All posts by Trần Đình Hoành

I am an attorney in the Washington DC area, with a Doctor of Law in the US, attended the master program at the National School of Administration of Việt Nam, and graduated from Sài Gòn University Law School. I aso studied philosophy at the School of Letters in Sài Gòn. . I have worked as an anti-trust attorney for Federal Trade Commission and a litigator for a fortune-100 telecom company in Washington DC. I have taught law courses for legal professionals in Việt Nam and still counsel VN government agencies on legal matters. I have founded and managed businesses for me and my family, both law and non-law. I have published many articles on national newspapers and radio stations in Việt Nam. In 1989 I was one of the founding members of US-VN Trade Council, working to re-establish US-VN relationship. Since the early 90's, I have established and managed VNFORUM and VNBIZ forum on VN-related matters; these forums are the subject of a PhD thesis by Dr. Caroline Valverde at UC-Berkeley and her book Transnationalizing Viet Nam. I translate poetry and my translation of "A Request at Đồng Lộc Cemetery" is now engraved on a stone memorial at Đồng Lộc National Shrine in VN. I study and teach the Bible and Buddhism. In 2009 I founded and still manage dotchuoinon.com on positive thinking and two other blogs on Buddhism. In 2015 a group of friends and I founded website CVD - Conversations on Vietnam Development (cvdvn.net). I study the art of leadership with many friends who are religious, business and government leaders from many countries. I have written these books, published by Phu Nu Publishing House in Hanoi: "Positive Thinking to Change Your Life", in Vietnamese (TƯ DUY TÍCH CỰC Thay Đổi Cuộc Sống) (Oct. 2011) "10 Core Values for Success" (10 Giá trị cốt lõi của thành công) (Dec. 2013) "Live a Life Worth Living" (Sống Một Cuộc Đời Đáng Sống) (Oct. 2023) I practice Jiu Jitsu and Tai Chi for health, and play guitar as a hobby, usually accompanying my wife Trần Lê Túy Phượng, aka singer Linh Phượng.

Phúc cho người xây dựng hòa bình

Chào các bạn,

Nếu nhìn chung quanh ta, chúng ta thấy hình ảnh của tranh chấp và chiến tranh hàng ngày—giữa các quốc gia, các khối tôn giáo, các khối chủng tộc, các khối ý‎ thức hệ… Trong một nước thì phe chính trị này choảng nhau với phe kia, trong sở làm thì bạn bè đâm sau lưng nhau, trong gia đình thì vợ chồng cha mẹ con cái anh chị em gây gỗ nhau… Cho nên…

… Phúc cho người xây dựng hòa bình, vì họ sẽ được gọi là con Thượng đế.

Đây là câu nói của Chuá Giêsu trong Beatitudes, một trong tám phúc lớn, mở đầu Bài Giảng Trên Đồi Cao nổi tiếng. Con của Thượng đế là chức danh lớn nhất mà một người có thể có. Đối với ngài tổng thống, chẳng có chức danh nào trong thiên hạ quan trọng cho bằng “con của tổng thống.” Cho nên câu nói Beatitudes này nhấn mạnh rất rõ vai trò của xây dựng hòa bình, hay hòa giải, trong nền văn mình con người của chúng ta.

Nhưng mà muốn xây dựng hòa bình trước hết ta phải có hòa bình từ trong chính ta, phải không các bạn? Nếu ta còn thói quen hơn thua, bắt bẻ, đì nhau, cãi nhau, chưởi nhau, đánh nhau…, dù là đúng hay sai, thì rất khó để ta xây dựng hòa bình.

Muốn tránh tranh chấp và chiến tranh, qui luật ai cũng biết là “nhịn nhục và xả bỏ”. Nhưng nói thì dễ làm thì khó. Đa số mọi người sẽ nói “Nhịn nhục và xả bỏ, chỉ khi nào ĐÁNG nhịn nhục và xả bỏ.” Nhưng, chỉ một chữ “đáng” đó cũng đủ triệt tiêu hết tất cả cố gắng của ta rồi. Bởi vì, khi ta bị đụng chạm, hầu như chẳng bao giờ ta thấy “đáng” nhịn nhục và xả bỏ. Hoặc là vì “Chuyện này không phải chuyện nhỏ, không thể bỏ qua được”, hoặc “Bỏ qua nó sẽ coi thường và làm tới,” hoặc “Để yên nó sẽ làm hại đến nhiều người khác nữa,” hoặc “Không trị những người như nó thì xã hội không khá lên được”… Và, tất cả các lý lẽ này đều đúng. Vì vậy, khi chúng ta nói đến chữ ĐÁNG nhịn nhục, thì hầu như ta đã vất hết mọi nhịn nhục vào thùng rác rồi.

Vấn đề còn phức tạp hơn, vì khi ta đau đớn hay nóng giận, khuynh hướng tự nhiên của con người chúng ta là “đánh”, chứ không phải “nhịn”. Những lúc đó toàn bộ cảm xúc và suy tư của ta thiên về “đánh” hơn là “nhịn”.

Cho nên nhịn nhục hoặc xả bỏ, trong tất cả mọi truyền thống tâm linh, từ Phật Thích Ca đến Chúa Giêsu, là một qui luật vô điều kiện—nhịn nhục vô điều kiện, xả bỏ vô điều kiện. Tức là, nhịn nhục xả bỏ khi không đáng nhịn nhục xả bỏ, như khi người kia sai 100%, hay hắn làm ta đau đến mức hắn nên bồi thường lớn mới lấy lại công lý, hay khi hắn phải bị đánh một trận tơi tả thì xã hội mới lấy đó làm gương… Khi việc không đáng nhịn, người không đáng bỏ qua, mà ta nhịn nhục và xả bỏ, đó mới là nhịn nhục xả bỏ. Yêu tất cả mọi sinh linh, kể cả kẻ thù.

Các lời dạy này, chúng ta đểu đã nghe và đã thường bỏ ngoài tai, vì ta cho rằng nó không thực tế, không hạp với đời sống hàng ngày ta phải đối phó. Và vì vậy tất cả chúng ta tiếp tục sống kiểu hòn đất ném đi hòn chì ném lại, và do đó đa số các gia đình và các quốc gia đều có lục đục, thế giới luôn luôn có chiến tranh.

Nhưng, nếu các lời dạy nhịn nhục và xả bỏ vô điều kiện xa xôi với thực tế, tại sao chúng có thể sống đến mấy ngàn năm, và vẫn được nhắc nhở học hỏi hàng ngày, trong khi một l‎ý thuyết kinh tế lớn của thế giới của một đại kinh tế gia, nếu may mắn sống khỏe mạnh được 50 năm thì đó đã là chuyện rất hiếm?

Thực ra, tự trong tâm thức sâu thẳm, mỗi người chúng ta đều biết những lời dạy về nhịn nhục xả bỏ vô điều kiện là đúng, cho nên các lời dạy này mới sống được mấy ngàn năm. Chỉ là ta không muốn thực hành khi ta không thích thực hành, thế thôi.

• Nhưng đương nhiên là có những trường hợp không thể nhịn và không nên nhịn. Ví dụ, một đám cướp vào một ngôi làng nhỏ cướp của, hãm hiếp, giết người. Đương nhiên là ta không nên nhịn mà nên đánh. Hoặc khi có người cầm dao đòi đâm ta, ta không thể ngồi yên chịu đâm được. Và ta có thể kể nhiều ví dụ khác, khi đời sống an vui và hạnh phúc của chính ta hay của xã hội đòi hỏi chúng ta phải đứng lên tích cực chiến đấu.

Thế thì khi nào nhịn nhục xả bỏ, khi nào không nhịn nhục xả bỏ?

Đây thực là vấn đề phức tạp hầu như truyền thống đạo đức và tâm linh nào cũng gặp phải. Và không thể có câu trả lời cụ thể vì mỗi câu trả lời tùy thuộc vào những điều kiên thực tế của vụ việc liên hệ. Không thể trả lời khi không có dữ kiện thật của đời sống.

Tuy nhiên, môt cách chung chung, có lẽ mọi người đều đồng ‎ý với hai tiêu chuẩn sau:

1. Khi có người làm sai trái
2. Và cái hại quá lớn cho bản thân ta, gia đình ta, hay xã hội của ta

thì chúng ta cần ra tay ngăn chận. Tức là không nên nhịn nhục.

• Như vậy cho đến lúc này, phương thức sống của chúng ta có thể tóm tắt như sau:

1. Luôn luôn nhịn nhục và xả bỏ,
2. Ngoại trừ khi, (a) có người làm sai trái, và (b) cái hại quá lớn cho bản thân ta, gia đình ta, hay xã hội của ta.

Công thức này phù hợp với lời dạy của các bậc thánh nhân mà trong thâm tâm ta vẫn biết là đúng, và vẫn thực tế với đời sống hàng ngày.

Và công thức này là đảo ngược của công thức nhiều người chúng ta đang dùng hàng ngày. Đa số chúng ta quen phản ứng theo kiểu: “Tôi đương nhiên trả đũa, trừ khi đáng nhịn nhục xả bỏ”.

Công thức từ lời dạy các thánh nhân là “Tôi đương nhiên nhịn nhục xả bỏ, trừ khi thực tế đòi hỏi tôi không nên nhịn nhục xả bỏ.”

Một đằng lấy trả đũa làm gốc, một đằng lấy xả bỏ làm gốc.

Chúc các bạn một ngày hòa bình.

Mến,

Hoành

© copyright 2010
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Proud Mary – Mary kiêu hãnh

500 Greatest Songs of All Times

Chào các bạn,

Một bản nhạc rock thời 1960s đã trở thành kinh điển và ưa chuộng bởi hầu như mọi người ngày nay là Proud Mary, của nghệ sĩ guitar John Forgerty của ban Creedence Clearwwater Revival (“CCR”) năm 1969.

CWR phát hành bản này lần đầu tiên trong album Bayou Country tháng 1/1969, và ngay lập tức nó trở thành bản nhạc đầu tiên của CWR lên hàng đầu trong các danh sách nhạc Pop ở Mỹ.

Proud Mary nghe có hoà trộn của rock and roll, nhạc Gospel (thánh ca của người da đen), blues và soul. Và đương nhiên là có các đặc tính thường xuyên của Creedence Clearwater Revival là lời nhạc giản dị thực tế, và đường guitar của John Fogerty.

Mary kiêu hãnhBỏ việc tốt trong thành phố
Làm việc cho anh chàng ngày và đêm
Nhưng tôi không bao giờ mất một phút ngủ nào
Để lo lắng chuyện có thể đã ra thế nào

[Điệp khúc]
Vòng lớn tiếp tục xoay
Mary kiêu hãnh tiếp tục nóng cháy
Lăn, lăn, lăn trên dòng sông

Rửa rất nhiều bát đĩa ở Memphis
Bơm rất nhiều xăng ở New Orleans
Nhưng tôi chưa bao giờ thấy mặt tốt của một thành phố
Cho đến khi tôi đi một chuyến trên con thuyền Nữ Hoàng dọc sông

[lập lại Điệp khúc]

Nếu bạn xuống Sông
Tôi chắc bạn sẽ thấy người ta sống
Bạn không phải lo lắng vì không có tiền
Mọi người trên sông luôn vui vẻ cho bạn

(TĐH dịch)
Proud Mary

Left a good job in the city
Workin’ for the Man every night and day
But I never lost a minute of sleepin’
Worryin’ ’bout the way things might have been
Continue reading Proud Mary – Mary kiêu hãnh

Trên trung bình 6%

Chào các bạn,

Nếu đứng trong một nhóm người cao khoảng 1m6, ta cần phải cao bao nhiêu để có thể “vượt trội”, dễ nhận ra? 3m2 ? 2m5 ? Chắc là không cần phải cao thế, phải không các bạn? Cũng không cần phải đến 1m8. Cỡ 1m7 là ta đã vượt lên hẳn mọi người rồi, và một người đứng xa có thể nhận ra ta rất dễ dàng rồi. Tức là, trong một nhóm người trung bình ta không cần phải hơn mọi người nhiều, không cần hơn gấp đôi, hay gấp rưỡi, hay 25%, hay ngay cả 10%. Chỉ cần cở 6% (0,1m/1,6m) là đủ để vượt trội.

Việc vĩ đại đến mức nào thì cũng chỉ cần hơn người đứng gần mình một tí xíu cỏn con thôi. Vô địch chạy nước rút thế giới có thể về đến đích trước người thứ hai dưới 1/10 giây đồng hồ. Vô địch quyền Anh chỉ cần đứng ngất ngư gần chết trong khi địch thủ không đứng dậy được sau 10 tiếng đếm của trọng tài. Cựu vô địch cờ vua Savielly Grigorievitch Tartakower nói: “Chiến thắng đến với kỳ thủ nào làm lầm lỗi trước lầm lỗi cuối cùng.” Người thắng chỉ cần làm ít hơn người thua một lỗi.

Chỉ cần hơn một tí là chúng ta đã có thể vượt trội.

Cho nên chẳng nên ngồi đó than thở sao trời không cho tôi IQs đến mức giải một bài toán nhân 20 con số trong vòng 2 giây đồng hồ, hay sắc đẹp làm Elizbeth Taylor phải xấu hổ, hay sức mạnh làm Hercules phải vái làm thầy…

Và nếu chỉ cần 6% là có thể trở thành vượt trội thì ai trong chúng ta cũng có thể trở thành vượt trội được cả, vì khá lên bằng 5 bằng 10 thì khó chứ 6% thì chắc cũng chỉ khó như ăn cháo lòng ở ngã bảy là cùng.

Nhưng tại sao ta phải vượt trội vậy các bạn?

Tại vì phải vượt trội một tí ta mới có thể làm gương cho các người khác noi theo, nhất là những người nhỏ hơn, trẻ hơn, những người nhìn lên ta để học hỏi, để tìm một dẫn dắt nào đó.

Thế giới (và đất nước ta) có nhiều người trung bình quá. Người trung bình là người: hòn đất ném đi hòn chì ném lại, nói thì úp úp mở mở, nói một nửa giấu một nửa cố tình làm người nghe hiểu lầm, thiếu thành thật, sẵn sàng gian dối để có lợi cho mình, tự ái vặt, ganh tị, coi thường người nghèo khổ, áp bức người cô thế, ai sống chết mặc ai tôi chỉ cần lo cho thân tôi…

Các bạn có thể tự làm một danh sách của những gì bạn cho là trung bình. Rồi cố nâng cả danh sách của mình lên cao hơn 6%. Vậy là thái độ và phong cách của bạn sẽ vượt trội hẳn lên, đến nỗi mọi người gặp bạn, nói chuyện vài ba câu là nhận ra phong cách lạ thường của bạn ngay. Người nhậy cảm có thể nhận ra ngay khi vừa bắt tay chưa kịp nói gì. Và như thế, tự nhiên là những người khác, nhất là bạn bè và con em, sẽ âm thầm được ảnh hưởng thái độ và cách sống tốt của bạn chi phối, mà bạn chẳng tốn công giáo huấn và hay làm thầy ai cả.

Thành thật hơn 6%
Bớt ích kỷ hơn 6%
Nhịn nhục hơn 6%
Lo lắng cho xã hội hơn 6%
Yêu mình ít hơn 6%
Yêu xã hội nhiều hơn 6%
Bớt kỳ thị hơn 6%
Can đảm hơn 6%
Ít a dua theo đám đông hơn 6%
Ít chê bai hơn 6%
Khen người nhiều hơn 6%
Bớt cau có 6%
Hay cười hơn 6%
Bớt nghiêm nghị 6%
Hay giễu hơn 6%
…. 6% …6% ….6%

Chúng ta thường nghĩ đến các việc lấp biển vá trời và cho là ta không bao giờ đủ sức làm gì cho đời cả. Thế giới không có, và cũng không cần có, Nữ Oa.

Chỉ cần làm việc chút xíu trong khả năng hàng ngày của mình thôi. Mỗi chú mối chỉ làm công việc nhỏ xíu của chàng ta, để xây dựng ụ mối lớn hơn chàng ta vài trăm triệu lần.

Một tiếng gảy móng tay có thể vang động đến vô lượng thế giới.

Trên trung bình 6% .

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

© copyright 2010
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Thánh thi Hafiz: Một Thế Giới Mới – Những Tia Nắng

Chào các bạn,

Hafiz (đôi khi còn viết là Hafez) (1320-1389), với tên thật là Shams-ud-din Muhammad, là thi sĩ được yêu chuộng nhất của đế quốc Persia (Iran cũ), và là một cây đại thụ trong nền văn hóa Persia.

Ông sinh ra ở Shiraz và sống gần cả đời ở Shiraz, nơi ông trở thành một vị thầy Sufi nổi tiếng. Sufism là một truyền thống Hồi giáo chú trọng đến hướng vào nội tâm, suy tưởng, khổ hạnh, và trực nghiệm tâm linh.

Cho đến khi Hafiz qua đời, người ta nghĩ là ông đã viết khoảng 5 ngàn bài thơ, nhưng chỉ có từ 500 đến 700 bài còn sót lại ngày nay. Divan (tập thơ) của ông là một tác phẩm kinh điển trong văn học Sufism.

Tác phẩm của Hafiz được Tây phương biết đến qua Geothe, và sự nồng nhiệt của Goethe kích thích Ralph Waldo Emerson dịch Hafiz vào thế kỷ 19.

Thơ của Hafiz được nhiều tác giả khác nhau ưa chuộng, như Nietzsche, Pushkin, Turgenev, Carlyle, và Garcia Lorka. Ngay cả Sherlock Holmes, viết tiểu thuyết trinh thám, cũng trích thơ Hafiz trong một câu chuyện về Arthur Conan Doyle.

Năm 1923, Hazrat Inayat Khan, người thầy Ấn Độ có công giới thiệu Sufism đến Tây phương, đã nói: “Các lời thơ của Hafiz đã chiến thắng từng con tim nghe chúng.”

Sau đây mời các bạn đọc hai bài thơ của Hafiz: Một Thế Giới Mới, và Những Tia Nắng.

Hafiz là thi sĩ của Sufism, truyền thống tâm suy tưởng sâu sắc nhất của Hồi giáo, nên chúng ta cần để ý ‎ đến các biểu tượng trong thơ. Xin xem chú thích cuối bài.
.

Một thế giới mới

Hãy dâng hoa, rót rượu thánh, (*)
Chẻ trời và bắt đầu tái tạo thế giới.

Nếu các lực đớn đau xâm nhập mạch máu của những kẻ đang yêu,
người bưng chén thánh và tôi sẽ tạt trôi cám dỗ đó. (**)

Với nước hoa hồng, chúng ta sẽ làm dịu ly rượu thẩm đắng;
Chúng ta sẽ thêm đường vào lửa để làm ngọt những đợt khói bay.

Nào nhạc sĩ, cầm đàn lên, chơi một bản nhạc tình;
hãy vũ, hãy ca hát cả đêm, hãy lễ hội điên cuồng.

Là cát bụi, ơi Gió Tây, hãy đưa chúng tôi lên các Thiên Đàng,
bay tự do trong ánh sáng sướng vui của Tạo Hóa.

Nếu trí óc muốn trở về nhưng con tim khóc lóc xin ở lại,
đó là cuộc tranh cãi cho tình yêu suy gẫm.

Than ôi, những bài ca và những ngôn từ này chẳng nghĩ lý gì trên mảnh đất này;
đến đây, Hafez, hãy cùng tạo lập một thế hệ mới.

Chú thích:

(*) Trong truyền thống Tây phương và Trung Đông, rượu nho là của lễ hiến dâng trong các dịp lễ hội, thờ tự. Ngày nay vẫn thế trong như ta thường thấy trong các nhà thờ Thiên chúa giáo.

Rượu tượng trưng cho sức sống, cho mạch máu. Trước khi bị tử hình, chúa Giêsu nâng chén rượu trong tay, chia cho các môn đệ, và nói: “Này là máu ta…”

(**) Người bưng chén (cupbearer): Ngày xưa mỗi vua có một người mang chén uống rượu của mình, để tránh bị đầu độc. Vua chỉ uống rượu trong chén của vua, do cupbearer mang theo mình. Đây là người trung thành nhất của vua, có thể chết vì vua. Thường khi, cupbearer uống thử trước khi vua uống, để tránh vua bị đầu độc.

Tu sĩ cấp cao thường được xem là cupbearer của Thượng đế.

Trong bài này, cupbearer nên được hiểu là người trung thành với Thượng đế và chỉ dạy của Ngài (không hẳn là tu sĩ).

(Trần Đình Hoành dịch từ Anh ngữ và chú giải)

.

A New World

Let’s offer flowers, pour a cup of libation,
split open the skies and start anew on creation.

If the forces of grief invade our lovers’ veins,
cupbearer and I will wash away this temptation.

With rose water we’ll mellow crimson wine’s bitter cup;
we’ll sugar the fire to sweeten smoke’s emanation.

Take this fine lyre, musician, strike up a love song;
let’s dance, sing all night, go wild in celebration.

As dust, O West Wind, let us rise to the Heavens,
floating free in Creator’s glow of elation.

If mind desires to return while heart cries to stay,
here’s a quarrel for love’s deliberation.

Alas, these words and songs go for naught in this land;
come, Hafez, let’s create a new generation.

Hafiz (1320-1389) (Orinial language: Persian/Farsi)
English translation: Haleh Pourafzal and Roger Montgomery

Những tia nắng

Ơi, Người Chủ Rượu, mặt trời đã lên. Hãy rót rượu đầy ly tôi. (***)
Nhanh lên, vì đêm sẽ đến, và ta sẽ phải ngủ.

Ngoài kia, những kẻ tiên tri chết chóc đang tuyên bố ngày tận thế.
Nhanh lên! cho chúng tôi thêm rượu ngọt của Ngài!

Nếu bạn tìm danh tiếng và vinh quang từ mặt trời,
Thì ngủ tiếp đi; chỉ có trí tuệ thánh hóa trong những tia nắng.

Khi Ngày Phán Xét đến và bầu trời biến thành bình sành, (****)
Hãy biến xương sọ của bạn thành ly sành, và đổ vào đó rượu trong bình này.

Bây giờ không phải là thời nói chuyện vặt vảnh với bạn bè;
Chỉ nên nói về ly và rượu. (*****)

Hafiz, đứng dậy! Ra khỏi gường. Cậu có việc làm,
Và thờ kính rượu là việc duy nhất đáng làm. (******)

Chú thích:

(***) Người Chủ Rượu (Người Mang Rượu, Winebringer), nên được hiểu là Thượng đế.

Rượu là sức sống từ Thượng đế.

(****) Ngày Phán Xét: Theo một số tôn giáo, Ngày Tận Thế là Ngày Phán Xét, Thượng đế sẽ đến để phán xét con người. Con người sẽ được sống lại từ sự chết để chịu phán xét.

Hafiz xem ra không xem ngày này như là các tiên tri tận thế đang nói. Khi ngày này đến, Hafiz nói như giễu nhưng đồng thời cũng rất nghiêm chỉnh: Bầu trời sẽ thành bình rượu lớn, và ta hãy biến xương sọ (của hài cốt được tái sinh của ta) thành ly rượu nhỏ, tiếp tục uống, tiếp tục ca tụng và thụ hưởng sự sống từ Thượng đế.

(*****) Ly là chính ta, rượu là sức sống từ Thượng đế.

(******) Chỉ trân quý và thờ phụng sức sống Thượng đế cho ta mới là điều duy nhất quan trọng, tận thế hay không tận thế.

(Trần Đình Hoành dịch từ Anh ngữ và chú giải)

.

Sun Rays

O Winebringer, the sun is up. Fill my goblet full of wine.
Hurry, for night will come, and then we’ll have to sleep.

Outside, the doomsayers are announcing the end of the world.
Quick! give us some of Your delicious wine!

If it is fame and glory that you are looking for from the sun,
Then go back to sleep; there is only divine knowledge to its rays.

When Judgment Day arrives and the sky becomes a jug of poor clay,
Make your skull into a clay cup, and fill it with this pitcher’s wine.

Now is not the time to be making small talk with your friends;
Speak only of the cup and of the wine.

Hafiz, get up! Get out of bed. You’ve work to do,
And the worship of wine is all the worthwhile work there is!

Hafiz (1320-1389) (Original language: Persian/Farsi)
English translation: Thomas Rain Crowe

Giáo dục cấp 2 và 3 trong vòng 3 năm qua

Chào các bạn,

Câu hỏi Nghiên Cứu Xã Hội tuần này là:

Trong vòng ba năm vừa qua, bạn nhận thấy giáo dục cấp 2 và cấp 3 ở Việt nam:
1. Khá hơn rất nhiều?
2. Khá hơn một tí?
3. Cũng vậy?
4. Tệ hơn một tí?
5. Tệ hơn rất nhiều?

Các bạn trả lời đông đủ nhé.

Chúc mọi người một ngày vui!

Mến,

Hoành

35 Năm

Ngày mới quen
Tóc em demi-garçon
Bước em nhún nhẩy
Bà đầm hái nho
Như cô công chúa
Cười thơ trẻ
Nhưng mắt thiếu phụ
Thẳm thẳm buồn

H & P - 1975 Saigon


Đưa em đi lễ
Nhà thờ Ba Chuông
Tà muslin đen dài
Lộng gió
Nên nắng nao nao
Đầu cây ngọn cỏ

Em vào luật khoa
Nắng sáng sân trường
Quốc Tế Công Pháp
Thầy Châu Tiến Khương
Em nghe anh giảng

Qua Quốc Gia Hành Chánh
Hội quán vắng tanh
Gió lùa hàng cửa sổ
Chỉ em và anh
Ngồi nhìn nắng đổ
Nghiêng sân

Vào Nhà thờ Đức Bà
Dưới chân Đức Mẹ
Nguyện cầu cho những phong ba
Đang cuộn về trên Đất Mẹ

Thảo cầm viên
Những con đường đêm
Vắng lặng
Những quán cà phê
Những buổi xi nê
Những dãy phố trưa
Những chiều hè đổ lửa
Chiếc Rambler
Dọc ngang thành phố
Mondial
305

H & P - 2009 (Washington DC)


35 năm
Thăng trầm
Cơn mộng hoàng lương
Bóng câu vỗ cánh ngoài khung cửa
Trời rộng
Và xanh
Kê vàng chưa chín
Nắng vẫn mong manh
Và hai đứa
Vẫn còn đây
Chỉ chợp mắt vài giây
Trong buổi gặp đầu

35 năm
Những giọt đắng vẫn rơi
Xuống ly đời dịu ngọt
Mặt trời vẫn ấm
Trên những đồng cỏ
Và hai nhỏ
Vẫn nắm tay nhau chạy
Trên những đồi hoang

TĐH
Tuesday, Jan. 5th, 2010
35th Anniversary of Hoành & Phượng
Lake of the Woods, Virginia, USA

say đắm


bên nhau

Stayin’ Alive – Bees Gees

Chào các ban,

Stayin’ Alive là bản nhạc của the Bees Gees làm nhạc nền chính cho phim Saturday Night Fever nam 1977, với Travolta thủ vai chính.

Bản nhạc này do cả ba người của the Bee Gees viết – Barry, Robin, and Maurice Gibb. Ngày 13 tháng 12, 1977 the Bees Gees tung đĩa single của bản nhạc này ra thị trường như là single soundtracdk của phim Saturday Night Fever. Ngay sau đó bản nhạc lên đứng đầu Billboard Hot bắt đầu ngày 4 tháng 2 năm 1978 và giữ vị thế đó trong 4 tuần liền.

Bản nhạc này từ đó trở thành bản nhạc được biết nhiều nhất của the Bee Gees. Phim Saturday Night Fever có tổng coog 17 bản nhạc, trong số đó Bees Gees có 6 bản, kể cả Stayin’ Alive. Bees Gees Saturday Night Fever sountrack của 6 bản này là movie soundtrack hàng đầu trong lịch sử movie soundtrack.

Đến năm 1983, Sylvester Stallone, tài tử chuyên đóng vai võ sĩ quyền Anh Rocky, đạo diễn phim Staying Alive, phim tiếp tục của Saturday Night Fever, cũng với John Travoilta thủ vai chính. Bản nhạc Stayin’ Alive cũng được dùng trong phim Staying Alive.

Báo nhạc Rolling Stone xếp bài hát này hạng 191 trong 500 bài hát hay nhất mọi thời đại.

Sau đây mời các bạn nghe:

1. Stayin’ Alive by Bees Gees (1977)
2. Movie clip của phim Saturday Night Fever với tài tử Travolta và bản Stayin’ Alive (1977).
3. Movie clip phần đầu của phim Staying Alive (1983).
.

Bee Gees – Stayin’ Alive ( 1977 )

.

Stayin’ Alive – Theme song in movie Saturday Night Fever (1977) – John Travolta

.

John Travolta – 1983 – phim Staying Alive – Intro

Càng tu càng tội

Chào các bạn,

Tất cả chúng ta đều đồng ý rằng “càng học càng thấy mình dốt”—bể học thì mênh mông và càng học mình càng khám phá ra là cái mình biết cũng chỉ như vài hạt cát trên bãi biển. Tu luyện nội tâm cũng thế, nhưng chẳng mấy khi ta nghe nói “Càng tu càng tội.” Thực ra, tu cũng chỉ là học. Học càng nhiều càng thấy dốt, thì tu càng lâu càng thấy mình nhiều yếu đuối lầm lỗi.

Tại sao vậy?

Thưa, tại vì càng tu luyện cao thâm ta càng phát hiện ra những điểm yếu của mình mà trước đó ta không thấy.

Để thấy rõ vấn đề, chúng ta hãy quan sát một người cướp của giết người, bỗng nhiên một ngày chợt đổi dạ, bắt đầu con đường tu luyện chính mình:

• Đầu tên, hắn thấy cướp của giết người là xấu, cho nên cải tà qui chánh.

• Được một thời gian dài, hắn khám phá ra là nói dối là xấu, bèn cố bỏ nói dối.

• Thêm một thời gian, công lực cao hơn, hắn khám phá ra là hắn hay kiêu căng về mình, về dĩ vãng “anh hùng” và sự nhất tâm cải tà qui chính của mình, hắn bèn tập cho khiêm tốn.

• Thêm một thời gian, công lực cao hơn, hắn thấy rượu thường làm cho hắn suy nghĩ thiếu chính xác, bèn bỏ rượu.

• Thêm một thời gian, thấy thuốc lá làm phiền mình và người khác quá, bèn bỏ thuốc.

• Thời gian sau, công lực cao hơn, thấy mình hay hứa mà không thực hiện hết được, bèn bắt đầu hứa cẩn thận hơn và cố thực hiện mỗi lời hứa.

• Thời gian sau nữa, hắn cảm thấy nên vào tu viện đi tu thì mình mới thanh tịnh ra, bèn bỏ đời đi tu.

• Trong tu viện, một thời gian rất lâu, hắn mới nhận ra rằng hắn vẫn hàng ngày cạnh tranh với các tu sĩ khác về đạo học, bèn cố bỏ hơn thua.

• Vài năm sau hắn mong đợi được phong chức tu viện trưởng, và khám phá ra rằng mình thầm hằng mong người bạn của mình đừng được chức đó.

• Sau khi thành tu viện trưởng, hắn khuyến khích mọi tu sĩ của hắn giảng đạo hăng hái cho mọi người. Rồi một ngày hắn khám phá ra là hắn vẫn thường nghĩ rằng chỉ con đường đạo học của hắn là đúng và những người theo những đạo khác là lạc đường…

Cứ như thế, tu luyện càng cao thâm ta càng khám phá ra ta có rất nhiều khiếm khuyết và yếu kém, mà trước đó ta không thấy được.

Điều này rất phù hợp với các khái niệm vô minh và giác ngộ của Phật gia—khi vô minh ta không thấy được cái si mê của mình; thấy được một điều si mê là giác ngộ được một tí.

Người học võ cũng thế. Học trò mới học võ thì chỉ thấy mình mạnh. Nhưng đại sư phụ thì biết nơi nào là tử huyệt của mình, địch dùng loại đòn nào thì có thể hạ mình.

Và trong Thiên chúa giáo, ý niệm “tội tổ tông”—cái yếu kém bẩm sinh của con người—cũng là cái nhận biết sâu sắc của những người đã tu luyện đến mức thượng thừa.

Vậy thì chúng ta đã biết một công thức tu luyện nội tâm rồi đó. Ngày nào ta còn tiếp tục khám phá ra những điểm yếu của mình để khắc phục, ngày đó ta đang tu tập đúng hướng.

Ngày nào ta nói “Tôi tốt rồi, đạo đức rồi, manh mẽ rồi, ngộ rồi…”, ngày đó ta còn đang chết.

Chỉ có người học nghiêm chỉnh mới nắm được sự thực là càng học mình càng dốt. Chỉ có người tu tập nghiêm chỉnh mới thấy càng tu càng tội.

Và “tu” có nghĩa là làm cho tốt thêm. Làm cho con tim của mình sáng thêm, sạch thêm, yêu ái thêm, mạnh mẽ thêm, là tu. Ai trong chúng ta cũng tu cả.

Và “tu” cũng có nghĩa là thực hành.

Đọc sách đạo học hay tư duy tích cực mà không thực hành, thì kiến thức đọc đó không thể là kiến thức thật được, và ta cũng không thể làm cho con tim đang chết của ta sống lại được.

Chỉ kiến thức thật, đến từ thực hành và trực nghiệm, mới đủ sức hồi sinh một quả tim đang chết.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

© copyright 2009
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Quả tim tôi cháy như lửa

Soyen Shaku, thiền sư đầu tiên đến Mỹ, nói: “Tim tôi cháy như lửa nhưng mắt tôi lạnh như tro chết.” Thiền sư có những quy luật thực hành mỗi ngày trong đời, như sau:

• Mỗi buổi sáng trước khi thay áo quần, đốt nhang và ngồi thiền.

• Đi ngủ đúng giờ mỗi ngày. Ăn đúng giờ. Ăn vừa đủ, không bao giờ đến mức thỏa mãn.

• Tiếp khách với thái độ y như lúc chỉ một mình. Lúc một mình, giữ thái độ y như lúc tiếp khách.

• Cẩn trọng trong lời nói, và nói điều gì thì thực hành điều ấy.

• Khi cơ hội đến, đừng để nó vuột mất, nhưng luôn luôn suy nghĩ hai lần trước khi hành động.

• Đừng ân hận về dĩ vãng. Nhìn về tương lai.

• Có thái độ không biết sợ của một anh hùng và quả tim yêu ái của một em bé.

• Khi đi ngủ, ngủ như là giấc ngủ cuối trong đời. Khi thức dậy, rời khỏi giường tức thì như là vất đi một đôi giày cũ.

Bình:

• Soyen Shaku (釈 宗演, 1859 – 29.10.1919, sinh ở Kamakura, Japan, là thiền sư đầu tiên giảng thuyết ở Mỹ. Thiền sư là Lão Sư (Roshi) của dòng thiền Lâm Tế và là sư trưởng của cả hai chùa Kencho và Engaky ở Kamakura. Shaku là đệ tử của Imakita Kosen và có một đệ tử rất nổi tiếng trong việc mang Phật học và Thiền học đến phương Tây – D.T. Suzuki.

• “Tim tôi cháy như lửa nhưng mắt tôi lạnh như tro chết.” Câu này ý chỉ người tình cảm nồng nàn nhưng ngoài mặt thì lạnh lùng? Shaku nhìn bên ngoài lạnh lùng thật.

Hay muốn nói, những cái thấy được bên ngoài (danh sắc) không ảnh hưởng tôi, nhưng từ ái thì mạnh mẽ trong tôi?

Dù sao đi nữa thì, nói rằng “tim tôi cháy như lửa” nghe cũng hơi xa lạ với Phật gia, vì Niết Bàn (Nirvana) có nghĩa là “lửa đã tắt.”

Các bài giảng của Soyen Shaku ở Mỹ được SuzukI dịch sang Anh ngữ trong quyển Sermons of a Buddhist abbot: addresses on religious subjects

• Tám qui luật sống hàng ngày của Shaku:

1. “Mỗi buổi sáng trước khi thay đồ, đốt nhang và ngồi thiền.” Vài phút tĩnh lặng hoặc cầu nguyện sẽ giúp mở đầu tâm tĩnh lặng cho một ngày.

2. “Đi ngủ đúng giờ mỗi ngày. Ăn đúng giờ. Ăn vừa đủ, không bao giờ đến mức thỏa mãn.” Các bác sĩ ngày nay cũng khuyên thế.

3. “Tiếp khách với thái độ y như lúc chỉ một mình. Lúc một mình, giữ thái độ y như lúc tiếp khách.” Khi có khách thì thành thật (như với chính mình lúc một mình), khi một mình thì nghiêm chỉnh (với chính mình như đang trước mặt khách).

4. “Cẩn trọng trong lời nói, và nói điều gì thì thực hành điều ấy.” Để lời nói đáng tin. Thực hành điều mình nói. Chứ không phải “Hãy nghe điều tôi nói, đừng làm điều tôi làm.” Thầy đạo đức giả và dối trá thời nào cũng nhiều.

5. “Khi cơ hội đến, đừng để nó vuột mất, nhưng luôn luôn suy nghĩ hai lần trước khi hành động.” Cơ hội đến không chịu nắm lấy mà hành động, rồi lại trách trời chẳng thương tôi!

6. “Đừng ân hận về dĩ vãng. Nhìn về tương lai.” Đã làm điều gì lầm lỗi thì cũng đừng ngồi đó tự lấy búa gõ đầu hoài. Chấp nhân đó là lỗi lầm của mình, rồi đứng dậy và hăng hái đi về hướng tương lai.

7. “Có thái độ không biết sợ của một anh hùng và quả tim yêu ái của một em bé.” Anh hùng với tấm lòng yêu ái và trong sáng.

8. “Khi đi ngủ, ngủ như là giấc ngủ cuối trong đời. Khi thức dậy, rời khỏi giường tức thì như là vất đi một đôi giày cũ.” Không lo lắng suy tư đủ mọi thứ khi đi ngủ. Thức dậy thì hoạt động ngay.

Nhưng… xem ra thiền sư chưa biết thú nằm nướng 🙂 nhất là vào các ngày cuối tuần và nghỉ lễ. 🙂

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

.

My Heart Burns Like Fire

Soyen Shaku, the first Zen teacher to come to America, said: “My heart burns like fire but my eyes are as cold as dead ashes.” He made the following rules which he practiced every day of his life.

* In the morning before dressing, light incense and meditate.

* Retire at a regular hour. Partake of food at regular intervals. Eat with moderation and never to the point of satisfaction.

* Receive a guest with the same attitude you have when alone. When alone, maintain the same attitude you have in receiving guests.

* Watch what you say, and whatever you say, practice it.

* When an opportunity comes do not let it pass you by, yet always think twice before acting.

* Do not regret the past. Look to the future.

* Have the fearless attitude of a hero and the loving heart of a child.

* Upon retiring, sleep as if you had entered your last sleep. Upon awakening, leave your bed behind you instantly as if you had cast away a pair of old shoes.

# 22

Không xa Phật vị

Một sinh viên đại học thăm thiền sư Gasan và hỏi ông: “Đã bao giờ thầy đọc Thánh Kinh Thiên chúa giáo chưa?”

“Chưa, đọc cho tôi nghe đi,” Gasan nói.

Người sinh viên mở Thánh Kinh và đọc phúc âm Thánh Matthew: “Và tại sao lại lo áo quần? Hãy xem các bông huệ ngoài đồng mọc thế nào. Chúng không làm việc, không dệt vải, nhưng tôi nói thật với các bạn ngay cả vua Solomon trong tất cả vinh quang của mình cũng không mặc đẹp như các bông hoa đó… Đừng lo đến ngày mai, vì ngày mai sẽ tự lo cho nó.”

Gasan nói, “Ai nói những lời này, tôi xem đó là một người đã giác ngộ.”

Người sinh viên đọc tiếp: “Xin và bạn sẽ được, tìm và bạn sẽ thấy, gõ cửa và cửa sẽ mở cho bạn. Bởi vì ai xin thì sẽ nhận, ai tìm thì sẽ thấy, và ai gõ cửa sẽ được mở cửa.”

Gasan nói: “Tuyệt vời. Ai mà nói điều này thì không xa Phật vị.”

Bình:

• Đó là các lời nói của Giêsu của Nazareth. Các điều sâu thẳm trong con tim của con người vượt biên giới tôn giáo mà nhiều tín đồ của các tôn giáo thích lập nên bằng những rào cản phân biệt ta đúng họ sai.

• “Đừng lo đến ngày mai” tức là sống ở đây lúc này. Đó là Thiền.

“Tìm thì sẽ thấy” tức là muốn thành tâm tìm chân lý thì sẽ có lúc được. Đó là Phật pháp.

• Gasan Jōseki (峨山 韶碩 1275–23.11.1366) là một thiền sư Tào Động Nhật Bản. Là học trò của Keizan Jokin, và có các học trò: Bassui Tokushō, Taigen Sōshin, Tsūgen Jakurei, Mutan Sokan, Daisetsu Sōrei, và Jippō Ryōshū.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

.

Not Far From Buddhahood

A university student while visiting Gasan asked him: “Have you even read the Christian Bible?”

“No, read it to me,” said Gasan.

The student opened the Bible and read from St. Matthew: “And why take ye thought for raiment? Consider the lilies of the field, how they grow. They toil not, neither do they spin, and yet I say unto you that even Solomon in all his glory was not arrayed like one of these…Take therefore no thought for the morrow, for the morrow shall take thought for the things of itself.”

Gasan said: “Whoever uttered those words I consider an enlightened man.”

The student continued reading: “Ask and it shall be given you, seek and ye shall find, knock and it shall be opened unto you. For everyone that asketh receiveth, and he that seeketh findeth, and to him that knocketh, is shall be opened.”

Gasan remarked: “That is excellent. Whoever said that is not far from Buddhahood.”

#16

Tâm trí tự do

Chào các bạn,

Vị thầy dạy mình Ju Jitsu (nhu thuật) là một giáo sư cận chiến cho công an ở vùng ngoại ô thủ đô Mỹ, ngoài giờ dạy công an thì dạy tại võ đường riêng. Thầy này có những câu khẩu quyết ngắn ngắn, lập đi lập lại hoài, cho nên chẳng học trò nào mà không thuộc. Một trong những khẩu quyết mình thích nhất là “Chẳng có chiêu nào sai” (There is no wrong move). Chỉ có chiêu có hiệu quả và chiêu không hiệu quả.

Tức là khi chiến đấu, chúng ta phải luôn chuyển động, luôn luôn tung chiêu thức, mọi chiêu đều đúng, chiêu này không hiệu lực thì tung chiêu khác ngay, kể cả các chiêu thức chưa bao giờ học nhưng cảm thấy thích hợp lúc đó. Trong chiến đấu, luôn luôn sáng tạo cho hoàn cảnh tức thì, tâm trí không được ràng buộc vào một qui tắc đúng sai nào.

Đó chính là tâm trí tự do (free mind), tâm trí sáng tạo (creative mind). Tâm trí tự do và sáng tạo chỉ có được nếu ta không lệ thuộc vào công thức có sẵn nào cả. Đó chính là điều các võ sư và thiền sư gọi là “tâm không” hay “vô tâm” (no-mind).

Chiến đấu trong tòa án cũng thế. Dù là trước đó đã có chuẩn bị bài bản tử tế, đến lúc vào tòa, luôn luôn có những ngạc nhiên về bằng chứng và thủ tục, và người luật sư sẽ phải sáng tạo và biến hóa rất nhanh.

Làm thương mãi cũng vậy, Địch thủ tung sản phẩm mới, hoặc chiến dịch tiếp thị mới, hoặc kinh tế thê giới lên xuống trồi sụt… ta phải phản ứng ngay, và chiêu này không hiệu quả phải lập tức tung chiêu khác.

Và nếu ta nói chuyện với các vị cha chú lão thành đã kinh nghiệm trong chiến tranh, chắc chắc các vị ấy cũng sẽ nhấn mạnh đến tính sáng tạo liên tục trong chiến tranh.

Cuộc đời là thế. Nói chung, cuộc sống ở đời tùy thuộc vào khả năng sáng tạo nhậy bén của ta. Tức là, lệ thuộc vào một tâm trí tự do, sáng tạo, không bị đóng khung bởi các công thức.

Và không chỉ là cá nhân, quốc gia cũng thế. Quốc gia chỉ có thể hùng cường trong kỹ nguyên thông tin và sáng tạo này nếu (1) các cá nhân công dân sáng tạo, và (2) guồng máy công quyền nhậy bén đủ để sáng tạo biến hóa liên tục.


Tuy nhiên vấn đề của mỗi chúng ta là chúng ta luôn luôn trưởng thành trong một cái khuôn nào đó—gia đình ta (cấp tiến hay bảo thủ), vùng ta ở (bắc hay nam), tôn giáo (công giáo, phật giáo, hay chẳng tôn giáo nào), học lực (lớp 5 hay tiến sĩ), mức độ kinh tế (ngồi mát ăn bát vàng hay cày còng lưng), kinh nghiệm (chỉ là cậu ấm hay đã phải làm cu li)… Nói chung là, mỗi người chúng ta trưởng thành và sống trong những hoàn cảnh đặc biệt, tạo nên cung cách cảm xúc và suy nghĩ của riêng ta. Cung cách cảm xúc và suy nghĩ này định nghĩa con người ta, và đồng thời cũng có thể là một cái khuôn đóng ta trong đó. Vậy thì làm sao ta có thể thoát khỏi cái khuôn của chính mình để có được tâm trí tự do, tâm trí không vướng mắc?

Đã bao nhiều lần chúng ta nói và viết: Đừng có thành kiến, đừng chấp trước, đừng ngục tù tư tưởng… Hãy mở rộng đầu óc, mở rộng tư tưởng, hãy để tâm trí bay xa… Rồi nhìn chung quanh chúng ta thấy gì? Thiên hạ chia nhóm, chia bang, xỉ vả nhau, chỉ trích nhau, đánh đấm nhau, bắt bớ nhau, bỏ tù nhau, giết chóc nhau. Anh em đánh đấm nhau, quốc gia hơn thua nhau, ai cũng lèm nhèm chưởi bới “phe kia” là tội ác.

Trời phật ơi! Làm sao chỉ một việc mở rộng tâm trí tự do để không còn trong ngục tù tranh chấp, để mọi người có thể sống chung hòa bình với nhau, lại khó thế ?

Càng lớn tuổi mình càng phục Phật Thích Ca – con người chúng ta mê muội khôn lường.

Dù sao đi nữa thì cá nhân chúng ta có thể lựa chọn. Ta không cần phải nhốt ta vĩnh viễn trong ngục tù tâm trí. Ta có cách để mang tâm trí đến vùng trời tự do, nếu ta thực tâm muốn làm thế. Ta có thể làm cho đời ta và thế giới này tươi đẹp hơn một tí nếu chúng ta thực hành “tâm trí tự do.”

• Ta có thể thiền và buông xả như các thiền sư. Hoặc cầu nguyện để có tâm “như trẻ em” và yêu vô điều kiện như Giêsu.

• Hoặc, trong đời sống hàng ngày, ta thực tập các điều sau đây:

1. Đời là tương đối: Mình có cái đúng của mình, người khác có cái đúng của họ. Cái đúng của họ sai đối với mình, nhưng mình tôn trọng y’ họ vì nó đúng với họ.

2. Mình muốn lắng nghe người khác không? Mình muốn hiểu và thông cảm người khác không?

3. Mình có thể gạt các kết luận, giả thiết, và thành kiến về người khác ra ngoài đầu óc hạn hẹp của mình không?

4. Mình có muốn trò chuyện, đối thoại, đặt câu hỏi, và lắng nghe người khác, để hiểu họ không? (Tức là, không trò chuyện với thái độ kiêu căng để giảng cho họ rằng họ ngu và họ nên theo con đường của mình).

5. Mình thực sự muốn kéo những người khác đến gần mình, hay mình chỉ muốn người khác làm theo ý mình? Tức là, lo lắng của mình hướng vào người khác, hay chỉ hướng vào mình?

Điều thứ 5 là điều cuối cùng và căn bản nhất: Trong tư duy chăm sóc lo lắng của ta, ta là trung tâm của vũ trụ, hay mọi người quanh ta là trung tâm của vũ trụ của ta?

Nếu chúng ta, như một cá nhân, một nhóm người, một tôn giáo, một đảng phái… nhìn vào chính ta, chính nhóm ta, chính tôn giáo ta, chính đảng phái ta… như là trọng tâm của suy tưởng và lo lắng của chính mình… thì ta hoàn toàn không có lối thoát và thế giới này cũng không có lối thoát…

Lối thoát ra khỏi ngục tù nằm ở bên ngoài nhà tù–ở trong những người quanh ta. Đó là nơi tư duy của ta nên tập trung quan tâm và lo lắng.

Chúng ta có muốn làm vậy không? Chúng ta nghiêm chỉnh và quyết tâm đến thế nào về việc này?

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

Bài liên hệ: Tự do đầu tiên và cuối cùng, Phản ứng lập trình hay hành động tự do?

o0o

© copyright 2025
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Tiếng vỗ của một bàn tay

Mokurai, Tiếng Sấm Tĩnh Lặng, là thiền sư trụ trì chùa Kennin. Sư có một đệ tử nhỏ tên Toyo mới 12 tuổi. Toyo thấy các đệ tử đàn anh vào phòng thầy mỗi sáng và tối để nhận giáo huấn trong lớp riêng một thầy một trò và được hướng dẫn cá nhân về cách dùng công án để chận tâm trí không đi lang thang.

Toyo cũng muốn được vào lớp riêng.

Mokurai nói, “Đợi một thời gian đã. Con còn nhỏ.”

Nhưng Toyo nằng nặc xin, vì vậy cuối cùng thầy cũng đồng ý.

Chiều tối, cậu bé Toyo đến đúng giờ, trước cửa phòng thầy Mokurai dùng làm lớp riêng. Cậu đánh một tiếng cồng báo hiệu đã có mặt, gập mình chào lễ phép ba lần ngoài cửa, và bước vào ngồi yên lặng một cách lễ độ trước mặt thầy,

“Con có thể nghe âm thanh của hai bàn tay khi hai tay vỗ vào nhau,” Mokurai nói. “Bây giờ chỉ cho thầy tiếng vỗ của một bàn tay.”

Toyo cúi chào và về phòng để suy nghĩ vể câu hỏi. Từ cửa sổ cậu có thể nghe nhạc của các cô geishas. “A, tôi có rồi!” cậy bé tuyên bố.

Sáng hôm sau, khi thầy hỏi cậu trình bày tiếng vỗ của một bàn tay, Toyo làm tiếng nhạc của geishas.

“Không, không,” Modurai nói. “Không bao giờ được. Đó không phải là tiếng vỗ của một bàn tay. Con chẳng hiểu gì cả.’

Nghĩ là nhạc của geishas cắt đứt dòng suy tưởng, Toyo chuyển chỗ ở đến một nơi yên lặng hơn. Cậu bé thiền định. “Tiếng vỗ của một bàn tay là gì?” Cậu bé nghe tiếng nước nhỏ giọt. “Tôi có rồi,” Toyo nghĩ.

Khi Toyo đến gặp thầy sau đó, cậu bé bắt chước tiếng nước nhỏ giọt.

“Cái gì vậy?” Mokurai hỏi. “Đó là tiếng nước nhỏ giọt, nhưng không phải là tiếng vỗ của một bàn tay. Cố thêm đi.”

Hoài công Toyo thiền định để nghe tiếng vỗ của một bàn tay. Cậu nghe tiếng thở dài của gió. Nhưng tiếng đó cũng bị thầy gạt bỏ.

Tiếng vỗ của một bàn tay cũng không phải là tiếng ve kêu.

Hơn mười lần Toyo vào thăm Mokurai với những loại tiếng khác nhau. Tất cả đều trật. Cả một năm, cậu bé suy nghĩ tiếng gì có thể là tiếng vỗ của một bàn tay.

Cuối cùng Toyo vào được thiền định thật sự và vượt lên trên tất cả mọi âm thanh . “Tôi chẳng còn tìm được tiếng nào nữa,” sau này cậu bé giải thích, “vì vậy tôi đạt được âm thanh im lặng.”

Toyo đã đạt được tiếng vỗ của một bàn tay.

Bình:

竹田黙雷 Takeda Mokurai (1854-1930)

aka 黙雷宗淵 Mokurai Sōen, 左辺亭 Sahen-tei

• Takeda Mokurai (1854-1930) (“Silent Thunder” – Tiếng Sấm Tĩnh Lặng) đi tu lúc còn nhỏ và được huấn luyện bởi các thiền sư hàng đầu thời đó. Mokurai trở thành sư trụ trì chùa Kennin, một trong những ngôi chùa cổ nhất và quan trọng nhất ở Kyoto, Nhật, vào năm 1892 khi Mokurai chỉ 38 tuổi. Mokujrai còn là một họa sĩ nổi tiếng với tên Sayu Núi Đông. Sayu vì một trong những bút danh của Mokurai là Sayutei, và Núi Đông là chỉ chùa Kennin.

• Bài này nói đển thủ tục lễ nghĩa khi đến gặp thầy để có lớp riêng với thầy (sanzen) rất rõ.

• “Dùng công án để chận tâm trí không đi lang thang.” Đây chính là yếu tính của công án. Đa số công án không phải là một câu hỏi cho một câu trả lời bằng chữ nghĩa hay lý luận, như câu hỏi “tiếng vỗ của một bàn tay” ở đây.

Người học trò, trong tiến trình tìm câu trả lời, sẽ tự nhiên tìm mọi cách để tập trung tư tưởng, không cho tư tưởng đi lang thang. Tâm sẽ lặng từ từ, như nghe tiếng nhạc, đến tiếng nước nhỏ giọt, tiếng thở dài của gió…

• Đến một lúc nào đó, tâm hoàn toàn tĩnh lặng đến nỗi không còn âm thanh nào có thể làm cho ta bị phân tâm. Tai nghe thì vẫn nghe, nhưng tâm hoàn toàn không xao động. Đó là “vượt lên trên” mọi âm thanh.

• Nhưng tại sao lại là tìm được “âm thanh tĩnh lặng” (soundless sound)?

Âm thanh tĩnh lặng (soundless sound) cũng là âm thanh của tĩnh lặng (sound of silence) như tên một bản nhạc của Simon and Garfunkel hay “tiếng thầm trong ngọc nói lời hay” của thiền sư Kiều Trí Huyền.

Tức là, trong tĩnh lặng ta “nghe”, “thấy”, “hiểu” hay “ngộ” được nhiều điều mà khi tâm ta bị phân tâm vì các “tiếng động” ta không nghe, không thấy, không hiểu.

Điều này thì chúng ta ai cũng đã có kinh nghiệm loáng thoáng phần nào—đôi khi ta tĩnh lặng, chẳng làm gì cả, chẳng suy nghĩ gì cả, tự nhiên bao nhiêu ý tưởng sáng tạo lại ùa đến. Tĩnh lặng làm con người thông thái ra, bao nhiêu vị thầy đã nói như thế.

• Tại sao vị học trò trong truyện này chỉ mới 12 tuổi?

Thưa, vì: (1) 12 tuổi thì ít có tiếng động trong đầu từ những lo lắng—con cái, công việc, chuyện nhà, chuyện cửa, chuyện tiền bạc, chuyện nợ nần… và (2) 12 tuổi thí ít có kiến thức lý luận để mà có thành kiến “Làm sao một tay mà phát ra tiếng vỗ được? Vô l‎ý!”

Tức là nếu cái tâm ta càng nhẹ nhàng, giản dị, và không cố chấp, như trẻ thơ, thì ra sẽ thiền dễ hơn và đạt giác ngộ dễ hơn.

Muốn vào được thiên đàng thì hãy như trẻ thơ.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.

The Sound of One Hand

The master of Kennin temple was Mokurai, Silent Thunder. He had a little protégé named Toyo who was only twelve years old. Toyo saw the older disciples visit the master’s room each morning and evening to receive instruction in sanzen or personal guidence in which they were given koans to stop mind-wandering.

Toyo wished to do sanzen also.

“Wait a while,” said Mokurai. “You are too young.”

But the child insisted, so the teacher finally consented.

In the evening little Toyo went at the proper time to the threshold of Mokurai’s sanzen room. He struck the gong to announce his presence, bowed respectfully three times outside the door, and went to sit before the master in respectful silence.

“You can hear the sound of two hands when they clap together,” said Mokurai. “Now show me the sound of one hand.”

Toyo bowed and went to his room to consider this problem. From his window he could hear the music of the geishas. “Ah, I have it!” he proclaimed.

The next evening, when his teacher asked him to illustrate the sound of one hand, Toyo began to play the music of the geishas.

“No, no,” said Mokurai. “That will never do. That is not the sound of one hand. You’ve not got it at all.”

Thinking that such music might interrupt, Toyo moved his abode to a quiet place. He meditated again. “What can the sound of one hand be?” He happened to hear some water dripping. “I have it,” imagined Toyo.

When he next appeared before his teacher, he imitated dripping water.

“What is that?” asked Mokurai. “That is the sound of dripping water, but not the sound of one hand. Try again.”

In vain Toyo meditated to hear the sound of one hand. He heard the sighing of the wind. But the sound was rejected.

He heard the cry of an owl. This was also refused.

The sound of one hand was not the locusts.

For more than ten times Toyo visited Mokurai with different sounds. All were wrong. For almost a year he pondered what the sound of one hand might be.

At last Toyo entered true meditation and transcended all sounds. “I could collect no more,” he explained later, “so I reached the soundless sound.”

Toyo had realized the sound of one hand.

# 21

Josh Groban – giọng ca vàng trẻ trung

Chào các bạn,

Joshua Winslow “Josh” Groban, sinh ngày 27 tháng 2 năm 1981, tại Los Angeles, California, là một ca nhạc sĩ Mỹ trẻ, nhưng đã bán đến 20 triêu đĩa nhạc chỉ ở thị trường Mỹ.

Bố Josh Groban là người Do Thái sinh ở Nga, mẹ là người Mỹ gốc Na Uy. Học nhạc từ nhỏ, đến 17 tuổi được theo học thanh nhạc với David Foster, người đã thắng giải Grammy về soạn nhạc.

Josh Groban có giọng truyền cảm rất tự nhiên, không màu mè. Rất nhiều bản của Josh Groban là nhạc thánh ca, cho nên cách trình diễn của chàng cũng rất đứng đắn trầm tĩnh như hát thánh ca. Dù vậy sức truyền cảm tự nhiên trong giọng hát nhẹ nhàng êm dịu và ấm áp vẫn thực là tuyệt diệu.

Nhạc của Josh Groban thường mang âm điệu cổ điển, nhẹ nhàng.

Năm 2001, album đầu tiên lấy tên “Josh Groban” trở thành đĩa gold ngay lập tức, và trong vòng một năm nhảy từ gold lên “double platinum”.

Năm 2003, album thứ nhì lấy tên “closer” đi từ hạng 11 đến hạng 1 trên các Billboards trong vòng hai tháng. Bản You raised me up trong album này trở thành bản nhạc nhẹ rất được ưa chuộng trong các danh sách nhạc contemporary adult (nhạc đương thời cho người lớn).

Josh groban cũng đã hát một số bản nhạc cho các phim Troy, Polar Express, Linkin Park.

Sau đây mời các bạn nghe You raised me up, My December, Remember When it Rained, và Remember Me của phim Troy.
.

You raised me up

when I am down,
and oh my soul’s so weary
when troubles come
and my heart burdened be.
Then I am still
and wait here in the silence
until you come
and sit a while with me.

you raise up
so I can stand on mountains,
you raise me up
to walk on stormy seas,
I am stong
when I am on your shoulders,
you raise me up
to more than can be.

.

My December

This is my December
This is my time of the year
This is my December
This is all so clear
This is my December
This is my snow covered home
This is my December
This is me alone
And I
Just wish that
I didn’t feel
Like there was
Something I missed
And I
Take back all
The things I said
To make you
Feel like that
And I
Just wish that
I didn’t feel
Like there was
Something I missed
And I
Take back all the
Things I said to you
And I give it all away
Just to have somewhere
To go to
Give it all away
To have someone
To come home to
This is my December
These are my snow covered dreams
This is me pretending
This is all I need
And I
Just wish that
I didn’t feel
Like there was
Something I missed
And I
Take back all
The things I said
To make you feel like that
And I
Just wish that
I didn’t feel
Like there was
Something I missed
And I
Take back all the things
I said to you
And I give it all away
Just to have
Somewhere to go to
Give it all away
To have someone
To come home to
This is my December
This is my time of the year
This is my December
This is all so clear
And I give it all away
Just to have somewhere
To go to
Give it all away
To have someone
To come home to

.

Josh Groban – Remember When It Rained

Wash away the thoughts inside
That keep my mind away from you.
No more love and no more pride
And thoughts are all I have to do.

Ohhhhhh Remember when it rained.
Felt the ground and looked up high
And called your name.
Ohhhhhh Remember when it rained.
In the darkness I remain.

Tears of hope run down my skin.
Tears for you that will not dry.
They magnify the one within
And let the outside slowly die.

Ohhhhhh Remember when it rained.
I felt the ground and looked up high
And called your name.
Ohhhhhh Remember when it rained.
In the water I remain
Running down
Running down
Running down
Running down
Running down
Running down
Running down

.

Remember Me (trong phim Troy)

Remember, I will still be here
As long as you hold me, in your memory

Remember, when your dreams have ended
Time can be transcended
Just remember me

I am the one star that keeps burning, so brightly,
It is the last light, to fade into the rising sun

I’m with you
Whenever you tell, my story
For I am all I’ve done

Remember, I will still be here
As long as you hold me, in your memory
Remember me

I am that one voice in the cold wind, that whispers
And if you listen, you’ll hear me call across the sky

As long as I still can reach out, and touch you
Then I will never die

Remember, I’ll never leave you
If you will only
Remember me

Remember me…

Remember, I will still be here
As long as you hold me
In your memory

Remember, when your dreams have ended
Time can be transcended
I live forever
Remember me

Remember me
Remember… me…

Lời khuyên của mẹ

Jiun, một thiền sư thời Sứ Quân, là một học giả tiếng phạn Sanskrit nổi tiếng đời Tokugawa. Khi còn trẻ, Jiun thường thuyết giảng cho các thiền sư khác.

Mẹ Jiun nghe điều này và viết cho chàng một lá thơ:

“Con, mẹ không nghĩ là con muốn theo Phật vì con muốn trở thành một quyển tự điển sống cho mọi người. Chẳng có giới hạn nào cho thông tin và lý giải, vinh quang và danh dự cả. Mẹ mong con bỏ hết các việc thuyết giảng này. Vào tu trong một thiền am nhỏ tại một góc núi xa. Dùng thời gian để thiền và nhờ đó mà có thể giác ngộ.”

Bình:

• Tokugawa Yoshinobu (28.10.1837-22.11.1913) là Sứ Quân (Shogun) cuối cùng của Nhật Bản, cho đến ngày chế độ sứ quân chấm dứt (1868).

Jiun (1718-1804) là một vị sư Chân Ngôn Tông (Shingon) và là một nhà cải tổ Phật giáo thời Tokugawa ở Nhật. Jiun chú trọng vào giáo dục Phật học và cải tổ đạo đức trong tâm ta. Jiun rất giỏi về mọi khía cạnh của Phật pháp, viết các sách dạy tiếng phạn Sanskrit đầu tiên ở Nhật, và thành lập ngành học về luật (vinaya) trong Chân Ngôn Tông.

• Bài viết này nêu lên vấn đề chúng ta thường nghe các vị thầy lớn của nhân loại nói tới nói lui rất thường xuyên: Đừng lệ thuộc vào ngôn từ để tìm trí tuệ và chân lý.

Lão tử nói: “Đạo mà có thể gọi là đạo thì không là đạo vĩnh viễn, tên mà có thể gọi là tên thì không là tên vĩnh viễn.”

Phật gia dạy ta không nên chấp vào “danh sắc.” Danh là tên, chỉ ngôn ngữ, tức là “không nên chấp vào ngôn ngữ.”

Chữ nghĩa ngôn từ cực kỳ giới hạn, hơn nữa lại tạo ra rối rắm nhiều hơn là trí tuệ. Khi anh chị yêu nhau, chỉ nhìn nhau không nói mà có thể hiểu nhau sâu thẳm. Khi hai vợ chồng sắp ly dị, một từ “ăn” chỉ có 2 mẫu tự, cũng chẻ ra, không chỉ làm 2 mà là 200 lần, để có lý do gây lộn ngày đêm.

Hiểu biết và chân lý không đến qua ngôn từ mà qua cảm xúc và trực giác. Tôi biết em yêu tôi vì tôi cảm được điều đó và trực giác (biết ngay) điều đó, mà chẳng cần ngôn ngữ hay lý luận. Hiểu biết và trí tuệ, về quả tim con người và chân lý của cuộc đờì, đến từ cảm xúc và trực giác. Ngôn ngữ và l‎ý luận nếu có giúp thì may ra chỉ là 1 phần trăm.


• Ngôn ngữ và l‎ý luận giúp thì ít mà hại thì có thể nhiều. Học trò mới học luận l‎ý thích dùng ngôn từ để lảm nhảm lý luận đủ kiểu và họ cho như thế là biết. Cho đến vài mươi năm sau, nếu họ có tiến bộ, họ sẽ khám phá ra là họ đã chẳng biết gì hết và đã chỉ tốn thời giờ gây lộn.

Hơn nữa, lý luận, ngôn ngữ, và thuyết giảng, thường đi theo các tràng pháo tay và các ca tụng cho giảng viên, chỉ làm cho “cái tôi” của giảng viên dễ bị ung thối.

• Tĩnh lặng (thiền) giúp cho chúng ta làm đằm cái tôi xuống (không lý luận, không tranh cãi, không có các tràng pháo tay…) và “nghe” được “cảm xúc” và những “cảm nhận” của mình về chính mình, vể người khác, và về thế giới quanh mình. Đó mới là cách để hiểu biết và có được trí tuệ.

• Mẹ Jiun, chứ không phải là bố, viết thơ khuyên bảo, nghĩa là phụ nữ thường giỏi hơn hơn đàn ông về cảm xúc và trực giác. Đàn ông thường lạc trong ngôn ngữ và lý luận.

• Mẹ còn có nghĩa là “tâm.” Mẹ ta là tâm ta. Và tâm ta muốn ta phải tĩnh lặng để có thể giác ngộ, tức là để tâm trở lại được căn tính trong sáng của tâm.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

.

A Mother’s Advice

Jiun, a Shogun master, was a well-known Sanskrit scholar of the Tokugawa era. When he was young he used to deliver lectures to his brother students.

His mother heard about this and wrote him a letter.:

“Son, I do not think you became a devotee of the Buddha because you desired to turn into a walking dictionary for others. There is no end to information and commentation, glory and honor. I wish you would stop this lecture business. Shut yourself up in a little temple in a remote part of the mountain. Devote your time to meditation and in this way attain true realization.”

# 20

La Bamba

500 Greatest Songs of All Times

Chào các bạn,

Có lẽ đa số chúng ta quen thuộc với bản hát tươi vui La Bamba của Ritchie Valens. Ritchie phổ biến bản này năm 1958 và biến nó thành một bản nhạc nổi tiếng quốc tế. Nhưng là Bamba là dân nhạc và dân vũ truyền thống của tiểu bang Veracruz, Mexico.

Ritchie Valens là một nhạc sĩ Mỹ gốc Mexico. Sinh ngày 3 tháng 5 năm 1941 tại Los Angeles, với tên thật là Richard Steven Valenzuela. Ngày 2 tháng 3 năm 1959, Ritchie Valens tử nạn máy bay cùng hai nhạc sĩ nhạc rock Mỹ là Buddy Holly và The Big Bopper, thọ 18 tuổi. Ngày này được xem là Ngày Âm Nhạc Chết (The day the music died) trong văn hóa âm nhạc Mỹ.

Năm 1987, đạo diễn Luis Valdez làm phim La Bamba, do Lou Diamond Phillips đóng vai Ritchie Valens, nhưng với giọng ca thật của Ritchie.

Báo nhạc Rolling Stone xếp La Bamba hạng 354 trong 500 Bài hát hay nhất mọi thời đại.

Sau đây mời các bạn xem

1. Video clip của phim La Bamba.

2. Video dân vũ La Bamba của tiểu bang Veracruz, Mexico, trong đó cô dâu và chú rể là người vũ chính, dùng chân thắt nút nơ, tượng trưng cho nghĩa vợ chồng, cùng với sự phụ họa của các phù dâu phù rể.

3. Video La Bamba do Los Lobos trình diễn.

Chúc các bạn một ngày Bamba!!

Video clip, phim La Bamba, tài tử Lou Diamond Phillips, giọng ca Ritchie Valens

Dân vũ La Bamba của Veracruz, Mexico

La Bamba — Los Lobos