Trần Huiền Ân
Từ 1471 đến 1597, đâu có gì là lâu lắc, thế nhưng lịch sử vùng đất quê tôi đầy những dấu tồn nghi. Nội cái tên tiểu vùng đã làm nhiều nhà khảo sử phân vân. Theo TS Nguyễn văn Huy, một nhà dân tộc học có nhiều công trình nghiên cứu về các dân tộc thiểu số ở Việt Nam thì Phú Yên là đất Aryaru cũ. Vậy thì thành ấy là cái thành gì chứ. Sao lại Thành Hồ. Chúng ta gọi theo Đại Nam nhất thống chí. Rõ ràng là các vị sử quan nhà Nguyễn đã áp đặt tên Việt cho thành Chăm, bảo rằng: “Tương truyền thành này do người Chiêm xây đắp, tục danh là Thành Hồ. Thuở đầu khai quốc, triều chúa Nguyễn, Lương văn Chánh bạt phá thành này, nay nền cũ vẫn còn”.
Người đời truyền nhau răng Thần chính là tinh của thần Viêm Quân.
Hầu hết sông ở Phú Yên có chung đặc điểm, nhập dòng lại và chảy ra biển bằng một cửa. Biệt lệ chỉ có sông Cái. Là hợp lưu của sông La Hiên, sông Kỳ Lộ, sông Trà Bương, sông Cô và mấy nguồn suối nhỏ nữa, về tới hạ lưu nó lại chia ra nhiều nhánh, chảy ra hai nơi: vịnh Xuân Đài và đầm Ô Loan. Những nhánh sông như những ngón tay trong bàn tay châu thổ xòe rộng níu giữ phù sa, mỗi mùa mưa lụt lại bồi đắp cho thêm màu mỡ. Nơi đây là vùng đất xưa, từ thuở Lưu thủ Văn Phong vâng lệnh Chúa Tiên Nguyễn Hoàng lập phủ Phú Yên, coi như hoàn thành cái ước vọng xây dựng cõi Nam Hà từ sông Linh Giang đến núi Thạch Bi, để Trấn thủ Nguyễn Phước Vinh tiếp tục củng cố sự ổn định vững bền cơ nghiệp. Nơi đây là đất lành, trên bước đường thiên di tìm nắng ấm đàn chim Việt dừng lại khá lâu để xây tổ vầy đàn. Và từ nơi đây hơn bốn mươi năm sau Hùng Lộc hầu đem quân vượt qua đèo Hổ Dương mở mang dinh Thái Khang.
Từ ngày 20-30-7 – 2010 tại Hà Nội đã diễn ra cuộc Hội thảo “ Âm nhạc & các dân tộc thiểu số” lần thứ 6, trong khuôn khổ Hội thảo “ Âm nhạc truyền thống Quốc tế” .
Khi nói tới lịch sử phát triển ở Tây nguyên, là phải nhắc tới những dân tộc có truyền thống kiên cường chống giặc ngoại xâm, tập hợp và đoàn kết được một khối thống nhất các sắc dân thiểu số, rộng khắp cao nguyên trung phần, chống lại bọn xâm lược Pháp,Mỹ.
Đúng 8g30 sáng ngày 03.06.2010, con tàu 996 chở đoàn công tác số 10 của Ủy ban TW Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ủy ban TW Phật giáo Việt Nam, doanh nghiệp Xuân Trường, Tổng cục thuế, các văn nghệ sỹ và quân chủng hải quân trên đường ra thăm và làm việc tại huyện đảo Trường Sa, chạy qua vùng biển của các đảo Cô Lin, Len Đao, Gạc Ma. Các cao tăng, ban chỉ huy tàu cùng toàn bộ thuyền viên và đoàn công tác long trọng tổ chức lễ tưởng niệm các cán bộ, chiến sỹ hải quân của chúng ta đã anh dũng hy sinh trước sự tấn công trắng trợn và phi lý của lực lượng hải quân nước ngoài để bảo vệ vững chắc sự toàn vẹn lãnh thổ chủ quyền biển đảo thân yêu của Tổ quốc cách đây 22 năm – ngày 14.03.1988.
Lúc sắp lâm chung, chúa Tiên có dặn dò chúa Sãi rằng: “Đất Thuận Quảng này phía bắc có Hoành sơn và Linh giang hiểm trở, phía nam có Hải Vân sơn và Thạch Bi sơn vững bền.. Núi sẵn vàng sắt, biển nhiều cá muối, thật là nơi trời để cho người anh hùng dụng võ…”. 



Theo sách Bản truyện, thì phu nhân họ Triệu, là công chúa của nước Nam Tống (1). Nhà có ba mẹ con, phu nhân là người con gái út. Năm Thiệu Bảo (2) thứ nhất đời vua Trần Nhân Tông, vua Đoan Tông nhà Nam Tống phiêu dạt ở vùng biển, sinh bệnh mà chết. Thừa tướng là Văn Thiên Tường (3) cùng Lục Tú Phu và tướng quân Trương Thế Kiệt lập em vua Đoan Tông là Bính lên ngôi. Sau đó không bao lâu, Thiên Tường thua trận, bị bắt đưa lên phương Bắc. Tướng Trương Thế Kiệt dùng thuyền đưa vua tới Nhai Sơn bị tướng nhà Nguyên là Trương Hoằng Phạm (4) đón đánh.Quân Tống thua to. Lục Tú Phu ôm vua nhảy xuống biển. Thế Kiệt cũng bị chết đuối.
Ở nơi nào nhỉ của Hà Nội, tác giả Đôi bạn đã nhìn xuống để chăm chú quan sát những đứa trẻ nhặt lá bàng vào một tối mùa đông?