All posts by Trần Đình Hoành

I am an attorney in the Washington DC area, with a Doctor of Law in the US, attended the master program at the National School of Administration of Việt Nam, and graduated from Sài Gòn University Law School. I aso studied philosophy at the School of Letters in Sài Gòn. . I have worked as an anti-trust attorney for Federal Trade Commission and a litigator for a fortune-100 telecom company in Washington DC. I have taught law courses for legal professionals in Việt Nam and still counsel VN government agencies on legal matters. I have founded and managed businesses for me and my family, both law and non-law. I have published many articles on national newspapers and radio stations in Việt Nam. In 1989 I was one of the founding members of US-VN Trade Council, working to re-establish US-VN relationship. Since the early 90's, I have established and managed VNFORUM and VNBIZ forum on VN-related matters; these forums are the subject of a PhD thesis by Dr. Caroline Valverde at UC-Berkeley and her book Transnationalizing Viet Nam. I translate poetry and my translation of "A Request at Đồng Lộc Cemetery" is now engraved on a stone memorial at Đồng Lộc National Shrine in VN. I study and teach the Bible and Buddhism. In 2009 I founded and still manage dotchuoinon.com on positive thinking and two other blogs on Buddhism. In 2015 a group of friends and I founded website CVD - Conversations on Vietnam Development (cvdvn.net). I study the art of leadership with many friends who are religious, business and government leaders from many countries. I have written these books, published by Phu Nu Publishing House in Hanoi: "Positive Thinking to Change Your Life", in Vietnamese (TƯ DUY TÍCH CỰC Thay Đổi Cuộc Sống) (Oct. 2011) "10 Core Values for Success" (10 Giá trị cốt lõi của thành công) (Dec. 2013) "Live a Life Worth Living" (Sống Một Cuộc Đời Đáng Sống) (Oct. 2023) I practice Jiu Jitsu and Tai Chi for health, and play guitar as a hobby, usually accompanying my wife Trần Lê Túy Phượng, aka singer Linh Phượng.

Stand by Me (Phiên bản quốc tế)

Ben E. King, Summerfest 2006
Ben E. King, Summerfest 2006

Chào các bạn,

Stand by Me là bản nhạc rất nổi tiếng của Ben. E. King, ca sĩ nhạc soul và R&B (Rythm & Blues — thuộc dòng nhạc Jazz). Ông sinh năm 1938 ở New York. Hiên thời ở bang New jersey, kế New York, và hoạt động cho quỹ từ thiện Stand by Me do ông sáng lập. John Lennon cũng đã hát bài này.

Phiên bản chúng ta có đây là phiên bản quốc tế, do nhiều người trên khắp thế giới hát, phần nhiều là trên đường phố. Post lên đây để các bạn dùng vài phút mở đầu ngày. Mình cũng đã dịch lời sang tiếng Việt dưới đây.

Mến,

Hoành
.

Stand by me

When the night has come
And the land is dark
And the moon is the only light we’ll see
No I won’t be afraid, no I won’t be afraid
Just as long as you stand, stand by me
And darlin’, darlin’, stand by me,
Oh now now stand by me
Stand by me, stand by me
If the sky that we look upon
Should tumble and fall
And the mountains should crumble to the sea
I won’t cry, I won’t cry, no I won’t shed a tear
Just as long as you stand, stand by me
And darlin’, darlin’, stand by me, oh stand by me
Stand by me, stand by me, stand by me-e, yeah
Whenever you’re in trouble won’t you stand by me,
Oh now now stand by me
Oh stand by me, stand by me, stand by me
Darlin’, darlin’, stand by me-e, stand by me
Oh stand by me, stand by me, stand by me

Ben E. King
.

Đứng bên em

Khi đêm về
Và mặt đất tối tăm
và mặt trăng là ánh sáng duy nhất ta thấy
Không, em sẽ không sợ hãi, không, em sẽ không sợ hãi
Nếu anh đứng bên em, đứng bên em.

Và anh ơi, anh ơi, đứng bên em,
Ô, ngay bây giờ, đứng bên em
Đứng bên em, đứng bên em

Nếu bầu trời ta đang ngắm
Sụp đổ
Và núi ngã vào biển
Em sẽ không khóc, em sẽ không khóc,
Em sẽ không đổ giọt nước mắt nào
Nếu anh đứng bên em, đứng bên em,

Và anh ơi, anh ơi, đứng bên em, Ô đứng bên em
Đứng bên em, đứng bên em, đứng bên em, vâng,

Khi anh gặp khó khăn,
Anh sẽ đứng bên em không?
Ô ngay bây giờ, đứng bên em
Ô đứng bên em, đứng bên em, đứng bên em

Trần Đình Hoành dịch

Thử thánh Anh ngữ hàng ngày — 6.5.2009

englishchallenge

Chào các bạn,

Cám ơn các bạn đã hưởng ứng nhiệt liệt việc dịch bài thơ Dreams hôm qua. Bài thơ đó rất giản dị, không có nhiều điều phải mang qua bản dịch–chỉ có hai hình ảnh đơn giản và một ít nhịp điệu. Như các bạn đã thấy, thử thách trong một bài như vậy thường là làm thế nào để bài dịch của mình có nhịp điệu hay mà không phải thêm thắt gì mấy. Nếu thêm thắt vài từ vô thưởng vô phạt để lấy nhịp điệu thì chẳng ai phàn nàn. Và, như chị Huệ nói, việc chính là đọc lên nghe êm ái như thơ.

Hôm nay chúng ta có 2 thử thách (thay vì một 🙂 )

* Thử thách 1 dễ hơn, nhưng vui hơn (Luật đời là vậy, uống cà phê và chơi game thi vui hơn là giải toán 🙂 ). Đây là một bài từ chị Huỳnh Huệ gọi là Grammar for Life. Gồm các câu nói đến các qui luật grammar Anh ngữ, nhưng áp dụng cho đời sống, để các bạn dịch ra Việt ngữ.

* Thử thách thứ hai là một đoạn ngắn trong một bài báo của Newsweek để các bạn dịch qua Việt ngữ. Sở dĩ mình chọn Newsweek vì Newsweek là tuần báo hàng đầu của Mỹ, và được các thầy cô dạy Anh văn dùng trong lớp nhiều nhất cho học sinh. Newsweek viết bài cũng với mục đích được dùng để dạy Anh văn.

Mình nghĩ là các bạn nên đọc báo nước ngoài thường xuyên để từ từ ngấm “giọng Anh văn mẹ đẻ.”

Chúc các bạn một ngày vui. Hai thử thách này ở dưới đây. Nhào vô chiến đấu nhé.

Mến,

Hoành
_____________

I. Grammar For Life

Live in active voice, not the passive.
Think more about what you make happen than what happens to you.

Live in the indicative mood rather than subjective.
Be concerned with things as they are rather than as they might be.

Live in the present tense facing the duty at hand.
Without regret for the past or worry for the future.

Live in the first person,
criticising yourself rather than finding fault with others.

Live in singular number,
caring more for the approval of your own conscience than for the applause of the crowd.

And if you want a verb to conjugate,
you cannot do better than to take a verb “to love”.

II. Prisoners of the White House

Smart decisions don’t grow in a vacuum. The most successful presidents recognize the fact and encourage debate—and even rivalry—between their advisers. They do their best to consider the options fully. All the same, it’s harder than many people might imagine for our national leaders to keep the field of opinions from turning into a monoculture.

It’s the curse of the modern presidency. Our chief executives need to make an active, aggressive effort to reach beyond their immediate circle of advisers, to demand fresh thinking and avoid the sycophancy that comes with the Oval Office. Otherwise, they’ll only hear what they want to hear—or what their aides tell them. To judge from “War of Necessity, War of Choice,” Richard N. Haass’s new book on presidential decision-making with regard to Iraq, George W. Bush lived in a bubble, partly of his own making, that walled off creative dissent or even, in some cases, common sense.

Mindful of his predecessor, Barack Obama seems to be trying harder to make sure he hears all sides. On the night of April 27, for instance, the president invited to the White House some of his administration’s sharpest critics on the economy, including New York Times columnist Paul Krugman and Columbia University economist Joseph Stiglitz. Over a roast-beef dinner, Obama listened and questioned while Krugman and Stiglitz, both Nobel Prize winners, pushed for more aggressive government intervention in the banking system.

END

Bắt đầu từ người thầy

thay
Nguồn: Tuổi Trẻ

Nhắc đến vấn đề đổi mới phương pháp giảng dạy, người ta thường nhắc đến trang thiết bị hiện đại như phòng thí nghiệm, phương tiện nghe nhìn, học cụ… và thường lại quên điều chính yếu nhất. Đó là sự đổi mới trong tư duy và cách dạy của người thầy cùng sự chủ động hưởng ứng của người học. Từ ngàn xưa Lão Tử đã nói: “Cái gì ta nghe ta quên, cái gì ta thấy ta nhớ, cái gì ta làm ta biết”. Phải tự mình làm mới biết.

Gần đây hơn các nhà tâm lý giáo dục đã đúc kết:

Chúng ta nhớ…………….. Những gì ta

10% …………………………..đọc
20% …………………………..nghe
30% …………………………..thấy
50% …………………………..nghe và thấy (các phương tiện nghe nhìn)
80% …………………………..nói (đối thoại với thầy, thảo luận nhóm…)
90% …………………………..nói và làm điều chúng ta suy nghĩ (đóng kịch, sắm vai thực tập trong phòng thí nghiệm hay hiện trường để áp dụng điều đã học…)

Như thế với phương tiện nghe nhìn, người học nhớ được 50% nội dung trình bày, thế cũng đã tốt. Nhưng nếu chính người học chủ động hành động như nói hay làm thì hiệu quả còn cao hơn. Ví dụ phương pháp sắm vai có thể chỉ chiếm 15 phút mà gây được sự “thức tỉnh” nhớ đời.

Thảo luận nhóm, mô phỏng sắm vai… có thể được thực hiện mà không cần máy móc. Dự một lớp học ở Philippines cách đây vài năm, tôi ngạc nhiên thấy ở một lớp cao học người ta ghi kết quả thảo luận trên những tờ giấy dầu vàng khè. Hỏi ra mới biết có sự cố tình dùng các phương tiện rẻ tiền để người học có thể ứng dụng khi trở về các địa phương nghèo mà không viện cớ thiếu phương tiện.

Các nhà giáo dục nhắc rằng các phương tiện máy móc chỉ là trợ cụ. Người học vẫn thụ động tiếp thu nội dung từ trên xuống, từ bên ngoài vào. Vẫn thiếu điều chính yếu là sự tự học bằng cách tham gia vào quá trình học tập. Do đó vấn đề cốt lõi của thay đổi phương pháp giáo dục là con người chứ không phải cái máy.

thay1
Những khó khăn gặp phải từ phía người thầy

Nếu chỉ cần nhập ồ ạt các trang thiết bị thì chỉ cần tiền. Cái khó xuất phát từ sự thay đổi của người thầy. Nếu thầy là sản phẩm của giáo dục từ chương thì khó biến kiến thức thu nhận được thành “của riêng mình”, một thứ kiến thức được thử thách từ thực tế cuộc sống mà mình có thể “xào qua nấu lại” để ứng dụng trong những hoàn cảnh khác nhau.

Kiến thức ấy vừa sâu vừa rộng để có thể theo dõi những tranh luận của người học mà không sợ họ kéo mình ra ngoài đề, lại tự tin đủ để tổng hợp, tóm lược được những gì được phát biểu một cách lộn xộn trong lớp học. Kiến thức ấy vững chắc đủ để ta có thể sáng tạo trong phương pháp truyền đạt từ tình hình cụ thể của lớp học. Ví dụ thay vì giảng bài có thể đặt ra một số câu hỏi thảo luận nhóm. (Theo kinh nghiệm bản thân thì các nhóm nêu lên được hầu hết các khía cạnh của nội dung. Người thầy chỉ cần thêm những gì còn thiếu, nối kết các ý kiến thành một tổng thể logic).

Tuy nhiên, kiểu dạy này rất mệt, đòi hỏi người thầy nhiều sáng tạo để tùy cơ ứng biến. Và nếu dựa vào trình độ và đặc điểm của người học thì không lớp nào giống lớp nào. Người thầy phải tập trung tư tưởng rất cao để theo dõi diễn biến của lớp học và nắm vững phản hồi từ người học. Chính sự tiếp thu phản hồi này khiến người học thích thú vì ý kiến của họ được coi trọng, từ đó họ phấn khởi tham gia hơn nữa.

Cản ngại từ người học coi vậy mà không khó khắc phục

Đối với trẻ cấp I, II dễ đưa vào phương pháp giáo dục chủ động. Đối với sinh viên và nhất là đối với người lớn tuổi thì khó hơn nhiều. Sinh viên quen thói thụ động và nhút nhát. Họ bám vào “cái chữ” như cái phao an toàn. Bước vào lớp là mọi người lấy tập chép. Họ rất bỡ ngỡ khi được yêu cầu đừng ghi chép và phải suy nghĩ. Điều này rất khó vì họ chỉ quen tiếp thu như cái máy nhớ. Họ càng sợ phát biểu vì e bị chê cười, đánh giá, qui kết. Mối lo dai dẳng là điểm thi. Học theo kiểu “lang bang” này biết viết gì trong bài thi? Các buổi họp nhóm chưa hấp dẫn vì thực hiện chưa đúng qui cách.

Nhưng rồi với tuổi trẻ họ cũng khám phá được sự thu hút của tính sáng tạo, của các mối tương tác của những khám phá nhờ cách học vui vui học. Và trên hết sự gần gũi giữa người dạy và người học. Và từ từ họ khám phá là kiến thức thu nhận được là của chính họ. Và họ không còn nói vẹt nữa.

Trở lại người thầy

Nắm vững nội dung không đủ, người thầy cần một số kiến thức và kỹ năng tâm lý xã hội, đặc biệt là “năng động nhóm” để hướng dẫn sinh viên về tâm lý nhóm nhỏ, về cách tổ chức và điều hành thế nào cho mọi người cùng tham gia, về cách tóm lược và trình bày nội dung thảo luận. Người thầy cũng cần một số kỹ năng trong học vui vui học như sắm vai, mô phỏng, thu thập và dạy bằng tình huống.

Quan trọng nhất là cách cho bài thi để đánh giá một cách cụ thể nhất những gì sinh viên đã thu hoạch được. Nghĩa là ngoài việc kiểm tra kiến thức, người thầy còn đánh giá được cách sinh viên liên hệ chúng với thực tế và với bản thân. Một bài thi mà sinh viên không chép ở người khác được vì họ phải nói về chính họ, nhưng họ rất thỏa mãn vì chính sinh viên sẽ đánh giá được sự tiến bộ của bản thân.

Thầy còn phải nắm vững sự tiến bộ của sinh viên bằng những bài tập nhỏ để kiểm tra kết quả học tập ở từng giai đoạn, những lỗ hổng cần khỏa lấp nếu có bằng các bài tập nhỏ, nhật ký buổi học, những thu hoạch bất chợt. Thái độ tiếp nhận ý kiến khác lạ từ sinh viên của thầy rất quan trọng, bởi lẽ nếu thầy vội vã chê bai hay bất đồng ý kiến thì người học mất hứng và không dám phát biểu nữa.

Tài liệu học tập

Nhiều trường bàn về mở rộng thư viện… nhưng chưa chắc gì sinh viên chịu đọc nếu tiếp tục học theo lối cũ vì họ chỉ cần học thuộc lòng bài giảng của thầy để thi đậu. Điều lý thú trong giáo dục chủ động là khi thảo luận và tranh cãi trong nhóm và khi có sự tranh luận giữa các nhóm họ sẽ đi tìm tài liệu để đọc thêm. Nhiều bạn thú nhận là họ chịu khó đọc sách từ khi học theo phương pháp mới. Muốn sinh viên tự học thì phải có đầy đủ tài liệu tham khảo. Tiếc rằng trong một số ngành như các ngành khoa học xã hội hiện đại như tâm lý học, xã hội học thì tài liệu quá cũ, quá thiếu. Đây không phải là cản ngại nhỏ.

NGUYỄN THỊ OANH

Thử thách Anh ngữ hàng ngày — 5.5.2009

englishchallenge

Chào các bạn,

Bài hôm qua (4.5.2009) vẫn còn nhiều điều chúng ta phải tiếp tục bàn. Tuy nhiên, ta vẫn cứ thêm một bài dịch nhỏ cho thử thách hôm nay. Bài này do chị Huỳnh Huệ gởi đến–bài thơ Dreams của Langston Hughes, và một giới thiêu ngắn về tác giả do chi Huệ viết.

Các bạn cứ tiếp tục dịch và post nhé. Rôi chúng ta sẽ cùng nghiên cứu từng câu từng chữ.

Mến,

Hoành

DREAMS ( by Langston Hughes)

Hold fast to dreams
For if dreams die
Life is a broken-winged bird
That cannot fly.
Hold fast to dreams
For when dreams go
Life is a barren field
Frozen with snow.

James Mercer Langston Hughes, (1/02/ 1902 – 22/05/1967) là một nhà thơ Người Mỹ gốc Phi. Ông còn là tiểu thuyết gia,  kịch tác gia, cây viết truyện ngắn và nhà bình luận. Ông là một trong những nhà cách tân đầu tiên của thơ ca mới kết hợp nhiều thể loại và nhạc jazz của người da đen. Ông nổi tiếng nhất với những tác phẩm trong thời kỳ Phục Hưng Harlem.

Langston Hughes là tác giả của 16 tập thơ, nhiều tiểu thuyết, truyện ngắn, kịch và truyện viết cho thiếu nhi. Đáng kể nhất có thể kể đến các tập thơ: Shakespeare in Harlem (Shakespeare ở Harlem, 1942), One Way Ticket (Vé một chiều, 1949), Montage of a Dream Deferred (Dựng lại giấc mơ bị hoãn, 1951), The Panther and the Lash (Con báo và cái roi, 1967); các vở kịch: Mulatto (Người da ngăm, 1935), Black Nativity (Giáng sinh đen, 1961); các tập truyện: Laughing to Keep From Crying (Cười để khỏi khóc, 1952), The Big Sea (Biển lớn, 1940); tiểu thuyết: Not Without Laughter (Cười qua nước mắt, 1930)… Một đặc điểm của thơ Langston Hughes là sự kết hợp nhiều thể loại và sử dụng những bài hát dân gian của người da đen.

Biết mình để truyền thông có hiệu quả

knowthyself2

Nguồn: Tuổi Trẻ
Bài tương ứng trên ĐCN: Biết Mình

Ai trong chúng ta cũng muốn có mối quan hệ sâu sắc với người khác. Ai cũng muốn ảnh hưởng được người khác, mong họ làm theo ý của chúng ta. Ấy vậy mà trong không ít trường hợp, kết quả lại ngược lại. Chúng ta bị xa lánh hay người mà ta muốn ảnh hưởng lại làm ngược ý của chúng ta. Vì sao?

Về mặt chủ quan, chúng ta luôn nghĩ rằng ta muốn điều tốt cho người khác, ví dụ như khi cha mẹ dạy con hay sếp góp ý cho cấp dưới, nhưng thông điệp phát ra không vô thưởng vô phạt. Nó bị tác động bởi những yếu tố chủ quan chi phối người phát ra nó. Ví dụ như những động cơ, nhu cầu, những cảm xúc không làm chủ được khiến cho mục đích truyền thông bị sai lệch.

Ông B ưa “nổ” và trở thành “trung tâm của vũ trụ” trong một tập thể. Ông đùa cũng có duyên nhưng lần lần người ta cũng ngán rồi xa lánh ông. Nhu cầu thầm kín của ông là được coi trọng, nể nang mà ông không có được từ người thân.

Bà C đi đâu cũng khoe con, khoe của vì mặc cảm thua kém. Chị E dạy con rất khắt khe nhưng không hiệu quả vì chị hay nặng lời với chúng khi giận chồng, nghĩa là chị giận cá chém thớt. Anh H toàn báo cáo tích cực với sếp vì muốn lấy điểm và những vấn đề thật của cơ quan không được giải quyết.

knowthyself3

Đối với người phát có hai cơ chế tâm lý cần quan tâm. Đó là khái niệm hay hình ảnh về bản thân và cơ chế tự vệ. Hình ảnh về bản thân là cách chúng ta tự đánh giá mình một cách không ý thức… Nó hình thành từ cách người xung quanh phản ứng, đối xử, đánh giá chúng ta từ lúc nhỏ và hình ảnh này có xu hướng tự khẳng định với thời gian dù nó có thể thay đổi khi hoàn cảnh thay đổi đột ngột và mạnh mẽ. (Khái niệm này được giải thích cặn kẽ trong loạt bài “Ý thức về giá trị bản thân” – TTCN 2003).

Nếu tự đánh giá mình thấp, ta có mặc cảm tự ti, ta có thể khép kín, không dám tự khẳng định mình, không dám bày tỏ nhu cầu, nguyện vọng của mình. Ngược lại, ta có thể che giấu mặc cảm thua thiệt bằng cách “nổ” hay khoe khoang như trường hợp ông B và bà C kể trên. Nếu tự đánh giá mình tích cực thì ta tự tin và người tự tin không cần khoe khoang, màu mè. Họ trung thực, giản dị, dễ hòa đồng. Các mối quan hệ sẽ trong suốt, trôi chảy.

Cơ chế thứ hai ảnh hưởng quá trình truyền thông là cơ chế tự vệ. Những cố gắng để đối phó với những khó khăn, đau khổ, bực dọc, lo âu, mặc cảm tội lỗi… trong cuộc sống có khi rất khó chịu đựng nên ta có xu hướng lờ đi hoặc tránh né bằng những cách như sau:

a) Đè nén: là cố tình gạt ra ngoài ý thức các ý tưởng, cảm xúc mà ta không thích. Ta tự dối mình bằng cách tránh né thực tế không vui thay vì công nhận nó. Bằng cách này, ta tự chôn mình trong một thế giới theo ý muốn và đứng ngoài thực tế.
knowthyself1

b) Tránh né: ta không chối bỏ thực tế đau buồn, nhưng tô hồng nó như bà C tô hồng thực tế bằng cách khoe khoang của cải, con cái.

c) Bù đắp: là cố gắng che đậy một khuyết điểm, khuyết tật bằng cách phát triển một nét tích cực khác. Điều này khá bình thường và không có gì xấu. Ví dụ như người mù có thính giác tốt nên cố học ngoại ngữ, học hát thật hay… Tuy nhiên, nếu làm thái quá có thể mất tác dụng. Ông B tận dụng sự có duyên của mình để vui với bạn bè, để bù đắp cho sự thiếu quan tâm của vợ con. Nhưng khi ông “nổ” quá thì người ta ngán.

d) Phóng chiếu: là gán cho người khác những ý kiến hay lỗi lầm của mình. Không thích một thầy giáo trong lớp, N tuyên bố “đa số” học sinh chống đối thầy. Hoặc ta đổ lỗi cho số phận về những thất bại của ta.

e) Viện lý lẽ: đưa ra những lý lẽ không đúng sự thật để biện minh cho hành động của ta: “tôi đánh con vì tôi thương con”.

f) Giận cá chém thớt: như bà mẹ E giận chồng lại đánh con kể trên.

g) Thoái bộ: là trở lại hành vi thơ ấu để tránh né thử thách, khỏi có trách nhiệm. Đứa bé đã lớn đột nhiên đái dầm, bắt mẹ đút ăn vì mẹ mới có em bé. Nó sợ mất tình thương của mẹ, sợ mất vị trí ưu tiên nên muốn trở thành em bé. Người lớn cũng có những lúc đau ít mà tỏ ra đau nhiều để được chăm sóc…
knowthyself
Trên đây là những phản ứng mà ta có thể quan sát hằng ngày khi con người phải đối phó với những khó khăn thử thách nội tâm và không có sức mạnh để nhìn nhận thực tế. Chúng chi phối thái độ và hành động của ta khiến ta không còn thật với mình và với người khác. Điều này làm cho các mối quan hệ thêm khó khăn, nội dung truyền thông bị rối nhiễu.

Do đó, để truyền thông có hiệu quả, cần biết mình, biết các động cơ và cảm xúc chi phối mình. Làm chủ chúng, điều chỉnh chúng để phát ra những thông điệp càng khách quan càng tốt. Khi truyền thông, ta muốn điều tốt cho người kia nhưng lắm khi ta lại làm tổn thương họ, gây mất tin tưởng, làm cho đôi bên khó gần nhau. Ta tưởng ta giúp họ nhưng thực tế ta đang giải tỏa nhu cầu của chính ta.

NGUYỄN THỊ OANH

Thử thách Anh ngữ hàng ngày — 4.5.2009

englishchallenge
Chào các bạn,

Cuối tuần chúng ta đã dịch thơ Anh sang Việt, hôm nay đổi chiều, dịch từ Việt sang Anh. Nhưng đây không phải là thơ, thoải mái hơn.

Dưới đây là một đoạn ngắn trong bài viết của cố Thạc sĩ Nguyễn Thị Oanh có post hôm nay trên Đọt Chuối Non. Các bạn cùng dịch để vinh danh cô Oanh nhé.

“Cuộc sống hiện đại với những tiến bộ kinh tế kỹ thuật lại tạo ra nhiều sức ép về mặt tâm lý, xã hội, đặc biệt đối với giới trẻ. Gia đình lúng túng trong nuôi dạy con, xã hội tạo lối sống bon chen… từ đó khi gặp thử thách thay vì đối diện với những vấn đề nan giải và tìm những giải pháp tích cực, các bạn trẻ dễ có xu hướng buông xuôi, tự hủy hoại bản thân với những thói quen tiêu cực như ăn chơi quá đà, thức khuya dậy trễ, tìm sự khuây khỏa với thuốc lá, rượu, ma túy… Có bạn tìm cả cái chết…

Trong khi các nước khác đã có những dịch vụ tâm lý xã hội để giúp các cá nhân tự giải tỏa thì ở nước ta lại thiếu nhiều. Thậm chí có thể nói là không có. Khi giáo dục còn khiếm khuyết, một bộ phận bạn trẻ chưa phát triển được một nhân cách lành mạnh, tự tin.”

Vì đây không phải là dịch thơ hay các văn bản quan trọng, chúng ta không cần phải theo quá sát ý nghĩa của từng chữ. Tuy nhiên, những bài thế này lại cho mình một loại vấn đề khác cũng hơi khó. Đó là làm sao dùng từ và hành văn thông suốt mạch lac như người có tiếng mẹ đẻ là tiếng Anh, nếu không thì nghe rất “ngoại quốc.”

Để mình đề nghị vài cụm từ, đở cho các bạn tìm kiếm. Mấy đề nghị này chỉ dùng cho bài này thôi nhé. Cho một bài khác, thì lúc đó hãy tính.

Gia đình lúng túng trong nuội dạy con: Families struggle to raise kids

Xã hội tạo lối sống bon chen: Life outside the family is just a rat race (cuộc chạy đua của chuột) (Chữ society thường không dùng để chỉ đời sống bên ngoài gia đình)

Giúp các cá nhân tự giải tỏa: To help individuals deal with pressure (giải quyết áp lực).

Các bạn dùng vài quy luật mình đã nói qua trong các bài trước: Giản dị, sáng sủa, ngắn gọn, tránh passive voice.

Bài này không nhằm mục đích nghiên cứu vocabulary, chỉ chú tâm đến cách viết. Các bạn nên viết rồi post vào comment. Cố gắng thực hành nhé. Chỉ đọc bài của người khác viết thì chẳng lợi ích gì hết. Trust me. Thực hành, thực hành, thực hành. Chẳng có cách nào khác. Đọc không phải là thực hành. Thực hành một buổi bằng đọc 100 buổi. Hãy sử dụng thời gian và năng lực của chúng ta một cách khôn khéo. Hãy dùng 1 giờ với hiệu năng của 10 giờ.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

Quí trọng bản thân để tận hưởng cuộc sống

muahexanh

Nguồn: Tuổi Trẻ

Cuộc sống hiện đại với những tiến bộ kinh tế kỹ thuật lại tạo ra nhiều sức ép về mặt tâm lý, xã hội, đặc biệt đối với giới trẻ. Gia đình lúng túng trong nuôi dạy con, xã hội tạo lối sống bon chen… từ đó khi gặp thử thách thay vì đối diện với những vấn đề nan giải và tìm những giải pháp tích cực, các bạn trẻ dễ có xu hướng buông xuôi, tự hủy hoại bản thân với những thói quen tiêu cực như ăn chơi quá đà, thức khuya dậy trễ, tìm sự khuây khỏa với thuốc lá, rượu, ma túy… Có bạn tìm cả cái chết…

Trong khi các nước khác đã có những dịch vụ tâm lý xã hội để giúp các cá nhân tự giải tỏa thì ở nước ta lại thiếu nhiều. Thậm chí có thể nói là không có. Khi giáo dục còn khiếm khuyết, một bộ phận bạn trẻ chưa phát triển được một nhân cách lành mạnh, tự tin.

Vậy thì trước mắt chúng ta hãy tự giúp mình bằng một lối sống tích cực. Bằng cách nào?

– Trước tiên tập trung vào những điểm sáng của cuộc sống: những gương vượt khó, học giỏi, về Mùa hè xanh và đặc biệt là hãnh diện với những thành công nho nhỏ của chính bản thân. Hãy thưởng thức một cuốn phim hay, cười thật nhiều với một vở hài kịch. Hãy biết ơn về những tình bạn mà ta có, hãy nâng niu em bé xinh xắn kia.

– Bắt đầu một ngày với tư tưởng tích cực: ngày hôm nay tôi sẽ làm một điều có ích, tôi sẽ tha thứ ai đó đã làm phật lòng tôi, tôi sẽ cố gắng đúng giờ và giữ thói quen này…

– Quan trọng là thực hiện những điều tôi đã quyết tâm. Vì làm đi đôi với nói sẽ đem lại sự tự tin. Mỗi ngày lặp lại hành động tốt sẽ tạo thói quen và thói quen được tích lũy sẽ tạo thành tính cách. Tính cách tốt được mọi người thương yêu, kính trọng.

– Hãy luôn hoàn thiện bản thân bằng những cố gắng nho nhỏ. Như mỗi ngày đọc vài trang sách, đi bộ 30 phút, tập một bài hát hay, một trò chơi mới để giúp vui cho tập thể. Phát triển năng khiếu giúp ta sống vui và đem lại niềm vui cho người khác.

– Tập thói quen sống kỷ luật và ngăn nắp như đúng giờ, giờ nào việc ấy, vật nào chỗ nấy. Sống có kỷ luật là làm chủ bản thân, làm người khác tôn trọng mình, không trở thành nô lệ của những thói quen xấu.

– Không tránh né sự thật, nhìn thẳng vào nó, tôn trọng nó, nói lên sự thật một cách khéo léo và tế nhị mỗi khi cần vì sự thật “giải phóng chúng ta”. Thói quen này giúp bạn ngẩng đầu lên. Bạn sẽ không còn cảm giác thiếu sót với xã hội vì đã góp phần xây dựng nó.

– Có trách nhiệm với bản thân và người khác. Luôn quan tâm đến người khác.

Sống như trên bạn sẽ quí trọng bản thân. Ý thức được về giá trị bản thân bạn mới không hủy hoại nó. Ý thức về giá trị bản thân bạn sẽ suy nghĩ độc lập, sống tự lập và không phụ thuộc người khác lẫn các chất kích thích. Biết quí trọng bản thân bạn sẽ nâng niu cuộc sống và luôn hoàn thiện nó.

Bạn đừng tham lam vội vã để trở thành một con người hoàn hảo. Chỉ cần mỗi ngày bạn có một động tác tích cực, tập một thói quen nhỏ và kiên trì với nó. Chúc bạn thành công, yêu cuộc sống và bản thân mình.

NGUYỄN THỊ OANH

Khen vợ

ninh
Chào các bạn,

Bài này viết cho các bạn phái nam. Trước đây mình đã viết bài Khen. Và nếu thực tập thì cách thực tập của Khổng tử luôn luôn là hay nhất: Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Tập từ trong tâm mình trước, rồi ngay trong nhà, rồi từ từ bước ra đường.

Rất tiếc là chúng ta thường hay xem bụt nhà không thiêng. Và mọi phép xử thế tốt ta thường tưởng là để sử dụng với mấy công ty ngoài đường, mà không mang về dùng với người nhà, nhất là với bà đầm của mình ở nhà. Không làm được với người trong nhà thì cái làm với người ngoài chắc là không được thành thật lắm rồi. Vậy thì quan tâm đến bà đầm ở nhà một tí, và đừng tiếc lời khen. Văn hóa Việt nói chung là chống khen. Nhưng sự thật là khi ta khen thành thật, ta có thể khen ai đó 100 lần một ngày người đó cũng không thấy chán, và càng nghe thì càng cảm động. Lời khen thành thật có giá trị như nước, uống cả ngày, ngày nào cũng phải uống, càng làm việc nhiều càng cần uống.

Hôm nay đọc được bài này trên VNExpress–Đàn ông Việt thương ‘quên’ nịnh vợ. Mình post đây để nhắc nhở các bạn phe ta.

Mến,

Hoành

couple

Đàn ông Việt thường ‘quên’ nịnh vợ

Có nhiều anh biết phụ nữ thích khen, cho nên, đến cơ quan hay gặp chị em ở đâu anh ta cũng khen lấy khen để. Nhưng về đến nhà, anh ta lại để ‘bảo bối’ ấy ngoài cửa. Có anh lại sợ khen lắm, vợ phổng mũi, đâm ra tinh tướng.

Có một bà vợ thường làm các món ăn rất công phu, cầu kỳ, nhưng chồng lại tỏ ra không biết thưởng thức. Một hôm bà tức mình, luộc một mớ cỏ cho chồng ăn. Chồng ngạc nhiên: “Cái gì thế này? Không thể nào nhai được!”. Bà vợ vui vẻ hẳn lên: “Thế ra ông cũng biết là không ăn được à? Vì mọi khi tôi thấy ông ăn cái gì cũng như nhau cả mà!”.

Ai cũng biết “đàn ông yêu bằng mắt, đàn bà yêu bằng tai”, nhưng hình như với các ông chồng đã kết hôn vài năm, câu nói đó bị họ quên mất. Có chị may được bộ váy mới, mặc thử vào cứ đứng ngắm mãi trước gương, hết quay đằng trước lại quay đằng sau, mà chồng ngồi đọc báo ngay cạnh chẳng nói câu nào. Cực chẳng đã chị phải cất lời hỏi: “Anh thấy em mặc bộ này có được không?”. Anh ta vẫn không rời mắt khỏi tờ báo: “Cũng được”.

Đó là chưa kể còn có những anh, vợ mặc kiểu gì cũng chê không thương tiếc: “Bộ này không được, trông buồn cười lắm!”, khiến vợ ỉu xìu như bánh đa gặp nước. Có chị cảm thấy bất lực, dường như không thể làm đẹp để chồng hài lòng được. Và những ông chồng như thế, dẫu có tận tụy với vợ con đến mức nào cũng khó được vợ yêu, gia đình hạnh phúc.

Người phương Tây có một nét văn hóa truyền thống là khen phụ nữ, mà nhiều người gọi đùa là “nịnh đầm”. Nó gần như một thứ “nghĩa vụ bất thành văn” của phái mạnh, không biết điều đó không phải là người lịch sự, văn minh. Chúng ta du nhập và ảnh hưởng khá đậm nét văn hóa phương Tây, nhưng “văn hóa nịnh đầm” rất đẹp này lại không vào được bao nhiêu.

Ở Việt Nam, rất ít khi nghe chồng khen vợ. Ngay cả những người đàn ông có thể nói là lịch lãm hình như cũng nghĩ rằng, nói chung phái đẹp cần được đàn ông tán thưởng, trừ… vợ anh ta. Liệu họ có biết, người vợ nào cũng sung sướng khi được chồng khen? Chắc anh nào cũng biết, bằng chứng là khi chinh phục nàng, chẳng anh nào lại không sử dụng thứ vũ khí này, nào là: Em có mái tóc rất đẹp, em có giọng nói rất hay, có anh còn “dẻo mỏ”: “Em hút hồn anh ngay từ lần đầu mới gặp. Đôi mắt em sao mà sâu thăm thẳm”…

Thế nhưng, từ khi đã thành “của nhà”, họ không làm thế nữa. Họ xếp thứ vũ khí sắc bén đó vào kho, để cho nó hoen rỉ mà không biết, người vợ vẫn cần những lời có cánh ấy. Có người còn đi tìm nó không phải từ chồng.

Có nhiều đàn ông biết phụ nữ thích khen, cho nên, đến cơ quan hay gặp phụ nữ ở đâu đó, anh ta cũng khen lấy khen để. Nhưng chỉ cần về đến nhà, anh ta lại để “bảo bối” ấy ngoài cửa. Có anh lại sợ khen lắm, vợ phổng mũi, đâm ra “tinh tướng”. Cũng có thể họ nghĩ, đàn bà nào chẳng thích khen, nhưng thích lời khen “ngoại” chứ thích gì “của nội”? Nếu nghĩ thế, bạn đã lầm. Con khen cũng thích. Chồng khen lại càng thích. Lời khen chẳng bao giờ thừa cả. Bạn thử hỏi các ca sĩ xem, có ai thấy chán ngán cảnh khán giả vỗ tay nhiều quá không, có ai khó chịu khi những “fan” hâm mộ vây quanh xin chữ ký? Những người sống gần mình, quen biết với mình mà vẫn khen mình thì càng có giá trị.

Người ta kể rằng, có một gã chiếm được hàng trăm trái tim phụ nữ và sau đó chiếm đoạt luôn cả tài sản của họ nên cuối cùng phải vào tù. Một nhà tâm lý tò mò đến tận nơi xem hắn có bí quyết gì. Ông ta bất ngờ vì đó là một gã đã luống tuổi, hình thức bình thường, duy chỉ có cái miệng rất duyên. Ông hỏi: “Làm thế nào anh chinh phục được nhiều phụ nữ như vậy?”. Hắn trả lời cụt lủn: “Có gì đâu. Cứ khen nhiều vào”.

Nhà tâm lý nổi tiếng người Mỹ, Dale Carnegie thường đi giảng ở các lớp học làm vợ, làm chồng. Một hôm, sau bài giảng về nghệ thuật làm chồng, ông ra bài tập cho học viên về nhà làm. Ông yêu cầu tất cả đàn ông thực hiện một “Tuần lễ khen vợ”, ngày nào cũng khen từ sáng đến tối. Ông cam đoan sẽ thấy hiệu quả ngay. Học viên chẳng mấy người tin. Có người còn nghĩ là ông nói đùa, nhưng số đông vẫn thử “làm bài tập” xem sao và kết quả thật bất ngờ.

Một anh vừa ngủ dậy, nhớ đến bài tập, nói luôn: “Nằm cạnh em sướng thật, mùa đông thì ấm, mùa hè thì mát”. Vợ tát yêu một cái. Vợ tập thể dục xong, chồng lại khen: “Hồi này trông thần sắc em rất tốt!”. Vợ càng ngạc nhiên vì chưa bao giờ thấy chồng để ý đến mình. Lúc dọn món ăn sáng ra, anh ta lại xoa hai bàn tay: “Chà, em làm món gì trông ngon thế!”. Vợ sung sướng nguýt yêu chồng một cái nữa. Ăn xong lại khen: “Anh thấy đi ăn sáng ở đâu cũng chẳng bằng em làm!”.

Trước khi đi làm, ngắm vợ một phút, anh lại thốt lên: “Em mặc bộ này trông quá được!”. Không ngờ chỉ trong vòng một tiếng, mới khen có mấy câu mà chưa bao giờ anh ta thấy trên gương mặt vợ lại có những nét hạnh phúc ngời ngời đến thế. Ra đến cửa anh còn quay lại: “Anh đi nhá. Em rất tuyệt”. Hết tuần, có học viên báo cáo với thầy là chỉ sau một “tuần lễ khen”, anh ta được hưởng hạnh phúc hơn 10 năm chung sống cộng lại.

Một khi đã kết hôn, ai chẳng muốn có hôn nhân hạnh phúc, muốn được vợ yêu. Và để đạt được mục đích ấy, nhiều người đã phải đổ biết bao công sức. Họ lao động cật lực hàng chục giờ mỗi ngày, mua tặng vợ những tặng phẩm đắt tiền, đưa cả nhà đi nghỉ cuối tuần. Nhưng có một thứ, người vợ nào cũng khao khát thì họ lại quên. Đó là lời khen.

Tuy nhiên, nếu vợ đẹp thì khen đẹp, nếu quần áo đẹp thì khen quần áo, nếu ngoại hình không đẹp thì khen công dung ngôn hạnh… miễn sao phải chân thật. Khen bừa lỡ thành mỉa mai thì sẽ tác dụng ngược đấy.

(Chuyên gia tâm lý Trịnh Trung Hòa, Phụ nữ)

Nhà Xã Hội Học Nguyễn Thị Oanh qua đời

nguyenthioanh

Chào các bạn,

Các bạn trong giới giáo dục và đọc giả Tuổi Trẻ hẳn đã quen thuôc với nhà xã hội học Nguyễn thị Oanh, và tin chị Oanh đã qua đời vào ngày 1.5.2009 tại Bệnh viện Chợ Rấy, Sài Gòn.

Chi Oanh thật là người có nhiều tâm huyết và trăn trở với giáo dục và sự phát triển của ngành xã hội học nước nhà. Mình và chị Oanh biết nhau qua Internet và bạn bè, nhưng chưa có dịp gặp nhau tận mặt. Dù vậy mình vẫn luôn luôn có sự đồng cảm với chị. Chị thường đọc bài mình viết, và ngược lại mình thường đọc bài của chị. Chị còn giới thiệu dotchuoinon cho mọi người.

Chị Oanh mất là đất nuớc mất một nhân tài. Nhưng những điều chị dạy và viết xưa nay hẳn là sẽ tiếp tục đơm hoa kết trái trong lòng chúng ta.

Các bạn có thể đọc thêm chi tiết trong bản tin báo tử của Tuôi Trẻ.

Để tỏ lòng kính mến và ngưỡng mộ chi Oanh, Đọt Chuối Non sẽ post một số bài chị đã viết trên Tuổi Trẻ vào những ngày tới.

Đàng nào đi nữa thì chuyến xe cuối cùng của chị hẳn là không có nhiều lô cốt và ổ gà như mấy con đường Thành Phố.

Chúc các bạn một ngày vui.

Hoành

Nếp sống văn minh đô thị phải bắt đầu từ giáo dục nhân cách

garbage

Bài của cố Thạc sĩ Nguyễn Thị Oanh trên Tuổi Trẻ.

Bức xúc trước vấn đề, tôi quyết định ghi chép những điều mắt thấy tai nghe trong một tuần lễ vào tháng 11-2008.

Từ nhà tôi ở Hóc Môn (TP.HCM) xuống Bình Thạnh tôi thường đi hai chuyến xe buýt hoặc xe lam.

– Trên xe lam có 5-6 em nữ sinh mặc áo dài trắng thật dễ thương. Khi tôi chuẩn bị bước lên xe, tất cả các em đều làm thinh, cúi đầu, làm như không thấy gì hết. Ý đồ thủ cái chỗ ngồi của mình khá rõ ràng. Cho tới khi bác tài hô lên: “Nhường chỗ cho bà già ngồi với chớ!” thì một người đàn ông trung niên đứng dậy. Hôm ấy, tôi thật buồn, không phải cho tôi mà cho chính các em.

– Sau đó, tôi đi trên một chiếc xe buýt chỉ có một cửa. Cửa hẹp chỉ đủ một người bước lên hay xuống. Tôi không cách nào bước xuống được vì một nữ sinh lớn (hay sinh viên!) bước lên, xộc thẳng vào người tôi khiến tôi không thể nhúc nhích. Tôi buộc phải nói với em “mất lịch sự quá”, khi đó em mới bước trở xuống đường nhường chỗ cho tôi.

– Trên một chiếc xe lam chờ khởi hành, một bà có vẻ khá giả mở chiếc bóp da khá đẹp ra “làm vệ sinh”. Bà quăng cả chục vé xe buýt cũ xuống đường.

– Từ sự kiện này, tôi quan sát tiếp xem người ta làm sao với vé xe. Buổi sáng sớm đa số khách là sinh viên học sinh, đa số các em cũng bỏ ngay vé xuống sàn xe. Một hôm một nữ thanh niên mua một chiếc nhíp nhổ lông mày từ một bà bán hàng rong ngồi đối diện. Em xé cái bao cactông và cũng bỏ ngay xuống sàn xe.

Từ bến xe tới chỗ đến trên đường Xô Viết Nghệ Tĩnh, tôi phải đi bộ trên một con hẻm nhỏ khá rộn rịp.

– Để tránh nắng tôi đi bên trái, mắt ngó cửa hàng bên phải. Suýt chút nữa tôi hứng một đống nước bọt do một người đàn ông trung niên từ trong nhà phun ra.

– Hối hận vì chính mình đã sai khi đi bên trái tôi sang bên phải, nếu đi nhanh hơn một chút chắc tôi đã lãnh một tàn thuốc đang cháy đỏ mà một ông khác đứng trong nhà quăng ra.

– Thêm vài bước tôi thấy một bà mẹ xi tè cho đứa con trai chừng 8-9 tháng tuổi. Tôi tự nói với mình: té ra nạn “đái đường” được “giáo dục” ngay từ nhỏ!

Quẹo ra đường Xô Viết Nghệ Tĩnh là một con đường lớn, tôi thấy gì?

– Sáng sớm các bà đua nhau đẩy rác từ sân nhà mình ra đường. Một bà hất nguyên một đống mảnh chai mà quên rằng người đi đường có thể đạp lên.

– Ngó xuống miệng cống tôi thấy nào là hộp nhựa, lon thiếc, hộp giấy, chén bể, bao xốp…
garbagecan

Vậy mà trong một lớp kỹ năng làm cha mẹ, khi tôi yêu cầu học viên nêu một tính từ có thể diễn đạt chính xác nhất hành vi này, đa số chỉ cho là “thiếu ý thức”. Nói vậy là quá nhẹ. Theo tôi là “vô văn hóa, thiếu nhân cách” hay hơn thế nữa…

Nguyên nhân do đâu?

Cách hành xử của cá nhân được hình thành từ sự vận hành của xã hội. Phải nói rằng trong xã hội ta hiện nay sự sa sút về nhân cách là khá trầm trọng. Điều chúng ta quan tâm không phải là phép xã giao bên ngoài. Những sự kiện mà tôi vừa đưa lên không thể sửa đổi bằng luật pháp hay giáo dục công dân như nó được dạy ngày nay. Đây là vấn đề nhân cách và nhân cách không thể hình thành bằng lời kêu gọi suông. Những điều ta vừa thấy biểu hiện một sự ích kỷ cực đoan.

Người ta chỉ biết mình, lợi ích của mình. Rác rến hay những điều bất lợi cho mình thì đẩy qua cho người khác, đẩy ra ngoài đường. Những kiểu chạy xe lấn lướt ngoài đường không phải là do không biết luật mà là biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân cực đoan này.

Từ đâu có chủ nghĩa cá nhân cực đoan ấy? Có người cho rằng đó là hậu quả của chủ nghĩa tập thể cực đoan một thời. Cũng như giờ đây người ta tham lam vật chất để “trả thù” cho giai đoạn thắt lưng buộc bụng đã qua. Và hành vi của giới trẻ là bắt chước người lớn thôi. Trong thanh niên có thể còn có sự mất niềm tin từ nhiều gương xấu nữa.

Các nhà nghiên cứu về phát triển còn cho rằng biểu hiện của sự chậm phát triển là người ta chỉ quan tâm đến bản thân, gia đình, lối xóm của mình và không với được tầm nhìn tới cộng đồng và xã hội rộng hơn. Một xã hội chậm phát triển khi ý thức cộng đồng hay ý thức về lợi ích chung còn yếu kém. Nó lớn lên dần với nỗ lực tổ chức và giáo dục cộng đồng. Trong một xã hội đô thị hóa nhanh chóng, sự “vô danh” còn khiến cá nhân hành động như không có ai xung quanh mình.

Vì sao ta hết sức quan tâm đến giáo dục mà chưa đạt được kết quả mong muốn?

– Trước tiên là gia đình. Trong quá trình chuyển đổi, gia đình đang bị khủng hoảng và đang vô cùng lúng túng trong giáo dục con cái.

– Nhà trường thì quên dạy người.

– Đoàn thể thì chú trọng vào giáo dục chính trị, luật pháp, ít (hay chưa) quan tâm đến giáo dục nhân cách.

– Giáo dục xã hội thì quá tốn kém với truyền thông đại chúng, cách làm phô trương, hình thức mà ít hiệu quả.

Phía nào cũng đầy quyết tâm và thiện chí, nhưng cái thiếu là nhận thức đúng thế nào là truyền thông thay đổi hành vi.

Đây cũng là một từ thời thượng nhưng còn là một khẩu hiệu mới chưa được nhận thức đúng. Truyền thông một chiều cho dù là bằng phương tiện tối tân nhất cũng chỉ cung cấp thông tin hay kiến thức, bởi từ thay đổi kiến thức đến thay đổi thái độ và hành vi còn là một quá trình dài.

garbagestreet

Cuộc thể nghiệm về lòng bò trong Thế chiến thứ 2 ở châu Âu đã tạo ra bước ngoặt lớn trong nhận thức khoa học về tâm lý xã hội. Được giao nhiệm vụ làm sao giúp các bà nội trợ châu Âu tập thói quen sử dụng lòng bò khi thực phẩm khan hiếm, các nhà tâm lý xã hội đã thử nghiệm hai phương pháp thuyết trình và thảo luận nhóm trên những bà nội trợ với những đặc điểm dân số học giống nhau. Kết quả: nhóm nghe thuyết trình chỉ có 3% sử dụng lòng bò (thay đổi hành vi ẩm thực), còn ở nhóm thảo luận thì kết quả là trên 30%… Từ đó có kết luận rằng thuyết trình (thông tin từ trên xuống) và thảo luận nhóm (với sự tham gia tích cực của người học) có kết quả về mặt thông tin như nhau nhưng kết quả về thay đổi hành vi thì cao hơn nhiều với thảo luận nhóm.

Nhưng tiếc thay dù thảo luận nhóm cũng đang “mốt” nhưng kết quả cũng không cao vì người ta đang sử dụng một công cụ khoa học mà không thèm học! Trong khi ở các nước, nhóm như một đối tượng khoa học được dạy ở các trường đại học và người học phải trả học phí cao để mong làm việc và quản lý hiệu quả.

Các phương pháp giáo dục chủ động chưa có hiệu quả vì người học được (bị) dạy bằng phương pháp áp đặt.

Cần quan tâm hơn nữa đến các phương pháp “giáo dục gây thức tỉnh” như sắm vai, tranh luận, những trò chơi giáo dục và đặc biệt là các phương pháp học bằng hành (learning by doing). Như Lão Tử đã nói:

Điều gì ta nghe ta quên
Điều gì ta thấy ta nhớ
Điều gì ta làm ta biết

Có nhiều cách học bằng hành trong các khóa tập huấn và vô số việc mà trẻ có thể cùng làm với người lớn trong gia đình, ở trường học hay ngoài đường. Một trường hợp học bằng hành tuyệt đẹp. Một hôm ngồi ở tòa soạn Tuổi Trẻ, tôi thấy một bà mẹ trẻ cùng con trai độ 8-9 tuổi khiêng một gói đồ vào phòng tiếp nhận hàng cứu trợ của báo. Gói đồ này bà mẹ dư sức cầm một mình. Nhưng chị muốn cho chính đứa nhỏ là người thực hiện cử chỉ đẹp này.

Giáo dục bằng vi môi trường

Vi môi trường (micro milieu) – một khái niệm vừa là tên và nội dung của một quyển sách hay của nhà xã hội học Nga Sytchov. Vi môi trường là một đơn vị tập thể mà người ta cùng sống hay làm việc như gia đình, nhà trường, cơ quan, xí nghiệp có ranh giới quản lý riêng. Nó có một tác động toàn diện trên cá nhân là thành viên qua những yếu tố như:

– Môi trường vật chất mà mọi người phải giữ gìn và tôn trọng

– Kỷ luật chung mà mọi người phải tuân thủ

– Những quy tắc bất thành văn mà mọi người chấp nhận hay gắn bó

– Và quan hệ tương tác giữa các thành viên từ góc độ cảm xúc hay công việc

garbagecan1
Theo các nhà khoa học khác, giáo dục bắt đầu từ tổ chức, nghĩa là khi một vi môi trường được tổ chức và vận hành tốt, cá nhân tất yếu sẽ tích cực theo nề nếp chung. Ví dụ như không dám xả rác ngoài sân, phá hoa trong vườn, đi về không đúng giờ, không dám vi phạm kỷ luật chung…

Khi đi vào nề nếp anh ta được hưởng tình thương yêu của cha mẹ, sự tôn trọng của đồng nghiệp hay khen thưởng của cấp trên. Nếu không sẽ bị chế tài về mặt kỷ luật hay tình cảm. Một nhân cách tốt có được là nhờ “sự tích cực” này mà bao nhiêu lời kêu gọi hay răn đe không tạo ra được. Ở đây, vai trò gương mẫu của cha mẹ hay nhà quản lý quan trọng bậc nhất không chỉ trong chấp hành kỷ luật mà trong khả năng tạo ra bầu không khí tập thể tích cực, mối tương tác hài hòa, nhờ đó các thành viên gắn bó và có những hành vi tích cực.

Một ví dụ lý thú về xe buýt. Ban đầu không ai quan tâm đến tôi như một người cao tuổi. Lần lần với sự kêu gọi khẩn trương của các anh chị phụ xế, các thanh niên đứng dậy nhường chỗ một cách miễn cưỡng. Từ đó họ đứng dậy nhanh hơn, và nay thanh niên cả nam lẫn nữ đều nhanh nhẹn đứng dậy nhường chỗ khi tôi bước lên xe. Vì sao? Chưa hẳn là một hành vi môi trường nhưng xe buýt không mang tính vô danh như ngoài đường, có sự chế tài của người xung quanh làm cá nhân biết xấu hổ. Những cử chỉ ấy sẽ thành thói quen và người ta trở nên hãnh diện với nó nữa. Giáo dục phải từ trong cuộc sống là vậy.

Một số đồng nghiệp trong ngành công tác xã hội quyết định nhắc nhở thẳng với các đối tượng làm sai ngoài đường, miễn là mình nhẹ nhàng và lễ phép. Trên xe buýt bạn tôi thấy một ông già đùa dai và đùa dơ với một vài thanh niên. Chị lễ phép đề nghị ông không nên làm như vậy. Ông phớt lờ, nhưng ba bốn chị em phụ nữ khác lên tiếng. Chừng đó ông ngưng luôn. Tôi cũng nhận xét khi thấy cử chỉ không đúng hoặc khen khi thấy các em nhỏ có những cử chỉ đẹp.

Sử dụng áp lực nhóm trong cộng đồng là một phương cách tốt. Một thành viên tổ tiết kiệm phụ nữ nọ không đi họp vì vừa bị chồng đánh bầm cả mình. Sau buổi họp, cả nhóm kéo vô nhà thăm chị. Không ngờ từ đó về sau ông chồng không còn đánh vợ nữa.

Để kết luận

Nếp sống văn minh đô thị phải bắt đầu từ nếp nhà nơi mà nền tảng ban đầu của nhân cách được hình thành (ví dụ như sự nhường nhịn, quan tâm chia sẻ hay việc giữ gìn kỷ luật chung…). Cho nên các lớp dạy kỹ năng làm cha mẹ cần được tổ chức rộng rãi như trên thế giới.

Kế đó là thực hiện cuộc cách mạng rốt ráo về phương pháp giáo dục ở nhà trường, đoàn thể và cộng đồng. Trên thế giới, các lớp giáo dục tráng niên, giáo dục cộng đồng được tổ chức để dạy người lớn ý thức cộng đồng. Điều này không thể thiếu trong xã hội hiện đại.

Tất cả những điều này đòi hỏi những nhà giáo dục mới, mà việc đầu tiên cần làm là cập nhật hóa kiến thức về tâm lý xã hội cơ sở của giáo dục học.

NGUYỄN THỊ OANH (ThS phát triển cộng đồng)

Chiến đấu với chính mình?

fightagainstmyself
Chào các bạn,

Có lẽ ai trong chúng ta cũng đã quen với câu “Cuộc chiến khó nhất là cuộc chiến chống lại chính mình.” Và điều này thì thật là chính xác. Tự thắng mình để trở thành thiện hảo hơn một tí mỗi ngày không phải là dễ, và đó là cuộc đấu tranh suốt đời. Thắng kẻ địch bên ngoài thì rất dễ, tự thắng thì khó hơn nghìn lần. (Mình không cưỡng được máu tiếu lâm để nêu ra đây một ví dụ rất rõ. Đảng ta bách chiến bách thắng với tất cả hùng binh thiên hạ, vậy mà chỉ có cái việc chống tham nhũng thôi thì cà xịch cà tang muôn năm 🙂 ).

Nhưng hôm nay mình muốn bàn đến một vấn đề tế nhị trong suy tưởng. Khi nói đến “cuộc chiến tự thắng” phải chăng ta rất dễ bị lỗi lầm là nghĩ đến những điểm yếu của chính ta như là một kẻ thù cần phải triệt hạ? Và nếu như vậy thì không phải là ta tự chối bỏ một phần của chính ta sao? Và như vậy không phải là ta sẽ bị đặt trong một tình trạng đau khổ trong tâm thức hay sao? “Cái tên tồi tệ này, sao nó cứ ở mãi trong tôi, làm sao để tôi giết chết nó đi để con người tôi thánh thiện ra?” Đó không phải là một hình thức split personality (phân chia nhân cách) mà những trường hợp nặng nề là một loại tâm bệnh nguy hiểm hay sao?

Nếu các bạn nghĩ rằng đây là một câu hỏi lý thuyết chẳng liên hệ gì đến cuộc sống, thì hãy nghĩ lại xem. Đã bao nhiêu lần chúng ta đã rất bực mình với yếu kém của chính mình? Đã bao nhiêu lần ta làm ta thất vọng? Đã bao nhiêu lần ta hầu như tuyệt vọng về yếu kém của mình? Lý thuyết không?

Nhưng nếu suy nghĩ sâu xa hơn một tí thì lối suy nghĩ “chiến đấu chống lại chính mình” có gì không ổn, phải không các bạn? Bao nhiêu chuyện trên đời phải chiến đấu, cơm, gạo, điện, nước, nhà ở, áo quần, công việc, lại ôm thêm cuộc chiến chống lại chính mình 24 giờ một ngày! Sống sao nổi?

fightagainstmyself1
Trước đây nhiều năm, nếu mình nhớ không lầm, đọc cuốn giảng Kinh Kim Cang của Thiền Sư Nhất Hạnh, có đoạn Thiền Sư nói về ôm ấp cái giận, cái đau của mình, đừng chối bỏ hay xua đuổi nó, hãy nhìn nhận và yêu thương nó, vì nó chính là mình, là một phần của mình. Phản ứng đầu tiên của mình là “Hmm… thiền sư này nói sao nghe… chùa quá… nhưng… nghe cũng rất mới lạ. Ít ra là nó đề nghị cách giải quyết vấn đề chỉ có một phe, là phe ta, chứ không có thằng tôi thiện đánh nhau với thằng tôi ác. Không có mâu thuẫn nội tâm.” Vậy là mình để tâm nghiên cứu vấn đề thêm một tí.

Và sau đó thì mình nhận ra ngay là “nhìn nhận và ôm ấp cái yếu, cái đau của mình” đã là một thực hành tâm lý được sử dụng rất nhiều từ Tây sang Đông. Kể từ Sigmund Freud, khoa phân tâm học đã chữa bệnh tâm thần bằng cách giúp bệnh nhân từ từ đi ngược về dĩ vãng để lôi ra ngoài ánh sáng những kinh nghiêm không vui bị chôn giấu (repressed) trong tiềm thức từ trước và ngày nay sinh ra những vấn đề tâm lý. Khi bệnh nhân (với sự giúp sức của bác sĩ phân tâm) lôi ra đúng “chàng đạo tặc” và bệnh nhân xác nhận là “chính hắn”, thì bệnh nhân tức thì lành bệnh. Điều này thì rất căn bản; mình đã biết từ hồi học triết ở Đại Học Văn Khoa Sài Gòn, nhưng chỉ nghĩ đến “mấy người bị bệnh” chứ không nghĩ đến áp dụng vào đời sống thường nhật cho chính mình.

Trong khoảng một thập niên trở lại đây, khoa tâm lý phổ thông (pop psychology) ở Mỹ cũng chú tâm đến đối diện niềm đau trong tâm, nói nó ra ngoài (talk it out), để có thể làm hòa (reconcile) với nó và với chính mình, và đóng cửa vấn đề (put a closure on the problem).

(Vấn đề là lý thuyết này trở thành quá hấp dẫn đến nỗi ngày nay nó trở thành các reality show (show thực tế) trên TV Mỹ, trong đó mọi người được trả tiền để mang những chuyện kín trong gia đình, lên TV nói cho thiên hạ nghe, để reconcile và put a closure!! Mà mình cũng không biết các chuyện này có thực đến mức nào hay các vị sẵn sàng phịa đủ thứ chuyện điên khùng chỉ để lấy tiền bỏ túi).
asianicecream

Ở phương Đông thì dĩ nhiên là các thiền sư đã thực hành từ hơn 2 nghìn năm nay bằng cách thiền quán—ngồi quan sát tâm thức của mình rất kỹ, vui thì thấy mình vui và biết tại sao mình vui, buồn thì biết mình buồn và tại sao buồn, giận thì biết mình giận và tại sao giận. Các thiền sư chỉ làm việc giản dị là quán sát để thấy mà thôi, chứ không triệt hạ, thanh toán cái xấu của mình gì hết. Chỉ có thiền định và thiền quán, chứ không có thiền triệt hạ, thiền đấu tranh. Chỉ nhìn chính mình, cái xấu lẫn cái tốt của mình, một cách dịu dàng, rõ ràng, khộng kết án, không phán đoán, không nhảy cỡn, không than khóc, chỉ với một quả tim thân ái dịu dàng và sáng suốt. Từ từ cái yếu của mình sẽ biến đi, như tên trộm đã được biết tên biết mặt và được cư xử dấu ái và nay biến thành người lương thiện.

Tư tưởng thiện ác thanh toán nhau là tư tưởng căn bản của triết lý và văn minh Tây phương mấy ngàn năm nay. Nó là một loại tư tưởng dễ gây xung đột trong tâm thức con người cũng như chiến tranh trong xã hội. Những năm gần đây, Phật học trở thành một hấp lực với trí thức Tây phương cũng vì lý do hòa ái là căn bản của Phật học.

Nhưng mình không viết bài này để nói về Phật học, mà nói về một điểm quan trọng trong tâm thức chúng ta. Chúng ta không cần phải chối bỏ hay chạy trốn sự yếu đuối của mình. Cứ nhìn nhận nó, ôm ấp nó, nói chuyện với nó, với yêu thương dấu ái, vì nó là một phần của mình, nó là mình. Không vì lý do gì mà mình có thể tự ghét mình, tự coi thường mình, tự nguyền rủa mình—đó là một thái độ thiếu lành mạnh. Điều này được xem là căn bản của tâm lý học ngày nay, từ Tây sang Đông, không có ngoại lệ.

Giả sử cánh tay trái của mình bị liệt, mình không cần phải chặt nó đi, hay thù ghét nó, hay cố tình xem như nó không có đó. Cứ vẫn nhìn nhận nó, yêu thương nó, và xử với nó như là cánh tay của mình. Một ngày nào đó mình sẽ khám phá ra là mình vẫn có thể làm các việc phi thường, với một cánh tay bị liệt.

Chúc các bạn cuối tuần nghỉ lễ vui vẻ thoải mái.

Mến,

Hoành

© Copyright 2009, TDH
www.dotchuoinon.com
Licensed for non-commercial use

Chào mừng Ngày Quốc tế Lao động

1.5.1913 (Nguồn: Thư Viện Quốc Hội Mỹ)
1.5.1913 (Nguồn: Thư Viện Quốc Hội Mỹ)

Chào các bạn,

Ngày 1/5 là Ngày Quốc tế Lao Động, còn gọi là “Ngày Tháng Năm” (May Day). Đây là ngày lễ tại nhiều quốc gia trên thế giới, dành để tôn vinh lao động và gây dựng đoàn kết lao động trên thế giới.

Tại Mỹ và Canada, Ngày Lao Động là ngày Thứ hai đầu tiên của tháng 9. Cho năm nay (2009), Ngày Lao Động ở Mỹ và Canada là ngày 7 tháng 9. Ngày Lao Động tháng 9 này có nguồn gốc từ Canada. Ngày 3 tháng 9 năm 1872, một số nghiệp đoàn ở Canada biểu tình chống việc chính phủ bắt một số nhân công tuần hành “đòi tuần làm việc 58 giờ” trong một cuộc biểu tình trước đó vài tháng. Cuộc biểu tình tháng 9 thành công. Ngày 23.7.1894, thủ tướng Canada John Thompson ký sắc lệnh ấn định Ngày Lao Động trong tháng 9.

Tại Mỹ, kể tử ngày 5 tháng 9 năm 1882, nghiệp đoàn cũng đã bắt đầu tuần hành hàng năm vào đầu tháng 9 như ở Canada. Và năm 1894, năm Canada chính thức nhận Ngày Lao Động tháng 9, thống thống Mỹ Grover Celveland cũng chấp nhận Ngày Lao Động tháng 9 như Canada, để cạnh tranh với Ngày Quốc Tế Lao Động 1 tháng 5, là ngày Đệ Nhị Quốc Tế Cộng Sản đã chọn là Ngày Quốc Tế Lao Động và được cả thế giới đồng ý.

Nhưng, lịch sử có nhiều chuyện buồn cười, và lãnh đạo thế giới đôi khi hành động như trẻ con :-), vì Ngày Quốc Tế Lao Động 1 tháng 5 có nguồn gốc từ Mỹ !!

Truyền đơn kêu gọi biểu tình ở Quảng trường Haymarket 4.5.1886
Truyền đơn kêu gọi biểu tình ở Quảng trường Haymarket 4.5.1886

Khởi đầu với biến cố Haymarket, ngày Thứ ba, 4.5.1886, tại Quảng trường Haymarket ở Chicago. Ba ngày trước đó, 1.5.1886, hàng chục nghìn nhân công ở Chicago và các thành phố khác đã biểu tình đòi “Ngày làm việc 8 tiếng.” Ngày 4/5, cảnh sát đàn áp, một trái nổ không biết ai ném, giết chết một nhân viên cảnh sát. 8 lãnh đạo nghiệp đoàn bị bắt. 7 người bị tuyên án tử hình và 1 người án tù 15 năm, dù là không có bằng chứng gì nối cuộc ném bom với các lãnh đạo nghiệp đoàn, và cho đến ngày nay người ta vẫn không xác minh được là ai đã ném bom. Hai người án tử hình sau đó được thống đốc bang Illinois giảm xuống thành án chung thân. Trước ngày tử hình, một người tự tử trong tù, 4 người bị đưa ra pháp trường.

Quảng trường Haymarket 4.5.1886
Quảng trường Haymarket 4.5.1886

Vụ án này làm giới lao động và báo chí nước Mỹ phẩn nộ, đưa đến nhiều đấu tranh của lao động ở Mỹ cũng như tại các nơi khác trên thế giới. Năm 1888, Hiệp Hội Lao Động Mỹ (AFL — American Federation of Labor) quyết đinh chọn ngày 1.5.1890 (kỷ niệm biến cố Haymarket) để biểu tình tranh đấu đòi “Ngày làm việc 8 tiếng.” Năm 1889, chủ tịch AFL, Samuel Gompers, gửi một lá thư đến hội nghị đầu tiên của Đệ Nhị Quốc Tế Cộng Sản đang họp ở Paris, đề nghi một cuộc đấu tranh quốc tế cho “Ngày làm việc 8 tiếng.” Đệ Nhị Quốc Tế liền quyết định gọi một “cuộc biểu tình quốc tế vĩ đại” cùng một ngày trên khắp thế giới, vào ngày 1 tháng 5.

Bảng Di Tích Lịch Sử tại Haymarket ngày nay
Bảng Di Tích Lịch Sử tại Haymarket ngày nay

Chúng ta có thể đọc bài sau đây trên VietNamNet, viết ngày 1.5.2007.


Lịch sử ngày Quốc tế Lao động 1/5

(VietNamNet) – Hằng năm, người lao động trên toàn thế giới lại cùng nhau kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động 1/5. Tại Việt Nam, đây là một ngày mà mọi người dân ai ai cũng được nghỉ ngơi, vui chơi không phải làm việc. Tuy vậy, không phải ai cũng biết được lịch sử cũng như ý nghĩa trọng đại của ngày Quốc tế Lao động, nhất là các bạn trẻ thế hệ 8X, 9X.

Trong cuộc đấu tranh giữa tư bản và lao động, vấn đề thời gian lao động có ý nghĩa quan trọng. Ngay sau khi thành lập Quốc tế I năm 1864, Mác coi việc rút ngắn thời gian lao động là nhiệm vụ đấu tranh của giai cấp vô sản. Tại Đại hội lần thứ nhất của Quốc tế Cộng sản I họp tại Gieneve (Thụy Sĩ) tháng 9/1866, vấn đề đấu tranh cho ngày làm việc 8 giờ được coi là nhiệm vụ quan trọng. Khẩu hiệu ngày làm 8 giờ sớm xuất hiện trong một số nơi của nước Anh, nước có nền công nghiệp phát triển sớm nhất. Yêu sách này dần lan sang các nước khác.

Chuẩn bị cho 1/5, Senaatintori square, Helsinki, Finland
Chuẩn bị cho 1/5, Senaatintori square, Helsinki, Finland

Do sự kiện giới công nhân viên chức Anh di cư sang Mỹ, phong trào đòi làm việc 8 giờ phát triển mạnh ở nước Mỹ từ năm 1827, đi đôi với nó là sự nảy nở và phát triển phong trào Công đoàn. Năm 1868, giới cầm quyền Mỹ buộc phải thông qua đạo luật ấn định ngày làm 8 giờ trong các cơ quan, xí nghiệp thuộc Chính phủ. Nhưng các xí nghiệp tư nhân vẫn giữ ngày làm việc từ 11 đến 12 giờ.

Năm 1884, tại thành phố công nghiệp lớn Chicago, Đại hội Liên đoàn Lao động Mỹ thông qua nghị quyết nêu rõ: “…Từ ngày 1/5/1886, ngày lao động của tất cả các công nhân sẽ là 8 giờ”. Sở dĩ ngày 1/5 được chọn bởi đây là ngày bắt đầu một năm kế toán tại hầu hết các nhà máy, xí nghiệp ở Mỹ. Vào ngày này, hợp đồng mới giữa thợ và chủ sẽ được ký. Giới chủ tư bản có thể biết trước quyết định của công nhân mà không kiếm cớ chối từ.

1.5.1948 New York City
1.5.1948 New York City

Ngày 1/5/1886, do yêu cầu của công nhân không được đáp ứng một cách đầy đủ, giới công nhân trên toàn nước Mỹ đã tham gia bãi công nhằm gây áp lực buộc giới chủ thực hiện yêu sách của mình. Đầu tiên là cuộc bãi công tại thành phố Chicago. Khoảng 40 nghìn người không đến nhà máy. Họ tổ chức mit-tinh, biểu tình trên thành phố với biểu ngữ “Từ hôm nay không người thợ nào làm việc quá 8 giờ một ngày! Phải thực hiện 8 giờ làm việc, 8 giờ nghỉ ngơi, 8 giờ vui chơi!” Cuộc đấu tranh lôi cuốn ngày càng đông người tham gia. Cũng trong ngày hôm đó, tại các trung tâm công nghiệp khác trên nước Mỹ đã nổ ra 5.000 cuộc bãi công với 340 nghìn công nhân tham gia. Ở Washington, New York, Baltimore, Boston… hơn 125.000 công nhân giành được quyền ngày chỉ làm 8 giờ.

Những cuộc biểu tình tại Chicago diễn ra ngày càng quyết liệt. Giới chủ đuổi những công nhân bãi công, thuê người làm ở các thành phố bên cạnh, thuê bọn khiêu khích và cảnh sát đàn áp, phá hoại cuộc đấu tranh của công nhân. Các xung đột xảy ra dữ dội khiến hàng trăm công nhân chết và bị thương, nhiều thủ lĩnh công đoàn bị bắt… Báo cáo của Liên đoàn Lao động Mỹ xác nhận: “Chưa bao giờ trong lịch sử nước Mỹ lại có một cuộc nổi dậy mạnh mẽ, toàn diện trong quần chúng công nghiệp đến như vậy”.

1.5.2008 New York City
1.5.2008 New York City

Ngày 20/6/1889, ba năm sau “thảm kịch” tại thành phố Chicago, Quốc tế cộng sản lần II nhóm họp tại Paris (Pháp). Dưới sự lãnh đạo của Frederic Engels, Đại hội lần thứ nhất của Quốc tế Cộng sản II đã quyết định lấy ngày 1/5 hàng năm làm ngày biểu dương lực lượng và đấu tranh chung của tầng lớp vô sản các nước.

Từ đó, ngày 1/5 trở thành Ngày Quốc tế Lao động, ngày đấu tranh của giai cấp công nhân, ngày nghỉ ngơi và biểu dương lực lượng, ngày hội của công nhân và nhân dân lao động toàn thế giới.

Năm 1920, dưới sự phê chuẩn của Lê Nin, Liên Xô (cũ) là nước đầu tiên cho phép người dân được nghỉ làm vào ngày Quốc tế Lao động 1/5. Sáng kiến này dần dần được nhiều nước khác trên thế giới tán thành.

Tại Việt Nam, sau khi Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời (1930), giai cấp công nhân Việt Nam đã lấy ngày l/5 hàng năm làm ngày đỉnh cao của phong trào đấu tranh chống thực dân, đế quốc, giành độc lập – tự do – dân chủ, giành những quyền lợi kinh tế – xã hội. Trong thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám, việc kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động 1/5 phần nhiều phải tổ chức bí mật bằng hình thức treo cờ, rải truyền đơn. Năm 1936, do thắng lợi của Mặt trận bình dân Pháp và Mặt trận dân chủ Đông Dương, ngày Quốc tế Lao động lần đầu tiên được tổ chức công khai tại Hà Nội, thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia. Đặc biệt, ngày 1/5/1938, một cuộc biểu tình lớn gồm hàng chục ngàn người đã diễn ra ở khu Đấu xảo Hà Nội với sự tham gia của 25 ngành, giới: thợ hoả xa, thợ in, nông dân, phụ nữ, người cao tuổi, nhà văn, nhà báo… Đây là cuộc mit-tinh lớn nhất trong thời kỳ vận động dân chủ (1936 – 1939), một cuộc biểu dương sức mạnh đoàn kết của nhân dân lao động do Đảng lãnh đạo. Nó đánh dấu một bước trưởng thành vượt bậc về nghệ thuật tổ chức và lãnh đạo của Đảng ta.

Ngày nay, ngày Quốc tế Lao động đã trở thành ngày hội lớn của hai giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam. Đây cũng là ngày biểu thị tình đoàn kết hữu nghị với giai cấp công nhân và nhân dân lao động toàn thế giới, cùng đấu tranh cho thắng lợi của hòa bình, tự do, dân chủ và tiến bộ xã hội.

L.A (dịch từ Internet)

Chúc các bạn một Ngày Quốc Tế Lao Động vui vẻ thoải mái, không lao động !

Mến,

Hoành

Thử thách Anh Ngữ hàng ngày — 1.5.2009

englishchallenge
Chào các bạn,

Hôm nay ta có thử thách này. Câu này chị Huỳnh Huệ gởi tới.

Nine Requisites For Contended Living

1. HEALTH enough to make work a pleasure.

2. WEALTH enough to support your needs.

3. STRENGTH enough to battle with difficulties and overcome them.

4. GRACE enough to confess your sins and forsake them.

5. PATIENCE enough to toil until some good is accomplished.

6. CHARITY enough to see some good in your neighbor.

7. LOVE enough to move you to be useful and helpful to others.

8. FAITH enough to make real the things of God.

9. HOPE enough to remove all anxious fears concerning the future.

Các bạn xem kỹ cấu trúc của câu văn trước khi dịch nhé. Ý nghĩa của các câu này chỉ là một phần. Các câu này hay phần lớn là nhờ cấu trúc. Tất cả các câu đều cấu trúc như nhau, tạo ra đồng nhất (uniform) và lập lại (repetition), rất quan trọng trong rhetoric (nghệ thuật hùng biện).

Về bài hôm qua, để mình nói thêm một tí về một vài kỹ thuật viết. Trong bài hôm qua có vài câu dùng chữ “would”, như “In free time he would walk around the island..” Câu hỏi là tại sao ta nói “he would walk” mà không nói “he walked”?

Câu trả lời là ta không bị bắt buộc phải dùng he would, dùng cũng được, không cũng được. “He walked” là đủ rồi.

Tuy nhiên chỉ dùng “he walked” thì không hay bằng “he would.”

Vậy thì he would là gì? Và khi nào thì ta dùng nó.

Nếu bạn mở tự điển, thì would là past tense của will. Chẳng giải thích được gì cho bạn hết.

Cách trả lời chính xác nhất là tưởng tượng bạn đang vẽ tranh. Khi dùng past tense như he walked, thì đó là các nét vẽ rõ nét. Khi dùng would, thì đó là các nét vẽ mờ nét, mờ ảo hơn, lãng mạn hơn.

Vậy thì khi nào dùng would được? Ta dùng would khi có đủ cả 3 điều kiện sau đây

1. Đó là hành động trong quá khứ.
2. Xảy ra rất thường xuyên, ví du: hàng ngày.
3. Và ta muốn nói đên việc thường xuyên đó chung chung, mà không nhất định một hành động tại một thời điểm rõ ràng nào đó.

Điểm số 3 này rất quan trọng. Ví dụ: “Every day I would take a walk in the forest in early morning. And one day as I walked past her house on the way to the forest, she stepped out and smiled.”

Trong câu đầu ta dùng I would vì ta muốn chỉ một việc hàng ngày chung chung. Câu sau, ta phải dùng I walked bởi vì ta muốn nói đến walk tại một thời điểm đặc biệt, ngày đặc biệt được gặp nàng bước ra và mỉm cười.

Would là optional, tức là dùng thì hay hơn, không dùng thì cũng chẳng sai. Nhưng dùng bậy thì sẽ sai. (Cho nên, nếu không chắc thì đừng dùng).

Nhưng, tại sao khi dùng would thì đó là “mờ nét, mờ ảo hơn, lãng mạn hơn”?

Thưa, vì trong văn hóa Anh ngữ nó thế. Chữ would luôn luôn làm nhẹ câu văn. Ví dụ: Nói “I like to have a cup of tea” chẳng sai văn phạm, nhưng nghe hơi nặng và bất lịch sự; I would like… thì nhẹ nhàng và lịch sự hẳn ra.

Người ít học và bất lịch sự ít dùng chữ would hơn người học cao và lịch sự. Người sống bằng tiếng Anh, khi tai nghe chữ would là tự nhiên tâm trí thấy nhẹ nhàng dịu dàng hẳn lại.

Chúc các bạn một ngày vui vẻ.

Mến,

Hoành

Giảng dạy

lop-hoc_thay-khoa
Giảng dạy

Rồi một thầy giáo nói: “Giảng cho chúng tôi về Giảng dạy.”
Và [Tiên tri] nói:

Không ai có thể khai mở điều gì cho bạn, ngoại trừ những điều đã nằm lim dim trong hừng đông kiến thức của chúng ta.

Người thầy đi trong bóng thánh đường, giữa các tín đồ, không trao tặng trí tuệ nhưng trao tặng lòng tin và tình yêu của ông.

Nếu thầy thật sự khôn ngoan, ông sẽ không mời bạn đi vào căn nhà trí tuệ, nhưng sẽ dẫn bạn đến ngưỡng cửa của tâm trí của chính bạn.

Nhà thiên văn có thể nói với bạn về hiểu biết của ông về không gian, nhưng ông không thể cho bạn hiểu biết của ông.

Người nhạc sĩ có thể hát cho bạn nhịp điệu có trong mọi không gian, nhưng ông không thể cho bạn đôi tai có thể bắt được nhịp điệu hoặc giọng hát dội vang nhịp điệu.

Và người rành khoa toán số có thể nói về các lãnh vực của trọng lượng và đo lường, nhưng ông không thể đưa bạn vào các lãnh vực đó.

Bởi vì tầm nhìn của một người không cho người khác mượn đôi cánh của nó.

Và như mỗi người các bạn đứng một mình trong tri kiến của Thượng đế, mỗi người các bạn phải một mình trong kiến thức của mình về Thượng đế và trong hiểu biết của mình về quả đất.

Trần Đình Hoành dịch
© Copyright 2009, TDH
Licensed for non-commercial use

.

cogiao
Teaching

Then said a teacher, “Speak to us of Teaching.”
And he said:

No man can reveal to you aught but that which already lies half asleep in the dawning of our knowledge.

The teacher who walks in the shadow of the temple, among his followers, gives not of his wisdom but rather of his faith and his lovingness.

If he is indeed wise he does not bid you enter the house of wisdom, but rather leads you to the threshold of your own mind.

The astronomer may speak to you of his understanding of space, but he cannot give you his understanding.

The musician may sing to you of the rhythm which is in all space, but he cannot give you the ear which arrests the rhythm nor the voice that echoes it.

And he who is versed in the science of numbers can tell of the regions of weight and measure, but he cannot conduct you thither.

For the vision of one man lends not its wings to another man.

And even as each one of you stands alone in God’s knowledge, so must each one of you be alone in his knowledge of God and in his understanding of the earth.

The prophet
Kahlil Gibran

Các chương trong The Prophet đã dịch:

Giving
Love
Reason and Passion