Category Archives: Nước Việt Mến Yêu

Về Phát Diệm

Hôm đến di tích Lam Kinh, khi đi qua một chiếc cầu, người hướng dẫn cho biết: cầu này thời xưa xây dựng theo kiểu “thượng gia hạ kiều”, bên trên có mái lợp như mái nhà, bên dưới là cầu, ngày nay mái lợp không còn.

Loại cầu này đã gặp ở Hội An với Chùa Cầu. Gọi là Chùa Cầu vì chùa đồng thời là một chiếc cầu bắc ngang qua một con lạch. Mái chùa lợp ngói âm dương che kín cây cầu dài 12m. Công trình này được người Nhật xây dựng khoảng cuối thế kỉ XVI đầu thế kỉ XVII. Một bên đầu cầu có tượng con chó, đầu bên kia là tượng con khỉ.

Cầu ngói Ninh Bình

Đến Thừa Thiên nghe câu ca dao:

Ai về cầu ngói Thanh Toàn
Cho em về với một đoàn cho vui

Hay

Ai về cầu ngói Giạ Lê
Cho tôi theo với thăm quê bên chồng

Cầu ngói Thanh Toàn ở thôn Vân Khê huyện Hương Thủy, cũng là cầu có mái che bên trên lợp ngói âm dương. Người dân ở đây cho biết cầu do một cung phi thời nhà Nguyễn bỏ tiền ra làm để tỏ lòng yêu quý quê hương, nơi bà đã được sinh trưởng. Còn một Giạ Lê nữa là Giạ Lê Gót, chuyên làm bồ cót, tiếng địa phương là gót.

Ở Cao Bằng cũng có cầu ngói mới làm, trên đường vào mộ Kim Đồng.

Chúng tôi chợt nhớ đến những chiếc cầu này khi về Phát Diệm. Huyện Kim Sơn đang trong tầm mắt mọi người, gần và xa rất nhiều nhà thờ. Những thánh giá màu trắng bạc nổi lên khắp cả  bầu trời, trông cao vút. Đoạn đường dài khoảng 4km dọc theo sông đào. Dưới sông có những chiếc thuyền với hình dáng khá dài. Nhiều cây cầu bắc qua sông, có một cây cầu bên trên lợp mái ngói, nằm giữa khoảng đồng không. Cầu có hai nhịp, hai bên thành là lan can, hai bên đầu cầu là lối đi xi măng nối với gờ xi măng của con đường có bậc cấp bước xuống sông. Một cây phượng không cao lắm đang nở hoa đỏ rực. Gặp chiếc cầu chúng tôi cảm thấy thêm niềm vui như gặp lại người bạn cũ trước khi bước vào một trung tâm lớn của Thiên Chúa giáo nước nhà: Phát Diệm.

Vào năm 1862, Phát Diệm chỉ có một ngôi nhà thờ lợp bằng tranh. Năm 1871, được một ngôi nhà thờ khác rộng rãi hơn. Năm 1891 thì có nhà thờ nguy nga tráng lệ. Đây là một quần thể kiến trúc độc đáo, khi đường nét Đông phương với lối mái uốn cong của các điện, các chùa phối hợp hài hòa vào một cơ sở tôn giáo xuất phát từ Tây phương. Toàn thể nhà thờ rộng 22 mẫu, chia làm hai khu vực chính: khu nhà thờ và khu nhà chung.

Nhà thờ Phát Diệm

Nhà thờ chánh tòa dài 80m, rộng 24m, cao 18m, bao gồm 48 cột lim, mỗi cột chu vi 2,40m. Bàn thờ là một khối đá liền dài 3,10m, rộng 0,80m. Thánh đường phân làm 9 gian với ngũ môn (5 lối ra vào). Có những phù điêu bằng đá mô tả cuộc đời của Chúa Giê-su. Trong Phương đình treo một quả chuông nặng 150kg, cao 1,90m. Nhà nguyện Trái tim Đức Mẹ bốn mái cong, có lầu gác, từ nền đến cột tất cả đều bằng đá, chung quanh lối đi lót đá. Bốn ngôi nhà thờ nhỏ thờ: Trái tim Chúa Giê-su, Thánh Gioan, Thánh Giu-se và Thánh Phê-rô. Trước mặt nhà thờ là một hồ nước rộng 4 mẫu, trên đảo nhỏ giữa hồ có tượng Chúa cao 3m.

Điều đặc biệt nữa ở đây là có những câu đối chữ Hán, bởi linh mục chủ trương xây dựng nhà thờ Phát Diệm là một bậc uyên thâm Nho học. Đó là một người trải bao gian khổ vẫn nguyện dâng hiến trọn đời cho Đức Tin: Linh mục Phê-rô Trần Lục, tục gọi là Cụ Sáu, từng có tên là Hữu, Triêm, sinh năm 1825 tại Mỹ Quan huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hóa, tức xứ Kẻ Dừa, được thụ phong linh mục năm 1860, được bổ nhiệm Chánh xứ Phát Diệm năm 1865, tạ thế 1899, thọ 75 tuổi.Tên Trần Lục là do vua Tự Đức đổi khi phong cho ngài chức Trấp an và ban kim khánh, kim tiền. Vua Đồng Khánh phong ngài là Tham tri bộ Lễ sung Khâm sai Tuyên phủ sứ, vua Thành Thái gia phong Thượng thư bộ Lễ, vua Khải Định truy tặng Phát Diệm Nam tước.

Về Phát Diệm không thể không nhắc đến Uy Viễn tướng công Nguyễn Công Trứ, một người văn võ song toàn, kinh bang tế thế, luôn luôn theo đúng đường lối Nho giáo là nhập thế, hành động, khuyến khích nam nhi cố gắng tạo nên công danh, sự nghiệp, nhưng về mặt lãng mạn, trữ tình thì chẳng những không kém thua ai mà còn hơn hẳn thiên hạ bao nhiêu bậc. Đậu giải nguyên, từng phục vụ ba triều vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, với công cuộc dinh điền ông đã lập ra hai huyện Tiền Hải (Thái Bình) và Kim Sơn (Ninh Bình).

Ngẫm lại đời ông biết bao nỗi thăng trầm, từng làm đến Thượng thư bộ Binh cũng từng bị hạ xuống đi tiền quân hiệu lực như một binh nhì, vẫn giữ tròn tiết tháo. Bản chất kẻ sĩ của ông là:

Trong lăng miếu ra tài lương đống
Ngoài biên thùy rạch mũi can tương

Cho dẫu có pha một chút ngậm ngùi khi trách ông xanh:

Kiếp sau xin chớ làm người
Làm cây thông đứng giữa trời mà reo

Cũng chất ngất nét hào sảng và tràn đầy sự tự tại.

Trong chúng ta, khi cảm thấy bất phùng thời, ai chẳng muốn làm một cây thông như vậy.

Trần Huiền Ân

Giỗ tổ Hùng Vương 2010

denhung-cong
Hôm nay, mùng 10 tháng 3 âm lịch là Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương, mặc dù nghiều nơi đã mừng Giỗ tổ vài ngày trước đây. Nhiều nơi trong nước và trên thế giới (tại những thành phố đông người Việt) tổ chức Giỗ tổ, tuy nhiên nơi chính vẫn là Đền Hùng ở Phú Thọ, vì vậy ngày này còn gọi là Lễ hội Đền Hùng.

den-hung-thuong
Khu di tích Đền Hùng thuộc thôn Cổ Tích – xã Hy Cương – huyện Lâm Thao – tỉnh Phú Thọ, cách trung tâm thành phố Việt Trì 7 km về phía Bắc, cách thủ đô Hà Nội 90 km. Đền Hùng là di tích lịch sử văn hoá đặc biệt quan trọng của quốc gia, được xây dựng trên núi Hùng – thuộc đất Phong Châu – vốn là đất kế đô của Nhà nước Văn Lang 4.000 năm trước đây. Toàn bộ Khu di tích có 4 đền, 1 chùa và 1 lăng hài hoà trong cảnh thiên nhiên, có địa thế cao rất ngoạn mục, hùng vĩ, đất đầy khí thiêng của sơn thuỷ hội tụ. Chúng ta có thể đọc thêm chi tiết về Đền Hùng tại đây.

den-hung-trung
Lễ hội Đền Hùng là lễ hội truyền thống của dân tộc Việt Nam, và có một đặc thù riêng là: Phần lễ nặng hơn phần hội. Tâm tưởng người về dự hội là hướng về tổ tiên, cội nguồn với sự tôn kính và lòng biết ơn sâu sắc (Ẩm hà tư nguyên – Uống nước nhớ nguồn). 41 làng xã thuộc tỉnh Vĩnh Phú tham gia rước kiệu lễ dâng Tổ. Từ ngàn xưa, trên các cổ kiệu có bày lễ vật, đi kèm có phường bát âm tấu nhạc, cờ quạt, bát bửu, lọng che cùng chiêng trống. Những làng ở xa thường phải rước 2-3 ngày mới tới” . “Xưa kia, việc cúng Tổ (cử hành) vào ngày 12 tháng 3 (âm lịch) hằng năm. Thường khi con cháu ở xa về làm giỗ trước một ngày, vào ngày 11 tháng 3 (âm lịch)… Đến thời nhà Nguyễn định lệ 5 năm mở hội lớn một lần (vào các năm thứ 5 và 10 của các thập kỷ), có quan triều đình về cúng tế cùng quan hàng tỉnh và người chủ tế địa phương cúng vào ngày 10 tháng 3 (âm lịch). Do đó ngày giỗ Tổ sau này mới là ngày 10 tháng 3 (âm lịch ) hàng năm”.

lehoidenhung
Những năm hội chính thì phần lễ gồm: Tế lễ của triều đình sau đó là phần lễ của dân. Có 41 làng được rước kiệu từ đình làng mình tới Đền Hùng. Đó là những cuộc hành lễ thể hiện tính tâm linh và nhân văn sâu sắc. Các kiệu đều sơn son thếp vàng, chạm trổ tinh vi, được rước đi trong không khí vừa trang nghiêm vừa vui vẻ với sự tham gia của các thành phần chức sắc và dân chúng trong tiếng chiêng, trống, nhạc bát âm rộn rã một vùng. Phần hội gồm các trò chơi dân gian như đánh vật, đu tiên, ném còn, cờ người, bắn cung nỏ… và đặc biệt là các đêm hát xoan, hát ghẹo – hai làn điệu dân ca độc đáo của vùng đất Châu Phong.

Tại các liên kết này chúng ta có thể đọc thêm về lịch sử Lễ hội Đền Hùng và một số hình ảnh các tiết mục lễ hội dân gian.


Theo baophutho.org.vn:

Năm 2010, ngày giỗ Tổ và Lễ hội Đền Hùng được tổ chức với một qui mô lớn nhất từ trước đến nay. Thứ trưởng Bộ Văn hoá-Thể thao và Du lịch, Phó Trưởng ban Thường trực Ban tổ chức Giỗ Tổ Hùng Vương – ông Huỳnh Vĩnh Ái cho biết, theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ, yêu cầu của lễ hội lần này phải thể hiện được sự tôn vinh văn hoá dân tộc, khẳng định được vị trí và ý nghĩa to lớn của ngày giỗ Tổ Hùng Vương, khơi dậy niềm tự hào dân tộc, đoàn kết các dân tộc. Chính phủ chủ trương 63 tỉnh, thành trong cả nước tổ chức lễ dâng hương, có tổ chức các hoạt động văn hoá tuỳ theo từng tỉnh, nhưng không quá 2 ngày.

Tại Phú Thọ, ngày 14/4 (tức mùng 1/3 Âm lịch), Lễ khai mạc Lễ hội Đền Hùng năm 2010 được tiến hành đồng thời với khai mạc Ngày hội Văn hóa, thể thao, du lịch các dân tộc vùng Đông Bắc lần thứ VII với chủ đề Linh thiêng đất Tổ Hùng Vương. Trọng tâm của Lễ hội Đền Hùng là Lễ dâng hương giỗ Tổ Hùng Vương diễn ra lúc 7h ngày 23/4 (10/3 âm lịch) tại Điện Kính Thiên với sự tham gia của lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Ngoài ra, các hoạt động văn nghệ, triển lãm, thể thao, du lịch và các trò chơi dân gian tiêu biểu… sẽ diễn ra liên tục suốt 10 ngày của Lễ hội (từ ngày 14/4 – 23/4) tại thành phố Việt Trì và Khu di tích lịch sử Đền Hùng.

Theo ông Huỳnh Vĩnh Ái, lễ hội năm nay có nhiều điểm mới. Đây là một trong những lễ hội lớn mở màn cho các hoạt động quan trọng kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long. Vì thế, một trong những điểm nhấn của Lễ hội năm nay là Chương trình nghệ thuật hướng tới kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội với chủ đề: Kinh đô Văn Lang – Thăng Long – Hà Nội ngàn năm tỏa sáng. Chương trình sẽ được tổ chức tại Khu di tích lịch sử Đền Hùng vào ngày 21/4 (8/3 âm lịch).

Sau đây mời các bạn xem vài video:

1. Lễ Hội Hùng Vương.
2. Tháng 3 Đi Hội Đền Hùng – Nhac: Trần Tiến, Thơ: Nguyễn Chí Vượng; Trình bày: Nhật Huyền, Anh Phương.
3. Đền Giếng (trong khu di tích Đền Hùng)

Trần Đình Hoành
.

Lễ Hội Đền Hùng


.

Tháng 3 đi hội đền Hùng – Nhac: Trần Tiến, Thơ: Nguyễn Chí Vượng; Trình bày: Nhật Huyền, Anh Phương


.

Đền Giếng (trong khu Đền Hùng)

Lĩnh Nam Chích Quái – Truyện chim trĩ trắng

Vào đời Chu Thành Vương (1), Hùng Vương sai bề tôi tự xưng là người Việt Thường đem dâng nhà Chu chim trĩ trắng (2). Vì ngôn ngữ bất đồng, Chu Công phải qua nhiều lần dịch mới hiểu được. Chu Công hỏi: “Tại sao dân Giao Chỉ cắt tóc ngắn, để đầu trần, xăm mình, đi chân đất như vậy là cớ sao?”. Sứ thần đáp rằng đáp: “Cắt tóc ngắn để tiện đi trong rừng. Xăm mình để giống hình Long Quân bơi lội dưới sông loài giao long không phạm tới. Đi chân đất để tiện leo cây. Cày bằng dao, trồng bằng lửa. Ău trầu cau để trừ ô uế cho nên răng đen”. Chu Công hỏi: “Tại sao tới đây?, người Việt Thường đáp: “Đời nay không có mưa dầm gió dữ, ngoài bể không nổi sóng lớn đã ba năm nay, ý chừng là Trung Quốc có thánh nhân xuất thế, nên tới đây vậy”. Chu Công than rằng: “Chính lệnh không thi hành thì quân tử không bắt kẻ khác thuần phục mình, đức trạch không có cho người thì quân tử không hưởng lễ của người. Còn nhớ Hoàng Đế có nói rằng: “Giao Chỉ xa xôi ở cõi ngoài, không được xâm phạm đến”. Bèn ban thưởng cho phẩm vật, răn dạy rồi cho về. Người Việt Thường quên đường về, Chu Công bèn ban cho 5 cỗ xe, đều chế tạo cho hướng về phương Nam. Người Việt Thường nhận lấy mà đi theo hướng biển nước Phù Nam, Lâm Ấp (3), đi một năm thì về tới nước. Cho nên, xe chỉ nam thường dùng để đi trước đưa đường. Về sau, Khổng Tử viết sách Xuân Thu, cho nước Văn Lang là một nơi hoang vu, chưa có văn hiến, nên bỏ trống không chép (4).

Chú thích:
1) Chu Thành Vương, vua nhà Tây Chu, Trung Quốc, lên ngôi từ năm 1055 đến năm 1021 trước Công Nguyên.
2) Sách Việt Sử Lược chép rằng: “Đến đời Thành Vương nhà Chu, bộ lạc Việt Thường Thị (người Việt Thường) mới đem dâng chim trĩ trắng. Sách Xuân Thu gọi đất này là Khuyết Địa, sách Đái Ký gọi là Điêu Đề…”.
3) Phù Nam: Phù Nam là tên phiên âm Hán-Việt của một quốc gia cổ trong lịch sử Đông Nam Á, xuất hiện khoảng đầu Công Nguyên, ở khu vực hạ lưu và châu thổ sông Mê Kông. Theo nhiều thư tịch cổ Trung Quốc, thì trong thời kỳ hưng thịnh, vương quốc này về phía Đông, đã kiểm soát cả vùng đất phía Nam Trung Bộ (Việt Nam), về phía Tây đến thung lũng sông Mê Nam (Thái Lan), về phía Nam đến phần phía Bắc bán đảo Malaixia. Quốc gia này tồn tại cho đến khoảng nửa thế kỷ 7 (sau năm 627) thì bị sáp nhập vào lãnh thổ của Chân Lạp. Mãi đến thế kỷ 17 – thế kỷ 18, phần lãnh thổ xưa kia được coi là trung tâm của Phù Nam, tách khỏi Chân Lạp để trở thành một bộ phận của lãnh thổ Việt Nam, tức Nam Bộ ngày nay. Cư dân của Phù Nam chủ yếu là người Mã Lai – Đa Đảo [Wikipedia].
4) Bản A 2914 chép rằng: “Về sau, Khổng Tử viết sách Xuân Thu, cho nước Văn Lang là một nơi chưa khai hóa, không có việc triều chính, không có chính cương, nên không chép vậy.

(Nguyễn Hữu Vinh dịch)
.

Bình:

• Đây là sự gặp gỡ của hai nền văn hóa hoàn toàn khác nhau–Chu Thành Vương và sứ giả Việt Thường của Văn Lang ngôn ngữ bất đồng đến mức phải qua nhiều lần dịch mới hiểu được.

Và Chu thành Vương phải hỏi sứ giả Việt Thường về phong tục hàng ngày của người Việt (cắt tóc ngắn, để đầu trần, xâm mình, đi chân đất), tức là vua Chu chẳng biết tí gì về Việt.

Lại hỏi sứ giả “Tại sao tới đây?”, tức là giữa hai nước từ xưa đến nay chẳng có liên hệ giao hảo gì cả.

Chu Thành Vương còn nói: “Đức trạch không có cho người thì quân tử không hưởng lễ của người”, tức là từ xưa nay nhà Chu chẳng có một tí ân đức nào với Văn Lang cả, nhấn mạnh thêm sự cách biệt giữa hai nước.

• Chim trĩ trắng là biểu tượng của nền văn hóa Việt Thường (Văn Lang). Xem trống đồng Ngọc Lữ thì nhận ra ngay chim là vật tổ của dân Việt cổ. Từ ngàn dặm xa mang chim đi tặng, tức là mang văn hóa của mình để giới thiệu với người phương Bắc. Đây cũng là một điểm chính để nói đến sự khác biệt của hai nền văn hóa.

• Và mang chim đi tặng là vì muốn đi tìm thánh nhân ở Trung Quốc, đó là đi tìm đạo để học, chứ không phải là thần dân đi triều cống.

Đây là trao đổi văn hóa–mang văn hóa của mình đi tặng, để tìm học văn hóa của người.

• Vì hai nước cách biệt nên Chu Công nói: “Chính lệnh không thi hành thì quân tử không bắt kẻ khác thuần phục mình… Còn nhớ Hoàng Đế nói rằng: ‘Giao Chỉ xa xôi ở cõi NGOÀI, không được xâm phạm đến.’”

• Tất cả những điều trên đây đều nhấn mạnh một điểm: Người Việt không thuộc Trung quốc. Người Việt là một quốc gia độc lập, ngoài Trung quốc, có văn hóa riêng ngang hàng với Trung quốc để có thể trao đổi văn hóa, Trung quốc không được xâm phạm nước của người Việt.

• Người Việt Thường quên đường về: Quên đây không có nghĩa là không biết đường về, vì đã đến được là về được. Quên đây có lẽ là biểu tượng của sự bám rễ của nền văn mình bạch trĩ của Việt Thường trên đất Bắc, và vua phương Bắc không thích thế, cho nên mới tìm cách mời về cho nhanh, bằng cách cho 5 chiếc xe với kim chỉ nam chạy thẳng về Nam.

(Thời Chu Thành Vương người Trung quốc chưa khám phá ra kim chỉ nam, có lẽ là cũng phải 600 năm đến 1000 năm sau đó kim chỉ nam mới được biết đến ở Trung quốc. Nhưng các sai lầm như thế này là chuyện rất thường xuyên trong các truyện cổ).

(Trần Đình Hoành bình)

Thành nhà Mạc – Đền vua Lê

Trong ca dao thời trước, xứ Lạng cũng là nơi đáng sợ. Người phụ nữ sợ cho mình không thích ứng với môi trường mới, bị tàn phai nhan sắc:

Cổng phía Tây thành nhà Mạc ở Tuyên Quang

    Ai lên xứ Lạng cùng anh
    Má hồng đổi lấy mặt xanh đem về

Còn sợ cho đức ông chồng, ý trung nhân thay lòng đổi dạ, vì ở đây chẳng những cảnh đẹp, còn có người đẹp:

    Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa
    Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh
    Ai lên xứ Lạng cùng anh
    Tiếc công bác mẹ sinh thành ra em
    Tay cầm bầu rượu nắm nem
    Mảng vui quên hết lời em dặn dò…

Bây giờ thành phố Lạng Sơn là thủ phủ của tỉnh Lạng Sơn, Đồng Đăng là thị trấn. Chợ Kỳ Lừa ở giữa thành phố, người mua kẻ bán đông đảo tấp nập vì Lạng Sơn có các cửa khẩu quốc tế, cửa khẩu nội địa, còn các cặp chợ nữa. Cặp chợ là chợ biên giới, bên này chợ, bên kia cũng chợ. Nàng Tô Thị không còn, chỉ là bức tượng phục chế, chùa Tam Thanh trước động Tam Thanh cũng đổi mới nhiều quá! Vậy thì nên đi thăm thành nhà Mạc, tuy được gia cố, trùng tu, nhưng dầu sao vẫn giữ được dấu vết hoang phế điêu tàn, để khi đứng trong bóng tịch dương nhìn ngắm phong cảnh có một chút bâng khuâng nghĩ về lối xưa xe ngựa…

Năm 1592 nhà Mạc rút lên mạn ngược, đặt thủ phủ tại Cao Bằng, xây đắp nhiều thành lũy kiên cố, ở Cao Bằng, Tuyên Quang và Lạng Sơn. Phải chăng những thành lũy này đã góp phần không nhỏ trong việc phòng thủ, chống lại các cuộc tấn công của quân đội vua Lê chúa Trịnh để giữ được phần lãnh thổ Bắc triều tồn tại đến năm 1677?

Thành nhà Mạc ở Lạng Sơn

Thành ở Tuyên Quang ngay tại trung tâm thị xã, bên tả soi bóng xuống dòng sông Lô uốn lượn, bên hữu đối diện dãy núi Là hùng vĩ. Ngày xưa thành hình tứ diện, trổ ba cửa ở ba mặt, mặt bắc không có cửa, bên trong có quả đồi cao khoảng 40 thước, đặt kho chứa gạo, muốn lên phải qua 197 bậc đá và cua một đường vòng. Chung quanh thành là hào sâu 1,5m, phía bờ sông không có. Di tích hiện tại gồm hai cổng thành ở phía tây, phía nam và đoạn tường dài 140m. Gạch xây thành nung bằng thứ đất có quặng sắt rất cứng, trên mặt đổ đất.

Thành ở Lạng Sơn (nay thuộc phường Tam Thanh) số phận cũng không hơn. Hiện còn một cổng thành và hai đoạn tường dài khoảng 300m, mặt thành rộng khoảng 1m, xây bằng những khối đá lớn nằm giữa hai đỉnh đồi. Đoạn đường từ chân đồi lên cổng thành giờ là nhiều bậc cấp thẳng tắp, ngước trông cổng thành như xa hun hút, nhỏ bé lại. Lên đến nơi thấy khung cảnh thật thoáng đãng, hai đỉnh đồi bén nhọn trẻ trung, linh hoạt. Đứng bên trong nhìn ra càng nhận rõ thế đắc địa của cuộc đất, trước mặt là thung lũng ruộng lúa, rồi đến làng xóm sầm uất, tiếp đến là núi, quần sơn nối tiếp trùng trùng điệp điệp. Những đoạn thành đứt quãng không đều nhau, cao thấp không bằng nhau, mặt đá phủ rêu màu đen pha một chút xám. Đất bên dưới thì màu đỏ sậm lẫn một ít sạn sỏi nhỏ.

Di tích đền vua Lê trong thành nhà Mạc ở Cao Bằng

Thành ở Cao Bằng càng không may, vì nó là hoàng cung, nên phải mất tên từ lâu, nay gọi là đền vua Lê, có diện tích 37,5 ha, cách thị xã 11km về phía tây bắc, thuộc làng Đền xã Hoàng Tung huyện Hòa An.

Nguyên hồi năm 1038 Nông Tồn Phúc cát cứ vùng này, xưng đế hiệu, đặt tên nước là Trường Sinh. Năm sau, vua Lý Thái Tông thân chinh dẹp yên, nhưng đến năm 1041 con Nông Tồn Phúc là Nông Trí Cao lại dấy binh, đặt tên nước là Đại Lịch, vua Lý Thái Tông sai tướng lên đánh bắt được đem về Thăng Long, rồi dùng chính sách chiêu an tha cho về phong làm Quảng Nguyên mục, sau gia phong tước Thái Bảo. Năm 1048 Nông Trí Cao xưng là Nhân Huệ hoàng đế, đặt quốc hiệu Đại Nam, đem quân sang đánh nước Tàu, chiếm 8 châu ở Quảng Đông, Quảng Tây, nhà Tống phải cử tướng Địch Thanh thảo phạt. Bị thất bại, Nông Trí Cao chạy trốn sang nước Đại Lý và bị bắt giết. Về sau rút lên đây, nhà Mạc lập cung điện tại Gò Long trong thành Nà Lữ của Nông Trí Cao. Vậy thành nhà Mạc Cao Bằng đã có từ thời Lý.

Khi nhà Lê dứt được họ Mạc, năm 1862 Trấn thủ Cao Bằng Lê Văn Hản đổi làm đền thờ vua Lê Thái Tổ. Ngày nay, dấu vết chỉ là hai con đường phía đông và nam cao hơn mặt đất một ít, vài ba phiến đá khối chữ nhật, dài khoảng 1m, rộng từ 50 đến 80 phân, dày 20 đến 30 phân. Chỗ như hào sâu là cổng thành, bên ngoài mỗi cổng có một ụ đất, có lẽ là điếm canh hay trạm quan sát để kịp thời báo động chăng?

Đền vua Lê cũng đổ nát hết rồi, bậc đá đi lên đầy cỏ rác, tường sập từng mảng, để lộ chỗ vá víu. Trong đền một lư hương lớn đặt trên bệ. Bên ngoài một cây ngọc lan cao, những cây đa cây si thấp hơn.

Tại Cao Bằng còn có đền Kỳ Sầm thờ Nông Trí Cao. Hội đền vào ngày mười tháng giêng. Câu đối ở cửa gian chính bên trong chứng tỏ người dân ở đây rất tôn sùng Nông Trí Cao, coi như vị vua có cao vọng nhưng chưa thực hiện được hoài bão:

    Đế nghiệp vị thành nhân dĩ lão
    Vương phong giáp tích quốc đồng hưu.

Các đền miếu ở Cao Bằng còn thờ Hưng Đạo đại vương, các vị nhân thần địa phương, các tướng lãnh nhà Lê bỏ mình nơi chiến địa, các công nương nhà Mạc bị thảm sát và Quan Công (Quan Vân Trường). Nói chung dân chúng kính trọng lòng dũng cảm, đức trung hậu và thương xót những thân phận không may. Trong đền Phúc Tăng ở Bản Nưa xã Hồng Việt huyện Hòa An đặt bốn bát hương, thờ hai vị lão nông họ Hoàng và họ Lê có công trị thủy giúp dân, cùng hai vị tướng đối lập nhau, một người là Hoàng Triều Hoa tướng nhà Lê lên dẹp nhà Mạc, một người là tướng nhà Mạc tử trận ở Lũng Pản. Sự kiện này do Tri phủ Hoàng Đức Mỹ (Cử nhân sung Hàn lâm viện biên tu) chủ trương từ đầu thế kỷ XX và được dân chúng tán đồng, nêu cao tinh thần hòa hợp dân tộc sau một thời gian chiến tranh huynh đệ tương tàn. Hội đền Phúc Tăng vào ngày mồng 2 tháng 3.

Ngày nay, những người vãn cảnh có ý thức không khỏi ngậm ngùi trước biến cuộc tang thương, sẽ lắng hồn tìm trong lịch sử biết bao bài học quý giá.

Trần Huiền Ân

Dân ca Tây Nguyên

Trong kho tàng âm nhạc dân gian các tộc người Tây Nguyên, dân ca chiếm một vị trí đáng kể. Những năm đất nước còn tạm chia làm hai miền, thông qua những người con Tây Nguyên tập kết ra Bắc, luôn gìn giữ trong tâm hồn mình nỗi đau đáu về một miền quê đầy âm thanh của gió, của rừng đại ngàn, mà dân ca các dân tộc Tây Nguyên được truyền bá và phổ biến rộng rãi . Mỗi dân tộc một tính cách, một chất liệu âm nhạc dân gian khác nhau, độc đáo và phong phú. Chúng tôi không có tham vọng nói hết được về dân ca các dân tộc Tây nguyên,bởi trong kho tàng đồ sộ đó,mỗi dân tộc thiểu số anh em đều có thể tự hào về những nét đặc sắc,độc đáo riêng biệt trong dân ca của dân tộc mình.Dân ca ,như hơi thở của con người,như miếng cơm nướng thơm trong ống nứa trên bếp lửa hồng,bầu nước suối trong mát ngọt lành.Dân ca không chỉ quen thuộc ,mà còn gắn bó hàng ngày với cuộc sống của bà con các dân tộc thiểu số.Điều đặc biệt ở đây là nó nằm trong tâm thức,trong máu thịt của mỗi con người,nên các nghệ nhân không phải chỉ có giọng hát hay,mà còn ứng tác ngay qua những làn điệu có sẵn ấy,những nội dung mới rất có vần có điệu nữa. Các cán bộ thông tin muốn động viên thanh niên đi nghĩa vụ quân sự bằng lời hát ư? Có ngay ! Chị cộng tác viên dân số muốn vận động kế hoạch hóa gia đình ư ? Chờ một chút nhé,xong rồi đấy ! Đoàn kết dân tộc à ? Kêu gọi sản xuất hả ? Được thôi ! Còn đề tài tình yêu thì muôn thuở,lúc nào cũng có thể cất lên say đắm

Rằng : “Em ơi / Ướt váy ta phơi cành cây tang/ Ướt khố ta vắt lên cây Tung/ Ướt người ta cùng sưởi bên lửa hồng/ Xuống suối cùng anh bắt cá/ Lên rừng với em hái rau/ Ta sống bên nhau mãi mãi”. (dân ca Êđê)

Không cần phải yêu cầu,chỉ cần có người muốn nghe,thêm một chút men cho la đà lâng châng nữa,là có thể hát sáng đêm, nhất là hát giao duyên nam

nữ. Và khi đó “say nhau rồi chẳng cần nữa rượu ơi”

Dân ca Tây nguyên là vậy.Những lúc nghỉ ngơi tránh nắng trưa dưới bóng cây knia trên rẫy,những khi ngừng tay cắt lúa trên đồng, đêm trăng sáng gái trai gọi nhau nơi đầu sàn, các lễ cầu cúng Yang diễn ra thường xuyên theo nông lịch..vv..,chính là dịp để tụ họp nhau,và không thể thiếu những lời hát cất lên .

Có thể chia dân ca các dân tộc Tây nguyên ra làm hai thể lọai chính : Loại hát nói (recitativ) và loại hát có nhịp điệu (tempo.

Thể loại hát nối phổ biến nhất chính là phương tiện thể hiện trường ca – sử thi . Người Mnông ở DakLak còn có thể loại hát – kể gia phả bằng văn vần rất độc đáo, mà hầu như dòng họ nào cũng có người thuộc nằm lòng, để tránh sự kết hôn nhầm lẫn giữa những người trong cùng một họ. Trong một lần đi sưu tầm tại xã Nâm Nung, huyện Krông Nô tỉnh Daklak, chúng tôi đã bật máy ghi âm đến 10 phút , chỉ để ghi một trong những gia phả của dòng họ như thế.

Hát nói thường không có nhạc cụ đệm, như một thứ tự sự, nghĩ gì nói đấy, với khách đến thăm, với cha mẹ già héo, với người thân đi về thế giới bên kia , dặn dò con cháu những điều hay lẽ phải, phán xử theo luật tục,bày tỏ niềm vui mừng, nỗi buồn bã với bất cứ sự việc gì diễn ra trong làng buôn, kon, plei, bon . . . hay trong gia đình.

Ngược lại, những bài dân ca có nhịp điệu thường được đệm bằng các loại ting ning, t’rưng, đinh năm . . . rộn ràng.

Nội dung của các bài dân ca rất đa dạng, bất cứ một điều gì trong cuộc sống cũng có mặt trong lời hát. Chỉ cần có một cuộc tụ tập, một chút rượu cho la đà, hoặc đơn giản là có mặt cả hai phiá nam và nữ, là có thể khởi hứng cho ca hát.

a) Dân ca trong lao động sản xuất:

Đại đa số các dân tộc ở Tây nguyên (trừ một số dân cư trú tại những vùng trũng dọc theo các triền sông ĐăkKrông, Sông Ba, sông Ayun Pa, Sông Krông ana . . có canh tác lúa nước một vụ) sản xuất theo phương thức luân canh nương rẫy, chọc lỗ tra hạt và theo tín ngưỡng “vạn vật hữu linh”, thì việc cúng kiến các Yàng để cầu cho mùa màng tươi tốt là điều không thể thiếu. Những bài cầu cúng trong các lễ nghi theo nông lịch, cũng có xuất xứ giai điệu từ dân ca, và là nguồn gốc của thể lọai hát- kể trường ca.

Để cúng thần đất khi lập buôn người chủ làng khấn :

“Tôi dẫn dắt gia đình/Tôi dẫn dắt làng buôn/Cầu thần chớ nói lời giận dữ/ Cầu thần chớ mắng mỏ thân tôi”( Bài cúng Mnông)

Trong lễ cúng hồn luá phải cầu xin :

“Búi rơm cho to tựa tranh lợp nhà /Hỡi hạt thóc to,/Hỡi hạt thóc bé /Nay mau về với ta”( Bài cúng K’Ho)

Đầu mùa sản xuất phải có lễ cầu mưa :

“Buôn đằng Đông mây lui nhanh xuống/Buôn đằng Tây mây cuốn nhanh lên/Ước sao cho được trận mưa to/Ước sao cho được cả mưa rào” (Bài cúng Ê đê )

Đến lúc gieo hạt lại phải cầu xin :

“Này rượu một ché, gà một con/gà Yàng ăn gan, rượu Yang ngậm cần/Yang thêm bông cho lúa, thêm hạt cho kê/Sâu ở gốc rễ hãy bắt sạch trơn/Mọc lên được búp/Đức nên được trái”. (Bài cúng Jrai)

Được muà lớn phải tạ ơn, hiến sinh bằng trâu :

“Tiết trâu đã xoa lên đầu/Cho dân làng sống lâu khỏe mạnh/Cho đầy chòi lúa bắp”.( Bài cúng Sê đăng)

Phổ biến nhất là khi nghỉ ngơi, người ta đều có thể ca hát, giống như các hình thức hát ví, hát lý, hát đố trong lao động sản xuất của người Việt.

b) Dân ca trong cuộc sống đời thường :

Nhiều dân tộc Tây nguyên có hệ thống luật tục bằng văn vần, do những người thông thái trong buôn, plêi nắm giữ. Khi có việc xảy ra ở trong cộng đồng cần có sự phân xử, họ là người đứng ra thay mặt chủ làng “cầm cân nảy mục”. Đây là sự tập hợp những câu răn dạy về phương thức đối nhân xử thế giữa cá nhân với cộng đồng, với thiên nhiên, như lời người già hay cha mẹ Ê đê dạy con cái :

“Con gái (phải) biết rõ thân họ/Con trai biết rõ thân ta/Bò trâu biết ai là chủ”

Đi xúc cá ngưòi Ktu hát :

“Vừa thả lứơi, vừa bơi/cá mắc vào lưới/Trắng như bã mía rơi:

“Ăn” ong trên rừng cũng thành lời ca :

“Ong như lúa vãi/Ong giống rũ nằm cho đông/leo lên tận ổ Ktưng/Lấy cho hết mật rừng, mật cây”.(dân ca Êđê)

Đến cơn ho cũng được hát thành lời :

“Cơn ho khôc khôc/Cơn ho trăng cho/Cơn ho đầy trời/Cơn ho đầu rừng

(Dân ca Mnông)

Nhiều nhất ,hay nhất là những bài hát đố, hát giao duyên, chỉ cần ngồi kề bên nhau, hát lên một câu là có người đối đáp lại ngay. Ngắm người yêu chàng trai Bâhnar ca ngợi.

“Em thắm đẹp như hoa cheng rét/Tóc như suối nguồn êm trôi/Cuối rừng anh nhìn em ngẩn ngơ “

Không lấy được nhau thì họ dám thề thốt :

“Hai ta chết sẽ nằm chung một hòm/Em hoá thành thần chớp sáng/Anh hoá thành thần sét thét vang”.(Dân ca Ê đê)

Trong lễ cưới cũng có sự hát đối đáp giữa nhà trai với nhà gái :

Nhà gái thách thức :

“Hai sừng trâu cong vút đều nhau/Con trâu mộng béo tròn/Nhiều tấm vải sặc sỡ”

Nhà trai đáp :

“Chúng tôi có nhiều cồng chiêng /Có nồi to, nồi nhỏ/Gả con cho chúng tôi/Sẽ trọn đời chung sống”.(dân ca Ca tu)

Nội dung của các bài dân ca của dân tộc Tây nguyên có thể đế cập tới mọi vấn đề liên quan đến đời sống của con người, với rất nhiều làn điệu khác nhau, đặc biệt là thể lọai hát nói. Hát nói cũng chính là một trong những đặc trưng riêng của các dân tộc miền núi Việt Nam, hầu như dân tộc nào cũng có. (Điều này đã chứng minh qua những cuộc “ Liên hoan hát dân ca các dân tộc Việt Nam” do Đài TNVN và Đài THVN tổ chức từ 1998 trải qua đã nhiều năm ), có rất nhiều nội dung và làn điệu. Mà đỉnh cao của hát nói, hát kể chính là thể lọai trường ca.

Trước khi đất nước hoàn toàn giải phóng , đi đến thống nhất, chúng ta vẫn thường biết đến dân ca, dân nhạc Tây nguyên qua thang âm ngũ cung: “Son si #đo mi #pha son“ có những quãng nửa cung rất ấn tượng.

Rất nhiều nhạc phẩm của các tác giả không công tác ở Tây nguyên, nhưng yêu thích âm nhạc Tây nguyên, thường dựa trên thang âm ngũ cung này. Nhưng thực ra, thang âm trên chỉ là đặc trưng âm nhạc của hai dân tộc có khu vực cư trú tương đối đan xen và gần kế với nhau là Jrai và Bana mà thôi. Riêng các tộc người Êđê, Mnông, K’Ho, Mạ …có những thang âm riêng, không có nhiều những quãng nửa cung liền bậc như Jrai và Bânar.

Mỗi một dân tộc thiểu số Tây nguyên , đều có thang âm riêng tiêu biểu cho dân nhạc của mình. Thanh âm #Đô mi #pha sol si chỉ là thang âm thường được dùng nhất trong âm nhạc dân gian Bana và Jrai, chứ không phải là đặc trưng của tất cả dân ca Tây Nguyên .

Linh Nga Niê Kdăm

TĐH: Sau đây mời các bạn thưởng thức một số dân ca Tây Nguyên trên Youtube

Người Ta Cười – Dân ca X’tiêng – Kim Anh

.

Lời Tỏ Tình – Dân ca Jlai – Ksor H’Hoanh & Ksor Thức

.

Em Đẹp Như Hoa Pơ Lang – Dân ca Bơhnar

.

Ma Dieng (Hát Mừng Lứa Đôi) – Dân ca Roglay – Cao Dy

.

Đôi Ta Chung Một Con Đường – Dân ca Xơđang – A Vân

.

Dùng Làng – dân ca Kơ-ho

.

Hat Ayray (Gọi Anh Về) – Dân ca Êđê – Mi Na

.

Tiếng Chim Rô Túk Báo Mùa – Dân ca Chu Ru – Rô Đa Nai Trần

.

Yang Bay Minority Dance

.

Hát Ru – Dân ca Êđê – Hji Na Bya

.

Lời Dặn Dò – Dân ca Êđê – Ami Dhu’k

.

Giai Điệu Bu Roong – Dân ca Tây Nguyên – H’ Plơ

.

Nàng Tiên – Dân ca K’ho – CII K’Mhô

.

Giữ Rẫy Đuổi Chim – Dân ca Bahnar – A Long

Lĩnh Nam Chích Quái – Truyện dưa hấu

Xưa, đời Hùng Vương có viên quan tên là Mai An Tiêm, vốn là người ngoại quốc. Vua mua từ thương thuyền về làm nô bộc từ khi lên 7, 8 tuổi. Khi lớn lên, diện mạo đoan chính, nhớ thuộc sự vật, vua ban cho tên là Mai Yển, hiệu An Tiêm, lại ban cho một người thiếp. Tiêm sinh hạ được một trai một gái. Vua rất tin yêu, giao cho công việc, dần dần trở nên giàu có, ai nấy đều khiếp sợ, kẻ quyền cao chức trọng đều muốn đến làm thân, của cải rất nhiều.

Đền thờ Mai An Tiêm dưới chân núi Mai An Tiêm ở xã Nga Phú, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa

Sau Tiêm đâm ra kiêu căng ngạo mạn, thường nói rằng: “Đó đều do kiếp trước ta tu mà có, không có phải do ơn chủ đâu”. Vua nghe nói cả giận, phán: “Làm bề tôi mà kiêu căng ngạo mạn, không biết ơn chủ! (1). Nay ta đưa nhà ngươi ra một nơi không có người ở giữa bể, xem nhà ngươi có còn của cải kiếp trước nữa hay không?”. Bèn đày Mai Yển ra ngoài cửa bể huyện Thán Sơn (2), bốn bề toàn cát và nước không có vết chân người qua lại, ban cho một số lương thực đủ ăn bốn năm tháng để cho ăn hết thì chết. Vợ Tiêm than khóc “Tôi chết ở đây rồi, không thể sống được”. Tiêm cười mà bảo: “Trời sinh ta tất sẽ nuôi ta, sống chết bởi trời, ta đâu lo lắng”.

Bỗng thấy một con chim màu trắng từ hướng Tây bay lại, đậu ở đầu núi, kêu lên 3, 4 tiếng, nhả xuống 6,7 hạt dưa rơi xuống cát, hạt nở thành dây, mọc lên um tùm rồi kết thành trái rất nhiều. An Tiêm mừng rỡ nói rằng: “Đây không phải là vật dị thường mà là trời cho để nuôi ta đó”. Bèn bổ ra mà ăn, thấy mùi vị thơm ngon, tinh thần sảng khoái, mới đem ra trồng, ăn không hết, đem đổi lấy gạo nuôi vợ con. Tiêm không biết gọi là trái cây gì, nhưng vì chim ngậm hạt từ hướng Tây bay tới nên gọi là trái dưa hấu (Tây Qua) (3). Bọn phường chài, phường buôn ăn đều cho là ngon, đều đến mua bán đổi chác. Những người ở thôn xóm xa gần đều mua hạt về làm giống, theo mùa trồng trọt khắp nơi.

Sau vua nghĩ tới Tiêm, cho người đến xem còn sống hay đã chết. Người đó về tâu lại với vua, vua thở dài mà than rằng: “Hắn nói là do ở kiếp trước, điều đó quả thực không ngoa”. Bèn xuống chiếu gọi về (4), cho giữ chức cũ, lại cấp cho nô tỳ. Bãi cát Tiêm ở gọi là bãi An Tiêm, chỗ An Tiêm ở gọi là làng Mai, nay thuộc huyện Nga Sơn. Xưa, người ta tôn An Tiêm là cha mẹ của dưa hấu, nay còn tôn làm ông tổ về dưa hấu.

Đó chuyện về dưa hấu, có từ đời An Tiêm vậy.

Chú thích:
1) Bản A 2914 còn có thêm câu: “Lại còn nói là của cải kiếp trước của mình”.
2) Có bản viết là “Giáp Sơn 莢山”, “Nham Sơn 岩山”
3) Tây Qua: chữ Hán 西瓜có nghĩa là trái cây do hướng tây đưa tới, là trái Dưa hấu.
4) Bản A 2914 viết như sau: “Bèn cho sứ đến gọi An Tiêm trở về kinh. An Tiêm đem theo dưa hấu dâng lên cho vua. Vua cho giữ chức cũ, cấp cho nô bộc, tì thiếp, ruộng vườn. Đặt tên bãi cát Tiêm ở gọi là bãi An Tiêm, thôn Tiêm ở gọi là thôn Mai (Mai thôn), tương truyền nay thuộc làng An Tiêm, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá.

(Nguyễn Hữu Vinh dịch)
.

Bình:

Lễ hội Mai An Tiêm, Nga Sơn, Thanh Hóa
• Truyện này nói về việc Phật giáo du nhập vào nước ta từ vùng Ấn Độ, phía tây Việt Nam, với thuyết nhân quả. Khởi đầu rất rõ ràng và giản dị với Mai An Tiêm là người ngoại quốc, và hai luồng tư tưởng khác nhau—người ngoại quốc An Tiêm tin vào nghiệp duyên các kiếp trước đưa lại ân phước kiếp này ; Hùng Vương tin rằng ân phước của An Tiêm là do chính vua ban.

Thuyết nhân quả khẳng định được chỗ đứng của nó với thành công tự đến với An Tiêm và sự chấp nhận sau cùng của Hùng Vương, biểu tượng cho thế đứng quan trọng của Phật giáo trong văn hóa Việt Nam hơn hai ngàn năm nay.

• Trái dưa hấu–xanh vỏ đỏ lòng–là biểu tượng cho lòng khiêm tốn. Dưa hấu—non, già, chín–khi nào cũng như nhau, chỉ một màu xanh bên ngoài, chẳng mùi chẳng vị, chẳng một tí phô trương. Tất cả ngon ngọt đỏ hồng dấu kín bên trong.

Lòng khiêm tốn chính là thái độ “vô ngã” của nhà Phật. Vô ngã là một trong ba dấu ấn (Tam Pháp Ấn) của Phật pháp—vô thường, vô ngã, niết bàn.

Nếu một giáo pháp thiếu một trong ba dấu ấn này thì đó không phải là Phật pháp.

    Chư Hành Vô Thường: Mọi thứ trên đời đều chuyển dịch, thay đổi, không cố định, không thường hằng

    Chư Pháp Vô Ngã: Mọi thứ trên đời đều không có một hiện hữu thật, tất cả chỉ là tạm thời và ảo tưởng (gần như người trên màn ảnh TV).

    Niết Bàn Tịch Tĩnh: Hoàn toàn tĩnh lặng thì ta sẽ thoát khỏi đau khổ do mê muội về bản chất vô thường và vô ngã của cuộc đời.

• Trái dưa hấu còn là biểu tượng của Tâm trong Phật Pháp. Như lòng dưa hấu, tâm ta là gốc, là chủ. “Tâm dẫn đầu các pháp; tâm làm chủ, tâm tạo” (Kinh Pháp Cú). Đau khổ cũng do tâm ta mà ra, an lạc cũng do tâm ta mà ra. Tâm là hỏa ngục, tâm là niết bàn. Tâm là quỷ, tâm là Phật.

• Vai trò quan trọng của dưa hấu trong ngày Tết nói lên vai trò quan trọng của tâm, khiêm tốn, và vô ngã trong văn hóa Việt.

(Trần Đình Hoành bình)

Đàn T’rưng nước

Các dân tộc ở Tây nguyên có nhiều loại đàn dân gian có âm sắc rất độc đáo. Người Êđê có cây kèn Đinh năm thiết tha, người Jrai dùng chiếc đàn goong réo rắt làm phương tiện tỏ tình, người Xê đăng tự hào với Klong put bì bộp ấm áp, người Mnông có bộ Nung (Tù và ) lớn nhỏ có tiếng vang da diết. Còn người Banar có đàn T’rưng nước. Khác với những loại đàn xử dụng trong nhà, người Banar làm đàn bên bờ suối, lợi dụng sức nước kéo sợi dây buộc những chiếc dùi nhỏ, gõ vào nhiều ống nưá, phát lên tiếng kêu trầm bổng rất vui tai. Người Banar Rngao ở Kon tum cũng có đàn đánh bằng sức nước. gọi tên Ting gling. Cấu tạo cũng như chiếc đàn t’rưng. Trước tiên,người ta chặt nhiều ống nứa dài ngắn khác nhau, treo thẳng đứng ven bờ suối. Những ống to, dài có âm thanh trầm. Những ống ngắn, nhỏ, có âm thanh cao. Có nhiều những thanh gỗ được buộc thành dây chuyền, nối liên hoàn từ một gàu nước buộc nơi dòng chảy xuôi của con suối, đến những ống nứa. Mỗi khi gàu đầy, nghiêng đi, nước đổ xuống, kéo theo sự chuyển động của hệ thống dây chuyền.Những thanh gỗ lập tức cũng chuyển động, gõ vào thân những ống nứa buộc dựng đứng, phát ra tiếng kêu. Lần lượt từ cao đến thấp. Hoặc theo thẩm mỹ thính giác của người nghệ nhân làm nên cây đàn. Khi đã đổ hết nước, chiếc gàu chuyển động trở lại vị trí cũ, cũng lay động những sợi dây. Các dùi gỗ lại đập vào ống nứa. Chiếc gàu cứ liên tục nâng lên, trĩu xuống, đổ đi như thế, tạo ra hàng chuỗi những âm thanh trầm bổng. Ấy chính là T’rưng nước, gõ suốt đêm ngày trên dòng suối.

Đàn T’rưng phụ thuộc vào nguồn nước nhiều hay ít. Ơ nơi dòng chảy nhỏ, người ta buộc chừng 15-20 ống.Với dòng chảy lớn hơn, có thể buộc từ 30-40 ống. Nguồn cung cấp nước lớn hơn nữa, có thể buộc tới 45-50 ống nứa to nhỏ. Hoặc có thể làm hai chiếc T’rưng loại vừa. Không phải ai cũng có thể làm được đàn T’rưng nước. Bởi cần có một thính giác, một thẩm mỹ âm thanh tuyệt vời, để sắp xếp các ống nứa theo một thứ tự nào đó, để cả khi nước đầy đổ xuống, hay di chuyển trở lại vị trí cũ, vẫn tạo ra những giai điệu trầm bổng. Không chỉ sắp xếp các ống nứa to nhỏ,dài ngắn, mà còn cả hệ thống dùi gõ, sao cho lần lượt gõ từ ống này sang ống khác. Có người nói đàn T’rưng nước mô phỏng âm thanh những dàn chiêng. Nhưng thực ra T’rưng nưóc đã có từ rất lâu, trước cả khi xuất hiện bộ chiêng đồng.

Làm một chiếc đàn T’rưng nước, kể từ khi vào rừng chặt nứa, kiếm dây buộc, đến khi cất lên những giai điệu đầu tiên, cần phải mất từ 1 tuần trăng đến 10 ngày .Người Bâhnar không làm T’rưng nước ở trong Plei (Làng ), cũng không thể dùng nó biểu diễn trong nhà Rông vào những dịp lễ hội. Mà thường chỉ làm bên bờ suối, gần kề bên rẫy lúa hay rẫy trồng củ mì (sắn) của các gia đình. Bởi hầu hết 6-7 tháng trong năm , mọi người đều thường xuyên có mặt ngoài nương rẫy, ngay từ khi ông mặt trời mới thức, cho tới mặt trời đi ngủ. Lúc lao động trên rẫy, T’rưng là nhịp điệu nghỉ ngơi, giải trí cho vui tai những khi mệt nhọc. T’rưng cũng gợi đến không khí vui tươi của buôn ,Plơi trong các lễ hội. Trong tiếng ngân nga trầm bổng của dàn chiêng đồng, gái trai nắm tay nhau chung vòng múa Xoang, quanh đống lửa,ché rượu cần và cột nêu cao vút rung rinh trong gió.

Đêm xuống ,khi mọi người đã quây quần trong ánh lửa nhà sàn,tiếng T’rưng vẫn bổng trầm nơi suối vắng, xua đi bầy thú rừng phá hoại mùa màng. Hình như T’rưng đang hát rằng “ Hỡi con chim bay đi, con khỉ đi ngay. Đừng ao ước phá hóại mùa màng của chúng ta nhé …” Bà con các dân tộc Tây nguyên còn tin rằng: Rẫy nào có chiếc đàn T’rưng kêu to, vang xa, thì rẫy đó sẽ có cây lúa nhiều bông, trái bắp to đầy hạt.,cây củ mì có nhiều củ to. Dường như các Thần linh coi sóc rẫy nương cũng hài lòng vì những âm thanh vui tai ấy, mà phù hộ cho gia chủ. Do vậy, người ta thường chọn làm rẫy ở những nơi gần nguồn nước. Đó là một trong những nét đẹp của

“ Nền văn minh lúa rẫy” Tây nguyên.

Có một người làm thơ của tỉnh Kon Tum, Lê văn Sỹ ,đã kể về cây đàn ting gling Rngao như thế này:

“ Anh chọn ống to căng no gió núi/ chọn ống nhỏ chứa tròn tiếng suối/ Treo thành dàn trên rẫy/ Giăng thành dãy trên nương/ Nhờ suối kéo cần.

Để cho tiếng Ting gling :

“ Tiếng trầm lội qua con suối/Tiếng thanh luồn qua hẻm núi”

Khiến em :

“Tay vướng tiếng Ting gling / Ngập ngừng ngưng lại ngẩn ngơ/Chân vấp tiếng Ting gling / Dùng dằng dừng lại thẫn thờ.”

Ngày nay, lên Tây nguyên ít gặp những dàn T’rưng nưóc như thế. Bởi bà con đã chuyển từ canh tác lúa rẫy sang làm ruộng nước, hoặc chuyên canh cây công nghiệp,không còn gắn bó nhiều với rừng nữa. Môi trường cho những nhạc cụ dân gian ấy là những dòng suối róc rách chảy suốt đêm ngày cũng không còn nhiều.Nhưng nếu may mắn đi đến những vùng xa xôi hẻo lánh,bạn vẫn có thể nghe tiếng lanh canh của tr’ưng nước bên một dòng suối nào đó. Hoặc nếu có dịp về í thành phố Hồ Chí Minh, bạn có thể đến vườn cây trong Dinh Thống Nhất, bên một chiếc nhà Rông, có một dàn T’rưng nước đã được các nghệ nhân Gia Lai tái tạo lại ở đó. Để không chỉ làm vui tai, mà còn giúp bạn bè hiểu thêm về cái đẹp của văn hóa các dân tộc Tây nguyên.

Linh Nga Niê Kdăm

Về Tây Giai

Băng nhạc trong xe đang phát một bản tình ca về một mối tình dang dở. Nay anh về chốn xưa…ngỡ ngàng, nuối tiếc.  Điệp khúc ấy nhắc đi nhắc lại khiến tôi có cảm tưởng như là chuyện lòng của tôi. Đây là quê tôi và nay tôi về chốn xưa…ngổn ngang bao nhiêu hoài niệm.

Đường đi Vĩnh Lộc đất sỏi rộng rãi, có đoạn trải dài một màu đỏ khá tươi. Hai bên đường nhìn tận xa xa những ngọn đồi thấp, phẳng nhấp nhô nối tiếp nhau, thỉnh thoảng xen vào một mặt hồ, một vũng đầm. Gần sát là mía và sắn. Mía xanh mượt lá, sắn cao hơn đầu người. Buổi sáng trời âm u, gió se se khô, thoáng lạnh. Đứng ở Cầu Kiểu nhìn xuống dòng Sông Mã thuyền đậu san sát. Nơi chân trời dãy núi màu lam với những đỉnh nhọn kỳ vĩ.

Sử ký Giáo khoa thư lớp Sơ đẳng có hình vẽ thành nhà Hồ. Nhớ lại, trong trí tưởng thấy nó nhỏ nhoi. Nhưng giờ này tôi thật sự ngạc nhiên, bởi không có một sự chuẩn bị trước cho tâm lý, chẳng hạn một cánh đồng rộng để nhìn thấy từ xa. Vừa mới hết xóm nhà thành xưa đã sừng sững trước mặt. Màu rêu phong đen sẫm phủ lên mặt đá khiến cho phế tích vừa uy nghi,  đường bệ vừa lạnh lùng, hoang vắng.

Sử gia Lệ Thần viết: “Quý Ly định dời kinh đô vào Thanh Hóa cho dễ đường thoán đoạt, bèn sai quan vào xây thành Tây Đô ở động Yên Tôn, xã Yên Tôn, huyện Vĩnh Lộc, tục gọi là Tây Giai. Đến năm Bính Tí (1396) Quý Ly bắt Thuận Tông phải dời kinh về Tây Đô…”

Chúng tôi bước vào Cửa Nam, có ba cổng. Hai cổng hai bên chỉ thấp nhỏ hơn cổng giữa một ít, độ chín với mười. Cổng thành xây cuốn, xếp đá theo hình múi cam. Từ  Cửa Nam  một con đường chạy thẳng ra Cửa Bắc. Người đi honda, người đi xe đạp, có tốp phụ nữ gánh gồng, có tốp học sinh đồng phục. Giữa đường, hai con rồng đá không còn nguyên vẹn. Chỗ ấy là bậc thềm cung điện xưa…

Cửa Bắc chỉ có một cổng. Chúng tôi trèo lên mặt thành quan sát. Tường thành xây bằng đá, cao chừng 5 mét, rộng chừng 3 mét, một phần đã bị sụt lở. Mỗi tảng đá xây có kích thước một bề độ 0,8 m đến 1m, một bề độ 1,5m. Kích thước ấy dễ làm ta choáng ngợp. Trong các cổ thành Việt Nam như Cổ Loa, Hoa Lư đều xây bằng đất, chỉ có Tây Giai là xây bằng đá. Chúng tôi thong thả đi trên mặt thành từ Cửa Bắc sang Cửa Tây. Mặt thành kín cỏ, có những lối mòn. Hiện tại nó là một con đường.

Tôi lại nhớ trên Giáo Dục tạp chí, chuyên san của Nha Học chính Đông Dương có truyện Thành Tây Giai với Bình Khương nương kể rằng: “Lúc Hồ Quý Ly cho xây thành thì có một Cống sinh được cử vào chỉ huy công việc. Vợ của Cống sinh, bà Bình Khương theo chồng vào đây, ngày đêm nhỏ nhẹ khuyên chồng: ‘Ta là người của nhà Trần, không nên tận lực phò tá nhà Hồ?’. Từ đó Cống sinh xao lãng công vụ và bị kết án tử hình để làm gương. Bình Khương nương chạy đến bên thành than khóc, phản đối, hai bàn tay bà lún sâu vào mặt thành đang xây. Để tránh những tác động vào dân phu bất lợi cho công việc, vua nhà Hồ hạ lệnh chôn sống bà vào thành”. Truyện dẫn thêm câu ca dao :

Chàng về Hồ, thiếp cũng về Hồ.
Chàng về Hồ Hán, thiếp về Hồ Tây

và chú thích “Hồ Hán: trỏ Hồ Hán Thương, Hồ Tây: trỏ (kinh đô) nhà Trần”.

Chúng tôi đến Cửa Tây. Phần mặt bằng ngay trên cửa không còn, chỉ còn phần vòm cong. Bên ngoài thành là đồng ruộng khá màu mỡ, những mái nhà xa xa màu ngói mới. Sát chân thành nhiều khối đá ngổn ngang, hai cây cau vươn cao. Phía trong vòm cong có hai đường rãnh, có lẽ dùng lắp các cánh cửa. Từ Cửa Tây chúng tôi đi qua Cửa Đông bằng con đường thẳng góc với trục  Nam-Bắc lúc nãy thành chữ thập. Trong vòng thành ruộng xen lẫn với nhưng ao nước tưới. Những luống cao trồng bắp, giữa các luống là rãnh sâu xuống, trồng đủ loại rau. Tất cả một màu xanh hiền lành, dễ thương…

Cửa Đông cũng chỉ có một cổng và chỉ còn phần vòm cong như Cửa Tây. Có chỗ sườn đất thoai thoải do mặt thành đổ xuống, dưới chân thành một đàn gà con bươi tung tóe mớ rơm mới. Vài cậu bé chăn bò, vài phụ nữ quang gánh…họ chỉ cho tôi đền thờ Bình Khương nương.

Đền thờ, hoặc là ngôi miếu nhỏ, dưới tàn cây không cao lắm. Mái ngói cũ đầy xác lá, tường loang lổ, cửa khóa, hai cột trước giả làm trụ biểu thấp…Có một điều gì đó rất lạ trong niềm xúc động. Không ngờ hôm nay được đứng trước nơi hồi tám tuổi đọc thấy trong sách, xa lắc xa lơ, một tuần lễ trước chưa hề nghĩ là mình sẽ đến đây. Tôi đang ngơ ngác thì thấy sát trên mặt thành sau đền có tấm bia, rộng độ ba tấc, cao độ năm tấc, mặt đá đã rạn, phần nhô lên có dòng chữ  “Trần triều cống sinh Bình Khương nương đại quân chi…” , chữ cuối cùng bị đất lấp, chắc chắn là chữ “mộ”. Chúng tôi phân vân: Tại sao nươngđại quân ?

Phải nhờ đến sách của cụ Vệ Thạch. Trong Hán Việt từ điển cụ giảng chữ  “quân” ấy là: “Vua – Làm chủ – Người đồng bối gọi nhau là quân – Vợ gọi chồng – Thiếp gọi thê”. Phải chăng sau khi  nhà Hồ thua trận, rồi nhà Lê lấy lại giang sơn, một người thiếp của Cống sinh đến dựng bia nơi Bình Khương nương bị chôn sống vào thành, gọi bà là “đại quân”?

Quay lại nơi đôi rồng đá nghỉ chân trò chuyện về Hồ Quý Ly, nhân vật xuất chúng trong lịch sử, nhưng đương thời không được toàn dân quý trọng, yêu mến. Có lần ông đã bỏ chạy khi vua Trần Duệ Tông tử trận ở Đồ Bàn, có lần ông đã giả dối khóc lóc vớí vua Trần Nghệ Tông để che  đậy chủ tâm và loại trừ Đế Hiển…Trên bình diện chung thì ông đã có những sách lược lớn, cải cách lớn về hành chánh, kinh tế, quân sự…để mong đưa đất nước tiến lên. Tiếc rằng “Khoảnh nhân Hồ chính chi phiền hà, trí sử nhân tâm chi oán bạn”(Bình Ngô đại cáo) nên nhà Hồ đã thất bại. Đến giờ phút cuối Quý Ly còn giết Ngụy Thức. Cho nên khi vua tôi bị giặc bắt ở núi Cao Vọng có tương truyền là do một con cáo trắng chỉ đường. Sau đó khi Bình Định vương bị vây khốn thì có tương truyền nhờ một con cáo trắng đánh lạc hướng giặc Vương mới thoát được. Ngày nay trong đền thờ vua Lê ở Lam Kinh có bàn thờ “Bạch y thần nhân”. Dân gian đã đưa quan niệm “ơn đền oán trả” vào dã sử và bổ sung cho chính sử.

Bây giờ trời bỗng nắng, nắng vàng đậm, đẹp và ấm. Những chiếc bóng của chúng tôi hiện ra, đổ dài trên đường đi, trên mặt ruộng cùng với bóng những người qua lại. Chợt ai đó đọc lên câu đố :

Nắng ba năm ta không bỏ bạn
Mới mưa một ngày bạn vội bỏ ta

Và giảng là : Cái bóng của ta.

Tôi hiểu…Hơn một tuần trong chuyến du khảo này chúng tôi chỉ gặp mưa và thời tiết âm u…Làm sao không mừng được. Hôm nay giữa lòng Tây Giai, được nhìn thấy tận mắt…thành lũy của một triều đại qua bao lớp lớp phế hưng, đền mộ của một bậc liệt nữ tuy ngày thơ ấu chỉ được xem qua trên sách báo còn đọng lại ấn tượng sâu xa trong ký ức…và trong buổi chiều mùa đông bỗng nhiên hửng nắng, chúng tôi gặp lại bóng mình như gặp lại cố nhân…Thật thú vị biết bao. Tôi muốn nói vậy với đôi rồng đá xương cốt thịt da đang rạn nứt theo thời gian vẫn cố gắng tồn tại…

Trần Huiền Ân

Lễ hội tháng 4, 2010, trên toàn quốc

Thông tin từ Vietnamtourism.com

(Lưu ý:  Các links dưới đây không hoạt động trên ĐCN, chỉ hoạt động trên trang web của Vietnam Tourism)

Tết Hàn Thực

Thời gian: 3/3 âm lịch.

Địa điểm: Có ở hầu hết các vùng cư dân người Việt.

Đặc điểm: Mọi nhà làm bánh trôi, bánh chay cúng gia tiên, đi tảo mộ và chơi xuân.

(Chi tiết)


Phú Thọ
Lễ hội đền Hùng

Thời gian: 8 – 11/3 âm lịch. Chính hội ngày 10/3 âm lịch
Địa điểm: Núi Nghĩa Lĩnh, Xã Hy Cương, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
Đối tượng suy tôn: Các Vua Hùng.
Đặc điểm: Ngày giỗ của toàn dân tộc. Cùng lúc với lễ hội dâng hương tại đền Hùng ở Phú Thọ còn có lễ dâng bái tại đền Hùng ở TP Hồ Chí Minh, đền Hùng ở Nha Trang và nhiều địa phương khác.    (Chi tiết)

Điện Biên
Lễ cúng bản của người Cống

Thời gian: Tháng 3 âm lịch.
Địa điểm: Các bản người Cống, tỉnh Điện Biên.
Đặc điểm: Vào ngày lễ, các ngả đường vào bản đều dựng cổng, cắm dấu hiệu kiêng kị không ai được vào bản. Sau đó từng gia đình làm lễ cúng trên nương. Đây là lễ cầu mùa màng tốt tươi, côn trùng và chim chóc không phá hoại mùa màng.    (Chi tiết)

Lễ hội đền Hoàng Công Chất

Thời gian: 24 – 25/2 âm lịch.
Địa điểm: Thôn Noọng Nhai, xã Noọng Hẹt, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
Đối tượng suy tôn: Hoàng Công Chất
Đặc điểm: Rước kiệu, dâng hương; các trò chơi dân gian địa phương: hái đào tiên, chơi cờ phạ, thi bắn nỏ, đẩy gậy…    (Chi tiết)

Bắc Giang
Hội đình Trúc Tay

Thời gian: 22/2 âm lịch.
Địa điểm: Huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.
Đối tượng suy tôn: Đức thánh Tam Giang.
Đặc điểm: Bơi trải, chèo thuyền bắt vịt.    (Chi tiết)

Hội chùa Sàn

Thời gian: 27/2 âm lịch.
Địa điểm: Huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
Đặc điểm: Lễ Phật, có lập đàn lễ đón cờ thập phương, cúng dâng Tam Bảo, Đức Ông, thập điện, lễ Tổ, lễ Mẫu.    (Chi tiết)

Bắc Ninh
Lễ hội đền Đô

Thời gian: Ngày 15/3 âm lịch.
Địa điểm: Làng Ðình Bảng, xã Đình Bảng, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, cách Hà Nội 18 km.
Đối tượng suy tôn: 8 vị vua nhà Lý.
Đặc điểm: Rước 8 cỗ kiệu ngựa mang bài vị của 8 vị vua triều Lý từ chùa Dận về Đền Đô; Lễ dâng hương và đại lễ đăng quang. Hát quan họ, hát tuồng, đấu vật, nấu cơm niêu đất, gói bánh phu thê.    (Chi tiết)

Cao Bằng
Hội Thanh Minh

Thời gian: Tháng 3 âm lịch
Địa điểm: Xã Phúc Sen, huyện Quảng Uyên
Đặc điểm: Hội Thanh Minh là lễ hội của dân tộc Nùng với ý nghĩa cầu mùa cho bản và cầu phúc cho lứa đôi.    (Chi tiết)

Ninh Bình
Lễ hội chùa Địch Lộng

Thời gian: 6-7/3 âm lịch.

Địa điểm: Chùa Địch Lộng, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.

Đặc điểm: Dâng hương và lễ Phật theo nghi thức nhà Phật. Múa lân, múa rồng, cờ tướng, thi viết chữ nho…

(Chi tiết)


Lễ hội Trường Yên

Đối tượng suy tôn: Vua Đinh Tiên Hoàng và vua Lê Đại Hành.
Thời gian: 9 – 11/3 (âm lịch). Chính hội 10/3.
Địa điểm: Xã Trường Yên, huyện Hoa Lư, Ninh Bình.
Đặc điểm: Lễ rước nước và diễn trò cờ lau tập trận, kéo chữ.    (Chi tiết)

Thành phố Hải Phòng
Hội đình Dư Hàng

Thời gian: 18/2 âm lịch.
Địa điểm: Phường Dư Hàng Kênh, quận Lê Chân, Tp. Hải Phòng.
Đối tượng suy tôn: Ngô Quyền.
Đặc điểm : Hát chèo, ca trù, chầu văn.    (Chi tiết)

Hội đình Nhu Thượng

Thời gian: 6 – 8/3 âm lịch.
Địa điểm: Xã Quốc Tuấn, huyện An Dương, Tp. Hải Phòng.
Đối tượng suy tôn: Mai Thị Câu, Mai Kỳ Sơn, hai chị em ruột (con Mai Hắc Đế)
Đặc điểm: Đấu vật, thi bắt vịt.    (Chi tiết)

Hội Hạ Đôi

Thời gian: 15/3 âm lịch.
Địa điểm: Làng Hạ Đôi (xã Tiên Thanh) và làng Cẩm Khê (xã Toàn Thắng), huyện Tiên Lãng, Tp. Hải Phòng.
Đặc điểm: Tế Thành hoàng bản thổ, lễ xuống đồng.    (Chi tiết)

Hưng Yên
Lễ hội Đền Mẫu

Thời gian: 10-15/3 âm lịch
Địa điểm: phường Quang Trung, Tp.Hưng Yên.
Đối tượng suy tôn: Bà Dương Quý Phi, vợ vua Tống Đế Bính (Trung Quốc)
Đặc điểm: ruớc kiệu thánh từ Đình Hiến lên Đền Mẫu, rồi trả về Đình Hiến, lễ rỡ kiệu.    (Chi tiết)

Quảng Ninh
Lễ hội Bạch Đằng (Giỗ Trận)

Thời gian: 8/3 âm lịch.

Địa điểm: Trung tâm lễ hội tại đền Trần Hưng Đạo – miếu Vua Bà và các đền đình khác thuộc huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh:

– Đình Yên Giang (xã Yên Giang)

–  Đình Trung Bản (xã Liên Hoà)

–  Đền Trung Cốc (xã Nam Hoà)

–  Đình Điền Công (xã Điền Công)

Đối tượng suy tôn: Các vị anh hùng dân tộc Ngô Quyền, Lê Hoàn, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đã có công chống giặc ngoại xâm với trận địa cọc gỗ trên sông Bạch Đằng. Ngô Quyền đã đánh tan quân Nam Hán – năm 938; Lê Hoàn – đánh thắng quân Tống – năm 981, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn cùng các tướng lĩnh nhà Trần đánh thắng quân Nguyên Mông (1288).

Đặc điểm: Lễ rước Đức Thánh Trần từ đền Bạch Đằng Linh Từ về đình Yên Giang, rồi quay về. Trò chơi ôn lại những chiến công hiển hách trên sông Bạch Đằng như đua thuyền chải, diễn xướng về chiến trận Bạch Đằng: lễ dâng lịch con nước triều, kế phát hoả, cắm cọc trên sông Bạch Đằng…

(Chi tiết)


Thành phố Hà Nội (mở rộng)
Hội đền Hát Môn

Thời gian: 4 – 7/3, 4/9 và 24/12 âm lịch. Chính hội 6/3 âm lịch.
Địa điểm: Thôn Hát Môn, xã Hát Môn, huyện Phúc Thọ, Hà Nội.
Đối tượng suy tôn: Hai Bà Trưng.
Đặc điểm: Ba lễ hội trong năm. Có tục dâng cúng bánh trôi. Tục thả bánh trôi trên sông vào đêm 5/3 âm lịch.    (Chi tiết)

Hội đền Ninh Xá

Thời gian: 15 – 17/3  âm lịch.
Địa điểm: Xã Ninh Sở, huyện Thường Tín, Hà Nội.
Đối tượng suy tôn: 2 công chúa con vua Lý Nhân Tông.
Đặc điểm: Lễ dâng hương, cầu phúc lộc, lên đồng.    (Chi tiết)

Hội Giá

Thời gian: 10 – 26/3 âm lịch.
Địa điểm: Làng Giá, xã Yên Sở, huyện Hoài Đức, Hà Nội.
Đối tượng suy tôn: Lý Phục Man, danh tướng thời Lý Nam Đế.
Đặc điểm: Tế thánh, diễn cảnh xuất trận của tướng Lý Phục Man, đấu vật, cờ tướng, đu tiên.    (Chi tiết)

Hội rước thành hoàng tổng Hà Hồi

Thời gian: 16/3 âm lịch.
Địa điểm: Tại 3 xã Hà Hồi, Quất Động, Liên Phương, huyện Thường Tín, Hà Nội.
Đối tượng suy tôn: Thành hoàng Cao Sơn.
Đặc điểm: Cờ bỏi, múa gậy, thi bơi, hội thủy chiến, hát chèo, diễn tuồng.    (Chi tiết)

Lễ hội chùa Thầy

Thời gian:5 – 7/3 âm lịch.
Địa điểm:xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, Hà Nội.
Đối tượng suy tôn:pháp sư Từ Ðạo Hạnh, ông tổ nghệ thuật múa rối nước Việt Nam.
Đặc điểm:Lễ cúng phật và chạy đàn. Trò chơi rối nước.    (Chi tiết)

Nam Ðịnh
Hội chùa Lương (chùa Trăm Gian)

Thời gian: 13 – 16/3 âm lịch.
Địa điểm: Xã Hải Anh, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.
Đối tượng suy tôn: Trần Vũ, Vũ Chi, Hoàng Gia, Phạm Cấp – 4 tổ từ Cổ Lễ sang đây khai khẩn, lập ấp năm 1486.
Đặc điểm: Lễ kỳ yên, cầu phúc, lễ phật, rước kiệu.    (Chi tiết)

Hội Phủ Dày

Thời gian: Thượng tuần tháng 3 âm lịch, chính hội là 3/3.
Địa điểm: Xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.
Đối tượng suy tôn: Đức Thánh Mẫu Liễu Hạnh
Đặc điểm: Rước thánh, hội kéo chữ, nhiều trò vui hát văn, múa hầu bóng…    (Chi tiết)

Thái Bình
Hội đền Hét

Thời gian: 6-9/3 âm lịch.

Địa điểm: Đền Hét, làng Bích Du, xã Thái Thượng, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.

Đối tượng suy tôn: Tướng công Phạm Ngũ Lão.

Đặc điểm: Trò cướp cầu ném giỏ, kéo co.

(Chi tiết)


Hội đền Tiên La

Thời gian: 16/3 âm lịch.

Địa điểm: Xã Đoan Hùng, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

Đối tượng suy tôn: Bát Nàn Vũ Thị Thực, nữ tướng thời Hai Bà Trưng.

Đặc điểm: Rước kiệu Thánh, rước nước, lễ tế (nữ quan). Diễn trận, bơi trải, đấu gậy, đánh cờ, múa kéo chữ.

(Chi tiết)


Hội chùa Bồ

Thời gian: 7/3  âm lịch.

Địa điểm: Thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.

Đối tượng suy tôn: Thờ Phật, Mẫu, Hai Bà Trưng, Trần Lãm tướng quân.

Đặc điểm: Lễ Phật, dâng hương, kể hạnh.

(Chi tiết)


Hội làng Phụng Công

Thời gian: 15/3 âm lịch.
Địa điểm: Xã Quỳnh Hội, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.
Đối tượng suy tôn: Bùi Đa và Hoàng Soi, hai thủ lĩnh nghĩa quân nông dân thế kỷ 18.
Đặc điểm: Tế thành hoàng, trò chơi kéo chữ diễn lại cuộc luyện binh của nghĩa quân, vật võ, múa sư tử.    (Chi tiết)

Hội miếu Hai Thôn

Thời gian: 9/3 âm lịch.

Địa điểm: Xã Xuân Hòa, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình.

Đối tượng suy tôn: Vua Lý Bí và hoàng hậu Đỗ Thị Khương, dạy dân cấy lúa.

Đặc điểm: Rước, tế, dâng hương, hát giao duyên nam nữ.

(Chi tiết)


Thanh Hóa
Hội đền Bà Triệu

Thời gian: 22-24/2 âm lịch.

Địa điểm: Xã Triệu Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.

Đối tượng suy tôn: Bà Triệu, một nữ tướng anh hùng dân tộc lãnh đạo nhân dân chống quân xâm lược.

Đặc điểm: Rước kiệu, múa rồng, biểu diễn các trò võ thuật.

(Chi tiết)


Lễ hội đền Sòng

Thời gian: 15/3 âm lịch

Địa điểm: Thị xã Bỉm Sơn, Thanh Hoá

Đối tượng suy tôn: Mẫu Liễu Hạnh

Đặc điểm: Hành hương, cầu xin Mẫu ban cho nhiều may mắn.

(Chi tiết)


Lễ hội Mai An Tiêm

Thời gian: 12 – 14/3 âm lịch.

Địa điểm: Đền thờ Mai An Tiêm, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá.

Đối tượng suy tôn: Mai An Tiêm, con vua Hùng (người tìm ra quả dưa đỏ).

Đặc điểm: Rước kiệu, dâng hương, lễ tế, nấu cơm thi, ném lao, nhẩy dây, kéo co, thi leo núi hái lượm, hội trại, biễu diễn ca nhạc.

(Chi tiết)


Hà Tĩnh
Lễ hội chùa Hương Tích

Thời gian: 18/2 âm lịch.

Địa điểm: Chùa Hương, xã Thiên Lộc, huyện Can Lộc.

Đối tượng suy tôn: Đức phật.

Đặc điểm: hành hương lễ Phật, tham quan di tích danh thắng.

(Chi tiết)


Thành phố Hà Nội
Hội đình Phú Diễn

Thời gian: 7 – 9/3 âm lịch.

Địa điểm: Xã Phú Diễn, huyện Từ Liêm, TP. Hà Nội.

Đối tương suy tôn: Lê Đại Hành, Trần Thông.

Đặc điểm: Đấu roi, thi leo dây, múa rối nước trên sông, múa rồng, đánh vật, hát ca trù, múa sênh tiền, bịt mắt bắt dê, bơi trải.

(Chi tiết)


Hội đền Voi Phục

Thời gian: 9 – 11/2 âm lịch.
Địa điểm: Phường Ngọc Khánh, quận Ba Đình, TP. Hà Nội.
Đối tượng suy tôn: Linh Lang đại vương, thần trấn phương tây (con vua Lý Thánh Tông).
Đặc điểm: Thi nâng hòn đá tuyển trai đô.    (Chi tiết)

Hội bơi Thượng Cát

Thời gian: 10/3 âm lịch.
Địa điểm: Xã Thượng Cát, huyện Từ Liêm, TP. Hà Nội.
Đối tượng suy tôn: Quách Lãng, Đinh Bạch Nương, Đinh Tĩnh Nương, ba anh em tướng của Hai Bà Trưng, lập nhiều công.
Đặc điểm: Thi đua thuyền, chọi gà, bắt vịt, đấu vật, nấu cơm thi, chạy thi.    (Chi tiết)

Hội chùa Duệ Tú

Thời gian: 7/3 âm lịch.
Địa điểm: Phường Dịch Vọng, quận Cầu Giấy, TP. Hà Nội.
Đối tượng suy tôn: Pháp sư Đại Điên.
Đặc điểm: Hát chèo đò, hát sự tích bà Thanh Đề.    (Chi tiết)

Hội chùa Hoa Lăng

Thời gian: 7/3 âm lịch.
Địa điểm: Quận Cầu Giấy, TP. Hà Nội.
Đối tượng suy tôn: Thánh mẫu Tằng Thị Loan – mẫu thân của Từ Đạo Hạnh.
Đặc điểm: Lễ đấu thần.    (Chi tiết)

Hội chùa Tam Huyền

Thời gian: 6/3 âm lịch.

Địa điểm: Phường Hạ Đình, quận Thanh Xuân, TP. Hà Nội.

Đối tượng suy tôn: Từ Vinh (phụ thân thiền sư Từ Đạo Hạnh).

Đặc điểm: Đấu roi (hai người), thi thổi xôi, vật tay, chọi gà.

(Chi tiết)


Hội Kẻ Sủi (Hội Phú Thị)

Thời gian: 3/3 âm lịch.

Địa điểm: Xã Phú Thị, huyện Gia Lâm, TP. Hà Nội.

Đối tượng suy tôn: Thái hậu Ỷ Lan (ở đền), Tây Vị đại vương (ở đình).

Đặc điểm: Vừa nhảy múa, chuốc rượu vừa hô (Bông Sòng).

(Chi tiết)


Hội làng Đăm

Thời gian: 9 – 13/3 âm lịch. Chính hội 10/3 âm lịch.

Địa điểm: Làng Đăm, xã Tây Tựu, huyện Từ Liêm, TP. Hà Nội.

Đối tượng suy tôn: Thánh Bạch Hạc Tam Giang.

Đặc điểm: Rước thánh, tế lễ, đua thuyền cả ba ngày hội.

(Chi tiết)


Hội làng Đại Yên

Thời gian: 14/3 âm lịch.
Địa điểm: Làng Đại Yên, phường Ngọc Hà, quận Ba Đình, TP. Hà Nội.
Đối tượng suy tôn: Ngọc Hoa công chúa.
Đặc điểm: Chơi cờ người, chọi gà, chọi chim họa mi, múa dâng hoa, biểu diễn tuồng cổ.    (Chi tiết)

Hội làng Bắc Biên

Thời gian: 6/3 âm lịch.
Địa điểm: Phường Ngọc Thụy, quận Long Biên, TP. Hà Nội.
Đối tượng suy tôn: Lý Thường Kiệt, Hai Bà Trưng, Đào Kỳ.
Đặc điểm: Rước kiệu chạ, thả cá chép.    (Chi tiết)

Hội làng Kim Giang

Thời gian: 8 – 12/2 âm lịch và 1/3 âm lịch.
Địa điểm: Làng Kim Giang, phường Đại Kim, quận Hoàng Mai, TP. Hà Nội.
Đối tượng suy tôn: Thánh Cao Sơn, Mạo Giáp Hoa, Thánh mẫu Lê Ngại Mỵ Châu.
Đặc điểm: Chọi gà, bắt vịt.    (Chi tiết)

Hội làng Lê Xá

Thời gian: 15/3 âm lịch.
Địa điểm: Thôn Lê Xá, xã Mai Lâm, huyện Đông Anh, TP. Hà Nội.
Đối tượng suy tôn: Đào Kỳ và Phương Dung (tướng của Hai Bà Trưng).
Đặc điểm: Lễ rước, lễ tế, thi đánh chạc (thi bện thừng), ca trù, hát quan họ, thi bắt vịt, chọi gà.    (Chi tiết)

Hội làng Ngọc Trì

Thời gian: 3/3 và ngày 9/9 âm lịch.
Địa điểm: Phường Thạch Bàn, quận Long Biên, TP. Hà Nội
Đối tương suy tôn: Huyền Thiên Trấn Vũ.
Đặc điểm: Hội làng được tổ chức 5 năm một lần. Trò chơi kéo co.    (Chi tiết)

Hội làng Thanh Am

Thời gian: 9 – 11/3 âm lịch.
Địa điểm: Làng Thanh Am, phường Thượng Thanh, quận Long Biên, TP. Hà Nội.
Đối tượng suy tôn: Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, Đào Kỳ và Phương Dung công chúa.
Đặc điểm: Lễ rước nước trên sông Đuống với trò múa cờ dẹp đường chỉ có ở Thanh Am. Hát quan, chầu văn.    (Chi tiết)

Hội phủ Tây Hồ

Thời gian: 3 – 7/3 âm lịch.
Địa điểm: Phường Quảng An, quận Tây Hồ, TP. Hà Nội.
Đối tượng suy tôn: Bà chúa Liễu Hạnh, Tam tòa Thánh Mẫu.
Đặc điểm: Hội có rước, dâng hương và hát văn.    (Chi tiết)

Quảng Nam
Hội rước Thần Nông

Thời gian: 1/3  âm lịch.

Địa điểm: Thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam.

Đối tượng suy tôn: Thần Nông.

Đặc điểm: Hội của trẻ chăn trâu, lễ rước và cầu Thần Nông cho mưa thuận gió hoà, mùa màng tươi tốt.

(Chi tiết)


Thành phố Đà Nẵng
Lễ hội Cá Ông

Thời gian: Hai ngày trung tuần tháng 3 âm lịch.
Đối tượng thờ phụng: Cá Ông
Đặc điểm: Ðã từ bao đời nay, lễ hội Cá Ông (còn được gọi là lễ tế cá Voi) là lễ hội lớn nhất của ngư dân tỉnh Quảng Nam – Ðà Nẵng.    (Chi tiết)

Lễ hội Cầu ngư

Thời gian: Hai ngày trung tuần tháng 3 âm lịch.
Vị trí: Những vùng ven biển như Mân Thái, Thọ Quang, Thanh Lộc Đán, Xuân Hà, Hòa Hiệp…
Đặc điểm: Hàng năm, thường là sau khi ăn Tết xong, như dân tổ chức lễ tế cá Ông lồng ghép dưới hình thức Lễ hội Cầu ngư và lễ ra quân đánh bắt vụ cá nam.    (Chi tiết)

Lễ hội Quán Thế Âm

Thời gian: Từ ngày 19 đến 21 tháng 2 âm lịch.
Đặc điểm: Diễn ra tại chùa Quán Thế Âm trong quần thể Khu danh thắng Ngũ Hành Sơn, lễ hội bao gồm phần lễ và phần hội.    (Chi tiết)

Quảng Bình
Hội lễ hò khoan

Thời gian: 29/2 âm lịch.
Địa điểm: Huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình.
Đặc điểm: Hò khoan gồm 9 mái (làn điệu), mỗi mái ứng với một loại công việc. Vào đêm hội hò khoan, nam nữ đua tài đối đáp.    (Chi tiết)

Quảng Trị
Hội Thượng Phước

Thời gian:13 -15/3 âm lịch.
Địa điểm: Thôn Thượng Phước, xã Thượng Triệu, huyện Triệu Phong, Quảng Trị.
Đối tượng suy tôn: Thành hoàng làng Quận công Hoàng Dũng.
Đặc điểm: Đi săn, lấy đầu muông thú để làm lễ vật dâng cúng. Tế lễ, dâng cúng vào sáng 15.    (Chi tiết)

Thừa Thiên-Huế
Lễ hội điện Hòn Chén

Thời gian: 3/3 âm lịch và tháng 7 âm lịch.

Địa điểm: Núi Ngọc Trản và đình làng Hải Cát, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Đối tượng suy tôn: Thờ Thiên Y A Na Thánh Mẫu (Mẹ xứ sở), vị Thần sáng tạo ra đất đai, cây cối, rừng gỗ quý và dạy dân cách trồng trọt.

Đặc điểm: Lễ rước lớn bằng thuyền trên sông Hương.    (Chi tiết)


Đồng Tháp
Lễ hội Gò Tháp

Thời gian: 16/3 và 16/11 âm lịch.
Địa điểm: Xã Tân Kiều, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp.
Đặc điểm: Lễ cầu an.    (Chi tiết)

Tiền Giang
Hội Vàm Láng (Hội Nghinh Ông)

Thời gian: 10/3 âm lịch.
Địa điểm:Lăng ông Nam Hải, xã Kiểng Phước, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang.
Đối tượng suy tôn: Cá Ông.
Đặc điểm: Rước sắc Thần, lễ xô giàn thí, cúng thủy lục, lễ nghinh ông trên biển với hàng trăm tàu thuyền trang hoàng lộng lẫy, hát cải lương.    (Chi tiết)

An Giang
Hội miếu Bằng Lang

Thời gian: 15 – 16/3 âm lịch.
Địa điểm: Xã Phú Lâm, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.
Đối tượng suy tôn: Bà Thượng Đồng Cổ Hỷ.
Đặc điểm: Dâng lễ vía Bà, hát bội.    (Chi tiết)

Thành phố Hồ Chí Minh

Lễ kỳ yên đình Trường Thọ

Thời gian: 17/2 âm lịch.

Địa điểm: Phường Trường Thọ, quận Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh.

Đối tượng suy tôn: Thần Thành hoàng, các vị tiền hiền, hậu hiền.

Đặc điểm: Lễ vật tế bên cạnh các thức cúng như hoa quả, trà, bánh… thì luôn luôn phải có một con heo sống. Lễ kỳ yên đình Trường Thọ theo truyền thống không có hát bội như nhiều ngôi đình khác ở Nam bộ, do kiêng kỵ với thần linh.

(Chi tiết)

Lên Tam Đảo

Lên Tam Đảo
Gặp những con đường xanh
Dắt nhau lên
Dìu nhau xuống
Ngắn thôi mà thành ma trận
Đi hoài không tới nơi

Gặp mây líu ríu mây
Quấn rừng cây
Phủ voan sườn núi
Buông rèm rủ rỉ
Gọi người chìm thấp tìm cao

Gặp chợ trong lòng tay
Bán bán mua mua
Tới lui không vội
Sắc trung du đậm trên rau trên quả
Mắt người nhìn hớn hở
Tuồng như bao ưu phiền đã thả chân dốc mờ sương

Gặp đêm cuối tuần ba phía núi rộn ràng
Sao trời nhường lung linh cho ánh đèn thêm đẹp
Vách đá vọng tiếng cười em ngọt
Nhịp sống quay
Cuốn thời gian vun vút
Trả tĩnh lặng thứ hai thứ ba…
Ngơ ngác cao tầng

Gặp linh thiêng đền miếu chon von
Lòng lắng lại trước uy linh tiên tổ
Bụi phàm trần rơi theo từng bậc đá
Chiêm nghiệm đời thắm đượm ý tiền nhân

Lên Tam Đảo một lần
Trong trẻo tâm
Nhẹ chân tục lụy
Mai xuôi phồn hoa trở về thực tại
Gởi lại người
Giọt giọt nhớ
Không rơi
.

Tôn Nữ Ngọc Hoa

Lĩnh Nam Chích Quái – Truyện Bánh chưng

Vua Hùng sau khi phá xong giặc Ân rồi, trong nước thái bình, nên lo việc truyền ngôi cho con, mới hội họp hai mươi hai vị quan lang công tử lại mà bảo rằng: “Đứa nào làm vừa lòng ta, cuối năm đem trân cam mỹ vị đến dâng cúng Tiên Vương cho tròn đạo hiếu thì ta sẽ truyền ngôi cho”.

Các công tử đua nhau đi tìm các vị trân kỳ, hoặc săn bắn, chài lưới, hoặc đổi chác, đều là của ngon vật lạ, nhiều không biết bao nhiêu mà kể. Duy có công tử thứ mười tám tên là Lang Liêu, mẹ hàn vi, đã bị bệnh qua đời rồi, trong nhà lại ít người nên khó bề toan tính, ngày đêm lo lắng, ăn ngủ không yên. Chợt nằm mơ thấy thần nhân bảo rằng: “Trong trời đất không có vật gì quý bằng gạo, vì gạo là vật để nuôi dân khỏe mạnh, ăn mãi không chán, không có vật gì hơn được. Nếu giã gạo nếp gói thành hình tròn để tượng trưng cho Trời, hoặc lấy lá gói thành hình vuông để tượng trưng cho Đất, ở trong làm nhân ngon, bắt chước hình trạng trời đất bao hàm vạn vật, ngụ ý công ơn dưỡng dục của cha mẹ, như thế thì lòng cha sẽ vui, nhà ngươi chắc được ngôi quý”. Continue reading Lĩnh Nam Chích Quái – Truyện Bánh chưng

Đi và Đến với DRD

Đi ra thế giới bên ngoài: điều đó bao giờ cũng có sức hấp dẫn đầy mê hoặc với mình thời trẻ, và ngay cả bây giờ khi đã sắp cầm trong tay cái sổ lương hưu. Mình luôn tâm niệm lời dạy của Đạt Lai Lạt Ma, về một trong những bí quyết sống hạnh phúc “ Mỗi năm một lần đi tới một nơi nào đó mà mình chưa từng đến”, nhưng vì hoàn cảnh gia đình và công việc dạy học nên ít khi thực hiện được. Bấy lâu, mình tự an ủi rằng tuy chưa đến được nhiều nơi mới, chí ít mình đã có thể tìm về những yêu thương xưa: Sài Gòn, Nha Trang và Đà Lạt.

Những ngày tháng ba 2010 này dường như mình đi nhiều quá! Tạm gác lại những bận rộn của công việc và gia đình, đi theo tiếng gọi của những niềm yêu, của sự quyến rũ cho một cuộc viễn du. Giờ đây trong mình còn đọng lại vô vàn cảm xúc từ những chuyến đi.

Những cuộc ra đi, đến những nơi mới gặp gỡ, tạ từ – với thật nhiều cảm xúc và lưu luyến đã để lại một dấu ấn sâu nặng và tốt đẹp trong lòng. Mình đã có những trải nghiệm dễ chịu thích thú ở những nơi mới qua, thấy được rằng đất nước mình giàu đẹp và xao xuyến một tình yêu quê.

Này Tây Đô duyên dáng với đêm hóng gió ở bến Ninh Kiều ngắm người ta dạo mát. Mình đã cuốc bộ một chặng rất dài với đôi chân thường vội để bước chậm đến một quán bình dân, thưởng thức món bánh chạo tôm được giới thiệu là một trong những món đặc biệt của Cần Thơ. Ngon thực cũng vì đói nữa do đi bộ. Thực thú vị với cảnh sông nước chợ Nổi Cái Răng tấp nập buôn bán trên ghe của người nông dân Nam bộ. Khi ngồi xe dạo qua phố phường tráng lệ của Đà Nẵng, mình cảm nhận rõ ràng sự thay đổi rất tốt đẹp của thành phố (có ngôi trường đại học ở đó mình có nhiều kỉ niệm trong đời )- so với 22 năm trước. Rồi một ngày vui đón gió và nắng trên thuyền máy, ngao du 6 tiếng trên sông Thu Bồn, để thấy cảnh quê hương mình tuyệt đẹp, nhất là khi đồng hành có những anh – chị – em mến yêu.

Nhưng xin được các bạn dành sự chú ý cho một địa điểm tại Sài Gòn – một thành phố quen thuộc mình vẫn đi về mỗi năm vì những thâm tinh theo tiếng gọi của yêu thương : Nơi ấy là Hội quán Đời Rất Đẹp– một nơi mình mới đến lần đầu mà sao cảm thấy quen thuộc và thân thương quá! Cái tên Đời Rất Đẹp cứ như những nốt nhạc vui, êm dịu ngân nga trong lòng, giống như giai điệu của bản nhạc Beautiful That Way của nhạc sĩ Nicola Piovani do Noa hát trong phim Life Is Beautiful mình từng đưa link và giới thiệu với các bạn ở đây:

Beautiful That Way

Chính vì những cảm xúc tuyệt vời của nhóm chúng mình trong đêm hôm đó, nên mình muốn gửi lời cám ơn đến Đàm Lan, người đã giới thiệu- kết nối cho cả nhóm đến với những người bạn ở hội quán DRD. Vâng Đời Rất Đẹp, một nơi gặp gỡ của những tình yêu lớn với cuộc đời, với con người, nơi hội tụ những nụ cười rộng mở sáng tươi, vượt lên thân phận của kiếp người, toạ lạc tại một địa điểm yên tĩnh khung cảnh thật đẹp ở số 91/ 6N đường Hoà Hưng, Phường 12 Quận 10., thành phố Hồ Chí Minh.

Có lẽ Đời Rất Đẹp chưa được nhiều người biết đến, bởi DRD mới được khai trương ngày 12/ 3/ 2010. Cả nhóm không thể đến vào đêm khai trương hội quán như ý muốn, nhưng đêm 23/ 3 / 2010 tại hội quán là một đêm rất đẹp, rất thơ và đầy nhạc của cả nhóm. Mọi người có mặt đã đồng cảm sâu sắc và ngập tràn hạnh phúc.

Các bạn và học trò thân đều biết mình vô cùng yêu thích nhạc Trịnh Cộng Sơn. Mình đã giới thiệu giọng ca Thuỷ Tiên với CD đầu tiên của người ca sĩ rất đặc biệt này cho các thân hữu. Sự ngưỡng mộ của mình với Thuỷ Tiên và Trịnh Công Sơn không chỉ dừng ở đó, mà từ thành phố núi xa xôi mình đã về tận Sài Gòn để được nghe Lệ Thu với Thuỷ Tiên và các ca sĩ khác vào một đêm Rơi Lệ Ru Người tôn vinh Trịnh Công Sơn. Hơn thế nữa, những nhân vật của Đời Rất Đẹp trong phim ảnh, và âm nhạc, trong hiện thực được ca ngợi ở những bài viết trên trang ĐCN, trong đó có sự khâm phục dành cho ca sĩ vượt lên số phận Thuỷ Tiên trong Hạt Giống Tâm Hồn – Quyền Lực Đích Thực

Hạt giống tâm hồn – Quyền lực đích thực

Trên bài Bạn Biết Giá Trị Của Mình

Đêm đó tại Đời Rất Đẹp, một bất ngờ thật thú vị khi cả nhóm được gặp ca sĩ Thuỷ Tiên, cùng với Chị Hoàng Yến, một nhân vật nổi tiếng trong và ngoài nước được mệnh danh: “ Người Mang Trái Tim Không Khuyết Tật “ của hơn 30 bài viết trên các báo và tạp chí gần đây. Thạc sĩ Võ thị Hoàng Yến là người sáng lập và điều hành chương trình Khuyết Tật và Phát Triển từ năm 2005, cũng là một giảng viên giảng dạy môn Hành Vi khoa Xã Hội Học ĐH Mở – Bán Công TP.HCM. Tháng 11 -2009, chị đã được trao giải Kazuo Itoga (Kazuo Itoga Memorial Prize), giải thưởng tôn vinh những cá nhân ở châu Á – Thái Bình Dương có những đóng góp nổi bật cho cuộc sống của người khuyết tật. Các bạn có thể đọc để hiểu thêm về DRD ( Đời Rất Đẹp) trên website http://www.drdvietnam.com

Và về chị Hoàng Yến trên rất nhiều link của các website và báo mạng khi bạn google tên Võ thị Hoàng Yến.
hay trên link này : http://drdvietnam.com/page/YenVo

.

Xin được trích dẫn ở đây một đoạn ngắn trong bài trả lời của Hoàng Yến cho VTV-Sức Sống Mới, (tác giả đã gửi cho nhóm của mình) để các bạn có khái niệm về DRD.

Hội quán DRD – Đời Rất Đẹp là ý tưởng của người sáng lập DRD- Chương trình Khuyết tật và Phát triển (Disability Resource and Development) và được sự đồng tình ủng hộ của tất cả các thành viên của DRD và bạn bè thân hữu. Đời Rất Đẹp nhằm tạo một sân chơi cho NKT, một nơi NKT có thể gặp gỡ, trao đổi, tham gia sinh hoạt với những người bạn không khuyết tật trên cơ sở bình đằng về cơ hội và cùng giúp nhau phát triển. Bao năm qua chúng ta vẫn kêu gọi NKT hòa nhập XH, khuyến khích và khích lệ các thành viên khác trong XH tạo điều kiện để NKT hòa nhập. Nhưng hòa nhập thế nào được khi mà môi trường sinh hoạt còn đầy rào cản, các nơi sinh hoạt vẫn không thể nào tiếp cận được, khi vẫn còn nhiều người nhìn NKT với ánh mặt tội nghiệp hay không thoải mái với cảm giác bị làm phiền khi NKT cần giúp đỡ.

Khi NKT đến hội quán họ sẽ cảm nhận được đây là “nơi của họ”, một nơi để họ cảm thấy rằng mình không hề đơn độc, một nơi họ có thể thể hiện khả năng/ tài năng của mình, một nơi họ có thể chia sẻ những khát khao về cuộc sống.Người không khuyết tật đến với hội quán để thấy rằng NKT không hề thiếu khả năng, không phải chỉ là gánh nặng cho gia đình hay xã hội mà họ vẫn có thể vui sống, làm việc, và cống hiến nếu họ có được cơ hội.

Khi đến với hội quán, tham gia các sinh hoạt, thật sự chia sẻ và thật sự lắng nghe – nghĩa là thật sự mở rộng trái tim để có thể đến được với nhau – ta sẽ cảm nhận được rằng Đời Rất Đẹp chứ không không phải “Đời sao mà chán quá!” như ta vẫn thường nghĩ khi cảm thấy cô đơn, hay trong khi tuyệt vọng….

Phần bất ngờ nhất của đêm 23/ 3 là nhóm chúng mình được nghe ca sĩ Thuỷ Tiên hát live, cùng giọng hát khi solo khi hát bè tuyệt vời, với ngón đàn tài hoa của chị Hoàng Yến. Cảm hứng và sự đồng cảm sâu sắc đã khiến cả nhóm lắng hồn mình theo những bài hát của Trịnh Công Sơn. Mình đã nghe không biết bao lần những bài hát do Thuỷ Tiên và các ca sĩ khác hát live hay trực tiếp trên TV, và CD như Rừng Xưa Đã Khép, Em Hãy Ngủ Đi, Xin Cho Tôi, Biết Đâu Nguồn Cội, Để Gió Cuốn Đi, …, nhưng chưa bao giờ lại thấy xúc động và hay đến vậy!

Vì thế, chị Tuý Phượng với cảm hứng dạt dào, đã lên hát rất tuyệt Hai Bài Không Tên số 1 và 2 của Vũ Thành An. Thuỳ Dương, cô em hiền như maseur của cả nhóm cũng góp giọng ca trong trẻo ngọt ngào qua Biển Nhớ, và Cho Đời Chút Ơn.

Bài hát cuối cùng, Hãy Yêu Nhau Đi, bài hát chưa đựng triết lý sống của mình đã khép lại một đêm ấm áp, trải lòng ra với chuyện của chúng mình, chuyện của những người dũng cảm vượt lên số phận, đầy ắp tiếng cười sau những giây phút lắng hồn với âm nhạc:

…..
Hãy ru nhau trên những lời gió mới
Hãy yêu nhau cho gạch đá có tin vui
Hãy kêu tên nhau trên ghềnh dưới bãi
Dù mai nơi này người có xa người

Hãy yêu nhau đi bên đời nguy khốn
Hãy yêu nhau đi bù đắp cho trăm năm
Hãy yêu nhau đi cho ngày quên tháng
Dù đêm súng đạn, dù sáng mưa bom


Hãy trao cho nhau muôn ngàn yêu dấu
Hãy trao cho nhau hạnh phúc lẫn thương đau
Trái tim cho ta nơi về nương náu
Được quên rất nhiều ngày tháng tiêu điều

Hội Quán DRD đang ở những ngày đầu tiên của tháng khai trương, còn mới mẻ. Với chi phí phải bỏ ra cho việc thuê mặt bằng rộng rãi, thoáng mát, ở một nơi yên tĩnh( với mức 34 triệu đồng / tháng), và trăm nghìn những thứ phải lo toan để có được một hội quán kết nối những trái tim, làm nơi sinh hoạt, học tập và huấn nghệ, … vì sự phát triển của cộng đồng PWDs, mà nhiều người cho rằng đây là một ý tưởng rất liều lĩnh của chị Hoàng Yến, DRD thực sự rất cần được mọi người chúng ta, nhất là các bạn ở thành phố Hồ Chí Minh biết đến và nhiệt tình ủng hộ.

Rất mong các bạn sẽ quan tâm, đọc các thông tin về dự án và chương trình Khuyết tật và Phát triển, về hội quán DRD của chị Hoàng Yến trên www.drdvietnam.com và xin mời các bạn thử một lần ghé thăm hội quán vào một lúc nào đó trong ngày hay đêm, một mình hay với cả nhóm bạn, càng đông càng vui. Chắc chắn rằng các bạn sẽ hài lòng với không gian, cảnh vật, cách bài trí, các món giải khát, và yêu mến những người làm việc ở DRD.

Các bạn đừng quên quảng bá cho thật nhiều người biết và đến với DRD trong 2 chương trình đặc biệt cho 3/ 4 và 9/ 4, nhân kỉ niệm ngày giỗ nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.

Như thế là các bạn đang góp phần ủng hộ cho sự phát triển của Chương trình Khuyết tật và Phát triển, cộng đồng PWDs, và Đời Rất Đẹp .

Sắp tới ngày giỗ thứ 9 của người nhạc sĩ tài hoa Trịnh Công Sơn, xin các bạn một phút tưởng nhớ, thắp nén hương lòng đến người nhạc sĩ, mà âm nhạc của ông chúng ta ai cũng đắm say.

Thân ái chúc các bạn một ngày vui với những bài hát nhạc Trịnh bạn sẽ nghe trong ngày hôm nay, ngày mai 1/ 4 trên ĐCN và sắp tới ở DRD, số 91/ 6N đường Hoà Hưng, Phường 12 Quận 10., thành phố Hồ Chí Minh.


.
.

Lĩnh Nam Chích Quái – Truyện Phù Đổng Thiên Vương

Thời Hùng Vương, thiên hạ thái bình, dân gian giàu có. Vua nhà Ân lấy cớ nước Nam không có triều kiến, sai tuần thú đem quân sang đánh. Hùng Vương nghe tin, triệu tập quần thần hỏi kế chống cự. Có người tâu rằng: “Sao không cầu Long Vương đưa âm quân lên giúp”. Vua nghe lời, bèn ăn chay, lập đàn, bày vàng bạc lụa là lên trên, thắp hương cầu đảo ba ngày. Trời nổi mưa to gió lớn, bỗng thấy một cụ già cao hơn sáu thước, mặt to bụng lớn, mày râu bạc trắng, ngồi ở ngã ba đường mà cười nói múa ca. Những người trông thấy đều cho là kẻ lạ thường, mới tâu lên vua. Vua thân hành ra vái chào, rước vào trong đàn. Cụ già không nói năng cũng không ăn uống. Vua đến hỏi: “Nghe tin quân phương Bắc sắp sang xâm lược, ta thua được thế nào” (1). Cụ già ngồi im một lúc, kính cẩn rút thẻ ra bói, bảo vua rằng: “Ba năm nữa, giặc Bắc sẽ sang đây”. Vua lại hỏi kế chước ra sao?. Cụ già đáp: “Kế giữ nước, ấy là phải nghiêm ngặt chỉnh đốn khí giới, rèn luyện binh lính cho tinh nhuệ, lại phải đi tìm bậc kỳ tài trong thiên hạ, kẻ nào phá được giặc thì phong cho tước ấp, truyền hưởng lâu dài. Nếu được người giỏi, có thể dẹp được giặc vậy”. Dứt lời, bay mất lên không, mới biết đó là Long Quân vậy.

Ba năm sau, người biên giới cấp báo có giặc Ân tới. Vua làm theo lời cụ già dặn, sai sứ đi khắp các nơi cầu tìm người hiền tài. Tới làng Phù Đổng, huyện Vũ Ninh (2), trong làng có một phú ông tuổi hơn sáu mươi, sinh được một bé trai, đã ba tuổi còn không biết nói, nằm ngửa không ngồi dậy được. Người mẹ nghe tin sứ giả tới mới nói giỡn rằng: “Sinh được thằng con trai này chỉ biết ăn, không biết đánh giặc để lấy thưởng của triều đình, báo đáp công ơn bú mớm”. Bé trai nghe mẹ nói, đột nhiên bảo: “Mẹ mời sứ giả tới đây, hỏi xem có việc gì”. Người mẹ kinh ngạc vô cùng, vui mừng kể lại với hàng xóm rằng con mình đã biết nói. Hàng xóm cũng lấy làm kinh ngạc, tức tốc mời sứ giả tới. Sứ giả hỏi: “Mày là đứa trẻ mới biết nói, mời ta đến làm gì?”. Đứa trẻ nhỏm dậy bảo sứ giả rằng: “Mau về tâu với vua rèn một ngựa sắt cao mười tám thước, một thanh kiếm sắt dài bảy thước và một nón sắt. Ta cưỡi ngựa đội nón ra đánh, giặc tất phải kinh sợ bại trại, vua phải lo gì nữa?”. Sứ giả vội về tâu với vua. Vua mừng nói rằng: “Ta không lo nữa”. Quần thần tâu: “Một người thì làm sao mà đánh bại được giặc?”. Vua nói: “Lời nói của Long Quân ngày trước không phải là ngoa, các quan chớ nghi ngờ gì nữa”, rồi ra lệnh cân năm mươi cân sắt đúc thành ngựa, nón”.

Sứ giả tới gặp, người mẹ sợ hãi nói con rằng tai họa đã đến. Người con cả cười bảo rằng: “Mẹ hãy chuẩn bị cơm, rượu cho con ăn, việc đánh giặc mẹ chớ có lo”. Người con lớn lên rất nhanh, ăn uống tốn nhiều, người mẹ cung cấp không đủ. Hàng xóm sửa soạn trâu bò, bánh quả rất nhiều mà người con ăn vẫn không no bụng. Vải vóc rất nhiều mà mặc vẫn không kín thân, phải đi lấy lau lách buộc thêm vào cho kín người. Kíp đến lúc quân nhà Ân tới chân núi Trâu (Trâu Sơn), người con mới duỗi chân đứng dậy, cao hơn mười trượng, ngửa mũi hắt hơi liền hơn mười tiếng, rút kiếm thét lớn: “Ta là tướng nhà trời đây!” rồi vung kiếm, đội nón cưỡi ngựa, ngựa chồm lên hí dài mà chạy như bay, quan quân theo sau, tiến sát đồn giặc, đánh nhau ở dưới núi Trâu, huyện Vũ Ninh Quân giặc đại bại, chém giết lẫn nhau. Vua nhà Ân bị giết ở núi Trâu, quân lính còn lại đều bái lạy, xưng gọi “Tướng nhà trời” rồi cùng hàng phục. Đi đến đất Sóc Sơn, thôn An Việt, Tướng nhà trời cởi áo, cưỡi ngựa bay lên trời, còn để vết tích ở hòn đá trên núi.

Vua Hùng Vương nhớ công ơn đó mới tôn là Phù Đổng Thiên Vương (3), lập miếu thờ ở nhà cũ trong làng, lại ban cho một ngàn mẫu ruộng, sớm hôm hương khói. Nhà Ân, qua hơn 27 đời vua, 644 năm không dám đem quân quấy nhiễu. Bốn phương nghe tiếng thảy đều đến thần phục vua Hùng.

Sau vua Lý Thái Tổ phong làm Xung Thiên Thần Vương (4), lập miếu thờ ở làng Phù Đổng cạnh chùa Kiến Sơ, lại tạc tượng ở núi Vệ Linh, xuân thu hai mùa tế lễ.

Chú thích:
1) Bản VHV 1473 còn có thêm câu: “Có ý kiến gì xin ngài bảo giúp”.
2) Nay là tỉnh Bắc Ninh
3) Phù Đổng Thiên Vương: Chữ Hán có nghĩa là “Tướng trời ở làng Phù Đổng”, tục gọi là thánh Dóng.
4) Xung Thiên Thần Vương: Chữ Hán có nghĩa là “Tướng thần bay vút lên trời”.

(Nguyễn Hữu vinh dịch)
.

Bình:

• Truyện này trong nguyên bản Hán Văn là truyện “Đổng Thiên Vương”. Có thể Đổng là chữ Hán viết âm nôm Dóng mà ra. Tuy nhiên “thánh Dóng” hay “thánh Gióng” vẫn còn là một đề tài tranh luận. Ở đây, chúng ta sẽ tạm dùng “thánh Dóng”.

• Câu chuyện bắt đầu 3 năm trước khi đánh nhau với nhà Ân: Có nghĩa là phải luôn chuẩn bị cho chiến tranh. Đừng đợi nước đến chân mới nhảy. Lo cho chiến tranh khi đang hòa bình.

• Nhiều số 3 dùng trong truyện. Ta đã nói đến tâm lý‎ con người yêu chuộng số ba trong truyện Đầm Một Đêm.

• Ông già to lớn ca hát ở ngã ba: Già là biểu tượng cho thông thái. Ca hát là biểu tượng cho văn nghệ sĩ và trí thức. Ca hát ở ngã ba là điên điên khùng khùng.

Vào ngày xưa, nam thì cầm kỳ thi tửu–đàn, cờ, thơ, rượu, và nữ thì cầm, kỳ, thi, họa. Cho nên trí thức và văn nghệ sĩ gần như có cùng một nghĩa, không như ngày nay.

Đây là nói về văn nghệ sĩ và giới trí thức có tiếng nói “điên điên khùng khùng”, không giống đại đa số dân chúng. Họ là những người sâu sắc, thấy xa trông rộng, thấy những điều không mấy người thấy, thấy chuyện chưa xảy ra, cho nên tiếng nói của họ thường “không giống ai” và “điên điên khùng khùng”. Chỉ rất ít người thông thái mới hiểu được họ.

Và văn nghệ sĩ và trí thức cảm nhận được hồn thiêng dân tộc, nói lên được tiếng nói của hồn thiêng dân tộc, nên truyện mới nói “ông già múa hát” chính là Long Quân.

Hùng Vương không những không chê cười “ông già múa hát” mà còn mời vào xin ý kiến, để có thể nghe các lời điên điên khùng khùng, đó là vua thông thái.

Vua không có tầm nhìn chỉ có thể nghe ve vuốt của những kẻ “thức thời.”

• Cố vấn của ông già Long Quân là: “Kế giữ nước, ấy là phải (1) nghiêm ngặt chỉnh đốn khí giới, (2)rèn luyện binh lính cho tinh nhuệ, lại phải đi (3) tìm bậc kỳ tài trong thiên hạ.”

“Cố vấn” này thì rất đơn giản, ai cũng biết, sao lại phải cố vấn cho vua? Thưa, đơn giản nhưng lại cực kỳ căn bản. Vì cực kỳ căn bản và quan trọng cho nên chính Long Quân phải lập lại cho vua.

Chú ý đến thứ tự, không làm đúng thứ tự này thì thuật trị nước không thành: (1) nghiêm ngặt, (2) rèn luyện, (3) tìm nhân tài.

Ngày nay, thuật trị nước này không chỉ cho chiến tranh quân sự, mà còn là chiến tranh chống nghèo đói và lạc hậu, chiến tranh kinh tế với các quốc gia khác trên thương trường quốc tế…

• Ông già ở làng Phù Đổng 60 tuổi mới sinh con, bé trai 3 tuổi mà chỉ biết nằm ngửa và không biết nói: “Già 60 tuổi” là biểu tượng cho khôn ngoan thông thái.

Đứa bé là đứa con của sự khôn ngoan thông thái. Đứa bé là biểu tượng của nhân dân. Nhân dân lúc nào cũng xem ra yếu đuối, ngu ngơ, không biết nói, không biết làm gì cả, ngu ngơ đần độn. Nhưng nhân dân thực sự là đứa con của khôn ngoan, vì khi quốc biến nhân dân là cứu tinh của quốc gia.

Đứa bé cũng là biểu tượng của quân đội, từ nhân dân mà ra, khi quốc biến.

• Vua phải đến với dân, dân không tự động đến với vua. Đối thoại phải do vua khởi xướng và người thay mặt vua phải đến gặp dân trong làng xã. Và vua, cũng như người đại diện, phải nghe dân nghiêm chỉnh, dù là dân chỉ có vẻ ngu ngơ như trẻ lên ba. Theo ‎ý dân mà làm việc.

Binh pháp Tôn Tử nói đến 5 yếu tố chính của chiến lược: Đạo, thiên, địa, tướng, pháp. Đạo là quan trọng nhất: “Đạo là chỉ việc chính trị, đạo nghĩa, phải làm cho nguyện vọng của dân chúng và vua nhất trí với nhau, đồng tâm đồng đức.”

Vua dốt, thì không những không “gợi” cho dân nói, mà khi dân phê phán kêu ca thì bịt miệng dân cho được việc.

• Ngựa sắt cao mười tám thước, một thanh kiếm sắt dài bảy thước và một nón sắt: Đây hẳn nhiên là quân trang quân dụng cần thiết cho một quân đội.

Ngựa sắt là phương tiện và khả năng di chuyển thần tốc, quan trọng số một trong quân sự, nên ngựa sắt cao 18 thước. 18 là 2 lần 9, 9 là số lớn dương lớn nhất (thái dương), ‎ý nói rất nhiều, rất lớn (Số 18 cũng dùng trong 18 đời Hùng Vương).

Kế tiếp là vũ khí tấn công, kiếm sắt 7 thước. 7 là số dương lớn thứ 2, dưới số 9.

Sau đó là nón sắt, bảo vệ binh sĩ.

Điểm quan trọng cần lưu ý ở đây là l‎ý thuyết chiến lược của Việt Nam nhắm vào vận tốc là yếu tố quan trọng nhất (số 18 của ngựa sắt), và binh sĩ phải nhẹ để di chuyển nhanh (cho nên chỉ có mũ sắt mà không có giáp sắt). Vũ khí đứng thứ hai sau vận tốc. Đây là l‎ý thuyết chiến lược giúp chúng ta bách chiến bách thắng trong cả nghìn năm nay, không thể sao nhãng được.

Binh pháp Tôn Tử nói: “Chim ưng vồ mồi chỉ một cú có thể xé nát con mồi, đó là nhờ vào thế tiết nhanh chớp nhoáng.”

Điều này rất thường đối với dân Việt, đã rành thuật chiến tranh ngay khi còn trong bụng mẹ. Nhưng quan sát các trận chiến của các đại gia thế giới, như Mỹ trong mấy thập niên qua, thì trọng tâm của chiến lược của họ là sức mạnh trấn áp của vũ khí, chứ không phải vận tốc uyển chuyển, xuất quỷ nhập thần, của chiến binh.

• “Một người thì làm sao mà đánh bại được giặc?” Một người đây là “đồng lòng nhất chí. Một dân tộc, một tấm lòng.”

Một quân đội (đứa bé) đến từ dân, toàn dân lo lắng nuôi nấng quân đội, vua lo lắng quân trang quân dụng, đáp ứng các nhu cầu của quân đội. Một quốc gia đoàn kết như thế, ắt phải chiến thắng.

• Và đứa bé bắt đầu ăn uống to lớn: Đó là biểu tượng của quân đội và nhu cầu của quân đội. Quân đội rất tốn kém. Một đứa bé mà cả làng phải lo ăn lo mặc. Cho nên chuyện chiến tranh là chuyện rất tốn phí, chỉ là chuyện bất dắc dĩ. Không nên đánh nhau khi không cần.

Binh pháp Tôn tử nói: “Bách chiến bách thắng cũng chưa phải là cách sáng suốt trong sự sáng suốt. Không cần đánh mà làm cho kẻ địch khuất phục mới gọi là sáng suốt nhất trong sự sáng suốt.”

• Cả làng nuôi đứa bé cũng là ý nói quân đội cần gần dân, cần được dân hỗ trợ. Quân đội không thể sống vững nếu xa dân.

• Kíp đến lúc quân nhà Ân tới chân núi Trâu (Trâu Sơn), em bé mới duỗi chân thành người cao lớn cưỡi ngựa sắt tấn công: Đây là chiến lược “phòng thủ bằng cách tấn công”, không đợi địch đến vây thành và ở trong thành để chỉ phòng thủ bị động. Chủ động tấn công trước, tại chiến địa do ta lựa chọn.

Dùng thế núi tấn công là chọn lợi thế địa hình cho ta: Vừa có địa thế tốt, vừa quen địa thế.

Luôn luôn chủ động chiến trường. Binh pháp Tôn Tử nói: “Người chỉ huy tác chiến giỏi là người có thể điều khiển quân địch chứ không theo sự điều khiển của quân địch.”

• Thắng trận song rồi cởi áo bay về trời: Các chiến binh sau chiến tranh là cởi áo giải ngủ, trở về đời sống vô danh, không mong danh lợi.

Chiến binh chiến đấu vì tổ quốc, không vì lợi danh.

Toàn dân chiến đấu vì tổ quốc, không vì lợi danh.

Đây có hai điều hơi trái ngược nhau trong truyện. Long Quân khuyên vua: “Phải đi tìm bậc kỳ tài trong thiên hạ, kẻ nào phá được giặc thì phong cho tước ấp, truyền hưởng lâu dài.” Đó là về phần vua, phải tỏ lòng thành bằng chính sách đãi ngộ nhân tài.

Nhưng nhân tài, nhất là chiến sĩ, chiến đấu hy sinh vì yêu tổ quốc chứ không phải vì danh tiếng, quan chức, bỗng lộc. Vua cũng phải hiểu đến điều này, để lấy cái tâm, láy lòng thành, mà trị quốc, chứ không phải chỉ đem lợi danh ra mồi chài những kẻ bất tài vô tướng.

Tưởng nhớ đến Thánh Dóng Phù Đổng Thiên Vương chính là tưởng nhớ đến các anh hùng vô danh của tổ quốc, từ các chiến sĩ vô danh đến các người dân vô danh, luôn hy sinh đời mình cho tổ quốc khi quốc biến.

(Trần Đình Hoành bình)

Thiền sư TỪ ĐẠO HẠNH và văn khắc chuông chùa Thiên Phúc

Nguyễn Hữu Vinh dịch
Thích Thiện Niệm chỉnh sửa

Thiền sư Đạo Hạnh là một danh sư đời Lý, có công lớn đối với triều đình. Công đức của ngài được ghi lại nhiều trong Thiền Uyển Tập Anh, Lĩnh Nam Chích Quái, Việt Sử Lược, Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư v.v. An Nam Chí Lược, một cuốn sử xưa, quyển thứ 15 viết rằng: “Thiền sư Từ Đạo Hạnh là một nho sinh, thích thổi sáo, ngày cùng bạn đi chơi khắp nơi, đêm đọc sách suốt sáng. Một hôm vào chơi núi Phật Tích, thấy một hòn đá có dấu chân bên phải, ấn chân vào so thử, in như hệt. Về nhà từ biệt cha mẹ vào núi cất am tu hành. Vua Lý chưa có con nối dõi, khiến các thầy chùa danh tiếng cầu đảo. Có một ông sư, không đến làm lễ cầu tự cho vua mà còn dùng phép trán yểm. Vua nghe được bèn hạ ngục tất cả các thầy chùa trong vùng. Nhờ có một hoàng tử, hết lòng cứu giúp mới khỏi. Hoàng tử nói với sư rằng: “Ta cũng không có con, xin sư vì ta mà cầu đảo”. Sư nói với hoàng tử bảo với phu nhân vào phòng tắm rửa, sư đi ngang cửa phòng, phu nhân liền có thai. Đến ngày hạ sinh, hoàng tử cho mời sư đến, thì sư đã mất trong núi. Phu nhân sinh được một trai, mặt mũi khôi ngô. Vua Lý lập làm Thái tử…”. Chuyện này khá trùng hợp với chính sử ghi trong Việt Sử Lược. Hoàng tử này là Sùng Hiền Hầu, em vua Lý Nhân Tông. Sau vua Lý Nhân Tông vì không có con, nên nhường ngôi cho con của Hầu,, tên là Dương Hoán, sau này là Lý Thần Tông.

Theo Thiền Uyển Tập Anh, thì “Thiền sư Đạo Hạnh (? – 1117) ở chùa Thiên Phúc 天福寺, núi Phật Tích 佛跡, họ Từ, tên Lộ. Cha là Vinh, làm quan tới chức Tăng quan Đô Án, thường đi học tại làng An lãng. Lấy một người con gái họ Tăng rồi theo quê vợ…”. Sư cuộc đời thần bí, thường ngao du cầu sư học đạo, tu và mất ở chùa Thiên Phúc. Theo Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí của Phan Huy Chú thì “chùa Phật Tích (nguyên văn viết là chùa, có lẽ viết nhầm) ở xã Thuỵ Khê, huyện Yên sơn, một tên khác là núi Sài. Phong cảnh đẹp đẽ trông ngang xuống mặt hồ, trên núi có hang sâu là chỗ Từ Ðạo Hạnh mất. Vách hang còn có dấu đầu và dấu chân. Trên đó có am Hương Hải và viện Bồ Ðà đều do Thiền sư dựng nên, nay là chùa Thiên Phúc…”. Chùa Thiên Phúc, theo Việt Sử Lược, phần Lý kỷ thì chùa do vua Lý Thánh Tôn xây vào năm Đinh Dậu Long Thuỵ Thái Bình thứ 4 (1057). Theo Kiến Văn Tiểu Lục của Lê Quý Ðôn, phần Phong Vực (bờ cõi) thì chùa toạ lạc ở núi Sài (Sài sơn) thuộc huyện Yên sơn, núi này đời Lý gọi là Bồ Ðà Lạc, đời Trần gọi là núi Phật Tích. Trên núi có động tiên và chùa, trong núi có tám chỗ lõm, như dấu chân người va chạm vào, lại có dấu chân như của người khổng lồ. Dưới núi có chùa Thiên Phúc, trước có hồ nước lớn, sau có lầu chuông, có chuông do Thiền sư Ðạo Hạnh đúc thành vào năm Long Phù Nguyên Hoá thứ 9 (1109) đời Lý Nhân Tông, do đệ tử Huệ Hưng soạn ra văn khắc trên chuông…Ðấy là vật xưa 700 năm đến nay. Dưới văn khắc có khắc sắc chỉ của vua Trần Anh Tông cấp ruộng thờ vào năm Hưng Long thứ 12 (1304)… Theo Ðại Nam Nhất Thống Chí, phần Bắc Kỳ, tỉnh Sơn Tây, mục Tự quán thì “Chùa Thiên Phúc toạ lạc tại xã Sài tây, huyện Yên Sơn, xưa gọi là am Hương Hải, còn gọi là viện Bồ Ðà. Bên trái chùa thờ Thiền sư, bên phải có tượng thờ vua Lý Thần Tông, ở giữa thờ Phật…”. Chùa, nay tục gọi là chùa Thầy, còn gọi là Tử Trầm sơn, toạ lạc tại chân núi Sài, tức núi Phật Tích, xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây.

Văn khắc trên chuông chùa Thiên Phúc dưới đây là một tư liệu rất quý nói về công đức hoằng pháp Phật giáo của ngài. Nhiều điều trong bài văn khắc này rất phù hợp với An Nam Chí Nguyên trang 209 khi viết về Từ Ðạo Hạnh như sau: “Thiền sư Ðạo Hạnh là vị sư ở huyện Thạch Thất, thường đi khắp nơi trong núi non tầm sư học đạo. Sư đắc đạo, có thể gọi kêu chim rừng thú nội cùng nhau đến nghe lệnh sai bảo. Sư cầu mưa trị bệnh, không có gì là không ứng nghiệm…”. Cũng như rất phù hợpvới những điều mà Lê Quý Đôn đã đề cập tới trong cuốn Kiến Văn Tiểu Lục. Có lẽ đây chính là chuông này. Tư liệu nguyên viết bằng chữ Hán lối cổ, được công bố trong sách “Văn khắc Hán Nôm Việt Nam- từ Bắc thuộc đến thời Lý”. Sách này là công trình nghiên cứu về văn khắc xưa của Việt Nam, do sự hợp tác của Viện Nghiên Cứu Hán Nôm ở Hà Nội, École Francais d’Extrême Orient ở Paris và trường đại học Chung Cheng ở Taiwan.

Nhận thấy đây là tài liệu quý về vị thiền sư nổi danh này, dịch giả xin dịch ra tiếng Việt để giới thiệu và cũng để tiện bề tham khảo.

Nguyên văn chữ Hán trích trong sách “Văn khắc Hán Nôm Việt Nam- từ Bắc thuộc đến thời Lý”:

[山西處國威府安山縣瑞圭杜佛蹟山]

天福寺洪鐘銘文

龍符元化九年己丑正月、道行禪師緣化巨越國、朱門白屋、人人喜供、獲赤銅貳千餘斤、鑄洪鐘一口、懸於蒲陀落香海院內、扣擊六時行道、上報四恩、下濟三塗者。

夫妙理雖一、妄境寔繁、稟雖一而萬化生成、隨萬化而惟一圓點、無形可測、無語可諳、無形而形遍大千、無語而語周億剎、窄不為礙、雜不為緇、在纖塵而花藏莊嚴、居濁劫而圓珠瑩徹、是眾生之幸意、非諸佛之別心、覺也者、一路涅槃,迷也者、六趣生滅、由是自相悲憫、假相殊倫、聖賢服如蟻慕羶、神力化如風偃草、亟職芒昧、邪病纏綿、演古教而導矣、定未齊知,俾信器而警焉、方能漸進、其教也、依根立說、以一乘而括囊,其器也、取象成名、以洪鐘為鈐轄。

鐘者、外示圓寔、內表含虛、其圓也、常用而靡覺,其寔也、取難壞之名,其含也、諸入而勿礙,其虛也、揚無盡之意、不如是、何佛命一叩、天雷吞聲、地籟收響、即三界返悟;幸智乃三塗纘諸苦真、豈越列不以事濟天下耶、洎後欣光結席、承撻而淨眾駢羅,慶喜登猊、依擊而說法嚴備、自茲、孰能繼者、是真可矣。

而今即有道行禪師、幼而秀骨、長乃奇姿、誦習蓮經、玉戛喉而嘹喨,出家運度、佛生意而慈悲、建八種而海寓盡嚴,究三篋而禪經共貫、覯時大旱、燃一指而雨霈然、斅古休糧、坐多年而容無饑色 、萬民起厲、持水洒而幸絕病源,諸事未萌、預言知而的如符契、經曰:「佛有八辨」、非師而不繼圓音、佛制尸羅、非師而不能堅固、帝釋福田、非師而不播雄馨、藥王燒臂、非師而不奈苦誠、觀音救難、非師而不紹功名、高僧顯異、非師而不踵神靈」。

然濟機云畢、擇處栖遲、出城西而耳斷喧、歷禍路而心自淨、越一江水、見一山青、掉石而步落俗塵、捫蘿而身登上界、其山也、聳()之繞、生寶月之秋、有奇尺梯、八圓龕、石龕也、五色雲成就、七珠寶纍垂、蛛網相聯、銖衣間綵、下存佛跡、中壯倪臺、其跡也、白玉在底、青龍盤外,其臺也、犀角鎮傍、燈釭連次、豈模仗室、即模鷲峰、昔隱者功德所成、豈神靈造化所異、師居未逾旬、事還感應、野虎來伏、山虯自馴、寂寞夜而誦蓮經、穹崇天而送花鼓、處周六載、惠普積千、諸王子之車馬響風、傾國人之香花頂禮、御書赍詔、法席降臨、賜寶衣而等上朋、陟佛車而牟四果、齋罷之日、金錫迴立於山腳、弟子各伸其言意、雷同曰:「岩巔峭直、雲路歌(敧)危、師神足之易登、客凡蹤之難步、唯占下土、亦合勝方、巒屈曲而豈異蒲陀、水澄徹而何殊香海」、命其良匠、揆彼中央、構玉宇而晃四維、坐金容而光有截、眾馳斯語、樹即揚聲、片時而士女親來、不日而境界便現、採梓杞木、陶碧瓦爐、繩墨縱橫、斤斧雜遝、峨峨新院、業業巍樓、裁(栽)松而徑引清涼、藝化而景延馥郁。

師乃曰:「斯堂秩秩、就眾森森、不免說法之筵、必掛洪鐘之警、法雖自我、鐘必從他」、故築(策)仗(杖)下化、高於阡陌、如麟遊獸舞、逐鳳翔凰、競隨行未兩旬、施堆一阜、詣於興福寺、章飛雲陛、天錫金宮、鍊土成模、揚火精鍛、鑄之日、師雖緘默、人競稱揚、感太后之同風、遣中使之赍室、次乃輪蹄奔而空朱戶、少艾走而閴(闃)閭閻、擅入香階、紛若東市、頃、火工肆力、金匠嚴令、鼓橐籥而聲振海隅、迸煙爐而光騰銀漢、完器有異、嘉瑞相生、未幾者、更邀庶類、抗縻巨扛、纔礱而色奪雪花、乍擊而聲逾雷吼、天下聆之、人咸慶仰、師將歸蒲陀岩畔大悲雲樓、懸以金索、撞以鯨槌、旦夕行道、先報今上永化、寶祚長新、感國器而世蕃昌、字黎元而邦彌泰、然願崇高慕道、洞達純真、以福蔭於蒼生、用匡扶於洪業、後冀施修巨細等、順風遷善、頂戴香花、今景祿來茨、後悟符本覺。

師見余曰:「新成犍稚一口、則眾緣同修、我罔績可紀、留芳施者名、聊記傳後」、惠興淺學、不辭搦管為銘 。

銘曰:

佛以洪鐘警物兮、悟本心

師成法器化世兮、發信音

天宮既著欲色兮、還自覺

地府當要刑戮兮、放若深

龍符元化九年己丑、八月、初九日立記、天福寺賜紫大沙門釋惠興撰。

[…]

[陳英宗興隆十二年、給祀田聖旨]。

Bài dịch:

Văn khắc chuông chùa Thiên Phúc

Văn khắc trên chuông chùa Thiên Phúc, ở núi Phật Tích, xã Thuỵ Khê, huyện An Sơn, Phủ Quốc Oai, xứ Sơn Tây.

Tháng giêng năm Kỷ Sửu nhằm vào năm thứ chín niên hiệu Long Phù Nguyên Hoá (1), Thiền sư Đạo Hạnh đi lạc quyên trong nước Đại Việt (2). Mọi người từ giàu đến nghèo, ai ai cũng vui vẻ cúng dường. Quyên được đồng đỏ tất cả hơn hai ngàn cân. Đúc được một cái chuông lớn, treo trong viện Hương Hải (3) ở núi Bồ Đà Lạc (4) , sáu thời (5) đánh chuông hành đạo, trước báo bốn ơn (6), sau cứu tam đồ (7).

Diệu lý tuy chỉ có một mà vọng cảnh (8) thì thật nhiều. Tuy là một nhưng do thiên biến vạn hoá tạo thành. Dù thiên biến vạn hoá tạo thành cũng chỉ là duy nhất mà thôi, không hình tượng mà có thể lường được, không lời nói mà có thể cảm được, không hình tượng mà hiện khắp cõi đại thiên (9), không lời nói mà nghe vang khắp cõi Phật (10). Nhỏ bé mà không cùng, hổn độn mà không hoá thành đen, ở đời trần bụi mà  trang nghiêm như Hoa Tạng thế giới , ở kiếp ô trược mà long lanh như ngọc thạch. Đó là sự may mắn của chúng sinh, chứ chẳng phải ý riêng gì của chư Phật. Kẻ giác ngộ thì thẳng đường lên Niết Bàn, còn kẻ mê lầm thì sinh diệt theo sáu con đường (11). Rồi thì cứ lo lắng, giả tướng thì nhiều. Việc thánh hiền sánh như kiến tìm mùi tanh. Chuyện thần lực cũng như gió đè cỏ mọc. Cứu mê tăm tối, bận rộn lăn lóc với những công việc cấp bách, lại phải vương mang vào tà ma, bệnh tật. Đem lời cổ nhân ra dạy bảo cũng khó làm được. Nay dùng chuông làm vật cảnh tỉnh, mới có thể có hiệu quả dần dần. Việc giáo hoá thì phải tuỳ căn cơ mà tìm phương cách. Thấy giáo lý “Nhất Thừa” (12) là hơn cả, mà chuông là vật quan hệ nhất.

Chuông, ngoài Tròn (13), Chắc (14), trong Rỗng (15), Không (16). Thường sử dụng, quá quen nên hay quên nên gọi là Tròn. Khó bị hư nên gọi là Chắc. Đem vật thọc vào, đổ chứa vào mà không trở ngại gì nên gọi là Rỗng. Ngân nga vang vọng nên gọi là Không. Nếu không phải thì sao Phật cho gõ một tiếng mà sấm trời im bặt, mọi âm vang trên mặt đất đều lặng câm. Đó là lúc trong Tam Giới (17) tỏ ngộ. May mắn biết rằng chúng sinh trong Tam Đồ mãi chịu Khổ. Biết như vậy mà không đem sức mình ra để cứu thiên hạ hay sao? Từ đó về sau, mỗi khi gặp lễ, đèn treo, chỗ sắp, nghe tiếng chuông Phật tử sắp thành hàng. Bước lên bệ gióng chuông thuyết pháp bội phần trang nghiêm. Làm được như vậy, có ai hơn được!

Nay có thầy Đạo Hạnh, từ bé cho đến lớn, cốt cách lạ thường, Tụng học kinh Liên (18) sang sảng. Xuất gia hành đạo, thấm nhuần ý Phật từ bi. Xây tháp (19) trang nghiêm. Học kinh kệ thấm nhuần đạo lý. Gặp lúc trời hạn, vung tay một cái trời mưa xuống dầm dề. Học thói người xưa nhịn ăn, ngồi nhiều năm mà vẻ mặt không thấy đói. Dân gặp lúc bịnh dịch, phẩy nước lạnh thì bịnh lành ngay. Việc chưa xảy ra mà đoán biết trước như có phù phép. Kinh dạy rằng Phật có “Tám Lời” (20), nếu không có thầy thì làm sao Tám Lời âm vang tiếp tục. Phật đặt ra “Thi La” (21), nếu không có thầy thì làm sao “Thi La” bền vững. Nếu không có thầy thì làm sao thắp được hương trong vườn phúc của Đế Thích (22). Dược Vương (23) đốt thịt chữa bệnh, nếu không có thầy thì ai chịu đựng nỗi. Quan Âm cứu nạn, nếu không có thầy thì ai biết đến công đức của ngài. Cao tăng tỏ việc linh dị, nếu không có thầy ai nối gót thần linh?

Nay chuyện hành đạo đã xong, muốn tìm nơi ẩn náu. Ra phía tây kinh thành, nơi tĩnh mịch xa, chốn ồn ào huyên náo, đi qua đường lối hiểm nghèo nhưng lòng thanh tịnh. Qua khỏi con sông, gặp núi xanh, leo đường dốc đi lên, đất đá rơi xuống lăn lóc, nắm dây trèo lên nơi cao. Núi này cao ngút bao bọc như núi Lăng Già (24), có trăng thu tròn đẹp, có dốc đá kỳ vĩ, có vòm đá, động đá thờ Phật, có mây ngũ sắc kết tủa như châu ngọc buông rèm, rực rỡ tơ vương đan hình vào nhau như màng nhện. Dưới có vết tích của Phật, giữa có đài nghê tráng lệ. Dấu Phật có ngọc trắng dưới đáy, có rồng xanh bao bọc bên ngoài. Ðài nghê có tê giác đứng trấn bên cạnh. Có đèn treo kết chuỗi thành hàng. Ðây đâu phải chỉ giống phòng phương trượng, mà chính là ngọn Thứu Phong (25). Ngày xưa các bậc ẩn sĩ góp sức, góp của làm nên, đâu có khác gì thần linh tạo thành? Thầy đến ở chưa tới mười ngày mà đã có điều linh ứng. Cọp tới chầu hầu, rồng kia thuần tính. Ðêm vắng tụng kinh Liên, trời cao vòi vọi vang nghe tiếng trống. Thầy ở suốt sáu năm, ân huệ vun đầy. Các hoàng tử xe ngựa tới lui tấp nập. Mọi người trong nước đến dâng hoa đảnh lễ. Vua cho người lại ban chiếu chỉ, làm tiệc chay cúng dường. Ban cho áo mão cà sa, cung nghinh như bậc thượng khách. Lên xe Phật để cầu Tứ quả (26). Lễ chay xong rồi, thầy chống gậy đi trở xuống chân núi. Tất cả các đệ tử mọi người cùng nói rằng: “Vách đá dựng đứng, đường đi nguy hiểm. Bước chân như thần của thầy thì đi dễ, chứ khách phàm thì làm sao bước đi được. Xem chỗ đất này cũng là nơi thắng cảnh. Ðồi núi chập chùng đâu khác gì núi Bồ Ðà. Nước trong vắt thua gì biển Hương Hải. Gọi thợ giỏi, chọn nơi chính giữa, xây lầu ngọc sáng chói bốn phương. Giữa đặt tượng Phật hào quang sáng rạng. Mọi người cùng tỏ lời nói này. Cây cỏ rì rào cùng loan tin đi. Trong chốc lát, thiện nam tín nữ tề tựu đông đúc. Chỉ trong một ngày mà quang cảnh trở nên khác lạ. Người đốn cây quý, kẻ xây lò gạch. Thước mực giăng đầy. Búa rìu chan chát. Chốc lát, sân mới nguy nga, gác lầu sừng sững. Trồng tùng xanh cho mát mẻ lối đi. Gầy hoa cảnh cho vườn thêm ngát.

Thầy nói rằng: “Chùa thì trang nghiêm, Phật tử thì đông đúc. Gặp lúc lễ lượt thuyết pháp thì phải treo chuông cảnh tỉnh. Phật pháp là chuyện của ta, nhưng chuông thì phải nhờ người”. Nói rồi, chống pháp trượng ra đi, thoăn thoắt trên khắp nẻo đường, như lân vờn thú nhảy, như phượng múa rồng bay. Người ta tranh nhau đi theo, chưa tới hai mươi ngày đã quyên được (đồng đỏ) đem về chất một đống cao. Rồi đem đến chùa Hưng Phúc. Gửi thư về tâu cho vua rõ, ngài đã cho phép dựng chùa. Nhào đất làm khuôn, đốt lửa luyện đồng Ngày đúc, thầy dù chẳng nói gì, nhưng người người vui vẻ huyên náo. Cám ơn Thái Hậu (27) nhiệt tình cho người đem tặng lễ vật. Rồi thì hết cả nhà giàu đều kéo xe tới, trai trẻ cũng lũ lượt tới giúp đến nối buôn làng vắng vẻ. Người đến đông như đi phiên chợ đông vậy. Chẳng mấy chốc, thợ rèn gắng sức, thợ đúc lo lắng chuẩn bị, thổi ống bệ tiếng nghe vang dội, lửa đỏ cháy rực, chiếu sáng lên tới dãy ngân hà. Chuông đúc xong thấy rõ lạ thường, có nhiều điểm tốt lành. Không lâu sau đó, mời mọi người buộc thừng khiêng lên. Mới chùi mà sáng bóng tợ hoa tuyết. Vừa gõ thì tiếng ngân vang như sấm, vang dậy khắp nơi. Mọi người đều mừng rỡ thích thú. Thầy sắp trở về lầu Đại Bi trên núi Bồ Đà. Dùng dây vàng buộc treo, dùng chày kình đánh chuông, ngày đêm hành đạo. Trước, báo ân dày của vua (28), cầu mong ngai vàng bền vững. Nhờ pháp khí (chuông) mà dân gian thanh bình, đất nước bình yên, con dân no ấm. Nguyện rằng đem đạo nhiệm mầu, thấu triệt thuần chân làm phúc lớn che chở cho mọi người, để khuông phò nghiệp lớn. Sau, mong cho mọi. người lớn bé cùng nương theo mà hướng đến cõi thiện, cùng theo Phật pháp. Hôm nay có được phúc lành để sau chứng ngộ.

Thầy nói với tôi rằng: “Chuông đã đúc xong, vì mọi người có duyên tu tập, còn ta chẳng có công đức gì. Hãy ghi lại tên tuổi của những người đã cúng dường để lưu truyền lại mai sau”. Huệ Hưng ít học, cầm bút viết bài minh này.

Viết rằng:

Chư Phật dùng chuông (29) cảnh tỉnh để ngộ bản tâm
Nay thầy dùng chuông phát tín âm để răn dạy đời
Trời đã mang dục sắc, hãy trở về bốn giác
Âm phủ đã bắt đầu hình phạt, hãy nghĩ cho sâu xa

Sa Môn áo tía (30) Thích Huệ Hưng phụng soạn vào ngày mồng chín, tháng tám, năm Kỷ Sửu niên hiệu Long Phù Nguyên Hoá thứ chín.

[…]

Đời Trần Anh Tông thứ 12 niên hiệu Hưng Long có chiếu cấp cho ruộng thờ. (31)

Do câu cuối trong văn khắc trên chuông, chúng ta biết chuông đã được người đời Trần khắc thêm hàng chữ này.

Chú thích:

1)  Long Phù Nguyên Hoá cửu niên Kỷ Sửu: Tức là năm Kỷ Sửu niên hiệu Long Phù Nguyên Hoá thứ chín (1109), đời vua Lý Nhân Tôn.

2)  Đại Việt: Nguyên chữ Cự Việt quốc 巨越國, Cự nghĩa là Lớn, Đại

3) Viện Hương Hải: tên xưa của chùa Thiên Phúc.

4) Bồ Ðà Lạc sơn: tức là núi Phật Tích, nơi chùa toạ lạc

5) Sáu thời 六時 Nguyên chữ “Lục thời” chỉ: Sáng, Trưa, Chiều, Tối, Khuya và Sáng sớm.

6) Bốn Ơn: 四恩 Tứ Ân, có nhiều thuyết. 1. Theo Kinh Tâm Ðịa Quán Bốn ơn gồm: , Ơn mẹ cha, Ơn chúng sanh, Ơn quốc vương và Ơn Tam bảo. Theo Thích Thị Yếu Lãm thì bốn Ơn gồm: Ơn cha mẹ, Ơn sư trưởng, Ơn quốc vương và Ơn thí chủ.

7) Tam đồ: 三塗 Chỉ ba con đường ác là Ðịa ngục, Ngạ quỷ và Súc sinh. Ba đường còn là: 1. Hỏa đồ (đường lửa): Chỉ cho Ðịa ngục là chổ nổi lửa mạnh để thiêu đốt tội nhân; 2. Huyết đồ (đường máu): Chỉ cho nẻo Súc sanh là chổ ăn thịt lẫn nhau; 3. Ðao đồ (đường dao): Chỉ cho nẻo Ngạ quỷ là chổ bị gươm đao, gậy gộc bức bách.

8 ) Vọng cảnh : 妄境 Cảnh giả, không thật

9) Đại thiên: 大千. Tức là Tam thiên Ðại thiên thế giới, Kinh nói: Thế giới chia ra làm Tiểu thiên, Trung thiên và Ðại thiên, ba loại khác nhau. Gộp 4 đại châu, mặt trăng, mặt trời, chư thiên lại thì thành một thế giới. Một ngàn thế giới thì gọi là Tiểu thiên thế giới. Một ngàn Tiểu thiên thì gọi là Trung thiên thế giới. Một ngàn Trung thiên thì gọi là Ðại thiên thế giới.

10) Cõi Phật: Nguyên chữ “Sát 剎” , nghĩa là: Ruộng, nước, xứ. Thông thường dùng để chỉ “đất Phật”

11) Sáu con đường: Nguyên chữ Lục thú: 六趣 Còn gọi là Lục đạo, sáu đường ở chốn luân hồi. Theo Phật học, chúng sanh tùy theo nghiệp quả của mình mà chuyển sanh vào lục đạo: Thiên (Trời), A Tu La (Thần), Nhân (Người), Ðịa Ngục, Ngạ Quỷ (Quỷ đói), Súc Sinh (Thú vật).

12) Nhất Thừa: 一乘 Cỗ xe duy nhất, để chỉ Phật thừa, là pháp môn duy nhất viên mãn. Cỗ xe mà Phật dùng đi đường, tức cỗ xe độc nhất tối sơ tối hậu mà mỗi chúng sanh vốn mang Phật tính dùng để đi trên con đường Ðạo nhất như chân thật. Danh từ này còn dùng để chỉ Bồ tát thừa trong Tam thừa.

13) Tròn: Nguyên chữ Viên 圓

14) Chắc: Nguyên chữ Thực 寔

15) Rỗng: Nguyên chữ Hàm 含

16) Không:.Nguyên chữ Hư 虛

17) Tam Giới: 三界 Chỉ nơi sinh sống của chúng sinh gồm Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới.

18) Kinh Liên: Nguyên chữ Liên kinh 蓮經 chỉ Diệu Pháp Liên Hoa kinh, tức kinh Pháp Hoa

19) Xây tháp: Nguyên chữ Bát Chủng 八種, chỉ Bát Chủng tháp 八種塔 như tháp Như Lai 如來塔, tháp Bồ Tát 菩薩塔, tháp Duyên Giác 緣覺塔, tháp A La Hán 阿羅漢塔, tháp A Na Hàm 阿那含塔, tháp Tư Ðà Hàm 斯陀含塔, tháp Tu Ðà Hoàn 須陀洹塔 và tháp Chuyển Luân Vương 轉輪王塔. Tám vị: Như Lai, Bồ Tát, Duyên Giác, A La Hán, A Na Hàm, Tư Ðà Hàm, Tu Ðà Hoàn và Chuyển Luân Vương sau khi nhập diệt (chết) phải xây tháp thờ.

20) Tám Lời: Văn khắc viết 辨(辯), nguyên chữ Bát Biện 八辯 Tám biện tài. Chỉ tám tài khéo biện luận của Như Lai: 1. Bất Tư Hát biện 不嘶喝辯 (Biện luận chẳng cần hò hét, gào thét) ; 2. Bất Mê Loạn biện 不迷亂辯 (Biện luận chẳng mê loạn, lú lẫn) ; 3. Bất Bố Úy biện 不怖畏辯 (Biện luận mạnh dạn, không sợ hãi gì) ; 4. Bất Kiêu Mạn biện 不憍慢辯 (Biện luận không tỏ vẻ kiêu mạn) ; 5. Nghĩa Cụ Túc biện 義具足辯 (Biện luận nghĩa lý đầy đủ) ; 6. Vị Cụ Túc biện 味具足辯 (Biện luận ý vị đầy đủ) ; 7. Bất chuyết sáp biện 不拙澀辯 (Biện luận lưu loát, chẳng vụng về ngắt ngứ) ; 8. Ứng Thời Phân biện 應時分辯 (Biện luận đúng lúc).

21) Thi La: 尸羅 Dịch âm tiếng Phạn Sila, có nghĩa là phòng ngừa, ngăn cấm sự sai trái của thân và tâm. Phật đặt ra để đệ tử thi hành ngăn ngừa điều dữ.

22) Vườn phúc của Đế Thích: Nguyên chữ Đế Thích phúc điền 帝釋福田. Do chữ Đế Thích tứ uyển 帝釋四苑 là nơi Đế Thích Thiên cư ngụ, có hồ Như Ý đầy ắp nước tám Công Đức 帝釋天居於須彌山頂之善見城,城外之四面各有一苑,形皆正方,於各苑之中央皆有一如意池,池中八功德水盈滿,為帝釋諸天遊戲之處

23) Dược Vương: 藥王 vị Bồ Tát chuyên ban phát thuốc lành cứu chữa bệnh tật cho chúng sinh.

24) Lăng Già sơn: 楞伽山 núi Lăng Già, còn gọi là Già Sơn. Tương truyền nơi đây Phật truyền giảng kinh Lăng Già. Núi chất đầy bảo vật, hào quang sáng lạng, chiếu khắp mười phương, có đầy hoa thơm cỏ lạ, nhiều chùa, nhiều bảo vật cúng dường Phật pháp.

25) Thứu phong: 鷲峰 Còn gọi là Linh Thứu phong, Thứu Ðầu sơn, Thứu Ðài. Tương truyền đây là nơi Phật truyền giảng kinh Pháp Hoa.

26) Tứ quả: 四果 Chỉ bốn loại thánh quả khác nhau của Thanh Văn thừa: Các nhà phiên dịch cũ dùng tên Phạn gọi bốn quả đó là: Quả Tu-đà-hoàn, quả Tư-đà-hàm, quả A-na-hàm và quả A-la-hán. Các nhà phiên dịch mới dịch là: Dự Lưu quả, Nhất Lai quả, Bất Hoàn quả và A La Hán quả.

27) Thái hậu: Tức Ỷ Lan nguyên phi của vua Lý Thánh Tông, mẹ vua Lý Nhân Tông.

28) Vua: Chỉ vua Lý Nhân Tông

29) Chuông: Nguyên chữ Kiền Trĩ 犍稚 dịch từ chữ Phạn Ghantà, nghĩa là các dụng cụ dùng để báo giờ giấc trong chùa. Trong truyện Cảm Thông kể rằng ngày xưa Phật Tỳ Lô Giá Na ở nước Tu Ða La xứ Càn Trúc tạo một cái chuông bằng đá xanh, mỗi lần đánh lên thì có vô số Hoá Phật hiện thân trong hư không tuyên thuyết diệu pháp, người nghe ngộ đạo đến vô số. Chuông ở đây là chuông lớn, nguyên bản viết “Hồng Chung” 洪鐘 còn gọi là Ðại hồng chung hay chuông U Minh, đánh vào mỗi buổi sáng và khi hoàng hôn. Ðánh lúc hoàng hôn để nhắc nhở cảnh vô thường, đánh vào buổi sáng sớm thức tỉnh lòng người bỏ tà quy chánh, dứt bỏ trần duyên để thoát ly sanh tử luân hồi.

30) Áo tía: Vua ban Cà Sa màu tía cho các vị thường là Quốc sư. Tục này bắt đầu tới Võ Tắc Thiên (684-774) ở Trung Quốc. Ở nước ta Thông Biện là người đầu tiên nhận áo tía được biết (theo Thiền Uyển Tập Anh).

31) Tức năm Giáp Thìn 1304 đời vua Trần Anh Tông,

Tham khảo:

  1. “Văn khắc Hán Nôm Việt Nam-từ Bắc thuộc đến thời Lý”, Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Hà Nội, 1999
  2. “Phật Quang đại từ điển”, Fo Kuang xuất bản xã, Taipei
  3. “Thiền Uyển Tập Anh”, Lê Mạnh Thát, nhà xuất bản T.P Hồ Chí Minh, 1999
  4. “Lĩnh Nam Chích Quái”, Chen Ching Hao, Học Sinh thư cục xuất bản, Taipei, Taiwan, 1987
  5. “300 ngôi chùa nổi tiếng Việt Nam”, Võ Văn Tường, CD, Tin Việt, T.P Hồ Chí Minh, 1996
  6. “Việt Sử Lược”, bản Tứ Khố Toàn Thư, Library of Academia Sinica, Taipei, Taiwan
  7. “Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư” bản Chính Hoà, 1696, nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1999
  8. “Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư”, Hiệu hợp bản của Chen Ching Ho, Soka university, Tokyo
  9. “An Nam Chí Nguyên”, École Francais d’Extrême Orient, Hà Nội, 1931

10.  “Lịch triều hiến chương loại chí”, Library of Academia Sinica, Taipei, Taiwan

11.  “Kiến Văn Tiểu Lục”, Lê Quý Đôn, nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1977.

12.  “An Nam Chí Lược”, “Lê Trắc (Tắc)”, Trung Hoa thư cục xuất bản, Peking, 1995 .

13. “Đại Nam Nhất Thống Chí, quyển Sơn Tây”, Tu Trai Nguyễn Tạo, Nha Đặc Trách   Văn Hoá, phủ Quốc Vụ Khanh, 1963, Sàigon.

Dấu đá chưa mờ

Hơn sáu mươi năm trước, Nguyễn văn Cổn có bài thơ Nước tôi, thể song thất lục bát, trừ hai khổ mở đầu và kết luận, còn lại mỗi khổ bốn câu nói về một nhân vật quan trọng trong lịch sử hay một di tích, thắng cảnh nổi tiếng đã đi vào văn học nghệ thuật nước nhà. Đoạn ca ngợi Đinh Tiên Hoàng và Lê Đại Hành như sau:

Ngọn cờ lau mở thời vương bá
Động Hoa Lư dấu đá chưa mờ
Nước non có tự bao giờ?
Đinh Tiên Hoàng dựng cõi bờ mấy phương?
Quân nhà Tống tìm đường chiếm cứ
Lê Đại Hành chống giữ giang sơn
Tranh phong những trận mê hồn
Quân thù khiếp sợ dám còn vãng lai…

Hôm ấy, chúng tôi từ Ngọc Lặc, Lam Kinh xuống Hoa Lư. May mắn là thời tiết đổi thay, trời mùa đông đang se lạnh bỗng nhiên ấm áp. Trong khi tâm trí tôi nhẩm lại mấy câu thơ trên thì mơ hồ văng vẳng như có tiếng ai hát:“Anh hùng xưa nhớ hồi là hồi niên thiếu. Dấy binh lấy lau làm cờ…”. Thế hệ chúng tôi là học trò và thế hệ học trò của chúng tôi bài hát này được phổ biến rộng rãi, thường là bài hát chính thức của các Liên đội mang tên Đinh Bộ Lĩnh, đứng nghiêm hát khi vừa vào lớp, sau đó là hiệu lịnh “Học sinh ngồi!”. Chúng-tôi-học-trò và học-trò-chúng-tôi thường thích thú khi đóng vai Đinh Bộ Lĩnh:

Khác thường từ thuở còn thơ.
Rủ đoàn mục thụ mở cờ bông lau

để rồi:

Hiệu xưng Vạn Thắng anh hùng ai qua.
Bốn phương thu lại một nhà.
Mười hai sứ tướng đều là quét thanh”

    (Đại Nam quốc sử diễn ca).

Cái đẹp của vị anh hùng niên thiếu này là cái đẹp đơn giản trong không gian hoành tráng và tinh thần tự tại, lồng lộng nắng gió…trên đồi rộng, dưới trời cao…dễ khiến lòng ta say sưa. Ai lúc tuổi thơ chưa có một lần say sưa cùng Đinh Bộ Lĩnh hãy thử xem lại: Có phải là thiếu sót không?

Trên đường rẽ vào đền hai vua Đinh – Lê bên trái là núi Yên Ngựa. Mộ vua Đinh trên đó. Chúng tôi rất tiếc là không trèo lên được, đành đứng ngước nhìn, cũng như lúc ở Thanh Hóa đứng bên quốc lộ nhìn mộ Bà Triệu tận lưng chừng ngọn núi cao. Khung cảnh Hoa Lư trông thật rực rỡ. Từ những ngọn cỏ dưới chân đến những tàn cây trên đỉnh đồi tròn đều cùng màu xanh và điểm thêm chút vàng để giống như màu lá mạ, chỗ này mạ non, chỗ kia mạ già. Hoa Lư có cái thế đắc địa xứng đáng với 42 năm là kinh đô nước Đại Cồ Việt trẻ trung, tiếp nối và xây dựng căn bản vững chắc cho thời đại tự chủ do Ngô Quyền mở đầu (chỉ có sáu năm, còn lại là cát cứ tao loạn). Hoa Lư xinh xinh như “mộng ban đầu”, như “tuổi đôi mươi”… để khi đất nước vào độ trưởng thành già dặn dưới thời vua Lý Thái Tổ có một Thăng Long ngàn năm văn vật.

Đền thờ vua Đinh ở làng Trường Yên Thượng.

Trường Yên đầu dựng đô thành.
Cải nguyên là hiệu Thái Bình từ đây

(Đại Nam quốc sử diễn ca).

Cổng ngoài (Ngọ môn quan) có ba gian lợp ngói, mặt trong cổng ghi bốn chữ “Tiền triều phụng khuyết”. Qua một sân ngắn vào đến cổng trong (Nghi môn) với bốn trụ biểu, hai trụ bên ngoài cao hơn hai trụ bên trong, hai bên là cây cao bóng mát, là hồ sen. Hết chính đạo đến sân rồng, giữa sân có một long sàng bằng đá xung quanh chạm nổi. Nhưng tôi thích nhất là hai con nghê bằng đá xanh nguyên khối, tác giả đã tạo cho nó bộ mặt rất vui, không trịnh trọng như rồng, không đài các như phụng, nó có vẻ thật hồn nhiên, thật dễ thương, như tuổi thơ của chúng ta, của mọi người – trong đó có cả Đinh Tiên Hoàng đế.

Bái đường năm gian, bàn giữa thờ vua Đinh. Một bên là tượng Đinh Liễn quay mặt về nam, một bên là Đinh Toàn và Hạng Lang quay mặt về bắc. Tượng đồng vua Đinh với chòm râu dài và thưa. Tôi mong tìm thấy ở một bên tường hay đâu đó…nếu có bức tranh hay cụm tượng cờ lau tập trận thì sẽ hay hơn biết bao!

Đền thờ vua Lê cách đây khoảng nửa cây số, thuộc làng Trường Yên Hạ, nhìn xuống sông Hoàng Long, có núi Đèn trước mặt, núi Đìa sau lưng. Kiến trúc cũng tương tự: gian nhà dài, trụ biểu, vườn hoa, cây cỏ, hai dãy nhà vọng, non bộ “Phượng ấp” và non bộ “Long mã”. Cổng vào đề chữ Trường Xuân linh tích. Ở sân rồng gần gian giữa của bái đường cũng có long sàng bằng đá. Tượng Thái hậu Dương Vân Nga bên trái tượng vua Lê, bên phải là tượng Lê Long Đĩnh. Đệ nhất công thần Phạm Cự Lượng thờ ở tòa Thiêu hương.

Nhớ lại lời các tác giả Đại Nam quốc sử diễn ca nói về vua Đinh:

Nội đình năm vị nữ quân.
Nặng tình kiêm ái quên phần di mưu

mới thấy rằng Dương Vân Nga thật có phúc. Bốn vị nữ quân kia tên tuổi, số phận thế nào…chắc không ai biết. Để qua một bên những lời xưa nay khen chê phần nhiều đánh giá Dương Thái hậu qua địa vị,  để qua một bên chuyện chính sự và chuyện miệng đời, cái hơn người của bà là đã yêu và được yêu bởi hai bậc anh hùng vĩ đại. Trong lịch sử nước ta bà là người duy nhất có hai đời chồng làm vua. Hai ông vua đều sáng danh. (Chuyện bà Ngọc Bình chỉ là chuyện kể, hơn nữa bà Ngọc Bình không thấy sử sách ghi “danh phận”).

Điều khác nhau giữa hai đền thờ là đền vua Đinh có tượng đôi rồng chầu trên nóc, đền vua Lê thì không. Người chủ trương việc này suy nghĩ thế nào mà cho xây dựng như vậy? Lê Đại Hành Hoàng đế cũng là một vị vua, tuy rằng nối nghiệp Đinh Tiên Hoàng đế nhưng vẫn có chiến tích lẫy lừng, công lao chống ngoại xâm phương Bắc và tạo dựng uy thế với lân quốc phương Nam, đâu kém công lao trừ nội loạn? Lời Phạm Ngự Lượng khi tôn phò (theo sử chép) thiết tưởng đã đánh giá đúng về con người Đại Hành.

Rời Hoa Lư, một lần nữa ngẩng trông núi Yên Ngựa, riêng tôi một lần nữa nhớ đến bài hát  Anh hùng xưa, thêm vào đó “Với tiếng gió Hoa Lư ơi, với tiếng gió Hoa Lư ơi…”. Quả thật trời Hoa Lư đang đầy ắp mênh mang nắng và gió…

Trần Huiền Ân