All posts by Trần Đình Hoành

I am an attorney in the Washington DC area, with a Doctor of Law in the US, attended the master program at the National School of Administration of Việt Nam, and graduated from Sài Gòn University Law School. I aso studied philosophy at the School of Letters in Sài Gòn. . I have worked as an anti-trust attorney for Federal Trade Commission and a litigator for a fortune-100 telecom company in Washington DC. I have taught law courses for legal professionals in Việt Nam and still counsel VN government agencies on legal matters. I have founded and managed businesses for me and my family, both law and non-law. I have published many articles on national newspapers and radio stations in Việt Nam. In 1989 I was one of the founding members of US-VN Trade Council, working to re-establish US-VN relationship. Since the early 90's, I have established and managed VNFORUM and VNBIZ forum on VN-related matters; these forums are the subject of a PhD thesis by Dr. Caroline Valverde at UC-Berkeley and her book Transnationalizing Viet Nam. I translate poetry and my translation of "A Request at Đồng Lộc Cemetery" is now engraved on a stone memorial at Đồng Lộc National Shrine in VN. I study and teach the Bible and Buddhism. In 2009 I founded and still manage dotchuoinon.com on positive thinking and two other blogs on Buddhism. In 2015 a group of friends and I founded website CVD - Conversations on Vietnam Development (cvdvn.net). I study the art of leadership with many friends who are religious, business and government leaders from many countries. I have written these books, published by Phu Nu Publishing House in Hanoi: "Positive Thinking to Change Your Life", in Vietnamese (TƯ DUY TÍCH CỰC Thay Đổi Cuộc Sống) (Oct. 2011) "10 Core Values for Success" (10 Giá trị cốt lõi của thành công) (Dec. 2013) "Live a Life Worth Living" (Sống Một Cuộc Đời Đáng Sống) (Oct. 2023) I practice Jiu Jitsu and Tai Chi for health, and play guitar as a hobby, usually accompanying my wife Trần Lê Túy Phượng, aka singer Linh Phượng.

Công phu tư duy tích cực và khó khăn thử thách

Chào các bạn,

Chúng ta thường nói đến tư duy tích cực như là thần dược để ta vui vẻ, tĩnh lặng, an lạc, thành công, v.v… Nhưng hãy hỏi một câu hỏi mà chúng ta gặp thường nhất, dù là ta có ý thức được nó hay không: “Tư duy tích cực có làm cho cuộc sống của ta dễ dàng hơn? Ít thử thách hơn?”

Trong đầu đề của bài này, mình cố tình dùng từ “công phu”, là từ rất thường nghe trong võ học, dù rằng công phu chỉ có nghĩa là “bỏ công ra luyện tập nhiều.” Nhưng mình dùng từ công phu để lấy ví dụ của một võ sư làm minh họa.

Nếu bạn là võ sư bạn sẽ khỏe mạnh, tự tin và có thể yêu đời. Nhờ đó có thể dễ thành công trong nhiều việc. Nhưng đó không có nghĩa là đời bạn ít thử thách và ít khó khăn hơn người khác.

Võ sư thì cũng có thể bị bồ chê, đi theo chàng khác. Cũng có thể bị thất nghiệp, không có tiền trả tiền nhà. Ra đường vẫn có thể gặp cướp (dù là biết ứng phó hơn). Đi làm vẫn có thể bị đồng nghiệp ghen ghét, boss đì. Lỡ mắng ông nhà báo một câu cũng có thể bị báo dũa công cộng…

Như vậy nghĩa là, nếu ta có công phu tư duy tích cực cao, ta vẫn gặp mọi vấn đề mọi người đang gặp hàng ngày. Vấn đề, rắc rối, khó khăn…là một phần tự nhiên của đời sống. Muốn sống thì phải ăn, phải mặc, phải ngủ… Chỉ lo ăn lo mặc lo ngủ thôi là đương nhiên phải làm việc trong guồng máy kinh tế với triệu người khác. Mà đã có người khác là có khó khăn, đụng chạm, giằng co, nợ nần… cộng thêm với các vấn đề bệnh tật tai nạn tự nhiên.

Người có công phu tư duy tích cực cao thì có khả năng ứng phó với các khó khăn trong đời một cách dễ dàng hơn các người khác. Nhưng số lượng khó khăn thì cũng như mọi người khác thôi.

Hơn nữa, mình có tin buồn cho các bạn. Các võ sư thường bị ăn đòn hàng chục lần, nếu không là hàng trăm lần, hơn người không có võ. Người không có võ, ra đường thấy ai bị cướp thì khép nép đứng nhìn hay tảng lờ bỏ đi. Võ sư thấy ai bị nguy thì nhào vào giải cứu. Các băng nhóm cướp bóc giang hồ rất thiện chiến trên đường phố. Đụng vào họ là luôn luôn có thể nguy hiểm đến tánh mạng của mình. Cho nên võ sư bị ăn đòn, thương tật, hoặc tử vong là chuyện thường.

Tương tự như thế, người có tư duy tích cực mạnh mẽ sẽ tích cực nhúng tay vào việc làm đời sống tốt hơn, con người bớt khổ hơn. Mà đã rớ đến chuyện người khác là mang khó khăn vào mình–hoặc là con tim mình nhức nhối về nỗi đau của người khác, hoặc là mình bị những nhóm người xấu cho ăn đòn, hoặc cả hai.

Như vậy là các bạn có câu trả lời rồi đó. Công phu tư duy tích cực cho ta khả năng giải quyết vấn đề cao cho mọi tình huống, nhưng cũng mang lại cho ta nhiều khó khăn hơn người trung bình. Đời là thế. Người càng giỏi càng có nhiều vấn đề khó khăn để giải quyết.

No vacation 🙂

Chúc các bạn một ngày vui.

Ồ, nếu bạn nghĩ, “Tôi sẽ tư duy tích cực nhưng sẽ không xía vào chuyện của ai ngoài đường để khỏi rắc rối vào thân,” thì cũng được. Nhưng bạn sẽ không bao giờ tư duy tích cực, vì đó là gốc tiêu cực mà. 🙂

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

© copyright 2009
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Haiku

.

.

Kìa con còng nhỏ
Nó chạy nó chạy
Bờ Thái Bình Dương

.

.

.

.

.

.

Chiếc lá đỏ
Rơi xuống cỏ
Trên đỉnh Trường Sơn

.

.

.

.

.

Chim câu một bóng
Trên nóc lầu
Cộ xe rầm rập làu làu dọc ngang

    TĐH
    LOW, Nov. 30, 2009

Ghi chú: Có bàn về các thí nghiệm haiku trong phần phản hồi

Giúp dân tộc thiểu số

Chào các bạn,

Câu hỏi Nghiên Cứu Xã Hội hôm nay là:

“Bạn đã bao giờ làm 1 điều nào đó (dù nhỏ hay lớn) mà trong lúc làm bạn nghĩ là làm thế để giúp đồng bào dân tộc thiếu số?”

“Dân tộc thiểu số” trong câu này có thể là dân tộc của bạn, hay một dân tộc khác của nước Việt Nam.

Và chỉ cần trả lời Có hay Không.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

Ba Haiku

Chào các bạn,

Bài này mình đặt tên là “Ba Haiku” vì nó là ba bài Haiku biệt lập. Ghép chúng thành một bài cho vui.

Gọi là Haiku nhưng đây chắc phải là Haiku cải biên hay Haiku mới 🙂 vì mình không dùng qui luật Haiku cổ điển.

Ý thơ, viết theo dòng Haiku thiền.

Các bạn đọc như là 3 bài biệt lập (chẳng liên hệ gì với nhau). Rồi đọc lại thành một bài dài. Rồi cho mình biết cảm tưởng nhé. 🙂 Đang thí nghiệm mà 🙂

Chúc cả nhà một tuần vui.

Mến,

Hoành
.

Ba Haiku

Mảnh tuyết nhỏ
Rơi trên cọng cỏ
Trắng núi Rockies

Quạ đen
Đứng trên cột đèn
Mịt mù tuyết đổ

Tách cà phê
Bên lò sưởi
Bão trắng xóa đồi thông

    TĐH, Nov. 29, 2009
    Lake of the Woods, VA, USA

Thân như điện ảnh

Chào các bạn

Lý Thái Tổ

Hôm  nay chúng ta bàn đến một bài thiền thi của thiền sư Vạn Hạnh, dạy học trò, đã đăng trước đây trong PPS Thiền Thi (Lý Trần)Thiền sư Vạn Hạnh họ Nguyễn, sinh vào khoảng năm 932, người làng Cổ Pháp, phủ Thiên Đức (hiện nay là làng Đại Đình, xã Tân Hồng, huyện Tiên Sơn, Bắc Ninh).  Ngài xuất giá ở chùa Lục Tổ, là học trò của Thiền Ông.  Ngài thuộc thế hệ thứ 7 của dòng thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi của chùa Pháp Vân.

Thiền Sư Vạn Hạnh đã từng giúp vua Lê Đại Hành trị quốc, nhưng khi thấy vua Lê Long Đĩnh không còn là minh quân, thiền sư Vạn Hạnh đã cùng với Đào Cam Mộc sắp xếp việc triều chính và đưa Lý Công Uẩn lên ngôi vua hiệu Lý Thái Tổ năm 1009.

Vào ngày rằm, tháng 5, năm Ất sửu, Thuận Thiên 16 (1025), ở chùa Lục Tổ, trước lúc qua đời, thiền sư đã gọi học trò đến dặn dò trong bài Thị đệ tử sau:

Thị đệ tử

Thân như điện ảnh hữu hoàn vô
Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô
Nhậm vận thịnh suy vô bố úy
Thịnh suy như lộ thảo đầu phô

    Quốc sư Vạn Hạnh
    (Nguyễn Vạn Hạnh ?-1018)

Việt dịch:

Dạy học trò

Thân như điện chớp, có thành không
Cỏ cây xuân thắm, thu héo tong
Suy thịnh vào tay, lòng không sợ
Thịnh suy như sương bám cỏ đồng

    TĐH dịch

Thân như điện chớp có thành không

Thời xưa người ta gọi ánh chớp trên trời là điện.  Thân ta như điện chớp tức là có đó và biến mất ngay, có thành không.  Tức là  nói đến cái phù du tạm bợ của thân này.

“Có thành không” trong bản chữ Hán là “hữu hoàn vô”, tức là “có trở về không.”   Trở về, như vậy có nghĩa là, trước là không, sau mới thành có, sau đó lại trở về không.

Tức là, “không” đây chẳng có nghĩa là “không có” theo nghĩa triệt tiêu, zero.  “Không” đây là tên của bản tính nguyên thủy, bản tính đầu tiên, của tất cả mọi thứ trong vũ trụ.   Vì vậy, ta nên viết hoa cho dễ hiểu–Không

Người ta hay dùng hình ảnh “nước và sóng” để diễn tả “Không và có”.   Nước là bản tính nguyên thủy, sóng là hiện tượng bề mặt.  Nước thì luôn ở đó, nhưng mỗi con sóng thì chỉ hiện ra vài mươi giây là biến mất.  Sóng tan lại “trở về” nước.  Thân ta tan biến, lại trở về Không.

Như vậy khi chết đi, cái thân như ánh chớp này lại trở về bản tính nguyên thủy của mình là “Không”.  Chết chẳng phải là hết, mà là trở về bản tính nguyên thủy—Không.

Cỏ cây xuân thắm, thu héo tong

Có sinh thì có tử.  “Thành, Trụ, Hoại, Không” là bốn thời kỳ sống của vạn vật—sinh ra, đứng vững, hư hại, tan biến.   

Cây cỏ mùa xuân nẩy sinh mầm sống, hạ là thời sống mạnh, thu là vào giai đoạn héo úa,  đông là chết.

Con người có sinh thì có tử, cũng là lẽ tự nhiên.  Tử có nghĩa là thân này tan biến đi để trở về Không.

Vậy thì việc gì mà sợ chết?  Việc gì mà các đệ tử phải sợ, phải buồn việc thầy chết?

Suy thịnh vào tay, lòng không sợ. Thịnh suy như sương bám cỏ đồng. 

Khi xuống khi lên, khi thắng khi thua, khi thành khi bại, khi suy khi thịnh, cũng là lẽ tự nhiên.  Cả một đời người cũng chỉ là một ánh chớp, thì bao nhiêu suy thịnh lên xuống trong đời đó còn nhỏ và nhanh hơn cả một ánh chớp.  Mong manh phù du như giọt sương trên đầu cỏ, sẽ tan biến ngay dưới những ánh mặt trời đầu tiên.   Có gì mà phải quan trọng hóa chúng?  Có gì mà phải sợ?

Sống chết cũng chỉ là một tí lên xuống suy thịnh, như sóng lên sóng xuống, của vòng luân lưu “có hoàn Không, Không sinh có”, mà thôi.  Có gì mà phải sợ?


Chúng ta cần ghi chú thêm ở đây rằng, “không sợ” là một đức hạnh rất quan trọng trong đường tu Phật.  Người Giác Ngộ  có tâm tĩnh lặng, không sợ, không có bất kỳ nỗi sợ nào gây sóng gió trong tâm.

Trong 6 đường tu của Bồ tát (lục độ ba-la-mật), đường đầu tiên là bố thí—bố thí tiền (tài thí), bố thí Phật pháp (pháp thí), và bố thí tính không-sợ (vô úy thí).  Trong ba loại bố thí này, thì bố thí cao quí nhất là “vô úy thí”, tức là “bố thí tính không-sợ,” là  mang cho người ta sự can đảm và đức bình tĩnh.

Tóm lại, bài thơ này, nhắn nhủ đệ tử trước khi chết, rằng sống chết là lẽ tự nhiên.  Thân này cũng chỉ phù du như ánh chớp.   Đang có và sẽ trở về Không.  Cũng chỉ là  thịnh suy của sóng lên sóng xuống, sóng sinh và sóng tan, trên mặt biển.  Chẳng có gì phải lo sợ.

Binh thản đối diện cái chết.
Bình thản đối diện thịnh suy thắng bại ở đời.
Bình thản đối diện cuộc đời.

Không sợ.
Không sợ thắng bại,  thịnh suy, được mất, sống chết.

Tâm tĩnh lặng.

Chúc các bạn một ngày vui,

Mến,

Hoành

© copyright 2009
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Thế giới màu gì?

Chào các bạn,

Nếu một người sinh ra với thủy tinh thể mắt màu đỏ, người đó chỉ có thể thấy một màu cho cả thế giới—đỏ nhạt, đỏ trung bình, đỏ đậm, đỏ đậm hơn… Tương tự như thế với người có thủy tinh thể màu xanh, màu tím, màu cam… Với những người này, họ chỉ có thể nhìn thế giới một màu, và dù bạn có giải thích thế nào về hàng chục màu khác, họ cũng không thể nào hiểu được. Thế giới thật muôn màu không thể hiện diện với họ.

Đó là hậu quả của cái mà ta gọi là thành kiến, hay nhà Phật gọi là chấp. Cái tâm của ta, hay còn gọi là cá tính của ta, là màu thủy tinh thể của ta. Với người hay ganh tị, cả thế giới chỉ có một màu ganh tị–mọi người ganh tị nhau và chèn ép nhau để sống. Với người có máu tham lam, thế giới chỉ là những con người tham lam tranh giành nhau. Người có máu kiêu căng, thì thế giới chỉ là những cái tôi lớn tìm cách đè bẹp nhau và tự trương phình mình. Người có máu ghen tương thì thế giới chỉ là những con người giành giật tình yêu nhau. Người có máu nghi ngờ thì thế giới chỉ là một sự dối trá lớn. Người có máu thiếu an ninh thì thế giới chỉ là một cái nhà bằng giấy carton có thể sụp đổ bất kỳ lúc nào…

Chính ta tạo ra thế giới của mình. Không ai tạo ra thế giới của mình cho mình được.

Trừ khi các người này tự cởi bỏ màu thủy tinh thể của mình, các công sức của người khác để giải thích cho họ về bản chất thật của cuộc đời thường chẳng đem lại tí kết quả nào cả. Lại có thể làm mất lòng nhau.

Vấn đề lại càng phức tạp hơn vì mỗi chúng ta không chỉ có một màu thủy tinh thể, mà lại có rất nhiều màu—tùy lúc và tùy người đối diện, màu thủy tinh thể của ta tự động đổi. Ví dụ: Gặp ông A thì màu thủy tinh thể ta tự động đổi ra màu “ghét”—ông này làm điều gì ta cũng thấy sai, cũng thấy dốt, cũng thấy có hại cho xã hội. Gặp ông B thì màu đổi ra thành nghi ngờ–ông này nói gì thì cũng nhất định nghĩ là ông ta nói dối. Gặp bà C thì lại tự động đổi ra màu ganh tị–bà này làm gì ta cũng muốn làm hơn và luôn luôn thầm mong cho bà ta không khá…

Kẹt một nỗi là thủy tinh thể thì không phải là kính đeo mắt để ta biết là ta có đeo một màn màu to tướng trước mắt. Thủy tinh thể chính là mắt và ta không biết được là ta đang bị màu mắt che hình ảnh của thế giới.

Chính vì thế mà ta thấy rất nhiều người trên thế giới nói năng điên rồ, hành động điên rồ, suy nghĩ điên rồ, làm hại cho bao nhiêu người chung quanh, để khổ cho bao nhiêu người chung quanh, nhưng không thể nào ta có thể giải thích cho họ hiểu để họ tự biết điều khiển màn màu mắt cả. Họ đơn giản là không thể tưởng tượng được họ đang bị màn màu che mắt.

Bởi vì sự cực kỳ khó khăn trong việc nhận thấy và xóa bỏ thành kiến của mình như thế, các truyền thống tâm linh đều có những từ đặc biệt để chỉ khả năng thấy được màu mắt mình và tự biến đổi màu mắt thành không màu. Khả năng đó gọi là Giác Ngộ (hay Ngộ) trong Phật giáo, và trong các tôn giáo thuộc truyền thống Moses (Do Thái giáo, Thiên chúa giáo, Hồi giáo) thì gọi là Mặc Khải của Thượng đế (Relevatlion of God) hay Mặc khải của Thánh Linh (Revelation of the Holy Spirit).

Người ta phải dùng các từ lạ thường như thế, thay vì các từ thông thường như “hiểu biết”, “thấy được”, “tìm ra”… vì tinh cách lạ lùng của “sự mở mắt” này. Nó chẳng liên hệ gì đến sự thông minh của một người , hay thời gian học tập nghiên cứu, hay mức cố gắng tìm hiểu luyện tập, hay họ siêng đi nhà thờ hay đi chùa, hay họ siêng cầu nguyện mỗi ngày… Giác Ngộ hay Mặc Khải thường đến một cách bất ngờ, dưới những điều kiện không l‎y’ giải được bằng các tính toán thông thường. Vì vậy người ta thường nói đến Giác Ngộ và Mặc Khải như là một hiện tượng tâm linh, hơn là một kết quả tìm kiếm khoa học.

Dù khó khăn như thế, qua các kinh nghiệm Mặc Khải hay Giác Ngộ của nhiều người kể lại, cũng như qua kinh nghiệm của bản thân chúng ta, ta có thể nhận thấy vài điểm căn bản trên con đường đi đến Giác Ngộ hay Mặc Khải.

1. Phải có ước muốn, thật sự và mạnh mẽ, để hiểu được Sự Thật. Sự Thật viết hoa. Những người cho rằng tôi đã hiểu rõ con người tôi, tôi đã thánh thiện trước mặt Chúa, thế gian chỉ toàn người dối trá chỉ tôi là thành thật, thế gian say chỉ mình ta tỉnh, “thế” là “gian” tôi đi tu quách cho được việc…, những người như thế thường là sẽ mù suốt đời, vì họ hoàn toàn không có một mong ước nào để biết gì về họ. Họ tự mãn về kiến thức của mình về mình như thế, họ sẽ không bao giờ thấy con người thực của mình, không bao giờ thấy được tình yêu thực sự (ngoài “tình yêu” cho những người và những cái họ “yêu”), không bao giờ nghe được lời thầm thì của Thượng đế, không bao giờ nghe được tiếng sét của Thượng đế đánh ngang mày… Tự cho là mình biết đủ, hiểu đủ, tốt đủ về chính mình và về Sự Thật là màn Vô Minh lớn nhất và dày nhất–mà nhà Phật gọi là “cái Ngã” và Thiên chúa giáo gọi là Tội Đầu số một (The First Cardidnal Sin)—tội kiêu ngạo.

2. Các màu mắt của mình là do “Cái Tôi” biến hóa ra mà thành. Muốn cất hết các màu mắt thì chỉ có một cách duy nhất là cất đi cái tôi. Và ta có thể thấy hàng nghìn quyển sách chỉ ta cách giảm đi cái tôi. Mình không muốn lập đi lập lại các điều đó ở đây.

Mình chỉ muốn chia sẻ với các bạn một cách mà theo quan sát của mình thì nó vừa dễ để thực hiện vừa có công hiệu tốt cho mọi người. Trong truyền thông Thiên chúa giáo có câu: What Would Jesus Do? (Chúa Giê Su sẽ làm gì trong trường hợp tương tự?) Ở Mỹ ta thường thấy bán các lắc đeo tay có khắc bốn chữ WWJD, đó là câu What Would Jesus Do?

Tức là mỗi khi đối diện với một tình huống hay một suy tư nào đó trong đầu, ta tự hỏi “Chúa Giê Su sẽ làm gì nếu người là ta lúc này?” Người Thiên chúa giáo (nếu có đọc Thánh Kinh), hiểu được cách sống của Chúa Giê Su, đương nhiên là biết Chúa Giê Su sẽ làm gì, và noi gương người mà hành động như thế.

Ta cũng nên có một cái lắc tay ghi WWBD – What Would Buddha Do? Phật Thích Ca sẽ làm gì trong tình huống tương tự?

Nếu chúng ta thực hành cách này hàng ngày, trong tất cả mọi tình huống trong ngày, ngưng lại một giây và hỏi câu đó, thì từ từ ta sẽ rất khiêm tốn, cái tôi sẽ biết mất, và các màu mắt từ từ biến đi luôn…

Các bạn a, để mình nói cho các bạn nghe nhé. Các bạn đang còn đi học và chỉ nghĩ đến các mảnh bằng và công việc kiếm tiền. Không trường nào dạy các bạn các điều chúng ta đang bàn cả. Và các bạn có thể nghĩ là mảnh bằng và công việc là việc khó khăn và quan trọng nhất trên đời. Mình đã qua đoạn đó để biết là mấy thứ đó quan trọng và khó khăn, nhưng không “nhất.” Quan trong và khó khăn nhất là khả năng không để cho chính mình lừa dối và làm mù mắt mình. Và điều đó chẳng có đại học nào dạy bạn cả.

Các đại gia tham nhũng, dốt nát, hiếp dân hại nước nhất ngày nay, thường là người có bằng cấp cao và đã từng là những sinh viên trẻ trong sạch và nhiều nhiệt huyết.

Họ chỉ không học những điều cần thiết nhất trong khi họ trưởng thành.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

© copyright 2009
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Andrés Segovia – Guitar cổ điển

Chào các bạn,

Ai nghe nhạc guitar cổ điển cũng đều biết đến Andres Segovia, người mang cây guitar bình dân của Gypsies Tây Ban Nha trên đường phố vào thính phòng và những đại hí viện với những dàn đại hòa tấu, thành cây vương cầm, ngang hàng với violon và piano trong thính phòng.

Andrés Torres Segovia sinh ngày 21 tháng 2 năm 1893 ở Tây Ban Nha, học đàn Flamenco từ lúc 6 tuổi. Tuy nhiên khi lớn lên Segovia không chơi Flamenco, nhưng mang một số kỹ thuật Flamenco vào nhạc cổ điển, và do đó phong phú hóa kỹ thuật cũng như âm điệu guitar cổ điển. Kỹ thuật cao độ của Segovia cộng với các phát minh mới về kỹ thuật thu đĩa và thu băng, radio, và TV, giúp cho cây guitar cổ điển trở thành cây đàn được ưa chuộng và kính trọng khắp thế giới.

Năm 1958 Segovia được giải Grammy về Best Classical Performance (trình tấu cổ điển hay nhất), cho đĩa nhạc Segovia Golden Jubilee. Ngày 24 tháng 6 năm 1981, vua Tây Ban Nha Juan Carlos phong chức hoàng tộc cho Segovia “Marqués de Salobrena” (hầu tước của Salobrena).

Segovia vẫn trình diễn khi đã hơn 80 tuổi. Ông mất ngày 2 tháng 6 năm 1987, thọ 94 tuổi và được chôn cất tại lâu đài Casa Museo de Linares, ở Andalusia.

Một người bạn cùa mình, guitarist Trịnh Bách, là học trò yêu của Segovia. Bức ảnh cuối cùng của Segovia là do Trịnh Bách chụp một tháng trước khi Segovia qua đời.

Mình nhớ lúc mẹ Bách bị bệnh trong khoảng đầu thập niên 90, Bách bỏ tập và bỏ trình diễn guitar để lo cho mẹ. Những năm về sau này Bách về giúp phục dựng các hiện vật cung đình triều Nguyễn. Các bạn có thể theo dõi công việc phục hồi di sản văn hóa tốn kém tiền bạc và công sức này của Trịnh Bách tại đây. Hiện nay Trịnh Bách đang ở Hà Nội.

Sau đây mời các bạn xem một số video trình tấu của Segovia.

Chúc các bạn một ngày dịu dàng cổ điển.

Hoành
.

Andres Segovia – Asturias – Isaac Albeniz

.

Andres Segovia – The Song of the Guitar

.

Segovia plays Bach (Gavotte 1 & 2)

.

Frederico Moreno Torroba (1891-1982): Suite Castellana, I. Fandango.

.

Torroba Sonatina 1St Mov.mpg

Phố Ngọc Lan

Chào các bạn,

Truyên ngắn này mình đã đăng trên Tuổi Trẻ Chủ Nhật, số 43-96 (677), 3.11.1996-9.11.1996, dưới bút danh Trần Đình. Vậy là lúc này đang nằm trong bệnh viện ở Singapore. Mình nhớ là viết bài này lúc còn ở Hà Nội. Gởi vào Tuổi Trẻ cho Nguyễn Đông Thức thì phải. Sau đó đi qua Singapore thì bị bệnh luôn.

Bản dưới đây đã được scanned và đặt trên Scribd.com. Các bạn có thể điều khiển màn ảnh cho dễ đọc. Click vào “Fullscreen” (ở phía trên) để xem màn ảnh lớn. Rồi dùng “Zoom – +” (ở cuối màn ảnh) để phóng đại chữ.

Tờ báo cũ quá nên đã hoen ố vài nơi. Mong các bạn thông cảm.

Chúc cả nhà một ngày vui.

Hoành

.

Chào mừng Thanksgiving Day – Lễ Tạ Ơn

Chào các bạn,

Hôm nay, thứ năm cuối của tháng 11, là ngày Lễ Tạ Ơn ở Mỹ. Lễ Tạ Ơn có nguồn gốc từ năm 1621, thời điểm đầu tiên của những người tị nạn Âu Châu đến lập nghiệp ở Thế Giới Mới và tạo thành nước Mỹ sau này.

Năm 1620, 102 người của 8 giáo hội ly khai khỏi Anh giáo thuê một chiếc tàu tên là May Flower để sang Mỹ Châu, trốn chạy bách hại tôn giáo ở Anh. May Flower rời Southhampton, Anh quốc, ngày 6 (hay 16?) tháng 9, chở 102 hành khách và khoảng 25 đến 30 người thủy thủ đoàn. Sau 66 ngày hành trình gian khổ đến nỗi hai người đã thiệt mạng, tàu đến nơi (mà ngày nay là cảng Provincetown Harbor ở Cape Cod, bang Massachusetts) ngày 11 (hay 21?) tháng 11.

Thực ra điểm đến dự tính của tàu này là miệng sông Hudson ở New York, nhưng vì thời tiết xấu, tàu đã đi sai đường, lên phía bắc. Ngày 11 tháng 12, tất cả 100 người hành khách còn lại xuống tàu, ở vùng ngày nay gọi là Plymouth, bang Massachusetts.

Nhóm hành khách này được gọi là the pilgrims (những người hành hương) trong văn hóa nước Mỹ ngày nay. The pilgrims và tàu May Flower đóng vai rất quan trọng trong lịch sử nước Mỹ–mở đầu cho một prong trào di dân và lập nghiệp, tạo thành nước Mỹ tương lai.

Mùa đông đầu tiên, những người pilgrim sống thật đói khát khổ sở thiếu thốn. Chỉ vài tháng sau họ đã mất 46 người. May là họ được thổ dân da đỏ giúp đở, dạy họ cách sinh sống, và làm mùa, trong vùng đất mới.

Vụ gặt mùa thu năm 1621, the pilgrims được mùa tốt. Họ quyết định làm một lễ tạ ơn, lễ hội cùng nhau và cùng 91 người thổ dân da đỏ đã giúp đở họ, trong ba ngày liền. Gà tây, bắp (ngô), dâu cranberry, bí rợ (đỏ) là những thực phẩm có lúc bấy giờ, được dùng trong lễ hội, và từ đó tạo lập truyền thống về các món ăn trong ngày Lễ Tạ Ơn cho đến ngày nay.

Ngày 3 tháng 10 năm 1789, tổng thống George Washington, lần đầu tiên, chỉ định ngày Lễ Tạ Ơn cho quốc gia:

Vì lý do, nhiệm vụ của tất cả mọi Quốc Gia là công nhận quyền năng của Chúa Toàn Năng, vâng theo ý ngài, tạ ơn về các hồng phúc của ngài, và khiêm tốn khẩn cầu sự bảo vệ và yêu thương của ngài, và vì lý do cả hai viện của Quốc Hội, qua ủy ban lưỡng viện, đã yêu cầu tôi “đề nghị với toàn nhân dân Mỹ Quốc một ngày tạ ơn và cầu nguyện công, được tôn kính bằng cách công nhận với lòng biết ơn nhiều dấu hiệu yêu thương của Chúa Toàn Năng đã cho nhân dân một cơ hội hòa bình để thiết lập một hình thức chính quyền phục vụ an ninh và hạnh phúc của nhân dân.”

Vì vậy bây giờ tôi đề nghị và chỉ định ngày Thứ Năm, 26 tháng 11 tới là ngày của Nhân Dân Nước Mỹ hiến dâng cho Thượng đế vĩ đại và vinh quang, là đấng sáng tạo ra tất cả mọi điều phúc thiện trong quá khứ, hiện tại và tương lai. Tất cả chúng ta hãy kết đoàn để dâng lên ngài lời tạ ơn thành tâm và khiêm tốn, vì ngài đã lo lắng ân cần và bảo vệ Dân Tộc này trước khi thành lập Quốc Gia; vì các dấu hiệu và nhiều thương xót của ngài, và sự can thiệp của quyền năng của ngài, mà chúng ta đã trải nghiệm trong suốt cuộc chiến và tại điểm kết cục của cuộc chiến vừa qua; vì mức độ rất cao của tĩnh lặng, đoàn kết và phú cường mà chúng ta đã được tận hưởng từ sau cuộc chiến; vì chúng ta đã được cho khả năng để tạo ra luật pháp, một cách hòa bình và hợp lý, cho chính phủ để phục vụ an ninh và hạnh phúc của chúng ta, đặc biệt là chính phủ liên bang mà chúng ta vừa thiết lập; vì tự do dân sự và tự do tôn giáo chúa ban cho chúng ta; và vì những phương tiện chúng ta có được để thu lượm và truyền bá kiến thức; và nói chung là tất cả ân sủng lớn và đặc biệt Thượng đế đã ban cho chúng ta.

Và để chúng ta có thể kết đoàn trong việc hiến dâng một cách khiêm tốn nhất lời cầu nguyện và khẩn cầu của chúng ta đến Chúa Cao Cả và Người Cai Trị Tất Cả Mọi Quốc Gia và nài xin ngài tha thứ cho mọi lỗi lầm của quốc gia cũng như các lỗi lầm khác, để giúp tất cả chúng ta, dù là trong chức vụ công hay nhiệm sở tư, có thể thi hành tốt và đúng lúc mọi nhiệm vụ của mình, để biến chính quyền quốc gia thành một ân phước cho tất cả nhân dân, bằng cách luôn luôn là một chính phủ khôn ngoan và công bình, và luật đặt trên hiếp pháp được thi hành và tuân thủ một cách tế nhị và trung thực, để bảo vệ và dìu dắt mọi Vua Chúa và mọi Quốc Gia (nhất là các quốc gia đã tử tế với chúng ta), và ban cho họ chính phủ tốt, hòa bình và thân ái, để thăng tiến kiến thức và thực hành tôn giáo và đạo đức thật, và phát triển khoa học giữa các nước và chúng ta, và nói chung ban cho tất cả Loài Người phú cường vật thể mà chỉ Chúa biết rõ nhất.

Chính tay tôi ký ở New York ngày 3 tháng 10 năm của Chúa thứ 1789.


Đến năm 1863, tổng thống Lincoln ấn định ngày thứ năm cuối tháng 11 là ngày Thanksgiving hàng năm.

Các tổng thống Mỹ có thông lệ là đọc một bài diễn văn đặc biêt trong ngày Thanksgiving, gọi là Thanksgiving Proclamation. Bài diễn văn năm 2008 của tổng thống Bush có thể đọc được ở đây, và bài diễn văn năm 2010 của tổng thống Obama có thể đọc được ở đây.

Mỗi năm National Turkey Federation (hiệp hội nuôi gà tây của Mỹ) gởi tặng Nhà Trắng gà tây vào dịp Thanksgiving. Các tổng thống Eisenhower, Nixon và Johnson xơi các chú. Tổng thống Kennedy lần đầu tiên tha mạng các chú, không làm thịt. Và năm 1990, tổng thống George H.W. Bush (Bush cha) đã chính thức thành lập ngày tha tội cho gà tây, tặng các chú gà tây nhận được vào các thảo cầm viên, và ngày nay ta có truyền thống ân xá gà tây hàng năm tại Nhà Trắng. Ngày tha tội gà tây của Thanksgiving 2010 có thể đọc được tại đây.

Trong ngày Thanksgiving, mọi người trong gia đình thường tụ họp nhau ăn uống và chuyện vãn. Các món ăn chính là gà tây, dâu cranberry, bánh mì bí rợ, bánh ngọt bí rợ, bắp (ngô)…

Tuần Thanksgivings là một trong những tuần dân Mỹ di chuyển nhiều nhất trong năm, để về tụ họp gia đình.

Thanksgiving cũng là ngày đầu tiên của Mùa Lễ Hội (Holidays Season), kéo dài cho đến ngày đầu năm mới, mồng một tháng giêng.

Ngày thứ sáu sau Thanksgiving là ngày đầu tiên của mùa buôn bán Lễ Hội (Holidays season shopping), và thường được gọi là ngày Black Friday (ngày Thứ Sáu Đen), vì ngày đó người ta đi mua sắm kẹt xe đen cả đường phố. Các cửa tiệm đều có những món hàng hạ giá rất thấp để mời gọi mọi người mua sắm đầu mùa. Có nơi người ta sắp hàng từ đêm hôm trước, dài cả cây số, để chờ tiệm mở cứa khoảng 6 giờ sáng.

Ngày nay, Black Friday (Thứ Sáu Đen) còn có nghĩa là ngày các tiệm kiếm ra tiền, thống kế kế toán có số lời, màu đen, thay vì số lỗ màu đỏ.

Chúc cán bạn một ngày nhiều Tạ Ơn.

Sau đây mời các bạn xem vài videos vui về ngày Thanksgiving.
.

Heavy turkey

.

Crappy Canadian Thanksgiving (w. Ellen Page & Justin Long)

(TĐH: cập nhật post 24.11.2010)

Thank you God – Cảm ơn Chúa

Thank you God
For giving me a life
For making me who I was
Who I am
And who I will be
For all the easy times and hard times
All the smooth roads and rough roads
All the successes and failures
All the fortunes and misfortunes
All the days and nights
All the sunshine and darkness
All the pains and pleasures
All strengths and weaknesses
All the loneliness and companions
All the friends and enemies
All the joys and miseries
All the tears and laughters
All of me
All of Life
And All of You

Amen

.

Cảm ơn Chúa
Đã cho con cuộc đời
Đã tạo ra con là con như thế
Trong quá khứ
Hiện tại,
Và tương lai
Đã cho con thời dễ và khó
Đường êm và lởm chởm
Thành công và thất bại
Tài sản và thất tán
Ngày và đêm
Anh nắng và bóng tối
Đau khổ và sướng vui
Cô đơn và gắn bó
Bạn và thù
Nước mắt và tiếng cười
Tất cả con
Tất cả Đời
Tất cả Chúa

Amen

Trần Đình Hoành

Cư trần lạc đạo

Chào các bạn,

Trần Nhân Tông (1258-1308) là vua Đại Việt thứ ba của nhà Trần. Trước đó là Trần Thái Tông và Trần Thánh Tông.

Sau khi nhường ngôi cho con là Trần Anh Tông, vua Trần Nhân Tông, dưới sự hướng dẫn của Tuệ Trung Thượng Sĩ, lên núi Yên Tử tu thiền, và tập hợp ba dòng thiền tại Việt Nam lúc đó là dòng Tỳ Ni Đa Lưu Chi (Vinitaruci), dòng Vô Ngôn Thông, và dòng Thảo Đường, thành Thiền phái Trúc Lâm, còn tồn tại cho đến ngày nay với Trúc Lâm Thiền Viện ở Đà Lạt do thiền sư Thích Thanh Từ chủ trì.

Hôm nay chúng ta sẽ nghiên cứu một bài thiền thi ngắn nhưng rất sâu sắc của vua Trần Nhân Tông, là bài Cư trần lạc đạo, vừa đăng gần đây trong slideshow Thiền Thi.

Cư trần lạc đạo

Cư trần lạc đạo thả tùy duyên
Cơ tắc xan hề khốn tắc miên
Gia trung hữu báo hưu tầm mịch
Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền

    Trần Nhân Tông
    (Trần Khâm 1258-1308)


Sống đời vui đạo

Sống đời vui đạo cứ tùy duyên
Đói thì ăn no mệt ngủ liền
Trong nhà có của, đừng tìm nữa
Nhìn cảnh vô tâm, hỏi chi thiền

    TĐH dịch

Sống đời vui đạo cứ tùy duyên. Sống đời vui đạo. Không phải là “trốn đời vui đạo” theo kiểu “Lan và Điệp” như mọi người thường lầm tưởng. Đời và đạo là sống và vui.

“Đời đạo là sống vui. Đạo đời là vui sống.”

Có “sống đời” thì mới “vui đạo” được. Vì đời là đạo và đạo là đời. Ngoài đời không có đạo, ngoài đạo không có đời. Như thiền sư Vĩnh Gia Huyền Giác nói trong Chứng Đạo Ca :

Vô minh thực tính tức phật tính
Huyễn hóa không thân tức pháp thân

Giải thích:

Bản tính thực của vô minh (si mê) chính là tính phật
“Thân không thực” huyền ảo này chính là thân (thực) của tất cả mọi thứ

Đây cũng chính là “sắc bất dị không, không bất dị sắc” (sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc) của Bát Nhã Tâm Kinh.

• Muốn “sống đời vui đạo” thì phải “tùy duyên” Chữ “duyên” là chữ bao gồm toàn bộ tư tưởng Phật học.

“Duyên” là nhân quả. Những gì xảy ra bây giờ là kết quả của tất cả mọi nguyên nhân (mọi nhân duyên) trước đó—một tích tắc trước cũng như vô lượng kiếp trước—và là nguyên nhân của những gì sau đó—một tích tắc sau cũng như vô lượng kiếp sau.

(Chỉ cần hiểu hết được lý‎ lẽ của chữ duyên—thập nhị nhân duyên, mười hai bước nhân duyên của cuộc đời—là đã có thể giác ngộ thành Bích Chi Phật)

“Tùy duyên” là “theo duyên”. Nghĩa là chuyện gì xảy đến cũng có l‎ý do của nó, cứ thuận theo đó mà sống–không cần phải chống lại nó, không cần phải phàn nàn về nó, không cần phải lo âu về nó, không cần phải stress về nó, như là:

Đói thì ăn no, mệt ngủ liền.

Chẳng ai phàn nàn tại sao đói. Chẳng ai thắc mắc tại sao mệt. Chẳng ai đau khổ mỗi khi đói bụng hay buồn ngủ.

Vậy thì, bệnh thì tìm thuốc chữa, cần tiền thì đi làm kiếm tiền, cần thi đậu thì học, cần hết stress thì giải stress…

Việc gì phải làm thì làm, chẳng lý do gì phải stress, phải phàn nàn, phải trách móc, phải giận dữ, phải đau khổ, phải than thân trách phận, phải tiêu cực.

Trong nhà có của, đừng tìm nữa.

Cái gì là báu vật vậy? USD? Hột xoàn mười mấy cara?

Không. Báu vật đó là cái tất cả mọi người trong thiên hạ đi tìm: Hạnh phúc.

Hạnh phúc: Nhà Phật gọi là Niết Bàn—hoàn toàn tĩnh lặng, hoàn toàn an lạc, thành người tĩnh thức, thành Phật.

Nhưng Niết Bàn không nằm ngoài ta—Niết Bàn đã có sẵn trong tâm ta. Phật cũng không nằm ngoài ta, Phật đã nằm sẵn trong tâm. Mỗi người chúng ta là Phật đang thành, là Niết Bàn sắp hiện.

Đừng tìm Phật bên ngoài, đừng tìm Niết Bàn bên ngoài. Trong nhà có của, đừng tìm nữa.

Nhìn cảnh vô tâm, hỏi chi thiền.

Nhìn cảnh thì thấy cảnh, đừng “chú giải” thêm vào cảnh đó. Như là nhìn“mưa rơi trên mái hiên” thì thấy “mưa rơi trên mái hiên”, chứ đừng chú giải thêm là “mưa rơi trên mái hiên buồn tênh” hay “mưa rơi trên mái hiên như những bước nhảy nhót của người yêu.”

Phụ chú tình cảm chủ quan vào “cảnh” ta thấy, là có tâm ý.

Chỉ nhìn cảnh, thấy cảnh, nhưng không phụ chú, không tam quốc diễn nghĩa thêm vào, gọi là “không tâm ý”, tức là “vô tâm.”

“Nhìn cảnh vô tâm” tức là nhìn người chửi mình mà không nổi giận; nhìn bệnh tật đến với mình mà không sợ hãi; nhìn nguy hiểm trước mắt mà không kinh khiếp; nhìn đống vàng mà không hoa mắt; nhìn danh vị mà không ham hố; nhìn quyền lực mà không say mê; nhìn túi quần không một xu teng mà không mặc cảm; nhìn thân thể tật nguyền mà không tủi thân, nhìn thế lực địa vị trong tay mà không kiêu mạn…

Điều gì đến thì đến, điều gì phải làm thì làm. Đến thì đến, nhìn thì nhìn, làm thì làm, nhưng tâm luôn bình lặng, luôn thoải mái, luôn an lạc.

Đó là vô tâm.

Và đó là Hạnh phúc, là Niết Bàn, là Phật tính.

Đối cảnh vô tâm. Nhìn cuộc đời với con tim hoàn toàn tĩnh lặng.

Như thế thì không còn tham lan, sân hận, si mê, kiêu mạn, sợ hãi, làm cho tâm bị mù lòa nữa.

Lúc đó tự nhiên ta thấy được của báu đã có sẵn trong nhà—cái tâm tĩnh lặng của mình, Phật tính của mình, Niết Bàn của mình.

“Đối cảnh vô tâm” là Phật, là Niết Bàn, là an lạc, là Hạnh phúc.

Thế thì đâu cần phải hỏi chi đến thiền, hay tu, hay pháp?

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

© copyright 2009
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Chào mừng Ngày Nhà Giáo Việt Nam

    Một trăm năm sau, tôi đã lái xe gì, không quan trong; tôi đã ở nhà loại nào, không quan trọng; tôi đã có bao nhiều tiền trong ngân hàng, không quan trọng… Điều quan trọng là thế giới có thể tốt hơn một chút vì tôi đã tạo được một thay đổi trong cuộc đời của một em nhỏ.” — Forest Witchcraft.

Chào các bạn,

Tháng 7 năm 1946, một tổ chức quốc tế các nhà giáo tiến bộ được thành lập ở Paris đã lấy tên là Liên hiệp quốc tế các công đoàn giáo dục (tiếng Pháp: Fédération Internationale Syndicale des Enseignants – FISE).

Nǎm 1949, tại một hội nghị ở Warszawa (thủ đô của Ba Lan), Liên hiệp quốc tế các công đoàn giáo dục đã ra bản “Hiến chương các nhà giáo” gồm 15 chương với nội dung chủ yếu xây dựng nền giáo dục, bảo vệ những quyền lợi của nghề dạy học và nhà giáo, đề cao trách nhiệm và vị trí của nghề dạy học và nhà giáo.

Công đoàn giáo dục Việt Nam, là thành viên của FISE từ năm 1953. Năm 1958, FISE họp hội nghị từ 26 đến 30 tháng 8 năm 1957 tại Warszawa, lấy ngày 20 tháng 11 năm 1958 là ngày “Quốc tế hiến chương các nhà giáo”. Ngày này đã trở thành ngày truyền thống của ngành giáo dục Việt Nam.

Vào ngày 28 tháng 9 năm 1982, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành quyết định số 167-HĐBT thiết lập ngày 20 tháng 11 hằng năm là ngày lễ mang tên “Ngày nhà giáo Việt Nam”.

Nội dung quyết định số 167-HĐBT như sau:

Điều 1: Từ nay hàng nǎm sẽ lấy ngày 20-11 là ngày nhà giáo Việt Nam.

Điều 2: Để ngày 20-11 có ý nghĩa thiết thực hàng nǎm từ tháng 10 các cấp chính quyền và toàn thể cần họp để xem xét tình hình công tác và hoạt động của đội ngũ giáo viên ở địa phương mình, kiểm điểm những việc đã làm và đề ra những việc cấp tiếp tục làm nhằm động viên đội ngũ giáo viên phát huy truyền thống tốt đẹp của giáo giới Việt Nam, rèn luyện phẩm chất và nǎng lực, làm gương sáng cho học sinh noi theo. Về phía giáo viên, cần có những hoạt động phong phú nhằm nâng cao nhận thức về vinh dự và trách nhiệm của người giáo viên trong xã hội nước ta ngày nay, từ đó mà ra sức phấn đấu làm tốt nhiệm vụ cao cả của mình.

Điều 3: Việc tổ chức ngày 20-11 hàng nǎm do Uỷ ban Nhân dân và Hội đồng các cấp chủ trì, có sự phối hợp các ngành giáo dục và các đoàn thể nhân dân. Các cấp các ngành cần phân công cán bộ lãnh đạo đi thǎm hỏi giáo viên, tổ chức các cuộc gặp mặt thân mật với giáo viên, nhân dịp này có thể tổ chức khen thưởng các giáo viên có thành tích. Việc tổ chức này nhà giáo Việt Nam cần được tiến hành trọng thể và thiết thực, tránh hình thức phô trương gây phiền hà cho học sinh và cha mẹ học sinh.

Điều 4: Trong ngày 20-11 các trường có thể sắp xếp lại việc học tập và giảng dạy để giáo viên được nghỉ và tham gia các sinh hoạt của trường và địa phương.

Trong truyền thống trọng thầy–Quân Sư Phụ; vua, thầy, rồi mới đến cha–ngày hôm nay chúng ta chào mừng sứ mệnh giáo dục của các thầy cô. Dạy học không phải là một nghề, mà là một sứ mệnh. Thiêng liêng và cao cả.

Chúc các thầy cô của ĐCN và thầy cô khắp nơi một Ngày Nhà Giáo nhiều tiếng cười, nhiều nước mắt, và nhiều ân sũng. Chúc các thầy các cô luôn vui vẻ khỏe mạnh để luôn đủ năng lực đưa các em tiến bước về hướng mặt trời.

Mời các thầy cô và mọi người nghe ba bản nhạc dành cho các thầy cô hôm nay sau đây.
.

Bụi Phấn

.

Những điều thầy chưa kể – Mung Ngay Nha Giao VN

.

Trường xưa yêu dấu – Clip Mừng Nhà Giáo VN

Luận về con công


– Con công chết thì gọi là CÔNG TỬ
– Con công màu vàng là CÔNG NGHỆ
– Công ở bên Tây là CÔNG PHÁP
– Con công ở bên Ðức gọi là CÔNG ÐỨC
– Con công ở xứ Phù Tang là CÔNG NHẬT
– Con công ở Ấn Ðộ là CÔNG ẤN
-Con công ngoài Huế gọi là CÔNG TẰNG
– Con công ở Bạc Liêu là CÔNG TỬ BẠC LIÊU
– Công theo cộng sản gọi là CÔNG CỘNG
– Nguyên một bầy công thì gọi là CÔNG ÐOÀN
– Bầy công đi thành hàng một thì gọi là CÔNG VOA
– Chỗ bầy công picnic gọi là CÔNG VIÊN
– Con công bỏ đi xa bầy đó là CÔNG XA
– Con công lành lặn, không bị rớt cọng lông nào, gọi là CÔNG NGUYÊN
– Con công không làm quan, làm tướng, thì gọi là CÔNG DÂN
– Chỗ làm việc của con công gọi là CÔNG SỞ
– Con công làm cảnh sát thì gọi là CÔNG LỰC
– Con công thuộc giới lao động gọi là CÔNG PHU
– Con công nào ho hen ốm yếu gọi là CÔNG LAO
– Loài công thích chơi đồ xịn thì gọi là CÔNG HIỆU
– Loài công hay nghinh nghinh cái mặt gọi là CÔNG NGHÊNH
– Loài công thích đánh lộn gọi là CÔNG KÍCH
– Loài công không biết chối gọi là loài CÔNG NHẬN
– Cái váy của con công gọi là CÔNG KHỐ
– Loài công hay đưa tin thất thiệt gọi là CÔNG ÐỒN
– Con công liến khỉ gọi là CÔNG HẦU
– Con công thi đậu hạng nhất gọi là CÔNG TRẠNG
– Loài công ham được tiếng tăm gọi là CÔNG DANH
– Cái của con công ị ra gọi là CÔNG PHẪN
– Con công đái dầm thường bị chê là CÔNG KHAI
– Con công bị thiến gọi là… CÔNG CÔNG
– Con công mà không ngủ gọi là CÔNG THỨC
– Con công nào không thức thì nó làm gì? CÔNG PHÁ
– Con công vặn đèn gọi là CÔNG ÐIỆN
– Con công làm sếp gọi là CÔNG CHÚA
– Con công nuôi ở chùa gọi là CÔNG CHÙA
– Con công đi lính gọi là CÔNG BINH
– Con công thích lên làm người gọi là CÔNG NHÂN
– Con công chịu khó gọi là CÔNG VIỆC
– Nơi công ở gọi là CÔNG CỐC
– Công treo tòn ten trên nhánh cây là CÔNG QUẢ
– Con công an phân là CÔNG AN
– Con Công dựa vào con khác để đứng gọi là CÔNG NƯƠNG
– Con Công ra đứng giữa đường gọi là CÔNG LỘ
– Con công lạc vào trường học gọi là CÔNG TRƯỜNG
– Con công đầu đàn là THỦ CÔNG
– Con công có chức phận gọi là CÔNG CHỨC
– Con công thông minh gọi là CÔNG MINH
– Con công không bị lai gọi là CÔNG CHÍNH
– Con Công hì hục làm “nhiệm vụ” gọi là CÔNG XUẤT
– Con công gáy gọi là CÔNG TÁC
– Con công biết thưa biết trình gọi là CÔNG TRÌNH
– Con công cha gọi là CÔNG BỐ
– Con công thích lý sự gọi là CÔNG LÝ
– Con công thích viết báo gôi là CÔNG LUẬN
– Con công thích thưa gửi gọi là CÔNG MÔN
– Con công cha gọi là CÔNG BỐ
– Con công thương nhau gọi là CÔNG THƯƠNG
– Công ăn lạp xưởng là CÔNG XƯỞNG
– Công cao niên là CÔNG CỤ
– Công đi ở đợ cho công khác là CÔNG BỘC
– Công làm việc trong Ty là CÔNG TY
– Con công không thích làm Phó hay Phụ Tá gọi là con CÔNG CHÁNH
– Con công thích mơ mộng gọi là CÔNG ƯỚC
– Con công làm việc phòng nhì gọi là CÔNG MẬT
– Con công bị cụt đuôi gọi là CÔNG BẰNG
– Con công chạy lung tung gọi là CỜ LÔNG CÔNG
– Con công đang “dạp mái’ gọi là CÔNG KÊNH
– Con công ích kỷ gọi là CÔNG ÍCH
– Con công thích chỉ tay 5 ngón là CÔNG LỆNH
– Con công đứng đái đường gọi là CÔNG XÚC TU Sỉ
– Con công đứng đái đường cũng gọi là CÔNG KHAI
– Con công thích nhảy múa gọi là VŨ CÔNG
– Con công thích âm nhạc gôi là NHẠC CÔNG
– Con công nhiều nghề gọi là SĨ NÔNG CÔNG THƯƠNG
– Con công đi ngủ là… CON CÔNG NGỦ

Sưu tầm trên Internet

Paco de Lucia – Nhạc sĩ guitar tiền phong nhạc “Flamenco Mới”

Paco de Lucia là một trong những nhạc sĩ guitar mở đường cho nhạc Flamenco Mới của thế giới ngày nay.

Paco de Lucia sinh ngày 21 tháng 12 năm 1947 ở Algericas, miền nam nước Tây Ban Nha, trong một già đình nhạc flamenco—bố là nhạc sĩ flamenco, anh Pepe de Lucia là ca sĩ flamenco và anh Ramón Sánchez là nhạc sĩ flamenco. Tên thật là Francisco Sánchez Gómez, nhưng anh dùng tên trình diễn là Paco de Lucia để vinh danh mẹ là Lucía Gomes.

Mặc dù không đọc được nốt nhạc, năm 11 tuổi (1958) Paco đã trình diễn trên radio của thành phố Algeciras.

Năm sau đó được giải Jerez về flamenco.

Hai năm sau (1961) anh đi tour trình diễ với đoàn vũ José Greco.

Năm 1964 gặp nhạc sĩ guitar Ricardo Modrego và thu ba đĩa: Dos guitarras flamencas, Dos guitarras flamencas en stereo, and Doce canciones de Federico García Lorca para guitarra.

Từ 1968 dến 1977, anh cùng ca sĩ Flamenco Mới Camarón de la Isla thu được 10 đĩa, đều rất thành công.

Năm 1979, Paco cùng John McLaughlin và Larry Coryell lập nhóm “The Guitar Trio”, tour Âu Châu và thu một video trình diễn ở nhà hát Royal Albert Hall ở Luân Đôn, gọi là Meeting of Spirits.

Larry Coryell sau đó được thay thế bởi Al Di Meola, và từ năm 1981 bộ ba đã phát hành 3 đĩa. Cũng năm này, ban nhạc riêng của Paco, có hai ông anh chơi cùng, Paco de Lucía Sextet, phát hành đĩa đầu tiên trong ba một bộ ba đĩa.

1995 Paco thu chung với nhạc sĩ Bryan Adams bản nhạc và video “Have You Ever Really Loved A Woman” trong phim Don Juan DeMarco. Video này thành top hit.

Năm 1991, khi tập Concierto de Aranjuez của Joaquín Rodrigo, vì không đọc được nốt nhạc, anh phải nhờ nhạc sĩ Narciso Yepes đọc giúp. Tuy vậy, Rodrigo nói là chưa có người nào trình tấu Concierto của anh xuất sắc như Paco.

Qua phong cách trình bày cũng như việc mang các âm hưởng quốc tế của nhạc Jazz và nhạc Nam Mỹ vào truyền thống Flamenco để tạo nên âm hưởng và nhịp điệu mới cho luồng Famenco Mới, Paco đã đưa cây đàn Flamenco đến bước đột phá lớn âm nhạc đương đại.

Đại Học Cadiz tặng anh bằng tiến sĩ danh dự ngày 23 tháng 3 năm 2007.

Sau đây mời các bạn nghe vài videos của Paco de Lucia
.

Paco de Lucia – Entre dos aguas (1976) full video

.

Paco de Lucia – Entre dos Aguas

.

PACO DE LUCIA , John McLaughlin , AL DI MEOLA (Mediterranean Sundance)

.

Paco de lucia-solea

.

Paco De Lucia- Tico Tico

.

Jan Akkerman and Paco de Lucia

.

Paco de Lucia – Bulerias

.

Paco de Lucia “la Barrosa”

.

Paco de Lucía Concierto de Aranjuez Part2