I am an attorney in the Washington DC area, with a Doctor of Law in the US, attended the master program at the National School of Administration of Việt Nam, and graduated from Sài Gòn University Law School. I aso studied philosophy at the School of Letters in Sài Gòn.
.
I have worked as an anti-trust attorney for Federal Trade Commission and a litigator for a fortune-100 telecom company in Washington DC.
I have taught law courses for legal professionals in Việt Nam and still counsel VN government agencies on legal matters.
I have founded and managed businesses for me and my family, both law and non-law.
I have published many articles on national newspapers and radio stations in Việt Nam.
In 1989 I was one of the founding members of US-VN Trade Council, working to re-establish US-VN relationship.
Since the early 90's, I have established and managed VNFORUM and VNBIZ forum on VN-related matters; these forums are the subject of a PhD thesis by Dr. Caroline Valverde at UC-Berkeley and her book Transnationalizing Viet Nam.
I translate poetry and my translation of "A Request at Đồng Lộc Cemetery" is now engraved on a stone memorial at Đồng Lộc National Shrine in VN.
I study and teach the Bible and Buddhism. In 2009 I founded and still manage dotchuoinon.com on positive thinking and two other blogs on Buddhism.
In 2015 a group of friends and I founded website CVD - Conversations on Vietnam Development (cvdvn.net).
I study the art of leadership with many friends who are religious, business and government leaders from many countries.
I have written these books, published by Phu Nu Publishing House in Hanoi:
"Positive Thinking to Change Your Life", in Vietnamese (TƯ DUY TÍCH CỰC Thay Đổi Cuộc Sống) (Oct. 2011)
"10 Core Values for Success" (10 Giá trị cốt lõi của thành công) (Dec. 2013)
"Live a Life Worth Living" (Sống Một Cuộc Đời Đáng Sống) (Oct. 2023)
I practice Jiu Jitsu and Tai Chi for health, and play guitar as a hobby, usually accompanying my wife Trần Lê Túy Phượng, aka singer Linh Phượng.
Bài này chị Thùy Dương mới post trên blog Lá Xanh. Mình post lại đây để kêu gọi các anh chị em cùng tiếp tay bảo vệ sông Cửu Long, lên tiếng về việc các quốc gia thượng nguồn xây đập trên sông Mekong, gây tác hại đến môi sinh và các quốc gia hạ nguồn, như Việt Nam ở khúc cuối cùng của dòng sông.
Mến,
Hoành
.
Kính quí Anh Chị và các Bạn,
Xin chuyển đến một số thông tin & kiến nghị về Sông Mekong và mong quí anh chị và các bạn hãy trợ giúp:
Truyền thông (communication) có hai chiều, nói và nghe. Hôm nay chúng ta sẽ nghiên cứu chiều nói. Nói thế nào để thuyết phục.
Muốn nói để thuyết phục người nghe, chúng ta phải có các yếu tố sau đây:
1. Muốn mình biết gì
Đây là điểm khởi hành của việc nói—Nói để làm gì? Với mục đích gì?
Đôi khi ta đọc một message tràng giang đại hải của người bạn nào đó gởi. Sau khi đọc lại ít nhất là 2 lần, ta đành phải gởi một message phản hồi cho bạn: “Vậy chớ ông muốn tôi làm gì?” vì message của bạn lung tung mù mờ, chẳng biết đâu mà mò.
Thường thường mục đích của nói chuyện là muốn người nghe làm gì đó, như là: “Để em kể cho chị chuyện này nghe cho vui thôi nha chẳng có gì hết.” Hay “Chuyện này em đã có trải qua một lần, em kể chị xem (để chị nghĩ thế nào về vấn đề mình đang có hôm nay).” Hay “em muốn thuyết phục chị đồng y’ với em là ông ABC này là người tốt.”
Chúng ta không nhất thiết phải nói rõ mục đích ra cho người nghe, nhưng trong thâm tâm ta phải biết rất rõ tại sao mình muốn bỏ thời giờ ra nói hay viết một vấn đề gì đó. Và mục đích này sẽ là kim chỉ nam cho mọi lời nói, mọi câu viết.
2. Giản dị
Trong bài Viết giản dị và sâu sắc, ta đã nói đến 3 qui luật đầu tiên của viết lách, đó là (a) giản dị, (b) giản dị, và (c) giản dị. Nói thì cũng thế thôi. Sự quan trọng của “giản dị” trong truyền thông cực kỳ quan trọng và dù ta có nhắc đến điều này cả ngàn lần thì ta cũng không quá quan trọng hóa vấn đề.
Truyền thông có quá nhiều vấn đề cho đến nỗi các thiền sư đã có trường phái Vô ngôn thông–vì nói ra là hiểu lầm, là “vô thông”, cho nên phải “vô ngôn” thì mới “thông” được. Vì vậy, khi nói. chúng ta phải càng giản dị càng tốt. Càng giản dị ta càng ít bị hiểu lầm, và càng tăng hiểu biết. (Hôm nay chị Huỳnh Huệ cũng có bài liên hệ Nguyên tắc tối giản). a. Giản dị là nói một lúc một chuyện. Đừng nói hai ba chuyện cùng lúc. Đừng đang nói chuyện này bắt quàng qua chuyện kia.
b. Giản dị là nói các từ dễ hiểu, đừng nói “chữ lớn.” Đa số các “chữ lớn” đều mù mờ về nghĩa. Đa số người nói chữ lớn đều mù mờ trong chính đầu của họ, và họ không có khả năng nói giản dị vì chưa hiểu vấn đề đế nơi đến chốn.
c. Giản dị là nói ngôn ngữ người nghe có thể hiểu được. Nói theo trình độ kiến thức và trình độ kinh nghiệm của người nghe. Nói mà người nghe không hiểu được thì đó là vì mình nói chưa giản dị đủ.
d. Giản dị là nói đủ thì ngưng, thay vì dài dòng văn tự hay láp nháp cả ngày.
3. Thành thật
Rất ít sách dạy viết hay dạy nói nhấn mạnh điểm này. Đa số sách không hề nói đến điểm này. Nhưng đây là yếu tố quan trọng hàng đầu trong truyền thông. Nếu bạn thành thật nói ra điều gì đó trong lòng bạn, sự thành thật tự nó có tính thuyết phục, ngay cả khi bạn “không biết ăn nói.” Đã bao nhiêu lần chúng ta mũi lòng vì một bài viết hay một lời nói mà ta cảm thấy rất thành thật, dù là trên phương diện kỹ thuật thì bài viết đó hay lời đó không đặc sắc.
Tuy nhiên, thành thật, nói thì dễ làm thì khó, vì ta cố y’ hoặc vô tình vấp phải các điều sau:
a. Có thói quen không để y’ đến sự chính xác của ngôn từ, cho nên dùng từ không diễn tả đúng điều ta nghĩ, đôi khi còn làm cho đọc giả nghĩ ngược lại vì hiểu lầm.
b. Có thói quen của giới khoa bảng cũ của người Việt—nói mà thiên hạ không hiểu được thì mới ra vẻ mình là người thông thái, dù là chính mình cũng không hiểu mình đang nói gì hay viết gì.
c. Muốn bài mình viết được người đọc chú y’ nhiều bằng cách giật gân, hay gợi cảm xúc mạnh… mà quên mất là các điều này có thể không đúng sự thật. Như là: “Gái nhà quê bị yêu râu xanh hãm hại” dù ràng chuyện thực chỉ là hai cô cậu yêu nhau sau đó thì không còn yêu nhau nữa.
d. Nói mà không có đủ thông tin dẫn chứng. Ví dụ: “Đa số người Mỹ là dốt.” Rất khó có bằng chứng cho câu nói này. Đa số chúng ta hay vấp phải điều này, vì trong khi nói, đôi khi hăng hái quá nên nói quá lời.
e. Nói mà cố tình xuyên tạc sự thật, vì “bất cứ điều gì liên hệ đến phe địch đều phải tồi tệ.” Đây là bản chất của tất cả các lời nói và câu viết của các nhóm chính trị “không anh em”, vì vậy bất cứ họ nói điều gì ta cũng cần phải cân nhắc lại trước khi tin. (Các nhóm chính trị cạnh tranh nhau trong tinh thần anh em thì không tồi với nhau như thế). 4. Thuyết phục con tim
Rốt cuộc thì con tim của người nghe phải được thuyết phục. Cho nên mọi cách nói đều phải nói theo hiểu biết, tâm tính và tâm tình của người nghe. Nếu người nghe thích theo đạo thờ cúng ông bà mà ta cứ nhất quyết là thờ cúng ông bà là mê tín dị đoan (vì nhà thờ nói thế) thì nhất định là không thuyết phục được.
Nói với nông dân mà nói cách mạng quốc tế, nghĩa vụ tòan cầu, thì không xong rồi, dù là họ có dạ dạ gật gật. Nông dân đang phải lo cơm ăn áo mặc nhà ngủ hàng ngày. Phải lo con cái có thể đi học hàng ngày. Lụt lột thì cần chính quyền nâng đở một tay. Hạn hán thì cần nhà nước lo giúp cho một tí. Nói chuyện với nông dân mà cứ như là chính trị gia Internet thì hỏng.
Dĩ nhiên là ta có thể liệt kê thêm vài chục qui luật nói nữa, nhưng lăng nhăng dài dòng như vậy thường chẳng giúp được gì. Chỉ cần vài ba điểm trên đây. Nếu chúng ta cố thuần thục chúng thì cũng tự nhiên đạt được các qui luật khác mà người ta có thể nghĩ ra.
Ngày 3 tháng 6 năm 1839 tại ven biển Hổ Môn tỉnh Quảng Đông Trung Quốc, có rất nhiều những thùng hàng chất cao như núi trên những chiếc thuyền đang được vận chuyển vào đất liền. Bao quanh đó là hàng nghìn hàng vạn những con người đang trong trạng thái kích động và hưng phấn mong chờ…Và những thùng hàng này cũng chính là mấu chốt của câu chuyện
mà tôi sắp kể cho các bạn nghe sau đây. Lâm Tắc Từ
Vào đầu thế kỷ 19, Anh quốc và một loạt các nước phương tây đã vận chuyển một lượng lớn thuốc phiện (hay còn gọi nha phiến) vào Trung Quốc. Trong vòng thời gian chưa đầy 40 năm đã làm cho con số người nghiện thuốc phiện lên đến 200 vạn người. Nha phiến đã đem lại cho các thương nhân người Anh một khoản tiền khổng lồ lợi nhuận nhưng lại gây
ra những thiệt hại nặng lề cho xã hội Trung Quốc lúc bấy giờ. Nó không chỉ làm tiêu hao một lượng lớn ngân lượng của triều đình mà còn gây những tổn hại nặng lề về mặt sức khỏe cho người dân. Ngoài ra trong quân đội vì số quân nhân nghiện thuốc phiện ngày một gia tăng, nên dũng khí và ý chí chiến đấu của cả đội cũng càng ngày càng giảm sút….
Trước tình hình điêu đứng đó, Lâm Tắc Từ (tổng đốc của Hồ Quảng) đã nhiều lần đề đơn kiến nghị với triều đình ra chủ trương nghiêm cấm buôn bán thuốc phiện vào Trung Quốc. Nhưng mãi đến năm 1839, hoàng đế Đạo Quang mới nhận định được sự suy thoái của triều đình nói riêng và của toàn Trung Quốc nói chung nên mới phái Lâm Tắc Từ đến Quảng Châu để thực thi nhiệm vụ này. Bến cảng Hổ Môn
Lâm Tắc Từ sau cuộc hành trình ròng rã hai tháng trời mới đặt chân được đến đất Hổ Môn, ông đã dành khoảng thời gian là một tuần để nghiên cứu việc nhập hàng tại bến cảng này. Và đến 19/3/1839 ông ra lệnh nghiêm cấm người ngoại quốc không được rời khỏi Quảng Châu. Ngày 21/3/1839 cho quân bao vây toàn bộ khu nhà nghỉ của các thương nhân
người Anh. Ngày 22/3/1839 ông yêu cầu các thương nhân người Anh phải giao nộp toàn bộ số Nha phiến cho triều đình. Các thương nhân một phần không tin rằng Lâm TắcTừ có thể cấm vận việc buôn bán của họ, một phần muốn trì hoãn thời gian để chờ sự cứu vãn từ phía Anh quốc nên ngoan cố không chịu nộp hàng, trong đó tiêu biểu là Nghĩa Luật (một kiểm đốc
người Anh trú ngụ tại Trung Quốc) đã sử dụng rất nhiều biện pháp hèn mọn, uy hiếp, xuất nhĩ phản nhĩ… để chống chọi với Lâm Tắc Từ, còn một số thương nhân khác thì lập kế hoạch để bỏ chạy. Bến cảng Hổ Môn
Trước tình hình đó, Lâm Tắc Từ cho quân truy bắt toàn bộ số thương nhân đã bỏ chạy, đồng thời ra lệnh bao vây khách sạn 24/24h, giải thoát toàn bộ số người Hoa làm nhiệm vụ phục vụ trong khách sạn, và đoạn tuyệt việc cung cấp lương thực vào bên trong. Không những thế ông còn gửi thông điệp của mình cho các thương nhân biết rằng: “Ngày nào việc buôn bán
nha phiến còn chưa chấm dút, ngày đó ta quyết sẽ không rời khỏi đây! Ta thề sẽ làm đến cùng việc ngiêm cấm vận chuyển nha phiến trên mảnh đất Hổ Môn này”.
Trước những hành động cương quyết của Lâm Tắc Từ, các thương nhân người Anh đã hiểu ra rằng không còn hy vọng nào nữa và đành giao nộp toàn bộ số nha phiến cho Lâm Tắc Từ, tổng cộng có 2 vạn thùng, hơn 110 vạn Kg nha phiến (một con số thật khủng khiếp phải không các bạn :D). Và đây cũng được coi là thắng lợi đầu tiên của Lâm Tắc Từ tại Hổ Môn. Lâm Tắc Từ trên đồng tiền xu
Sau khi đã bàn bạc với Đặng Đình Trinh, lên kế hoạch sắp xếp cho công việc tịch thu hàng, bao gồm: địa điểm tịch thu, việc vận chuyển, canh gác, bảo vệ hàng…công việc chuẩn bị kéo dài ròng rã suốt 2 tháng trời. Và đến ngày 3/6/1839 dưới sự chỉ đạo của Lâm Tắc Từ toàn bộ số nha phiến thu được đều được đem tiêu hủy, nhưng vì số lượng hàng quá lớn nên công việc này đã kéo dài trong suốt thời gian là 23 ngày liền (đây được coi là thắng lợi thứ hai của ông tại Hổ Môn). Sách về Lâm Tắc Từ
Việc tiến hành thiêu hủy một lượng lớn Nha phiến của triều đình Trung Quốc đã làm rung động toàn thế giới, đồng thời qua đó cũng khẳng định với thế giới về quyết tâm diệt trừ tận gốc việc buôn bán thuốc phiện trên lãnh thổ Hổ Môn nói riêng và toàn đất nướcTrung Quốc nói chung, khẳng định ý chí kiên quyết chống lại sự xâm nhập của các đế quốc khác vào Trung Quốc.
Lâm Tắc Từ được coi là anh hùng dân tộc trong lịch sử Trung Quốc và cũng là một trong những tấm gương quý giá
cho việc thi hành chiến dịch một xã hội lành mạnh không có ma túy của xã hội Trung Quốc hiện nay.
Vì lợi nhuận thu được từ việc buôn bán thuốc phiện là rất cao, những thương nhân Anh thì kiếm được một khoản tiền khổng lồ, còn chính phủ Anh thông qua đó có thể đạt được mục đích thâu tóm và thống trị đất nước rộng lớn này. Do đó, việc Lâm Tắc Từ dám đối đầu với nước Anh đã dẫn đến những hậu quả như thế nào, mời các bạn cùng tìm hiểu trong bài viết sau của mình nhé.
In the article below, the owner of Century Dancing Club tried to defend his selling alcohol without a license, with the all-familiar argument: “If you don’t break the law, you can’t survive in business.”
If you say that in a US court, you are dead. The court and the jury will slap you with the highest penalty that the law allows. That is a suicidal type of argument in the American court.
What do you say to that? Even if it is true, is it smart to argue that line in court?
Chiều 28/8, thay vì tuyên án như dự kiến, phiên xử vụ án tại vũ trường New Century bất ngờ quay trở lại phần xét hỏi để làm rõ việc kinh doanh rượu ở điểm giải trí bậc nhất miền Bắc này.
Bị cáo Nguyễn Đại Dương. Ảnh: P.V
Đại diện Cục thuế Hà Nội được mời đến phiên xử để làm rõ việc thu thuế kinh doanh rượu tại vũ trường này. Trước đó, luật sư của bị cáo Nguyễn Đại Dương (chủ vũ trường) đề nghị tòa làm rõ vấn đề này để xác định ông Dương có phạm tội kinh doanh trái phép như cáo trạng truy tố hay không?
Tuy nhiên, điều này đã không được làm sáng tỏ khi ông Phí Công Luyện (kiểm soát viên của Cục thuế Hà Nội) cho biết, vũ trường có kê khai nộp thuế kinh doanh đồ uống, nhưng không xác định được trong đó có rượu hay không. Theo ông Luyện, do mới nhận được giấy của tòa trước đó ít giờ nên Cục thuế không có thời gian chuẩn bị số liệu như yêu cầu. Đơn vị này hẹn sẽ tra lại sổ sách rồi trả lời sau.
Nhân chứng Phùng Lam Sơn (nguyên kế toán trưởng vũ trường New Century) khẳng định đã kê khai nộp thuế đồ uống đầy đủ gồm rượu, bia, nước ngọt. “Tiền thuế được đóng đầy đủ, chúng tôi tự chuyển qua ngân hàng vào tài khoản của Cục thuế”, ông Sơn cho hay.
Theo cáo buộc của VKS, dù không có giấy phép kinh doanh rượu nhưng Nguyễn Đại Dương vẫn tổ chức cho nhân viên mua bán gần 3.000 chai rượu các loại, thu gần 2,8 tỷ đồng. Điều này là trái với thông tư số 12 ngày 19/5/1999 của Bộ Thương mại. Do vậy, Nguyễn Đại Dương đã có hành vi kinh doanh trái phép, phạm vào điều 159 Bộ luật hình sự.
Chuẩn bị sẵn một túi đựng đầy tài liệu, tay cầm bút, ông chủ vũ trường New Century dành khá nhiều thời gian để tranh luận với đại diện VKS về tội kinh doanh trái phép. Ông này cho rằng vũ trường đã làm thủ tục xin cấp giấy phép kinh doanh rượu với Sở Thương mại Hà Nội nhưng không được.
Theo quan niệm của bị cáo này, việc bán rượu dưới 30 độ cồn thì không cần giấy phép nên đã chỉ đạo cho nhân viên lách luật bằng việc pha thêm nước hoặc đá vào rượu để “hạ” độ cồn.
“Vì không được cấp nên chúng tôi mới phải lách luật. Doanh nghiệp không biết lách luật thì không thể tồn tại được. Bị cáo bị đẩy vào tình trạng thế này là lỗi của cơ quan chức năng”, tay phải cầm bút bi vung lên, bị cáo Dương hùng hồn biện hộ.
Đáp lại điều này, đại diện VKS khẳng định: “Pháp luật không cho phép lách luật, mà công dân chỉ có việc phải chấp hành nghiêm chỉnh. Vũ trường không được cấp phép mà vẫn kinh doanh rượu là bị cáo đã vi phạm pháp luật”.
Cơ quan công tố giữ nguyên quan điểm buộc tội đã trình bày trước đó, đề nghị tòa tuyên phạt Nguyễn Đại Dương 12-18 tháng tù; 7 bị cáo còn lại từ 2 năm đến 8 năm 6 tháng tù do mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy.
Chiều 4/9, TAND Hoàn Kiếm sẽ ra phán quyết cuối cùng.
Vấn đề truyền thông là communication problem, tức là những khó khăn trong việc thông hiểu nhau giữa hai người hay nhiều người, do người nói không nói rõ y’ mình, hay người nghe không nghe đúng ý người nói, hay cả hai.
Vấn đề truyền thông được xem là vấn đề lớn nhất cho con người. Người ta thường nói đa số, nếu không phải tất cả, các vấn đề trong một công ty là vấn đề truyền thông. Và trong gia đình, khi vợ chồng con cái có vấn đề truyền thông là lúc gia đình có nhiều xào xáo.
Dĩ nhiên ta chúng ta đã đọc thấy rất nhiều bài học về cách nói và cách nghe, cách truyền thông với nhau, để giải quyết vấn đề này. Tuy nhiên, trong bài này, hãy tạm gác các kỹ năng truyền thông đó qua một bên, để khảo sát vấn đề một cách căn bản hơn.
Hãy nhìn vào truyền thông nam nữ vì đây là loại truyền thông rõ ràng nhất để khảo sát vấn đề. Cô và cậu quen nhau, nói chuyện, đi chơi và yêu nhau. Trong thời gian này, hầu như chẳng bao giờ có vấn đề truyền thông. Thỉnh thoảng có giận hờn chút đỉnh, nhưng nếu đang yêu là hầu như không có vấn đề gì cả. Dù ít nói hay nói nhiều, nói nghiêm chỉnh hay nói đùa, nói chơi hay nói thật, ngay cả khi không nói–ngồi gần nhau mà chẳng nói một câu cả tiếng đồng hồ–cũng không hề hấn gì. Khi yêu ta không có vấn đề.
Rồi cô cậu lấy nhau, có con, xây nhà, lập cơ nghiệp, hạnh phúc bên nhau. Hầu như chẳng có vấn đề truyền thông bao giờ.
Đến một lúc nào đó chàng đi về trễ thường xuyên hơn, nàng đợi cơm dài giờ hơn, chàng có nhiều ly’ do để về trễ hơn, các câu trả lời của chàng thường mù mờ khó hiểu hơn, chàng hay gắt gỏng hơn, nàng thắc mắc nhiều hơn… và cả hai bắt đầu có khoảng cách, có nhức nhối trong tâm, có nghi ngờ, có thắc mắc, và có communication problem.
Vậy thì communication problem tạo ra vấn đề, hay là một vấn đề nào đó tạo ra communication problem?
Từ lúc mới yêu và mấy năm sau đó không có communication problem. Càng ở với nhau lâu thì càng hiểu y’ nhau, càng communicate khá hơn chứ. Tại sao, ở với nhau lâu, bây giờ lại cứ hiểu lầm nhau là sao?
Nếu quan sát các vấn đề giữa các cặp vợ chồng, thì communication problem thường là triệu chứng bên ngoài của vấn đề căn bản bên trong—liên hệ vợ chồng hiện có vấn đề. Trong ví dụ ta có đây, hoặc là anh chồng thích các việc nói chuyện làm ăn nhậu nhẹt với bạn hơn là về với vợ, hoặc có cô nào đó, hoặc có vấn đề gì đó với vợ, cho nên trong truyền thông giữa hai người có vấn đề.
Tại công sở cũng thế. Nếu sếp nói gì một nhân viên cũng hiểu sai, và nhân viên đó nói gì sếp cũng hiểu sai, thì ta có thể chắc chắn hầu như 100% là hai người kỵ nhau. Đó là vấn đề. Truyền thông không phải là vấn đề.
Trong một forum thuộc loại thùng rác, không ai tin ai, không ai tôn trọng ai, không ai kính nể ai, thì bạn có nói bất kỳ điều gì, kể cả mang lời chúa phật ra nói, cũng có kẻ xỉ vả chưởi bới bạn, mà hoàn toàn không hiểu lời bạn nói gì.
Trong một quốc gia, khi dân chúng không còn tin nhà nước, thủ tướng có đặt tay lên thánh kinh thề thốt trước khi nói, thì cũng vô số người không tin và thắc mắc hạch hỏi tấn công đủ điều.
Ở Mỹ, có đủ loại tư vấn tâm ly’ và tư vấn gia đình, vợ chồng mới đằng hắng nhau là đã rủ nhau ra tư vấn gia đình. Nhưng tỉ lệ ly dị ở Mỹ gần 50%. Kinh khủng! Không phải vì ở Mỹ thiếu chuyên gia tư vấn về gia đình và communication, nhưng vì văn hóa Mỹ dạy người ta không trân trọng hôn thú và gia đình. Lấy nhau chỉ là lấy nhau cho đến lúc chán, tức là một hai năm sau đó. Nhiều khi chỉ là hai tháng sau đó.
Trong những xã hội xem lấy nhau là lấy nhau trọn đời, như Việt Nam hay trong truyền thống công giáo, khi gặp khó khăn, người ta cố gắng vượt khó khăn để giữ gia đình. Trong xã hội “lấy nhau cho đến lúc chán” như ở Mỹ, hơi gặp một tí khó khăn, như vợ chồng cãi nhau chuyện phim này hay hay dở, đó là lúc chán, lúc ly dị.
Có hai điều căn bản làm nền tảng cho liên hệ giữa các cá nhân với nhau: (1) Lòng tin của ta vào người kia—vợ hay chồng, hay bạn, hay cán bộ nhà nước—và (2) quyết tâm của mọi người trong cuộc giữ vững sự đoàn kết và sức mạnh của tập thể.
Khi chúng ta mất nền tảng này, tức là mất một trong hai điều này, ta có communication problem. Và lúc đó có chữa communication problem cũng chỉ là chữa ngoài da. Gốc bên trong, lòng tin lẫn nhau và lòng quyết tâm giữ vững tập thể, đã bị lỏng lẻo lung lay. Nếu bệnh căn này không giải quyết được, mọi cách giải quyết communication problem bên ngoài đều vô ích.
Here is a poem from a DCN fan, probably from BMT. This poem would be good for a translation exercise, going from Vietnamese to English. So if everyone tries to work on this a little, I will help you edit your work.
(ssh… ssh…. private talk for the Daklak Gang only: Do you guys like driving on one-way roads only, i.e., from English to Vietnamese only? Are you supposed to be one-wayers? 🙂 )
Oh, “cho tôi mượn sợi tóc tiên,” let’s change it to “cho tôi mượn sợi tóc hiền”. Tóc tiên is Ok in Vietnamese language, but will sound funny in English.
Great day, everyone. 🙂
Have fun!
Hoanh
.
Gói lại yêu thương
Cô hàng xóm tóc dài bên nớ
Có bao giờ cho nắng thẩn thơ…
Nắng rơi nắng rớt qua cành
Rớt trên lá bưởi, nằm dài dưới hiên
Cho tôi mượn sợi tóc tiên
Kết từng mảng nắng dệt lời yêu thương
Lời yêu thương, mấy đêm trường
Tôi đem treo khắp chật đường gió bay
Em về xứ lạ có hay
Yêu thương tôi gói chất đầy trong tim
Có xạ thì tự nhiên là thơm. Câu này ai trong chúng ta cũng đã biết. Nhưng nhiều bạn không biết nó thực sự ảnh hưởng thế nào trong cách sống của ta, và làm sao để ta áp dụng nó vào đời sống của mình thật tốt.
Có xạ thì đương nhiên là thơm rồi. Nhưng cái gì trong ta là xạ? Và tự nhiên nghĩa là gì? Ta có cần phải “tự nhiên” không, hay là có thể thêm một tí “nhân tạo” vào đó? Musk deer
Xạ có nghĩa nguyên thủy là bắn, như xạ thủ là người bắn súng hay bắn cung. Mỗi loài vật thường có một loại dung dịch có mùi đặc biệt, bắn ra ngoài để đánh dấu lãnh thổ của mình và báo tin cho đồng bọn biết mình ở đâu. Ví dụ, loài nai gọi là musk deer, có một túi musk như vậy, và loại dầu này là nguyên liệu chính người ta dùng để làm nước hoa cho đàn ông. Các túi dầu này trong loài vật gọi là “xạ hương”.
Nếu ta có một túi musk như vậy trong người thì đương nhiên là có mùi thơm, mà không cần phải bôi nước hoa cùng mình, phải không các bạn? Đó là hữu xạ tự nhiên hương.
Những cái gì ta có hơn người đều có thể xem là xạ hương–vô địch toán, hát rất hay, bắn cung rất giỏi, đai đen judo, v.v… Những điều này thường có bằng cấp, chứng chỉ, hay giải thưởng làm bằng chứng, nên đó là việc dễ.
“Xạ” trở thành khó khăn, và là vấn đề cần nghiên cứu, khi nó nói đến những thứ không có chứng chỉ rõ ràng để chứng minh, nhưng lại là những thứ quyết định về giá trị của một người, như là, Anh ta có đáng tin không? Chị ta có trung thành với bạn không? Ông ấy có thành thật không? Anh ta là người tốt không?
Đây là những vấn đề quan trọng cho mỗi người chúng ta, bởi vì mọi người quanh ta biết đến ta và đến gần ta hay không là vì danh tiếng tốt hay xấu của ta về các vấn đề này.
1. Trước hết, một điều là quan trọng là, trong những vấn đề về tâm tính con người, nếu ta đi về hướng đông thì danh tiếng “hướng tây” của ta sẽ mất, không thể có danh tiếng của người “đi hướng đông” và “đi hướng tây” cùng lúc. Ví dụ:
• Nếu bạn sống rất phòng thủ, không muốn có nhiều bạn, không muốn lộ thông tin về bạn ra ngoài, không dám tin người… thì bạn không thể có nhiều bạn. Nếu bạn kết bạn nhanh, sống tốt với bạn, thì trên ly’ thuyết bạn có thể bị các bạn không tốt gây nhiều khó khăn, nhưng bạn sẽ có danh tiếng là người thích bạn và tốt với bạn. Không thể vừa đóng cửa kín mít vừa có nhiều bạn được. Mở cửa rộng đến đâu là tùy bạn. Nhưng mở cửa càng rộng càng có nhiều bạn thân.
• Nếu bạn gặp quân cướp đường là đánh chẳng tha như Tề Thiên Đại Thánh, thì rất khó có danh tiếng hiền hậu (dù là thật ra bạn không dữ dằn trong lòng).
• Nếu bạn là người nghiêm nghị, ít cười bao giờ, thì không thể có danh tiếng là người trẻ trung.
• Nếu bạn tính toán tiền bạn rất sát thì khó có tiếng là người rộng rãi.
Cho nên, muốn là người thế nào, ta phải lựa chọn—đi theo hướng này thì đương nhiên là mất hướng kia, không thể ôm đồm hai thứ ngược nhau được. 2. Điều thứ hai là “tự nhiên hương” thường không đi chung được với “hương nhân tạo.” Tự nhiên là tự nhiên, ta chẳng làm gì cả. Nhân tạo là ta làm ra, nói ra, nhúng tay vào, xía vào. Ví dụ:
• Nếu bạn nói với mọi người “tôi rất rộng rãi”, thì mọi người sẽ tin là bạn không rộng rãi. Quảng cáo nhân tạo hay có ảnh hưởng ngược lại.
Chẳng nói gì hết thì tự nhiên thiên hạ sẽ kháo nhau là mình rộng rãi (nếu mình thật sự rộng rãi).
* Nếu bạn nói là “tôi khiêm tốn” thì không ai tin là bạn khiêm tốn, và chắc chắn là bạn chưa đủ khiêm tốn, vì người đã khiêm tốn không bao giờ nói mình khiêm tốn.
• Nếu bạn nói “tôi thông minh” thì chẳng ai tin là bạn thông minh.
Ở đây chúng ta cần lưu ý một điều rất quan trọng: Người tự tin biết là mình thông minh đến mức nào, khiêm tốn đến mức nào, đẹp đến mức nào… Đó là chuyện tốt. Nhưng tin rằng tôi đủ thông mình để vượt qua bất kỳ khó khăn gì ở đời là một chuyện, còn nói với bạn gái “Anh thông minh nhất thiên hạ” lại là một chuyện khác, phải không các bạn? 3. Điều thứ ba là có sự khác biệt lớn giữa mở lòng mình để chia sẻ kinh nghiệm với bạn bè, và kết luận theo kiểu quảng cáo về mình.
Ví dụ: Ta kể lại kinh nghiệm ta đã trải qua, về một vấn đề khó khăn gì đó ta đã gặp phải, và cách giải quyết vấn đề của ta. Chỉ kể ra các sự kện xảy ra để chia sẻ. Đó là trải lòng mình và chia sẻ. Còn kể xong, thòng thêm một câu kết luận “Tôi thông minh cực kỳ, không ai có thể giải quyết vấn đề đó được” là quảng cáo nhân tạo.
Tóm lại, đối với tâm tính và đức hạnh của cá nhân ta, khác với đời sống thương mãi của một công ty, tự quảng cáo không những không giúp được gì mà còn phá đi tự nhiên hương của mình. Thế có nghĩa là từ “tự nhiên” trong “tự nhiên hương” có hai nghĩa rất rõ: Thứ nhất, hương sẽ tự nhiên tỏa ra. Thứ hai, đừng cản trở tiến tình tự nhiên bằng quảng cáo nhân tạo.
Dorothy Dale Kloss, 85 tuổi, là người vũ công lớn tuổi nhất trên thế giới. Chị đã vũ 80 năm, từ lúc 5 tuổi. Trong vòng 14 năm nay, chị biểu diễn trong show vũ Palm Spring Follies tại Las Vegas, mỗi tuần vũ 9 shows.
Năm 2005, 81 tuổi, chị đã vào Guiness Book of World Records, kỷ lục vũ công lớn tuổi nhất thế giới.
Dưới đây là 3 videos.
Video đầu tiên, 2009, có nhiều màn vũ của Dorothy, vũ như vũ công 20 tuổi.
Video thứ hai là Riff Markowitz phỏng vấn Dorothy, rất hay, cho các bạn có thể nghe được tiếng Anh.
Video thứ ba là Today Show, show TV rất nổi tiếng ở Mỹ, ngày 18 tháng 4 năm 2005, phỏng vấn Dorothy.
Sau khi xem video này, các bạn sẽ không bao giờ còn nói “tôi già rồi.” Chữ “già” không còn trong tự điển.
Oops, hay là lại nói, “Ôi, rõ là tôi đã già rồi” ? 🙂
Hi everyone,
If you and your friend (boy friend, girl friend or just friend of the same gender) have a heated argument and you both don’t talk for a week.
Now you feel like you want to make peace, how do you start the peace-making process? I mean, your habit of peace-making, such as just dropping by his house like nothing has happens, or sending her a flower, or buying her a cookie, or doing nothing and waiting for him to apologize….. Whatever.
“Hãy lắng nghe, vì cơ hội có thể đến trong tiếng thì thầm.” Ít khi cơ hội đến dộng cửa nhà bạn ầm ĩ, náo động hàng xóm. Thường là cơ hội đến rất âm thầm. Nếu đến ầm ĩ, thì có lẽ là cả thế giới nghe và biết hết rồi; thế thì chắc chẳng còn gì là cơ hội quí hóa cho riêng bạn nữa. Cơ hội tốt, nếu đến với bạn, là đến rất âm thầm, chỉ một mình bạn biết, một mình bạn nghe. Nếu bạn biết lắng nghe.
Cơ hội có thể đến gõ cửa dưới mọi hình thức khác nhau, không biết đường nào mà lường. Tuy nhiên dưới đây là một số hình thức gõ thường xuyên nhất, mà nhiều người không biết.
1. Một người nào đó, nhất là người có nhiều quan hệ lớn, nhờ bạn làm một việc vặt nào đó. Việc nhờ đó có thể là cách người đó đang tìm cách đưa bạn vào bước đầu tiên cho một tiến trình phát triển có thể là rất dài và rất cao.
Thông thường, 80% số người được gõ cửa kiểu này bỏ mất cơ hội, vì thấy đó là việc vặt, không cần thiết. Nhiều người còn tự ái “Tôi vậy mà nhờ tôi làm việc vặt. Coi thường tôi vừa thôi.”
Thật ra người ta luôn luôn bắt đầu với một người bằng việc vặt. Người trọng việc vặt là người khiêm tốn và đáng tin cậy. Nếu việc không đáng gì mà làm còn rất tốt, thì việc quan trọng làm rất siêu. Nếu việc nhỏ xíu mà giữ lời hứa tốt, thì việc quan trọng có thể tin được.
2. Một người bạn chuyên gia hạng thầy mời bạn tham dự một buổi họp mặt của một nhóm chuyên gia nhỏ, và chẳng ai biết đến nhóm này. Thường thường các nhóm nhỏ không ai biết đến vì đa số người không được mời vào. Phải rất tuyển chọn, do bạn bè giới thiệu.
Nhóm càng cao lại càng hay nói chuyện thời tiết mưa nắng, vợ con, chẳng nói gì lớn lao. Khi nói chuyện lớn lao thì cách nói cứ như nói chuyện uống càfê, mà chỉ nói hai ba chữ là xong công việc. Cho nên người ngồi đó mà không nhậy cảm, thì có thể là không biết gì cả.
3. Môt câu hỏi nhỏ, hơi trật đường rầy, như “Anh thích Trung quốc không?” Nếu đó là từ người nắm nhiều đường đi nước bước, đó có thể là câu mở đầu để xem mình có thể sang Trung Quốc nắm một chi nhánh bên đó không. Không hiểu câu hỏi thì mất cơ hội.
4. Một người bạn thân đến chia sẻ một ý tưởng làm ăn mới lạ. Các ý tưởng rất lạ có thể chết hoặc thành rất lớn. Nếu mình không nhậy cảm với sáng tạo, có thể mình sẽ bỏ qua cơ hội ngàn vàng.
5. Phần lớn nhiều người trẻ (hoặc già mà chưa nhậy cảm) bỏ mất cơ hội vì không hiểu được tầm quan trọng của một lời dặn dò rất nhẹ. Người ở cấp quan trọng, không nói nhiều, thường là chỉ nói một câu, và nói rất nhẹ. Ví dụ: “Đừng làm cho ông ấy mất lòng”, hay “đừng nói quanh với ông ấy”, “đừng làm mất lòng người ăn người ở trong nhà ông ấy”, hay “em ngoại giao thêm một tí” hay “em vui với mọi người một tí.”
Những câu nói nhỏ như vậy, những người thiếu bản lĩnh không hỉểu tầm quan trọng của nó, và thường hay phạm đúng điều đã được dặn trước. Và họ không biết là họ có thể đã đóng vài cánh cửa lớn và quan trọng vĩnh viễn.
6. Có một loại cơ hội hầu như người ta không bao giờ mường tượng được, cho đến nhiều năm sau đó. Đôi khi mình bị chặt đứt hoàn toàn trong con đường mình đang đi, ngược lại ýmuốn của mình, và mình chới với và đau khổ. Nhưng đã bao nhiêu người thành công trên thế giới đều nói: Chuyện tôi bị đuổi sở lúc đó–hay chuyện tôi bị chồng bỏ lúc đó, hay chuyện tôi bị gãy chân lúc đó–là chuyện tốt nhất đã xảy ra trong đời tôi. Nhờ bị như vậy mà bây giờ tôi mới thành được thế này.
Nếu bạn hơi lớn tuổi một tí và đã nhiều thăng trầm, ắt là hiểu được lý lẽ này. Người ta hay nói “Một cánh cửa đã đóng và một cách cửa khác đã mở ra, nhưng bạn cứ hối tiếc cánh cửa cũ, cho nên không thấy được cánh cửa mới đang chờ bạn.” Hay, “Thượng đế đóng một cách cửa, để đẩy bạn vào một cách cửa mới Thượng đế đã mở ra cho bạn.”
Dù sao đi nữa thì cơ hội thực sự, cơ hội lớn, cơ hội quan trọng cho ta, thường là chỉ một mình ta có thể thấy, trong tiếng thầm thì, hoặc ngay ta cũng không thấy, nhưng chỉ một mình ta nhận lãnh, và nhiều năm sau mới thấy. Nếu bạn không nhậy cảm, không tĩnh lặng, không chú ý, không lắng nghe, bạn sẽ không thấy, không hiểu, không biết trân quý, và sẽ mất hết từ cơ hội này đến cơ hội khác.
Các bạn biết không, nhiều người cứ than là họ xui cả đời, không bao giờ có được cơ hội gì cả. Chính mình đã cố tình mang cơ hội đến cho vài người bạn như thế, và họ không thấy được cơ hội, và họ cứ phớt lờ đi. Cho nên mình biết số họ không xui. Họ chỉ tự làm cho họ thành số con rận cả đời.
Hi everyone,
Here is a little more about man-woman relationship.
A pickup line is a line a guy uses to start a conversation with a woman he hasn’t met before. Like, “You look so familiar, have we met before?” (No, I don’t know you. Go away and leave me alone 🙂 )
In your experience, what is the best pickup line? Please identify if you are a male or a female when you give the answer.
Bí mật để thuần thục một kỹ năng, một nghệ thuật, nằm trong câu này, “Practice makes perfect – Luyện tập tạo nên hoàn hảo.” Và nếu rút gọn lại một chữ cho dễ nhớ, thì chữ đó là “practice.” Muốn thắng Olympic thì practice, practice và practice. Muốn thi đỗ thì practice, practice và practice. Muốn thành công thì practice, practice và practice.
Vậy thì practice là gì?
Practice là thực tập, luyện tập, thực hành.
Practice thế nào thì chưa cần biết, nhưng điều rất rõ là practice không có nghĩa là lý thuyết.
Practice cũng không có nghĩa là study. Study là học. Nhưng người ta có khi học lý thuyết, có khi học thực hành. Practice là thực hành. Người ta không nói “study makes perfect”, mà người ta nói “Practice makes perfect.”
Mà practice thì chẳng có gì hấp dẫn hết. Biểu diễn thì hấp dẫn. Nhạc sĩ trình diễn một bản nhạc trong nhà hát thì rất hấp dẫn. Võ sư biểu diễn nhào lộn đánh cướp thì rất hấp dẫn. Nhưng tập nhạc hay tập võ chẳng có gì hấp dẫn hết.
Các bạn đã nghe ai tập piano đồ rê mi fa sol la si đô si la sol fa mi rê đồ… chưa? Nếu trong nhà có người học piano mà bạn chưa phải vào bệnh viện thần kinh vì điên cái đầu, thì bạn công lực cũng thâm hậu lắm. Học võ cũng vậy, vào võ đường thì thấy, đấm 100 cái tay phải, 100 cái tay trái, đá 100 cái chân phải, 100 cái chân trái. Ngày nào cũng vậy, mệt gần chết, mà xem ra chẳng có gì hấp dẫn như là anh hùng dùng song long phi cước hạ thủ gian hùng cứu nạn mỹ nhân cả.
Thực tập luôn luôn chán phèo, mệt mỏi, âm thầm, không màu mè, không vinh quang, không hấp dẫn… Sự thật “đen tối” của cuộc đời là thế. Đó là cuộc đời thật của các đại sư phụ và đại sư mẫu trong tất cả các ngành nghệ thuật. Ngay cả sau khi đã nức tiếng giang hồ, lên TV báo chí ì đùng, thì cuộc đời thực tập chán phèo đó vẫn là cuộc đời chính. Một năm may ra lên TV hào nhoáng một hai lần, một lần vài tiếng đồng hồ. Còn phần lớn cuộc đời còn lại là luyện tập, luyện tập, và luyện tập. Trong âm thầm.
Luyện tập thì chẳng có gì phức tạp, mới mẻ, và cao siêu cả. Thực tập chỉ là lập đi lập lại một chiêu thức hàng chục hàng trăm lần một ngày, ngày này qua tháng nọ, cả đời, từ khi chưa thuần thục cho đến khi khá thuần thục, không bao giờ ngưng. Nếu ngưng là không những không đi lên, mà còn đi xuống.
Cho nên chúng ta không thể tư duy tích cực chỉ bằng cách đọc tư duy tích cực, không thể thành thật chỉ bằng đọc về thành thật, không thể khiêm tốn chỉ bằng đọc về khiêm tốn, không thế sáng tạo chỉ bằng đọc về sáng tạo, không thể đắc nhân tâm chỉ bằng đọc về đắc nhân tâm.
Muốn được điều gì chúng ta chỉ có một cách, không có con đường thứ hai—thực tập, thực tập, và thực tập mỗi ngày.
Cho nên các bạn muốn được bình tâm, muốn có can đảm, muốn được yêu đời, muốn thắng sợ hãi… thì chỉ có một cách là thực hành các đức tính đó mỗi ngày. Muốn can đảm tốt như hàng sư phụ, thì tập can đảm mỗi ngày—nghĩa là hành động quả cảm, dù trong lòng thì rất run. Muốn yêu đời như hàng sư mẫu, thì tập yêu đời, cười vui với bè bạn mỗi ngày, dù mới “được” nàng nói “yêu anh nhưng không yêu mãi mãi.” Muốn học khiêm tốn thì khi được bạn chê là dốt, tập nuốt nước bọt mỉm cười.
Vấn đề trong các kỹ năng sống là, không phải chúng ta không biết, nhưng chúng ta không kiên tâm thực hành. Nói chung thì tất cả chúng ta đã biết tất cả những điều cần biết. Nhưng có người thực tập, có người không. Nhiều người tìm đọc đủ mọi sách phát triển nhân cách, học làm người, đắc nhân tâm, nghệ thuật nói chuyện, nghệ thuật chinh phục… cả đời, nhưng không thực tập hàng ngày nghiêm chỉnh. (Dĩ nhiên là đọc sách kỹ năng sống hàng ngày cũng tốt. Đó là nhắc nhở hàng ngày, ảnh hưởng như tự kỷ ám thị. Nhưng nếu đọc không mà không hành, thì không được rồi).
Tệ hơn nữa, nhiều người không những không thực tập các đức tính tốt, lại xúm nhau hạ chuẩn tư cách xuống. Tôi không rờ đến được chuẩn vì chuẩn quá cao so với tôi, thế thì tôi kéo chuẩn xuống thấp. Thế là chúng ta có văn hóa “nói dối là hiểu đời”, “đút tiền dưới gầm bàn là khôn ngoan”, “ai chết mặc ai, khôn thì cứ ngậm miệng”…
Rất may là thế giới con người không đi theo hướng đó. Vì nói gì thì nói, người thành thật vẫn được người ta tin hơn và muốn làm ăn chung hơn, người can đảm thì có bạn trung thành hơn kẻ bỏ bạn mà chạy… Nghĩa là, những người thành thật và can đảm thì vẫn có cơ hội thành công cao hơn. Tức là, những thực tập gian khổ , một lúc nào đó, không chóng thì chầy, sẽ mang lại phần thưởng cho chúng ta.
Hi everyone,
All the responses to yesterday’s question on “eternal love” are on the practical side, namely, “our love is eternal until it it dead.” 🙂
Hey, no Romeo and Juliette anymore? 😦
Well, then, let’s continue today with a practical question on man-woman relationship–prenuptial agreement. This is the contract signed by the bride-to-be and the groom-to-be before marriage, stating what to do when they divorce–how the properties are to be divided, etc.
What do you think about this?
Would this protect someone with lots of pre-marriage properties?
May this be unfair to an unsophisticated spouse (say, a woman from the countryside)? What would be your recommendation to her?
Would this help eliminate arguments in case of divorce?
Would this mean talking about death before birth?
How about romance?