All posts by Trần Đình Hoành

I am an attorney in the Washington DC area, with a Doctor of Law in the US, attended the master program at the National School of Administration of Việt Nam, and graduated from Sài Gòn University Law School. I aso studied philosophy at the School of Letters in Sài Gòn. . I have worked as an anti-trust attorney for Federal Trade Commission and a litigator for a fortune-100 telecom company in Washington DC. I have taught law courses for legal professionals in Việt Nam and still counsel VN government agencies on legal matters. I have founded and managed businesses for me and my family, both law and non-law. I have published many articles on national newspapers and radio stations in Việt Nam. In 1989 I was one of the founding members of US-VN Trade Council, working to re-establish US-VN relationship. Since the early 90's, I have established and managed VNFORUM and VNBIZ forum on VN-related matters; these forums are the subject of a PhD thesis by Dr. Caroline Valverde at UC-Berkeley and her book Transnationalizing Viet Nam. I translate poetry and my translation of "A Request at Đồng Lộc Cemetery" is now engraved on a stone memorial at Đồng Lộc National Shrine in VN. I study and teach the Bible and Buddhism. In 2009 I founded and still manage dotchuoinon.com on positive thinking and two other blogs on Buddhism. In 2015 a group of friends and I founded website CVD - Conversations on Vietnam Development (cvdvn.net). I study the art of leadership with many friends who are religious, business and government leaders from many countries. I have written these books, published by Phu Nu Publishing House in Hanoi: "Positive Thinking to Change Your Life", in Vietnamese (TƯ DUY TÍCH CỰC Thay Đổi Cuộc Sống) (Oct. 2011) "10 Core Values for Success" (10 Giá trị cốt lõi của thành công) (Dec. 2013) "Live a Life Worth Living" (Sống Một Cuộc Đời Đáng Sống) (Oct. 2023) I practice Jiu Jitsu and Tai Chi for health, and play guitar as a hobby, usually accompanying my wife Trần Lê Túy Phượng, aka singer Linh Phượng.

Chào mừng Ngày Xuân phân và Ngày Trái Đất

earth-lighting-equinox

Chào các bạn,

Hôm nay, 20 tháng 3 năm 2009, là Ngày Xuân phân và Ngày Trái Đất.

Ngày Xuân phân là ngày đầu tiên chính thức của mùa xuân tại Mỹ và nhiều quốc gia Âu Mỹ. Tại các quốc gia theo âm lịch ở Á châu, Ngày Xuân phân lại được xem là ngày chính giữa mùa xuân.

Vào ngày 20 tháng 3 năm 2009, đúng 7 giờ 44 sáng (giờ Washington DC) (20 tháng 3, 11 giờ 44 sáng, giờ Greenwich), mặt trời sẽ đi ngang xích đạo của trái đất, chiếu ánh sáng thẳng góc vào xích đạo. Thời điểm này được gọi là Xuân phân nếu ta ở bắc bán cầu (vernal equinox) và Thu phân ở nam bán cầu (autumnal equinox).

spring

Equinox có nghĩa là “equal night” (đêm bằng, hay là, đêm bằng ngày), bởi vì mặt trời nằm ở vị trí thẳng đứng trên xích đạo. Thời điểm này đặc biệt bởi vì trục xoay của quả đất đứng nghiêng 23°4. Vì độ nghiêng này, chúng ta nhận ánh sáng nhiều nhất từ mặt trời trong mùa hè (ngày dài đêm ngắn) và ít nhất trong mùa đông (ngày ngắn đêm dài). Vào thời điểm Xuân phân (Thu phân), mặt trời đứng thẳng góc ngay trên xích đạo nên ngày và đêm bằng nhau.

Bởi vì được xem là ngày đầu của mùa xuân, mùa vạn vật bừng sống trở lại sau mùa đông lạnh lẽo tăm tối, Ngày Xuân phân có ý nghĩa lớn và là ngày lễ hội lớn trong nhiều nền văn hóa.

Theo Wikipedia tiếng Việt, Ngày Xuân phân được xem là ngày lễ hội tại nhiều nơi trên thế giới như sau:

Lễ hội Norouz (lễ hội năm mới hay lễ hội đầu xuân) của Iran được tổ chức vào ngày này. Đạo Bahai gọi lễ này là Naw-Rúz. Ngoài ra còn có lễ hội Ostara của đạo Wicca, và là một trong tám lễ hội Sabbat của những người theo đạo đa thần giáo kiểu mới (neopagan).

Tại Nhật Bản ngày Xuân phân (春分の日) là ngày lễ chính thức của quốc gia để mọi người đi tảo mộ và đoàn tụ gia đình.

Lễ Phục sinh ở các nước theo Cơ đốc giáo được tổ chức vào ngày chủ nhật đầu tiên ngay sau khi trăng tròn kể từ ngày Xuân phân.

Ngày Trái Đất được kỷ niệm vào ngày Xuân phân hàng năm kể từ ngày đầu tiên là 21 tháng 3 năm 1970.

Năm mới Tamil được tổ chức sau ngày Xuân phân. Nó được tổ chức tại bang miền nam Ấn Độ (Tamil Nadu).

earthbluemarblewestterra

Ngày Trái Đất (Earth Day)

Theo John McConnell, người sáng lập Ngày Trái Đất, khi ông đang suy tư tìm một ngày nào đó để mọi người trên thế giới cùng nhau ca tụng huyền diệu của đời sống trên quả đất, “Ngày Xuân phân hiện ra trong óc, và tôi biết ngay là chính nó. Một cơn động đất ở California làm rung rinh căn nhà của tôi lúc đó như là dấu hiệu đồng ý. Còn thời điểm nào hay hơn là lúc bắt đầu mùa xuân, khi ngày và đêm bằng nhau khắp mọi nơi trên thế giới, và mọi trí óc và con tim có thể hợp nhau trong suy tư về hòa hợp và sự tươi mới trở lại của Trái Đất. Chỉ một lời cầu nguyện đã rất ý nghĩa, còn ý nghĩa hơn biết bao nhiêu khi hàng trăm, hàng nghìn, hàng triệu người vòng quanh thế giới hợp nhau trong suy tư và cầu nguyện để nuôi dưỡng tình láng giềng và thiên nhiên.”

Ngày Trái Đất đầu tiên xảy ra tại San Francisco vào ngày 21 tháng 3 năm 1970, với một công bố chính thức của thành phố San Francisco, bang California, Mỹ. San Francisco có nghĩa là “Thánh Phan-xi-cô”, thánh quan thầy của sinh thái học (ecology). Sau này, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc U Thant ký một Công bố xác nhận Ngày Trái Đất cho Liên Hiệp Quốc.

Vào Ngày Trái Đất, ngay khi mùa xuân bắt đầu Chuông Hòa Bình của Liên Hiệp Quốc sẽ đổ, để hàng triệu người trên thế giới đồng tâm suy niệm.

Chúc các anh chị em một mùa xuân đầy tình yêu và ánh sáng.

Trần Đình Hoành

Họa sĩ mù

Mù thì mò mẫm tìm đường đi đã khó rồi, đừng nói là sáng tạo những họa phẩm nghệ thuật như người họa sĩ mù này, John Bramblitt, sinh viên Đại Học North Texas (UNT). John chỉ cảm được (bằng mắt) sự khác biệt giữa màu đỏ và màu xanh, và sự hiện diện của màu sáng như màu trắng. Anh sáng tạo một cách vẽ bằng cảm giác ở đầu ngón tay.

Hãy tự hỏi, ta còn rất lành lặn, bao nhiêu tiềm năng ta đang có mà không sử dụng và phát triển, vì ta không tin vào chính ta?

Tam đoạn luận và giới hạn của luận lý

meeting

Chào các bạn,

Hôm nay chúng ta sẽ khảo sát hai lý luận căn bản nhất trong luận lý học, mà ta dùng hằng ngày, để hiểu rõ và nắm vững chúng trong đời sống và công việc hằng ngày. Đó là tam đoạn luận suy diễn và tam đoạn luận quy nạp. Đồng thời ta sẽ cảnh báo về các giới hạn tự nhiên của ngôn ngữ và lý luận.

• Tam đoạn luận hầu như là nền tảng của phần lớn, nếu không nói là tất cả, suy tư của con người. Tam đoạn luận là lý luận ba câu. Ví dụ: (1) Mọi người đều chết. (2) Ông Xuân là người. (3) Vì vậy, ông Xuân sẽ chết. Hai câu đầu (1) và (2) của tam đoạn luận nầy là 2 tiền đề–tiền đề 1 và tiền đề 2. “Tiền” là trước (không phải là “money”, nhưng nếu bạn hiểu là money cho dễ nhớ thì cũng tốt, vì money thường đi trước mọi sự :-)), tiền đề là mệnh đề đi trước; câu (3) là kết đề, tức là kết luận rút ra từ hai tiền đề.
Tam đoạn luận trên đây là tam đoạn luận suy diễn, nó vì nó “suy” từ cái chung (mọi người) đến cái riêng (ông Xuân).

• Lý luận theo chiều ngược lại, từ VÀI cái riêng đến cái chung, goi là quy nạp. Và quy nạp thì dựa vào quan sát các trường hợp cá nhân, mà “quy” về một định luật chung cho tất cả. Ví dụ: (1) Hùng Vương chết, Hai Bà Trưng chết, Trần Hưng Đạo chết, Quang Trung chết, ông tôi chết, bà tôi chết, v.v.. (2) Các vị đó là người. (3) Vì vậy, mọi người đều phải chết.

• Hai tam đoạn luận này ta dùng rất thường xuyên trong ngày, nhưng gọn gàng hơn. Ví dụ, suy diễn kiểu các bà :-): “Ông này làm gì mà ôm điện thoại đi ra xa, nói nhỏ xíu. Chắc là liên hệ bất chính với cô nào rồi.” Đây là rút ngắn của môt tam đoạn luận: (1) Đàn ông nói điện thoại cách bí mật là có liên hệ bất chính với đàn bà. (2) Ông này đang bí mật. (3) Vì vậy, ông này có liên hệ bất chính.

argument1

• Lỗi lầm thường thấy nhất trong tam đoạn luận suy diễn là tiền đề đầu tiên thường quá rộng, theo kiểu vơ đũa cả nắm. Trong ví dụ trên, ở tiền đề 1, ta thấy ngay là nói chuyện bí mật đâu nhất thiết có nghĩa là có liên hệ bất chính, giả sử đó là bí mật quốc phòng hay bí mật nghề nghiệp thì sao?

Muốn cho chính xác hơn thì ta phải “thu nhỏ” lại một tí,và nói theo kiểu xác suất. Ví dụ: (1) Đàn ông, không thuộc diện có bí mật nghề nghiệp, mà nói chuyện bí mật thì có khả năng cao là có liên hệ bất chính. (2) Ông này không thuộc diện có bí mật nghề nghiệp mà cứ nói chuyện kiểu bí mật trước mặt mình, (3) thì có khả năng cao là có liên hệ bất chính.

“Khả năng cao” thì khá chính xác trên phương diện lý luận, nhưng không mạnh như trăm-phần-trăm. Vì vậy, các quí vị thiếu kinh nghiệm thuyết phục thường cứ cố ăn nói viết lách kiểu trăm-phần-trăm cho mạnh mẽ, nhưng làm người nghe và người đọc nhận ra ngay là mình lớ ngớ và không thành thật.

• Điểm yếu của tiền đề 1 của tam đoạn luận suy diễn cũng chính là điểm yếu của kết đề của tam đoạn luận quy nạp. (1) Tôi thấy ông A nói điện thoại bí mật và có liên hệ bất chính. (2) Tôi cũng thấy ông B cũng vây; ông C cũng vậy.… (3) Vì vậy, hễ đàn ông nói chuyện điện thoại bí mật là có liên hệ bất chính.

Kết luận này quá rộng, theo kiểu vơ đũa cả nắm, cho nên không tin được. Nếu giảm lại một tí theo cách nói xác suất thì dễ tin hơn: “Vì vậy, hễ đàn ông nói điện thoại bí mật là có khả năng có liên hệ bất chính.”

• Cả suy diễn và quy nạp (cũng như mọi luận lý khác của con người) đều có môt điểm rất yếu nữa, đó là các từ ngữ của con người luôn luôn có tính cách mù mờ, dùng tạm qua ngày thôi, chứ không giải quyết điều gì rốt ráo được. Ví du: (1) Hồng nhan thì đa truân. (2) Cô ấy đẹp quá. (3) Thành ra đời cô ấy khổ.

Phản biện: “Trời, con nhỏ đó, cái mặt mẹt như vậy mà chị nói là đẹp. Nó cực vì chuyên môn nói xạo, chớ hồng nhan cái gì!”

Ở đây ta thấy, từ “đẹp” rất mù mờ. Đẹp xấu tùy người đối diện, tùy say hay tĩnh. Bất cứ từ nào trong ngôn ngữ con người cũng đều mù mờ như thế. Cho nên, những người tin rằng có thể dùng ngôn ngữ và lý luận để giải quyết mọi thắc mắc ở đời, tìm ra mọi chân lý ở đời, là những người rất thiếu kinh nghiệm về lý luận.

argument

• Một điểm yếu rất lớn khác nữa là tất cả mọi phương thức lý luận (kể cả tam đoạn luận) chỉ do con người tìm ra được trong cuộc sống mắt thấy tai nghe. Ví dụ: Tiền đề “Mọi người đều chết”. Ta biết được điều này là do thấy trong lịch sử (qua sách vở) và chung quanh ta ai cũng có lúc chết, cho nên ta “qui nạp” thành kết luận “Mọi người đều chết.” Rồi ta lại mang kết luận quy nạp này làm tiền đề cho một suy diễn mới, “Mọi người đều chết, hắn là người, cho hắn tha hồ ba hoa chích chòe đi rồi cũng có lúc phải chầu chúa thôi!”

Tức là quy nạp, suy diễn, hay bất kỳ lý luận nào ta sẽ học sau này, cũng chỉ là do kinh nghiệm quan sát của con người mà ra. Cho nên, các lý luận này khi gặp điều gì vượt quá vòng kinh nghiệm thường ngày của con người thì hoàn toàn không sử dụng được. Ví dụ: Tự nhiên có một cô gái rất trẻ, nhìn mới hai mươi mấy, đến gặp bạn và nói: “Tôi nói cho cậu bé hay nhé, cậu năm nay cở bốn mấy, thế thì cậu phải gọi tôi là ‘bà tiên tổ’ mới đúng, vì tôi năm nay 3.125 tuổi rồi.” Nếu cô bé này cứ nhất định như thế, và nếu chúng ta không thể chứng minh được tông tích cô này, toàn hệ thống công an cảnh sát của thế giới không có cách nào chứng minh được cô này từ đâu mà có, thì lúc đó ta có thể thấy lời cô ta nói có một cái gì đó có thể có giá trị, chứ chưa chắc là cô ta điên, và qui luật “Mọi người đều phải chết” có thể không dùng được, tối thiểu là trong trường hợp cô bé này.

• Nhận xét trên đây có hậu quả rất lớn cho đời sống con người trên thế giới ngày nay: Trong những lãnh vực xa hơn kinh nghiệm mắt thấy tai nghe (cộng thêm các máy móc phụ mắt và phụ tai), thì toàn hệ thống suy luận của con người không sử dụng được, và đó là lý do tại sao mà tôn giáo và các truyền thông tâm linh luôn luôn sống mạnh cho đến ngày nay, dù là tôn giáo và các truyền thống tâm kinh nói nhiều điều rất khác với kinh nghiệm hằng ngày và lý luận hằng ngày của ta. Các tôn giáo và truyền thống tâm tinh thường nhấn mạnh đến những kinh nghiệm vượt xa kinh nghiệm hằng ngày—Ví dụ: Nói chuyện với Chúa hiện ra trước mặt, nói chuyện với Quan âm Bồ tát hiện ra trước mặt… Ở đây ta không bàn đúng sai, ta chỉ cần hiểu rằng các kinh nghiệm cá nhân siêu hình, dù thật hay không thật, là các kinh nghiệm không thuộc trong lĩnh vực hoạt dộng của ngôn ngữ và lý luận thông thường. Cho nên nếu ta cố gắng tranh biện về các vấn đề này tức là ta rất thiếu kinh nghiệm về ngôn ngữ và lý luận.

• Một điểm quan trọng khác trong việc sử dụng và hiểu biết ngôn ngữ là: Ngôn ngữ, vì giới hạn rất lớn của nó, thường được sử dụng như là “hé cánh cửa” để mời ta vào bên trong và thấy rõ hơn. Nếu ta không chịu mở cửa bước vào, thì không thể thấy bên trong. Ví dụ: Bạn thường ngày về nhà 6 giờ chiều. Hôm nay không hẹn nhưng lại về 11 giờ đêm, vào nhà thấy nàng còn ngồi đó bên mâm cơm và nói “Em đợi anh từ chiều đến giờ.” Bạn thực sự thấy được gì, thấy được bao nhiêu, trong câu nói đơn sơ nhẹ nhàng đó, hay là chỉ lý luận: “Đến giờ thì đi ngủ đi chứ, tại sao đợi làm gì?”

• Luận lý học là khoa học về sử dụng ngôn ngữ và lý luận chính xác. Nó rất cần cho chúng ta trong công việc và đời sống hằng ngày. Cho nên ta phải nắm vững. Và khi đã nắm vững, ta cũng phải biết ngôn ngữ và lý luận có rất nhiều giới hạn. Khi đọc hay nghe một câu nói, có nghĩa là chúng ta nhận được cái bánh ít bọc lá chuối. Ngôn ngữ lý luận là lớp lá bọc, tư tưởng tâm tình là bánh bên trong. Ta ăn bánh bỏ vỏ, hay ăn vỏ bỏ bánh?

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

Stumble It!

© Copyright 2009, TDH
Licensed for non-commercial use

Gabe — cậu bé phi thường

Gabe sinh ra ở Brazil, không tay không chân, được một gia đình ở Utah (Mỹ) nhận làm con nuôi, và tập sống như những đứa trẻ bình thường khác–lên xuống cầu thang, viết, vẽ, bơi v.v… Em bé phi thường này dạy mỗi chúng ta sức mạnh phi thường có sẵn trong chính mình. Sức sống con người thật là mãnh liệt !!

Video này được chị Tống Lan, thuộc nhóm tình nguyện trẻ Vòng Tay Bè Bạn và office manager của Urban Solutions, Hà Nội, dịch và phụ đề Việt ngữ, tặng em Trần Văn Tiến, tàn tật vì liều mình cứu bạn, hiện đang điều trị tại Viện Bỏng Quốc Gia, Hà Nội.

Cám ơn chị Lan rất nhiều.
.

Đam mê tuyệt vời

Chào các bạn,

Mấy năm về trước (2004) mình có viết một bài trong diễn đàn VNBIZ, nhan đề là Passion for Excellence. Sau đó một thời gian, bài này được chuyển đi rộng rãi trong giới sinh viên học sinh trên mạng và được một số bạn chuyển sang tiếng Việt.

Gần đây có một bạn gửi mình một bản tiếng Việt. Hôm nay gửi đến các bạn cả bản tiếng Việt lẫn bản tiếng Anh. Mình không biết bạn nào dịch bài tiếng Việt này, rất hay. Nếu các bạn nào biết, cho mình gửi lời cám ơn đến người dịch.

Các chữ in đậm trong này là từ trên mạng. Trong bài nguyên thủy tiếng Anh, mình không in đậm chỗ nào cả.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

________________

Các bạn thân mến,

Có điều này cứ khiến tôi trăn trở từ khoảng 10 năm nay. Giờ có lẽ chính là lúc để tôi chia sẻ với các bạn.

Thường thì khi chỉ ra một điểm yếu kém hay một vấn đề nào đó của quốc gia, sẽ có người phản biện rằng, “Chúng ta còn tốt hơn nhiều nước châu Phi,” hay “Nhiều nước đang phát triển còn tệ hơn chúng ta,” hay “Chúng ta là một nước nghèo.”

Đó là cái mà tôi gọi là “Tâm lý của kẻ thua cuộc.”

Thử tưởng tượng khi giáo viên nói với học sinh, “Em có thể học tốt hơn thế này, hãy cố gắng hơn nữa,” và cậu học sinh trả lời, “Thưa thầy, gia đình em nghèo, nhiều bạn học sinh nghèo khác còn học kém hơn em.”

Tại sao lại so sánh mình với những kẻ thua cuộc? Tại sao không đem mình ra so sánh với những người xuất sắc nhất? Thay vì so sánh chúng ta với những nước đang phát triển, hay những nước nghèo, tại sao không nói, “Chúng ta muốn sẽ đánh bại Pháp và Mỹ trong lĩnh vực công nghệ và kinh doanh.”

“Anh điên à? Đó là hai trong số các cường quốc lớn nhất trên thế giới. Thật là hão huyền và viển vông!”

“Người anh em, nếu tôi nhớ không nhầm, chúng ta đã đánh bại hai nước này trên mặt trận quân sự. Vậy thì kinh doanh hay công nghệ có là gì?”

Thử tưởng tượng 70 năm trước, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói với cả nước, “Thưa Đồng bào, Pháp là một trong những cường quốc mạnh nhất thế giới. Chúng ta không thể đọ được với súng ống và đại bác của họ. Các vị thật quá điên rồ khi nghĩ đến chuyện chiến đấu với họ, chưa nói đến việc đánh bại họ.” Nếu Người đã nói như vậy, giờ chúng ta sẽ ra sao?

Thật không may, sau chiến thắng trên mặt trận quân sự, những thế hệ tiếp theo sống đớn hèn, không nghị lực, không ý chí, không khát khao chiến thắng, không hoài bão vượt trội.

Mấy năm trước, khi tôi bay về Việt Nam, vài người bạn của tôi ở Bộ Ngoại giao đón tôi ở sân bay. Tôi đã rất bức xúc trước thực trạng cán bộ Hải quan đòi tiền Việt kiều ở sân bay, nên tôi nói với bạn mình, “Cậu biết không, mấy thằng trong kia chỉ chăm chăm đòi tiền dân chúng.” Một người bạn của tôi nói rằng, “Ồ, các anh có hàng đống tiền cơ mà. Anh nên chia bớt cho những người anh em nghèo khó mới phải.”

Nghe đến đó, tôi rất thất vọng, nên im lặng không trả lời. Đó là tâm lý của kẻ thua cuộc, tâm lý chấp nhận chất lượng hạng ba, và lý luận bảo vệ sự cam chịu đó. Người bạn này của tôi về sau trở thành đại sứ ở nhiều nước, anh ta không hề thấp kém. Vậy bạn có thể hình dung bao nhiêu người ở nước ta có tâm lý của kẻ thua cuộc như thế.

Nếu có nhiều đến thế những người mang tâm lý của kẻ thua cuộc, Việt Nam sẽ đi về đâu?

Chúng ta, thế hệ này, nên cảm thấy hổ thẹn với cha ông. Cha ông ta đã không nói, “Pháp và Mỹ quá mạnh, chúng ta không thể chiến thắng.” Cha ông ta chỉ có một điều duy nhất trong suy nghĩ – chiến thắng hay là chết. Đó chính là hoài bão vượt trội, khát vọng chiến thắng, khao khát không chấp nhận đứng thứ hai (bởi vị trí thứ hai đối với họ chính là cái chết).
the-thao

Nếu muốn chiến thắng, cần phải tư duy như một người thắng cuộc. Và đó là, “Chúng ta muốn thắng những người mạnh nhất. Chúng ta muốn là vô địch. Và chúng ta sẽ tạo ra con đường của mình từ đây đến chiến thắng cuối cùng.” Tâm lý của người thắng cuộc đó sẽ tự động buộc tâm trí ta vào trạng thái không chấp nhận làm kẻ tầm thường, không chấp nhận biểu hiện kém cỏi, không chấp nhận bất cứ cái gì thấp hơn nỗ lực cao nhất, phấn đấu lớn nhất, làm việc chăm chỉ nhất, và tư duy tích cực nhất.

Ai đó có thể nói, “Nhưng chiến đấu vì sinh tồn khác với cạnh tranh để làm giàu. Nền văn hóa của chúng ta chưa bao giờ coi trọng sự giàu sang. Trong nền văn hóa truyền thống, một thầy giáo nghèo là người được coi trọng nhất.”

Câu trả lời của tôi sẽ là:

(1) Khi chúng ta chiến đấu chống lại Pháp và Mỹ, đó không chỉ là chiến đấu để tồn tại. Chúng ta vẫn có thể sống dưới ách đô hộ của Pháp và Mỹ. Nhưng đó là một cuộc sống không có danh dự. Chúng ta chiến đấu vì danh dự, không phải vì sinh tồn.

(2) Ngày nay, chiến đấu để làm giàu và chống đói nghèo cũng là chiến đấu vì danh dự, bởi bất cứ ai trên thế giới cũng đều khinh thường công dân của một nước nghèo.

(3) Nền văn hóa truyền thống tôn vinh cái nghèo là hoàn toàn sai lầm. Là thuốc phiện. Đối với một cá thể, có thể sự giàu sang là vấn đề ý thích cá nhân, và không ảnh hưởng nhiều đến người khác. Nhưng đối với một quốc gia, đói nghèo là cái tội, sự giàu sang là sức mạnh và độc lập. Nếu Việt Nam giàu và mạnh từ một ngàn năm trước, thì Trung Quốc, Pháp, Mông Cổ, Nhật, và Mỹ đã chẳng dám tấn công chúng ta. Nếu thế, ta đã chẳng mất một ngàn năm chiến tranh. Đối với một quốc gia, nghèo nghĩa là yếu, là mở cửa cho những kẻ khác tấn công, là để bị đô hộ và giày xéo bởi các quốc gia khác, là bị khinh thường bởi người dân của các nước giàu có hơn. Hãy đi ra thế giới và bạn sẽ hiểu.

Đói nghèo là căn bệnh của một quốc gia. Đói nghèo cần phải bị xóa bỏ.

Bất kể triết lý cá nhân của mỗi chúng ta về sự giàu sang ra sao, đối với đất nước, làm giàu là mục tiêu chính yếu. Vì vậy hãy nhắc nhau đòi hỏi nhiều hơn nữa ở bản thân mình, ở bạn bè, thầy cô, chính phủ, và những nhà lãnh đạo. Hãy nhìn cách những nước giỏi nhất thế giới, như Nhật, Anh, Úc làm việc, học hỏi từ họ với quyết tâm về sau sẽ vượt qua họ (và họ sẽ vui lòng lắng nghe bạn, các bạn sinh viên, nói lên điều này, bởi bất cứ một giáo viên chân chính nào cũng muốn nhìn thấy cái ngày học trò đánh bại mình). Hãy ngừng suy nghĩ “Chúng ta là một nước nghèo, nên thế này là tốt rồi.” Không, sẽ là không đủ cho tới khi ta có thể đánh bại những người xuất sắc nhất trên thế giới.

Hãy tin vào chính mình. Nếu ta nghĩ ta có thể làm được, thì ta sẽ làm được

Đừng chấp nhận làm kẻ tầm thường. Đừng chấp nhận đứng ở vị trí thứ hai.

Hãy chấp nhận là người xuất sắc nhất.

Luôn đòi hỏi bản thân và dân tộc vượt trội nhất.

Và chúng ta có lịch sử hỗ trợ bên mình, rằng chúng ta có thể làm được những gì mà các dân tộc khác cho là không tưởng.

Hãy có một ngày thật tuyệt vời, bạn nhé!

Hoành

Bài tương tự: Hoa trái đầu tiên

.

the-thao-vu-thi-thu-thuy1
Dear các anh các chị,

There is this thing that has been bothering me seriously for, well, probably 10 years or so. Now I’ve thought that probably I should share it with you all.

Very often, when we point out some weakness, some problem in our nation or our system, I would hear a response like “We do much better than many countries in Africa” or “There are many developing countries doing worse than us” or “We are a poor country.” That is what I call “The Loser’s Mentality.”

Imagine a teacher tells a student, “You can do better than this, try harder,” and the student responds, “Teacher, my family is poor, many poor students do worse than I do.”

Why compare ourselves with the losers? Why can’t we compare ourselves with the best and the brightest instead? Instead of comparing ourselves with other developing countries, other poor countries, why don’t we just say “We want to eventually beat the France and beat the American in technology and business”?

“Are you crazy? These are two of the most advanced countries in the world. You are so day dreaming and unrealistic.”

“Brother, if I remember correctly, we did beat these two countries on the military battlefield already. What’s the big deal about business and technology?”

Imagine that 70 years ago president Ho Chi Minh told the nation, “You guys, France is one of the most advanced nations on earth. We cannot compete with their guns and cannons. You will be crazy to think about fighting them, not mentioning defeating them.” Had he said that, where are we now?
Unfortunately, after we won the military battles, the succeeding generations act like wimps, no back bone, no will, no aspiration to win, no passion for excellence.

Several years ago, when I got out of the airport in Vietnam, several friends from Ministry of Foreign Affairs picked me up at the airport. I was upset at seeing the custom officers asking for Vietkieu’s money at the airport, so I told my friends: “You know, these guys in there just ask for people’s money blatantly.” One of my friends said: “Oh, you guys have a lot of money. You can give some to your poor brothers.”

I was very disappointed when I heard that, so I didn’t respond. That was the loser’s mentality, the mentality of accepting the third-grade quality and coming up with rationale to support such acceptance. This friend of mine later became ambassador to several countries, so he is not low in ranking. You can imagine how many people in our country have such loser’s mentality. If so many of us have such a loser’s mentality, where will Vietnam go?
the-thao-hoang-anh-tuan

We, this generation, should be ashamed to our father’s generation. Our fathers did not say, “The French and the American are so powerful, we cannot beat them.” They had only one thing in mind —- win or die. That is the passion for excellence, the passion for winning, the passion for not accepting to be second (because second to them meant death).

If we want to win, we just have to think like a winner. And that is, “We want to beat the best. We want to be champion. And we will work our way, from here to championship.” Such winner’s mentality will automatically forces our mind into the state of not accepting mediocrity, not accepting low quality performance, not accepting anything less than the best effort, the best trial, the hardest work, the hardest thinking.

Some may say, “But fighting for survival is different than competing to be rich. In our culture, richness is never a big thing. In our traditional culture, being a poor teacher is the best position of all.”

My response would be:

(1) When we fought against the French or the American, that was not fighting for survival. We still could live under the French and the American. It was just not a very honorable way of living. So we were fighting for honor, not survival.

(2) Today, fighting against poverty and for wealth is also fighting for honor, because people around the world always look down on citizens of poor nations.

(3) Our traditional culture of glorifying poverty is just wrong. To use the communist terminology, it is opium. As an individual, probably wealth is a matter of personal taste and may not matter much to some of us. But as a nation, poverty is a sin, wealth is strength and independence. Had Vietnam been wealthy and powerful a thousand years ago, the Chinese, the French, the Mongolian, the Japanese, the American would not have had the guts to attack us. Then we hadn’t had to spend a thousand years fighting. As a nation, poverty means you are weak, you open yourself to attack by other guys, to be dominated and stepped upon by other nations, to be looked down upon by citizen of richer nations. Go around the world, and you will see this point clearer than the day light.

Poverty is a disease of the nation. Poverty has to be erased. Regardless what our personal philosophy about wealth, for the nation, wealth is a major goal.

So we need to tell each other to be more demanding of ourselves and our fiends, our teachers, our government, our leaders. Look at how the best of the world, the Japanese, the British, the Australian work, learn from them with the determination to outdo them later on. (And they will love to hear you, the student, say this, because every good teacher would love to see the day the student can beat him).

Stop thinking that “We are so poor, so this is good enough.” No, it won’t be enough until we can beat the best of the world.

Believe in ourselves. If we think we can do it, then we will do it. Don’t settle for mediocrity. Don’t settle for second. Settle for the best. Demand the best of ourselves and our people. And we have our history to back us up, that we can do what other peoples think impossible.

Have a great day!

Tran Dinh Hoanh
(Washingon DC, September 2004)

Similar article: The first fruit

Stumble It!

© Copyright 2009, TDH
Licensed for non-commercial use

Tôi là người hạnh phúc

Đây là câu chuyện phi thường về một người phi thường: Nick Vujicic, sinh ra đã không tay và không chân, nhưng vẫn sống bình thường, sống mạnh mẽ, sống phi thường và, nhờ đó, đã giúp bao nhiêu người trên thế giới có được sức mạnh tích cực trong đời.

Video này có phụ đề Việt ngữ, do chị Tống Lan giới thiệu. Chị Lan thuộc Tổ chức tình nguyện trẻ Vòng Tay Bè Bạn và là Office Manager của URBAN SOLUTIONS, 5 Tô Ngọc Văn, Hà Nội. Chị Lan đã dịch và phụ đề Việt ngữ cho phim, và gửi video này đặc biệt tặng em Nguyến Văn Tiến, tàn tật vì liều mình cứu bạn, hiện đang điều trị tại Viện Bỏng Quốc Gia, Hà Nội.

Cám ơn chị Lan rất nhiều. Bình an ở cùng chị Lan và các anh chị em Vòng Tay Bè Bạn.

.

Cho người

Spiritual Symbols

Rồi một người giàu nói, Giảng cho chúng tôi về Bố thí.

Và Tiên tri trả lời:

Bạn cho chỉ một tí khi bạn cho tài sản.
Khi cho chính mình bạn mới thực sự cho.
Bởi vì tài sản là gì nếu không là những thứ bạn canh giữ vì lo sợ mình có thể cần đến ngày mai?
Và ngày mai, ngày mai sẽ mang lại gì cho con chó quá cẩn thận đã giấu những khúc xương dưới lớp cát không dấu vết, trên đường theo chân đoàn hành hương đến thành phố linh thiêng?
Và lo sợ cho nhu cầu là gì, nếu không phải chính nó là nhu cầu?
Khi giếng bạn vẫn đầy, phải chăng sợ khát chính là cơn khát chẳng nguôi?

Có những người cho một tí tài sản lớn họ có—và họ cho để được vinh danh, và ham muốn thầm kín đó khiến quà tặng của họ bất toàn.
Và có những người chỉ có một tí nhưng cho tất cả.
Đây là những người tin vào cuộc đời và phần thưởng của cuộc đời, và kho chứa của họ không bao giờ cạn.
Có những người cho với sướng vui, và sướng vui là phần thưởng của họ.
Và có những người cho với đớn đau, và đớn đau rửa tội họ.
Và có những người cho nhưng không biết đau khi cho, cũng không tìm vui sướng, và cũng chẳng cho vì quan tâm đến đức hạnh;
Họ cho như cây hoa đào trong thung lũng kia thở hương vào không gian.
Qua bàn tay của những người như thế, Trời lên tiếng nói, và từ thẳm sâu trong đôi mắt của những người như thế, Trời mỉm cười với Đất.

omkar

Cho khi được hỏi đã là tốt, nhưng tốt hơn là, cho khi không ai hỏi, chỉ do thấu hiểu;
Và với người có bàn tay rộng mở, đi tìm người nhận còn vui sướng hơn cả việc cho.
Và bạn không còn gì để giữ lại sao?
Một ngày nào đó, mọi thứ bạn có sẽ bị cho đi;
Vì vậy, hãy cho bây giờ, để mùa cho có thể là mùa của bạn và không phải là mùa của những người kế thừa gia tài của bạn.

Bạn thường nói, “Tôi sẽ cho, nhưng chỉ cho những người xứng đáng.”
Đám cây trong vườn không nói thế, và đàn thú trên cánh đồng cũng không nói thế.
Chúng cho, để chúng có thể sống, vì giữ lại là diệt vong.
Chắc chắn là, ai xứng đáng nhận được ngày và đêm, cũng xứng đáng nhận được những gì bạn có.
Và ai đã xứng đáng uống biển đời, cũng xứng đáng lấy một cốc nước từ con suối nhỏ nhoi của bạn.
Và còn xứng đáng nào lớn hơn là xứng đáng từ lòng can đảm và lòng tự tin, ồ không, lòng nhân đạo, khi nhận quà?
Bạn là ai mà người ta phải xé lòng ra, mở toạc tự ái ra, để bạn thấy được giá trị trần truồng của họ, và lòng kiêu hãnh sống sượng của họ?
Trước hết, hãy xem lại bạn có xứng đáng là người cho, là khí cụ của đức bố thí, hay không.
Bởi vì sự thật là, chính cuộc đời cho cuộc đời—trong khi bạn, dù tự xem mình là người cho, cũng chỉ là một nhân chứng mà thôi.

Và hỡi những người nhận—và tất cả các bạn đều là người nhận—đừng biết ơn quá nặng, nếu không, bạn sẽ đặt gông cùm lên chính bạn, và lên cả người cho.
Tốt hơn là, hãy cùng người cho bay trên quà tặng như trên đôi cánh;
Bởi vì, quá quan tâm vào món nợ tức là nghi ngờ lòng rộng rãi của người cho, là người có mẹ là Đất với tâm thức tự do và cha chính là Trời.

Tiên tri, Kahlil Gibran.

Trần Đình Hoành dịch

.

8_auspicious_signs_combined
Then a rich man said, Speak to us of Giving.

And he answered:

You give but little when you give of your possessions.
It is when you give of yourself that you truly give.
For what are your possessions but things you keep and guard for fear you may need them tomorrow?
And tomorrow, what shall tomorrow bring to the overprudent dog burying bones in the trackless sand as he follows the pilgrims to the holy city?
And what is fear of need but need itself?
Is not dread of thirst when your well is full, the thirst that is unquenchable?

There are those who give little of the much which they have—and they give it for recognition and their hidden desire makes their gifts unwholesome.
And there are those who have little and give it all.
These are the believers in life and the bounty of life, and their coffer is never empty.
There are those who give with joy, and that joy is their reward.
And there are those who give with pain, and that pain is their baptism.
And there are those who give and know not pain in giving, nor do they seek joy, nor give with mindfulness of virtue;
They give as in yonder valley the myrtle breathes its fragrance into space.
Through the hands of such as these God speaks, and from behind their eyes He smiles upon the earth.

yin-yang

It is well to give when asked, but it is better to give unasked, through understanding;
And to the open-handed the search for one who shall receive is joy greater than giving.
And is there aught you would withhold?
All you have shall some day be given;
Therefore give now, that the season of giving may be yours and not your inheritors’.

You often say, “I would give, but only to the deserving.”
The trees in your orchard say not so, nor the flocks in your pasture.
They give that they may live, for to withhold is to perish.
Surely he who is worthy to receive his days and his nights, is worthy of all else from you.
And he who has deserved to drink from the ocean of life deserves to fill his cup from your little stream.
And what desert greater shall there be, than that which lies in the courage and the confidence, nay the charity, of receiving?
And who are you that men should rend their bosom and unveil their pride, that you may see their worth naked and their pride unabashed?
See first that you yourself deserve to be a giver, and an instrument of giving.
For in truth it is life that gives unto life—while you, who deem yourself a giver, are but a witness.

And you receivers—and you are all receivers—assume no weight of gratitude, lest you lay a yoke upon yourself and upon him who gives.
Rather rise together with the giver on his gifts as on wings;
For to be overmindful of your debt, is to doubt his generosity who has the freehearted earth for mother, and God for father.

The Prophet, Kahlil Gibran.

Stumble It!

© Copyright 2009, TDH
Licensed for non-commercial use

Thói quen

the1bb83-thao2

Sự toàn thiện của đạo đức đến từ thói quen. Ta trở thành chính trực nhờ làm các việc chính trực, từ tốn nhờ làm làm các việc từ tốn, can đảm nhờ làm các việc can đảm.

TDH dịch

.

Moral excellence comes about as a result of habit. We become just by doing just acts, temperate by doing temperate acts, brave by doing brave acts.

Aristotle

Ngôn ngữ thân thể–Mới gặp nhau

Phụ nữ học bắt tay
Phụ nữ học bắt tay

Chào các bạn,

Bắt đầu từ hôm nay chúng ta sẽ đi sâu vào thân ngữ, thỉnh thoảng một bài. Bài đầu tiên chúng ta đã nhắc đến thân ngữ là Ngôn ngữ của cơ thể , sau đó là một ít trong bài Phỏng vấn tuyển việc. Chúng ta sẽ bắt đầu dùng từ “thân ngữ” song song với “ngôn ngữ thân thể”, vì “ngôn ngữ thân thể” là một cụm từ quen thuộc, nhưng quá rườm rà. Hy vọng mọi người sẽ dần dần quen với từ “thân ngữ” ngắn gọn hơn. Trong bài này, chúng ta nói đến thân ngữ sữ dụng trong buổi gặp mặt đầu tiên.

Hôm nay, bạn đóng vai chị Xuân, giám đốc tiếp thị của công ty quảng cáo Rền Vang đến gặp ông Cường, giám đốc điều hành công ty đồ trang trí nội thất Nhà Đẹp , tại văn phòng của ông. Cuộc họp đã được lên lịch cho 9 giờ sáng ngày hôm nay. Nhiệm vụ của bạn là tìm hiểu nhu cầu quảng cáo của Nhà Đẹp và trình bày một số đề nghị quảng cáo. Bạn và ông Cường chưa gặp nhau bao giờ.

• Nếu văn phòng thường mở cửa 8 giờ sáng, thì 9 giờ sáng là giờ làm việc mạnh nhất. Lúc này bụng còn no nhờ ăn sáng, và cũng đã có được 1 tiếng đồng hồ để “nóng máy” rồi, nên làm việc rất tốt. Giờ sau khi ăn trưa cũng tốt, nhưng giờ hẹn trước giờ nghỉ trưa, hoặc trễ vào buổi chiều khi mọi người đã mệt, thì không nên.

• Bạn nên đến trước 5 phút, và nói với cô thư ký của ông Cường là bạn có hẹn 9 giờ, bạn chỉ đến sớm một tí để tránh kẹt xe mà thôi. Mục đích là để cô thư ký và ông Cường không cảm thấy bị bạn hối thúc, trong khi thầm cảm ơn bạn đã rất quan tâm vào cuộc họp. Nhớ là nên lễ độ với cô thư ký. Trong việc nhận xét người, các giám đốc luôn luôn coi trọng ý kiến của thư ký vì “Hmm… bà ấy xem ra rất lễ độ với mình, nhưng thực ra xem thường những người không quyền hành.”

Nếu cô thư ký mời trà, thì nên cám ơn là không khát, để cô ấy khỏi phải pha trà cho bạn (Thư ký không mấy say mê làm việc vặt cho người lạ). Trong khi ngồi chờ, đừng cắm cúi đọc sách, nhưng quan sát khung cảnh trong phòng, bởi vì các quan sát này có thể cho bạn ánh sáng sáng tạo, hơn nữa nó cũng làm cho bạn sống động và thân thiện hơn. Gặp bất cứ người nào đi ngang qua cũng gật đầu khẻ và mỉm cười, vì bạn không biết ai sẽ dự phần trong quyết định ký hợp đồng. Hơn nữa, biết đâu một trong những người đi qua là ông Cường.

• Khi ông Cường ra, theo lễ nghĩa đông phương, thì bạn nên nhường người chủ nhà (và nhất là người lớn tuổi hơn) chìa tay ra trước, rồi bạn mới chìa tay ra để bắt. Tuy nhiên nếu người ấy có vẻ như không bắt tay, thì bạn nên chủ động đưa tay ra bắt, vì bạn phải chứng tỏ là bạn có bản lĩnh làm quân sư, và vì bắt tay thường có hiệu lực kéo người ta lại gần nhau hơn. Nếu là ông Cường là người tây phương (Mr. Smith), thì bạn nên chủ động đưa tay ra trước.

Bắt tay

Chỉ bắt một tay lúc này, nhất là giữa hai người Việt, và nhất là khi bạn là phụ nữ. Tí nữa ta sẽ nói khi nào có thể bắt hai tay, nhưng lúc này là lúc phải một tay. Tay bắt chặt, miệng mỉm cười, mắt nhìn vào mặt hay tốt nhất là vào mắt ông Cường, hơi gật đầu và khom lưng (chỉ một chút xíu) thì tốt. Khi gật đầu và khom lưng (một tí) thì mắt liếc xuống theo đầu, vì gật đầu khom lưng nhưng mắt cứ nhìn vào mắt đối phương là mắt của con nhà võ, không tin đối thủ, không rời mắt đối thủ một giây. Đợi ông Cường buông lỏng tay trước khi bạn buông, để tỏ lòng thân thiện. Đừng buông tay trước.

• Vào phòng, ta là khách thì cái gì cũng để chủ nhân đi trước; điều này đúng ở mọi nơi trên thế giới. Đừng ngồi sớm. Đợi khi người chủ bước đến ghế ngồi của ông ta, và vì là chủ, ông ta sẽ mời bạn ngồi trước, lúc đó mới nên ngồi. Và nếu ông ta mời trà, lúc đó nên, “Cám ơn anh. Cho em xin.” Mời trà mà từ chối là rất thất lễ, dù là người ta hoàn toàn không nghĩ thế thì trong tiềm thức người ta cũng có thể cảm thấy bị “chối bỏ.” Hầu như trong tất cả các nền văn hóa trên thế giới, khi người chủ mời các nghi lễ thân thiện, như trà nước, người khách không nên từ chối. Trong một số nền văn hóa, từ chối là một xúc phạm rất lớn. Lúc này, ông Cường có thể sẽ gọi cô thư ký của ông pha trà cho bạn, nhưng thực ra cô ấy pha trà cho ông chủ cô ấy, chứ không phải cho bạn, cho nên cô ấy sẽ rất vui vẻ pha trà.

• Tất cả các lối xưng hô ta không dùng hàng ngày mà chỉ dùng trên các công văn đọc rất chán, như tôi, ông, giám đốc, thưa ông, v.v… là ngôn ngữ không thể dùng trong giao tiếp hàng ngày. Văn hóa Việt Nam là văn hóa xưng hô gia đình — anh, chị, em, cô, chú, dì, cháu, mình, v.v… Tùy tình thế mà lựa chữ. Tuy nhiên, nếu gặp người lớn tuổi hơn nhưng không chắc là phải gọi là gì, thì cứ mạo hiểm “chị” hoặc “anh” là chắc ăn nhất, vì thà là lầm từ chú cô xuống anh chị, hơn là lầm anh chị thành cô chú. Gọi bằng chức vị, như là “Chào ông giám đốc”, theo ý mình, là người rất kém ngoại giao, không nên cho làm tiếp thị.

Ngay cả khi gặp người ngoại quốc mới lần đầu, mình cũng chỉ nên chào bằng tên họ, như là “Good morning, Mr. Smith. How do you do?” chứ không nên dùng chức vị. Nếu bạn nói tiếng Anh, thì nên có “How do you do?” trong câu chào như trên. Đây là cách chào trịnh trọng và quí phái, không phải là câu hỏi, nên không có câu trả lời. Ví dụ: Ông Smith và cô Brown gặp nhau. Ông Smith chào, “Good morning, Miss Brown. How do you do?” Cô Brown chào lại, “Good morning, Mr. Smith. How do you do?” Ngay cả khi người ta không nói “How do you do?” mình cũng có thể nói được.

Và khi một người ngoại quốc chào mình bằng tên họ, “Good morning, Ms. Trần,” mình nên cho phép họ gọi mình bằng first name cho thân mật, “Good morning, Mr. Smith. My first name is Xuân. Please call me Xuân, just plain Xuân.” Ngay khi người ta gọi mình bằng first name, nhưng lại có Mr. hay Miss trước, thì mình cũng có thể dùng câu trên để cho phép họ gọi mình chỉ là “Xuân” thân mật. Nhưng đừng tự động gọi họ bằng first name, cho đến khi họ cho phép mình rõ ràng. Và cũng đừng nên hỏi “May I call you by your first name?”

• Trong các cuộc họp đông người với quan chức Việt Nam có một lễ nghi đặc biệt, là mới gặp nhau bắt tay xong, hoặc ngồi xuống xong, là mọi người trao đổi danh thiếp. Điều này có lẽ sinh ra từ tiện nghi—phải làm thế thì mọi người mới biết ai là ai. Tuy nhiên, trong những cuộc họp ít người không nên làm thế. Dùng thời gian quý hóa “ban đầu” để nói chuyện “hâm nóng” một tí như là “Cám ơn anh. Em biết anh rất bận. Anh dành thời giờ cho em như thế này thật là quí hóa.”

Bắt tay

• Ngồi thì nên ngồi thoải mái, vắt chân thường rất tốt, nhưng không bao giờ nên tựa ra sau như là “tôi muốn tránh xa ông”, mà nên chồm người về phía trước theo kiểu “tôi muốn gần ông, tôi muốn chăm chú nghe ông nói.”

• Dù là loại họp nào thì mình cũng phải quan tâm đến điều người ta cần–nhu cầu gì, khó khăn gì, giới hạn gì–rồi sau đó mới tìm cách giải quyết được. Điều thân chủ cần trước tiên luôn luôn là một quân sư biết lắng nghe và hỏi. Chưa nghe kỹ và hỏi kỹ, mà đã cho câu trả lời và giới thiệu sản phẩm, thì đó là bán hàng rong, chứ không phải là việc của quân sư. Tất cả mọi thân chủ chỉ thích một loại quân sư—loại nghe kỹ và hỏi kỹ.

• Nếu thân chủ nói một câu có vẻ thử thách, “Sao em thấy trẻ quá vậy? Em ra trường lâu chưa?” thì trước hết là phải để ý rằng người bị thử thách hay rung đùi, hoặc nhịp bàn tay, hoặc vân vê các ngón tay, hoặc mỉm cười lạnh lùng, hoặc liếc mắt xuống đất. Phải tránh các điều này. Tập nghe các câu thử thách một cách tích cực, với ý nghĩa, “Anh muốn biết thêm một tí về em. Em nói đi.” Và mỉm cười trả lời rất vui, “Cám ơn anh. Em đi đâu cũng được khen trẻ. Em rất thích. Thực ra em ra trường cũng … năm rồi, và em đã làm một số dự án lớn cho FPT, Canon, Sony. Mấy dự án nầy đều có trong website của công ty em. Và em cũng không làm một mình anh ạ. Lại có cả một đội làm việc với em trong mọi dự án.”

• Khi nói chuyện thì để ý đến thân ngữ của thân chủ. Nếu ông ta không chú ý nhìn mình, mà lại liếc ngang liếc dọc, nhất là nhìn đồng hồ, thì hãy ngưng mọi chuyện và hỏi, “Hình như anh đang đợi gì đó ạ? Em có làm phiền anh không?” Câu này có rất nhiều ý. Thứ nhất, em xin lỗi nếu em đã phiền anh. Thứ hai, em rất ý tứ. Thứ ba, khi em nói thì anh phải lắng nghe, nếu không thì em không nói nữa. Thứ tư, nếu lúc này anh không nghe em được, thì em muốn biết để em xin cái hẹn khác, hoặc nói chuyện với với phụ tá của anh vậy. Dù là ý nào đi nữa, thì đó là một xi-nhan rất đứng đắn và chuyên nghiệp.

• Trước khi đứng dậy ra về, nhớ trao đổi danh thiếp. Nếu thân chủ đứng dậy bước ra, hãy chờ ông ta đến bước cửa trước, mình theo sau. Và đến cửa, thì người chủ thường đứng đó, mời mình bước ra cửa trước, lúc đó hãy bước ra. Các cử chỉ này chứng tỏ là, “Tôi thích ở lại đây càng lâu càng vui.”

• Cái bắt tay cuối cùng có thể như là cái bắt tay ban đầu. Nhưng bây giờ đã thân mật hơn được một tí, ta có thể dùng cách bắt hai tay rất hay của người Việt Nam—bắt một tay như bình thường, chắc chắn, và dùng bàn tay kia đặt lên trên chổ hai bàn tay đang bắt, rất ấm áp. Cách này nếu dùng với người tây phương thì cực hay. Dùng với người Việt cũng rất tốt, và dùng được cho cả người lớn hơn và nhỏ hơn.

Không nên, tay này bắt và tay kia nắm cổ tay người nọ. Cách bắt tay đó chỉ có thể dùng với bạn thân, hoặc là người dưới mình. Nếu thân chủ bắt tay kiểu đó, có nghĩa là ông ta xem mình như người dưới ông ta. Đó chưa hẳn là điều xấu, vì nó có thể là “em sẽ làm việc cho tôi” hay “tôi xem em như em của tôi.” Cứ theo hướng đó mà suy nghĩ.

• Nếu gặp người Thái Lan, thay vì bắt tay, nên chắp tay cúi đầu theo lối nhà Phật thì tốt hơn.

Nếu gặp phụ nữ Trung Đông, mà mình là đàn ông, thì nên hỏi trước: “May I shake your hand?” bởi vì Hồi giáo cấm phụ nữ bắt tay đàn ông. Và khi chào người Trung Đông, kể cả người không phải Hồi giáo, ta nên nói, “Assalamu Alaikum” (phát âm như tiếng Việt) (Bình an ở cùng anh), và người kia sẽ trả lời, “Wa alaikum assalam” (Và ở cùng anh).

• Dù là làm gì đi nữa, thì cũng nên nhớ câu “thần chú” đã nói trong bài Ngôn ngữ của thân thể: “Tất cả mọi điều ta làm ở bên ngoài đều phải được điều khiển từ trong tâm, thì mới có sức mạnh.” Trước khi vào gặp thân chủ, ta phải tập trung tư tưởng để nghĩ rằng, “Đây là người muốn mình cố vấn giúp đở, nhiệm vụ của mình là xem ông ta như là chủ của mình, phải hiểu được tất cả những khó khăn của ông ấy để giúp ông ấy.” Tức là, xem như mình là phụ tá tay phải của thân chủ; đừng nghĩ mình là người bán hàng. Chính tư tưởng này sẽ điều khiển mọi lời nói và cử chỉ của mình, kể cả ngôn ngữ thân thể.

Chúc các bạn một ngày vui vẻ,

Mến,

Hoành

Stumble It!

© Copyright 2009, TDH
Licensed for non-commercial use

Sinh trưởng của tri thức

growth
Chào các bạn,

Nhan đề đầu tiên mình dùng cho bài này là Trưởng thành của tri thức. Viết một tí mới thấy là “trưởng thành” chưa đủ nghĩa, mà phải là “sinh trưởng.” Ta không thể “trưởng” nếu ta không “sinh”. Sống mà như là “tử” thì không thể “trưởng” được (Dù là có trưởng tử 🙂 . Nhưng trưởng tử không sinh, thì cũng chỉ là tử trương có sình 🙂 ). Vì vậy, phải đổi nhan đề lại là Sinh trưởng của tri thức. Trưởng thành thực sự có nghĩa là sinh và trưởng. Nhưng, đâu là căn bản của sinh trưởng? Continue reading Sinh trưởng của tri thức

Thứ sáu, 13 tháng 3 năm 2009

Bài hôm nay:

Chiến dịch “Ôm không tính tiền”, Video, Free Hugs Campaign, phát xuất từ Úc năm 2004 và lan ra nhiều quốc gia, mang những cái ôm thân ái đến mọi người trên đường phố, anh Trần Đình Hoành nối link.

Để ý ai ?, Danh Ngôn, “Mỗi ngày trên đường đi, trong trường học, bạn để ý đến ai?”, anh Nguyễn Minh Hiển dịch.

Trà Đạo Nhật Bản, Văn Hóa, “Hòa Kính Thanh Tịch”, chị Loan Subaru.

Giữ mình làm lãnh đạo, Trà Đàm, “Ta không ‘trưởng thành’ thành lãnh đạo. Ta giữ gìn bản tánh hiện tại của ta, như lúc này, để làm lãnh đạo”, anh Trần Đình Hoành.

** Tin Sáng: Chị Thùy Dương tóm tắt và nối links.

Ông mù đi biển, Chẩm mù chỉ muốn giúp được cha mẹ một tay lo gánh nặng gia đình, từ học bơi, đến bắt cá bằng vợt, đến chủ tàu ngày nay !!

Yêu nghề giáo chuyên biệt, cô giáo Nguyễn Thảo Hương, tuổi trẻ nhiều tình yêu và năng lực, 2 cử nhân sư phạm, gắn bó sự nghiệp với các học sinh khuyết tật.

Giáo sư 82 tuổi truyền ngoại ngữ bằng thiền, GS Lê Khánh Bằng.

Về bản Nhạp xem già làng đi học, già làng 80 tuổi “đi học thì bọn trẻ mới đi học theo.”

Bài hôm qua >>>

🙂 🙂 🙂 🙂

Đọt Chuối Non

Chiến dịch “Ôm không tính tiền”

Free Hugs Campaign (Chiến dịch “Ôm không tính tiền”) là một phong trào xã hội của những người tình nguyện tặng những cái ôm thân mật cho mọi người nơi công cộng. Phong trào này bắt đầu năm 2004 ở Úc, từ một người đàn ông có bí danh là Juan Mann (đọc nghe như là one man, một người). Chiến dịch nổi tiếng trên thế giới năm 2006 nhờ video nhạc của ban Sick Puppies đặt trên YouTube (dưới đây). Những cái ôm được hiểu như là những hành động nhân ái, vị tha, làm chỉ để đem vui cho người khác. Ngày Free Hugs (quốc tế) năm 2009 là thứ sáu 13 tháng hai và thứ bảy 14 tháng hai.

Nguồn wikipedia