúa nước.

Do tính đặc sắc, nên từ nghệ thuật mang yếu tố dân gian, múa rối nước đã nhanh chóng trở thành nghệ thuật truyền thống, có thể sánh ngang với tuồng, chèo là những bộ môn nghệ thuật có vị trí cao trong nền sân khấu dân tộc.

Múa rối có ở nhiều quốc gia trên thế giới, nhưng múa rối nước thì chỉ duy nhất có ở Việt Nam. Nghệ thuật múa rối nước xuất hiện từ đời Lý (1010-1225).

Chứng cứ bằng văn tự đầu tiên ghi chép về múa rối nước Việt Nam mà chúng ta đọc được là bia tháp Sùng Thiện Diên Linh, dựng năm 1121, trong đó có đoạn viết: “Thả rùa vàng đội ba ngọn núi, trên mặt sóng dập dờn. Phơi mai vân để lộ bốn chân, dưới dòng sông lờ lững, liếc mắt nhìn lên bờ, cúi xét bầu trời lồng lộng. Trông vách dựng cheo leo, dạo nhạc thiều réo rắt. Cửa động mở ra thần tiên xuất hiện. Ðều là dáng điệu thiên cung, há phải phong tư trần thế. Vươn tay nhỏ dâng khúc Hồi phong, nhăn mày thúy ngợi ca vận tốt. Chim quý từng đàn ca múa, thú lành từng đội xênh xang.”

roi3_đầu bài

Múa rối nước là một sáng tạo độc đáo của cư dân vùng châu thổ sông Hồng, được manh nha từ công cuộc chế ngự, cải tạo nước. Rối nước thường được diễn vào những ngày nông nhàn, ngày xuân, trong các lễ hội. Thông qua các câu chuyện được nghệ sỹ rối nước thể hiện, người xem sẽ cảm nhận được sắc thái của hội làng, gửi gắm vào đó những mơ ước bình dị cho cuộc sống.

Giữa thiên nhiên thơ mộng, khán giả có cơ hội chiêm ngưỡng một loại hình nghệ thuật trong đó có đất, nước, cây xanh, mây, gió, có lửa, có khói mờ vương tỏa, có cả mái đình với những hàng ngói đỏ. Thật sự là một sự hòa hợp độc đáo của nghệ thuật, thiên nhiên và con người.

Trước khi chính thức trở thành nghệ thuật sân khấu, múa rối nước là hoạt động nằm trong các phường hội dân gian rải rác khắp thôn xóm, được “nuôi lớn” bằng nhiệt huyết của người dân.

Ngâm bùn lội nước để làm nghệ thuật không phải là một công việc bình thường thích thú với mọi người. Nếu không phải là người sống ân tình với nước tới mức “Sống ngâm da, chết ngâm sương” như cư dân trồng lúa nước, thì khó có được sự truyền cảm nồng nhiệt vào hành động của nhân vật rối nước.

roi11

Về sân khấu

Yếu tố độc đáo của rối nước là sử dụng mặt nước làm sân khấu để con rối diễn trò, đóng kịch. Buồng trò rối nước (nhà rối hay thủy đình), được dựng lên giữa ao, hồ với kiến trúc cân đối tượng trưng cho mái đình của vùng nông thôn Việt Nam.

Tất cả buồng trò, sân khấu cùng trang bị cờ, quạt, voi, lọng, cổng hàng mã đúng là một đình làng thu nhỏ lại với những mái uốn cong lung linh phản chiếu trên mặt nước.

Sân khấu rối nước là khoảng trống trước mặt buồng trò, nó chỉ thực sự hoàn chỉnh khi đã vào chương trình biểu diễn và cũng bắt đầu mất đi ngay khi chấm dứt tiết mục cuối cùng.

Qua những tiết mục biểu diễn của nghệ thuật rối nước cổ truyền, những cảnh sinh hoạt bình thường về đời sống, tập tục tinh thần và vật chất truyền đời của người nông dân Việt Nam được thể hiện một cách rõ nét.

roi10

Về con rối

Quân rối nước chính là sản phẩm của nghệ thuật điêu khắc gỗ dân gian, vừa giàu tính hiện thực, vừa mộc mạc, đằm thắm, trữ tình. Hình thù của con rối thường tươi tắn, ngộ nghĩnh, tính hài và tính tượng trưng cao.

Nhân vật tiêu biểu nhất là chú Tễu, thân hình tròn trĩnh, nụ cười hóm hỉnh lạc quan.
Mở màn, chú Tễu xuất hiện vui vẻ, nghịch ngợm làm nhiệm vụ giáo đầu dẫn chuyện.

Để làm được một con rối hoàn chỉnh, phải trải qua rất nhiều công đoạn từ đục cốt đến trang trí và rất nhiều công đoạn mà người nghệ nhân không thể bỏ qua.

Quân rối càng hoàn hảo, càng giúp cho kỹ xảo điều khiển nâng cao, khả năng diễn đạt phong phú. Quân rối nước làm bằng gỗ tốt sẽ nặng và chìm và gỗ sung là chất liệu thông dụng để tạc con rối.

Ở đây tài năng của nghệ nhân đã đem lại cho ta cái tươi mát, đôn hậu, hiền dịu, niềm lạc quan yêu đời, yêu thiên nhiên, con người qua cái bình dị đơn sơ được khuếch đại và nghệ thuật hóa.

Quân rối nước dù tạc liền một khối gỗ hay chắp lại đều có hai phần gắn liền nhau đó là phần thân và phần đế. Phần thân là phần nổi lên mặt nước thể hiện nhân vật, còn phần đế là phần chìm dưới mặt nước giữ cho rối nổi bên trên và là nơi lắp máy điều khiển cho quân rối cử động.

roi7

Về kỹ thuật điểu khiển

Kỹ thuật điều khiển trong múa rối nước rất được coi trọng, tạo nên hành động của quân rối nước trên sân khấu, đó chính là mấu chốt của nghệ thuật múa rối.

Quân rối đẹp mới chỉ có giá trị về mặt điêu khắc. Sự thành công của quân rối nước chủ yếu trông vào sự cử động của thân hình, hành động làm trò đóng kịch của nó.

Các nghệ nhân dân gian đã dựa vào kinh nghiệm và khả năng sáng tạo để làm ra nhiều kiểu máy rối nước phong phú và đa dạng. Máy điều khiển được giấu trong lòng nước, lợi dụng sức nước, tạo sự điều khiển từ xa, cống hiến cho người xem nhiều bất ngờ kỳ diệu.

Nghệ nhân rối nước đứng trong buồng trò thao tác bằng cây sào hoặc giật con rối bằng hệ thống dây. Phương thức nhờ nước để con rối hoạt động, nhờ nước giấu đi bộ máy và cách điều khiển là sáng tạo tuyệt vời.

Nước làm cho con rối sinh động, làm cho chúng tươi tắn. Nước đã tham gia cùng diễn với con rối như một nhận xét: “Nước cũng là một nhân vật của múa rối.” Mặt nước êm ả với đàn vịt bơi, trở nên thơ mộng trong làn khói huyền ảo khi bầy tiên nữ giáng trần múa hát. Nhưng mặt nước cũng sôi động trong những trận chiến lửa, những con rồng vây vàng xuất hiện.

Báo nước ngoài từng viết: “Con rối được điều khiển bằng sự khéo léo khó mà tưởng tượng. Con rối như có phép thuật điều khiển.” Đấy chính là sự tài tình, là điều hấp dẫn và sáng tạo của nghệ thuật múa rối nước.

roi6

Về âm nhạc

Khởi thủy là biểu diễn trên sân khấu ngoài trời giữa ao hồ, nên rối nước cần âm thanh mạnh để giữ tiết tấu và khuấy động không khí buổi diễn.

Các phường hội dân gian chuyên dùng bộ nhạc gõ dân tộc như trống cái, não bạt, mõ, pháo, tù và ốc. Âm nhạc rối nước mang tính đại náo của hội hè, có tác dụng kích động mạnh cả người diễn lẫn người xem.

Vốn là một nghệ thuật lấy động tác làm ngôn ngữ diễn đạt, rối nước gắn bó với âm nhạc như nghệ thuật múa. Các nghệ nhân múa rối nước dựa theo tiết tấu nhạc mà điều khiển con rối lúc khoan thai, lúc sôi động, giúp gắn kết các tiết mục với nhau.

Người Pháp gọi môn nghệ thuật múa rối nước với những con rối duyên dáng là “linh hồn của đồng ruộng Việt Nam” và đánh giá: “Với sáng tạo và khám phá, rối nước đáng được xếp vào những hình thức quan trọng nhất của sân khấu múa rối”./.

(Phương Dung – TTXVN/Vietnam+)

oOo

Việt Nam Trong Tôi – Múa Rối Nước: (giới thiệu)

 

Múa Rối Nước – Nhà hát Múa rối nước Hà Nội biểu diễn:

 

Múa Rối Nước – The Golden Dragon Water Puppet Theatre of Saigon biểu diễn:

 

Múa Rối Nước – Các màn múa truyền thống:

 

Dân ca dân nhạc VN – Ngâm Thơ Miền Bắc

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Hôm nay mình giới thiệu đến các bạn bộ môn “Ngâm Thơ” của miền Bắc, Việt Nam.

Người Việt Nam thì ai ai cũng làm thơ, nhưng “Ngâm Thơ” thì phong phú nhất là ở Miền Bắc.  Thể thơ Lục Bát, rất tự nhiên trong ngôn ngữ Việt Nam, đã có từ trong ca dao tục ngữ và dân nhạc từ thời cổ đại. Sau đó thì các thể thơ Đường Luật du nhập vào Việt Nam.  Hai bài theo thể thơ Đường đầu tiên được biết đến là “Nam Quốc Sơn Hà” của Lý Thường Kiệt, và “Quốc Tộ” của Thiền sư Đỗ Pháp Thuận. Trải dài cho đến thời kỳ đầu thập niên 1930 với “Phong Trào Thơ Mới” và bài thơ Tình Già của Phan Khôi, tiếp diễn cho đến ngày nay.

Dù rằng chưa có một định nghĩa chính xác về “Thơ”, nhưng chúng ta không thể phủ nhận “Thơ” là một phần của cuộc sống, là một cách/phương tiện dùng để bày tỏ cảm xúc riêng tư không chỉ bằng từ ngữ mà còn bằng cả trái tim của tác giả. Continue reading Dân ca dân nhạc VN – Ngâm Thơ Miền Bắc

Dân ca dân nhạc VN – Dân ca Thanh-Nghệ-Tĩnh

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Bắc Bộ Việt Nam là nơi ghi dấu ấn lịch sử xưa nhất của dân tộc Việt Nam. Có Đền thờ các vua Hùng ở tỉnh Phú Thọ, thành Cổ Loa của An Dương Vương ở Đông Anh, Hà Nội… Vào thời kỳ Bắc thuộc, nơi này được mang các tên như quận Giao Chỉ, rồi Giao Châu.

Thời Trịnh – Nguyễn phân tranh, đây là vùng đất Đàng Ngoài do Chúa Trịnh kiểm soát, kéo dài cho tới sông Gianh, đèo Ngang. Đàng Ngoài còn được gọi là Bắc Hà vì nằm phía bắc sông Gianh, còn Đàng Trong, còn gọi là Nam Hà, do Chúa Nguyễn kiểm soát. Continue reading Dân ca dân nhạc VN – Dân ca Thanh-Nghệ-Tĩnh

Dân ca dân nhạc VN – Dân ca Champa/Chăm Pa

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Tiếp theo Dân ca Bình-Trị-Thiên, mình giới thiệu đến các bạn Dân ca Champa (Chăm Pa) hôm nay.

Dân tộc Champa vốn quần tụ tại khu vực duyên hải miền Trung Việt Nam từ rất lâu đời. Ngay từ những thế kỷ đầu công nguyên cho tới thế kỷ XVII, người Champa đã từng xây dựng nên vương quốc Champa với nền vǎn hoá Sa Huỳnh rực rỡ, ảnh hưởng của vǎn hoá Ấn Độ.

Dân tộc này còn có các tên gọi khác là: Chàm, Chiêm, Chiêm Thành, Hời… với các nhóm địa phương: Chăm Hroi, Chăm Poổng, Chà Và Ku, Chăm Châu Ðốc. Họ có khoảng chừng 161.729 người (theo kết quả điều tra dân số năm 2009 của Tổng cục thống kê), và tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Malayô-Polynéxia (ngữ hệ Nam Ðảo). Continue reading Dân ca dân nhạc VN – Dân ca Champa/Chăm Pa

Angus Mơ – Dream Angus

Chào các bạn,

Dream Angus là một bản nhạc ru con truyền thống của Scotland rất dễ thương. Angus là một thị trấn nhỏ bên bờ biển Bắc của Scotland.

Trong bài có nhiều từ được thêm âm “y” vào cuối, theo truyền thống thân mật trong tiếng Anh, như là mẹ là “mom” thì gọi là “mommy”, số nhiều thì đổi “y” thành “ies”, như birdies, beasties, lambies…  Trong bài cũng có nhiều loài chim như curlew, laverock…

Continue reading Angus Mơ – Dream Angus

Câu đối tết

      Thông báo: Số Tết ĐCN đăng vào giờ giao thừa. Và không có bài mới sau đó, cho đến thứ ba 24/2 tức mùng 6 tết. Chúc các bạn năm nới nhiều may mắn và hạnh phúc.
      ĐCN admins

Chào các bạn

Năm Mùi chúc các bạn ai cũng mùi mẫn mê ly
Lúc nào cũng lung linh hấp dẫn duyên thì

Mời các bạn click vào ảnh dưới đây để xem PPS các Câu Đối Tết. PPS dưới đây mình không lấy từ file trên authorstream như các files khác, vì authorstream làm hỏng font thư pháp mình dùng. Mình đặt file này ngay trong system của ĐCN. Vậy các bạn click vào ảnh rồi chờ chừng 1 phút để file xuống computer của các bạn. Continue reading Câu đối tết