I am an attorney in the Washington DC area, with a Doctor of Law in the US, attended the master program at the National School of Administration of Việt Nam, and graduated from Sài Gòn University Law School. I aso studied philosophy at the School of Letters in Sài Gòn.
.
I have worked as an anti-trust attorney for Federal Trade Commission and a litigator for a fortune-100 telecom company in Washington DC.
I have taught law courses for legal professionals in Việt Nam and still counsel VN government agencies on legal matters.
I have founded and managed businesses for me and my family, both law and non-law.
I have published many articles on national newspapers and radio stations in Việt Nam.
In 1989 I was one of the founding members of US-VN Trade Council, working to re-establish US-VN relationship.
Since the early 90's, I have established and managed VNFORUM and VNBIZ forum on VN-related matters; these forums are the subject of a PhD thesis by Dr. Caroline Valverde at UC-Berkeley and her book Transnationalizing Viet Nam.
I translate poetry and my translation of "A Request at Đồng Lộc Cemetery" is now engraved on a stone memorial at Đồng Lộc National Shrine in VN.
I study and teach the Bible and Buddhism. In 2009 I founded and still manage dotchuoinon.com on positive thinking and two other blogs on Buddhism.
In 2015 a group of friends and I founded website CVD - Conversations on Vietnam Development (cvdvn.net).
I study the art of leadership with many friends who are religious, business and government leaders from many countries.
I have written these books, published by Phu Nu Publishing House in Hanoi:
"Positive Thinking to Change Your Life", in Vietnamese (TƯ DUY TÍCH CỰC Thay Đổi Cuộc Sống) (Oct. 2011)
"10 Core Values for Success" (10 Giá trị cốt lõi của thành công) (Dec. 2013)
"Live a Life Worth Living" (Sống Một Cuộc Đời Đáng Sống) (Oct. 2023)
I practice Jiu Jitsu and Tai Chi for health, and play guitar as a hobby, usually accompanying my wife Trần Lê Túy Phượng, aka singer Linh Phượng.
Có một nỗi sợ hãi đè nặng trên nhiều người trong chúng ta từng phút, từng ngày, cả đời, dù là thường khi họ không nghĩ đến và biết đến. Đó là nỗi sợ bị chối bỏ, sợ không đạt được cái đang nhắm đến. Nói chung là sợ chữ “Không”—không chấp nhận, không đồng ý, không được, không thành.
Rất nhiều quyết định ta làm trong ngày vì sợ chữ “không,” mà chính ta cũng không nghĩ đến. Đọc thông tin về học bổng, có cảm tưởng “không tới lượt mình,” bèn đọc qua mục khác. Đọc thông tin về tuyển dụng công việc, cũng thế. Đó là chưa nói đến không đi tìm việc và không gửi thơ xin việc đi đâu cả, vì “mình không có liên hệ lớn thì vô sao được.” Tối ngày làm thơ “đời tôi cô đơn,” vì “yêu nhiều, nhưng làm quen thì chẳng dám bao nhiêu.” Bao nhiêu năm mơ tưởng làm chủ công ty của mình, nhưng vẫn cứ mơ hoài vì “chưa đủ kinh nghiệm làm ăn.” Và bao nhiêu trẻ em bỏ học vì tin rằng mình không đủ sức để học hành gì cả? Continue reading Làm sao để nhận chữ “Không”?→
“Bạn cũ qua đời, bạn mới đến. Cũng như ngày tháng. Một ngày cũ đi, một ngày mới đến. Điều quan trọng là tạo nên ý nghĩa: một người bạn có ý nghĩa hay một ngày có ý nghĩa.”
TDH dịch
“Old friends pass away, new friends appear. It is just like the days. An old day passes, a new day arrives. The important thing is to make it meaningful: a meaningful friend – or a meaningful day.”
Ta hay nói câu “ấn tượng đầu tiên.” Lần đầu tiên gặp nhau mà có ấn tượng xấu về nhau là hỏng rồi. Đầu năm bị mắng là “dông” cả năm. Chơi bi-da mà đánh trật một hai cơ đầu là “quê cơ” cả buổi. Sáng ra ngõ gặp ga… a… a… something… là xui cả ngày. Tóm lại, một cảm giác nào đó ta có lúc ban đầu thường có tính cách quyết định cho những tình trạng sau đó.
Điều này cũng dễ hiểu. Hệ thần kinh của ta không làm việc kiểu vi tính—tắt chương trình này, mở chương tình khác được ngay, cùng lắm là reboot máy. Về tâm lý, khi đã bắt đầu hướng nào là thần kinh của ta cứ đi theo hướng đó rất lâu, giận ai thì cũng phải nửa buổi hay một ngày mới hết. (Có người giận cả đời 😦 ). Nếu đã bức xúc thì bức xúc cả buổi. Cho nên khi bắt đầu việc gì, ta phải bắt đầu với tinh thần và cảm giác mà ta muốn trong suốt tiến trình sau đó.
Trong các đàm phán về thương mại, người ta đó gọi là “set the tone” (tạm dịch là “xây dựng bầu không khí”). Nếu ta muốn tinh thần buổi họp đó nói lên được (1) sự quý mến, (2) thân thiện, (3) nhưng cũng nghiêm chỉnh, thì (1) ta có thể đặt cà phê, trà, bánh ngọt, ly tách sẵn trên bàn họp, hay sát bàn họp, và đèn đuốc mở sẵn, để tỏ sự quý mến với đối tác. Đừng đợi khách vào rồi mới gọi người đi pha cà phê. (2) Áo quần chỉnh tề và đề nghị nhẹ nhàng chỗ ngồi cho từng người quanh bàn, để chỉ tính nghiêm trọng. (3) Nói chuyện về thể thao, thời tiết, và hỏi thăm gia đình nhau vài câu (nếu biết một tí về gia đình, con cái), để tỏ lòng thân thiện.
Sáng sớm trong phố nhỏ
Không nên nói một chữ, một câu nào, có tính cách tiêu cực, kể cả khi người đối tác nói tiêu cực (như “tôi không ưa ông Bush”) và ta chỉ hùa theo, vì không khí tiêu cực sẽ đến và ngồi ì đó cả ngày. Nếu muốn đồng ý theo, thì ta nên lái sang ngôn ngữ tích cực, như “tôi hy vọng là ông ấy sẽ học thêm được vài kinh nghiệm.” Ta nên nhớ rằng, cách nói phủ định luôn luôn có tính tiêu cực, ví dụ “Tôi không thích trời mưa” hay “Tôi không thích phụ nữ mặc quần như đàn ông.” Tuy nhiên, cách nói xác định vẫn có thể tiêu cực nếu dùng từ tiêu cực. Ví dụ, “ông bán quán đó là một phế nhân.”
Quan trọng hơn cả các cuộc họp trong ngày là lúc ta bắt đầu một ngày mới. Thái độ của ta lúc đầu ngày sẽ ảnh hưởng rất lớn đến thái độ và công việc cả ngày. Nếu sáng ra mà không vui hay bực mình chuyện gì đó, có thể ta là sẽ đến sở với khuôn mặt méo mó, nói chuyện thì làm người khác bực mình, vì vậy có thể làm hỏng việc, và các quyết định trong công việc cũng có thể xấu đi vì đầu óc không được sáng suốt lắm. Lúc khởi đầu rất quan trọng. Một chương trình TV chỉ có khoảng một hay hai phút đầu để hấp dẫn ta, nếu không hài lòng là ta sẽ đổi đài ngay. Vì vậy, ta cần phải quan tâm đến buổi đầu ngày, lúc mới ngủ dậy—đó là “ấn tượng đầu tiên” sẽ quyết định rất lớn đến phẩm chất toàn ngày.
Vì vậy, bước ra khỏi giường là:
1. Vận động thân thể một tí để đánh tan uể oải và làm cho mình khỏe khoắn tích cực hơn. Có một liên hệ trực tiếp giữa cơ thể và tâm trí mà nhiều chuyên gia về giáo dục đôi khi quên mất. Người bệnh thì hay cau có càu nhàu, người khỏe thì cười nói vui vẻ. Quy luật cực kỳ căn bản này ta không thể bỏ quên.
2. Nói năng vui vẻ mới mọi người trong nhà. Đây là những câu nói đầu tiên sẽ “set the air” cho mình và cho mọi người cả ngày. Câu hỏi dễ hỏi nhất là “Hôm qua trời mưa/nóng ngủ ngon không? Muốn cà phê, trà hay cái gì, anh làm cho?”
3. Để nhạc sống động một tí.
4. Đừng nên nghe tin tức trên TV, radio hay đọc báo, vì đa số báo chí ngày nay đều đăng nhiều tin xấu hơn tin vui (vì nhu cầu cần tin giật gân để làm thương mãi). Không nên bắt đầu một ngày bằng các tin làm mình chán ngán cuộc đời. (Nghe tin giữa ngày cũng được rồi).
5. Ăn hoặc uống cái gì đó mà mình thích.
Đầu ngày
6. Đừng dựng lịch quá chặt chẽ đến nỗi ta phải chạy và stress. Nếu đường từ nhà đến sở tốn trung bình 30 phút, thì nên dành cho nó 40 phút trong lịch, khi kẹt xe ta sẽ không bị stress. Stress không những phá hỏng cả ngày, mà stress sẽ giết bạn sớm.
Dựng lịch thong thả là cách tốt nhất để giảm stress, đồng thời tăng hiệu năng. Nên dựng lịch thong thả cho mọi hoạt động trong ngày. Ta thường theo thói cạnh tranh dữ dội ngày nay là làm lịch rất chặt chẽ, tưởng như thế là hiệu năng cao. Thực ra, như vậy thì hiệu năng lại thấp, vì hiệu năng của mỗi phút rất thấp, do stress. Làm một tiếng đồng hồ mà hiệu năng bằng người khác làm hai tiếng thì vẫn tốt hơn. Ví dụ: Nếu bán hàng, bạn cứ thong thả từ tốn nói chuyện trời trăng mây gió với người khách (nếu người ấy thích), thì chắc chắn là bạn sẽ bán nhanh hơn một cô cứ cố gắng đưa khách hàng qua món này đến món kia vù vù. Work smarter, not harder.
7. Ra đường, nhìn khung cảnh chung quanh, nắng ấm (hay mưa đẹp), hàng quán, xe cộ và đoàn người qua lại như khung cửi, những hàng cây cao, và tận hưởng cái đẹp và sức sống của thành phố cho một ngày mới.
8. Gặp người quen thì vẫy tay, hay tốt hơn nữa là hỏi một câu. Đừng căng quá đến nỗi chẳng thấy được ai ngoài đường.
9. Dành 15 giây, chỉ 15 giây thôi cũng đủ rồi, cám ơn trời đất đã cho ta một đêm ngủ bình yên, một cơ thể khỏe mạnh, một đầu óc sáng suốt, và một ngày mới để sống. Những người tích cực luôn luôn là những người biết thọ ơn. Có một liên hệ rất chặt chẽ giữa lòng biết ơn và tính tích cực, mà nhiều chuyên gia chưa thấy. Và dù là điều 9 này nằm cuối danh sách, bạn nên làm nó ngay đầu ngày, vào mục số 1.
Cứ như vậy, ta bắt đầu một ngày, bình thản, thong thả, tích cực, không phải để “làm việc,” không phải để “chạy”, không phải để “đi cày,” không phải để “ráng cho qua ngày,” cũng không phải để “xây dựng cuộc đời” hay vá trời lấp biển, mà chỉ đơn giản là để sống–sống một ngày cho trọn một ngày, ở đây, lúc này.
Nhà các bé dân tộc thiểu số ở trường mầm non Sa Bình, Kontum, rất nghèo. Các thầy cô đã có sáng kiến biến trường thành bán trú và cho bố mẹ đổi nông phẩm trồng được thành phiếu ăn cho các bé, nhờ vậy mà số lượng các bé đi học tăng thêm rất nhiều. Ai bảo là ta không có thầy cô tốt tâm và nhiều sáng kiến?
Xem Đi Học Bằng Phiếu Ăn ở đây.
Thay vì bị khiếm khuyết thì than thân trách phận, ta dùng nó làm động lực để cố gắng phát triển các phần còn lại để thành công, có phải là hay hơn không?
Xem Giám Đốc Sơn “Liệt” ở đây
Tư duy tích cực là gì? Tư duy tích cực khác với một vài loại tư duy khác như thế nào? Tại sao ta lại cần tư duy tích cực?
“Tư duy” thường có nghĩa là suy nghĩ, và nói đến suy nghĩ là ta thường có ấn tượng rằng đó là một hoạt động của não bộ một lúc nào đó. Thực ra, từ “tư duy” ở đây rông rãi hơn, và có nghĩa là một thái độ sống, một cái nhìn về cuộc đời và sự sống, tương tự như tư duy trong cụm từ “thay đổi tư duy.” Tư duy tích cực chính là “sống tích cực” hay “thái độ tích cực.”
“Tích cực” có nghĩa là … không tiêu cực 🙂 , là
(1) khi nhìn mọi sự, mọi vật, mọi vấn đề ta luôn luôn thấy cái hay, cái đẹp, cái tốt;
(2) nếu thấy cái xấu ta có khả năng biến cái xấu thành cái tốt; và
(3) luôn luôn hướng đến hành động để làm mọi sự tốt hơn.
Ví dụ: (1) Bạn A. của mình thật năng động và có lòng tốt với mọi người, (2) chỉ hơi keo kiệt một tí, nhưng như vậy thì, nếu bạn làm thủ quỹ cho nhóm mình, chắc chắn là quỹ chẳng bao giờ thiếu hụt, và (3) cứ làm từ thiện hoài thì chắc chắn là bạn sẽ từ từ biết cách “phung phí” tiền cho người nghèo khổ.
Đặc điểm của tư duy tích cực là
(1) tập trung cái nhìn và tư tưởng vào cái tốt, nếu thấy cái xấu cũng phải tìm cho ra cái tốt trong cái xấu để tập trung tư tưởng vào đó, và
(2) dùng cái tốt như là động lực thúc đẩy mình sống và làm việc, đi đến mục đích cuối cùng là làm cho cuộc đời tốt đẹp hơn. Cuộc đời đây là cuộc đời của chính mình, và là cuộc đời của thế giới mình sống. Tức là, cái tốt vừa là động lực thúc đẩy mình sống, vừa là mục tiêu tối hậu của cuộc sống.
Thông thường người ta thường phân chia thế giới thành hai nhóm người—tích cực và tiêu cực. Nhưng đó chỉ là cách nói tắt cho thuận tiện; thực ra ai cũng vừa tích cực vừa tiêu cực, chỉ là khuynh hướng nào mạnh hơn mà thôi. Hơn nữa, thông thường ta hay có thói quen tích cực hay tiêu cực tùy theo… trời mưa nắng và tùy theo đối tượng suy tưởng là người yêu hay… ông hàng xóm khó chịu.
Ta thực tập tư duy tích cực để ta luôn luôn tích cực–những ngày nắng đẹp cũng như những ngày ngập lụt, khi dạo phố với người yêu cũng như khi bị đụng xe–đối với tất cả mọi người–bạn thân hay địch thủ, thánh nhân hay đồ tể.
Bay!
Và ta cần “thực tập” vì tâm tính không dễ gì thay đổi được. Tâm tính của mỗi người là một bộ máy tâm sinh lý đặc biệt, cứ như thế mà vui buồn yêu ghét. Không phải muốn đổi tâm tính là có thể làm xong trong một ngày, một tuần. Nếu cơ thể cần được tập luyện mỗi ngày, khá lên mỗi ngày một tí, vài ba năm mới được như vận động viên, thì tâm tính cũng thế, cũng phải được rèn luyện mỗi ngày, không, mỗi phút giây ta sống. Và phải kiên nhẫn một thời gian thì mới có được kết quả “trông thấy”.
Nhưng tại sao ta phải suy tư tích cực? Trời sinh sao để vậy không được sao?
Trước hết, tâm tính của ta không phải do trời sinh. Các yếu tố di truyền có dự phần một tí, như là sinh ra thì có hai tay hai chân, nhưng có đai đen Judo hay một cơ thể èo ọt bệnh hoạn là do ta. Trí lực và tâm lực cũng thế, trời sinh ra có tâm trí, tích cực hay tiêu cực là do ta.
Và thực ra thì chẳng ai bắt ta phải tích cực hay tiêu cực cả, sống cách nào là sở thích cá nhân và tự do lựa chọn của mỗi người. Nếu ta muốn làm thư sinh trói gà không chặt, tối ngày thương mây khóc gió, như các nho sĩ trong Số Đỏ, thì cũng được. Nhưng nếu ta muốn mạnh mẽ từ thể chất đến tinh thần, sống như hải âu cưỡi gió trên những lọn sóng đại dương, thì ta phải tư duy tích cực. Chỉ là vấn đề lựa chọn.
Một trong những câu hỏi ta hay gặp khi nói đến tư duy tích cực là: “Đôi khi ta cũng cần phải phê phán chứ. Critial thinking cũng cần vậy.” Critical thinking, tạm dịch là tư duy phê phán, là một phương thức suy nghĩ rất được chú trọng ngày nay. Thực ra critical vừa có nghĩa là phê phán, vừa có nghĩa là nghiêm trọng. Đây là cách suy nghĩ đặt trọng tâm vào nghi vấn—đánh dấu hỏi tất cả các tiền đề, các kết luận, các dữ kiện, các phương pháp làm việc, trong một vấn đề, cho đến khi ta thỏa mãn với độ chính xác của tất cả các điều này và đi đến một kết luận chính xác. Và nếu nói đến nghi vấn và phê phán tức là nói đến việc phải mang cái xấu (và cái tốt) ra mổ xẻ. Mà nói đến cái xấu là có người nghĩ rằng như vậy có vẻ không tích cực.
Chúng ta sẽ nói đến critical thinking chi tiết hơn trong một dịp khác. Tại đây chúng ta chỉ cần nhắc rằng, critical thinking (tư duy phê phán) và positive thinking (tư duy tích cực) đều cần thiết và có thể đi đôi với nhau. Positive thinking là một thái độ sống, hơn là một phương thức suy nghĩ. Critical thinking là một phương thức suy nghĩ. Ta có thể dùng critical thinking với một thái độ tích cực, hoặc với một thái độ tiêu cực.
Ví dụ, đối diện với các vấn đề giáo dục, ta có thể dùng critical thinking để mang ra một số các vấn đề như chương trình học chưa khoa học và thực tiễn, phương pháp giảng dạy còn từ chương, lương giáo viên còn thấp, học cụ còn thiếu thốn, v.v… Nếu là người tiêu cực thì ta sẽ ngồi đó nhăn nhó phàn nàn: “Nhà nước ta tồi, dân ta tồi. Chấm hết.” Nhưng nếu là người tích cực thì ta sẽ nhìn vào các yếu tố tích cực như văn hóa Việt kính trọng thầy cô, kinh tế quốc gia phát triển khá trong thập niên qua, một số các công ty viễn thông (Internet) là công ty nhà nước, liên hệ quốc tế tốt, người Việt ở nước ngoài đông, để tính đến một kế hoạch vận dụng tất cả sức mạnh nầy vào việc cải cách giáo dục.
Critical thinking là một phương pháp phân tích để tìm hiểu một vấn đề thật kỹ. Positivie thinking là một thái độ tích cực ta có trong khi làm công việc phân tích tìm hiểu đó. Cả hai đi đôi với nhau rất tốt.
Tư duy tích cực là chủ động, dùng thái độ của mình để tạo ra thế giới của mình. Thế giới của mình là cơ thể và đầu óc của mình, gia đình mình, bạn bè mình, những công việc mình làm, những người mình giao tiếp hằng ngày. Mình chủ động tích cực để biến thế giới đó và những người trong thế giới đó trở thành vui vẻ hơn và tích cực hơn một tí. Thay vì cứ sống theo lối phản ứng—gặp người vui thì vui, gặp người cau có thì cau có—tức là làm cho thế giới của mình chao đảo từng phút từng giờ, thì mình chủ động giữ thế giới của mình an vui tích cực luôn luôn. Điều này, trên phương diện triết lý, có thể gọi là duy tâm, tức là dùng tâm thức của mình để quản lí mình và môi trường sống của mình đó, các bạn a.
Có nhiều người nghèo đến mức chết cũng không có được cổ quan tài. May thay lại có người cũng rất nghèo có tâm Bồ tát, chuyên giúp đở, chạy xin quan tài và lo việc ma chay miễn phí. Thế giới này thật là huyền diệu!
Xem Người đưa đò ở bến biệt ly ở đây.
Bạn biết bí quyết gì mà mọi người thành công đều có không? Nếu nhìn một vòng chung quanh, ta thấy tất cả những người thành công–ca sĩ, họa sĩ, bác sĩ, luật sư, doanh nhân, chính trị gia, quan chức nhà nước, tu sĩ, hay bất kỳ cái-gì-sĩ–đều có một điểm chung là họ rất đam mê việc họ đang làm. Họ vui với nó, ăn ngủ với nó, hít thở nó, sống với nó, sống vì nó, bất chấp mệt nhọc, khó khăn, thử thách, cô đơn. Cho đến một lúc họ thành công lớn trong công việc đó. Bí quyết thành công của họ rất rõ ràng—đó là say mê công việc.
Vậy thì, muốn thành công, ta phải say mê công việc.
Nhưng, làm sao để say mê công việc?
Đây là mấu chốt của vấn đề, và đây cũng là điểm có nhiều ngộ nhận nhất. Rất nhiều chuyên gia về phát triển cá nhân (personal development), cố vấn một số phương pháp như là đặt mục tiêu, viết rõ mục tiêu, đặt kế hoạch hành động, đọc lại mục tiêu hằng ngày, tưởng tượng hình ảnh (visualizing) mục tiêu đã đạt được, thực hiện kế hoạch theo đúng chương trình đã vạch ra, v.v… Họ cho rằng khi chúng ta làm những điều này, chúng ta sẽ có đam mê trong công việc. Nhưng có thật vậy không? Thực ra, các điều này có thể giúp được một tí. Nhưng nếu nhìn kỹ lại, thì chúng không phải là câu trả lời cho sự tìm kiếm đam mê.
Ngọn Đuốc Vĩnh Cửu
Giả sử là bạn không thích mắm bồ hốc, cứ ngửi thấy mùi bồ hốc là muốn nôn ngay. Bây giờ có một chuyên gia đề nghị bạn đặt mục tiêu, “Trong vòng 2 năm nữa tôi sẽ ăn mắm bồ hốc trong mỗi bữa ăn.” Rồi lên kế hoạch hành động hai năm, như đã nói trên. Câu hỏi là, liệu bạn có thành công được không? Trong thực tế, có lẽ chúng ta có thể khẳng định là đại đa số người sẽ không thành công trong kế hoạch đó, bởi vì nó nhắm vào một việc mà nhân vật chính không thích, không chịu được, và rất ghét. Đại đa số người sẽ gạt phăng kế hoạch ngay từ đầu: “Thôi đi. Thiếu gì thứ trên đời để ăn. Tại sao tôi phải hành thân tôi ăn mắm bồ hốc?”
Bạn đã thấy được gốc rễ của vấn đề chưa? Nếu cái gì mình không thích, không hạp, thì mình không thể nào làm tốt được, không thể nào say mê được. Cái mình làm tốt, thích làm, là cái mình say mê. Say mê chính là nguyên nhân, là động lực thúc đẩy mình làm, thúc đẩy mình đặt mục tiêu, thúc đẩy mình lên kế hoạch hành động. Nếu đảo ngược nguyên nhân và hậu quả thì hỏng rồi–không phải là mục tiêu và kế hoạch tạo ra say mê. Vì có say mê và yêu, nên mới lên kế hoạch làm đám cưới, chứ không lên kế hoạch làm đám cưới để tạo ra tình yêu và say mê. Cái cày không thể đi trước con trâu.
Vậy là ta phải trở lại câu hỏi ban đầu: Làm thế nào để mình có say mê trong công việc? Câu trả lời là: Muốn say mê trong công việc thì mình phải làm công việc mà mình say mê.
Nhưng làm sao biết việc nào là việc mình say mê?
Đôi khi câu trả lời đến rất rõ ràng. Nếu tối ngày ta cứ bỏ ăn bỏ ngủ, loay hoay viết chương trình vi tính, thì có lẽ đó là việc ta say mê. Hay ca nhạc, hay thể thao, hay ý muốn làm chủ một doanh nghiệp. Nếu các bạn trẻ tạm gác qua một bên các yếu tố bên ngoài như nghề này nhiều tiền, nghề này có danh tiếng, nghề này người ta nể nang, v.v… và chỉ tự hỏi việc gì mình rất thích thú để làm, thì chính việc đó là việc mình say mê.
Đôi khi cái ta say mê không nhất thiết là một công việc, nhưng là một nơi. Ví dụ, nhiều người muốn quay về quê cha, quê mẹ, để sinh sống; việc gì không cần biết, nhưng họ cần được sống nơi chốn ấy.
Đôi khi cái ta say mê là người làm chung chứ không phải công việc. Ví dụ, có nhiều người nói: “Em rất thích làm việc chung với anh. Làm gì anh cứ gọi em. Việc gì cũng được.” Rất nhiều partners thương mãi nằm trong dạng này. Việc quan trọng nhất của họ là làm ăn chung với bạn thân. Làm ăn việc gì thì sẽ bàn sau.
Đôi khi cái ta say mê là một vật gì đó, một điều gì đó cụ thể. Ví dụ: Người rất mê tiền thì say mê làm bất cứ việc gì mang đến nhiều tiền. Người mê nổi tiếng thì say mê làm bất cứ việc gì để được nổi tiếng. Đây loại say mê dễ làm cho người ta vào đường lầm lạc nhất, dù rằng bản chất say mê tự nó không xấu—mê tiền hay mê nổi tiếng tự nó không xấu (dù là rất hời hợt).
Tâm hỏa
Đôi khi cái ta say mê là một mục đích chung chứ không phải công việc. Ví dụ: Các nhà truyền giáo rất vui vẻ đi khắp nơi, làm bất kỳ việc gì để sinh sống, chỉ để đem “Tin Mừng” đến mọi người chung quanh.
Đôi khi ta cũng không biết là việc gì ta thật say mê (mê ăn và mê ngủ thì không tính 🙂 ). Trong trường hợp đó ta phải suy nghĩ ngược lại—làm việc gì ta ít ghét nhất, trong khi chờ đợi khám phá ra việc gì ta say mê nhất.
Đối với các bạn đang làm một công việc mà mình rất chán nản, thì nên tìm việc khác, đổi chỗ làm. Nếu đổi chỗ làm khó khăn, thì tìm công việc gì đó, nhất là các việc giải trí hay từ thiện mà mình ưa thích để làm ngoài giờ làm việc.
Nói tóm lại là ta phảỉ tìm cho được ngọn lửa trong lòng mình, và đi theo nó. Ai cũng có lửa trong lòng, kể cả người nghĩ rằng lòng mình đã nguội lạnh. Thực ra vẫn luôn luôn còn một viên than hồng đâu đó. Tìm ra nó và cho nó cơ hội trở thành một ngọn lửa. Mà ta càng hiểu chính mình thì càng dễ thấy ngọn lửa đó, hay viên than hồng đó. “Biết mình” là nguồn gốc đầu tiên của mọi kế hoạch tốt trong đời. (Mình đã viết bài “Biết Mình” trước đây rồi. Bạn có thể tìm thấy nó trong category Trà Đàm).
Và khi nhìn thấy lửa rồi thì hãy có cam đảm đi theo nó. Điều này nói thì dễ, nhưng thật ra rất khó đối với những bạn đã có gia đình và công việc lâu năm. Không đổi việc được, thì thêm việc ngoài giờ. Vấn đề rất rõ ràng và đơn giản. Nếu bạn thực sự muốn say mê với công việc và đời sống của mình, thì phải đi theo ngọn lửa trong lòng mình. Mỗi người có một ngọn lửa cho một con đường, không thể lấy lửa của người khác làm lửa của mình, cũng không thể đổi lửa cho nhau. Từ cổ chí kim, người ta có đủ mọi tên để gọi ngọn lửa này—sự thôi thúc của con tim, tiếng gọi của định mệnh, tiếng gọi của Chúa. Dù là tên gọi nào đi nữa, thì bản chất của vấn đề vẫn rất rõ ràng—sức mạnh thôi thúc ta đi nhanh, đi mạnh, xông pha sương gió, đạp lên gai góc, trèo đèo vượt suối, gian nguy không sờn, luôn luôn tiến về phía trước, chính là ngọn lửa trong lòng.
Rồi ngọn lửa đó sẽ cho mình đam mê để đặt mục đích, đặt kế hoạch. Mục đích và kế hoạch là phương thức giúp mình làm việc có hiệu quả. Chúng không phải là ngọn lửa.
Thế nhưng, tại sao ở đầu bài ta nói một số chuyên gia cố vấn phương thức “mục đích và kế hoạch” để tạo đam mê? Thưa, bởi vì các lời tư vấn này đến từ các chuyên gia của các giám đốc công ty, giúp các công ty làm thế nào để nhân viên trong hãng hăng hái với công việc hơn. Các chuyên gia này không bao giờ có thể tư vấn, “Nếu bạn không vui với công việc ở đây, thì cứ nghe theo tiếng gọi trong lòng, đi tìm việc khác hợp với con tim của bạn hơn.” Họ bắt buộc phải “tư vấn” các việc có tính cách quản lí hành chánh, như là đặt mục tiêu và kế hoạch. Tốt cho công ty. Nhưng, nếu bạn là nhân viên, thì đó không phải là lời tư vấn thật sự cho bạn.
Bất chấp hiểm nguy, chống chỏi bão táp, để cứu người bị nạn trên biển. Đây thực là hành động của đấng anh hùng. Bao nhiêu anh hùng chung quanh ta mà ta không biết? Anh hùng đâu phải chỉ trong tiêu thuyết mà thôi. Và đời này đâu thiếu người hào kiệt!
Xem Hiệp sĩ trên biển tại đây